1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi NSNN cho các bệnh viện tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh thái bình

54 319 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 327 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy đầu tư cho y tế để mọi người đều được chăm sóc cho sức khỏe chính là sự đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân, mỗi gia đ

Trang 1

Con người luôn là nguồn tài nguyên quý báu nhất quyết định sự phát triển của đất nước, trong đó sức khỏe là vốn quý báu nhất của con người, của toàn xã hội và cũng là niềm hạnh phúc lớn nhất của mỗi gia đình Vì vậy đầu tư cho y tế để mọi người đều được chăm sóc cho sức khỏe chính là sự đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân, mỗi gia đình và còn là minh chứng cụ thể, sinh động cho sự tồn tại, phát triển của một xã hội trong hiện tại và tương lai.

Đất nước ta đang trên đà phát triển đi lên XHCN, tiến lên trở thành một nước công nghiệp Tiến trình CNH – HĐH đất nước đang thực thi, cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch một cách mạnh mẽ và nhanh chóng diễn ra trên nhiều vùng miền Để thực hiện thành công và đẩy nhanh quá trình

Trang 2

hàng đầu, là nguồn tài nguyên quý báu nhất quyết định sự phát triển của đất nước Trong đó sức khỏe là cái gốc để con người phát triển Con người

có khỏe mạnh thì mới lao động và học tập tốt Vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân là phải phát triển sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của nhân dân với mục tiêu giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ, phát triển giống nòi, tạo ra lực lượng lao động dồi dào, chất lượng cao, đủ năng lực để tiến hành công cuộc CNH – HĐH Trong sự nghiệp chung đó của đất nước thì sự nghiệp y tế đóng vai trò hàng đầu

1.2 Nguồn tài chính dành cho sự nghiệp y tế và sự cần thiết của chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế.

1.1 Nguồn tài chính dành cho sự nghiệp y tế.

Sự nghiệp y tế muốn phát triển thì cần phải có sự đầu tư, mà trước hết là sự đầu tư vốn bằng tiền Vốn đầu tư bằng tiền ( nguồn tài chính) dành cho sự nghiệp y tế bao gồm 4 nguồn chủ yếu là: NSNN; BHYT; viện phí; viện trợ và vốn vay

Mỗi nguồn kinh phí giữ một vai trò nhất định trong hoạt động của ngành, trong đó NSNN giữ vai trò chủ đạo Sở dĩ nói như vậy là vì:

• NSNN có ưu điểm là đảm bảo cho sự duy trì nhân lực của ngành y tế, dễ điều hòa (điều hòa từ vùng này sang vùng khác, điều hòa khi có việc khẩn cấp như dịch bệnh, thiên tai …)

• BHYT là sự tích lũy của cả cộng đồng, bao gồm cả người khỏe mạnh lẫn người ốm đau để chi trả cho người khám chữa bệnh Do đó, bảo hiểm y tế mang tính cộng đồng rõ rệt Tuy vậy so với NSNN, BHYT

Trang 3

vẫn bị giới hạn trong phân bổ sử dụng (tức là người chưa tham gia BHYT thì không được quỹ này hỗ trợ trong chăm sóc sức khỏe).

• Một phần viện phí là số tiền mà người bệnh phải bỏ ra khi ốm đau Thời gian qua, viện phí là một biện pháp tình thế góp phần giảm bớt khó khăn do thiếu kinh phí cho công tác khám chữa bệnh Nhưng xét về lâu dài, viện phí sẽ không được coi là một nguồn lực chủ yếu cho chi phí y

tế, bởi vì chi phí đó sẽ làm cho người nghèo càng nghèo hơn

• Viện trợ và vốn vay là khoản kinh phí không ổn định vì phải phụ thuộc vào thái độ chính trị của các nhà tài trợ Việc sử dụng nguồn lực này cho hoạt động y tế còn phụ thuộc vào ý muốn của các nhà tài trợ

Như vậy, có thể khẳng định chỉ có NSNN là nguồn kinh phí tương đối ổn định, dễ điều hòa thực hiện định hướng công bằng và hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe, phát huy bản chất ưu việt của nền y tế xã hội chủ nghĩa (lấy y tế công cộng là chủ đạo) Để đảm bảo cho mục đích công bằng được thực hiện một cách chắc chắn thì nguồn tài chính chủ yếu của y

tế là nguồn NSNN cấp Nói như thế không có nghĩa là toàn bộ chi tiêu y tế

sẽ do NSNN đảm bảo, nhưng NSNN cấp phải chiếm phần chủ yếu trong tổng chi tiêu y tế Ngoài NSNN cấp thì phải coi trọng BHYT và phát triển bảo hiểm y tế theo hướng thực hiện bắt buộ toàn dân Còn viện trợ, viện phí cũng là một nguồn tài chính nhưng không thể lấy làm chủ yếu nếu chúng ta muốn thực hiện một nền y tế công bằng

1.2 Sự cần thiết của chi NSNN cho sự nghiệp y tế

Chi NSNN cho sự nghiệp y tế là một khoản chi gắn trực tiếp với chủ thể nhà nước Vai trò của chi NSNN không chỉ là cung cấp nguồn lực tài chính để duy trì, củng cố hoạt động y tế mà còn có tác dụng định hướng

Trang 4

điều chỉnh các hoạt động y tế phát triển theo định hướng chủ trương của Đảng và Nhà nước.

Gắn liền với chủ trương xã hội hóa y tế, Nhà nước ta đang thực hiện

mở rộng, đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho y tế kể cả trong và ngoài nước nhưng nguồn vốn đầu tư từ NSNN vẫn giữ vai trò chủ đạo và vai trò của các khoản chi NSNN đó đượ thể hiện ở các khia cạnh sau:

Thứ nhất, NSNN luôn là nguồn chủ yếu cung cấp nguồn tài chính duy trì sự tồn tại và phất triển của hoạt động sự nghiệp y tế

Y tế là một hoạt động rộng lớn mà Nhà nước luôn phải quan tâm và

có sự đầu tư thích đáng Trong mỗi thời kỳ khác nhau của nền kinh tế đều đòi hỏi việc đầu tư cho sự nghiệp y tế khác nhau là khác nhau và nó không ngừng tăng lên

Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách

để huy động nguồn lực tài chính từ bên ngoài đầu tư cho sự nghiệp y tế, tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện để mở bệnh viện hoặc phòng khám chữa bệnh nhằm giảm “gánh nặng” cho nhà nước nhưng số lượng vẫn chưa nhiều, còn rời rạc và chưa tạo thành hệ thống

Thứ hai, chi NSNN đảm bảo sự công bằng, giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo và bất bình đẳng trong xã hội

Công bằng trong chăm sóc sức khỏe có những tiêu chí hoàn toàn khác với công bằng trong kinh tế, do đó không thể áp dụng một cách máy móc, không thể gắn khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản với khả năng chi trả Nếu trong kinh tế, công bằng là “phân phối theo

Trang 5

mức đóng góp và nguồn lực khac”, thì công bằng trong lĩnh vự y tế hoàn toàn không như vậy, không có nghĩa là ai ốm nhiều thì trả tiền nhiều.

Chi NSNN ở một khía cạnh nào đó đã giải quyết được một vấn đề

đó là: những người nghèo, những gia đình chính sách, người dân các xã vùng sâu, vùng xa … có nhu cầu khám chữa bệnh mà không đủ khả năng tài chính để chi trả các dịch vụ y tế thì họ đã được hỗ trợ một phần từ NSNN Còn đối với những người sử dụng dịch vụ theo yêu cầu cao hơn thì phải trả thêm tiền và như vậy công bằng y tế trong điều kiện hiện nay đảm bảo cho con người được tiếp cận và sử dụng những dịch vụ y tế cơ bản

Thứ ba, chi NSNN cho sự nghiệp y tế giúp duy trì định hướng phát triển của mạng lưới y tế theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước

Đảng và Nhà nước ta luôn xác định tăng trưởng kinh tế phải kèm theo sự phát triển bền vững Chi NSNN cho sự nghiệp y tế cũng không nằm ngoài mục tiêu đó, với vai trò cụ thể hóa các chính sách của Đảng và Nhà nước Thông qua cơ cấu chi, định mức chi NSNN cho sự nghiệp y tế

có tác dụng nhằm thay đổi, điều chỉnh quy mô, mạng lưới hệ thống y tế đảm bảo sự phát triển đồng đều, đúng đắn

Thứ tư, chi NSNN có vai trò quan trọng trong việc củng cố, tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ y, bác sỹ Hai yếu

tố này lại ảnh hưởng có tính chất quyết định hoạt động y tế

Trong sự nghiệp y tế thì y đức của người bác sỹ được đặt lên hàng đầu Vì người bệnh thì hoàn toàn phụ thuộc vào các quyết định của bác sỹ

Do vậy, Nhà nước phải có những chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho họ yên tâm công tác

Trang 6

Ngân sách dành cho một phần rất lớn cho những chi phí liên quan đến con người trong đó chi lương và phụ cấp cho đội ngũ y, bác sỹ luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi thường xuyên cho y tế Thu nhập của người bác sỹ là một vấn đề có ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của họ Một chính sách lương hợp ly sẽ hạn chế các hiện tượng “thương mại” trong nghành y tế.

Thứ năm, nguồn vốn NSNN đảm bảo chi phí thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về y tế: tiêm chủng mở rộng, hoạt động khống chế bệnh sốt rét, phòng chống lao, HIV … các chương trình đầu tư cho y tế vùng cao

Thứ sáu, chi NSNN có tác dụng khuyến khích và thu hút các nguồn vốn khác đầu tư vào sự nghiệp y tế

Nhà nước ta đang đẩy mạnh xã hội hóa trong y tế, điều đó có nghĩa

là sẽ có nhiều thành phần khác trong nền kinh tế tham gia vào khu vực y tế

- khu vực mà chủ yếu nhà nước giữ vai trò chủ đạo Để đầu tư vào khu vực này thì phải có tiềm lực tài chính khá lớn để đầu tư các trang thiết bị y tế, nghiên cứu khoa học … phục vụ cho nhu cầu khám chữa bệnh Trong trường hợp các tổ chức cá nhân chưa có đủ tiềm lực tài chính thì sự đầu tư của vốn NSNN có vai trò là số vốn đối ứng quan trọng thu hút các nguồn lực khác đầu tư vào sự nghiệp y tế Khi có nguồn vốn từ NSNN, các tổ chức, cá nhân sẽ an tâm hơn một phần với số vồn mà mình bỏ ra

Mặc dù trong những năm qua NSNN giành cho ngành y tế ngày càng tăng nhưng thực tế đầu tư tài chính cho sự nghiệp y tế còn đối mặt với nhiều thách thức Đó là những thách thức chủ yếu sau:

Trang 7

Đầu tư cho y tế còn hạn hẹp, chỉ đáp ứng 50 đến 60% nhu cầu, trong khi dân số tăng, nhiệm vụ tăng, đòi hỏi phải đầu tư nhiều hơn cho y tế.

Mức sống của người dân ngày càng được cải thiện, tuổi thọ trung bình ngày càng cao thì nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng và đa dạng, do đó cần phải huy động mọi nguồn lực trong và ngoài ngân sách để đáp ứng với nhu cầu đòi hỏi phát triển sự nghiệp này

Trình độ cán bộ chuyên môn và quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành trong tình hình mới, dẫn đến hiệu quả của công tác cung cấp dịch vụ y tế chưa cao

Về mặt quản lý nhà nước không đồng bộ trong chính sách cụ thể và mất cân đối trong việc chỉ đạo đầu tư các nguồn lực giữa vùng giàu, vùng nghèo, vùng y tế chuyên sâu và y tế cơ sở, giữa y tế dự phòng và khám chữa bệnh …

Chính những thách thức trên, cộng với đặc điểm chi NSNN cho sự nghiệp y tế diễn ra trên phạm vi rộng, đa dạng và phức tạp, nhu cầu chi luôn gia tăng, trong khi khả năng huy động nguồn thu có hạn Vì vậy, để đảm bảo tính tiết kiệm và hiệu quả trong việc quản lý các khoản chi NSNN cho sự nghiệp y tế đòi hỏi phải tăng cường công tác quản lý chi NSNN cho sự nghiệp y tế

1.3 Khái niệm, nội dung của chi NSNN cho sự nghiệp y tế

1.3.1 Khái niệm chung về chi NSNN cho sự nghiệp y tế

Chi NSNN cho sự nghiệp y tế là quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn từ quỹ NSNN để duy trì phát triển sự nghiệp y tế theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu

Trang 8

Chi NSNN cho sự nghiệp y tế là một khoản chi thường xuyên thuộc lĩnh vực văn xã, nhưng so với các khoản chi thường xuyên khác, chi NSNN cho sự nghiệp y tế có những nét riêng biệt:

Thứ nhất, chi NSNN cho sự nghiệp y tế là khoản chi vừa có tính chất tiêu dùng, vừa mang tính chất tích lũy đặc biệt

Nếu tính trong một năm ngân sách, đấy là một khoản chi mang tính chất tiêu dùng, không trực tiếp tạo ra của cải vật chất hoặc không gắn với việc tạo ra của cải vật chất trong mỗi năm đó

Nếu trong một giai đoạn lâu dài, đây là một khoản chi mang tích tích lũy đặc biệt, là nhân tố quyết định đến sự tăng trưởng kinh tế Khoản chi này tác động mạnh mẽ tới yếu tố con người, tác động đến sự sáng tạo của cải vật chất và văn hóa tinh thần, là nhân tố tác động đến sự phát triển

và tăng trưởng của nền kinh tế – xã hội trong tương lai

Thứ hai, chi NSNN cho sự nghiệp y tế là khoản chi chứa đựng nhiều yếu tố xã hội Chi NSNN cho sự nghiệp y tế quyết định mức độ ưu đãi đối với các tầng lớp giai cấp trong xã hội mà đặc biệt là những người có hoàn cảnh khó khăn, những đối tượng thuộc diện ưu tiên, những gia đình chính sách, những người có công với cách mạng, vùng sâu, vùng xa, và những vùng thường xuyên xảy ra dịch bệnh, qua đó thực hiện công bằng xã hội

Mặt khác, chi NSNN cho sự nghiệp y tế cũng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố xã hội: phong tục tập quán, mức sống … Chính những yếu tố này sẽ quyết định tới quan điểm hoạt động của sự nghiệp y tế

1.3.2 Nội dung của chi NSNN cho sự nghiệp y tế

Chi NSNN cho sự nghiệp y tế có nhiều nội dung chi tiết khác nhau

và được phân ra dưới một số tiêu thức chủ yếu sau:

Trang 9

 Theo chức năng ngành y tế:

Nội dung chi NSNN cho sự nghiệp y tế gồm: chi phòng bệnh, chi đào tạo, chi nghiên cứu khoa học y dược, chi quản lý hành chính và chi khác

 Theo tính chất các khoản chi:

Nội dung chi NSNN cho sự nghiệp y tế gồm:

Chi đầu tư: chi mua sắm TSCĐ, chi sửa chữa TSCĐ và chi XDCB.Chi thường xuyên: Phân loại theo nội dung chi thường xuyên bao gồm các nhóm sau:

• Nhóm 1: Chi cho con người

Đây là nhóm chi đảm bảo bù đắp hao phí sức lao động, là điều kiện đầu tiên để duy trì sự sống của con người, từ đó mới có thể thực hiện được nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng

Chi cho non người là các khoản chi thường xuyên bao gồm: Chi lương, phụ cấp, tiền thưởng, phúc lợi tập thể, chi BHXH, BHYT và trợ cấp khó khăn đột xuất cho cán bộ công nhân viên chức hoạt động trong lĩnh vực y tế

Khoản chi này chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong kế hoạch chi thường xuyên của NSNN cho sự nghiệp y tế

• Nhóm 2: Chi cho nghiệp vụ chuyên môn

Bao gồm các khoản chi phí về nghiên cứu sinh học, hội thảo khoa học, chi phí thuê mướn chuyên gia nước ngoài, chi phí đào tạo trình độ bác sỹ, các chi phí nghiệp vụ chuyên môn: chi mua vật tư hàng hóa như

Trang 10

ngành y tế, chi mua đồng phục, bảo hộ lao động, chi phí tham quan học tập các ứng dụng tiên tiến về y tế.

• Nhóm 3: Chi mua sắm sửa chữa thường xuyên tài sản

Trong quá trình hoạt động, các đơn vị được NSNN cấp kinh phí để mua sắm tài sản hay sửa chữa các tài sản hiện có nhằm phục vụ kịp thời nhu cầu khám chữa bệnh và nâng cao hiệu quả của các trang thiết bị y tế, chất lượng phục vụ của tài sản không bị sút giảm

• Nhóm 4: Các khoản chi thường xuyên khác

Đây là các khoản chi nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của bộ máy quản lý ngành y tế Bao gồm: thanh toán dịch vụ công cộng, thông tin, truyền tin, liên lạc, hội nghị, chi các khoản phí và lệ phí của các đơn vị

dự toán … Đây là các khoản chi mang tính chất ngạy cảm, do đó cần phải tăng cường công tác quản lý không làm thất thoát NSNN

Nguyên tắc quản lý chi NSNN cho sự nghiệp y tế.

Khái niệm quản lý chi NSNN cho sự nghiệp y tế

Theo nghĩa thông thường thuật ngữ “quản lý” được hiểu là quá trình

tổ chức, điểu khiển hoạt động của một đơn vị, một lĩnh vực

Từ đó có thể hiểu quản lý chi thường xuyên của NSNN cho sự nghiệp y tế là quá trình tổ chức, điều khiển các hoạt động chi thường xuyên của các cơ quan nhà nước quản lý NSNN cũng như các cơ quan trong nghành y tế

Chi NSNN cho sự nghiệp y tế phải tuân thủ các nguyên tắc:

• Thứ nhất, nguyên tắc quản lý theo dự toán

Trang 11

Số chi thường xuyên đã được ghi trong dự toán thể hiện sự cam kết của cơ quan chức năng về quản lý tài chính nhà nước đối với các đơn vị thụ hưởng ngân sách.

Nguyên tắc này xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn sau:Hoạt động của NSNN, đặc biệt là cơ cấu thu chi của NSNN phụ thuộc vào quyết định của cơ quan quyền lực nhà nước; đồng thời luôn phải chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan quyền lực của nhà nước Do vậy, mọi khoản chi từ NSNN chỉ có thể trở thành hiện thực khi và chỉ khi khoản chi đó nằm trong cơ cấu chi theo dự toán đã được cơ quan quyền lực nhà nước xét duyệt và thông qua

Phạm vi chi của NSNN rất đa dạng liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau Mức chi cho mỗi hoạt động được xác định theo đối tương riêng, định mức riêng

Có quản lý theo dự toán mới đảm bảo được yêu cầu cân đối của NSNN, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều hành NSNN, hạn chế được tính tùy tiện trong quản lý và sử dụng kinh phí ở các đơn vị thụ hưởng kinh phí NSNN

• Thứ hai, nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả

Đây là một trong những nguyên tác quan trọng hàng đầu của quản

lý kinh tế, tài chính, bởi lẽ nguồn lực thì có hạn nhưng nhu cầu thì không

có mức giới hạn nào

Đối với các cơ sở y tế, để đạt được nguyên tắc này thì trong quá trình quản lý chi thường xuyên của NSNN phải làm tốt và làm đồng bộ một số nội dung sau:

Trang 12

Xây dựng các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu phù hợp với từng đối tượng hay tính chất công việc; đồng thời lại phải có tính thực tiễn cao.

Thiết lập được các hình thức cấp phát đa dạng và lựa chon hình thức cấp phát cho mỗi đơn vị

Lựa chọn thứ tự ưu tiên cho các hoạt động hoặc theo các nhóm mục chi sao cho với tổng số chi có hạn nhưng khối lượng công việc vẫn hoàn thành và đạt kết quả cao Để đạt được điều này, đòi hỏi phải có được các phương án phân phối và sử dụng khác nhau

• Thứ ba, nguyên tắc chi trực tiếp qua Kho bạc nhà nước

Để tăng cường vai trò của KBNN trong kiểm soát chi thường xuyên của NSNN, hiện nay nước ta đã và đang thực hiện “chi trực tiếp qua KBNN” và coi đó như là một nguyên tắc trong quản lý khoản chi này

1.4 Quản lý chi NSNN cho sự nghiệp y tế

1.4.1 Quản lý chi NSNN cho sự nghiệp y tế

Quản lý chi NSNN cho sự nghiệp y tế là hoạt động của các cơ quan chức năng thông qua việc sử dụng có chủ định các phương pháp quản lý

và các công cụ quản lý để tác động và điều khiển hoạt động chi NSNN cho

sự nghiệp y tế nhằm đạ được mục tiêu đã định

Để quản lý chi NSNN cho sự nghiệp y tế hiệu quả, phù hợp với các nguyên tắc nêu trên thì cần có các biện pháp sau:

Thiết lập các định mức chi Định mức chi vừa là cơ sở để xây dựng

kế hoạch chi, vừa là căn cứ để thực hiện việc kiểm soát các khoản chi của NSNN Nguyên tắc chung để thiết lập các định mức chi là vừa phải phù

Trang 13

hợp với yêu cầu thực tiễn khách quan của các đơn vị thụ hưởng nguồn kinh phí của NSNN, vừa phải đảm bảo yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả.

Xác lập thứ tự ưu tiên các khoản chi của NSNN theo mức độ cần thiết đối với từng khoản chi trong tình hình cụ thể về phát triển kinh tế, xã hội, về thực hiện các chức năng của cơ quan công quyền

Xây dựng quy trình cấp phát các khoản chi chặt chẽ, hợp lý nhằm hạn chế tối đa những tiêu cực nảy sinh trong quá trình cấp phát, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm soát chi của các cơ quan có thẩm quyền

Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra và kiểm toán nhằm ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực trong việc sử dụng nguồn kinh phí của Nhà nước Đồng thời qua quá trình thực hiện thanh tra, kiểm tra và kiểm toán phát hiện những bất hợp lý trong chính sách, chế độ nhằm hoàn thiện bổ sung chính sách, chế độ

1.4.2 Mô hình và chu trình quản lý chi NSNN cho sự nghiệp y tế.

Chi NSNN cho sự nghiệp y tế được quản lý thông qua 3 khâu: lập

dự toán; chấp hành dự toán và quyết toán

Mô hình quản lý chi NSNN cho sự nghiệp y tế

Trang 14

Sở tài chính

Sở y tế, bệnh viện tuyến tỉnh

Kho bạc nhà nước tỉnh

Kho bạc nhà nước huyện

Trang 15

Căn cứ vào chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, thông tư hướng dẫn và

số kiểm tra về dự toán ngân sách của Bộ Tài Chính Căn cứ vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cụ thể của địa phương, khả năng cân đối NSĐP,

Sở hướng dẫn và thông báo số kiểm tra về dự toán cho các đơn vị sự nghiệp y tế và UBND cấp dưới

Trên cơ sở số kiểm tra về dự toán ngân sách và phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh dựa trên Nghị quyết Đảng bộ tỉnh và Nghị

Trang 16

quyết của HĐND tỉnh, thực tế hoạt động của ngành y tế, các đơn vị dự toán tiến hành lập dự toán của đơn vị mình.

Cụ thể, tại cấp tỉnh:

Sở Y tế và các bệnh viện tuyến tỉnh lập dự toán gửi Sở Tài chính

Sở Tài chính giao số kiểm tra cho Sở Y tế trên cơ sở dự toán sơ bộ

về chi ngân sách y tế kỳ kế hoạch Sở Tài chính xác định các định mức chi tổng hợp dự kiến sẽ phân bổ cho các đơn vị dự toán cấp dưới, trên cơ sở

đó hướng dẫn các đối tượng này tiến hành lập dự toán ngân sách y tế

Sở Tài chính báo cáo UBND tỉnh trình HĐND tỉnh quyết định phân

bổ ngân sách cho các đơn vị dự toán thuộc tỉnh Căn cứ vào nghị quyết của HĐND tỉnh, UBND tỉnh tiến hành giao dự toán cho từng đơn vị

Các nguyên tắc cần quán triệt trong khâu chấp hành dự toán:

Cấp phát phải đảm bảo đúng nội dung, tập trung có trọng điểm trên

cơ sở được giao

Cấp phát và sử dụng kịp thời, chặt chẽ tránh mọi lãng phí, thất thoát, tham ô

Cấp phát đảm bảo cân đối giữa khả năng và nhu cầu tiết kiệm, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội

Trang 17

Tại cấp tỉnh, Sở Tài chính phối hợp với Sở Y tế tổ chức thực hiện chấp hành chi, cấp phát kinh phí cho các bệnh viện tuyến tỉnh Các đơn vị thuộc ngành căn cứ vào dự toán mà các cấp có thẩm quyền phê duyệt, các chế độ, chính sách chi tiêu của nhà nước quyết định, lập nhu câu chi tiêu theo mục lục ngân sách gửi KBNN nơi giao dịch và gửi Sở Y tế.

• Quyết toán chi NSNN cho sự nghiệp y tế

Quyết toán ngân sách là khâu cuối cùng của chu trình quản lý ngân sách nói chung và quản lý chi ngân sách cho sự nghiệp y tế nói riêng Đây

là khâu được tiến hành trên cơ sở xem xét, phân tích những khoản chi đã được nêu trong báo cáo quyết toán của đơn vị để đánh giá kết quả chấp hành ngân sách Từ đó rút ra ưu nhược điểm và bài học kinh nghiệm cho những năm tiếp theo Chấp hành ngân sách tốt sẽ làm tăng kỷ cương pháp luật tài chính, ngân sách, xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm chế độ và quy định của pháp luật

Tại cấp tỉnh: Các đơn vị lập báo cáo quyết toán gửi Sở Y tế Sở Y tế

tổ chức xét duyệt quyết toán và thông báo kết quả quyết toán cho các đơn

vị trực thuộc, đồng thời gửi Sở Tài chính thẩm tra, phê duyệt Sở Tài chính tiến hành duyệt quyết toán và thông báo kết quả xét duyệt quyết toán gửi cho Sở Y tế

1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến chi NSNN cho sự nghiệp y tế.

Chi NSNN cho sự nghiệp y tế chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, sau đây là một số nhân tố chủ yếu:

 Mức độ tăng trưởng của nền kinh tế và quan hệ phân phối NSNN.

Trang 18

Sự tăng trưởng của một quốc gia nhanh hay chậm thể hiện qua chỉ tiêu thu nhập quốc dân cao hay thấp Khi nền kinh tế tăng trưởng chậm, thu nhập quốc dân thấp thì một điều tất yếu là mức độ động viên vào NSNN sẽ thấp Trong khi đó nhu cầu chi tiêu ngày càng gia tăng mà nguồn tài chính đảm bảo cho cho chi tiêu của NSNN bị hạn chế dẫn tới nguồn tài chính cung cấp cho sự nghiệp y tế cũng bị hạnh chế Ngược lại, nếu nền kin tế có tốc độ tăng trưởng cao, mức động viên vào NSNN lớn và thuận lợi thì nguồn kinh phí giành cho sự nghiệp y tế sẽ cao hơn là một điều tất yếu.

Khi nguồn lực tài chính được tập trung vào trong tay Nhà nước hình thành nên NSNN thì nguồn lực này sẽ phân phối cho các lĩnh vực Tùy vào từng thời kỳ mà khoản chi nào đó có thể chiếm tỷ trọng cao hay thấp trong cơ cấu chi của NSNN Thực tế cho thấy, với một lượng tài chính (NSNN) nhất định, nếu ta tăng chi quá cho lĩnh vực này thì tất yếu phải giảm chi của lĩnh vực khác Như vậy, nếu tăng chi cho sự nghiệp y tế thì tất yếu phải giảm chi của lĩnh vực khác Ngược lại, nếu tăng chi cho các lĩnh vực khác mà phần NSNN dành cho sự nghiệp y tế không đảm bảo nhu cầu tối thiểu thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sự nghiệp y tế và chất lượng của công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân sẽ không được đảm bảo Vì vậy, tùy theo tình hình thực tế và thực trạng của từng ngành mà Nhà nước sẽ xác định một phần NSNN hợp ly dành cho từng ngành, trong

đó có ngành y tế

 Tốc độ tăng dân số và tỷ lệ mắc bệnh trong nhân dân

Tốc độ tăng dân số và tỷ lệ mắc bệnh trong nhân dân tăng sẽ ảnh hưởng lớn đển chi NSNN cho sự nghiệp y tế

Trang 19

Nước ta hiện nay dân số tăng nhanh đã làm cho nhiều mục tiêu về đời sống vật chất, văn hóa, dân trí và sức khỏe đã đề ra mà chưa thể thực hiện được Dân số tăng trong khi NSNN còn hạn hẹp gây sức ép lớn về mặt xã hội, nhất là về y tế Dân số tăng nhanh cùng với điều kiện vật chất của người dân thiếu thốn, môi trường sinh thái bị ô nhiễm, kèm theo đó là

sự xuất hiện tăng nhanh của dịch bệnh, gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người Để thanh toán và đẩy lùi dịch bệnh thì phải gia tăng các khoản chi NSNN cho sự nghiệp y tế Mặt khác, tỷ lệ mắc bệnh trong nhân dân còn cao đòi hỏi các hoạt động y tế phải đổi mới và chuyển đổi để giải quyết các vấn đề bệnh tật Điều này cũng ảnh hưởng tới nội dung và cơ cấu chi NSNN cho sự nghiệp y tế

 Trang thiết bị cho hoạt động y tế

Tình hình trang thiết bị của ngành y tế cũng là nhân tố ảnh hưởng lớn tới chi NSNN cho sự nghiệp y tế Nếu như cơ sở vật chất, trang thiết bị

ở các cơ sở y tế còn tốt, hiện đại, đảm bảo được nhu cầu khám chữa bệnh thì khoản chi cho mua sắm trang thiết bi y tế giảm kéo theo chi NSNN cho

sự nghiệp y tế giảm và ngược lại

Hiện nay trang thiết bị y tế của nước ta con thiếu và lạc hậu, chưa đáp ứng yêu cầu cho sự phát triển, phần lớn các bệnh viện tuyến huyện và tuyến cơ sở thiếu thốn hoặc không có trang thiết bị hiện đại, do vậy đòi hỏi NSNN phải chi nhiều hơn nữa để đầu tư máy móc, trang thiết bị chuyên dụng

Ngoài những nhân tố nêu trên, thì chi NSNN cho sự nghiệp y tế còn chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố khác như: mạng lưới tổ chức của ngành y tế, khả năng, trình độ của ngành y tế, sự biến động về kinh tế,

Trang 20

Tất cả các nhân tố trên đêì tác động và gây ảnh hưởng tới chi NSNN cho sự nghiệp y tế Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của mỗi nhân tố đến chi NSNN cho sự nghiệp y tế trong từng thời kỳ có sự khác nhau Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nội dung, cơ cấu chi NSNN cho sự nghiệp y tế

có ý nghĩa quan trọng trong việc bố trí nội dung và cơ cấu các khoản chi của NSNN cho sự nghiệp y tế một cách khách quan, phù hợp với yêu cầu của tình hình ngành y tế và tình hình kinh tế, chính trị trong từng giai đoạn

Tóm lại: Chương một của chuyên đề này đề cập đến những lý luận

chung về chi NSNN cho sự nghiệp y tế Xuất phát từ tầm quan trọng của

sự nghiệp y tế đối với sự phát triển kinh tế - xã hội mà cần thiết phải đầu

tư cho sự nghiệp này Vốn đầu tư cho sự nghiệp y tế được lấy từ nhiều nguồn, trong đó từ nguồn NSNN là chủ yếu, hình thành nên các khoản chi NSNN cho sự nghiệp y tế

Chi NSNN cho sự nghiệp y tế là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của ngành y tế Nó là một khoản chi thuộc lĩnh vực văn xã nhưng lại có những nét riêng biệt và khác so với các khoản chi thường xuyên khác Với nội dung chi phong phú và đa dạng, chi NSNN cho sự nghiệp y tế có vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người Nó là một khoản chi chịu tác động của nhiều nhân tố, trong đó có cả những nhân tố chủ quan và khách quan

Nghiên cứu lý luận chung về chi NSNN cho sự nghiệp y tế có ý nghĩa rất lớn trong việc quản lý các khoản chi này trong thực tiễn cả ở tầm

vĩ mô (trên phạm vi cả nước) và trên tầm vi mô (trong phạm vi mỗi địa phương) để sao cho việc quản lý mang lại hiệu quả cao, đảm bảo được các mục tiêu vĩ mô của Nhà nước

Trang 21

Trong giới hạn về lý luận và điều kiện nghiên cứu, em xin đi sâu

vào nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi NSNN cho các Bệnh viện tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Bình” Các đơn vị nêu trên đó là : Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình;

Bệnh viện Y học cổ truyền; Bệnh viện Mắt; Bệnh viện Phụ sản

Trang 22

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO CÁC BỆNH VIỆN TUYẾN TỈNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH.

2.1 Vài nét về các bệnh viện tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Bình.

2.1.1 Vài nét về đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Thái Bình.

Thái Bình là một tỉnh ven biển ở đồng bằng sông Hồng, một mặt giáp biển, ba mặt giáp sông, có địa hình tương đối bằng phẳng, có đặc điểm thủy văn, khí hậu và đất đai thuận lợi cho phát triển nông nghiệp

Thái Bình là vùng lúa trọng điểm của phía Bắc và cả nước, tiếp giáp với 5 tỉnh: phía Đông giáp với Vịnh Bắc bộ, phía Tây và Tây Nam giáp với hai tỉnh Nam Định và Hà Nam, Phía Bắc giáp với tỉnh Hưng Yên, Hải Dương và Hải Phòng Tỉnh Thái Bình có diện tích tự nhiên là 1.574,2

km2, dân số 1.843.000 người, có mật độ dân số cao so với trong vùng và

cả nước (xấp xỉ 1.171 người/km2) Tỉnh được chia thành 07 huyện và 01 thành phổ trực thuộc tỉnh, bao gồm: huyện Hưng Hà, Đông Hưng, Quỳnh Phụ, Thái Thụy, Tiền Hải, Kiến Xương, Vũ Thư và Thành phố Thái Bình

Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Bình đang trên đà phát triển: Nông nghiệp phát triển theo hướng tích cực, các dự án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi đã và đang được triển khai xuống cơ sở; thủy sản phát triển mạnh với nhịp độ cao; sản xuất công nghiệp và các hoạt động dịch vụ tăng mạnh cả về chất và lượng Thu nhập bình quân đầu người năm 2010

là 16,1 triệu đồng, tổng giá trị sản xuất là 23.015 tỷ đồng, tăng 17,01% so với năm 2009 Thái Bình đã khai thác và phát huy các nguồn lực trong và

Trang 23

ngoài tỉnh cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, tạo tiền đề cho những năm tiếp theo Các lĩnh vực văn hóa – xã hội … có tiến triển tích cực, tình hình nông thôn đi vào ổn định, vững chắc.

Chính sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đã tạo tiền đề cho ngành

y tế phát triển và có khả năng huy động một phần nguồn lực trong tỉnh để phát triển sự nghiệp y tế và xã hội hóa hoạt động y tế trong những năm tới đây Đồng thời đó là xu hướng đòi hỏi ngành y tế phải ngày càng củng cố

và hoàn thiện để thực hiện một cách tốt nhất nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân

Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu thì kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn Kinh tế phát triển nhưng không đồng đều giữa các vùng, chủ yếu là khu vực thành phố và trung tâm các huyện, kéo theo đó là sự mất cân đối về đời sống của nhân dân giữa các vùng về kinh tế, văn hóa, xã hội … Hiện tại còn 4% lao động chưa có việc làm Việc phát triển các khu công nghiệp, làng nghề đóng góp rất lớn cho nên kinh tề của tỉnh, nhưng bên cạnh đó là vấn đề về ô nhiễm môi trường, trong khi tiến độ đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải và xử lý ô nhiễm môi trường trong các khu công nghiệp, điểm công nghiệp và làng nghề còn chậm, chưa đạt yêu cầu Việc triển khai quy hoạch phat triển giáo dục, y tế còn chậm, việc khắc phục tình trạng quá tải của các bệnh viện công lập còn gặp khó khăn …

Chính những khó khăn đó là bức rào chắn đối với sự phát triển của nghành y tế, bởi kinh tế - xã hội của tỉnh tuy có phát triển nhưng chưa thể nhảy vọt được, thu nhập của người dân tuy có tăng nhưng chưa cao, người dân còn phải lo đến “ cơm, áo, gạo, tiền” thì họ chưa thể đặt tiêu chí chăm

Trang 24

được “sức khỏe là vốn quý nhất của con người” Đó chính là những thách thức cản trở chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động y tế của tỉnh và là những khó khăn đòi hỏi ngành y tế và các ngành liên quan phải phấn đấu vượt qua.

2.1.2 Thực trạng các bệnh viện tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Bình những năm gần đây.

Bệnh viện Mắt trước đây là trạm Mắt được thành lập từ năm 1965 Năm 2000 được UBND Tỉnh Quyết định đổi tên thành Trung tâm Mắt; Tháng 3 năm 2008 được tổ chức lại thành bệnh viện Mắt Quy mô giường bệnh là 150-200 giường bệnh Bệnh viện có 09 phòng khoa chuyên môn,

có tổng số nhân viên là 65 người

Bệnh viện Y học cổ truyền tiền thân là một tổ Đông y nằm trong khoa Dược của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trước yêu cầu đòi hỏi của xã hội, ngày 19/ 5/ 1971, UBND tỉnh có quyết định thành lập Bệnh viện với kế hoạch 60 giường bệnh và 55 cán bộ nhân viên Hiện nay, bệnh viện có 120 giường bệnh và 85 cán bộ , y bác sỹ

Trang 25

Về đội ngũ cán bộ: Các bệnh viện đang từng bước sắp xếp và củng

cố đội ngũ cán bộ theo hướng tiêu chuẩn hóa, tăng cường công tác đào tạo, nâng cao chất lượng hoạt động Những năm gần đây, đội ngũ cán bộ y tế ngày càng được nâng cao về chất lượng và số lượng y, bác sỹ cũng ngày càng tăng qua các năm Thể hiện qua bảng số 1

Bảng số 1: Tình hình đội ngũ y, bác sỹ qua 03 năm 2008 – 2009 –

bộ phận, còn nhiều bác sỹ chưa được đào tạo đúng chuyên khoa công tác

Trang 26

chất lượng Trong khi đó nhu cầu khám chữa bệnh của người dân ngày càng cao, tình trạng quá tải vẫn là một bài toán khó cho các bệnh viện.

2.1.2 Hoạt động khám chữa bệnh của các bệnh viện tuyến

tỉnh trên địa bàn tỉnh Thái Bình thời gian gần đây.

Trong những năm gần đây, ngành Y tế Thái Bình đã tích cực đẩy nhanh xã hội hóa công tác y tế, phù hợp với cơ chế thị trường, tạo điều kiện để nhiều loại hình y tế phát triển, trong đó y tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, đã huy động được sự đóng góp lớn của cộng đồng cho sự nghiệp phát triển y tế địa phương Cùng với tình hình đó, công tác khám chữa bệnh của nhiều bệnh viện tuyến tỉnh cũng có nhiều chuyển biến tích cực, chất lượng chuyên môn từng bước được nâng cao Thể hiện qua bảng số 2

Bảng số 2: Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu chuyên môn hoạt

Ngày đăng: 14/04/2016, 10:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số 1: Tình hình đội ngũ y, bác sỹ qua 03 năm 2008 – 2009 – - Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi NSNN cho các bệnh viện tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh thái bình
Bảng s ố 1: Tình hình đội ngũ y, bác sỹ qua 03 năm 2008 – 2009 – (Trang 25)
Bảng số 2:  Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu chuyên môn hoạt - Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi NSNN cho các bệnh viện tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh thái bình
Bảng s ố 2: Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu chuyên môn hoạt (Trang 26)
Bảng số 3: Tình hình chi ngân sách tỉnh cho sự nghiệp y tế qua các - Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi NSNN cho các bệnh viện tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh thái bình
Bảng s ố 3: Tình hình chi ngân sách tỉnh cho sự nghiệp y tế qua các (Trang 29)
Bảng số 5: Cơ cấu chi NS tỉnh Thái Bình cho các bệnh viện tuyến - Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi NSNN cho các bệnh viện tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh thái bình
Bảng s ố 5: Cơ cấu chi NS tỉnh Thái Bình cho các bệnh viện tuyến (Trang 31)
Bảng số 7: Chi NS cho nghiệp vụ chuyên môn trong 3 năm ( 2008 – - Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi NSNN cho các bệnh viện tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh thái bình
Bảng s ố 7: Chi NS cho nghiệp vụ chuyên môn trong 3 năm ( 2008 – (Trang 34)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w