quản lý hết các hộ kinh doanh, doanh thu tính thuế không sát thực tế, nợđọng thuế còn nhiều và đặc biệt là không khai thác hết tiềm lực thu để đạtđược mức thu thuế cao hơn.Vì vậy, vấn đề
Trang 1Phần mở đầu:
Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước và là công cụquan trọng điều tiết vĩ mô nền kinh tế, góp phần đảm bảo công bằng xãhội, khuyến kích sản xuất phát triển Với vai trò quan trọng và ngày càngtrở nên quan trọng, nhiều quốc gia trên thế giới đã rất coi trọng chính sáchthuế và các biện pháp quản lý thuế
Sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, Đảng ta đã thựchiện đổi mới kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ tập trung quan liêu baocấp sang cơ cấu kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước Để phùhợp với cơ chế quản lý mới, nước ta đã cải cách hệ thống chính sách thuế
và tổ chức lại ngành thuế, và áp dụng luật thuế GTGT.Luật thuế GTGTđược Quốc hội khoá 9 thông qua tại kỳ họp lần thứ 11 (từ ngày02/04/1997 đến ngày 10/05/1997) và được áp dụng ngày 01/01/1999 Luậtthuế GTGT có nhiều ưu điểm như: phù hợp với hoạt động kinh tế thịtrường, khác phục tình trạng đánh thuế trùng, đảm bảo công bằng vàkhuyến kích đầu tư phát triển…Qua 10 năm áp dụng, luật thuế GTGT đãphát huy tốt những ưu điểm đó, đem lại hiệu quả rõ rệt trong thực tiễncông tác quản lý thuế
Trong cơ cấu kinh tế mới này có sự tham gia của nhiều thành phầnkinh tế, trong đó có thành phần kinh tế cá thể Kinh tế cá thể bao gồmnhững đơn vị kinh tế hoạt động sản xuất chủ yếu dựa trên vốn và sức laođộng của từng hộ kinh doanh
Trong thời gian vừa qua công tác quản lý thuế GTGT đối với các hộkinh doanh cá thể có những chuyển biến tích cực góp phần tăng thu ngânsách cho nhà nước, hạn chế thất thu và nâng cao ý thức tuân thủ pháp luậtthuế đối với các hộ kinh doanh cá thể Song bên cạnh đó vẫn còn nhữnghạn chế như: tuy thất thu có giảm nhưng vẫn còn tồn tại tình trạng không
Trang 2quản lý hết các hộ kinh doanh, doanh thu tính thuế không sát thực tế, nợđọng thuế còn nhiều và đặc biệt là không khai thác hết tiềm lực thu để đạtđược mức thu thuế cao hơn.
Vì vậy, vấn đề cấp thiết đòi hỏi ngành thuế phải có những phươngpháp nghiên cứu và giải pháp phù hợp trong quản lý thuế GTGT đối vớicác hộ kinh doanh cá thể.Công tác quản lý Thuế đối với các hộ kinh doanh
cá thể tại chi cục Thuế Quận Hà Đông cũng nằm trong tình trạng chung
đó Qua thực tập tại chi cục Thuế Quận Hà Đông em xin mạnh dạn chọn
đề tài: “Các gải pháp để tăng cường quản lý thuế GTGT đối với các hộ kinh doanh cá thể theo phương pháp ấn định tại chi cục Thuế Quận
Hà Đông” Đề tài tập trung phân tích thực trạng quản lý, từ đó chỉ ra hạn
chế và nguyên nhân của những bất cập còn tồn tại, đề xuất hướng giảiquyết và giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý thuế GTGT đối với các
hộ kinh doanh cá thể nhằm đạt được hiệu quả cao hơn trong thực tiễn quảnlý
Chuyên đề gồm 2 phần:
Phần 1: Thực trạng quản lý thuế GTGT đối với các hộ kinh doanh
cá thể theo phương pháp ấn định tại Chi cục Thuế Quận Hà Đông
Phần 2: Các giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý thuế GTGTđối với các hộ kinh doanh cá thể nộp thuế theo phương pháp ấn định tạiChi cục Thuế Quận Hà Đông
Em xin chân thành cảm ơn TS Vương Thị Thu Hiền và các bác, cácanh chị trong Chi cục Thuế Quận Hà Đông đã giúp đỡ em hoàn thành đề tàinày
HÀ NỘI , ngày tháng năm 2011
Sinh viên
Trang 3Hoàng Trường Giang
Trang 41.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội Quận Hà Đông
Hà Đông là một quận thuộc thủ đô Hà Nội, nằm bên bờ sông Nhuệ,cách trung tâm Hà nội 11km về phía tây, quận Hà Đông là quận lớn thứhai của thủ đô Hà Nội chỉ sau quận Long Biên Trước 2006, diện tích thị
xã Hà Đông là 16 km2 , dân số 9,6 vạn người
Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính theo nghị định số23/2008/NĐ-CP, Hà Đông có có 4.791,40 ha diện tích tự nhiên và 198.687nhân khẩu Quận Hà Đông nằm ở cửa ngõ phía tây nam của thành phố, là
vị trí thuận lợi cho các hoạt động giao thông buôn bán và kinh doanh, pháttriển công nghiệp, dịch vụ và thương mại Quận nằm dọc theo Quốc lộ 6
từ Hà Nội đi Hòa Bình, ngoài ra có quốc lộ 21B và đường 430 đi qua Địagiới hành chính: phía bắc giáp huyện Từ Liêm, huyện Hoài Đức, phíađông giáp huyện Thanh Trì, phía đông bắc giáp một chút quận ThanhXuân, phía tây giáp các huyện Quốc Oai, Hoài Đức, Chương Mỹ, phía tâynam giáp huyện Chương Mỹ, phía nam giáp các huyện Thanh Oai,Chương Mỹ
Trong những năm qua, với cơ chế quản lý khá thông thoáng, Nhànước khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển thì hoạt động sảnxuất kinh doanh của quận khá sầm uất Các thành phần kinh tế của quận
Hà Đông phát triển khá đa dạng từ kinh tế hộ gia đình, kinh tế tư nhân,HTX cho đến kinh tế tư bản tư nhân hoạt động trong mọi ngành nghề lĩnh
Trang 5vực Với vị trí thuận lợi, diện tích hành chính rộng, dân số đông, quận HàĐông là nơi tập trung chợ Hà Đông, có 17 đơn vị hành chính phường, trên
300 cơ quan TƯ Thành phố và quận đóng trên địa bàn Đây là điều kiệnthuận lợi về thị trường để các thành phần kinh tế hoạt động có tổ chức vàquy mô Đặc biệt quận là nơi tập trung nhiều làng nghề lâu đời nổi tiếngkhắp cả nước như làng lụa Vạn Phúc, làng rèn Đa Sỹ,… Điều này có ảnhhưởng rất lớn đến sự phát triển của các đối tượng kinh doanh chủ yếu trongcác ngành nghề: thủ công nghiệp, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ, vận tải,
du lịch Hiện nay Hà Đông từ đô thị loại ba đã trở thành đô thị loại một có
vị trí quan trọng trong thành phố Hà Nội và cả nước Nhiều khu dân cư mớiđược hình thành, nhiều doanh nghiệp và các trường Cao đẳng, Đại họcđược mở rộng trên địa bàn quận do đó các nghành nghề về xây dựng,thương mại, kinh doanh bất động sản ngày càng thu hút được nhiều tầng lớptham gia tạo điều kiện cho nhiều doanh nghiệp đặc biệt là các công ty tráchnhiệm hữu hạn phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây
Hà Đông cũng đã mở rộng hệ thống giao thông, nâng cấp sửa mớicác tuyến đường tạo thuận lợi cho lưu thông hàng hoá giữa các vùng, thúcđẩy sự phát triển của ngành thương mại dịch vụ Công tác giáo dục, vănhóa, xã hội của quận Hà Đông ngày càng phát triển Nhìn chung điều kiệnsống và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao
Qua tìm hiểu điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội có thể thấy rõ thếmạnh tiềm năng thu nhập, tiềm năng lao động, trình độ dân trí và điều kiệnsống của dân cư trên địa bàn quận Hà Đông Trên cơ sở đó có thể kháiquát thế mạnh và cũng như hạn chế của từng yếu tố tác động đến sự pháttriển kinh tế mà cụ thể là tác động đến các doanh nghiệp, công ty trên địabàn quận Hà Đông
1.1.2 Tổ chức bộ máy tại chi cục thuế Quận Hà Đông
Chi cục thuế quận Hà Đông là tổ chức trực thuộc cục thuế TP HàNội, có trụ sở tại đường Tô Hiệu phường Hà Cầu, Hà Đông – TP Hà Nội
Trang 6Chi cục Thuế quận Hà Đông được thành lập và đi vào hoạt động từ
năm 1990 với nhiệm vụ tổ chức bộ máy quản lý thu thuế công thươngnghiệp dịch vụ ngoài quốc doanh và các khoản thu khác trên địa bàn Chicục Thuế Hà Đông được giao nhiệm vụ quản lý thu ngân sách trên địa bànquận Hà Đông với 17 đơn vị hành chính phường, số cán bộ Chi cục tạithời điểm tháng 12/2010 là: 160 cán bộ, được tổ chức thành 13 đội thuếtrong đó có 5 đội thuế quản lý thu tại các phường và chợ Hà Đông còn lạicác đội thuế hoạt động tại Chi cục Thuế
Căn cứ quyết định số 76/2007/QĐ-TTg ngày 28/05/2007 của Thủtướng chính phủ về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơcấu tổ chức của Tổng cục thuế trực thuộc Bộ tài chính Căn cứ quyết định
số 49/2007/QĐ- BTC ngày 15/06/2007 của Bộ trưởng Bộ tài chính quyđịnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục thuế trựcthuộc Tổng cục thuế; Theo quyết định số 504/QĐ- TCT của Tổng cụcthuế, thì bộ máy của Chi cục thuế Hà Đông đã được tổ chức lại cho phùhợp với chức năng và nhiệm vụ mới
Với tổng số 160 cán bộ công chức của Chi cục, trên cơ sở chứcnăng, nhiệm vụ và tình hình thực tế tại Chi cục thuế quận Hà Đông - Tp
Hà Nội, cơ cấu bộ máy của Chi cục bao gồm:
- Ban lãnh đạo Chi cục gồm 04 đồng chí (01 đồng chí Chi cụctrưởng và 03 đồng chí Phó Chi cục trưởng)
- Toàn chi cục có 13 đội thuế, trong đó có 08 đội chuyên môn, 04đội thuế liên phường và 01 đội thuế chợ Hà Đông
Lãnh đạo chi cục:
o 1 Chi cục trưởng: phụ trách chung, phụ trách trực tiếp đội hànhchính - ấn chỉ, tài vụ; đội kê khai – kế toán thuế - tin học – nghiệp vụ kếtoán
Trang 7o 1 Chi cục phó: phụ trách các khoản thu về đất; phụ trách trực tiếpcác đội tuyên truyền hỗ trợ, trước bạ và thu khác, phí và lệ phí.
o 1 Chi cục phó: phụ trách các khoản thuế NQD đối với các doanhnghiệp; phụ trách trực tiếp các đội kiểm tra số 2, 3
o 1 Chi cục phó: phụ trách các khoản thu quốc doanh; phụ tráchtrực tiếp các đội thuế chợ Hà Đông; đội quản lý và cưỡng chế nợ thuế
Chức năng nhiệm vụ cụ thể của các đội chức năng như sau:
Đội tuyên truyền – hỗ trợ người nộp thuế: Giúp Chi cục trưởng tổchức thực hiện công tác tuyên truyền về chính sách, pháp luật thuế, hỗ trợngười nộp thuế trong việc thực hiện pháp luật thuế
Đội kê khai – kế toán thuế - tin học -ấn chỉ: Giúp Chi Cục trưởng
tổ chức thực hiện công tác đăng ký thuế, xử lý hồ sơ khai thuế, kế toánthuế, thống kê thuế theo phân cấp quản lý; quản lý và vận hành hệ thốngtrang thiết bị tin học; triển khai, cài đặt, hướng dẫn sử dụng các phần mềmứng dụng tin học phục vụ công tác quản lý thuế
Đội Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế: Giúp Chi Cục trưởng tổ
chức thực hiện công tác quản lý nợ thuế, cưỡng chế thu tiền thuế nợ, tiềnphạt đối với người nộp thuế trong phạm vi quản lý
Đội hành chính – tài vụ - ấn chỉ: Giúp Chi Cục trưởng tổ chứcthựchiện về công tác hành chính, văn thư, lưu trữ;công tác quản lý nhân sự;quản lý tài chính, quản trị; quản lý ấn chỉ trong nội bộ Chi cục thuế
Đội trước bạ và thu khác: Giúp Chi Cục trưởng quản lý thu lệ phítrước bạ, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tiền cấp quyền sử dụng đất, cáckhoản đấu giá về đất, tài sản, tiền thuê đất, thuế tài sản,phí, lệ phí và cáckhoản thu khác phát sinh trên địa bàn thuộc phạm vi quản lý
Đội kiểm tra số 1: Làm công tác kiểm tra nội bộ và kiểm tra hồ sơkhai thuế đối với người nộp thuế theo phương pháp kê khai
Đội kiểm tra số 2: Kiểm tra hồ sơ khai thuế đối với các tổ chức
Đội kiểm tra số 3: Kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế
Trang 8 4 đội thuế liờn phường: Quản lý, thu thuế đối với hộ khoỏn và cỏcnguồn thu phỏt sinh trờn địa bàn phường.
Đội thuế chợ Hà Đụng: Quản lý đối với cỏc hộ kinh doanh trờn chợ HàĐụng
1.1.3 Cụng tỏc thu thuế trờn địa bàn Quận Hà Đụng năm 2010
Trong thời gian qua, Chi cục thuế Hà Đụng đó thực hiện thành cụngnhiệm vụ trọng tõm là tổ chức chỉ đạo và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụthu ngõn sỏch nhà nước
Năm 2010 là năm có nhiều thay đổi ảnh hởng đến tình hình quản lýthu ngân sách.Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ X, Nghị quyết Đảng bộ Hà Đông lần thứ 18, năm 2010 cũng là nămQuận uỷ, HĐND, UBND quận đề ra nhiều chủ trơng, chuyên đề về pháttriển kinh tế- xã hội của quận Những chủ trơng thu hút đầu t, trong đó tậptrung vào các dự án xây dựng các khu đô thị, chung c, khu công nghiệp đãkích thích sự tăng trởng kinh tế trên địa bàn tạo nguồn thu cho ngân sách.Một số khu đô thị đã hoàn chỉnh mở rộng thị trờng kinh doanh trên địabàn
Chi cục thuế quận Hà Đông đợc sự song trùng lãnh đạo của Cụcthuế thành phố Hà Nội và quận Hà Đông, nhiệm vụ thu ngân sách trên địabàn quận Hà Đông với 17 đơn vị hành chính phờng, số cán bộ là 160 tính
đến ngày 31/12/2010 đợc chia thành 13 đội thuế trong đó có 5 đội thuếquản lý thu tại các phờng và chợ Hà Đông, còn lại các đội thuế hoạt độngtại Chi cục Thuế
Năm 2010, Chi cục Thuế Hà Đông đợc Cục thuế giao thu ngân sáchtrên địa bàn dự toán là: 1.618,3 tỷ đồng.So với thực hiện 2009 bằng29%.Trong đó tiền thu sử dụng đất 1.210 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 75%; lệphí trớc bạ: 202 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 12,2%, thuế CTN - DV -NQD là
150 tỷ đồng chiếm tỷ trọng9,3%,thuế thu nhập cá nhân 27 tỷ chiếm tỷtrọng 1,7% ; các khoản thu khác 29,3 tỷ đồng chiếm tỷ trọng :1,8%.Tổngthu cả năm toàn Quận thu đạt: 2.880 tỷ 137,8 triệu đồng đạt 178% dự toán,
so với thực hiện năm 2009 bằng51%
Trang 9N¨m 2010, cã 8/9 chỉ tiªu ùoc giao hoµn thµnh vµ hoµn thµnh vît chỉtiªu
1.2 Thực trạng quản lý thuế GTGT đối với các hộ kinh doanh cá thể nộp thuế theo phương pháp ấn định trên địa bàn quận Hà Đông
Trong các loại hình hoạt động sản xuất trên địa bàn quận Hà Đông,các hộ kinh doanh cá thể không phải là đối tượng kinh doanh chủ yếu,song do tiềm lực thuế ngày càng phát triển, lại có đặc điểm phù hợp với xuhướng phát triển của đất nước những năm gần đây, công thêm là nhữngmặt trái dễ phát sinh trong công tác quản lý thuế của cơ quan thuế cũngnhư trong việc chấp hành thuế của đối tượng nộp thuế; mà công tác quản
lý thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể được ngành thuế nói chung vàChi cục thuế quận Hà Đông nói riêng hết sức chú trọng Hiện nay trêntoàn quận Hà Đông có khoảng 4000 hộ kinh doanh cá thể nằm rải rác khắpcác phường xã, chợ Trong số 17 phường xã, Nguyễn Trãi là phường có số
hộ kinh doanh nhiều nhất và cũng là phường phát triển nhất của quận HàĐông Đối với các chợ, quận Hà Đông chỉ có 1 chợ lớn, đó là chợ HàĐông Các hộ kinh doanh hoạt động chủ yếu trong 4 ngành nghề: dịch vụ,
ăn uống, kinh doanh và sản xuất - là những ngành nghề phù hợp với đặcđiểm kinh doanh nhỏ lẻ của hộ kinh doanh, và đặc biệt có thị trường tiêuthụ rộng lớn, đồng thời không đòi hỏi vốn kinh doanh quá nhiều
Sự phát triển của các hộ kinh doanh cá thể trong quận Hà Đông đãgóp phần đáp ứng nhu cầu đời sống vật chất, văn hoá của nhân dân trongquận, góp phần thúc đẩy trở lại đối với sản xuất Sự phát triển mạnh mẽ cả
về số lượng lẫn quy mô, hộ kinh doanh cá thể đã góp phần tăng thu Ngânsách Nhà nước và giải quyết việc làm cho nhân dân trong tỉnh Song, với
số lượng hộ kinh doanh lớn và ngày càng tăng đã khiến cho công tác quản
Trang 10lý thuế trở lên phức tạp, tạo điều kiện cho những hành vi vi phạm phápluật thuế nảy sinh và phát triển.
Vì vậy, để đánh giá thực trạng quản lý thuế GTGT đối với các hộkinh doanh cá thể theo phương pháp ấn định trên địa bàn Quận Hà Đông
ta đi tìm hiểu những nội dung sau:
- Công tác quản lý đối tượng nộp thuế
- Công tác quản lý doanh thu hộ kinh doanh cá thể
- Công tác đôn đốc thu nộp thuế
- Công tác triển khai kế toán hộ kinh doanh cá thể
- Công tác thực hiện miễn giảm thuế
- Công tác thanh tra kiểm tra
1.2.1 Công tác quản lý đối tượng nộp thuế
Quản lý đối tượng nộp thuế là khâu đầu tiên và cũng là một trongnhững khâu quan trọng trong công tác quản lý thuế tại Chi cục Nhằm đápứng được mục tiêu bao quát nguồn thu, tránh thất thoát nguồn thu, và mụctiêu kiểm tra tình hình thực hiện đúng pháp luật của khu vực kinh tế ngoàiquốc doanh nói chung, kinh tế cá thể nói riêng, yêu cầu đặt ra cho Chi cụcphải quản lý tốt đối đối tượng nộp thuế đặt nền móng cho các khâu tiếptheo
Yêu cầu đặt ra trong quản lý đối tượng nộp thuế là các hộ kinhdoanh trên điạ bàn quận:
- Đưa hết số hộ thực tế kinh doanh vào diện quản lý thu thuế, khôngphân biệt ngành nghề kinh doanh, quy mô kinh doanh, tính chất kinhdoanh
Trang 11- Nắm được ngành nghề và quy mô kinh doanh của từng hộ kinhdoanh.
- Nắm được các biến động trong quá trình kinh doanh có liên quanđến công tác quản lý thu thuế như thay đổi hoặc bổ sung ngành nghề kinhdoanh, thay đổi quy mô kinh doanh, đặc điểm kinh doanh…
* Công tác cấp mã số thuế cho hộ kinh doanh:
Đội thuế nhận hồ sơ đăng ký thuế, vào sổ nhận hồ sơ và lập phiếuhẹn Đội thuế kiểm tra hồ sơ đăng ký thuế, đối chiếu với các chỉ tiêu trên
tờ khai đăng ký thuế, trường hợp nếu phát hiện tờ khai đăng ký có sai sótthì yêu cầu hộ kinh doanh chỉnh sửa tờ khai đăng ký thuế theo đúng quyđịnh Sau khi kiểm tra hồ sơ đã hợp lệ, đội thuế chuyển ngay trong ngàycho Tổ xử lý dữ liệu (có xác nhận)
Tổ xử lý dữ liệu nhập tờ khai đăng ký thuế vào máy vi tính vàtruyền dữ liệu về Cục thuế Cục thuế kiểm tra, xác nhận thủ tục cấp mã sốthuế cho từng hộ kinh doanh và chuyển kết quả về chi cục thuế Tổ xử lý
dữ liệu lưu giữ hồ sơ đăng ký thuế của hộ kinh doanh theo từng địa bàn vàĐội thuế
Căn cứ vào mã số thuế do Cục thuế truyền về, Tổ xử lý dữ liệu inGiấy chứng nhận đăng ký thuế của các hộ kinh doanh trình lãnh đạo Chicục ký Tổ xử lý dữ liệu trả Giấy chứng nhận đăng ký thuế đã ký trongngày cho Đội thuế Đội thuế cấp Giấy chứng nhận đăng ký thuế cho từng
hộ kinh doanh và lập sổ theo dõi cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế
Tổ xử lý dữ liệu lập danh bạ hộ kinh doanh đã đăng ký thuế và đãđược cấp mã số thuế, đồng thời thông báo cho đội thuế phường, xã biết đểđội thuế đưa vào bộ thuế Đội thuế có trách nhiệm phối hợp với chínhquyền địa phương, xã điều tra số hộ có sản xuất, kinh doanh trên địa bàn đểđối chiếu với danh bạ do Tổ xử lý dữ liệu đã lập Đối với các trường hợp có
Trang 12biến động như: hộ mới ra kinh doanh, hộ nghỉ kinh doanh, hộ kinh doanhđổi tên, di chuyển địa điểm kinh doanh… đội thuế hướng dẫn và đôn đốc
để hộ kê khai theo quy định, các thông tin thay đổi chuyển cho Tổ xử lý dữliệu để bổ xung chỉ tiêu thay đổi hoặc đóng mã số thuế theo quy định
Tình hình quản lý hộ ấn định trên địa bàn quận Hà Đông được thểhiện trên bảng số liệu sau:
Bảng 1: Công tác quản lý hộ ấn định thông qua công tác cấp mã
Số hộ quản lý Số hộ mới đưa vào
quản lý
Số hộ thu thuếmôn bài
Số hộ thuthuế GTGT
(đồng)
Từ bảng số liệu trên cho thấy trong 2 năm vừa qua, tình hình quản
lý số hộ khoán tại chi cục đã có nhiều tiến triển:
- Công tác cấp mã số thuế: Qua công tác cấp mã số thuế, hàng nămchi cục đã đưa thêm được nhiều hộ vào diện quản lý thuế Năm 2009, chicục đã đưa thêm được 330 hộ, với số thuế 31.287.000 đ và năm 2010 là
Trang 13Số hộ kinh doanh quản lý thu thuế GTGT tăng và tăng với số lượngkhông nhỏ năm 2010 tăng 326 hộ so với năm 2009( tăng 13,4%)
Từ tình hình thực tế cho thấy công tác quản lý đối tượng nộp thuếtại chi cục đã có nhiều thành công, số hộ được cấp mã số thuế, số hộ thuthuế GTGT và số hộ mới được đưa vào quản lý hàng năm đều tăng và tăngvới số lượng lớn, chênh lệch giữa các hộ theo điều tra thống kê và số hộđược cấp mã số thuế không nhiều giúp hạn chế thất thu
Ví dụ với số liệu năm 2010 từ bảng số liệu 1 số hộ quản lý thuếGTGT chếm tỷ lệ 77,9% so với hộ quản lý môn bài và 78,59% so với số
hộ được cấp mã số thuế
Trong khi đó số hộ thực tế kinh doanh nhưng chưa được cấp mã sốthuế rất thấp:
+ Năm 2009, số hộ chưa được cấp mã số thuế là 60 hộ
+ Năm 2010, số hộ chưa được cấp mã số thuế là 30 hộ
Nguyên nhân của sự bỏ sót này trong quá trình quản lý đối tượngnộp thuế tại địa bàn quận là do:
- Hàng năm có nhiều hộ mới ra kinh doanh, chi cục thuế chưa quản
- Trình độ văn hoá, ý thức chấp hành pháp luật của các hộ kinhdoanh còn yếu, vì thế xẩy ra tình trạng có rất nhiều hộ ra kinh doanhnhưng không đăng ký thuế
Trang 14Tình trạng bỏ sót hộ kinh doanh không những gây khó khăn trongcông tác quản lý mã số thuế mà còn gây thất thu cho Ngân sách nhà nước.
Vì vậy chi cục thế cần đặc biệt chú trọng trong công tác quản lý đối tượngnộp thuế
Quá trình quản lý nghiêm ngặt của chi cục của chi cục Thuế quận
Hà Đông cùng với thực hiện kiểm tra,thống kê đôn đốc thường xuyên nên
đã giảm được tương đối tỷ lệ thất thu và bỏ sót ít các hộ kinh doanh
* Công tác phân loại hộ kinh doanh:
Để đáp ứng yêu cầu quản lý đối tượng nộp thuế, chi cục thuế thựchiện phân loại hộ kinh doanh
- Đối với các hộ kinh doanh nói chung, chi cục thuế phân loại theoquy mô kinh doanh mà tiêu thức phân loại được căn cứ theo bậc môn bài
Hộ kinh doanh có bậc môn bài 1, 2 được xếp vào hộ kinh doanh lớn, hộkinh doanh có môn bài bậc 3, 4 xếp vào hộ vừa, 5 và 6 là các hộ kinhdoanh nhỏ Đối với các hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán
ổn định thường là những hộ kinh doanh nhỏ và vừa, có bậc thuế môn bàicao
Tình hình quản lý hộ kinh doanh trên địa bàn qua công tác phân loạitheo bậc môn bài được thể hiện dưới bảng 2:
Trang 15Bảng 2 Phân loại hộ kinh doanh theo bậc môn bài
Năm Số hộ bậc
môn bài 1,
2 (hộ kinhdoanhlớn)
Số hộ bậcmôn bài 3,
4 (hộ kinhdoanhvừa)
Số hộ bậcmôn bài5,6 (hộkinhdoanhnhỏ)
Số hộ nộpthuếGTGTtheophươngpháp kêkhai
Số hộ nộpthuếGTGTtheophươngpháp ấnđịnh
+ Số hộ khoán là các hộ kinh doanh có quy mô vừa và nhỏ, có bậcmôn bài 3, 4 và 5, 6: năm 2010 tăng 228 hộ(7,16%) so với năm 2009(trong đó 138 hộ có bậc môn bài 3,4 và 90 hộ có bậc môn bài 5,6)
Nhìn chung qua công tác phân loại hộ kinh doanh trên địa bàn quản
lý của Chi cục ta thấy số hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp ấnđịnh còn ở mức trung bình Các hộ kinh doanh ở mỗi bậc môn bài đềutăng song tăng nhiều hơn là các hộ có bậc môn bài cao Điều đó chứng tỏcác hộ kinh doanh trên địa bàn đa phần là các hộ nhỏ lẻ, hoặc vừa có phổ
Trang 16biến việc áp dụng ghi chép sổ sách, sử dụng hóa đơn chứng từ trong hoạtđộng kinh doanh nhưng chưa được toàn bộ.
- Sau khi phân loại theo bậc môn bài, chi cục thuế tiếp tục phân loạitheo ngành nghề và phương thức quản lý
Tại chi cục quận Hà Đông các hộ kinh doanh được phân loại thành
4 loại ngành nghề chủ yếu đó là: dịch vụ, ăn uống, kinh doanh và sản xuất.Theo phương thức quản lý gồm có các hộ kinh doanh theo ấn định ổnđịnh và kê khai
Bảng 3: Phân loại hộ ấn định theo ngành nghề (năm 2010)
%)
Các hộ ấn định kinh doanh trong lĩnh vực thương nghiệp trên địabàn thành quận Hà Đông chủ yếu là các chủ cửa hàng buôn bán vừa vànhỏ, nhưng chiếm một tỷ trọng lớn do đây là 1 Quận mới sát nhập vàoThành Phố Hà Nội, trước đây là trung tâm của tỉnh Hà Tây(cũ) nên hoạtđộng buôn bán rất phát triển
Các hộ ấn định kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất chỉ chiếm tỷtrọng nhỏ do điều kiện sản xuất và tiêu thụ gặp nhiều khó khăn
Trang 17* Công tác quản lý hộ cá thể nghỉ kinh doanh:
Trong công tác quản lý đối tượng nộp thuế, chi cục cũng đặc biệtchú trọng tới công tác quản lý hộ cá thể nghỉ kinh doanh vì nó khôngnhững ảnh hưởng đến công tác quản lý đối tượng nộp thuế mà còn liênquan trực tiếp đến công tác miễn giảm thuế
Các hộ xin nghỉ phải có đơn nộp lên chi cục, chi cục lập danh sáchtrình lãnh đạo và dự thảo thông báo miễn, giảm thuế Đội thuế có tráchnhiệm giám sát tình trạng nghỉ của hộ kinh doanh để kịp thời phát hiện cáchành vi gian lận thuế như: xin nghỉ kinh doanh nhưng thực tế không nghỉ,chưa hết thời gian nghỉ ghi trong đơn đã trở lại kinh doanh nhưng khôngkhai báo… Qua phúc tra nếu phát hiện vi phạm, tổ thanh tra - kiểm tra dựthảo quyết định xử phạt trình lãnh đạo ký duyệt Đội thuế có trách nhiệmgiao thông báo miễn giảm và quyết định xử lý cho hộ kinh doanh và đônđốc hộ kinh doanh thực hiện
Thực tế tại chi cục thuế Quận Hà Đông cho thấy các hộ kinh doanhnghỉ kinh doanh do các lý do sau: chuyển hướng ngành nghề kinh doanh,thay đổi địa điểm kinh doanh, nghỉ để sát nhập hoặc chia tách, do điềukiện kinh doanh gặp khó khăn…
Theo quy định thì hộ kinh doanh nghỉ từ 15 ngày trở lên được xétgiảm 50% thuế phải nộp của tháng, nếu nghỉ cả tháng thì được miễn nộpthuế của tháng đó Quy định này tạo điều kiện giải quyết khó khăn cho các
hộ kinh doanh trong trường hợp phải nghỉ do có lý do khách quan Songmặt khác nếu không quản lý tốt công tác miễn giảm thuế sẽ tạo kẽ hở chocác hộ kinh doanh lợi dụng để gian lận thuế, gây thất thu cho Ngân sáchNhà nước
Thực tế hiện nay cho thấy mặc dù công tác kiểm tra hộ nghỉ kinhdoanh đã được đội thanh tra - kiểm tra phối hợp với các đội thuế tiến hành
Trang 18chặt chẽ, thường xuyên Song qua kiểm tra hàng năm chi cục thuế vẫnphát hiện được đáng kể những hành vi gian lận và đã có những quyết định
xử lý truy thu và phạt đối với các hộ vi phạm
Tình hình quản lý số hộ nghỉ kinh doanh trên địa bàn thành phốđược thể hiện trên bảng số liệu sau:
Bảng 4: Kết quả kiểm tra số hộ nghỉ kinh doanh
Năm Số hộ nghỉ
kinh doanhhoặc bỏ kinhdoanh
Số hộ viphạm
Tỷ lệ hộ viphạm
Số thuế truythu và phạt
Từ bảng số liệu trên ta thấy: năm 2009 tỷ lệ hộ có đơn xin nghỉnhưng vẫn tiến hành kinh doanh là 8,7%; năm 2010 tỷ lệ này giảm xuốngcòn 5,8 % Qua đó cho thấy tình hình quản lý hộ kinh doanh, đặc biệt làtình hình kinh doanh của các hộ nằm trong chính sách miễn giảm thuếđược chi cục rất quan tâm và đem lại kết quả cao Song mặc dù vậy tìnhhình vi phạm này vẫn còn tồn tại gây ra thất thu thuế, không đảm bảo côngbằng trong cạnh tranh và làm giảm ý thức tuân thủ pháp luật thuế của cácđối tượng khác
Nguyên nhân:
- Các hộ ấn định thường là các hộ kinh doanh có quy mô nhỏ, vốnđầu tư ít, buôn bán vụn vặt nhỏ lẻ Vì vậy quá trình hoạt động kinh doanhcủa hộ khoán có thể dừng lại bất cứ lúc nào mà không để lại ảnh hưởngquá lớn, và cũng có thể quay lại hoạt động bất cứ lúc nào
Trang 19- Ý thức chấp hành pháp luật thuế của các hộ kém, có những hành
vi cố ý tránh và trốn thuế
- Lợi dụng khó khăn của chi cục thuế trong quản lý hộ với số lượngquá đông nằm rải rác khắp địa bàn với nhiều hình thức kinh doanh khácnhau
- Chi cục thuế chưa có các biện pháp kiểm tra triệt để, chưa cónhững biện pháp xử lý phù hợp, chưa nghiêm minh
Vì vấn đề này liên quan trực tiếp đến nguồn thu ngân sách nhà nước
và để cao tính nghiêm minh của pháp luật, chi cục cần cố gắng hơn nữa đểgiảm thiểu tối đa số lượng hộ vi phạm
1.2.2 Công tác quản lý doanh thu hộ kinh doanh cá thể
Doanh thu của các hộ kinh doanh là cơ sở để xác định số thuế phảinộp, đảm bảo sự công bằng và bình đẳng giữa các hộ kinh doanh Vì vậy,
để nâng cao công tác quản lý thuế GTGT đối với các hộ kinh doanh cá thể,yêu cầu đặt ra không chỉ quản lý tốt đối tượng nộp thuế mà còn cần phảiquản lý tốt doanh thu kinh doanh của các hộ kinh doanh cá thể Việc quản
lý chặt chẽ doanh thu của hộ kinh doanh, đặc biệt là các hộ lớn có ý nghĩaquyết định đến việc hoàn thành dự toán thu, và tăng cường động viên vàongân sách
Yêu cầu của việc quản lý doanh thu kinh doanh:
- Đảm bảo quản lý sát doanh thu thực tế phát sinh
- Đảm bảo công bằng và bình đẳng giữa các hộ kinh doanh
- Đảm bảo dân chủ, công khai
Việc quản lý doanh thu của các hộ kinh doanh cá thể theo phươngpháp ấn định ổn định được thực hiện với hộ mới ra kinh doanh, hộ đangkinh doanh:
Trang 20Hộ kinh doanh nộp tờ kê khai doanh thu cho đội thuế, đội thuế vào
sổ nhận hồ sơ theo mẫu số 01/HKD
Đội thuế chọn một số hộ kinh doanh đại diện ngành nghề, bậc mônbài để điều tra doanh thu điển hình làm căn cứ đánh giá tính chính xác củacác tờ khai do hộ tự kê khai Doanh thu thực tế thu được phải lập thànhbiên bản có ký xác nhận giữa đại diện đoàn kiểm tra và chủ hộ kinh doanh,
và phản ánh theo mẫu 04/HKD
Việc quản lý doanh thu các hộ cá thể theo phương pháp ấn định ổnđịnh rất phức tạp, các hộ kinh doanh cá thể nộp thuế theo doanh số ấn địnhcủa Chi cục thuế, để xác định được mức doanh số ấn định đó phải trải quanhiều bước và nhiều bộ phận cùng tham gia Phương pháp này có ưu điểmđơn giản trong việc tính thuế, tạo được sự ổn định cho cả đối tượng nộpthuế và chi cục Song bên cạnh đó cũng tồn tại nhiều nhược điểm như:mang tính áp đặt, thiếu công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế, khó theosát được tình hình biến động của giá cả, tình hình sản xuất kinh doanh củađối tượng nộp thuế nên thu thuế không sát với tình hình thực tế
Từ thực tế ta có thể thấy vấn đề thường nẩy sinh trong quản lý thuếGTGT đối với các hộ ấn định: doanh thu tính thuế GTGT ấn định khôngthống nhất với doanh thu quản lý thuế môn bài, thường thì doanh thu tínhthuế GTGT nhỏ hơn nhiều so với doanh thu tính thuế môn bài Tuy vấn đềnày là vấn đề chung của hầu hết các cơ quan thuế nhưng nó cũng thể hiện
sự khập khiễng trong xác định doanh thu tính thuế
Tình hình quản lý doanh thu hộ ấn định trên địa bàn quận Hà Đôngđược thể hiện dưới bảng 5:
Bảng 5: Quản lý thuế đ ối với hộ ấn định ổn đ ịnh:
Trang 21Chỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010
Số hộ ghi thu thuế
Từ bảng số liệu ta thấy doanh thu từ năm 2009, doanh thu năm 2010
có sự biến động lớn: tăng 4.971.579.000đ(14,3%) , làm số thuế thu đượctăng 185.863.421đ (12,42%), trong khi đó mức thuế bình quân hộ tăng17.838đ(2,89%) là do có sự tăng đáng kể số hộ kinh doanh vừa (225 hộ)
* Công tác ấn đ ịnh doanh thu :
Theo quy định, căn cứ để ấn định doanh thu là tài liệu điều tra của
cơ quan thuế hoặc doanh thu các hộ kinh doanh cùng ngành nghề cùngquy mô Do đó căn cứ vào tài liệu điều tra của một số hộ kinh doanh điểnhình, đội thuế ấn định doanh thu tính thuế cho các hộ kinh doanh kháckinh doanh cùng ngành nghề, cùng quy mô với hộ điều tra Mức ấn địnhphải bằng mức điều tra
Một số nguyên nhân gây ra chênh lệch giữa doanh thu tính thuế vàdoanh số phát sinh thực tế:
- Doanh thu điều tra để tính thuế GTGT đối với các hộ kinh doanhchưa có cơ sở chính xác, còn mang nặng tính hình thức, máy móc, đồngthời còn theo kiểu hiệp thương hai bên dẫn đến căn cứ ấn định thuế hộkinh doanh phải nộp còn hạn chế
Trang 22- Các biện pháp mạnh đối với các hộ kinh doanh thực hiện chưa triệt
để đủ để tạo nên chuyển biến ý thức chấp hành nghĩa vụ thuế của các hộ
- Một số quy định chưa rõ ràng trong việc quy định căn cứ tính thuế,cách làm chưa được quy định cụ thể
Trong thực tiễn, việc quy các hộ kinh doanh vào cùng một quy môcũng chỉ mang tính tương đối, mức độ kinh doanh còn phụ thuộc vàonhiều yếu tố khách quan khác; vì vậy, khi ấn định doanh thu cụ thể củatừng hộ kinh doanh cần xem xét thêm một số điểm để điều chỉnh cho phùhợp với thực tế, đó là:
+Quy mô kinh doanh
+ Địa điểm kinh doanh có thuận lợi hay không thuận lợi
+ Lợi thế riêng trong kinh doanh như kỹ năng giao tiếp của chủ hộkinh doanh, thời gian kinh doanh…
* Công tác rà soát, đ iều chỉnh lại doanh thu :
Căn cứ vào tờ kê khai và kết quả điều tra doanh thu thực tế của hộkinh doanh, đội thuế lập danh sách hộ kinh doanh, dự kiến doanh thu từng
hộ theo mẫu 05/HKD Đội thuế phải niêm yết công khai doanh thu dựtính, căn cứ vào ý kiến đóng góp của đại diện hộ kinh doanh, đội thuế điềuchỉnh lại những trường hợp bất hợp lý sau đó chuyển Hội đồng tư vấn thuếtham gia và có ý kiến xác nhận, nếu Hội đồng tư vấn không chấp nhận thìbáo cáo lãnh đạo chi cục quyết định
Kết quả doanh thu dự tính thu được đội thuế lấy làm căn cứ để tínhthuế Trong quá trình kinh doanh nếu doanh thu tăng hoặc giảm 25% thìđội thuế yêu cầu kê khai lại và ấn định lại doanh thu tính thuế
Mặc dù vậy công tác rà soát điều chỉnh lại doanh thu ở chi cục thuếvẫn chưa đạt được kết quả cao: số lượt hộ được điều chỉnh còn thấp so với
Trang 23số hộ công bố ổn định thuế, còn nhiều hộ từ 2-3 năm nay vẫn chưa xem
xét lại mức doanh thu nên nhìn chung vẫn chưa bao quát hết doanh thu
thực tế phát sinh (mức doanh thu khoán nhỏ hơn mức doanh thu thực tế
kinh doanh)
* Đ iều tra doanh thu hộ khoán theo ngành nghề :
Bảng 6: Kết quả đ iều tra doanh thu hộ ấn định theo ngành nghề(n ă m
Tỷ lệkhoán/điềutraDịch vụ 610 9.307.672.640 11.455.520.100 2.147.847.460 81,25%
Ăn uống 266 3.200.455.270 6.183.129.050 3.980.836.270 51,76 %Thương nghiệp 1619 24.923.017.920 31.067.122.200 6.144.104.280 80,22%Sản xuất 160 2.129.200.070 3.185.515.550 1.056.315.480 66,84%
Tổng 2.655 39.560.345.900 51.724.322.900 12.163.977.000 76,48%
Từ bảng kết quả điều tra doanh thu trên tổng số 2.655 hộ khoán trênđịa bàn tỉnh cho thấy chênh lệch giữa doanh thu khoán và doanh thu điều
tra khá lớn: 12.163.977.000đ, doanh thu khoán chỉ đạt 76,48% so với
doanh thu điều tra, đặc biệt là với ngành ăn uống doanh thu ấn định chỉ
bằng 51,76% so với doanh thu điều tra, trong khi đó doanh thu điều tra
dịch vụ ăn uống của chi cục thuế thường thấp hơn so với doanh thu thực tế
của các hộ kinh doanh ăn uống kê khai
Ví dụ tiêu biểu của một số hộ kinh doanh có chêch lệch l n:ớn:
khoán (đồng)
Doanh thu điềutra (đồng)
Trang 24Lê Mạnh Hùng 233 Quang Trung Ăn uống 10.560.000 35.880.000Nguyễn Thị Hà 7 Trần Phú Ăn uống 5.965.710 16.724.730
1.2.3 Công tác đôn đốc thu nộp thuế
Đôn đốc thuế là khâu quan trọng, đảm bảo thu sát thực tế số thuếtrên địa bàn vào Ngân sách Nhà nước Các đội thuế, đặc biệt là các đội
thuế liên phường, xã; đội thuế chợ có trách nhiệm đôn đốc các hộ kinh
doanh nộp thuế đảm bảo đúng thời hạn và sát số thuế phát sinh và đúng
thời hạn quy định
* Tình hình đôn đốc thu nộp thuế:
Tình hình đôn đốc thu nộp thuế GTGT đối với các hộ khoán trên địabàn quận được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 7: Tình hình đ ôn đ ốc thu nộp thuế
ĐV: ĐồngNăm Số thuế ghi thu Số thuế thực Tỷ lệ Số thuế nợ Tỷ lệ