1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần xây dựng công trình đức công

72 279 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 529,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Chức năng tái sản xuất sức lao động: Thu nhập của người lao động dưới hình thức tiền lương được sử dụng một phần đáng kể vào việc tái sản xuất giản đơn sức lao động mà họ đã bỏ ra tron

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Trong cuộc sống hiện nay, xã hội không ngừng phát triển, nhu cầu của con người cũng không ngừng tăng lên đòi hỏi chính sách tiền lương cũng phải đổi mới sao cho phù hợp Vì vậy, tiền lương luôn là vấn đề được xã hội quân tâm và chú ý bởi ý nghĩa kinh tế và xã hội to lớn của nó

Tiền lương là phần thu nhập của người lao động trên cơ sở số lượng và chất lượng lao động trong khi thực hiện công việc của bản thân người lao động theo cam kết giữa chủ doanh nghiệp và người lao động

Trong cơ chế thị trường hiện nay hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều hướng tới mục tiêu lợi nhuận, một trong những biện pháp làm tăng lợi nhuận là tìm mọi cách để cắt giảm chi phí sản xuất ở mức có thể chấp nhận được Đối với doanh nghiệp thì tiền lương là một phần không hề nhỏ của chi phí sản xuất Việc hạch toán tiền lương đối với doanh nghiệp phải thực hiện một cách chính xác và hợp lý vì nó không chỉ là cơ sở để xác định giá thành sản phẩm mà còn là căn cứ để xắc định các khoản phải nộp về BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ Nếu doanh nghiệp vận dụng chế độ tiền lương hợp lý sẽ tạo động lực tăng năng suất lao động.Tiền lương được trả đúng với thành quả lao động sẽ kích thích người lao động làm việc, tăng hiệu quả cho doanh nghiệp, thúc đẩy tinh thần hăng say làm việc, sáng tạo trong quá trình lao động

Đối với người lao động tiền lương có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi nó là nguồn thu nhập chủ yếu của họ, giúp họ đảm bảo được cuộc sống của bản thân và gia đình Do đó tiền lương phải đảm bảo bù đắp sức lao động mà họ đã bỏ ra nhằm tái sản xuất sức lao động, đáp ứng nhu cầu cần thiết trong cuộc sống của họ

Ở phạm vi toàn bộ nền kinh tế, tiền lương là sự cụ thể hơn của quá trình phân phối của cải vật chất do chính người lao động làm ra Vì vậy việc xây dựng tháng lương, bảng lương, lựa chọn các hình thức trả lương sao cho hợp lý để cho tiền lương vừa là khoản thu nhập để người lao động đảm bảo nhu cầu vật chất lẫn tinh thần, đồng thời làm cho tiền lương trở thành động lực thúc đẩy người lao động làm việc tốt hơn, có tinh thần trách nhiệm hơn với công việc thực sự là cần thiết Chính sách tiền lương được vận dụng linh hoạt ở mỗi doanh nghiệp phụ thuộc đặc điểm tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh và phụ thuộc vào tính chất hay loại hình kinh doanh của mỗi doanh nghiệp

Ngoài tiền lương chính mà người lao động được hưởng thì sẽ có các khoản tiền thưởng, phụ cấp, BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ là các quỹ xã hội mà người

Trang 4

lao động được hưởng Nó thể hiện sự quan tâm của xã hội, của doanh nghiệp đến từng thành viên trong doanh nghiệp.

Nói chung tiền lương đóng vai trò là một đòn bẩy kinh tế vô cùng quan trọng Chi phí nhân công chiếm tỉ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp Vì vậy doanh nghiệp cần tăng cường công tác quản lý lao động, công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương một cách chính xác, kịp thời để đảm bảo quyền lợi của người lao động đồng thời tạo điều kiện tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí nhân công, đẩy mạnh hoạt động sản xuất và hạ giá thành sản phẩm

Nhận thức được vai trò quan trọng đó, đồng thời chúng em muốn nắm bắt và hệ thống lại những kiến thức đã học nhằm nâng cao trình độ và hiểu rõ hơn ngành nghề mà mình theo đuổi Nhóm em xin chọn đề tài: “Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong công ty cổ phần xây dựng công trình Đức Công” để làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình

2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu

a, Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lý luận về tiền lương và các khoản trích theo lương

- Củng cố, nâng cao và vận dụng những kiến thức đã học vào trong đời sống nhằm có thêm kinh nghiệm, kỹ năng, trau dồi cho ngành nghề mình đang theo đuổi Đồng thời đi sâu về lý thuyết để có cái nhìn thực tế hơn về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương

- Đưa ra nhữn nhận xét về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương

và đề ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kế toán

b, Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: tập trung tại phòng kế toán công ty cổ phần xây dựng công trình Đức Công

- Thời gian: Tập trung nghiên cứu tình hình công ty năm 2015 đặc biệt thực trạng hạch toán kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương của công ty năm 2015

3 Đối tượng nghiên cứu

Công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần xây dựng công trình Đức Công, các chứng từ liên quan tới lương và các khoản trích theo lương của tháng 4/2015, bảng cân đối kế toán, báo các kết quả kinh doanh năm 2014-2015, và các thông tin khác liên quan tới công ty

Trang 5

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập số liệu thứ cấp của công ty, thông

tin trên sách, báo , tạp chí, internet

- Phương pháp phân tích số liệu: thống kê, tổng hợp, mô tả, so sánh, suy luận để đưa ra nhận xét và đánh giá, từ đó đưa ra một số biện pháp để hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương

- Ngoài ra còn 1 số phương pháp khác như phỏng vấn, quan sát, điều tra,…

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Ý nghĩa khoa học: Là một kiến thức trong công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương

-Ý nghĩa thực tiễn: Đưa ra những đánh giá nhận xét về tiền lương và các khoản trích theo lương, từ đó đưa ra kiến nghị và biện pháp giúp cho việc tăng cường công tác quản trị chi phí của doanh nghiệp và có thể ứng dụng cho thực tiễn sau này

6 Kết cấu của chuyên đề

Ngoài phần mở đầu và kết luận chuyên đề nghiên cứu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương

Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần xây dựng công trình Đức Công

Chương 3: Một số biện pháp nhằm hoàn thiện kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần xây dựng công trình Đức Công

Trong khuôn khổ chuyên đề này, vận dụng những kiến thức đã học kết hợp với việc nghiên cứu công ty cổ phần xây dựng công trình Đức Công, dù đã rất cố gắng song do thời gian tiếp cận thực tế còn ít và trình độ còn hạn chế nên không thể tránh khỏi sai sót Vì vậy, nhóm rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía quý (thầy) cô cũng như các bạn quan tâm tới vấn đề này để chúng em có thể rút kinh nghiệm, hoàn thiện hơn và có tính ứng dụng hơn cao trong thực tế

Xin chân thành cảm !

PHẦN NỘI DUNG

Trang 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG

1.1 Tổng quan về lao động, tiền lương và các khoản trích theo lương

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, bản chất, chức năngvà vai trò của tiền lương

1.1.1.1 Khái niệm tiền lương

Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp đồng thời cũng là quá trình tiêu hao các yếu tố cơ bản của sản xuất (lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động) Trong đó lao động với tư cách là hoạt động chân tay và trí óc của con người sử dụng các tư liệu lao động nhằm tác động, biến đổi các đối tượng lao động thành các vật phẩm có ích phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của mình Để bảo đảm tiến hành liên tục quá trình tái sản xuất, trước hết cần phải tái sản xuất sức lao độngmà con người bỏ ra phải được bồi hoàn dưới dạng thù lao lao động Như

vậy “Tiền lương (tiền công) là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống cần thiết mà người lao động được hưởng để bù đắp hao phí mà họ bỏ ra trong suốt quá trình sản xuất nhằm tái sản xuất sức lao động”.

Ngoài tiền lương, người lao động còn được hưởng các khoản trích theo lương như BHXH, BHYT, BHTN và KPCĐ cùng các khoản trợ cấp khác như tiền làm thêm giờ, tiền ăn ca, tiền trợ cấp xăng xe, …

1.1.1.2 Đặc điểm của tiền lương

- Tiền lương là một phạm trù kinh tế gắn liền với lao động, tiền tệ và nền sản xuất hàng hóa Tiền lương chính là biểu hiện bằng tiền của giá cả sức lao động, do đó tiền lương là một phạm trù kinh tế gắn liền với lao động, tiền tệ và nền sản xuất hàng hoá Mặt khác trong điều kiện tồn tại nền sản xuất hàng hoá và tiền tệ, tiền lương là một yếu tố chi phí sản xuất, kinh doanh cấu thành nên giá thành của sản phẩm, lao vụ, dịch vụ Ngoài ra tiền lương còn là đòn bảy kinh tế quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động,

có tác dụng động viên khuyến khích tinh thần hăng hái lao động, kích thích và tạo mối quan tâm của người lao động đến kết quả công việc của họ Nói cách khác, tiền lương chính là một nhân tố thúc đẩy năng suất lao động

-> Trong điều kiện tồn tại nền sản xuất hàng hóa và tiền tệ, tiền lương là một yếu tố chi phí sản xuất kinh doanh cấu thành nên giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ

-> Tiền lương là một đòn bẩy kinh tế quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động và có tác dụng động viên khuyến khích người lao động tích cực lao động, nâng cao hiệu quả công tác

- Lao động là một trong ba yếu tố của quá trình sản xuất, tiền lương là yếu

tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh, là vốn ứng trước và đây là một

Trang 7

khoản chi phí trong giá thành sản phẩm Nó tác động đến kết quả sản xuất trên hai mặt là: mặt số lượng lao động và mặt chất lượng lao động Số lượng lao động được phản ánh trên sổ theo dõi lao động do phòng lao động tiền lương lập, sổ này ghi chép tập trung cho toàn doanh nghiệp và từng bộ phận để tiện theo dõi Chất lượng lao động được phản ánh qua bậc thợ, chất lượng lao động, năng suất của người lao động.

- Trong quá trình lao động sức lao động của con người bị hao mòn dần cùng với quá trình tạo ra sản phẩm Muốn duy trì và nâng cao khả năng làm việc của con người thì cần phải tái sản xuất sức lao động Do đó tiền lương là một trong những tiền đề vật chất có khả năng tái tạo sức lao động trên cơ sở bù lại sức lao động đã hao phí, bù lại thông qua sự thoả mãn các nhu cầu tiêu dùng của người lao động

- Đối với các nhà quản lý thì tiền lương là một trong những công cụ để quản

lý doanh nghiệp Thông qua việc trả lương cho người lao động, người sử dụng lao động có thể tiến hành kiểm tra, theo dõi, giám sát người lao động làm việc theo kế hoạch tổ chức của mình để đảm bảo tiền lương bỏ ra phải đem lại kết quả

và hiệu quả cao Như vậy người sử dụng sức lao động quản lý một cách chặt chẽ

về số lượng và chất lượng lao động của mình để trả công xứng đáng

1.1.1.3 Bản chất của tiền lương

Tiền lương chính là biểu hiện bằng tiền của giá cả sức lao động, do đó tiền lương là một phạm trù kinh tế gắn liền với lao động, tiền tệ và nền sản xuất hàng hoá Mặt khác trong điều kiện tồn tại nền sản xuất hàng hoá và tiền tệ, tiền lương

là một yếu tố chi phí sản xuất, kinh doanh cấu thành nên giá thành của sản phẩm, lao vụ, dịch vụ

1.1.1.4 Chức năng của tiền lương

- Chức năng thước đo giá trị sức lao động:Tiền lương biểu thị giá cả sức lao động có nghĩa là nó là thước đo để xác định mức tiền công các loại lao động,là căn cứ để thuê mướn lao động, là cơ sở để xác định đơn giá sản phẩm

- Chức năng tái sản xuất sức lao động: Thu nhập của người lao động dưới hình thức tiền lương được sử dụng một phần đáng kể vào việc tái sản xuất giản đơn sức lao động mà họ đã bỏ ra trong quá trình lao động nhằm mục đích duy trì năng lực làm việc lâu dài và có hiệu quả cho quá trình sau Tiền lương của người lao động là nguồn sống chủ yếu không chỉ của người lao động mà còn phải đảm bảo cuộc sống của các thành viên trong gia đình họ Như vậy tiền lương cần phải bảo đảm cho nhu cầu tái sản xuất mở rộng cả về chiều sâu lẫn chiều rộng sức lao động

Trang 8

- Chức năng kích thích:Trả lương một cách hợp lý và khoa học sẽ là đòn bẩy quan trọng nhằm kích thích người lao động làm việc một cách hiệu quả.

- Chức năng tích lũy:Tiền lương trả cho người lao động phải đảm bảo duy trì được cuộc sống hàng ngày trong thời gian làm việc và còn dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi họ hết khả năng lao động hay gặp rủi ro

1.1.1.5 Vai trò và ý nghĩa của tiền lương

* Vai trò của tiền lương

- Đối với người lao động: Tiền lương là thu nhập chính của người lao động là yếu tố để đảm bảo tái sản xuất sức lao động, một bộ phận đặc biệt của sản xuất

xã hội Vì vậy, tiền lương đóng vai trò quyết định trong việc ổn định và phát triển kinh tế gia đình Trước hết tiền lương phải đảm bảo những nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của người lao động như ăn,ở,đi lại Tức là tiền lương phải để duy trì cuộc sống tối thiểu của người lao động Chỉ có khi như vậy, tiền lương mới thực sự có vai trò quan trọng kích thích lao động và nâng cao trách nhiệm của người lao động đối với quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội Đồng thời, chế

độ tiền lương phù hợp với sức lao động đã hao phí sẽ đem lại sự lạc quan và tin tưởng vào doanh nghiệp, vào chế độ họ đang sống

- Đối với doanh nghiệp: Việc sử dụng công cụ tiền lương ngoài mục đích tạo vật chất cho người lao động, tiền lương còn có ý nghĩa to lớn trong việc theo dõi kiểm tra và giảm sát người lao động.Tiền được sử dụng như thước đo hiệu quả công việc, bản thân tiền lương là một bộ phận cấu thành bên chi phí sản xuất, chi phí bán hàng và chi phi quản lý doanh nghiệp.Vì vậy nó là yếu tố nằm trong giá thành sản phẩm Do đó, tiền lương cũng ảnh hưỏng tới lợi nhuận của doanh

nghiệp Với một doanh nghiệp, để duy trì và phát triển thì chính sách quản lý tiền

lương là điều rất quan trọng.Tiền lương trong doanh nghiệp nó ảnh hưởng đến mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp Mọi chi phí tài chính đều được quản lý hợp

lý Bởi lẽ duy trì tiền lương của nhân viên thu hút lao động giỏi xứng đáng với thực lực của họ Ngoài ra tiền lương còn là công cụ hữu hiệu để xây dựng nguồn lực và đó cũng là cách để quản lý nguồn lao động trong doanh nghiệp

- Đối với xã hội: Tiền lương bản chất là để duy trì sự sống của con người Việc duy trì ấy là công việc thường nhật như chi tiêu về ăn uống, may mặc,…Đó là yếu tố xã hội, trao đổi sản phẩm hàng hóa nhu cầu cần thiết bằng những đồng tiền mình làm ra Ngoài ra tiền lương phần nào đã đóng góp vào thu nhập quốc dân vì thế nó ảnh hưởng trực tiếp tới yếu tố xã hội

-> Như vậy trước hết tiền lương có vai trò với sự sống của người lao động từ

đó trở thành đòn bẩy kinh tế và góp phần quan trọng giúp nhà tổ chức điều phối

Trang 9

công việc dễ dàng, thuận lợi Khi người lao động được hưởng thu nhập xứng đáng với công sức của họ bỏ ra thì lúc đó bất kỳ công việc gì họ cũng sẽ làm và phát huy tài năng, sáng kiến, tinh thần, trách nhiệm và nhiệt tình của mình tạo thành động lực quan trọng của sự phát triển kinh tế và xã hội

* Ý nghĩa của tiền lương

- Tiền lương là đòn bảy kinh tế quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động, có tác dụng động viên khuyến khích tinh thần hăng hái lao động, kích thích và tạo mối quan tâm của người lao động đến kết quả công việc của họ

- Trong điều kiện tồn tại nền sản xuất hàng hóa và tiền tệ, tiền lương là một yếu tố chi phí sản xuất kinh doanh cấu thành nên giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ, là vốn ứng trước Nó tác động đến kết quả sản xuất trên hai mặt là: mặt số lượng lao động và mặt chất lượng lao động Số lượng lao động được phản ánh trên sổ theo dõi lao động do phòng lao động tiền lương lập, sổ này ghi chép tập trung cho toàn doanh nghiệp và từng bộ phận để tiện theo dõi Chất lượng lao động được phản ánh qua bậc thợ, chất lượng lao động, năng suất của người lao động

- Đối với các nhà quản lý, tiền lương là một trong những công cụ để quản lý doanh nghiệp Thông qua việc trả lương cho người lao động, người sử dụng lao động có thể tiến hành kiểm tra, theo dõi, giám sát người lao động làm việc theo

kế hoạch tổ chức của mình để đảm bảo tiền lương bỏ ra phải đem lại kết quả và hiệu quả cao Như vậy người sử dụng lao động quản lý một cách chặt chẽ về số lượng và chất lượng lao động của mình để trả công xứng đáng

1.1.2 Các khoản trích theo lương

a, Bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội

b, Bảo hiểm y tế

Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật này Bảo hiểm y tế là các quan hệ kinh tế gắn liền với việc huy động các nguồn tài lực từ sự đóng góp

Trang 10

của những người tham gia bảo hiểm để hình thành quỹ bảo hiểm, và sử dụng quỹ

để thanh toán các chi phí khám chữa bệnh cho người được bảo hiểm khi ốm đau

c, Kinh phí công đoàn

Kinh phí công đoàn là nguồn tiền trích lập để nộp lên cấp công đoàn cấp trên, và để lại một phần theo tỷ lệ công đoàn qui định Khoản trích này hạch toán vào giá thành hoặc chi phí và theo mức lương thực tế

d, Bảo hiểm thất nghiệp

Bảo hiểm thất nghiệp là khoản hỗ trợ tài chính tạm thời dành cho những người bị mất việc mà đáp ứng đủ yêu cầu theo Luật định BHTN là chính sách để người thất nghiệp nhanh chóng trở lại thị trường lao động, đồng thời chính sách BHXH nhằm hỗ trợ người thất nghiệp để thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị mất thu nhập do thất nghiệp Chính sách BHTN còn hỗ trợ học nghề và tìm việc làm đối với NLĐ tham gia BHTN

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới tiền lương

- Nhân tố thuộc thị trường lao động: Cung – cầu lao động ảnh hưởng trực tiếp đến tiền lương

+ Khi cung lao động lớn hơn cầu lao động thì tiền lương có xu hướng giảm, khi cung lao động nhỏ hơn cầu lao động thì tiền lương có xu hướng tăng, còn khi cung về lao động bằng với cầu lao động thì thị trường lao động đạt tới sự cân bằng.Tiền lương lúc này là tiền lương cân bằng, mức tiền lương này bị phá vỡ khi các nhân tố ảnh hưởng tới cung cầu về lao động thay đổi như (năng suất biên của lao động, giá cả của hàng hoá, dịch vụ …)

+ Khi chi phí sinh hoạt thay đổi, do giá cả hàng hoá, dịch vụ thay đổi sẽ kéo theo tiền lương thực tế thay đổi

+ Trên thị trường luôn tồn tại sự chênh lệch tiền lương giữa các khu vực tư nhân, Nhà nước, liên doanh…, chênh lệch giữa các ngành, giữa các công việc có mức độ hấp dẫn khác nhau, yêu cầu về trình độ lao động cũng khác nhau Do vậy, Nhà nước cần có những biện pháp điều tiết tiền lương cho hợp lý

- Nhân tố thuộc môi trường doanh nghiệp là các chính sách của doanh nghiệp (chính sách lương, phụ cấp, giá thành…), khả năng tài chính của doanh nghiệp và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp

- Nhân tố thuộc bản thân người lao động là trình độ lao động, thâm niên công tác và kinh nghiệm làm việc thường đi đôi với nhau cùng với mức độ hoàn thành công việc nhanh hay chậm, đảm bảo chất lượng hay không

- Nhân tố thuộc giá trị công việc: mức hấp dẫn của công việc, mức độ phức tạp của công việc, điều kiện thực hiện công việc và yêu cầu của công việc

Trang 11

- Các nhân tố khác như giới tính, độ tuổi, thành thị hay nông thôn, …

1.1.4 Phân loại lao động trong doanh nghiệp

a, Phân loại lao động theo thời gian lao động gồm : hai loại

- Lao động thường xuyên trong danh sách: là lực lượng lao động do doanh nghiệp trực tiếp quản lý và chi trả lương gồm công nhân sản xuất kinh doanh cơ bản và nhân viên thuộc các hoạt động khác

- Lao động ngoài danh sách: là lực lượng lao động làm việc tại các doanh nghiệp do các ngành khác chi trả lương như cán bộ chuyên trách đoàn thể, học sinh, sinh viên thực tập,

b, Phân loại theo quan hệ với quá trình sản xuất gồm lao động trực tiếp sản xuất

và lao động gián tiếp sản xuất :

* Lao động trực tiếp sản xuất: là những người trực tiếp tiến hành các hoạt

động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm hay trực tiếp thực hiện các công việc nhiệm vụ nhất định Trong lao động trực tiếp đựơc phân loại theo nội dung công việc mà người lao động thực hiện (gồm lao động sản xuất kinh doanh chính, lao động sản xuất kinh doanh phụ trợ, lao động phụ trợ khác), và theo năng lực và trình độ chuyên môn lao động trực tiếp được (gồm lao động có tay nghề cao, lao động có tay nghề trung bình và lao động phổ thông)

* Lao động gián tiếp sản xuất: là bộ phận lao động tham gia một cách gián tiếp

vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Lao động gián tiếp gồm những người chỉ đạo, phục vụ và quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp Lao động gián tiếp được phân loại theo nội dung công việc và nghề nghiệp chuyên môn (gồm nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý kinh tế, nhân viên quản lý hành chính), và theo năng lực và trình độ chuyên môn lao động gián tiếp (gồm chuyên viên chính, chuyên viên, cán sự và nhân viên)

c, Ý nghĩa của việc phân loại

Phân loại lao động trong doanh nghiệp có ý nghĩa trong việc nắm bắt thông tin

về số lượng và thành phẩm lao động, về trình độ của người lao động trong doanh nghiệp, về sự bố trí lao động trong doanh nghiệp từ đó thực hiện quy hoạch lao động, lập kế hoạch lao động Mặt khác, thông qua phân loại lao động trong toàn doanh nghiệp và từng bộ phận giúp cho việc lập dự toán chí phí nhân công trong chi phí sản xuất kinh doanh, lập kế hoạch quỹ lương và thuận lợi cho công tác kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch và dự toán này

1.1.5 Các hình thức trả lương trong doanh nghiệp

1.1.5.1 Hình thức tiền lương theo thời gian

Trang 12

Là hình thức trả lương cho người lao động căn cứ vào thời gian làm việc, cấp bậc lương (chức danh) và thang lương (hệ số lương) Hình thức này chủ yếu áp dụng cho lao động gián tiếp, công việc ổn định có thể cho cả lao động trực tiếp mà không định mức được sản phẩm Có 2 hình thức trả lương chính:

-Hình thức trả lương theo thời gian đơn giản: Đó là tiền lương nhận được của mỗi người công nhân tùy theo mức lương cấp bậc cao hay thấp, và thời gian làm việc của họ nhiều hay ít quyết định Tùy theo mỗi ngành nghề tính chất công việc đặc thù doanh nghiệp mà áp dụng bậc lương khác nhau Độ thành thạo kỹ thuật nghiệp vụ chuyên môn chia thành nhiều thang bậc lương, mỗi bậc hay thang lương có mức lương nhất định, đó là căn cứ để trả lương theo thời gian có thể được chia ra:

+Tiền lương tháng: là tiền lương trả cho công nhân viên theo tháng, bậc lương được tính theo thời gian là một tháng Thường được quy định sẵn với từng bậc lương trong các thang lương, lương tháng được áp dụng để trả lương cho nhân viên làm công tác quản lý kinh tế, quản lý hành chính và các nhân viên thuộc ngành hoạt động không có tính chất sản xuất

Mức

lương

tháng =

Mức lương tối thiểu x

Hệ số lương theo cấp bậc, chức vụ +

Phụ cấp theo lương

Ưu điểm: Thể hiện trình độ của người lao động

Nhược điểm: Không tính được số ngày làm việc trong tháng, thường chỉ áp dụng cho nhân viên hành chính

+ Tiền lương tuần: Là tiền lương tính cho người lao động theo mức lương tuần và số ngày làm việc trong tháng

Tiền lương tuần = Tiền lương tháng x 12 tháng52 tuần

+ Tiền lương ngày là tiền lương trích cho người lao động theo mức lương ngày và số ngày làm việc thực tế trong tháng

Tiền lương ngày=

Tiền lương cỏ bản của tháng

Số ngày làm việc theo quy định của 1 tháng

Ưu điểm: Thể hiện trình độ và điều kiện làm việc của người lao động

Nhược điểm: Chưa gắn tiền lương với sức lao động của từng người

+ Tiền lương giờ là tiền lương có thể tính trực tiếp để trả lương theo giờ hoặc căn cứ vào lương ngày để phụ cấp làm thêm giờ cho người lao động Phụ cấp làm thêm giờ tính trên cơ sở lương ngày

Mức lương giờ = Mức lương ngày : số giờ làm việc trong ngày

Ưu điểm: tận dụng dược thời gian lao động

Trang 13

Nhược điểm: không gắn liền tiền lương và kết quả lao động, theo dõi phức tạp-> Nhìn chung, hình thức trả lương theo thời gian có những mặt hạn chế là mang tính bình quân, nhiều khi không phù hợp với kết quả lao động thực tế của người lao động

- Để khắc phục phần nào những hạn chế đó việc trả lương theo thời gian giản đơn, có các chế độ trả lương theo thời gian có thưởng: Đó là mức lương tính theo thời gian đơn giản cộng với số tiền thưởng mà họ được hưởng

1.1.5.2 Hình thức tiền lương theo sản phẩm

- Khác với hình thức tiền lương theo thời gian, hình thức tiền lương trả theo sản phẩm là chế độ tiền lương mà thu nhập của mỗi người tuỳ thuộc vào hai yếu tố: Số lượng sản phẩm làm ra trong tháng và đơn giá tiền công cho một sản phẩm Trong đó số lượng sản phẩm làm ra do thống kê ghi chép, còn đơn giá tiền công phụ thuộc vào hai yếu tố là cấp bậc công việc và định mức thời gian hoàn thành công việc đó Có thể nói rằng hiệu quả của hình thức trả lương theo sản phẩm cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào công tác định mức lao động có chính xác hay không Định mức vừa là cơ sở để trả lương sản phẩm, vừa là công cụ để quản lý

Tổng tiền lương phải trả = Đơn giá TL/SP x Số lượng sản phẩm hoàn thành

- Hình thức tiền lương theo sản phẩm

+ Hình thức tiền lương theo sản phẩm trực tiếp là tiền lương phải trả cho người lao động được tính trực tiếp theo số lượng sản phẩm hoàn thành đúng quy cách phẩm chất và đơn giá tiền lương sản phẩm đã quy định không chịu bất cứ một sự hạn chế nào

Tổng tiền lương phải trả= Số lượng sản phẩm thực tế hoàn thành x Đơn giá tiền lương

Ưu điểm: đơn giản, dễ tính, quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động

Nhược điểm: dễ nảy sinh tình trạng người lao động chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân mà không quan tâm đến lợi ích chung của doanh nghiệp

+ Tiền lương sản phẩm gián tiếp là tiền lương trả cho người lao động gián tiếp ở các bộ phận sản xuất như bảo dưỡng máy móc thiết bị, họ không trực tiếp tạo

ra sản phẩm nhưng họ gián tiếp ảnh hưởng đến năng suất lao động trực tiếp Vì vậy họ được hưởng lương dựa vào căn cứ kết quả của lao động trực tiếp làm ra để tính lương cho lao động gián tiếp

Ưu điểm: khuyến khích lao động trực tiếp nâng cao NSLĐ

Nhược điểm: không đánh giá chính xác kết quả của lao động gián tiếp

Trang 14

+ Tiền lương theo sản phẩm có thưởng: Theo hình thức này, ngoài tiền lương theo sản phẩm trực tiếp nếu người lao động được thưởng trong sản xuất thường về tăng năng suất lao động, tiết kiệm vật tư.

Ưu điểm: khuyến khích người lao động làm việc, năng suất lao động tăng cao, có lợi cho doanh nghiệp và đời sống của công nhân viên được cải thiện

+ Tiền lương theo sản phẩm lũy tiến tức là ngoài tiền lương theo sản phẩm trực tiếp còn có một phần tiền thưởng được tính ra trên cơ sở tang đơn giá tiền lương ở mức năng suất cao

Ưu điểm: nâng cao năng suất lao động, duy trì cường độ lao động ở mức tối đa, nhằm giải quyết kịp thời hạn quy định theo đơn đặt hàng và hợp đồng,…

Nhược điểm: làm tăng khoản mục chi phí nhân công trong giá thành sản phẩm của doanh nghiệp

-> So với hình thức tiền lương theo thời gian thì hình thức tiền lương theo sản phẩm có nhiều ưu điểm hơn Quán triệt đầy đủ hơn nguyên tắc trả lương theo số lượng, chất lượng lao động , gắn chặt thu nhập tiền lương với kết quả sản xuất của người lao động Kích thích tăng năng suất lao động, kích thích người lao động phát huy tính sáng tạo cải tiến kỹ thuật sản xuất, vì thế nên hình thức này được sử dụng khá rộng rãi Do mỗi doanh nghiệp có nhiều loại lao động khác nhau nên để thuận lợi cho việc quản lý và hạch toán kế toán cần thiết phải tiến hành phân loại theo các nhóm khác nhau

1.1.5.3 Một số hình thức khác

Ngoài ra còn một số hình thức khác như trả lương khác như hình thức hỗn hợp, trả lương khoán, hình thức trả lương theo khối lượng công việc

1.1.6 Hình thức tiền thưởng:

Trang 15

- Phụ cấp lưu động : áp dụng đối với nhũng nghành nghề hoặc công việc, thường xuyên thay đổi địa điểm làm việc hoặc nơi ở mới.

* Chế độ thưởng

- Thưởng cuối năm: Hàng năm nếu công ty kinh doanh có lãi, công ty sẽ trích

từ lợi nhuận để thưởng cho lao động Mức thưởng tùy thuộc vào lợi nhuận mỗi năm Mức thưởng cụ thể cho từng lao động tùy thuộc vào sự đóng góp công sức, chất lượng công tác, chấp hành đầy đủ quy định của công ty

- Thưởng thâm niên: Các nhân viên làm việc ở công ty từ 3 năm trở lên sẽ có các mức thưởng được công bố khi trả lương tháng cuối cùng của năm

- Thưởng ngày lễ 30/4,1/5, Quốc khánh, Tết dương lịch: Mức thưởng sẽ tùy thuộc vào khả năng hoàn thành công việc, chấp hành nội quy và quy định của công ty cũng như chất lượng công việc hoàn thành

- Thưởng đạt doanh thu: Cuối năm phòng kinh doanh đạt doanh thu do ban giám đốc giao sẽ được thưởng phần trăm doanh thu hàng tháng, trường hợp vượt doanh thu thì phòng kinh doanh làm đơn về việc đạt doanh thu, mức thưởng cho từng nhân viên rồi gửi Giám đốc xét duyệt

1.1.7 Quỹ tiền lương

1.1.7.1 Khái niệm quỹ tiền lương

- Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ tiền lương tính theo người lao động của doanh nghiệp, do doanh ngiệp quản lý và chi trả Được hình thành từ doanh thu theo 1 tỷ lệ nhất định, bao gồm các khoản sau:

+ Tiền lương trả theo thời gian, trả theo sản phẩm, lương khoán

+ Các khoản phụ cấp làm đêm, thêm giờ, độc hại, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực, phụ cấp thâm niên, phụ cấp học nghề,…

+ Tiền lương trả cho thời gian người lao động ngừng sản xuất do nguyên nhân khách quan như đi học, tập quân sự, hội nghị, nghỉ phép,

+ Tiền lương trả cho người lao động sản xuất ra sản phẩm hỏng trong định mức

+ Các khoản tiền thưởng có tính chất lương như thưởng năng suất, thưởng tiết kiệm nguyên vật liệu…

1.1.7.2 Nguồn hình thành quỹ tiền lương

Trong doanh nghiệp để phục vụ cho công tác hạch toán và phân tích tiền lương có thể phân loại quỹ tiền lương thành tiền lương chính và tiền lương phụ Tiền lương chính là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian làm nhiệm vụ chính của họ và tiền lương phụ là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian không làm nhiệm vụ chính nhưng vẫn được hưởng lương theo chế độ quy định như tiền lương trả cho người lao động

Trang 16

Việc phân chia quỹ lương thành lương chính và lương phụ có ý nghĩa nhất định trong công tác hạch toán phân bổ tiền lương theo đúng đối tượng và công tác phân tích tình hình sử dụng quỹ lương ở các doanh nghiệp.

1.1.8 Quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và kinh phí

công đoàn

1.1.8.1 Quỹ bảo hiểm xã hội (BHXH)

- Khái niệm: Quỹ BHXH là quỹ dùng để trợ cấp cho người lao động có tham gia đóng góp quỹ trong các trường hợp họ bị mất khả năng lao động như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí, mất sức

- Mục đích lập quỹ BHXH: Tạo nguồn tài chính để chi trả trợ cấp cho người lao động khi họ ốm đau, tai nạn, thai sản, bệnh nghề nghiệp và chi trả chế độ hưu trí khi họ nghỉ hưu, chế độ tử tuất khi họ qua đời

- Nguồn hình hành quỹ BHXH: Quỹ BHXH được trích theo tỷ lệ phần trăm quy định trên quỹ lương tính BHXH Theo chế độ hiện hành (năm 2015), BHXH trích 26% trong đó doanh nghiệp chịu 18% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, và người lao động chịu 8% trừ vào thu nhập người lao động

- Về đối tượng: Trước đây BHXH chỉ áp dụng đối với những doanh nghiệp Nhà nước Hiện nay theo nghị định 45/CP thì chính sách BHXH được áp dụng đối với tất cả các loại lao động thuộc mọi thành phần kinh tế, đối với tất cả các thành viên trong xã hội và cho mọi người có thu nhập cao hoặc có điều kiện tham gia mua

- Quản lý quỹ BHXH: Về nguyên tắc, quỹ BHXH phải nộp hết cho cơ quan BHXH hàng tháng Tuy nhiên để doanh nghiệp có kinh phí chi trả trợ cấp BHXH cho người lao động khi ốm đau, doanh nghiệp được giữ lại 2% nhưng phải quyết toán với cơ quan BHXH hàng quý

1.1.8.2 Quỹ bảo hiểm y tế (BHYT)

- Khái niệm: Quỹ BHYT là quỹ được sử dụng để hỗ trợ cho những người có tham gia đóng góp quỹ trong các hoạt động khám chữa bệnh

- Mục đích lập quỹ BHYT: Quỹ BHYT được sử dụng để thanh toán các khoản khám chữa bệnh, viện phí, thuốc thang… cho người lao động trong thời gian ốm đau, sinh đẻ…Quỹ BHXH do cơ quan BHYT thống nhất quản lý và trợ cấp cho người lao động thông qua mạng lưới y tế, những người có tham gia nộp bảo hiểm

y tế khi ốm đau bệnh tật đi khám chữa bệnh họ sẽ được thanh toán thông qua chế độ BHYT mà họ đã nộp

- Nguồn hình thành quỹ BHYT: Quỹ BHYT được hình thành từ việc trích lập theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải trả cho công nhân trong kỳ Theo chế đọ hiện hành, doanh nghiệp trích quỹ BHYT theo tỷ lệ 4,5% trên tổng số tiền lương

Trang 17

tháng ghi trên hợp đồng (lương cơ bản), trong đó 3%tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của các đối tượng sử dụng lao động và 1,5% trừ vào lương của người lao động Quỹ BHYT dược trích lập để tài trợ cho người lao dộng có tham gia đóng góp quỹ trong cá hoạt động khám chữa bệnh.

- Quản lý quỹ BHYT: Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch và có sự phân cấp quản lý trong hệ thống tổ chức BHYT

1.1.8.3 Quỹ bảo hiểm thất nghiệp (BHTN)

- Khái niệm: Quỹ BHTN là quỹ giải quyết tình trạng thất nghiệp, nhằm trợ giúp kịp thời cho những người thất nghiệp trong thời gian chưa tìm được việc làm và tạo cơ hội cho họ học nghề, tìm kiếm công việc mới

- Mục đích lập quỹ BHTN: là trợ cấp những người lao động có tham gia đóng quỹ khi họ thất nghiệp

- Nguồn hình thành quỹ BHTN: Theo điều 81 luật BHXH, người thất nghiệp được hưởng BHTN khi có đủ các điều kiện sau đây:

+ Đã đóng BHTN đủ 12 tháng trong thời gian 24 tháng trước khi thất nghiệp+ Đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức BHXH

+ Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp

- Nguồn hình thành quỹ BHTN như sau:

+ Người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công đóng BHTN

+ Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của những người lao động tham gia BHTN

+ Hàng tháng nhà nước hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương tiền công tháng đóng BHTN của những người tham gia BHTN và mỗi năm chuyển 1 lần.Vậy tỷ lệ trích lập BHTN của doanh nghiệp là 2%, trong đó người lao động chịu 1% và doanh nghiệp chịu 1% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ

1.1.8.4 Kinh phí công đoàn (KPCĐ)

- Khái niệm: Là nguồn tài trợ cho hoạt động công đoàn ở các doanh nghiệp

- Mục đích trích lập KPCĐ: KPCĐ là khoản tiền được trích lập theo tỷ lệ quy định trên tổng quỹ lương thực tế phải trả cho toàn bộ công nhân viên trong doanh nghiệp nhằm chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động đồng thời duy trì hoạt động của công đoàn tại doanh nghiệp

- Nguồn hình thành KPCĐ: Theo chế độ hiện hành hàng tháng doanh nghiệp trích 2% KPCĐ trên tổng quỹ lương làm căn cứ đóng BHXH và tính toàn bộ vào chi phí sản xuất kinh doanh của các đối tượng sử dụng lao động

- Quản lý KPCĐ: toàn bộ số KPCĐ trích được một phần nộp lên cơ quan công đoàn cấp trên, một phần để lại doanh nghiệp để chi tiêu cho hoạt động công đoàn tại doanh nghiệp

Trang 18

1.2 Hạch toán số lượng, thời gian và kết quả lao động

1.2.1 Hạch toán số lượng lao động:

Căn cứ vào chứng từ ban đầu là bảng chấm công hàng tháng tại mỗi bộ phận, phòng ban, tổ, nhóm, gửi đến phòng kế toán để tập hợp và hạch toán số lượng lao động trong tháng đó tai doanh nghiệp và cũng từ bảng chấm công kế toán có thể nắm được từng ngày có bao nhiêu người làm việc, bao nhiêu người nghỉ với lý

do gì

Hằng ngày có tổ trưởng hoặc người có trách nhiệm chấm công cho từng người tham gia làm việc thực tế trong ngày tại nơi mình quản lý sau đó cuối tháng các phòng ban sẽ gửi bảng chấm công về phòng kế toán Tại phòng kế toán, kế toán tiền lương sẽ tập hợp và hạch toán số lượng công nhân viên lao động trong tháng

1.2.2 Hạch toán thời gian lao động:

Chứng từ để hạch toán thời gian lao động là bảng chấm công

Bảng chấm công là bảng tổng hợp dùng để theo dõi ngày công thực tế làm việc, ngày nghỉ, ngừng làm việc, nghỉ bảo hiểm xã hội của từng người cụ thể và từ đó để có căn cứ tính trả lương, bảo hiểm xã hội tả thay lương cho từng người và quản lý lao động trong doanh nghiệp

Hằng ngày tổ trưởng hoặc người được ủy quyền căn cứ vào tình hình thực tế của bộ phận mình quản lý để chấm công cho từng người trong ngày và ghi vào các ngày tương ứng trong các cột 1 đến 31 theo các kí hiệu quy định trong bảng Cuối tháng người chấm công và phụ trách bộ phận ký vào bảng chấm công và chuyển bảng chấm công cùng các chứng từ liên quan như phiếu nghỉ hưởng BHXH về bộ phận kế toán kiểm tra,đối chiếu quy ra công để tính lương và BHXH Kế toán tiền lương căn cứ vào các kí hiệu chấm công của từng người rồi tính ra số ngày công theo từng loại tương ứng để ghi vào các cột 32,33,34,35,36 Ngày công quy định là 8 giờ còn lẻ thì đánh thêm dấu phẩy ví dụ 24 công 4giờ thì ghi 24,4

Bảng chấm công có thể chấm công tổng hợp : chấm công ngày và chấm công giờ, chấm công nghỉ bù nên tại phòng kế toán có thể tập hợp tổng số liệu thời gian lao động của từng người Tùy thuộc vào điều kiện,đặc điểm sản xuất, công tác và trình độ hạch toán đơn vị có thể sử dụng một trong các phương pháp chấm công sau đây :

- Chấm công ngày: Mỗi khi người lao động làm việc tại đơn vị hoặc làm việc khác như họp thì mỗi ngày dùng một kí hiệu để chấm công trong ngày đó

- Chấm công theo giờ: Trong ngày người lao động làm bao nhiêu công việc thì chấm công theo các kí hiệu quy định và ghi số giờ làm việc thực hiện công việc đó bên cạnh kí hiệu tương ứng

Trang 19

- Chấm công nghỉ bù: Chỉ áp dụng trong trường hợp làm thêm giờ hưởng lương theo thời gian nhưng không thanh toán lương làm thêm.

1.2.3 Hạch toán kết quả lao động:

Căn cứ vào phiếu xác nhận sản phẩm hoặc hoàn thành Do phiếu là chứng từ xác nhận số lượng sản phẩm hoặc công việc hoàn thành của đơn vị hoặc cá nhân người lao đông nên nó làm cơ sở để lập bảng thanh toán tiền lương hoặc tiền công cho người lao động Phiếu này được lập thành 02 liên : 1 liên lưu và 1 liên chuyển đến kế tiền lương để làm thủ tục thanh toán cho người lao động và phiếu phải có đầy đủ chữ kí của người giao việc,người nhận việc, người kiểm tra chất lượng và người duyệt

Phiếu xác nhận sản phẩm hoàn thành được dùng trong trường hợp doanh nghiệp áp dụng theo hình thức trả lương trả theo sản phẩm trực tiếp hoặc lương khoán theo khối lượng công việc Đây là những hình thức trả lương tiến độ nhất đúng nguyên tắc phân phối theo lao động,nhưng đòi hỏi phải có sự giám sát chặt chẽ và kiểm tra chất lượng sản phẩm một cách nghiêm ngặt

1.2.4 Hạch toán thanh toán với người lao động

Căn cứ vào bảng chấm công để biết thời gian lao động cũng như số ngày công lao động của người sau đó tại từng phòng ban, tổ nhóm lập bảng thanh toán tiền lương cho từng người lao động ngoài bảng chấm công ra thì các chứng từ kèm theo là bảng tính phụ cấp, trợ cấp, phiếu xác nhận thời gian lao động hoặc công việc hoàn thành

Bảng thanh toán tiền lương : Là chứng từ làm căn cứ thanh toán tiền lương phụ cấp cho người lao động, kiểm tra việc thanh toán tiền lương cho người lao động làm việc trong các đơn vi sản xuất kinh doanh đồng thời là căn cứ để thống

kê về lao động tiền lương Bảng thanh toán tiền lương được lập hàng tháng theo từng bộ phận ( phòng, ban, tổ, nhóm )tương ứng với bảng chấm công

Cơ sở lập bảng thanh toán tiền lương là các chứng từ về lao động như : Bảng chấm công, bảng tính phụ cấp, trợ cấp, phiếu xác nhận, thời gian lao động và công việc hoàn thành Căn cứ vào các chứng từ liên quan, bộ phận kế toán tiền lương lập bảng thanh toán tiền lương, chuyển cho kế toán trưởng duyệt để làm căn cứ lập phiếu chi và phát lương.Bảng này được lưu lại tại phòng kế toán Mỗi lần lĩnh lương,người lao động phải ký trực tiếp vào cột “ký nhận” hoặc người nhận hộ phải ký thay

Từ bảng thanh toán tiền lương và các chứng từ khác có liên quan kế toán tiền lương lập bảng phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương

1.3 Kế toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương

1.3.1 Nhiệm vụ của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương

Trang 20

-Tổ chức ghi chép, phản ánh, tổng hợp số liệu về số lượng, chất lượng lao động, thời gian lao động, tính và phân bổ chính xác tiền lương và các khoản trích theo lương theo đúng đối tượng, đúng chính sách.

- Hướng dẫn, kiểm tra các nhân viên hạch toán ở các phân xưởng, các bộ phận sản xuất-kinh doanh và các phòng ban, các ban liên quan thực hiện đầy đủ các chứng từ ghi chép ban đầu về lao động, tiền lương, mở sổ cần thiết và hạch toán các nghiệp vụ lao động, tiền lương theo đúng chế độ, đúng phương pháp

- Lập các báo cáo về lao động, tiền lương và các khoản trích thuộc phạm vi trách nhiệm của kế toán để phục vụ cho công tác quản lý của Nhà nước và doanh nghiệp Theo dõi tình hình thanh toán tiền lương, tiền thưởng và các khoản phụ cấp, trợ cấp cho người lao động Đề xuất các biện pháp nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng lao động, tăng năng xuất lao động

1.3.2 Nguyên tắc cơ bản trong hạch toán tiền lương và các khoản trích theo

lương.

a, Các nguyên tắc cơ bản của tổ chức tiền lương

- Nguyên tắc 1: Trả lương ngang nhau cho người lao động là như nhau Nguyên tắc này đòi hỏi trả lương không phân biệt nam, nữ, tôn giáo, dân tộc mà căn cứ vào hao phí lao động, chất lượng lao động

- Nguyên tắc 2: Đảm bảo tăng cường năng suất lao động nhanh hơn trả lương bình quân, vì năng suất lao động là cái sản xuất được, còn tiền lương là nói tới cái tiêu dùng chi trả

- Nguyên tắc 3: Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa người lao động làm các nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân Điều này đảm bảo sự công bằng bình đẳng trong chi trả tiền lương cho người lao động

b, Nguyên tắc cơ bản trong hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương

- Nguyên tắc 1: Phải phân loại lao động hợp lý

Do lao động trong doanh nghiệp có nhiều loại khác nhau nên để thuận lợi cho việc quản lý và hạch toán, cần thiết phải tiến hành phân loại Phân loại lao động là việc sắp xếp lao động vào các nhóm khác nhau theo những đặc trưng nhất định Về mặt quản lý hạch toán, lao động thường được phân theo các tiêu thức sau:

+ Phân loại lao động theo thời gian lao động

+ Phân loại lao động theo quan hệ với quá trình sản xuất gồm lao động trực tiếp sản xuất và lao động gián tiếp sản xuất

Trang 21

+ Phân theo chức năng của lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh gồm lao động thực hiện chức năng sản xuất chế biến, lao động thực hiện chức năng bán hàng và lao động thực hiện chức năng quản lý.

- Nguyên tắc 2: Phân loại tiền lương 1 cách phù hợp

Do tiền lương có nhiều loại với tính chất khác nhau, chi trả cho các đối tượng khác nhau nên cần phải phân loại tiền lương theo tiêu thức phù hợp Trên thực tế có rất nhiều cách phân loại tiền lương như phân theo cách thức trả lương (lương sản phẩm, lương thời gian, lương khoán), phân theo đối tượng trả lương (lương gián tiếp, lương trực tiếp), phân theo chức năng tiền lương (sản xuất, bán hàng, quản lý)….Mỗi cách phân loại đều có những tác dụng nhất định trong quản lý Tuy nhiên để thuận lợi cho công tác hạch toán nói riêng và quản lý nói chung, xét về mặt hiệu quả, tiền lương được chia làm 2 loại là tiền lương chính và tiền lương phụ

1.3.3 Kế toán tổng hợp tiền lương

1.3.3.1 Chứng từ sử dụng:

- Bảng chấm công (Mẫu số 01-LĐTL)

- Bảng thanh toán tiền lương (Mẫu số 02-LĐTL)

- Phiếu nghỉ ốm hưởng BHXH (Mẫu số 03-LĐTL)

- Danh sách người lao động hưởng BHXH (Mẫu số 04-LĐTL)

- Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội (Mẫu số C03-BH)

- Danh sách người lao động hưởng trợ cấp BHXH (Mẫu số C04-BH)

- Bảng thanh toán tiền thưởng (Mẫu số 05-LĐTL)

- Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành (Mẫu số 06-LĐTL)

- Phiếu báo làm thêm giờ (Mẫu số 07-LĐTL)

- Hợp đồng giao khoán (Mẫu số 08-LĐTL)

- Biên bản điều tra tai nạn lao động (Mẫu số 09-LĐTL)

- Bảng thanh toán tiền thuê ngoài (Mẫu số 10-LĐTL)

- Biên bản thanh lý(nghiệm thu)hợp đồng giao khoán (Mẫu số 11-LĐTL)…

1.3.3.2 Tài khoản sử dụng:

Để theo dõi tình hình thanh toán tiền công và các khoản khác với người lao động tình hình trích lập sử dụng quỹ BHXH,BHYT,KPCĐ,BHTN kế toán sử dụng tài khoản tài khoản 334 và tài khoản 338

- TK334 “Phải trả người lao động”: Dùng để phản ánh tình hình thanh toán lương và các khoản thu nhập khác cho công nhân viên (CNV) trong kỳ

Nợ TK334 Có

Trang 22

SDĐK: Tiền lương phải trả người lao động đầu kỳ

- Các khoản khấu trừ vào lương nhân viên

như bảo hiểm, tạm ứng thừa,…

- Tạm ứng lương và thanh toán tiền lương và

các khoản thu nhập khác cho công nhân viên.

- Chuyển tiền lương của người lao động

không đến lĩnh sang TK338

- Tiền lương, tiền thưởng phải trả cho người lao động

- Trợ cấp BHXH phải trả cho người lao động

- Phần tiền lương và các khoản thu nhập mà doanh nghiệp còn nợ công nhân viên lúc đầu kỳ hay cuối kỳ.

Tổng số phát sinh nợ Tổng số phát sinh có

SDCK: Thanh toán thừa cho người lao động SDCK: Các khoản tiền lương, tiền thưởng, trợ

cấp BHXH còn phải trả cho người lao động

Tài khoản 334 được chi tiết ra thành 2 tài khoản cấp 2:

+ TK 3341: “Phải trả công nhân viên” Phản ánh các khoản phải trả và thanh toán các khoản phải trả về tiền lương, tiền thưởng có tính chất lương, BHXH và các khoản phải trả khác thuộc về thu nhập công nhân viên

+ TK 3348: “Phải trả người lao động khác” Phản ánh các khoản phải trả và tình hình thanh toán các khoản phải trả cho người lao động khác ngoài công nhân viên của doanh nghiệp về tiền công, tiền thưởng có tính chất tiền công, tiền thưởng và các khoản khác thuộc về thu nhập của người lao động

- Tài khoản 338 : “Phải trả phải nộp khác”: Tài khoản này dùng để theo dõi trích lập sử dụng các quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN

Nợ TK338 Có

SDĐK: Các khoản trích theo lương có đầu kỳ -Phản ánh việc chi tiêu KPCĐ,BHXH đơn vị.

-Phản ánh việc nộp các quỹ BHXH, BHYT

,KPCĐ, BHTN cho các cơ quan quản lý cấp

Tổng số phát sinh nợ Tổng số phát sinh có

SDCK: Nộp thừa, chi vượt SDCK:Các quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN

chưa nộp hoặc chưa chỉ tiêuTài khoản 338 được chi tiết thành các tài khoản cấp 2 như sau :

+ TK 3382 “Kinh phí công đoàn” + TK 3383 “ Bảo hiểm xã hội”

+ TK 3384 “Bảo hiểm y tế” + TK 3386 “Bảo hiểm thất nghiệp”

- Ngoài ra còn có các tài khoản khác liên quan như TK 111, TK112, TK138, TK335, TK338, TK431, TK622, TK627, TK641, TK642 …

Trang 23

1.3.3.3 Trình tự hạch toán:

Sơ đồ 1.1: Hạch toán tổng hợp tiền lương, tiền thưởng

TK111,112 TK334 TK622 Thanh toán thu nhập cho Tiền lương, tiền thưởng phải

người lao động trả cho lao động trả trực tiếp

TK 335TK138 TLNP thực tế Trích trước TLNPKhấu trừ khoản thu khác phải trả của LĐTT

TK627 TK141 Tiền lương, tiền thưởng phải trả Khấu trừ khoản tạm ứng thừa cho nhân viên phân xưởng

TK641 TK338 Tiền lương, tiền thưởng phải trả

Thu hộ cho cơ quan khác hoặc cho nhân viên bán hàng

giữ hộ người LĐ TK642

Tiền lương, tiền thưởng phải trả

cho nhân viên quản lý DN

Tiền thưởng từ quỹ khen thưởng phải trả cho người lao động

TK335

Trang 24

TK3383 Bảo hiểm xã hội phải trả

cho người lao động

Sơ đồ 1.2: Hạch toán tổng hợp quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN

TK 111, 112 TK 3382,3383,3384,3386 TK622

Nộp cho cơ quan quản Trích theo TL của LĐTT tính

lý quỹ vào chi phí

TK627

BHXH phải trả cho NLĐ vào chi phí

trong doanh nghiệp TK641 Trích theo TL của NV bán hàng

tính vào chi phí

TK111, 112, 152… TK642Chi tiêu KPCĐ tại Trích theo TL của NV QLDN

doanh nghiệp tính vào chi phí

TK334 Trích theo TL của NLĐ trừ vào

thu nhập của họ

TK111,112 Nhận tiền cấp bù của Quỹ

BHXH

Sơ đồ 1.3: Hạch toán trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất

Trang 25

TK338 TK627

(3)Trích BHXH,BHYT,KPCĐ Đối với CN xây lắp, CN

BHTN trên tiền lương nghỉ điều khiển máy thi công

TK622

Đối với CN sản xuất khác TK335

TK334

(2) Tiền lương nghỉ phép (1) số trích trước tiền lương nghỉ

phải trả cho CN sản xuất phép của CN sản xuất hàng tháng

TK711

(5) Hoàn nhập chênh lệch chi (4) Cuối niên độ kế toán điều chỉnh

phí trích trước tiền lương nghỉ số chênh lệch tiền lương nghỉ phép

phép lớn hơn tiền lương nghỉ thực tế phát sinh lớn hơn chi phí đã

Sơ đồ 1.4: Hạch toán tổng hợp Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm

Trả tiền trợ cấp mất việc làm Trích quỹ dự phòng trợ

cho người lao động cấp mất việc làm

Trả tiền trợ cấp mất việc làm cho người lao động khi

không còn số dư quỹ dự phòng

Sổ nhật ký chung

Sổ, thẻ kế toán chi tiết

Sổ nhật ký đặc

biệt

Sổ cái

Bảng tổng hợp chi

Trang 26

Sơ đồ 1.5:Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán nhật ký chung

Ghi chú: Ghi hằng ngày Ghi cuối tháng hoặc định kỳ

Quan hệ đối chiếu, kiểm tra

-Diễn giải:

+Hằng ngày căn cứ vào các chứng từ đã kiểm tra được dùng làm căn cứ ghi

sổ Trước hết ghi nghiệp vụ phát sinh vào sổ nhật ký chung, căn cứ vào đó để

ghi vào sổ cái theo các tài khoản kế toán phù hợp Nếu đơn vị mở sổ, thẻ kế

toán chi tiết thì đồng thời với việc ghi sổ nhật ký chung, các nghiệp vụ phát

sinh được ghi vào các sổ, thẻ kế toán chi tiết liên quan Trường hợp đơn vị mở

sổ nhật ký đặc biệt (NKĐB) thì hằng ngày căn cứ vào các chứng từ để ghi sổ,

định kì tổng hợp từng sổ nhật ký đặc biệt để ghi vào sổ cái sau khi đã trừ một

số trùng lặp do 1 số nhiệp vụ được ghi đồng thời vào nhiều sổNKĐB(nếu có)

+Hàng tháng, quý, năm cộng số liệu trên sổ cái, lập bảng cân đố phát sinh

sau khi đã kiểm tra đối chiếu khớp, đúng số liệu trên sổ cái và bảng tổng hợp

chi tiết được dùng để lập các báo cáo tài chính

1.4.2 Hình thức nhật ký-chứng từ

-Hình thức nhật ký chứng từ gồm các loại sổ kế toán sau: Nhật ký chứng từ,

bảng kê, Sổ cái, Sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết

Bảng cân đối số phát sinh

Báo cáo tài chính

Chứng từ kế toán

và các bảng phân bổ

Nhật ký chứng từ Sổ thẻ kế toán chi

tiết Bảng kê

Bảng tổng hợp chi tiết

Sổ cái

Trang 27

Sơ đồ1.6: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán nhật ký chứng từ

Ghi chú: Ghi hằng ngày Ghi cuối tháng hoặc định kỳ

Quan hệ đối chiếu, kiểm tra

-Diễn giải:

+Hằng ngày căn cứ vào các chứng từ kế toán đã được kiểm tra lấy số liệu ghi trực tiếp vào các nhật ký, chứng từ hoặc bảng kê và sổ chi tết có liên quan Đối với các loại chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh nhiều lần hoặc mang tính chất phân bổ thì trước hết phải tập hợp và phân loại trong các bảng phân

bổ, sau đó lấy số liệu kết quả bảng phân bổ ghi vào các bảng kê và nhật ký chứng từ có liên quan Đối với nhật ký chứng từ được ghi căn cứ vào các bảng

kê, sổ chi tiết thì căn cứ vào số liệu tổn cộng của bảng kê, sổ chi tiết cuôi tháng chuyển số liệu vào nhật ký chứng từ

+Cuối tháng khóa sổ, cộng số liệu trên các nhật ký chứng từ, kiểm tra, đối chiếu số liệu trên các nhật ký chứng từ với các sổ, thẻ kế toán chi tiết, bảng tổng hợp chi tiết có liên quan và lấy số liệu tổng cộng của các nhật ký chứng

từ ghi trực tiếp vào sổ cái Số liệu tổng cộng ở sổ cái và một số chỉ tiêu chi tiết trong nhật ký chứng từ, bảng kê và các bảng tổng hợp chi tiết được dùng để lập báo cáo tài chính

1.4.3 Hình thức chứng từ ghi sổ

-Hình thức chứng từ ghi sổ gồm các loại sổ kế toán sau: Chứng từ ghi sổ,

Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, Sổ cái, Các sổ và kế toán chi tiết

Chứng từ ghi sổ

Sổ cái Bảng cân đối SPS

Trang 28

Sơ đồ 1.7: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán chứng từ ghi sổ

Ghi chú: Ghi hằng ngày Ghi cuối tháng hoặc định kỳ Quan hệ đối chiếu, kiểm tra

-Diễn giải:

+Hằng ngày căn cứ vào chứng từ kế toán hoặc bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại đã được kiểm tra được dùng làm căn cứ ghi sổ, kế toán lập chứng từ ghi sổ Căn cứ vào chứng từ ghi sổ để ghi vào sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, sau đó được dùng ghi vào sổ cái Các chứng từ kế toán sau khi làm căn

cứ chứng từ ghi sổ được dùng để ghi vào sổ, thẻ kế toán chi tiết có liên quan.+Cuối tháng phải khóa sổ tính ra tổng số tiền của các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh trong tháng trên sổ đăng ký chứng từ ghi sổ tính ra tổng phát sinh nợ và tổng phát sinh có và số dư của từng tài khoản trên sổ cái Căn cứ vào sổ cái lập bảng cân đối phát sinh

+Sau khi đối chiếu khớp đúng số liệu trên sổ cái và bảng tổng hợp chi tiết được dùng để lập báo cáo tài chính

+Quan hệ đối chiếu kiểm tra phải đảm bảo tổng phát sinh nợ bằng tổng phát sinh có của tất cả các tài khoản trên bảng cân đối số phát sinh phải bằng nhau

và bằng tổng số tiền phát sinh trên sổ đăng ký chứng từ ghi sổ Tổng số dư nợ

và tổng số dư có của các tài khoản trên bảng cân đối số phát sinh phải bằng nhau, và số dư của từng tài khoản trên bảng cân đối số phát sinh phải bằng số

dư của từng tài khoản tương ứng trên bảng tổng hợp chi tiết

Sổ thẻ kế toán chi tiết28

Trang 29

Sơ đồ1.8: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán nhật ký sổ cái

Ghi chú: Ghi hằng ngày Ghi cuối tháng

Quan hệ đối chiếu, kiểm tra

- Diễn giải:

+ Hàng ngày căn cứ vào các chứng từ kế toán hoặc bảng tổng hợp chứng từ

kế toán cùng loại đã được kiểm tra và được dùng làm căn cứ ghi sổ Trước hết xác định tài khoản ghi nợ có để ghi vào sổ nhật ký sổ cái Số liệu mỗi chứng từ được ghi tên 1 dòng ở cả 2 phần Nhật ký và phần sổ cái Bảng tổng hợp chứng

từ kế toán được lập cho những chứng từ cùng loại phát sinh nhiều lần trong ngày hoặc định kỳ từ 1 đến 3 ngày Chứng từ kế toán và bảng tổng hợp chứng

từ kế toán cùng loại sau khi đã ghi sổ nhật ký sổ cái, được dùng để ghi vào sổ thẻ kế toán chi tiết liên quan

+ Cuối tháng sau khi đã phản ánh toàn bộ chứng từ kế toán phát sinh trong tháng vào sổ nhật ký – sổ cái và các sổ thẻ kế toán chi tiết, kế toán tiến hành cộng số liệu của cột phát sinh ở phần nhật ký và các cột nợ cột có của từng tài khoản ở phần sổ cái để ghi vào dòng cột phát sinh cuối tháng Căn cứ vào số phát sinh các tháng trước và số phát sinh tháng này tính ra số phát sinh lũy kế

từ đầu quý đến cuối tháng này Căn cứ vào số dư đầu tháng (đầu quý) và số phát sinh trong tháng (trong quý) kế toán tính ra số dư cuối tháng (cuối quý) của từng tài khoản trên nhật ký-sổ cái Số liệu trên nhật ký sổ cái và trên bảng tổng hợp chi tiết sau khi khóa sổ được kiểm tra, đối chiếu nếu khớp, đúng sẽ được sử dụng để lập báo cáo tài chính

1.4.5 Phần mềm kế toán trên máy tính

- Phần mềm kế toán được thiết kế theo hình thức kế toán nào sẽ có các loại

sổ của hình thức kế toán đó, nhưng không hoàn toàn giống mẫu sổ kế toán ghi bằng tay

Bảng tổng hợp chi tiết Báo cáo tài chính

Phần mềm kế

toán Chứng

từ kế

toán

Sổ kế toán (Sổ tổng hợp, sổ chi 29

Trang 30

Máy vi tính

Sơ đồ 1.9: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán trên máy vi tính

Ghi chú: Nhập số liệu hàng ngày Đối chiếu, kiểm tra

In sổ, báo cáo cuối tháng (cuối năm)

- Diễn giải:

+ Hàng ngày, kế toán căn cứ vào chứng từ kế toán hoặc bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại đã được kiểm tra, được dùng làm căn cứ ghi sổ, xác định tài khoản ghi nợ, có để nhập dữ liệu vào máy vi tính theo các bản, biểu được thiết kế sẵn trên phần mềm kế toán Theo quy trình của phần mềm

kế toán các thông tin tự động nhập vào sổ kế toán tổng hợp và các sổ thẻ kế toán chi tiết

+ Cuối tháng, kế toán thực hiện các thao tác khóa sổ và lập báo cáo tài chính Việc đối chiếu giữa số liệu tổng hợp với số liệu chi tiết được thực hiện

tự động và luôn đảm bảo chính xác trung thực Người làm kế toán có thể kiểm tra, đối chiếu số liệu giữa sổ kế toán với báo cáo tài chính sau khi đã in ra giấy

Bảng tổng hợp

chứng từ kế toán

cùng loại

- Báo cáo tài chính

- Báo cáo kế toán quản trị

Trang 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG

VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN

XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ĐỨC CÔNG2.1 Khái quát về công ty

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần xây dựng công trình Đức Công

Căn cứ vào nhu cầu vận tải hàng hóa Công ty cổ phần xây dựng công trình Đức Công được thành lập theo giấy phép kinh doanh số: 0203000390 ngày 27 tháng

02 năm 2003 của Sở kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hải Phòng

- Chủ tịch hội đồng quản trị: Đoàn Văn Sim

- Tên công ty viết bằng tiếng Việt : Công ty cổ phần xây dựng công trình Đức

- Xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp

- Xây dựng công trình giao thông, thủy lợi, điện, nước

- San lấp mặt bằng

- Đào xúc, vận chuyển bằng cơ giới, cày bừa, san ủi

- Kinh doanh vật liệu xây dựng

Trang 32

- Cho thuê các loại máy móc, thiết bị thi công công trình

- Sản xuất và gia công cơ khí

- Vận tải và dịch vụ vận tải hàng hóa thủy bộ

Mục tiêu hoạt động của Công ty là không ngừng phát triển các hoạt động kinh

doanh trên các lĩnh vực nêu trên và các ngành nghề khác phù hợp với Luật DN

nhằm tối đa các nguồn lợi nhuận của Công ty, đảm bảo lợi ích cho chủ doanh

nghiệp Cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao thu nhập và đời sống của người

lao động trong Công ty Thực hiện nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo

quy định của pháp luật

Khái quát kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh những năm gần đây Trong

tình hình kinh tế không ổn định và lạm phát cao như hiện nay lại cộng thêm việc

công ty nhỏ lẻ mới thành lập còn non nớt Công ty cổ phần xây dựng công trình

Đức Công cũng đã bị ảnh hưởng ít nhiều Tuy nhiên, với đội ngũ lao động tích

cực hăng hái có tinh thần trách nhiệm cao Công ty luôn luôn sẵn sàng đương đầu

với sự biến động của nền kinh tế Điều đó được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.1.Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2014-20

KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

1.Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 3.050.000 12.563.000 9.513.000 311.90%

-3.Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp

10.Lợi nhuận thuần từ hoạt động sản xuất

Trang 33

15.Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp 57.6803,5 2.286.832,8

1.710.029,

3 296.47%16.Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp 1.730.410,5 6.860.498,3 5.130.087,8 296.47%

Nhìn vào báo cáo kết quả SXKD của công ty qua 2 năm 2014-2015 ta nhận

thấy tình hình hoạt động của công ty có nhiều khởi sắc.Trong 3 tháng cuối của

năm 2014 tuy mới đi vào hoạt động xong công ty cũng đã thu lại được lợi nhuận

đáng kể và sau đó tiếp tục duy trì tiến độ thu được nguồn lợi tương đối cao trong

suốt năm 2015 Lợi nhuận sau thuế của công ty tăng 5.130.087,3 nghìn đồng

tương đương tăng 296.47% Công ty đã biết phát huy hiệu quả nguồn lực của

mình, cũng như tạo được uy tín trong KD với tất cả những khách hàng đang và

có nhu cầu hợp tác với công ty Công ty không những tổ chức tốt hoạt động kinh

doanh, đảm bảo thoả mãn mọi nhu cầu của các ngành kinh tế và đời sống xã hội

mà còn đẩy nhanh quá trình nâng cấp, cải tạo cơ sở vật chất kỹ thuật, đổi mới

phong cách và phương thức dịch vụ Công ty luôn hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế

kỹ thuật và nhiệm vụ chính trị giao cho, làm tròn nghĩa vụ với ngân sách Nhà

nước, ổn định và cải thiện đời sống cán bộ công nhân viên đưa công ty phát triển

và trở thành một công ty mạnh

Do hoạt động kinh doanh của công ty đạt hiệu quả cao, cơ sở vật chất được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, tạo đủ công ăn việc làm cho cán

bộ công nhân viên, thu nhập và đời sống cán bộ công nhân viên không ngừng cải

thiện và nâng cao

2.1.2.2 Đặc điểm bộ máy quản lý của công ty

Hội đồng thành viênGiám đốc

Phó giám đốc

Trang 34

Sơ đồ 2.0.Sơ đồ bộ máy quản lý của công ty

* Chức năng và nhiệm vụ các phòng ban:

- Đứng đầu công ty là Hội đồng thành viên, sau đó là giám đốc công ty và phó giám đốc Đứng đầu các phòng ban là trưởng phòng, đội trưởng quản đốc chịu trách nhiện quản lý hoạt động của phòng mình dưới sự chỉ đạo trực tiếp của giám đốc phó giám đốc

- Bộ phận văn phòng: Có chức năng, vai trò là bộ phận chịu trách nhiệm trong các công việc về thủ tục pháp lý, quản lý hồ sơ công ty, hồ sơ cá nhân, quản lý chế độ, chính sách của người lao động, báo cáo thường niên với sở lao động thương binh xã hội, và các đơn vị nhà nước có liên quan khác

- Phòng kỹ thuật: Tham mưu cho Giám đốc quản lý các lĩnh vực sau:

+ Công tác quản lý và giám sát kỹ thuật, chất lượng;

+ Công tác quản lý Vật tư, thiết bị;

+ Công tác quản lý an toàn, lao động, vệ sinh môi trường tại các dự án;

Trang 35

+ Công tác soát xét, lập, trình duyệt thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công kiểm định chất lượng thi công, chất lượng công trình.

+ Soát xét trình duyệt hồ sơ hoàn công công trình;

+ Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc giao

+ Xây dựng trình Giám đốc kế hoạch và chương trình làm việc của đơn vị mình được quy định tại mục a, đảm bảo đúng quy định, chất lượng và hiệu quả của công tác tham mưu;

+ Bảo đảm tuân thủ theo quy định của Công ty và pháp luật của Nhà nước trong quá trình thực hiện công việc;

+ Thường xuyên báo cáo Giám đốc việc thực hiện các nhiệm vụ được giao;

+ Bảo quản, lưu trữ, quản lý hồ sơ tài liệu, …thuộc công việc của phòng theo đúng quy định, quản lý các trang thiết bị, tài sản của đơn vị được Công ty giao;+ Chịu trách nhiệm trước Giám đốc và trước pháp luật về việc thực hiện các nhiệm vụ nêu trên

- Phòng đấu thầu và quản lý dự án: Tham mưu cho Tổng giám đốc trong lĩnh

vực kinh doanh

+ Lập các kế hoạch Kinh doanh và triển khai thực hiện

+ Quản lý chi phí vật tư, nhiên nguyên vật liệu

+ Quản lý doanh thu,công nợ khách hàng

+ Soạn thảo hợp đồng kinh tế, hợp đồng mua bán, góp vốn…

2.1.3 Đặc điểm về tổ chức công tác kế toán tại công ty cổ phần xây dựng công trình Đức Công

2.1.3.1 Tổ chức bộ máy kế toán.

Công ty thực hiện mô hình bộ máy kế toán tập trung Xuất phát từ đặc điểm tính chất hoạt động kinh doanh và tổ chức bộ máy quản lý ở trên phù hợp với

điều kiện và trình độ quản lý công ty áp cổ phần xây dựng công trình Đức Công

áp dụng hình thức bộ máy kế toán tập trung , hầu hết mọi công việc kế toán thực hiện ở phòng kế toán trung tâm từ khoản thu nhập , kiểm tra chứng từ ghi sổ đến khâu tổng hợp, lập báo cáo kế toán từ kế toán chi tiết đến kế toán tổng hợp

Công ty cổ phần xây dựng công trình Đức Công đã đi vào hoạt động với tổ

chức bộ máy kế toán thể hiện qua mô hình sau:

Kế toán tổng hợp

Kế toán công nợThủ quỹ

Kế toán tiền lươngKế toán trưởng

Kế toán thuế

Trang 36

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty cổ phần xây dựng công

trình Đức Công

Qua sơ đồ trên ta thấy nhiệm vụ của từng công việc kế toán là:

- Kế toán trưởng: Là người có quyền hạn cao nhất trong bộ máy kế toán Định

kỳ kế toán trưởng phân tích tình hình kế toán, lập báo cáo tài chính, xét duyệt các chứng từ chi tiêu phục vụ cho công việc sản xuất kinh doanh

+ Tham gia các hoạt động điều hành kế toán tài chinh của Công ty

+ Tổ chức công tác kiểm tra, kiểm soát các chứng từ, sổ sách, báo cáo số liệu,dữ liệu theo quy định cuả Công ty, đảm bảo tính chính xác, đầy đủ và kịp thời.+ Phân tích, đánh giá hiệu quả kinh doanh và hoạt động tài chính của Công ty, tham mưu với Ban Giám đốc các chính sách kinh doanh, công tác quản lý nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty

+ Chịu trách nhiệm về việc lập, ký, tính chính xác của báo cáo kế toán và gửi đi đúng thời gian quy định của Công ty và pháp lệnh kế toán thống kê

-Kế toán tổng hợp kiêm thuế:

+ Lập báo cáo và hóa đơn thuế hàng tháng

- Kế toán công nợ: Ghi chép và theo dõi các khoản công nợ, tạm ứng tiền mặt

phát sinh, tiền gửi ngân hàng, các khoản phải nộp cũng như các khoản phải thanh toán với các đối tượng khác

- Kế toán tiền lương, BHXH và các khoản phải thu: Theo dõi ghi chép và phản

ánh đầy đủ kịp thời về số lượng và chất lượng, thời gian và kết quả lao động, tính toán các khoản tiền lương, BHXH, BHYT, KPCĐ và các khoản trợ cấp khác phảI trả cho công nhân viên, đồng thời theo dõi việc trích lập các quỹ của Công ty

Ngày đăng: 14/04/2016, 09:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.3: Hạch toán trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất - Thực trạng tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần xây dựng công trình đức công
Sơ đồ 1.3 Hạch toán trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất (Trang 24)
Bảng   tổng   hợp   chi - Thực trạng tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần xây dựng công trình đức công
ng tổng hợp chi (Trang 25)
Bảng kê - Thực trạng tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần xây dựng công trình đức công
Bảng k ê (Trang 26)
Bảng   tổng   hợp   chứng - Thực trạng tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần xây dựng công trình đức công
ng tổng hợp chứng (Trang 27)
Sơ đồ 1.7: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán chứng từ ghi sổ - Thực trạng tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần xây dựng công trình đức công
Sơ đồ 1.7 Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán chứng từ ghi sổ (Trang 28)
Bảng   tổng  hợp chi tiết Báo cáo tài chính - Thực trạng tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần xây dựng công trình đức công
ng tổng hợp chi tiết Báo cáo tài chính (Trang 29)
Sơ đồ 1.9: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán trên máy vi tính - Thực trạng tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần xây dựng công trình đức công
Sơ đồ 1.9 Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán trên máy vi tính (Trang 30)
Bảng 2.1.Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2014-20 - Thực trạng tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần xây dựng công trình đức công
Bảng 2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2014-20 (Trang 32)
Hình thức tiền lương tính theo thời gian có nhiều hạn chế vì lương tính trả cho  người lao động chưa đảm bảo đây đủ nguyên tác phối theo lao động vì chưa tính  đến một cách đầy đủ chất lượng lao động ,do đó chưa phát huy đầy đủ chức năng  đòn bẩy trong tế - Thực trạng tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần xây dựng công trình đức công
Hình th ức tiền lương tính theo thời gian có nhiều hạn chế vì lương tính trả cho người lao động chưa đảm bảo đây đủ nguyên tác phối theo lao động vì chưa tính đến một cách đầy đủ chất lượng lao động ,do đó chưa phát huy đầy đủ chức năng đòn bẩy trong tế (Trang 39)
BẢNG CHẤM CÔNG Tháng 11 năm 2015 - Thực trạng tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần xây dựng công trình đức công
h áng 11 năm 2015 (Trang 45)
BẢNG THANH TOÁN TIỀN LƯƠNG BỘ PHẬN VĂN PHÒNG - Thực trạng tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần xây dựng công trình đức công
BẢNG THANH TOÁN TIỀN LƯƠNG BỘ PHẬN VĂN PHÒNG (Trang 46)
BẢNG CHẤM CÔNG Tháng 11 năm 2015 - Thực trạng tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần xây dựng công trình đức công
h áng 11 năm 2015 (Trang 47)
Bảng 2.13..Bảng tổng hợp thanh toán tiền lương - Thực trạng tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần xây dựng công trình đức công
Bảng 2.13.. Bảng tổng hợp thanh toán tiền lương (Trang 51)
Bảng 2.14.Bảng thanh toán trợ cấp BHXH - Thực trạng tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần xây dựng công trình đức công
Bảng 2.14. Bảng thanh toán trợ cấp BHXH (Trang 54)
Bảng   PBL - Thực trạng tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty cổ phần xây dựng công trình đức công
ng PBL (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w