Phương pháp sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học bắt nguồn từ sự vận dụng các lí luận và nguyên tắc của các phương pháp luận, tạo ra các mối quan hệ về nội dung kiến thức theo yêu cầu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN QUỲNH MAI
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC “CHƯƠNG 1: CƠ CHẾ DI TRUYỀN
VÀ BIẾN DỊ” - SINH HỌC 12, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN QUỲNH MAI
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC “CHƯƠNG 1: CƠ CHẾ DI TRUYỀN
VÀ BIẾN DỊ” - SINH HỌC 12, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Sinh học
Mã số: 60.14.01.11
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thế Hưng
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Bằng tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm
ơn thầy PGS.TS Nguyễn Thế Hưng đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn tất cả các Thầy, Cô trong tổ bộ môn Lí luận
và phương pháp dạy học Sinh học, các Thầy, Cô trong Khoa Sư phạm trường Đại học Giáo dục, ĐHQG Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các Thầy, Cô giáo và các
em học sinh ở trường THPT A Thanh Liêm – Hà Nam đã đã nhiệt tình giúp
đỡ, tạo điều kiện và cộng tác có hiệu quả, đóng góp vào sự thành công của luận văn này
Xin bày tỏ lòng biết ơn với gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành khóa học và thực hiện tốt luận văn này
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Quỳnh Mai
Trang 4CÁC CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Các chữ viết tắt dùng trong luận văn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vi
Danh mục các biểu đồ vii
Danh mục các sơ đồ viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1 Cơ sở lí luận 7
1.1.1 Khái niệm về sơ đồ, bảng biểu và sơ đồ, bảng biểu dạy học 7
1.1.2 Vai trò của sơ đồ, bảng biểu trong dạy học Sinh học ở trường THPT 8
1.1.3 Những ưu điểm của phương pháp dạy học bằng sơ đồ, bảng biểu 13
1.1.4 Một số yêu cầu khi sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học Sinh học THPT 16
1.2 Cơ sở thực tiễn 17
1.2.1 Thực trạng dạy và học chương “Cơ chế di truyền và biến dị” – Sinh học 12 THPT 17
1.2.2 Nguyên nhân 21
CHƯƠNG II: 24THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC “CHƯƠNG 1: CƠ CHẾ DI TRUYỀN VÀ BIẾN DỊ” – SINH HỌC 12 THPT 24
2.1 Phân tích cấu trúc, nội dung chương “Cơ chế di truyền và biến dị” – Sinh học 12 THPT 24
2.1.1 Về cấu trúc 24
2.1.2 Về nội dung 25
2.2 Các dạng sơ đồ, bảng biểu được xây dựng cho phần kiến thức “Chương 1: Cơ chế di truyền và biến dị” – Sinh học 12 THPT 26
2.2.1 Cơ sở để xác lập sơ đồ, bảng biểu 26
2.2.2 Các loại sơ đồ, bảng biểu sử dụng trong dạy học Sinh học ở trường THPT 28
2.3 Nguyên tắc xây dựng sơ đồ, bảng biểu để dạy học kiến thức mới và ôn tập chương 33
Trang 62.3.2 Nguyên tắc thống nhất giữa toàn thể và bộ phận 33
2.3.3 Nguyên tắc thống nhất giữa cụ thể và trừu tượng 34
2.3.4 Nguyên tắc thống nhất giữa dạy và học 34
2.3.5 Nguyên tắc phát huy tính tích cực của học sinh, nâng dần khả năng hệ thống hóa kiến thức từ dễ đến khó 35
2.3.6 Nguyên tắc đảm bảo tính logic trong chương Cơ chế di truyền và biến dị - Sinh học 12 THPT 35
2.4 Quy trình thiết lập các sơ đồ, bảng biểu để dạy học chương “Cơ chế di truyền và biến dị” – Sinh học 12 THPT 36
2.4.1 Quy trình thiết lập sơ đồ, bảng biểu 36
2.4.2 Các kiến thức cần được lập sơ đồ, bảng biểu trong “Chương 1: Cơ chế di truyền và biến dị” – Sinh học 12 THPT 41
2.5 Nguyên tắc sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào dạy kiến thức mới và ôn tập chương 52
2.5.1 Nguyên tắc thống nhất giữa mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học 52
2.5.2 Nguyên tắc thống nhất giữa sơ đồ, bảng biểu nội dung và sơ đồ, bảng biểu hoạt động 52
2.6 Quy trình và biện pháp sử dụng sơ đồ, bảng biểu để dạy học bài mới “Chương 1: Cơ chế di truyền và biến dị” – Sinh học 12 THPT 53
2.6.1 Quy trình sử dụng 53
2.6.2 Biện pháp sử dụng 54
2.7 Thiết kế một số giáo án “Chương 1: Cơ chế di truyền và biến dị” – Sinh học 12 THPT dựa trên việc sử dụng các dạng sơ đồ, bảng biểu 57
CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 90
3.1 Mục đích của thực nghiệm 90
3.2 Nội dung thực nghiệm 90
3.3 Phương pháp thực nghiệm 90
3.3.1 Thời gian thực nghiệm 90
3.3.2 Chọn trường, chọn lớp thực nghiệm 90
3.3.3 Bố trí thực nghiệm 91
3.3.4 Các bước thực nghiệm 91
Trang 73.4.1 Về mặt định lượng 91
3.4.2 Về mặt định tính 93
3.5 Kết quả thực nghiệm 93
3.5.1 Phân tích định lượng các bài kiểm tra 93
3.5.2 Phân tích định tính các bài kiểm tra 98
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 103
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Kết quả điều tra về việc học tập của học sinh 17
Bảng 1.2: Kết quả điều tra việc sử dụng các phương pháp dạy học Sinh học của giáo viên trường THPT Thanh Liêm A 19
Bảng 1.3: Kết quả điều tra việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong giáo án dạy học chương Cơ chế di truyền và biến dị 19
Bảng 1.4: Kết quả điều tra việc sử dụng phương pháp dạy học bằng sơ đồ, bảng biểu trong các khâu giảng dạy chương Cơ chế di truyền và biến dị 20
Bảng 2.1: Bảng phân phối chương trình giảng dạy cho từng bài của chương Cơ chế di truyền và biến dị - Sinh học 12 THPT 24
Bảng 2.2: Bảng so sánh về cấu trúc và chức năng của 3 loại ARN 31
Bảng 2.3: Tìm hiểu cấu trúc chung của gen cấu trúc 32
Bảng 2.4: Cơ chế hoạt động của operon Lac khi không có lactose và có lactose 32
Bảng 2.5: Các bước của quá trình nhân đôi ADN 33
Bảng 2.6: Các giai đoạn của quá trình dịch mã 40
Bảng 2.7: Trình bày cấu trúc chung của gen cấu trúc 42
Bảng 2.6: Các giai đoạn của quá trình dịch mã 43
Bảng 2.8: Cơ chế hoạt động của Operon Lac khi không có lactose và có lactose 45 Bảng 2.9: Hệ thống những kiến thức về nguyên nhân, cơ chế, hậu quả và vai trò của đột biến gen 48
Bảng 2.10: Bảng so sánh các dạng đột biến cấu trúc NST 49
Bảng 2.11: Hệ thống những kiến thức về nguyên nhân, cơ chế, hậu quả và vai trò của đột biến lệch bội 52
Bảng 3.1: Kết quả học sinh đạt điểm 𝑿𝒊 qua 3 lần kiểm tra trong thực nghiệm 93
Bảng 3.2: So sánh các tham số đặc trưng giữa lớp ĐC và TN qua 3 lần kiểm tra trong thực nghiệm 94
Bảng 3.3: Phân loại trình độ HS qua 3 lần kiểm tra trong thực nghiệm 94
Bảng 3.4: Kết quả học sinh đạt điểm 𝑿𝒊 qua 2 lần kiểm tra sau thực nghiệm 96
Bảng 3.5: So sánh các tham số đặc trưng giữa lớp ĐC và TN qua 2 lần kiểm tra sau thực nghiệm 96
Bảng 3.6: Phân loại trình độ HS qua 2 lần kiểm tra sau thực nghiệm 97
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: So sánh kết quả kiểm tra trong thực nghiệm giữa lớp đối chứng và
lớp thực nghiệm 95 Biểu đồ 3.2: So sánh kết quả kiểm tra sau thực nghiệm giữa lớp đối chứng và lớp
thực nghiệm 97
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Những kiến thức bài: “Gen, mã di truyền và quá trình nhân đôi ADN” 29
Sơ đồ 2.2: Biểu diễn mối quan hệ giữa vật chất di truyền – cơ chế di truyền và sự di truyền các tính trạng 30
Sơ đồ 2.3: Phân loại các dạng đột biến 31
Sơ đồ 2.4: Những kiến thức bài: Phiên mã và dịch mã 38
Sơ đồ 2.5: Những kiến thức bài: “Gen, mã di truyền và quá trình nhân đôi ADN” 41
Sơ đồ 2.6: Những kiến thức bài: Phiên mã và dịch mã 44
Sơ đồ 2.7: Cấu tạo Operon Lac 46
Sơ đồ 2.8: Những kiến thức bài Đột biến gen 47
Sơ đồ 2.9: Cơ sở vật chất di truyền ở cấp độ tế bào 50
Sơ đồ 2.10: So sánh các dạng đột biến đa bội 51
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó
“giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”.Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành giáo dục của chúng ta đang tiến hành công cuộc cải cách giáo dục toàn diện và rộng khắp, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo.Ngay trong Văn kiện hội nghị lần thứ 2 ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã nêu giáo dục cần phải “đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học.Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và các phương tiện hiện đại vào quá trình dạy – học”
Như vậy, định hướng đổi mới phương pháp đã được khẳng định không còn là vấn đề tranh luận.Cốt lõi đổi mới phương pháp là giúp học sinh hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Cùng với xu thế chung của phương pháp dạy học trên thế giới hiện nay là biến chủ thể nhận thức thành chủ thể hành động, giáo viên là người chỉ đạo, điều khiển để học sinh tự lĩnh hội kiến thức Quan điểm của phương pháp dạy học tích cực là: giáo viên thiết kế, học sinh thi công và quá trình dạy học là dạy cách học chứ không chỉ là dạy kiến thức Vì vậy, khi dạy học phải tăng cường phát huy tính tự tin tích cực chủ động thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh, chú trọng rèn luyện phương pháp và phát huy năng lực tự học của học sinh, dạy học phân hóa kết hợp với dạy học hợp tác Phương pháp sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học bắt nguồn từ sự vận dụng các lí luận và nguyên tắc của các phương pháp luận, tạo ra các mối quan hệ về nội dung kiến thức theo yêu cầu truyền đạt ở mức độ khoa học nhất định Đây là phương pháp có tính khái quát truyền tải cao, hình thức thể hiện tương đối ổn định Nhờ sơ đồ hóa bài học, ta có thể vừa khái quát cấu trúc nội dung, vừa trực quan và
cụ thể hóa bài giảng, từ đó ta dễ dàng điều khiển một cách tối ưu việc truyền đạt cũng như sự tiếp thu của học sinh
Lý thuyết sơ đồ, đồ thị - graph nếu được chuyển thành phương pháp dạy học đặc thù, sẽ nâng cao được chất lượng dạy học, đặc biệt có ý nghĩa trong việc tạo
Trang 12hứng thú cho người học, nâng cao năng lực tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa, khái quát hóa) cho người học [6, tr 118]
Sơ đồ, bảng biểu là phương tiện dạy học có nhiều ưu thế trong việc tích cực hóa hoạt động học tập, tạo điều kiện để học sinh tự học, phát huy khả năng sáng tạo của cả giáo viên và học sinh Việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu giúp giáo viên đổi mới phương pháp dạy học, giúp học sinh học tập tích cực Trong thực tế hiện nay, còn nhiều HS học tập một cách thụ động, chỉ đơn thuần là nhớ kiến thức một cách máy móc mà chưa rèn luyện kĩ năng tư duy HS chỉ học bài nào biết bài đấy, cô lập nội dung của các môn, phân môn mà chưa có sự liên hệ kiến thức với nhau vì vậy mà chưa phát triển được tư duy logic và tư duy hệ thống Sử dụng sơ đồ, bảng biểu giúp các em giải quyết được các vấn đề trên và nâng cao hiệu quả học tập
Nội dung kiến thức cơ chế di truyền được trình bày trong sách giáo khoa có tính trừu tượng và khái quát hóa cao trong môn Sinh học Bản chất và mối quan hệ giữa các cơ chế là quy luật vận động của vật chất di truyền (gen, nhiễm sắc thể) chi phối các cơ chế xuất hiện các dạng đột biến khác nhau Vì vậy, nếu người dạy không chú ý khái quát thì việc dạy học mang tính giáo điều, khó xác lập mối quan
hệ tổng thể giữa các cơ chế di truyền và biến dị với nhau
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn và nghiên cứu đề tài “Thiết kế
và sử dụngsơ đồ, bảng biểu để nâng cao chất lượng dạy học “Chương 1: Cơ chế
di truyền và biến dị”- Sinh học 12, Trung học phổ thông”
2 Lịch sử nghiên cứu
Sơ đồ, bảng biểu và việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình dạy học không phải là một vấn đề thực sự mới Đã có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về vấn đề này Chúng ta có thể kể đến một số bài viết, công trình nghiên cứu sau đây
Theo Bạch Thị Lan Anh (2013) có bài viết Giới thiệu phương pháp dạy học theo sơ đồ, trong bản tin khoa học, tác giả đã đưa ra cách hiểu sơ đồ hóa kiến thức
là một trong những hình thức trực quan của quá trình dạy học Sơ đồ, mô hình là hình ảnh có tính biểu tượng được xây dựng trên các sự vật, các yếu tố trong cấu trúc
sự vật và mối liên hệ giữa các yếu tố đó dưới dạng trực quan cảm tính (quan sát được, cảm nhận được) Sơ đồ tạo thành một tổ chức hình khối phản ánh cấu trúc và
Trang 13logic bên trong của một khối lượng kiến thức một cách khái quát, súc tích và trực quan cụ thể, nhằm giúp cho người học nắm vững một cách trực tiếp, khái quát những nội dung cơ bản, đồng thời qua đó phát triển năng lực nhận thức cho người học [1, tr.1]
Với bài viết Xây dựng và sử dụng sơ đồ để dạy học chương Tính quy luật của hiện tượng Di truyền – Sinh học 12 THPT, Luận văn Thạc sỹ khoa học Giáo dục,
Hà Nội của tác giả Ngô Thị Tuyết Nhung đã đưa ra khái niệm về sơ đồ, sơ đồ dạy học và đi sâu vào nghiên cứu nguyên tắc thiết lập, quy trình thiết lập, nguyên tắc sử dụng, quy trình sử dụng sơ đồ để dạy học Sau đó, người viết đưa ra hiệu quả nghiên cứu của việc sử dụng sơ đồ trong quá trình dạy học Sinh học Tác giả đã chỉ
ra việc sử dụng sơ đồ trong quá trình dạy học Sinh học đã mang lại hiệu quả trong việc kích thích được tư duy của học sinh, hướng tư duy vào tìm tòi, phát hiện những vấn đề cần khám phá trong quá trình học tập dựa trên việc khai thác kiến thức từ sách giáo khoa
Tác giả Mai Thị Lan Anh trong bài viết Xây dựng và sử dụng bảng hệ thống trong dạy học di truyền học ở trường dự bị Đại học Dân tộc Trung Ương, Luận văn
Thạc sỹ khoa học Giáo dục, Hà Nội Tác giả cũng đã đề cập đến việc sử dụng phương tiện trực quan trong hoạt động dạy và học trong đó có sử dụng bảng biểu mang lại hiệu quả trong việc phát huy tính sáng tạo của học sinh, đặc biệt là đánh thức khả năng tư duy của các em
Ngoài ra, chúng ta phải kể đến những công trình nghiên cứu khác như:
Bài viết Rèn luyện học sinh kỹ năng lập bảng hệ thống trong dạy học Sinh học 10 THPT, Luận văn thạc sỹ khoa học, chuyên ngành lí luận và phương pháp
dạy học Sinh học, Đại học sư phạm Hà Nội của tác giả Hồ Thị Hồng Vân
Tác giả Hứa Thị Bình Thức với bài viết Sử dụng sơ đồ rèn luyện cho học sinh kỹ năng hệ thống hóa kiến thức trong dạy học Sinh học 10 THPT, Luận văn
thạc sỹ khoa học, chuyên ngành lí luận và phương pháp dạy học Sinh học, Đại học
sư phạm Hà Nội
Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết về sơ đồ, bảng biểu, sơ đồ tư duy, Graph và việc sử dụng các phương tiện dạy học trực quan trong
Trang 14Kết quả nghiên cứu trong các công trình trên là gợi ý quý báu để chúng tôi
đặt vấn đề nghiên cứu “Thiết kế và sử dụng sơ đồ, bảng biểu để nâng cao chất
lượng dạy học “Chương 1: Cơ chế di truyền và biến dị” - Sinh học 12, Trung
học phổ thông”
3 Mục đích nghiên cứu
Thiết kế và sử dụngsơ đồ, bảng biểu để phát triển năng lực tư duy logic, năng lực giải quyết vấn đề, nâng cao chất lượng dạy học “Chương 1: Cơ chế di truyền và biến dị”- Sinh học 12, Trung học phổ thông
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng: Thiết kế sơ đồ, bảng biểu trong dạy học chương “Cơ chế di truyền và biến dị” – Sinh học 12 THPT
- Khách thể nghiên cứu: Qúa trình dạy học Sinh học 12 THPT
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích toàn bộ, hệ thống hóa cơ sở lí luận về việc thiết kế và sử dụng sơ
đồ, bảng biểu trong dạy học Sinh học 12
- Điều tra thực trạng dạy học chương “Cơ chế di truyền và biến dị” – Sinh học
12 THPT bằng sơ đồ, bảng biểu ở trường THPT Thanh Liêm A – Hà Nam
- Phân tích cấu trúc, nội dung, xác định mục tiêu dạy học chương “Cơ chế di truyền và biến dị” – Sinh học 12 THPT làm cơ sở cho đề tài
- Đề xuất nguyên tắc, quy trình thiết kế và sử dụng sơ đồ, bảng biểu
- Hiện thực hóa bằng các giáo án để thực nghiệm sư phạm thông qua thiết kế các
sơ đồ, bảng biểu để dạy học chương “Cơ chế di truyền và biến dị” – Sinh học 12 THPT
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra giả thuyết của đề tài, đánh giá kết quả của các bài giảng bằng việc sử dụng bảng, sơ đồ, biểu đồ thông qua phân tích định lượng
và định tính kết quả học tập của người học để khẳng định tính khả thi của giả thiết
6 Giả thuyết khoa học
Việc thiết kế và sử dụng các sơ đồ, bảng biểu trong dạy học “Chương 1: Cơ chế di truyền và biến dị” – Sinh học 12 THPT có ý nghĩa trong việc phát huy năng lực tư duy của người học và nâng cao chất lượng dạy học Sinh học
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Trang 15Nghiên cứu các tài liệu về chủ trương đường lối của Đảng, các văn bản chỉ đạo của ngành về đổi mới nội dung, phương pháp dạy học hiện nay
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan đến việc thiết kế và sử dụng sơ đồ, bảng biểu để nâng cao chất lượng dạy học
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nghiên cứu phân tích nội dung chương trình SGK Sinh học 12, đặc biệt là chương “Cơ chế di truyền và biến dị” – Sinh học 12 THPT
Điều tra chất lượng và phương pháp dạy học chương “Cơ chế di truyền và biến dị”: Dự giờ và trao đổi với giáo viên phổ thông để tìm hiểu thực trạng việc xây dựng và sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học chương “Cơ chế di truyền và biến dị” – Sinh học 12 THPT
7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm trên hai nhóm đối tượng học sinh (đối chứng
và thực nghiệm) ở THPT Thanh Liêm A (tỉnh Hà Nam) để đánh giá tính hiệu quả của việc thiết kế và sử dụng sơ đồ, bảng biểu để dạy học “Chương 1: Cơ chế di truyền và biến dị” – Sinh học 12 THPT
7.4 Phương pháp xử lí thống kê
Các số liệu điều tra cơ bản được xử lí thống kê toán học và biểu diễn bằng biểu
đồ và bảng
Các số liệu kiểm tra – đánh giá chất lượng lớp thực nghiệm và đối chứng được
xử lý bằng toán thống kê để so sánh các tham số đặc trưng (phương sai, độ lệch chuẩn và trị số trung bình) trên cơ sở đó rút ra nhận xét về tính hiệu quả và tính khả thi của đè tài
Sử dụng một số thuật toán để xử lí các kết quả điều tra và thực nghiệm sư phạm [5]
8 Đóng góp mới của đề tài
- Hệ thống hóa được cơ sở lí luận và thực tiễn của việc thiết kế và sử dụngsơ
đồ, bảng biểu trong dạy học Sinh học THPT
- Thiết kế được một số sơ đồ, bảng biểu để sử dụng trong dạy học chương “Cơ chế di truyền và biến dị” nhằm nâng cao chất lượng dạy học Sinh học
9 Cấu trúc luận văn
Trang 16Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương I: Cơ sơ lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương II: Xây dựng và sử dụng sơ đồ, bảng biểu để dạy học chương “Cơ chế
di truyền và biến dị” – Sinh học 12 THPT
Chương III:Thực nghiệm sư phạm
Trang 17CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái niệm về sơ đồ, bảng biểu và sơ đồ, bảng biểu dạy học
Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (Nhà xuất bản Đà Nẵng - 2009) đã đưa ra khái niệm về sơ đồ và bảng biểu như sau:
Sơ đồ là những hình vẽ quy ước có tính chất sơ lược nhằm mô tả đặc trưng nào đó của đối tượng hay quá trình nào đó
Sơ đồ dạy học là loại sơ đồ mô tả một nội dung kiến thức nào đó được sử dụng làm phương tiện trực quan trong quá trình dạy học
Bảng biểu là bảng thường có cột và hàng dùng để kê một nội dung nào đó theo thứ tự, cách thức nhất định Còn biểu là bảng kê danh mục, số liệu để làm căn
cứ đối chiếu
Bảng biểu dạy học: là một phương tiện dạy học gồm các cột và các hàng được bố trí trên một mặt phẳng thể hiện mối liên hệ Trên một bảng biểu thể hiện mối quan hệ giữa các cột, các hàng
Theo Bạch Thị Lan Anh (2013) có bài viết Giới thiệu phương pháp dạy học theo sơ đồ, trong bản tin khoa học, tác giả đã đưa ra cách hiểu sơ đồ hóa kiến thức
là một trong những hình thức trực quan của quá trình dạy học Sơ đồ, mô hình là hình ảnh có tính biểu tượng được xây dựng trên các sự vật, các yếu tố trong cấu trúc
sự vật và mối liên hệ giữa các yếu tố đó dưới dạng trực quan cảm tính (quan sát được, cảm nhận được) Sơ đồ tạo thành một tổ chức hình khối phản ánh cấu trúc và logic bên trong của một khối lượng kiến thức một cách khái quát, súc tích và trực quan cụ thể, nhằm giúp cho người học nắm vững một cách trực tiếp, khái quát những nội dung cơ bản, đồng thời qua đó phát triển năng lực nhận thức cho người học [1, tr.1]
Với phương tiện dạy học bằng sơ đồ, bảng biểu dưới sự điều khiển và hướng dẫn của giáo viên, tính tích cực học tập của học sinh được phát huy Học sinh sẽ hứng thú, chủ động khám phá và lĩnh hội kiến thức Đồng thời tính sáng tạo, khả
Trang 18năng hoạt động độc lập và hợp tác của học sinh cũng sẽ được rèn luyện, đáp ứng được mục tiêu của sự nghiệp giáo dục và đào tạo trong thời kì đổi mới
1.1.2 Vai trò của sơ đồ, bảng biểu trong dạy học Sinh học ở trường THPT
Quá trình dạy học được cấu thành từ hoạt động quan hệ qua lại giữa thầy và trò Phương pháp dạy học phải phản ánh mối quan hệ qua lại giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Để phát huy cao nhất tính tích cực nhận thức của
HS, thì người GV phải biết cách tổ chức các hoạt động học tập trong dạy học cho phù hợp với nội dung cụ thể của tri thức, đặc trưng riêng của từng môn học và bản thân HS
Với đặc thù của bộ môn Sinh học là một môn học nghiên cứu các đối tượng sống, nên việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu sẽ có ưu thế lớn, thể hiện:
1.1.2.1 Đối với giáo viên
-Sử dụng sơ đồ, bảng biểu giúp cho cấu trúc nội dung của bài giảng trở nên hợp lí
và khoa học hơn
Về bản chất sơ đồ, bảng biểu sử dụng trong dạy học sẽ thể hiện được các phần nội dung của bài giảng một cách cô đọng thông qua cấu trúc nội dung của sơ đồ, bảng biểu Như vậy, sơ đồ, bảng biểu có thể coi như là một công cụ giúp cho công việc soạn giảng của GV được tốt hơn, trong việc chuyển hóa nội dung tài liệu giáo khoa thành nội dung của bài soạn giảng.Cấu trúc nội dung của sơ đồ, bảng biểu cũng thể hiện được trình tự logic của nội dung bài giảng Mối quan hệ giữa các yếu
tố được thể hiện một cách tiềm ẩn qua cấu trúc nội dung của sơ đồ, bảng biểu
- Sơ đồ, bảng biểu sẽ giúp cho GV có một kế hoạch thực hiện tiết dạy lên lớp được tốt hơn
Sau khi đã thiết kế một sơ đồ, bảng biểu thể hiện cô đọng cấu trúc nội dung bài giảng, GV cần phải cân nhắc, lựa chọn phương pháp thực hiện khai thác và sử dụng
sơ đồ, bảng biểu đó như thế nào để làm rõ nội dung của bài giảng Cụ thể là phải sử dụng hình thức tổ chức dạy học (cá nhân, nhóm hay cả lớp), các bước lên lớp, hệ thống câu hỏi, phương pháp dạy học sao cho phù hợp với loại sơ đồ, bảng biểu và đối tượng HS Từ định hướng phương thức thực hiện, GV tiếp tục phân bố thời lượng cho từng công việc, từng phần nội dung và các bước tiến hành sao cho hợp lí
Trang 19Như vậy, việc sử dụng sơ đồ bảng biểu đã giúp cho GV có được một kế hoạch lên lớp rõ ràng chi tiết không quá tỉ mỉ hoặc không quá sơ sài về cấu trúc và nội dung của bài soạn giảng, đáp ứng được yêu cầu của khâu thiết kế một bài soạn theo tinh thần đổi mới hiện nay
- Sơ đồ, bảng biểu góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên
Bài soạn giảng thực chất là một kế hoạch thực hiện một tiết lên lớp của người GV Để kế hoạch ấy thật khoa học, chi tiết và phù hợp với đối tượng, đòi hỏi người GV phải nghiên cứu kĩ các nguồn tài liệu, mục tiêu và kiến thức cơ bản của nội dung bài giảng đã được xác định Người GV bắt đầu lựa chọn loại sơ đồ, bảng biểu rồi thiết kế sơ đồ sao cho phù hợp với mỗi phần nội dung của bài giảng Sơ đồ, bảng biểu phải thực sự trở thành phương tiện dạy học trực quan, chứa đựng những kiến thức sinh học tiềm ẩn, dựa vào đó để làm rõ nội dung bài giảng Để giải quyết vấn đề đó hiệu quả, đòi hỏi người GV phải đầu tư vào đào sâu suy nghĩ và lựa chọn phương án giải quyết bằng hệ thống các câu hỏi để làm rõ nội dung của sơ đồ, bảng biểu; tổ chức hoạt động học tập sao cho hợp lí.Quá trình nghiên cứu tài liệu tham khảo để làm rõ nội dung sơ đồ - nội dung bài giảng góp phần nâng cao trình độ và chuyên môn nghiệp vụ của người GV
- Sơ đồ còn là phương tiện dùng để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS
Trong quá trình dạy kiến thức mới và củng cố hoàn thiện kiến thức nếu rèn luyện được cho HS lập sơ đồ để tăng cường tính tự học và phát triển tư duy của HS Việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS vừa có tác dụng gợi nhớ kiến thức, vừa giúp cho HS rèn luyện kỹ năng khai thác sơ đồ, bảng biểu và tư duy cũng sẽ được khai thác
1.1.2.2 Đối với việc dạy học Sinh học ở trên lớp
- Sơ đồ, bảng biểu góp phần hoàn thành nội dung bài giảng theo đúng mục tiêu đã định tiết kiệm thời gian và công sức
Qua thực tế cho thấy, trong sách giáo khoa Sinh học ở bậc THPT hiện nay lượng nội dung kiến thức của khá nhiều bài bị quá tải so với thời lượng của một tiết học ở trên lớp Theo quy định, một tiết học trên lớp chỉ có 45 phút nhưng thời gian
ổn định tổ chức, kiểm tra bài cũ, đánh giá và hoạt động nối tiếp đã hết khoảng 10
Trang 20phút Như vậy, thời lượng chỉ còn khoảng 35 phút để thực hiện nội dung bài giảng
Vì vậy, tình trạng “chạy” để hoàn thành chương trình đã xảy ra khá phổ biến
Sử dụng sơ đồ, bảng biểu tận dụng tối đa những từ khóa và những hình vẽ sinh động sáng tạo Một khối lượng kiến thức lớn, phong phú vẫn có thể cấu trúc lại bằng một sơ đồ, một bảng biểu hết sức ngắn gọn, cô đọng, súc tích mà không bỏ sót bất cứ thông tin nào quan trọng Đồng thời tất cả những kiến thức cơ bản trọng tâm của bài học sẽ được khắc sâu, dễ dàng xâu chuỗi các dấu hiệu bản chất của đối tượng Khi cần tái hiện không cần mất quá nhiều thời gian và công sức để tìm hiểu, mà chỉ cần
sử dụng một sơ đồ, bảng biểu thể hiện toàn bộ kiến thức một toàn bộ kiến thức một cách nhanh chóng đầy đủ và chính xác Việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu sẽ giúp cho
GV tiết kiệm thời gian và công sức mà hiệu quả không hề giảm sút
-Sơ đồ, bảng biểu còn là một loại phương tiện trực quan dùng để hình thành các khái niệm Sinh học rất hiệu quả, nhất là những khái niệm trừu tượng
Con đường để hình thành khái niệm Sinh học rất phong phú và đa dạng với nhiều phương pháp dạy học khác nhau Nhưng cũng có nhiều khái niệm, nhất là những khái niệm trừu tượng, việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu sẽ là con đường mang lại hiệu quả cao, giúp HS hiểu và tiếp thu các khái niệm một cách nhẹ nhàng, bền vững Trong trường hợp những khái niệm trừu tượng, sơ đồ, bảng biểu sẽ trở thành những loại phương tiện trực quan để hình thành khái niệm hiệu quả nhất Bởi lẽ, sơ
đồ, bảng biểu có thể khái quát các đặc điểm cơ bản, bản chất của các sự vật hiện tượng Sinh học Thông qua việc khai thác sơ đồ, bảng biểu cùng với các thao tác tư duy logic (so sánh, suy diễn, quy nạp, phân tích tổng hợp…) các khái niệm Sinh học
sẽ được hình thành
- Sơ đồ, bảng biểu còn là một loại phương tiện trực quan tư duy Sinh học
Chúng ta có thể hiểu về phương tiện trực quan như sau: Phương tiện trực quan là những phương tiện được sử dụng trong hoạt động dạy và học, có vai trò là công cụ
để người giáo viên tác động vào đối tượng; có chức năng khơi dậy, dẫn truyền, làm tăng khả năng hoạt động của các giác quan, góp phần tạo nên chất liệu cảm tính của đối tượng nhận thức nhằm đạt được các mục đích dạy học cụ thể
Hay nói cách khác, cấu trúc nội dung của sơ đồ, bảng biểu sẽ giúp HS có một tư duy định hướng Tư duy đó sẽ được khai thác, phát triển và kiểm định bằng việc
Trang 21phân tích sơ đồ, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, thông qua các hoạt động học tập của HS
- Sơ đồ, bảng biểu là một loại phương tiện để hệ thống hóa kiến thức cơ bản, giúp cho việc củng cố nội dung bài giảng và tổng kết, ôn tập, đem lại hiệu quả cao
Việc tổng kết, ôn tập để kiểm tra là một khâu quan trọng trong quá trình dạy học Sinh học Lượng kiến thức của một tiết học ôn tập khá nhiều, đòi hỏi người GV phải lựa chọn phương thức ôn tập sao cho phù hợp và đem lại hiệu quả Đó cũng chính là vấn đề rất nan giải đối với nhiều GV ở các trường phổ thông hiện nay.Sử dụng sơ đồ, bảng biểu để tổng kết, ôn tập kiểm tra sẽ là một trong những phương pháp mang lại hiệu quả cao Vì lượng kiến thức nhiều như thế thì chỉ có sơ đồ mới
có thể khái quát hóa được hết tất cả những nội dung ôn tập Hay nói cách khác, sơ
đồ, bảng biểu là phương tiện dạy học tối ưu giúp cho chúng ta hoàn thành mục tiêu của những tiết ôn tập trên lớp
Sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình dạy học sẽ góp phần hoàn thiện việc tổ chức hoạt động dạy học ở trên lớp Giúp cho GV có một phương pháp tổ chức và điều khiển hoạt động học tập của HS theo hướng tích cực, phát huy được năng lực, tính sáng tạo và chủ động lĩnh hội kiến thức, tạo nên một bầu không khí học tập thoải mái và hiệu quả
1.1.2.3 Đối với việc học tập của học sinh
Sử dụng sơ đồ, bảng biểu có tác dụng rèn luyện ở HS những phẩm chất trí tuệ sau đây:
- Góp phần giúp cho HS hiểu và nắm vững các khái niệm Sinh học một cách nhẹ nhàng hơn, nhất là đối với những khái niệm khó Rèn cho HS phương pháp tư duy khái quát có khả năng chuyển tải thông tin cao, chúng được hình thành trên cơ sở môn học, nếu HS nắm vững chúng thì các em có thể sử dụng trong môn học khác, thậm chí vượt ra ngoài cả phạm vi học tập ở trường học Để làm được điều đó HS cần phải nắm vững được những đặc điểm, bản chất của sự vật, hiện tượng Sinh học
- Giúp cho HS phát triển tư duy, hình thành thói quen tư duy Sinh học Thông qua những tiết dạy trên lớp, với hệ thống câu hỏi sử dụng trong việc khai thác và phân tích sơ đồ, bảng biểu để giải quyết vấn đề, nhất là những câu hỏi: Vì sao? Tại sao? Như thế nào? Để trả lời được những câu hỏi đó đòi hỏi HS phải suy nghĩ vận
Trang 22dụng kiến thức đã học và kiến thức thực tế để tìm ra thông tin cần thiết trả lời cho đúng nội dung yêu cầu của câu hỏi Khi đó tư duy của các em sẽ được khai thác và phát huy Cứ như thế, dần dần thói quen tư duy Sinh học của HS sẽ được hình thành
- Rèn luyện kỹ năng xác định nội dung yêu cầu và biết cách trình bày một vấn
đề Đây là một trong những kỹ năng cơ bản, một việc làm cần thiết đối với HS Sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học Sinh học nội dung bài giảng sẽ lần lượt được giải quyết theo trình tự cấu trúc nội dung của sơ đồ, bảng biểu Trên cơ sở đó, kỹ năng xác định nội dung yêu cầu và trình bày một vấn đề sẽ được hình thành và dần tạo một thói quen lập sơ đồ, bảng biểu để giải quyết vấn đề Việc xây dựng sơ đồ, bảng biểu như vậy sẽ giúp HS trình bày nội dung đầy đủ và logic
- Rèn luyện kỹ năng thu thập, xử lý thông tin và nâng cao khả năng tự học của
HS Muốn xây dựng một sơ đồ, một bảng HS phải đọc kỹ nội dung sách giáo khoa
để chắt lọc, lựa chọn kiến thức cơ bản, cốt lõi nhất Đồng thời phải sử dụng các thao tác tư duy logic như phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa,…
để vừa phân tích đối tượng nhận thức thành các sự kiện yếu tố cấu thành, vừa tổng hợp chúng lại, thiết lập các mối quan hệ qua lại giữa chúng Đây là quá trình gia công hóa tri thức sách vở thành tri thức của bản thân Như vậy, sơ đồ, bảng biểu giúp cho HS biết được các nguồn tài liệu đa dạng, phát triển tư duy logic, tư duy trừu tượng, tư duy biện chứng, trên cơ sở đó phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động chủ động và sáng tạo Qua những ý kiến đóng góp của các bạn và sự chuẩn xác kiến thức của GV Các em tự điều chỉnh bổ sung để sản phẩm của mình được hoàn thiện Cứ như thế, sau một thời gian khả năng tự học của các em sẽ được nâng cao Qua đó, năng lực làm việc cá nhân sẽ được phát huy và vận dụng nó vào việc tự học ở nhà
Ở mức độ cao hơn trong dạy học là để HS thiết lập được sơ đồ từ định hướng của GV là một phương pháp rèn luyện tư duy logic, phân tích tổng hợp, kỹ năng đọc SGK
Tóm lại, việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình dạy học Sinh học sẽ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, giúp HS thực hiện tốt quan điểm dạy học theo tinh thần đổi mới, đồng thời, giúp HS có một phương pháp học tập tích cực đem lại hiệu quả cao
Trang 231.1.3 Những ưu điểm của phương pháp dạy học bằng sơ đồ, bảng biểu
1.1.3.1 Sơ đồ, bảng biểu và phương pháp dạy học bằngsơ đồ, bảng biểu
Phương pháp dạy học bằng sơ đồ, bảng biểu là một phương pháp dạy học tích cực, mà sơ đồ, bảng biểu là phương tiện trực quan sử dụng trong quá trình dạy học Nó giúp cho GV tổ chức, thực hiện kế hoạch của một tiết dạy ở trên lớp hợp lí nhằm đáp ứng các mục tiêu giáo dưỡng và giáo dục của bộ môn Sinh học THPT
Sơ đồ, bảng biểu là một dạng mô hình Nếu xét về mặt tính chất thì các loại
sơ đồ, bảng biểu được sử dụng trong quá trình dạy học Sinh học ở THPT, chủ yếu là
sơ đồ thuộc dạng “mô hình tĩnh” Nó thể hiện các mối quan hệ giữa các yếu tố Sinh học với nhau theo cấu trúc của nội dung bài giảng Về đặc tính và chức năng, loại
sơ đồ này không chỉ thuần túy thể hiện một cách cô đọng, khái quát hóa toàn bộ cấu trúc nội dung cơ bản của bài giảng mà nó còn có chức năng định hướng nội dung công việc cần phải làm cho cả GV và HS theo một trình tự nhất định
Mặt khác, nó cũng gợi mở cho HS thấy được những kiến thức tiềm ẩn ở trong đó Hay nói cách khác, nó có thể được coi như là một mạng thông tin chứa đựng kiến thức Sinh học, có tính định hướng Dựa vào đó, GV và HS hợp tác với nhau, cùng khai thác kiến thức tiềm ẩn đó theo một phương thức nhất định, sao cho phù hợp và đem lại hiệu quả
Dựa trên các cơ sở trên, có thể khẳng định rằng: Phương pháp dạy học bằng
sơ đồ bảng biểu là một trong những phương pháp dạy học trực quan – phương pháp dạy học tích cực
1.1.3.2 Những ưu điểm chính của việc dạy học bằng sơ đồ, bảng biểu
Thực tế cho thấy sơ đồ, bảng biểu có phạm vi sử dụng rộng và có hiệu quả ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề trong cuộc sống như: học tập, thuyết trình, kinh doanh, chính trị, xã hội…Chẳng hạn có thể sử dụng sơ đồ để xây dựng ý tưởng cho cơ cấu
tổ chức của một công ty, sơ đồ thực hiện một dự án kinh doanh, sơ đồ một lớp học; hay lập bảng kế hoạch một ngày, một tháng,…Sở dĩ sơ đồ, bảng biểu có phạm vi sử dụng rộng, trước hết là do bản thân công cụ này chứa đựng yếu tố ưu việt Trong dạy học cũng vậy, chúng ta có thể kể đến một số ưu điểm chính của việc dạy học bằng sơ đồ, bảng biểu:
Trang 24Kiến thức được thể hiện dưới dạng sơ đồ, bảng biểu bao giờ cũng ngắn gọn,
cô đọng, súc tích và có thể tri giác trực tiếp bằng các giác quan nên dễ dàng lưu giữ trong trí nhớ và lưu giữ lâu hơn Các nhà tâm lí học đã chỉ ra mỗi giác quan của con người có khả năng tri giác một khối lượng thông tin hoàn toàn khác nhau trong cùng một thời gian như nhau Khả năng truyền tin của thị giác là 3 triệu bis/s, của thính giác là 30- 50 nghìn bis/s Như vậy khả năng truyền tin của thị giác gấp mười lần thính giác Vì thế nếu GV tận dụng điều này dạy học bằng phương tiện trực quan sinh động thì HS sẽ có khả năng lưu giữ thông tin nhanh hơn và lâu hơn HS khó có thể nhớ nội dung của một bài học, một chương, một cuốn sách nhưng có thể ghi nhớ chính xác một sơ đồ, bảng biểu về nội dung của một bài học, một chương, thậm chí là cả cuốn sách dù sơ đồ, bảng biểu đó hết sức phức tạp
- Phát huy tiềm năng sáng tạo
Trước một bài tập dưới sự hướng dẫn định hướng của GV, mỗi HS sẽ có ý tưởng trình bày, thể hiện dưới dạng sơ đồ, bảng biểu theo những cách riêng khác nhau
Sơ đồ, bảng biểu cho phép hình thành những ý tưởng mới Nói cách khác sơ
đồ, bảng biểu tạo điều kiện cho mỗi cá nhân phát huy tính sáng tạo của bản thân Cách thức thể hiện phản ánh mức độ thâm nhập, hiểu về đối tượng và chứng tỏ khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân Sự sáng tạo thể hiện trước hết ở việc cá nhân lựa chọn vấn đề trung tâm và xác lập cho chúng những mối liên hệ theo ý đồ riêng của mình Để có được một sơ đồ, bảng biểu đòi hỏi người tạo lập phải vận dụng trí tưởng tượng, liên tưởng phong phú của bản thân một cách tối đa, tạo cho đối tượng những mối liên hệ, những sự liên kết chặt chẽ và bản chất nhất Có thể nói, sơ đồ, bảng biểu là sản phẩm sáng tạo của mỗi cá nhân Họ xây dựng sơ đồ, bảng biểu theo những cách riêng để phục vụ nhu cầu của cá nhân mình [24; tr 12]
- Tiết kiệm thời gian và công sức
Việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu sẽ giúp GV và HS có thể tiết kiệm tối đa thời gian của một tiết học trên lớp để khai thác kiến thức trong bài học Sơ đồ, bảng biểu tận dụng tối đa những từ khóa và những hình vẽ sinh động, sáng tạo để thâu tóm lượng kiến thức một cách cô đọng, ngắn gọn nhất HS có thể dễ dàng xâu chuỗi các dấu hiệu bản chất của đối tượng Khi cần tái hiện không cần phải mất nhiều thời
Trang 25gian và công sức để tìm hiểu, mà chỉ cần sử dụng một sơ đồ, bảng biểu thể hiện toàn
bộ kiến thức một cách nhanh chóng, đầy đủ và chính xác
-Cung cấp bức tranh tổng thể
Sơ đồ, bảng biểu không những cung cấp cho chúng ta cái nhìn tổng thể về đối tượng mà còn có cách thức nhìn nhận đa chiều về mọi mặt của vấn đề Đặc biệt nhìn vào sơ đồ, bảng biểu còn giúp chúng ta nhận ra những mối liên hệ, sự ràng buộc, chi phối, liên quan của các nội dung tới nhau Từ đó, chúng ta xác định được đâu là vấn đề trung tâm, dấu hiệu bản chất, đâu là ý chính, ý phụ…để sắp xếp thời gian cho công việc và học tập một cách khoa học, hợp lí và hiệu quả
Như vậy với tất cả những lợi ích mà sơ đồ, bảng biểu đem lại, chúng ta có thể nhận thấy đây là một công cụ có nhiều ưu điểm Nhờ vào ưu điểm vượt trội này mà sơ
đồ, bảng biểu được sử dụng rộng rãi ở mọi lĩnh vực, ngành nghề trong cuộc sống
Bảng biểu là một công cụ đắc lực phục vụ việc so sánh các đối tượng nào đó, phục vụ việc hệ thống hóa kiến thức: trên một bảng biểu có thể tổng hợp kiến thức trong nhiều phần, nhiều bài, nhiều chương Đó là một công cụ dạy học có nhiều ưu điểm Nếu như sơ đồ thường chỉ thể hiện được mối liên hệ giữa các khái niệm mà không thể hiện được chi tiết kể cả các đặc điểm mang tính định lượng thì bảng biểu lại có thể thể hiện được những đặc điểm đó Chính vì vậy mà đề tài này chúng tôi nghiên cứu và muốn kết hợp sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học
Trong giáo dục, việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu vào quá trình giảng dạy và học tập có tác dụng tích cực trong việc nâng cao tính chủ động, khả năng tự học, tự tìm hiểu, khám phá của HS, kích thích tư duy sáng tạo, giúp các em có những cách học hiệu quả Đồng thời, khi sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình giảng dạy sẽ làm tăng tính linh hoạt, sáng tạo của GV Sơ đồ, bảng biểu là những công cụ ghi chép bài tối ưu vì nó thường dùng những từ khóa ngắn gọn để diễn đạt, triển khai nội dung vấn đề Quan trọng hơn là sơ đồ, bảng biểu kích thích sự hoạt động của các giác quan, giúp cho việc ghi nhớ, liên tưởng, sáng tạo đạt hiệu quả
Như vậy, có thể khẳng định sơ đồ, bảng biểu là phương tiện trực quan có nhiều ưu thế trong việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS Sử dụng đúng cách trong giảng dạy và học tập sẽ góp phần giải phóng những năng lực tiềm
Trang 26ẩn trong bản thân mỗi cá nhân và chắc chắn sẽ tạo ra những chuyển biến tích cực của người dạy và người học
1.1.4 Một số yêu cầu khi sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học Sinh học THPT
1.1.4.1 Khi thiết kế
Để sơ đồ, bảng biểu thực sự trở thành một phương tiện trực quan phục vụ cho quá trình dạy học Sinh học ở bậc THPT, khi thiết kế sơ đồ, người GV cần thực hiện tốt các yêu cầu sau:
- Phải lựa chọn loại sơ đồ, bảng biểu cho phù hợp với mục tiêu, mức độ yêu cầu và cấu trúc nội dung của bài học
- Cấu trúc nội dung của sơ đồ, bảng biểu phải phù hợp với khả năng nhận thức, trình độ của học sinh
- Nội dung của sơ đồ, bảng biểu phải đảm bảo tính khoa học, logic và trực quan
- Các dạng sơ đồ, bảng biểu thiết kế để sử dụng phải đa dạng:
+ Dạng sơ đồ, bảng biểu đã hoàn chỉnh nội dung (vẽ sẵn và ghi đầy đủ nội dung) + Dạng sơ đồ, bảng biểu “bỏ ngỏ” (nội dung của một số ô bỏ trống)
+ Dạng sơ đồ, bảng biểu trống (nội dung các ô bỏ trống hoàn toàn)
Ngoài ra GV cũng cần phải chú ý tới việc chuẩn bị các yếu tố bổ trợ, các tư liệu bổ sung như: phiếu dời (các ô kiến thức), phiếu thông tin phản hồi, các thiết bị
- Phải lựa chọn phương thức khai thác, sử dụng sơ đồ sao cho phù hợp với đối tượng HS (cả về khả năng nhận thức, trình độ kiến thức và yếu tố tâm lí của HS), phù hợp với đặc tính cấu trúc nội dung của sơ đồ
- Hình thức tổ chức hoạt động học tập của HS phải đa dạng, gây hứng thú học tập cho HS, nhưng cần chú ý vai trò của GV và HS trong quá trình hoạt động Cụ
Trang 27+ Giáo viên là người chủ động, tổ chức và hướng dẫn HS làm việc, theo định hướng cấu trúc nội dung của sơ đồ (GV là người thiết kế và đạo diễn)
+ HS là người chủ động, tích cực khám phá và lĩnh hội kiến thức Sinh học tiềm ẩn trong cấu trúc nội dung của sơ đồ, dưới sự điều khiển và hướng dẫn của GV (HS là người thi công)
- Người GV phải có quan điểm dạy học theo tinh thần đổi mới, kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học để phát huy tính tích cực học tập của HS
- Nội dung sơ đồ phản ánh nội dung của bài học Nó được khai thác, sử dụng dựa trên nền tảng nội dung kiến thức của hệ thống câu hỏi, thông qua các hoạt động học tập của HS
- Hệ thống câu hỏi phải dễ dàng, phù hợp với nội dung bài giảng, cấu trúc nội dung của sơ đồ và đối tượng HS
- Sơ đồ, bảng biểu do GV thiết kế, dùng làm phương tiện dạy học, nhưng phần nội dung chi tiết của sơ đồ phải là sản phẩm – kết quả của sự kết hợp giữa quá trình hoạt động giảng dạy của thầy và học tập của trò Trong đó, HS phải là người thi công đắc lực, dưới sự điều khiển và hướng dẫn của GV
Nếu thực hiện tốt các yêu cầu cơ bản trên thì vai trò và tác dụng của sơ đồ sẽ được phát huy cao độ Đồng thời hiệu quả của việc sử dụng sơ đồ trong quá trình dạy học mới được nâng cao
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng dạy và học chương “Cơ chế di truyền và biến dị” – Sinh học 12 THPT
Qua khảo sát thực trạng dạy học Sinh học ở trường THPT Thanh Liêm A tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam chúng tôi đã có cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong dạy học Sinh học đạt hiệu quả cao
Thực tế chúng tôi đã tiến hành dự giờ 3 GV, trao đổi trực tiếp, đồng thời kiểm tra khảo sát học sinh khối 12 của trường THPT Thanh Liêm A, kết quả điều tra như sau:
1.2.1.1 Việc học của học sinh
Bảng 1.1: Kết quả điều tra về việc học tập của học sinh Tiêu chí
Trang 28- Chỉ coi bộ môn là nhiệm vụ 194/368 (HS) 52,72
- Hiểu sâu, có khả năng vận dụng sáng tạo 9/368 (Bài) 2,45
- Hiểu bản chất, biết chắt lọc kiến thức
trọng tâm, phân biệt được các khái niệm 75/368 (Bài) 20,38
- Tái hiện đầy đủ kiến thức đã học nhưng
trình bày không logic, chưa vận dụng vào giải bài tập
- Số HS yêu thích môn học chiếm số ít và số HS không thích môn học chiếm
số lượng đáng kể, hầu hết HS chỉ coi việc học bộ môn là nhiệm vụ
- Số HS hiểu sâu kiến thức còn thấp, ít HS có phương pháp học tập chủ động sáng tạo, từ đó dẫn đến chất lượng lĩnh hội kiến thức, kết quả học tập chưa cao Qua dự giờ của một số GV, chúng tôi thấy rằng:
- HS hứng thú, tích cực, sôi nổi phát biểu ý kiến xây dựng bài hơn với những tiết học mà GV có tổ chức các hoạt động học tập của HS như: làm việc với tài liệu, quan sát tranh, sơ đồ, bảng biểu… Ngược lại, trong giờ học mà GV sử dụng phương pháp thuyết trình, giảng giải thì không đem lại sự hứng thú cho HS trong tiết học và không khí học tập kém sôi nổi
- Ở những lớp GV có sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong các khâu của quá trình giảng dạy thì HS có khả năng vận dụng kiến thức tốt hơn, học tập sôi nổi hào hứng hơn
1.2.1.2 Việc dạy của giáo viên
Phương pháp giảng dạy: điều tra sử dụng các phương pháp giảng dạy của 3
GV Sinh của trường THPT A Thanh Liêm, thu được kết quả thể hiện ở bảng 1.2
Trang 29Bảng 1.2: Kết quả điều tra việc sử dụng các phương pháp dạy học Sinh học
của giáo viên trường THPT Thanh Liêm A
TT Tên phương pháp
Sử dụng thường xuyên
Sử dụng không thường xuyên
Ít sử dụng Không sử
dụng
Số người
Tỉ lệ
%
Số người
Tỉ lệ
%
Số người
Tỉ lệ
%
Số người
Tỉ lệ
%
Bên cạnh đó, chúng tôi còn tiến hành thống kê việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong ba bộ giáo án chương 1: “Cơ chế di truyền và biến dị” của ba GV dạy Sinh học trong trường THPT Thanh Liêm A có trình độ, kinh nghiệm giảng dạy
Bảng 1.3: Kết quả điều tra việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong giáo án dạy học
chương Cơ chế di truyền và biến dị
Trang 30TT Tên bài
Số lượng sơ đồ, bảng biểu được sử dụng
Trương Thị Lê
Nguyễn Thị Liễu
Phạm Thị Nhung
1 Gen, mã di truyền và quá trình
Kết quả từ bảng thống kê trên cho thấy, người soạn giáo án đã có sử dụng sơ
đồ, bảng biểu trong quá trình thiết kế bài học nhưng số lượng sơ đồ, bảng biểu ở các bài giáo án là chưa nhiều và không đều Hầu hết giáo viên vẫn thiên về nội dung hơn là phương pháp, giáo án của ba GV ở trên theo hệ thống đã có sử dụng sơ đồ, bảng biểu tuy nhiên về cơ bản vẫn là sử dụng sơ đồ, bảng biểu đã có sẵn trong SGK
mà chưa có sự sáng tạo tìm tòi thiết kế ra những sơ đồ, bảng biểu mới giúp HS có thể dễ dàng tái hiện và hệ thống kiến thức
Tình hình sử dụng phương pháp dạy học bằng sơ đồ, bảng biểu trong các khâu của quá trình lên lớp giảng dạy được thể hiện ở bảng 1.4
Bảng 1.4: Kết quả điều tra việc sử dụng phương pháp dạy học bằng sơ đồ, bảng biểu trong các khâu giảng dạy chương Cơ chế di truyền và biến dị
Mục đích sử dụng
Sử dụng thường xuyên
Sử dụng không thường xuyên
Tỉ lệ
%
Số người
Tỉ lệ
%
Số người
Tỉ lệ
%
Số người
Tỉ lệ
%
Trong khâu nghiên
Trang 31Trong khâu củng cố,
Trong khâu kiểm tra
Qua bảng 1.4 cho thấy:
Hiện nay, phần lớn GV chưa sử dụng sơ đồ, bảng biểu trong quá trình dạy học
Số ít GV có sử dụng nhưng không thường xuyên và sơ đồ, bảng biểu chỉ được sử dụng trong khâu củng cốôn tập kiến thức hoặc khâu kiểm tra đánh giá
Qua phân tích thực trạng dạy và học Sinh học ở trường THPT Thanh Liêm A
có rút ra kết luận sau: Sự đổi mới phương pháp dạy học của GV còn chậm GV chưa có biện pháp hiệu quả để tổ chức hoạt động nhận thức cho HS HS còn thụ động trong việc tiếp thu kiến thức mới, thực trạng HS sử dụng tài liệu để học hiểu còn rất ít, năng lực tư duy, khả năng vận dụng kiến thức của HS còn nhiều hạn chế
1.2.2 Nguyên nhân
1.2.2.1 Về phương diện khách quan
Dưới đây là những nguyên nhân cơ bản dẫn tới kết quả của việc dạy HS hiện nay còn thấp:
- Ý thức, động cơ học tập của HS đối với bộ môn Sinh học vẫn chưa cao
- Nguồn tài liệu hỗ trợ cho dạy học Sinh học còn quá hạn hẹp
- Nội dung kiến thức của một số bài còn quá tải và cấu trúc chưa hợp lý
- Vị trí của bộ môn Sinh học ở các trường phổ thông nói chung và ở THPT nói riêng vẫn còn bị xem nhẹ
- Về công tác quản lý chỉ đạo việc đổi mới chưa chặt chẽ và thiếu đồng bộ
- Khuôn viên trường lớp chưa thật hợp lý và quá chật hẹp, phương tiện thiết bị dạy học vẫn còn thiếu thốn, một số trường đã có nhưng chưa được đội ngũ GV tận dụng triệt để và hợp lý
1.2.2.2 Về phía giáo viên
Trước hết phải kể đến nhận thức của đội ngũ GV: Do lối dạy kiểu đọc chép đã tồn tại theo một lối mòn, nay phải đổi mới cách nghĩ cách dạy, GV cần phải có thời gian Bên cạnh đó, để áp dụng các phương pháp dạy học mới thì bản thân từng GV
Trang 32không chỉ vững vàng về kiến thức mà cần có khả năng tổ chức điều hành HS, có năng lực sư phạm Đây là điều không dễ đối với các GV
Mặt khác, hiện nay vẫn còn nhiều GV chưa thực sự tâm huyết với nghề Chất lượng GV không đồng đều, GV chưa khai thác triệt để được những yếu tố thuận lợi cho việc giảng dạy như: các kênh hình, những câu hỏi gợi mở… mà SGK mới hiện nay đã định hướng GV thực hiện phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực Đa số GV chưa chịu tìm ra giải pháp khắc phục, chưa phát huy khả năng sáng tạo của chính mình
1.2.2.4 Về phía nội dung SGK
Hiện nay nội dung SGK Sinh học bậc THPT đã được biên soạn theo cách gợi
mở, kênh hình rất nhiều thể hiện tính trực quan cao giúp HS có thể học bằng nhiều giác quan, giúp HS nhớ lâu; ở giữa bài có những câu hỏi gợi mở để làm rõ nội dung kiến thức cơ bản; cuối bài có phần tóm tắt những ý chính giúp HS dễ dàng nhớ kiến thức trọng tâm hơn SGK đã định hướng cho GV thực hiện phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực làm nâng cao chất lượng giảng dạy trong những năm gần đây
Bên cạnh đó, SGK vẫn còn những bài có nội dung tương đối dài làm cho bài học dễ đi vào tình trạng thiếu thời lượng giảng dạy quá tải, một số nội dung kiến thức trừu tượng HS khó có thể khái quát hóa để hiểu và nhớ lâu kiến thức
Trang 33- Chính sách khuyến khích, đãi ngộ đối với GV dạy giỏi còn nhiều hạn chế, vì vậy không tạo được động lực thúc đẩy GV phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn
và phương pháp dạy học
- Về công tác kiểm tra hiện nay chủ yếu chú trọng đánh giá lượng kiến thức
mà chưa chú trọng đúng mức đến việc đánh giá năng lực tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành, kỹ năng vận dụng kiến thức của HS Điều này đã tạo nên những trở ngại trong việc đổi mới phương pháp dạy học của GV và HS
Những trở ngại trên đã làm cho GV hạn chế nhiều trong việc tổ chức các hoạt động học tập của HS, gây ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả học tập
TIỂU KẾT CHƯƠNG I
Qua nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn chúng tôi thấy vận dụng phương pháp sơ đồ, bảng biểu trong dạy học Sinh học nói chung và dạy học Chương 1: Cơ chế di truyền và biến dị, Sinh học 12 THPT nói riêng mang lại hiệu quả rất cao Phương pháp này đã từng bước rèn luyện cho HS khả năng đọc sách, tài liệu để gia công tư liệu thành tài sản kiến thức riêng của bản thân Tuy nhiên, ở trường THPT hiện nay thì phương pháp sơ đồ, bảng biểu vẫn chưa được thực hiện
Đồng thời cũng chưa có công trình nghiên cứu vận dụng sơ đồ, bảng biểu vào trong dạy học Sinh học nói chung và dạy học Chương 1: Cơ chế di truyền và biến
dị, Sinh học 12 THPT nói riêng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên Do đó, việc tiến hành nghiên cứu đề tài của chúng tôi là hoàn toàn thiết thực và cần thiết
Trang 34CHƯƠNG II THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC “CHƯƠNG 1: CƠ CHẾ DI TRUYỀN VÀ BIẾN DỊ”
– SINH HỌC 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
2.1.Phân tích cấu trúc, nội dung chương “Cơ chế di truyền và biến dị” – Sinh học 12 THPT
2.1.1 Về cấu trúc
Sinh học 12 phần năm: Di truyền học, được phân bố trong 22 tiết và được chia làm 5 chương trong đó chương Cơ chế di truyền và biến dị được phân phối trong 7 bài với 7 tiết, trong đó có 1 tiết thực hành
Bảng 2.1: Bảng phân phối chương trình giảng dạy cho từng bài của chương Cơ chế di truyền và biến dị - Sinh học 12 THPT
tiết
1 Gen, mã di truyền và quá
trình nhân đôi ADN
Nghiên cứu về quá trình tự nhân đôi của ADN, khái niệm gen và mã di truyền 1
2 Phiên mã và dịch mã Nghiên cứu về quá trình sinh tổng hợp protein 1
3 Điều hòa hoạt động gen Nghiên cứu về quá trình điều hòa hoạt động
4 Đột biến gen Nghiên cứu về các dạng đột biến gen, tìm
hiểu về nguyên nhân cơ chế của đột biến gen 1
1
Trang 35Về cấu trúc chung của chương Cơ chế di truyền và biến dị được trình bày trong SGK là tương đối hợp lí, với những kiến thức chính xác, logic, liên quan chặt chẽ với nhau
Cấu trúc phần này là tương đối phù hợp với sự phát triển chương trình và phù hợp với quy luật nhận thức của HS Khi nắm vững logic trình bày trong SGK thì
GV sẽ chủ động lựa chọn nội dung kiến thức và xây dựng được cấu trúc bài phù hợp, tổ chức thực hiện các hoạt động học tập cho HS có hiệu quả [6; tr 46]
2.1.2 Về nội dung
Nội dung chương này bao gồm những kiến thức về các khái niệm, kiến thức
về cấu trúc của gen, ADN, NST và các kiến thức về cơ chế của hiện tượng di truyền
và biến dị Chương này cho thấy bản chất của hiện tượng di truyền và biến dị là sự vận động của các cấu trúc vật chất trong tế bào Đó là những NST trong nhân, phân
tử ADN trong NST và các gen trên ADN Các cấu trúc này vận động theo những cơ chế xác định, tác động với nhau và với các cấu trúc khác trong tế bào và trong các mối quan hệ thống nhất và chính trong quá trình vận động, tác động qua lại đó, chúng biểu hiện chức năng của chúng trong hệ thống di truyền, cấu trúc và chức năng là thống nhất bởi vì vận động là thuộc tính gắn liền với vật chất Mạch nội dung trong chương này đi theo hướng sau:
- Bài 1 và bài 2: Cách thức tổ chức thông tin thành các đơn vị di truyền (gen), các đặc điểm của mã di truyền, cách thức truyền đạt thông tin di truyền từ tế bào này tế bào khác (quá trình nhân đôi ADN), từ ADN tính trạng (phiên mã) và
từ ARN prôtêin (dịch mã)
- Bài 3: Trình bày về quá trình điều hòa hoạt động của gen ở sinh vật nhân sơ
Sự trao đổi chất liên tục giữa tế bào và môi trường là đặc điểm cơ bản của sự sống Như vậy quá trình điều hòa hoạt động của gen là điều chỉnh hoạt động của tế bào cho phù hợp với những biến đổi của môi trường để có thể tồn tại thích hợp
- Bài 4: Đột biến gen Đây là những biến đổi trong cấu trúc của gen Những đột biến này có thể chỉ biến đổi một Nuclêotit hoặc nhiều Nucleotit Nếu một axitamin trong prôtêin bị sai thì chức năng sinh học của cả prôtêin có thể bị thay đổi
- Bài 5 và bài 6: Đề cập cấu trúc của NST, các loại đột biến NST Để các NST
có thể xếp gọn vào nhân tế bào có kích thước nhỏ, các NST thường liên kết với
Trang 36thì rút ngắn lại Đột biến cấu trúc NST thực chất là sự sắp xếp lại cả khối gen (đảo đoạn) hoặc tăng liều lượng gen (lặp đoạn) hay giảm (mất đoạn) trên NST
Các cơ chế của các hiện tượng di truyền đều được giải thích dựa trên quan điểm sinh học hiện đại
2.2 Các dạng sơ đồ, bảng biểu được xây dựng cho phần kiến thức “Chương 1:
Cơ chế di truyền và biến dị” – Sinh học 12 THPT
2.2.1 Cơ sở để xác lập sơ đồ, bảng biểu
2.2.1.1 Dựa trên mục tiêu chung của nội dung chương trình Sinh học THPT
Chương trình Sinh học THPT củng cố, bổ sung, nâng cao, hoàn thiện các tri thức Sinh học ở THCS, nhằm góp phần chuẩn bị cho HS tốt nghiệp THPT có đủ khả năng tiếp tục học lên các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động Học xong chương trình Sinh học ở THPT, HS cần đạt được:
Về kiến thức
- HS có những hiểu biết phổ thông, cơ bản, hiện đại, thực tiễn về các cấp tổ chức của sự sống, từ cấp phân tử, tế bào, cơ thể đến các cấp trên cơ thể như quần thể, loài, quần xã, sinh quyển (nêu định nghĩa, trình bày được một số dấu hiệu đặc trưng để phân biệt các tổ chức sống cùng cấp, phân biệt các cấp tổ chức khác nhau,
lí giải sự cân bằng và biến động của tổ chức sống)
- HS hiểu về các quá trình Sinh học cơ bản ở cấp độ tế bào và cơ thể như trao đổi chất và năng lượng, sinh trưởng và phát triển, cảm ứng và vận động, sinh sản và
di truyền biến dị (hiểu bản chất của hiện tượng, giải thích cơ chế cảu quá trình, nêu ảnh hưởng của môi trường, biết nguyên tắc ứng dụng vào thực tiễn)
- HS hình dung được sự phát triển liên tục của vật chất trên trái đất, từ vô cơ đến hữu cơ, từ sinh vật đơn giản đến sinh vật phức tạp, cho đến con người (nêu các bằng chứng tiến hóa, hiểu những điểm cơ bản trong quan niệm hiện nay về nguyên nhân, cơ chế, phương thức, chiều hướng tiến hóa)
- Nắm vững các kiến thức cơ bản nói trên là cơ sở để hiểu các biện pháp kĩ thuật trồng trọt chăn nuôi, chọn giống nhằm nâng cao năng suất các chủng vi sinh vật có ích, các giống vật nuôi cây trồng, hiểu các biện pháp chăm sóc sức khỏe, bảo vệ môi trường, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm sự phát
Trang 37 Về kĩ năng
- Kĩ năng thực hành: Tiếp tục phát triển kĩ năng quan sát, thí nghiệm HS được làm các tiêu bản hiển vi, tiến hành quan sát dưới kính lúp, kính hiển vi, biết bố trí một số thí nghiệm đơn giản để tìm hiểu nguyên nhân của một số hiện tượng quá trình Sinh học
- Kĩ năng tư duy: Phát triển kĩ năng tư duy thực nghiệm – quy nạp, chú trọng
phát triển tư duy lí luận (phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa – đặc biệt là kĩ năng nhận dạng, đặt ra và gải quyết các vấn đề gặp phải trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống)
- Kĩ năng học tập: Phát triển kĩ năng học tập đặc biệt là tự học: Biết thu thập,
xử lí thông tin, lập bảng, biểu, sơ đồ, đồ thị, làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm, làm các báo cáo nhỏ, trình bày trước tổ, lớp
- Phát triển kĩ năng làm việc tập thể: Thông qua dạy học Sinh học người học
được rèn luyện cách làm việc tập thể, biết cách lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác, để có thể cùng các thành viên trong tập thể giải quyết các vấn đề lớn, mà một
cá nhân không giải quyết được
Trang 38đột biến điểm, thể đột biến; Đột biến NST, đột biến cấu trúc NST, đột biến số lượng NST, đột biến lệch bội, đột biến đa bội, tự đa bội, đa bội chẵn, đa bội lẻ…
- Hiểu được kiến thức về cấu trúc của: Gen, ADN, gen không phân mảnh, gen phân mảnh, mô hình ôpêrôn Lac, ARN, chuỗi polipeptit, protein, riboxom; NST, cấu trúc siêu hiển vi của NST, NST thường, NST giới tính
- Hiểu được kiến thức về cơ chế của hiện tượng di truyền và biến dị: Cơ chế nhân đôi ADN, cơ chế phiên mã, dịch mã, cơ chế điều hòa hoạt động gen; cơ chế xuất hiện các dạng đột biến cấu trúc và số lượng NST
2.2.2 Các loại sơ đồ, bảng biểu sử dụng trong dạy học Sinh học ở trường THPT
Trong dạy học Sinh học, tùy theo tiêu chí khác nhau có thể phân loại các dạng sơ
đồ, bảng biểu khác nhau Tuy nhiên có thể cùng một nội dung, một mục đích dạy học
có thể diễn đạt bằng nhiều sơ đồ, bảng biểu khác nhau nên sự phân loại sơ đồ, bảng biểu chỉ có tính chất tương đối Nhưng dựa trên đặc tính và chức năng của sơ đồ và theo mức độ hoàn thiện của bảng biểu có thể nêu ra một số loại sơ đồ, bảng biểu sau:
2.2.2.1 Các loại sơ đồ sử dụng trong dạy học Sinh học ở trường THPT
Loại sơ đồ thể hiện cấu trúc nội dung bài giảng
Loại sơ đồ này thường được sử dụng để định hướng nội dung và trình tự thực hiện nội dung bài giảng hoặc dùng để củng cố nội dung bài giảng và tổng kết, ôn tập kiểm tra Đồng thời nó cũng là một phương tiện – một hình ảnh giúp HS ghi nhớ và
Trang 39Ví dụ: Sơ đồ hóa những kiến thức bài: “Gen, mã di truyền và quá trình nhân đôi ADN”
Sơ đồ 2.1: Những kiến thức bài: “Gen, mã di truyền và quá trình nhân đôi ADN”
Loại sơ đồ thể hiện mối quan hệ Sinh học
Loại sơ đồ này thường dùng trong việc giải thích các hiện tượng sinh học có mối quan hệ nhân quả logic với nhau, theo sự suy diễn logic có tính chất bắc cầu: có
ADN
Quá trình nhân đôi ADN Gen
Diễn biến Nguyên tắc
- Bổ sung -Bán bảo toàn
Khái niệm
Là quá trình nhân đôi tạo 2ADN giống như ban đầu
Mã di truyền
Cấu trúc
Đặc điểm
Tháo xoắn ADN nhờ
enzim
Tổng hợp ADN mới chiều 5’- 3’
Hai phân
tử ADN mới được hình thành
Vùng kết thúc
Vùng mã hóa
mang tín hiệu
mã hóa
aa
-Vị trí:
đầu 5’
mạch gốc
- Đặc điểm:
không phân mảnh (nhân sơ), phân mảnh (thực)
- Đặc điểm:
mang tín hiệu kết thúc phiên mã
Đọc liên tục 1 chiều không gối lên nhau
Tính phổ biến
Tính đặc hiệu
Tính thoái hóa
Trang 40Ví dụ: Biểu diễn mối quan hệ giữa vật chất di truyền – cơ chế di truyền và sự di
truyền các tính trạng Vật chất di truyền có hai cấp độ: cấp độ phân tử và cấp độ tế bào ADN là vật chất di truyền ở cấp độ phân tử, NST là vật chất di truyền ở cấp độ
tế bào Sơ đồ cho thấy, sự biểu hiện tính trạng của sinh vật, có mối liên hệ chặt chẽ, không thể tách rời giữa cơ sở vật chất và cơ chế di truyền ở cấp độ phân tử (ADN)
Loại sơ đồ hệ thống hóa khái niệm
Loại sơ đồ này dùng để hệ thống hóa khái niệm một cách logic khoa học, nhằm giúp cho người học có thể củng cố và lĩnh hội kiến thức một cách dễ dàng, qua đó
mở rộng hiểu biết về đối tượng sâu sắc hơn
Vật chất di truyền
ADN
Protein ARN
ly, tổ hợp