Trong nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu thì bên mua bảo hiểm có thể là người mua hoặc người bán tuỳ theo điều kiện thương mại và điều kiện cơ sở giao hàng quy định trong hợp đồn
Trang 1LUẬN VĂN CUỐI KHOÁ
Từ sau khi xoá bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung chuyển sang nền kinh tếnhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhànước định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam đã có những bướcphát triển mạnh mẽ Cùng với việc mở cửa nền kinh tế, Việt Nam nhanhchóng hoà nhập với nền kinh tế thế giới đang tiến theo hướng toàn cầu hoá ởmức độ cao, các quan hệ thương mại quốc tế ngày càng được mở rộng Do đó,hoạt động xuất nhập khảu ngày một gia tăng Với ý nghĩa bảo hiểm là “tấm láchắn của nền kinh tế” thì bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu không chỉ là nhucầu mà đã trở thành một tập quán trong hoạt động ngoại thương Mặt khác,việc trao đổi buôn bán hàng hoá giữa các quốc gia hiện nay vẫn được vậnchuyển chủ yếu băng đường biển do những ưu thế của nó mang lại Vì vậy,việc phát triển nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằngđường biển là một yêu cầu quan trọng trong sự phát triển của mỗi doanhnghiệp bảo hiểm nói riêng và trong toàn ngành bảo hiểm nói chung Tuy nhiênviệc triển khai nghiệp vụ bảo hiểm này trên thực tế ở các công ty bảo hiểmViệt Nam còn hạn chế Vấn đề đặt ra là làm thế nào để triển khai nghiệp vụnày một cách có hiểu quả, nâng cao được thị phần của nó trên thị trường bảohiểm? Mà một trong những khâu quan trọng, làm tiền đề cho các khâu còn lạitrong quy trình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm và cũng là khâu quyết định đếndoanh thu bảo hiểm, đó chính là công tác khai thác bảo hiểm
Nhận thức được vấn đề đó nên sau một thời gian thực tập tại PVI Hà Nội,
em đã quyết định chọn đề tài: “ Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác
khai thác nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng
Trang 2đường biển tại Công ty Bảo hiểm Dầu khí Hà Nội ” làm đề tài luận văn cuối
khoá
Luận văn được kết cấu theo 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu và công
tác khai thác bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
Chương 2: Tình hình khai thác nghiệp cụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập
khẩu vận chuyển bằng đường biển tại Công ty Bảo hiểm Dầu khí Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh công tác khai thác nghiệpvụ bảo
hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại PVI Hà Nội
Trang 3NỘI DUNG
Chương 1: Lý luận chung về bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu và công tác khai thác bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
khẩu vận chuyển bằng đường biển
1.1.1 Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
1.1.1.1 Trên thế giới
Bảo hiểm hàng hải đã có lịch sử từ lâu đời Nó ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của hàng hoá và ngoai thương Khoảng thế kỷ V trước công nguyên, vận chuyển hàng hoá bằng đường biển đã ra đời và phát triển Người ta biết tránh tổn thất toàn bộ một lô hàng bằng cách chia nhỏ, phân tán chuyên chở trên nhiều thuyền khác nhau Đây có thể là hình thức sơ khai của bản hiểm hàng hoá Đến thế kỷ VII thương mại và giao lưu hàng hoá bằng đường biển giữa các nước phát triển Nhiều tổn thất lớn xảy ra trên biển vì khối lượng và giá trị hàng hoá ngày càng gia tăng, cùng với những thiên tai, tai nạn bất ngờ, cướp biển…đã làm cho giới thương nhân lo lắng Để khắc phục những tổn thất có thể xảy ra trong hành trình vận chuyển họ đã đi vay vốn để buôn bán kinh doanh Nếu hành trình gặp phải rủi ro gây tổn thất toàn
bộ thì các thương nhân được xoá nợ, còn nếu hành trình may mắn thành công thì ngoài vốn vay họ còn phải trả cho chủ nợ một khoản tiền lãi với lãi suất rấtcao Số tiền lãi suất này có thể được coi là hình thức ban dầu cảu phí bảo hiểm Năm 1182, ở Lomborde – Bắc Ý, hợp đồng bảo hiểm hàng hoá đã ra
Trang 4đời, trong đó người bán đơn này cam kết với khách hàng sẽ thực hiện nội dung đã ghi trong đơn T ừ đó, hợp đòng bảo hiểm, người bảo hiểm ra dời và tồn tại với tư cách như một nghề riêng độc lập.
Năm 1468 tại Venise nước Ý, đạo luật đầu tiên về bảo hiểm hàng hải
đã ra đời Sự phát triển của thương mại hàng hải đã dẫn đến sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của bảo hiểm hàng hải và hàng loạt các thể lệ, công ước, hiệp ước quốc tế liên quan đến thương mại và hàng hải đã lần lượt ra đời như: Mẫuhợp đòng bảo hiểm của Lloyd’s 1776 và Luật bảo hiểm Anh năm 1906, công ước Bruxelle 1924, quy tắc Hague Visby 1968, công ước Ham burg 1978, Incoterms 1953, 1967, 1976, 1980, 1990, 2000…
Nói về bảo hiểm hàng hải không thể không nói tới nước Anh và Lloyd’s Nước Anh là một trong những nước có sự phát triển hiện đại về thương mại và hàng hải lớn nhất thế giới Có thể nói lịch sử phát triển của ngành hàng hải và thương mịa thế giới gắn liền với sự phát triển của nước Anh, thế kỷ XVII nước Anh đã có nền ngoại thương phát triển với đội tàu buôn mạnh nhất thế giới và đã trở thành trung tâm thương mại và hàng hải củathế giới Do đó, nước Anh cũng là nước sớm có những nguyên tắc, thể lệ hànghải và bảo hiểm hàng hải Năm 1779,các hội viên của Lloyd’s đã thu thập tất
cả các nguyên tắc bảo hiểm hàng hải và quy thành một hợp đồng chung goi là hợp đồng Lloyd’s Hợp đồng này đã được Quốc hội Anh thông qua và đươc
sử dụng ở nhiều nước cho đên 1982 Từ ngày 1/1/1982, đơn bảo hiểm hàng hải mẫu mới đã được hiệp hội bảo hiểm London thông qua và được sử dụng ở hầu hết các nước trên thế giới hiện nay
Hiện nay với xu thế toàn cầu hoá, hoạt động ngoại thương phát triển mạnh mẽ giữa các quôc gia Vì vậy, bảo hiêm hàng hoá xuất nhập khẩu khôngnhững cần thiết đối với tất cả doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu mà đã trở thành tập quán thương mại giữa các nước
Trang 51.1.1.2 Ở Việt Nam
Thời kỳ đầu, nhà nước giao cho một công ty chuyên môn trực thuộc
Bộ Tài chính kinh doanh bảo hiểm đó là công ty bảo hiểm Việt Nam Nay là Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam
Trước năm 1964 Bảo Việt chỉ làm đại lý bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu cho công ty bảo hiểm nhân dân Trung Quổctong ttrường hợp mua theo giá FOB, CF và bán theo giá CIF với mục đích là học hỏi kinh nghiêm
Từ năm 1965 – 1975 Bảo Việt mới triển khai ba nghiệp vụ bảo hiểm đối ngoại trong đó có bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu Từ sau 1970 Bảo Việt có quan hệ tái bảo hiểm với Liên Xô, Ba Lan, Triều Tiên
Năm 1965, khi bảo hiểm đi vào hoạt động, Bộ tài chính đã ban hành quy tắc chung về bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển Và sau đó, để phù hợp với sự phát triển thương mại và ngành hàng hải của đất nước, Bộ tài chính đã ban hành quy tắc chung mới – Quy tắc chung 1990 ( QTC 1990) cùng với Luật hàng hải Việt Nam Quy tắc chung này là cơ sở pháp lý chủ yếuđiều chỉnh các vấn đề về bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
Hiện nay với sự góp mặt của hơn 50 công ty bảo hiêm trong đó 28 công
ty bảo hiểm phi nhân thọ, 11 công ty bảo hiểm nhân thọ, 1 công ty tái bảo hiểm, 10 công ty môi giới, thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển với sự cạnh tranh gat gắt giữa các công ty không chỉ trong nước mà còn với cả công
ty nước ngoài Nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vẫn là một nghiệp vụ bảo hiểm truyền thống nhưng còn nhiều tiềm năng đang chờ các nhà bảo hiểm khai thác
Trang 6
1.1.2 Sự cần thiết và vai trò của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
vận chuyển bằng đường biển
1.1.2.1 Khái niệm
Bảo hiểm là phương pháp chuyển giao rủi ro được thực hiện qua hợp đồng bảo hiểm trong đó bên mua bảo hiểm chấp nhận trả phí bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm và cam kết bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm khi xảy
ra sự kiện bảo hiểm Trong nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu thì bên mua bảo hiểm có thể là người mua hoặc người bán tuỳ theo điều kiện thương mại và điều kiện cơ sở giao hàng quy định trong hợp đồng mua bán
mà hai bên đã thoả thuận
1.1.2.2 Sự cần thiết và tác dụng của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
Ngành bảo hiểm ra đời do xó sự tồn tại khách quan của các rủi ro mà con người không thể khống chế được Nếu có những rủi ro xảy ra mà không có các khoản bù đắp thiệt hại kịp thời cảu các nhà bảo hiểm, đặc biệt là những rủi
ro mang tính thảm họa gây ra tổn thất rất lớn thì chủ tàu và chủ hàng gặp rất nhiều khó khăn về tài chính trong việc khắc phục hạu quả do các rủi ro đó gây
ra Vì vậy, sự ra đời và việc tham gia bảo hiểm cho hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển trở thành một nhu cầu rất cần thiết và nó có những tác dụng sau:
Thứ nhất: Giảm bớt rủi roc ho hàng hóa do hạn chế tổn thất nhờ tăng cường bảo quản kiểm tra đồng thời kết hợp các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất
Thứ hai: bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu cũng đem lại lợi ích cho nền kinh tế quốc dân, góp phần tiết kiệm và tăng thu ngoại tệ cho nhà nước Khi các đơn vị kinh doanh nhập khẩu hàng hóa theo giá FOB,CF và xuất khẩu theo giá CIF, CIP sẽ tạo ra khả năng cạnh tranh của bảo hiểm trong nứớc và
Trang 7nước ngoài Nhờ có hoạt động bảo hiểm trong nước mà các chủ hàng không phải mua bảo hiểm ở nứớc ngoài, nói cách khác là không phải xuất khẩu vô hình.
Thứ ba: khi các công ty có tổn thất hàng hóa xảy ra sẽ được bồi thương một số tiền nhất định giúp họ bảo toàn được tài chính trong kinh doanh
Thứ tư: nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi bên tham gia bảo hiểm đã trở thành nguyên tắc, thể lệ và tập quán trong thương mại quốc tế Nên khi hàng hóa xuất nhập khẩu gặp rủi ro gây ra tổn thất cho các bên tham gia thì sẽ đượccông ty bảo hiểm giúp đỡ về mặt pháp lý khi xảy ra tranh chấp với tàu hoặc các đối tượng có liên quan
1.1.2.3 Vai trò của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
Do đặc điểm của vận tải biển tác động đến sự an toàn ch hàng hóa được chuyên chơ là rất lớn Vì vậy vao trò của bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển càng được khẳng định rõ nét:
Thứ nhât: hàng hóa xuất nhập khẩu phải vượt qua biên giới của một hay nhiều quốc gia, người xuất khẩu và nhập khẩu lại ở xa nhau và thường không trực tiếp áp tải được hàng hóa trong quá trình vận chuyển Do đó các doanh nghiệp phải tham gia bảo hiểm cho hàng hóa của mình Ở đây, vai trò của bảo hiểm là người bạn đồng hành với người được bảo hiểm
Thứ hai: vận tải đường biển thường gặp nhiều rủi ro tổn thất đói với hànghóa do thiên tai, tai nạn bất ngờ gây nên như: mắc cạn, đâm va, đắm chìm, cháy nổ, mất cắp, cướp biển, bão, lốc, song thần… vượt quá sự kiểm soát của con người Hàng hóa xuất nhập khẩu chủ yếu lại được vận chuyển bằng
đường biển, đặc biệt là ở những nước quần đảo như: Anh, Singapore, Nhật, Hồng Kông… Do đó phải tham gia bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu
Trang 8Thứ ba: Theo hợp đồng vận tải người chuyên chở chỉ chịu trách nhiệm vềtổn thất của hàng hóa trong phạm vi và giới hạn nhất định Trên vận đơn đường biển, rất nhiều rủi ro các hang tàu loại trừ không chịu trách nhiệm, ngay cả các công ước quốc tế cũng quy ước mức trách nhiệm rất nhiều cho người chuyên chở ( Hague, Hague Visby, Hanburg…) Vì vậy, các nhà kinh doanh phải tham gia bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu.
Thư tư: hàng hóa xuất nhập khẩu thường là những hàng hóa có giá trị cao, những vật tư rất quan trọng với khối lượng rất lớn nên để có thể giảm bớt thiệt hại do các rủi ro có thể xảy ra thì việc tham gia bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu trở thành một nhu cầu cần thiết
Thứ năm: bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu đã có lịch sử rất lâu đời Do
đó, việc tham gia bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vạn chuyển bằng đường biển đã trỏ thành một tập quán, thông lệ quốc tế trong hoạt động ngoại
thương
Như vậy, việc tham gia bảo hiểm cho hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển là rất quan trọng và ngày càng khẳng định vai trò to lớn trong thương mại quốc tế
1.1.3 Nội dung chủ yếu của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá vận
chuyển bằng đường biển
1.1.3.1 Đặc điểm và trách nhiệm của các bên liên quan trong quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đường biển
a Đặc điểm quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyên bằng đường biển
- Việc xuất nhập khẩu hàng hoá thưòng được thực hiện thông qua hợp đồng giữa người mua và người bán với nội dung về: số lượng, phẩm chất, ký
Trang 9mã hiệu, quy cách đóng gói, giá cả hàng hoá, trách nhiệm thuê tàu và trả cước phí, phí bao hiểm, thủ tục và đồng tiền thanh toán…
- Trong quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá có sự chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá từ người bán sang người mua
- Hàng hoá xuất nhập khẩu thường được vận chuyển qua biên giới quốc gia, phải chịu sự kiểm soát của hải quan, kiểm dịch…tuỳ theo quy định và thông lệ của mỗi nước Đồng thời để vận chuyển ra hoặc vào qua biên giới phải mua bảo hiểm theo tập quán thương mại quốc tế Người tham gia bảo hiểm có thể là người mua hàng (người nhập khẩu) hay người bán hàng (người xuất khẩu) phụ thuộc vào điieù kiện giao hàng như thế nào Hợp đồng bảo hiểm thể hiện quan hệ giữa người bảo hiểm và người mua bảo hiểm đối với hàng hoá được bảo hiểm Nếu người bán hàng mua bảo hiểm thì phải chuyển nhượng lại cho người mua hàng, để khi hàng về đến nước nhập, nếu bị tổn thất có thể khiếu nại đòi người bảo hiểm bồi thường
- Hàng hoá xuất nhập khẩu thường được vận chuyển bằng các phương tiện khác nhau theo phương thức vận chuyển đa phương tiện, trong đó có tàu biển Người vận chuyển hàng hoá đồng thời cũng là người trực tiếp giao hàng cho người mua Vì vậy, người chuyên chở là bên trung gian phải có trách nhiệm bảo vệ, chăm soc hàng hoá đúng quy cách, phẩm chất, số lượng khi nhân của người bán cho đến khi giao cho người mua hàng
Qúa trình xuất nhập khẩu hàng hoá có liên quan đến nhiều bên, trong đó
có bốn bên chủ yếu là: người bán (bên xuát khẩu), người mua (bên nhập khẩu), người vận chuyển và người bảo hiểm Vì vậy, cần phải phân định rõ ràng trách nhiệm của các bên liên quan và khi tiến hành xuất nhập khẩu hàng hoá các bên liên quan phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình
b Trách nhiệm của các bên liên quan
Trang 10Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá thường được thực hiện thông qua ba loại hợp đồng:
Trong các điều kiện giao hàng, ngoài phần giá hàng, tuỳ theo từng điều kiện cụ thể mà có thêm cước phí vận chuyển và phí bảo hiểm Có những điều kiện giao hàng mà người bán không có trách nhiệm thuê tàu vận chuyển và mua bảo hiểm cho hàng hoá Như vậy, tuy bán được hàng nhưng nhưng dịch
vụ vận chuyển và bảo hiểm sẽ do người mua đảm nhận (điều kiện FOB) Có trường hợp giao hàng theo điều kiện mà ngoài việc xuất khẩu được hàng hoá,
Trang 11người bán còn có trách nhiệm thuê tàu vận chuyển và mua bảo hiểm cho hàng hoá (điều kiện CIF) Thực tế, các tập đoàn kinh tế hoạt động trên nhiều lĩnh vực sản xuất, vận chuyển, bảo hiểm… khi giao hàng theo điều kiện nhóm C
và D, bên cạnh việc bán hàng còn dành cho họ dịch vụ vân chuyển và bảo hiểm cho số hàng đó Vì vậy, nếu nhập khẩu hàng theo điều kiện FOB hay điều kiện CFR thì sẽ giữ được dịch vụ vận chuyển và bảo hiểm hay chỉ dịch
vụ bảo hiểm Ngược lại, nếu bán hàng theo điieù kiện CIF thì người bán là người giành được dịch vụ vận chuyển và bảo hiểm Điều đó có vai trò to lớn trong việc góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành vận tải đường biển và bảo hiểm của quốc gia đó Nói chung, trách nhiệm của các bên liên quan đượcphân định như sau:
- Trách nhiệm của người bán (bên xuất khẩu): phải chuẩn bị hàng hoá theo đúng hợp đồng trong mua bán ngoại thương về số lượng, chất lương, quycách, loại hàng, bao bì đóng gói… và tập kết hàng đến cảng tới ngày nhận, thông báo tàu đến nhận chuyên chở, giao hàng cho tàu khi qua lan can an toànmới hết trách nhiệm về những rủi ro tai nạn đối với hàng hoá Ngoài ra, người bán phải làm các thủ tục hải quan, kiểm dịch, lấy giấy chứng nhận kiểm định phẩm chất, đóng gói bao bì phải chịu được điều kiện vận chuyển bốc dỡ thôngthường Cuối cùng, người bán phải lấy được vận tải đơn sạch Nếu bán hàng theo điều kiện CIF người bán còn có trách nhiệm mua bảo hiểm cho lô hàng hoá sau đó ký hậu vào đơn bảo hiểm để chuyển nhượng quyền lợi bảo hiểm cho người mua
- Trách nhiệm của người mua ( bên nhập khẩu): nhận hàng của người chuyên chở theo đúng số lượng, chất lượng…đã ghi trong hợp đồng vận chuyển và hợp đồng mua bán ngọi thương, lấy giấy chứng nhận kiểm đếm, biên bản kết toán giao nhận hàng với chủ tàu, biên bản hàng hoá hư hỏng đổ
vỡ do tàu gây nên ( nếu có), nếu có sai lệch về số lượng hàng nhận được khác
Trang 12với hợp đồng mua bán nhưng đúng với hợp đống vận chuyển thì người mua bảo lưu quyển khiếu nại đối với người bán, nếu phẩm chất hay số lượng hàng hoá nhận được có sai lệch với vận tải đơn thì người mua căn cứ vào biên bản trên bảo lưu quyền khiếu nại với chủ phương tiện chuyên chở Ngoài ra, ngườimua còn có trách nhiệm mua bảo hiểm cho hàng hoá nếu mua hàng theo giá
CF và mua bảo hiểm và thuê tàu trả cước phí vận chuyển nếu mua hàng theo giá FOB hay nhận lại chứng từ bảo hiểm do người bán chuyển nhượng nếu mua hàng theo giá CIF
- Trách nhiệm của người vận chuyển: chuẩn bị phương tiện chuyên chở theo yêu cầu kỹ thuật thương mại và kỹ thuật hàng hải, giao nhận hàng đúng quy định theo hợp đồng vận chuyển Theo tập quán thương mại quốc tế thì tàuchở hàng bắt buộc phải tham gia bảo hiểm than tàu và P and I Người vận chuyển còn có trách nhiệm cấp vận đơn cho người hửi hàng Vận đơn (Bill of Loading) là một chứng từ vận chuyển hàng hoá trên biển do người vận chuyểncấp cho người gửi hàng nhằm nói lên mối quan hệ pháp lý giữa người vận chuyển, người gửi hàng và người nhận hàng Có nhiều loại vận đơn, nhưng ở đâychỉ quan tâm đến hai loại cơ bản là vận đơn hoàn hảo (Clean B/L) hay còn gọi là vận đơn sạch và vận đơn không ho0àn hảo (Unclean B/L) Người vận chuyển phải chịu trách nhiệm với những rủi ro xảy ra đối với hàng hoá theo quy định và phải có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc cho lô hàng chuyên chở trong hành trình từ cảng đi đến cảng đích
- Trách nhiệm của người bảo hiểm: có trách nhiệm với những rủi ro được bảo hiểm gây ra cho lô hàng hoá tham gia bảo hiểm, người bảo hiểm cũng có trách nhiệm kiểm tra các chứng từ liên quan đến hàng hoá, hành trình vận chuyển và bản than tàu chuyên chở Khi xảy ra tổn thất thuộc phạm vi trách nhiệm của bảo hiểm, người bảo hiểm có trách nhiệm tiến hành giám định, bồi thường tổn thất và đòi người thứ ba nếu họ gây ra tổn thất này
Trang 131.1.3.2 Các loại rủi ro và tổn thất trong quá trình vận chuyển hàng hoá bằng đường biển.
a Các loại rủi ro
Do đặc điểm của quá trình vận chuyển mà hàng hoá xuất nhập khẩu thường bị đe doạ bởi rất nhiều rủi ro Trong nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển người ta chia rủi ro thành 4 loại: rủi ro thông thường, rủi ro phụ, rủi ro riêng, rủi ro loại trừ
Rủi ro thông thường: là nguồn đe doạ chủ yếu và lớn nhất đối với hành trình hàng hải, nó bao gồm hai nhóm rủi ro:
- Nhóm các rủi ro chính gồm các rủi ro cơ bản nhất: mắc cạn, chìm đắm, cháy nổ, đâm va
- Nhóm rủi ro thông thường khác gồm các rủi ro: tàu mất tích; ném hàng xuống biển; nước biển, nước sông, nước hồ chảy vào tàu, sà lan,
container hoặc nơi chứa hàng
Rủi ro phụ: là những rủi ro không phải là những rủi ro của biên hay rủi ro trên biển và người muabảo hiểm muốn được bảo hiểm rủi ro phải mua bảo hiểm có phạm vi rộng nhất (điều kiện bảo hiểm A hoặc điều kiện bảohiểm mọi rủi ro trong ICC 1963), bao gồm một số rủi ro đối với hàng hoá như: cướp biển; trộm cắp, giao thiếu hàng, không giao hàng; nước mưa, nướcngọt, đọng hơi nước, hấp hơi nóng; va đập vào hàng hoá khác; vỡ, cong, bẹp; rỉ; lây hại, lây bẩn, hư hại do móc cẩu, chuột bọ và côn trùng, các rủi ro phụ khác
Rủi ro riêng: là rủi ro chỉ được bảo hiểm khi có thoả thuận giữangười bảo hiểm và người được bảo hiểm theo những điều kiện riêng khi người
Trang 14được bảo hiểm có yêu cầu Rủi ro riêng bao gồm rủi ro chiến tranh và rủi ro đình công.
Rủi ro loại trừ: là những loại rủi ro không được bảo hiểm trong bất cứ trường hợp nào Rủi ro loại trừ trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường bao gồm:
- Hành động xấu, cố ý của người được bảo hiểm
- Chậm trễ hành trình và những hậu quả trực tiếp của việc chậm trễ (kể
cả việc chậm trễ là do một rủi ro được bảo hiểm gây nên)
- Tàu, sà lan không đủ khả năng đi biển hoặc không thích hợp với việc vận chuyển hàng hoá
- Bao bì không đảm bảo, đóng gói sai quy cách
- Chuẩn bị hàng hoá không đầy đủ hoặc do việc xếp hàng hoá hỏng lên tàu
- Rò chảy thông thường, hao hụt trọng lượng, giảm thể tích thông thường, hao mòn tự nhiên
- Chủ tàu không trả được nợ hoặc thiếu thốn về tài chính
b Tổn thất và các chi phí
Trong bảo hiểm hàng hoá vận chuyển, tổn thất là một thuật ngữ dùng để chỉ tình trạng mất mát, hư hại hay giảm giá trị, giá trị sử dụng của hàng hoá được bảo hiểm do sự tác động của rủi ro
Nếu căn cứ vào quy mô, mức độ của tổn thất người ta chia tổn thất thành tổn thất toàn bộ và tổn thất bộ phận
- Tổn thất toàn bộ là sự mất mát, hư hỏng hoàn toàn hàng hoá được bảo hiểm Tổn thất toàn bộ được chia thành 2 loại là tổn thất toàn bộ thực tế và tổnthất toàn bộ ước tính
- Tổn thất bộ phận là sự mất mát, hư hỏng, giảm giá trị một phần hàng hoá được bảo hiểm
Trang 15 Nếu căn cứ vào tính chất liên quan về quyển lợi và trách nhiệm của các bên với tổn thất thì tổn thất được chia thành tổn thất riêng và tổn thất chung.
- Tổn thất riêng là tổn thất chỉ gây thiệt hại cho riêng quyền lợi của một hoặc một số chủ hàng trên tàu và chỉ liên quan đến quyền lợi của những chủ hàng, những người bảo hiểm cho chủ hàng đó mà thôi Tổn thất riêng có thể làtổn thất bộ phận hoặc tổn thất toàn bộ của chủ hàng riêng biệt Người bảo hiểm không những bồi thường giá trị thiệt hại vật chất của tổn thất riêng mà còn cả những chi phí liên quan đến tổn thất riêng nhằm hạn chế tổn thất gọi là chi phí tổn thất riêng Chi phí tổn thất riêng là những chi phí phát sinh tại cảng
đi và cảng dọc đường sau khi hàng hoá đã bị tổn thất nhằm giảm thiểu mức độtổn thất, nó bao gồm các chi phí phân loại, đóng gói lại hàng hoá, chi phí thay lại bao bì, chi phí sấy khô hàng hoá ướt…
- Tổn thất chung: tổn thất chung gây ra bởi hoặc do hậu quả của hành động tổn thất chung, đó là sự hi sinh một số ít quyền lợi của chủ hàng và chủ tàu nhằm cứu vãn an toàn cho tất cả các quyền lợi chung trên hành trình khi
có nguy cơ đe doạ Hành động tổn thất chung là hành động tự nguyện, có chủ
ý của con người nhằm đem lại an toàn chung cho toàn bộ hành trình Hành động tổn thất chung thường xảy ra trong các tình huống: tàu có nguy cơ bị đắm, gặp hoả hoạn trên tàu, tàu mắc cạn, tàu bị cướp…
Trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển, tổn thất và rủi ro có mối quan hệ chặt chẽ trong đó rủi ro là nguyên nhân còn tổn thất là hậu quả Còn chi phí là các khoản tiển mà người bảo hiểm đã chi rahoặc phải đóng góp liên quan đến việc đề phòng hạn chế tổn thất cho hàng hoá, bốc dỡ lưu kho tại cảng lãnh nạn, khiếu nại người thứ ba, cứu hộ, giám định tổn thất… Người bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm về những tổn thất và những chi phí phát sinh do hậu quả của những rủi ro được bảo hiểm gây ra.1.1.3.3 Các điều kiện bảo hiểm
Trang 16Điều kiện bảo hiểm hàng hoá là những quy định phạm vi trách nhiệm của người bảo hiểm trước rủi ro, tổn thất của hàng hoá được bảo hiểm Hàng hoá mua bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểm nào thì chỉ những rủi ro tổn thất xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm của điều kiện đó thì mới phát sinh trách nhiệm bồi thường của người bảo hiểm.
Trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hải nói chung và bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển nói riêng, hầu hết các nước trên thế giới đều vận dụng những bộ điều khoản do Uỷ ban kỹ thuật và điều khoản – Học hội bảo hiểm London soạn thảo Hiện nay, hai bộ điều khoản đang được
áp dụng rộng rãi trên thế giới là bộ điều khoản ban hành vào các năm 1963 (ICC1963) và năm 1982 (ICC1982)
Để phù hợp với điều kiện thực tế, tổ chức này đã soạn thảo và ban hành
bộ điều khoản mới là ICC 2009 Tuy nhiên, trên thực tế bộ điều khoản này chỉphát triển và cụ thể hóa một số điều kiện còn về cơ bản nội dung các điều khoản vẫn như trong ICC 1982 Vì vậy cho đến nay thì bộ điều khoản được sửdụng rộng rãi nhất vẫn là ICC 1982
Điều kiện bảo hiểm ICC 1982
Bộ điều khoản này được áp dụng từ ngày 01/01/1982, bao gồm 5 điều kiện bảo hiểm là: Điều kiện bảo hiểm A, điều kiện bảo hiểm B, điều kiện bảo hiểm C, điều kiện bảo hiểm chiến tranh và điều kiện bảo hiểm đình công
Điều kiện bảo hiểm A
Theo điều kiện bảo hiểm này, người bảo hiểm chịu trách nhiệm về mọi rủi ro gây ra mất mát hư hỏng cho hàng hoá được bảo hiểm trừ khi do những rủi ro loại trừ gây ra Những rủi ro loại trừ trong điều kiện bảo hiểm A bao gồm loại trừ chung và loại trừ riêng bao gồm hai rủi ro chiến tranh và đình công
Loại trừ chung bao gồm:
Trang 17- Hành động xấu, cố ý của người được bảo hiểm.
- Chậm trễ hành trình và những hậu quả trực tiếp của việc chậm trễ (kể
cả việc chậm trễ là do một rủi ro được bảo hiểm gây nên)
- Tàu, sà lan không đủ khả năng đi biển hoặc không thích hợp với việc vận chuyển hàng hoá
- Bao bì không đảm bảo, đóng gói sai quy cách
- Chuẩn bị hàng hoá không đầy đủ hoặc do việc xếp hàng hoá hỏng lên tàu
- Rò chảy thông thường, hao hụt trọng lượng, giảm thể tích thông thường, hao mòn tự nhiên
- Chủ tàu không trả được nợ hoặc thiếu thốn về tài chính
Loại trừ riêng bao gồm:
- Chiến tranh
- Đình công
Điều kiện bảo hiểm B
Với điều kiện này, loại trừ bảo hiểm như điều kiện bảo hiểm A, người bảo hiểm chịu trách nhiệm đối với:
Những mất mát, hư hỏng xảy ra cho đối tượng bảo hiểm
có thể quy hợp lý cho các nguyên nhân:
- Cháy hoặc nổ;
- Tàu, sà lan bị mắc cạn, chìm đắm hoặc lật úp;
- Đâm va vào bất kỳ vật thể gì trừ nước
- Phương tiện vận chuyển trên bộ bị đổ hoặc trật bánh;
- Dỡ hàng tại cảng có nguy hiểm;
- Động đất, núi lửa phun, sét đánh
Những mất mát, hư hại xảy ra cho đối tượng bảo hiểm do nguyên nhân:
Trang 18- Hy sinh tổn thất chung;
- Ném hàng xuống biển hoặc nước cuốn trôi khỏi tàu;
- Nước biển, nước song, nước hồ xâm nhập vào tàu, sà lan, hầm hàng,
phương tiện vận chuyển, container hoặc nơi chứa hàng
Tổn thất toàn bộ của bất kỳ kiện hàng nào rơi ra khỏi tàu hoặc rơi ra trong quá trình đang xếp hàng lên tàu, dỡ hàng ra khỏi tàu hoặc sà lan
Điều kiện bảo hiểm C
Đây là điều kiện bảo hiểm có phạm vi trách nhiệm hẹp nhất Theo điều kiện bảo hiểm này người bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm đối với:
Những mất mát hư hỏng xảy ra cho đối tượng bảo hiểm có thể quy hợp lý cho các nguyên nhân:
- Tàu hay sà lan bị mắc cạn, chìm đắm hoặc lật úp;
- Đâm va vào bất kỳ vật thể gì trừ nước;
- Phương tiện vận chuyển trên bộ bị lật đổ hoặc trật bánh;
- Dỡ hàng tại cảng có nguy hiểm
Những mất mát hư hại xảy ra cho đối tượng bảo hiểm do các nguyên nhân:
- Hy sinh tổn thất chung;
Ngoài ba điều kiện bảo hiểm A, B, C còn có thêm điều kiện chiến tranh
và điều kiện đình công Tuy nhiên, hai điều kiện này ít được người tham gia bảo hiểm mua, một phần vì phí bảo hiểm cao, một phần vì khả năng, xác suất xảy ra rủi ro thấp hơn các điều kiện bảo hiểm khác
1.1.3.4 Đối tượng bảo hiểm và phạm vi bảo hiểm
a Đối tượng bảo hiểm
Trang 19Cũng như các nghiệp vụ khác, việc xác định đúng đối tượng bảo hiểm sẽ cho phép giải quyết bồi thường một cách thuận lợi, nhanh chóng Trong hoạt động xuất nhập khẩu thì hàng hoá có nhiều khả năng gặp rủi ro cho nên các thương gia phải mua bảo hiểm cho hàng hoá vận chuyển bằng đường biển Hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển có đối tượng bảo hiểm là hàng hoá được vận chuyển bằng tàu biển hoặc kết hợp
cả các phương tiện vận chuyển khác trong liên hiệp vận chuyển (vận chuyển
đa phương thức)
b Phạm vi bảo hiểm
Phạm vi bảo hiểm là giới hạn rủi ro được bảo hiểm và cũng là giới hạn trách nhiệm của người bảo hiểm Hàng hoá được bảo hiểm theo điều kiện nào thì chỉ những rủi ro tổn thất quy định trong điều kiện đó mới được bồi thường.Phạm vi trách nhiệm càng rộng thì những rủi ro được bảo hiểm càng nhiều và kéo theo mức phí lớn
Căn cứ vào các điều khoản bảo hiểm ICC 1982, để phù hợp với tình hình thực tế tại Việt Nam đối với quá trình bốc dỡ vận chuyển hàng hoá ở các cảng Việt Nam, Bộ Tài chính đã ban hành quy tắc chung về bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển gọi tắt là QTC 1990 Quy tắc này được xây dựng trên cơ sở điều khoản ICC 1982 Theo quy tắc này người mua bảo hiểm
có thể lựa chọn một trong ba điều kiện bảo hiểm A, B, C để bảo hiểm cho hàng hoá của mình Phạm vi bảo hiểm của điều kiện bảo hiểm A tương tự nhưICC 1982, riêng điều kiện bảo hiểm B, C trách nhiệm của người bảo hiểm cộng thêm trách nhiệm đối với hàng hoá chở trên tàu bị mất tích
1.1.3.5 Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm
a Giá trị bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm là giá tri thực tế của lô hàng, giá này có thể là chỉ giáhàng hoá (FOB); cũng có thể gồm cả giá hàng hoá, cước phí vận chuyển, phí
Trang 20bảo hiểm và các chi phí liên quan khác (CIF) Ở Việt Nam hiện nay, giá trịbảo hiểm thường áp dụng điều kiện giá CIF tức là giá trị bảo hiểm của hànghoá được bảo hiểm bao gồm giá tiền hàng ghi trên hoá đơn bán hàng (hoặc giáhàng thực tế tại nơi gửi hàng nếu không có hoá đơn), cộng chi phí vận chuyển
và phí bảo hiểm
b Số tiền bảo hiểm
Việc xác định số tiền bảo hiểm là rất quan trọng bởi dựa vào số tiền bảo hiểm mà người bảo hiểm có trách nhiêm tương ứng đối với những rủi ro, tổn thất xảy ra trong quá trình chuyên chở và hơn nữa là phí bảo hiểm được tính trên số tiền này
Số tiền bảo hiểm được xác định dựa trên cơ sở thoả thuận căn cứ vào giátrị hàng hoá và ghi vào trong hợp đồng bảo hiểm
Trên thực tế, số tiền bảo hiểm thường được ấn định bằng với giá trị bảohiểm và như thế gọi là “bảo hiểm ngang giá trị” Nếu số tiền bảo hiểm củahàng hoá thấp hơn giá trị bảo hiểm thì người bảo hiểm sẽ bồi thường nhữngmất mát, hư hỏng và các chi phí trong phạm vi bảo hiểm theo tỷ lệ giữa số tiềnbảo hiểm và giá trị bảo hiểm Nếu số tiền bảo hiểm của hàng hoá cao hơn giátrị bảo hiểm thì phần cao hơn đó không được thừa nhận
Trừ khi có thỏa thuận khác, trong số tiền bảo hiểm khai báo, người đượcbảo hiểm có thể tính gộp cả tiền lãi ước tính Tuy nhiên tiền lãi này khôngđược vượt quá 10% giá trị bảo hiểm Thông thường số tiền bảo hiểm đượctính bằng 110% giá CIF
c Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm là một khoản tiền mà người tham gia bảo hiểm phải trả cho nhà bảo hiểm để nhận được bồi thường khi có các tổn thất xảy ra do các rủi ro
Trang 21được bảo hiểm gây nên Thực chất phí bảo hiểm chính là giá cả của sản phẩm bảo hiểm.
Phí bảo hiểm thường được tính trên cơ sở xác suất rủi ro gây ra tổn thất hoặc trên cơ sở thống kê tổn thất nhằm đảm bảo trang trải bồi thường và có lãi Để đơn giản, phí bảo hiểm được xác định trên cơ sở số tiền bảo hiểm và tỷ
a Hợp đồng bảo hiểm chuyến ( Insurance certificate)
Hợp đồng bảo hiểm chuyến là loại hợp đồng bảo hiểm cho một chuyến hàng vận chuyển từ địa điểm này đến địa điểm khác Hợp đồng bảo hiểm chuyến là hợp đồng bảo hiểm giành cho khách hàng có nhu cầu bảo hiểm hàng hoá không thưòng xuyên Với loại hình hợp đồng bảo hiểm này, người bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm đối với tổn thất cảu hàng hoá trong phạm vi một chyến hàng theo các điều khoản lựa chọn hoặc tuỳ theo quy định trong hợp đồng vận chuyển Đây là loại hợp đồng “tường minh” nhất bởi lẽ những thông tin về đối tượng bảo hiểm như: tên hàng, số lượng, đặc điểm nhận biết, giá trị bảo hiểm, phí bảo hiểm … cũng như những thông tin về phương tiện vận chuyển, hành trình như: tên tàu, chủ tàu, cảng xếp hàng, ngày xếp hàng…đều được thể hiện rõ trong hợp đồng bảo hiểm
Trang 22b Hợp đồng bảo hiểm bao ( Open policy)
Hợp đồng bảo hiểm bao là hợp đồng bảo hiểm cho nhiều chuyến hàng của cùng một chủ hàng trong một thời gian nhất định (thường là một năm) Hợp đồng bảo hiểm bao thường được áp dụng cho những chủ hàng có lượng hàng hoá nhập (xuất) lớn, chở bằng nhiều chuyến trong năm Khác với hợp đồng bảo hiểm chuyến, khi giao kết hợp đồng bảo hiểm bao có nhiều thông tinliên quan đến hợp đồng mà người bảo hiểm chưa được biết trước Vì vậy hợp đồng bảo hiểm bao được coi là một dạng hợp đồng “nguyên tắc” trong đó các bên thoả thuận các điều khoản làm cơ sở cho việc tính giá trị bảo hiểm, phí bảo hiểm tương ững với những điều kiện bảo hiểm, phương thức thanh toán phí, cam kết về phương tiện vận chuyển… Với mỗi chuyến hàng bên mua bảohiểm phải có nghĩa vụ cung cấp những thông tin mà bên bảo hiểm yêu cầu và theo yêu cầu của bên mua bảo hiểm, bên bảo hiểm phải cấp giấy chứng nhận bảo hiểm cho từng lô hàng mà bên mua bảo hiểm nhập (xuất) Hợp đồng bảo hiểm bao phù hợp với những đối tượng khách hàng có khối lượng hàng hoá nhập, xuất lớn trong năm Hợp đồng bảo hiểm bao được ký kết và thực hiện trên tinh thần thiện chí
Hợp đồng bảo hiểm bao có lợi cho cả người bảo hiểm và người được bảo hiểm Người bảo hiểm đảm bảo thu được khoản phí bảo hiểm trong thời hạn bảo hiểm Người được bảo hiểm nhờ tiết kiệm chi phí giao kết hợp đồng nên
có thể giảm chi phí, đồng thời hàng hoá vẫn được nhà bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm ngay cả khi đã xếp lên tàu vận chuyển rồi mà chưa kịp thông báo bảo hiểm Trên thực tế kinh doanh, do mạng lại nhiều lợi ích và ưu thế hơn so với hợp đồng bảo hiểm chuyến nên hợp đồng bảo hiểm bao luôn được các doanh nghiệp bảo hiểm khuyến khích áp dụng
c Tính hiệu lực của hợp đồng
Trang 23Hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển bắt đầu có hiệu lực từ khi hàng rời kho hay nơi chứa hàng taị địa điểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm để bắt đầu vận chuyển, tiếp tục có hiệu lực trongsuốt quá trình vận chuyển bình thường và kết thúc tại một trong các thời điểm sau tuỳ vào thời điểm nào đến trước:
- Khi giao hàng vào kho hay nơi chứa hàng cuối cùng đã thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm
- Khi giao hàng vào kho hay bất kỳ nơi chứa hàng nào khác
mà người được bảo hiểm chọn dùng làm nơi chia hay phân phối hàng hoặc nơi chứa hàng ngoài quá trình vận chuyển bình thường
- Khi hết hạn 60 ngày kể từ ngày hoàn thành việc dỡ hàng tại cảng đến
- Khi hàng được giao vào bất kỳ kho hay nơi chứa hàng nàokhác với nơi nhận do nhầm lẫn
1.1.2.7 Công tác giám định – bồi thường tổn thất
a Giám định tổn thất
Giám định tổn thất là việc làm của các chuyên viên giám định của các công ty bảo hiểm hoặc của các công ty giám định được người bảo hiểm uỷ quyền, nhằm xác định mức độ và nguyên nhân của tổn thất làm cơ sỏ cho việcbồi thường Giám định tổn thất được tiến hành khi hàng hoá bị tổn thất, hư hỏng, đổ vỡ, thiếu hụt, giảm phẩm chất ở cảng đến hoặc trên đường hành trình
và do người được bảo hiểm yêu cầu Những tổn thất do mất hàng, giao thiếu hàng hoặc không giao hàng thì không phải giám định và cũng không thể giám định được Do đó, người được bảo hiểm phải có nghĩa vụ đưa ra những bằng chứng chứng minh về nguyên nhân và mức độ của những tổn thất này Sau khigiám định, người giám định sẽ cấp chứng thư giám định Chứng thư giám
Trang 24định gồm hai loại: biên bản giám định và giấy chứng nhận giám định được gửicho người được bảo hiểm trong vòng 30 ngày.
Người được bảo hiểm có thể tham gia ý kiến với giám định viên để thống nhất về tỷ lệ tổn thất hàng hoá Trong trường hợp đôi bên không nhất tríđược thì có thể mời một bên trung gian làm giám định viên độc lập Biên bản giám định là hcứng thư quan trọng trong việc đòi bồi thường, vì vậy khi hàng đến cảng có tổn thất phải yêu cầu giám định ngay (không muộn hơn 60 ngày
kể từ ngày dỡ hàng khỏi tàu) Cơ quan giám định phải là cơ quan được chỉ định trong hợp đồng hoặc được người bảo hiểm uỷ quyền
- Khi hàng hoá được bảo hiểm bị tổn thất bộ phận, thì số tiền bồi thường được xác định bằng tổng giá trị hàng hoá khi còn nguyên vẹn trừ đi tổng giá trị hàng hoá còn lại sau khi đã bị tổn thất tại nơi nhận hàng trên
cơ sở tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị bảo hiểm
- Trên nguyên tắc thì trách nhiệm của người bảo hiểm chỉ giới hạn trong phạm vi số tiền bảo hiểm Tuy nhiên, khi cộng tiền tổn thất các chi phí: cứu hộ, giám định, đánh giá và bán lại hàng hoá bị tổn thất, chi phí đòi người thứ ba, tiền đóng góp vào tổn thất chung thì dù có vượt quá số tiến bảo hiểm thì người bảo hiểm vẫn bồi thường dựa trên quy định trong điều khoản đã thoả thuận của hợp đồng bảo hiểm ( đây là điểm khác biệt của bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển với các loại bảo hiểm khác)
Trang 25- Khi thanh toán tiền bồi thường, người được bảo hiểm có thể khấu trừ những khoản thu nhập của người được bảo hiểm trong việc bán hàng và đòi người thứ ba.
do đó khai thác càng có ý nghĩa quan trọng bởi đây là bước để sản phẩm tiếpcận với khách hàng, tạo cảm nhận ban đầu về chất lượng sản phẩm từ đó màảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của khách hàng xem có mua hay khôngmua sản phẩm Khai thác không chỉ có ý nghĩa đối với người bán bảo hiểm
mà còn có ý nghĩa đối với người mua và đối với nền kinh tế Cụ thể đối vớinghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển,công tác khai thác có ý nghĩa như sau:
Đứng trên góc độ của nhà bảo hiểm thì khâu khai thác là khâu quantrọng vì nó mạng lại doanh thu cho công ty Mặc dù chưa phải là lợi nhuận vàchưa phản ánh toàn diện hiệu quả kinh doanh nhưng đó là một yếu tố quantrọng có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh trong mọi thời kỳ Đồngthời qua đó có thể đánh giá về khả năng thu hút khách hàng, hiệu quả hoạtđộng của bộ phận khai thác để có biện pháp điều chỉnh cho phù hợp kịp thời.Bên cạnh đó, về cơ bản hoạt động bảo hiểm luôn phải dựa trên nguyên tắc sốđông bù số ít trong đó doanh thu đủ lớn là yêu cầu quan trọng để có thể thực
Trang 26hiện theo nguyên tắc này Doanh thu càng lớn thì càng có thể giúp doanhnghiệp bảo hiểm hạn chế những rủi ro về khả năng thanh toán Đặc biệt là đốivới bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, hầu hết các hợp đồng đều có giá trịbảo hiểm lớn, nếu không thận trọng thì có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọngđến tình hình tài chính của công ty Như vậy, trên góc độ của nhà bảo hiểm thìkhai thác có ý nghĩa vô cùng quan trọng, có thực hiện công tác này tốt thì cáckhâu còn lại mới có thể thực hiện tốt được và từ đó mới đảm bảo cho sự thànhcông của nghiệp vụ.
Đứng trên góc độ của khách hàng, khai thác cũng có những ý nghĩa nhấtđịnh Theo thông lệ quốc tế hiện nay tất cả các hàng hoá xuất nhập khẩu bằngđường biển đều phải tham gia bảo hiểm, điều này buộc các nhà kinh doanhhàng hoá xuất nhập khẩu phải lựa chọn cho mình một nhà bảo hiểm phù hợpnhất qua giới thiệu và tư vấn của cán bộ khai thác bảo hiểm, người mua bảohiểm sẽ nắm được những kiến thức cơ bản về bảo hiểm nói chung và bảohiểm hàng hoá xuất nhập khẩu nói riêng, đồng thời khách hàng có thể so sánhdựa trên biểu phí bảo hiểm mà các công ty cung cấp để lựa chọn tham gia bảohiểm tại công ty nào có lợi nhất cho mình
Còn đối với nền kinh tế, việc tiến hành khai thác bảo hiểm hàng hoá xuấtnhập khẩu vận chuyển bằng đường biển góp phần phát triển các công ty bảohiểm trong nước thông qua việc tăng doanh thu phí bảo hiểm, từ đó làm tăngmột lượng đáng kể nguồn vốn đầu tư cho phát triển nền kinh tế bởi hàng hoáxuất nhập khẩu thường có giá trị lớn nên lượng phí bảo hiểm thu được tươngđối nhiều
Như vậy, khai thác bảo hiểm nói chung và khai thác bảo hiểm hàng hoávận chuyển bằng đường biển có ý nghĩa rất quan trọng Nó giúp cho doanhnghiệp bảo hiểm thu hút được khách hàng, giúp người mua bảo hiểm tăng
Trang 27thêm hiểu biết và có sự lựa chọn tốt nhất đồng thời góp phần phát triển nềnkinh tế.
1.2.2 Quy trình khai thác bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nềnkinh tế nói chung, ngành bảo hiểm cũng không ngừng phát triển mạnh mẽ Thịtrường bảo hiểm ngày càng trở nên sôi động, các doanh nghiệp lần lượt ra đời
và cạnh tranh nhau một cách gay gắt để dành thị phần cho mình Trong kinh doanh bảo hiểm khai thác luôn là khâu quan trọng và quyết định đến sự tồn tạicủa các bước tiếp theo
Do vậy, để nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm nói chung và bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu nói riêng, các doanh nghiệp bảo hiểm không ngừng bổ sung sửa đổi quy trình và chiến lược khai thác nhằm mang lại kết quả tốt nhất Tuy nhiên về cơ bản thì quy trình khai thác nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bao gồm trình tự các bước sau:
- Thu thập thông tin và tìm hiều nhu cầu bảo hiểm của khách hàng
- Phân tích thông tin, đánh giá rủi ro
- Xem xét đề nghị bảo hiểm của khách hàng và chấp nhận chào phí
- Đàm phán và gửi bản chào phí tới khách hàng
- Chấp nhận, từ chối bảo hiểm
- Cấp đơn bảo hiểm
- Thu phí và theo dõi sau khi cấp đơn
- Các dịch vụ đi kèm
1.2.2.1 Thu thập thông tin và tìm hiều nhu cầu bảo hiểm của khách hàng Đây là bước đầu tiên của quá trình khai thác, để làm tốt được bước này vai trò của người khai thác hết sức quan trọng
Trang 28Để tiến hành khai thác, các khai thác viên sử dụng các mối quan hệ của mình và thực hiện tốt các nhiệm vụ:
- Thường xuyên tiếp xúc với khách hàng (các công ty xuất nhập khẩu, các chủ đầu tư) nhằm kịp thời nắm băt nhu cầu của khách hàng và giới thiệu sản phẩm bảo hiểm phù hợp
- Khai thác viên phải chủ động để khai thác được thông tin từ tấtcả các nguồn: khách hàng, cơ quan quản lý, đại lý, cộng tác viên, môi giới, cơ quan thông tin đại chúng…
- Khai thác viên cần tìm hiểu thêm thông tin về tình hình tài chính và khảnăng tham gia bảo hiểm, đồng thời tìm hiểu các thông tin liên quan đến đối tượng hàng hoá có nhu cầu bảo hiểm
1.2.2.2 Phân tích thông tin, đánh giá rủi ro
Từ các thông tin thu thập được, cán bộ khai thác tiến hành phân tích và đánh giá về khả năng xảy rủi ro, mức đọ xảy ra rủi ro đối với đối tượng bảo hiểm Thông qua số liệu thông kê về khách hàng, tư vấn cho lãnh đạo về chínhsách khách hàng Kết hợp với bộ phận bồi thường, tính hiệu quả bảo hiểm các nămđể từ đó đề xuất ý kiến đưa các điều kiện, điều khoản bảo hiểm, tương ứng với đó là đưa ra mức phí bao nhiêu là hợp lý với tình hình hiện tại để đạt được mục đích kinh doanh Đây là công việc hết sưca quan trọng đòi hỏi phải được tiến hành một cách cẩn thận, kỹ lưỡng nhằm ngăn chặn các hậu quả về sau mà quan trọng hơn là vấn đề về trục lợi bảo hiểm
Trong những trường hợp đặc biệt (yêu cầu kỹ thuật chuyên môn cao, khả năng ruiro lớn, giá trị bảo hiểm lớn) vượt quấ khả năng của cán bộ khai thác của công ty thì có thể yều cầu trợ giúp của các cơ quan chuyên môn hoặc tổ chức nước ngoài
1.1.2.3 Xem xét đề nghị bảo hiểm của khách hàng
Trang 29Trên cơ sở thông tin khách hàng, báo cáo đánh giá rui ro, kết hợp chính sách khách hàng, người bảo hiểm đưa ra tỷ lệ phí bảo hiểm phù hợp Sau khi
đã dưa ra được tỷ lệ phí phù hợp, khai thác viên phải kiểm tra tính phù hợp
giữa tính chất bao bì, phương thức xếp hàng với điều kiện bảo hiểm mà khách hàng lựa chọn để điều chỉnh Công việc tiếp theo của khai thác viên là phải kiểm tra tính hợp lệ của giấy yêu cầu bảo hiểm, đánh giá lại các thông tin mà khách hàng ghi trong giấy yêu cầu bảo hiểm (tên, dấu, chữ ký) đã đầy đủ và chính xác hay chưa
Một số trường hợp đặc biệt mà khai thác viên cần chú ý trong việc xem xét đề nghị bảo hiểm, xác định tỷ lệ phí và việc hướng dẫn kê khai giấy yêu cầubảo hiểm như:
- Nếu tàu vận chuyển nguyên chuyến, yêu cầu khách hàng
kê khai quốc tịch tàu, năm sử dụng để có thể biết thêm thông tin và xem xét tàu vận chuyển có thuộc đối tượng thu thêm phụ phí tàu già hay không
- Đối với những lô hàng có giá trị lớn (trên 1 triệu USD), cần phải thông qua Văn phòng Hàng hải (IBM) để tìm hiểu thông tin về chủ tàu
- Tàu chở hàng được bảo hiểm trách nhiệm P&I đầy đủ với một hôi P&I có uy tín
- Nếu khách hàng đã tham gia bảo hiểm tại một công ty ( chi nhánh) cùng thuộc một hệ thống thì cần có sự phối hợp để quyết định đúng đắn, tránh để khách hàng lợi dụng
- Trường hợp khách hàng của DNBH khác có yêu cầu bảo hiểm, cần kiểm tra thông tin kỹ lưỡng về tình hình tài chính, tổn thất, vấn đề
nợ phí…
Trong quá trình xem xét này, khai thác viên có thể từ chối bảo hiểm khi thấy có những dấu hiệu bất thường
Trang 30Trường hợp những dịch vụ đặc biệt có giá trị lớn, tính kỹ thuật phức tạphoặc trên phân cấp, khai thác viên cần đề xuất với lãnh đạo phòng, lãnh đạo công ty để có được phương án đàm phán tối ưu.
1.2.2.4 Đàm phán và gửi bản chào phí tới khách hàng
Sau khi đưa ra được mức phí dự kiến, khai thác viên lập nột bản chào phí với lời lẽ thuyết phục và gửi cho khách hàng Nếu trường hợp phải khảo phí bảo hiểm của thị trường tái bảo hiểm thì chỉ chào phí cho khách hàng sau khi đã nhận được thông báo phí cảu thị trường tái cỏ hiểm
Trong quá trình đàm phán, các yếu tố liên quan như: quy tắc bảo hiểm, biểu phí, hò sơ số liệu, thông tin về khách hàng, phí của nhà tái bảo hiểm là những yếu tố hàng đầu cần được xem xét để đưa ra được mứ phí phù hợp Mức phí là một tiêu chuẩn mà khách hàng hay so sánh trong quá trình lựa chọn nơi mua bảo hiểm vì nó chính là giá cả của sản phẩm bảo hiểm Thông thường thì khách hàng sẽ thích những nơi đưa ra mức phí thấp nên phí bảo hiểm đã chào mà khách hang chưa chấp nhận thì lãnh đạo phòng và lãnh đạo công ty có thể tổ chức gặp gỡ trao đổi, đàm phán lại
Kết thúc quá trình, người bảo hiểm cần để khách hàng nhận thấy rằngmức phí mà công ty đưa ra là hợp lý với mức giá chung trên thị trường, đồng thời lợi ích của họ được đảm bảo ở mức giá phải chăng
1.2.2.5 Chấp nhận bảo hiểm
Khi khách hàng chấp nhận bản chào phí, đề nghị khách hàng gửi giấy yếu cầu bảo hiểm hoàn chỉnh, chính thức bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm, các bên đã thống nhất với nhau về tất cả các điều khoản thì tiến hành cấp đơn bảo hiểm
Trong trường hợp đâc biệt (yêu cầu khan thiết, không liên lạc được bằng fax…) khai thác viên có thể liên lạc qua điện thoại để cấp đơn Tuy
Trang 31nhiên, khi giao đơn cho khách hàng, nhất thiết phải yêu càu khách hàng ký giấy yêu cầu bảo hiểm theo các thông tin đã khai báo quan điện thoại.
Khai thác viên phải đề nghị khách hàng kê khai rõ tất cả các mục trong giấy yêu cầu bảo hiểm Trường hợp khai thiếu về: số B/L, ký mã hiệu, trọng lượng, số kiện (do chưa được thông báo đầy đủ) thì vẫn chấp nhận cấp đơnnhwng phải yêu cầu khách hàng bổ sung khi nhận được thông báo Nếu thiếu một trong các thông tin cơ bản như: tên hàng, số hợp đồng (hoặc L/C), điều kiện bảo hiểm thì chỉ nên cấp đơn bảo hiểm sau khi khách hàng đã cung cấp bổ sung thông tin đầy đủ
1.2.2.6 Cấp đơn bảo hiểm
Trước khi cấp đơn bảo hiểm phải tiến hành lấy số đơn bảo hiểm theo quy định và phân loại nhóm, mã nghiệp vụ Quy trình cấp đơn gồm các bước sau:
Bước 1: Kiểm tra chứng từ
- Kiểm tra nội dung của giấy yêu cầu bảo hiểm có phù hợp với các tài
liệu kèm theo như: B/L, hoá đơn, L/C, hợp đồng vận chuyển…hay không
- Kiểm tra bản đánh giá rủi ro( nếu có) và những khuyến nghị trong đó
Bước 2: Vào sổ cấp đơn, lấy số đơn
- Lấy số đơn bảo hiểm theo thứ tự trong sổ cấp đơn
- Kiểm tra đơn và sổ cấp đơn theo từng danh mục
- Trình lãnh đạo phòng ký đơn và sổ cấp đơn
Bước 3: Tính phí bảo hiểm
- Xác định số tiền bảo hiểm: Tuỳ theo từng doanh nghiệp mà áp dụng công thức tính phí khác nhau, nhưng thông thưòng ở Việt Nam là tính theo giá CIF
- Xác định tỷ lệ phí áp dụng và các trường hợp tính thêm phụ phíbảo hiểm
Bước 4: Sửa đổi hoặc huỷ đơn bảo hiểm
Trang 32- Trường hợp khách hàng đề nghị điều chỉnh trị giá bảo hiểm (FOB, CIF), cước phí vận chuyển thì khi đó nhà bảo hiểm phải tính toán lại sốtiền bảo hiểm, điều chỉnh phí và cấp giấy sửa đổi bố sung.
- Trường hợp khách hàng yêu cầu huỷ đơn phải xem xét rõ lý dohuỷ đơn, đề nghị khách hàng cung cấp thư từ trao đổi về việc không giao hàng, bằng chứng huỷ L/C của ngân hàng ( nếu lô hàng thanh toán bằng L/C) Sau khi cấp đơn, gửi đơn cho khách hàng xong, các khai thác viên còn phải lưu trữ vào hồ sơ nghiệp vụ một bản phụ của đơn bảo hiểm Đồng thời họ còn phải vào sổ theo dõi khai thác thống kê, theo dõi đối tượng bao hiểm, sửa đổi bổ sung các điều kiện bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm…theo yêu cầu của khách hàng và theo phát sinh thực tế Đi đôi với quá trình đó là làm công tác tuyên truyền, đề phòng hạn chế tổn thất… nhằm phục vụ khách hàng sau khi bán hàng và chuẩn bị nắm thông tin phục vụ cho cácnhu cầu bảo hiểm tiếp theo của khách hàng
1.2.2.7 Thu phí và theo dõi sau khi cấp đơn bảo hiểm
Đây có thể coi là khâu quan trọng nhất của quy trình khai thác có tác động trực tiếp đến việc hoàn thành kế hoạch thu phí và tiến độ thu phí, doanh
số thu Đồng thời nó cũng phụ thuộc nhiều vào khả năng tài chính của khách hàng cũng như mức độ khéo léo của cán bộ bảo hiểm khi giao kết hợp đồng
và trong quá trình thu phí Hình thức thu phí rất linh hoạt, có thể thu trực tiếp bằng hoá đơn hoặc thu qua chuyển khoản bằng giấy báo nợ Tuỳ vào từng trường hợp cụ thể mà quy định thời hạn thu phí sao cho phù hợp cả hai bên Trong trường hợp khách hàng còn thiếu các chi tiết hoặc cần sửa đổi các số liệu trong đơn thì lúc này cán bộ bảo hiểm yêu cầu khách hàng cung cấp các số liệu còn thiếu để lập giấy sửa đổi bổ sung
1.2.2.8 Các dịch vụ đi kèm với hoạt động khai thác bảo hiểm
Trang 33Để nâng cao khả năng cạnh tranh cũng như nâng cao hiệu quả khai thác, một trong những điều không thể thiếu của nhà kinh doanh là các dịch vụ
đi kèm với quá trình bán hàng Do đó, đi cùng với hoạt động khai thác, phải tiến hành các dịch vụ đi kèm: hội nghị công tác khách hàng hàng năm để tiếp thu ý kiến phản hồi của khách hàng, thiết lập những mối quan hệ với khách hàng truyền thống và tạo lập mối quan hệ mới Vào ngày lễ tết phải gửi thư chúc mừng và tặng quà cho khách hàng, tiến hành công tác đề phòng hạn chế tổn thất, tư vấn cho khách hàng các biện pháp hạn chế rủi ro như phương thứ xếp hàng, cách thức đóng bao bì…
Chương 2: Tình hình khai thác nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại Công ty Bảo hiểm Dầu khí Hà Nội
2.1 Những nét chung về Công ty Bảo hiểm Dầu khí Hà Nội
2.1.1 Vài nét giới thiệu về Tổng công ty Bảo hiểm Dầu khí Hà Nội
Công ty Bảo hiểm Dầu khí được thành lập theo quyết định số 12/BT ngày23/01/1996 của Bộ trưởng – chủ nhiệm Văn phòng chính phủ, giấy phép đăng
ký kinh doanh số 110356 ngày 26/01/1996 Là doanh nghiệp 100% vốn nhànước trực thuộc Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, nay là Tập đoàn Dầu khíQuốc gia Việt Nam – PVN Đến năm 2006 thì công ty tiến hành cổ phần hoáthành Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam
Tên công ty : Tổng Công ty CP Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam
Tên tiếng anh : PetroVietNam Insurance Joint Stock Corporation
Tên viết tắt : PVI
Trụ sở chính : 154 Nguyễn Thái Học, Ba Đình, Hà Nội