1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIẢI PHÁP NHẰM góp PHẦN TĂNG lợi NHUẬN tại CÔNG TY cổ PHẦN XI MĂNG TUYÊN QUANG

78 151 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 553,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới góc độ tài chính doanh nghiệp, lợi nhuận là kết quả tài chính cuốicùng của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệchgiữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệ

Trang 1

CHƯƠNG 1

LỢI NHUẬN VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẤN ĐẤU TĂNG LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY

1.1 Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp

1.1.1 Lợi nhuận của doanh nghiệp

Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất,cung ứng hàng hoá cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục đích sinh lời

Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình kếthợp các yếu tố đầu vào như nhà xưởng, thiết bị, nguyên vật liệu.v.v và sức laođộng để tạo ra yếu tố đầu ra là hàng hoá và tiêu thụ hàng hoá đó để thu lợinhuận

Trong điều kiện nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường như hiện nay,doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì đòi hỏi tất yêu đối với doanh nghiệp

là phải thu được lợi nhuận

Dưới góc độ tài chính doanh nghiệp, lợi nhuận là kết quả tài chính cuốicùng của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệchgiữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để có được doanh thu đó từcác hoạt động của doanh nghiệp đưa lại

Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí tạo ra doanh thu

Lợi nhuận của doanh nghiệp gồm 3 bộ phận sau:

Lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh (lợi nhuận bán hàng)

Đây là khoản chênh lệch giữa doanh thu thuần bán hàng trừ đi giá thànhtoàn bộ của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ trong kỳ

Trang 2

Lợi nhuận hoạt động

sản xuất kinh doanh (lợi

nhuận bán hàng)

=

Doanh thu thuần bán hàng

-Giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá dịch vụ bán trong kỳ

- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Là biểu hiện của tổng giá trịcác loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đã bán ra trong một thời

kỳ nhất định Đây là bộ phận chủ yếu trong doanh thu hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp

- Các khoản giảm trừ bao gồm: chiết khấu thương mại, giảm giá hàngbán, giá trị hàng bán bị trả lại, thuế gián thu (nếu có)

+ Chiết khấu thương mại: là khoản mà doanh nghiệp giảm trừ cho ngườimua theo một tỷ lệ nhất định so với giá niêm yết do việc người mua mua hàngvới khối lượng lớn

+ Giảm giá hàng bán: Là khoản mà doanh nghiệp giảm trừ cho người muatheo một tỷ lệ nhất định theo giá ghi trên hoá đơn do doanh nghiệp không đảmbảo các điều kiện về hàng hoá như ghi trên hợp đồng

+ Giá trị hàng bán bị trả lại: Là giá trị tiền hàng đã nhận của khách hàngnay phải trả lại do việc cung cấp hàng hóa, sản phẩm không đúng hợp đồng hoặcngười mua không chịu nhận hàng

+ Các loại thuế gián thu đối với sản phẩm tiêu thụ: thuế tiêu thụ đặc biệt,thuế xuất khẩu, thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp

Trang 3

- Giá vốn hàng bán: là trị giá vốn của hàng xuất bán, gồm chi phí nguyênvật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung.

- Chi phí bán hàng: Gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sảnphẩm, hàng hoá, dịch vụ như: tiền lương nhân viên bán hàng, chi hoa hồng đại

lý, hoa hồng môi giới, tiếp thị, đóng gói, vận chuyển,bảo quản, chi phí khấu haophương tiện vận tải, chi phí vật liệu, bao bì, dụng cụ đồ dùng, chi phí dịch vụmua ngoài, chi phí khác bằng tiền như chi phí bảo hành sản phẩm, chi phí quảngcáo

- Chi phí quản lý doanh nghiệp: gồm các chi phí cho việc quản lý kinhdoanh, quản lý hành chính và chi phí chung khác có liên quan đến hoạt động củatoàn doanh nghiệp: lương nhân viên văn phòng, chi phí vật liệu quản lý, chi phí

đồ dùng văn phòng, chi phí khấu hao tài sản cố định, thuế, phí, lệ phí, chi phí dựphòng, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền (phân bổ cho sản phẩmtiêu thụ)

Lợi nhuận hoạt động tài chính (HĐTC): Là số tiền chênh lệch giữa

doanh thu hoạt động tài chính và chi phí hoạt động tài chính để tạo ra doanh thu

Thuế gián thu (nếu có) Lợi nhuận khác: Là chênh lệch giữa thu nhập khác và chi phí khác phát

sinh do các hoạt động như thanh lý, nhượng bán tài sản, thu tiền phạt vi phạmhợp đồng, nhận quà biếu …

Lợi nhuận

thu (nếu có)

Trang 4

Tổng hợp ba bộ phận trên, ta thu được lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp

Lợi nhuận trước

1.1.2 Vai trò của lợi nhuận đối với doanh nghiệp

Lợi nhuận tác động đến tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp, nó ảnhhưởng trực tiếp tới tình hình tài chính của doanh nghiệp Việc thực hiện tăng lợinhuận là điều kiện quan trọng đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệpđược vững chắc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Điều đóđược thể hiện trên các mặt sau:

- Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh hiệu quả của toàn

bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nhờ tổ chức sản xuất kinh doanh,quản lý chi phí tốt, hạ giá thành sản phẩm mà doanh nghiệp thu được lợi nhuận

và lợi nhuận ngày càng cao, từ đó nâng cao uy tín của doanh nghiệp

- Lợi nhuận là nguồn tích luỹ cơ bản để bổ sung vốn kinh doanh chodoanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng một cáchvững chắc Lợi nhuận còn là nguồn chủ yếu để cải thiện đời sống vật chất, tinhthần cho người lao động thông qua tiêu dùng của quỹ khen thưởng phúc lợiđược trích lập từ lợi nhuận sau thuế

- Lợi nhuận là nguồn tài chính quan trọng đảm bảo cho doanh nghiệp tăngtrưởng một cách ổn định, vững chắc, đồng thời cũng là một nguồn thu quantrọng đối với ngân sách Nhà nước Hàng năm, Nhà nước thu được khoảng 25 –30% lợi nhuận của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế dưới mọihình thức thu thuế thu nhập doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho đầu

Trang 5

tư xây dựng cơ sở hạ tầng, thực hiện tái sản xuất mở rộng trên quy mô toàn xãhội Qua đó Nhà nước sẽ thực hiện điều hoà lợi ích trong nền kinh tế.

Như vậy, lợi nhuận có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triểncủa doanh nghiệp Nó là chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh, trình độ

tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời lợi nhuận còn

là đòn bẩy kinh tế quan trọng tác động tới việc hoàn thiện và phát triển kinhdoanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp làm ăn phát đạt, lợi nhuận cao và ổnđịnh thì uy tín sẽ được nâng cao, mở rộng được quy mô và liên kết với nhữngđơn vị khác

Đặc biệt trong điều kiện hiện nay nền kinh tế vận hành theo cơ chế thịtrường, với xu thế quốc tế hoá nền kinh tế, Việt Nam tham gia tổ chức thươngmại thế giới (WTO) và là thành viên khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)đem đến cho doanh nghiệp nhiều thời cơ cùng những thách thức lớn Các doanhnghiệp phải đối đầu với môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, để có thể tồntại và phát triển các doanh nghiệp buộc phải không ngừng cải tiến, nâng caohiệu quả sản xuất kinh doanh, hướng tới lợi nhuận và lợi nhuận ngày càng cao.Thực tế cho thấy, có nhiều doanh nghiệp đã phát huy được những ưu thế củamình để tồn tại và phát triển Nhưng bên cạnh đó cũng có những doanh nghiệpcòn lúng túng trong việc tháo gỡ những khó khăn, sức cạnh tranh kém, làm ănthua lỗ và dẫn đến phá sản doanh nghiệp

Vì vậy việc phấn đấu tăng lợi nhuận trong doanh nghiệp là vô cùng quantrọng, các doanh nghiệp phải tìm ra phương hướng và biện pháp tăng lợi nhuậnphù hợp, chỉ có như vậy doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển

1.1.3 Tỷ suất lợi nhuận.

Trang 6

Tỷ suất lợi nhuận là một chỉ tiêu tương đối dùng để so sánh kết quả kinhdoanh giữa các thời kỳ của một doanh nghiệp hoặc giữa các doanh nghiệp Mức

tỷ suất càng cao càng chứng tỏ hoạt động kinh doanh có hiệu quả

1.1.3.1 Sự cần thiết phải sử dụng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận.

Như đã phân tích ở trên, lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng củadoanh nghiệp kinh doanh Lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phảnánh đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tuynhiên, không thể dùng chỉ tiêu lợi nhuận để so sánh, đánh giá hiệu quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp khác nhau vì gặp phải nhữnghạn chế nhất định sau:

- Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng, nó chịu ảnh hưởng của nhiềunhân tố, cả nhân tố khách quan, cả nhân tố chủ quan, và có sự bù trừ giữa cácnhân tố Các nhân tố đó có thể ảnh hưởng cùng chiều hay ngược chiều đến lợinhuận nên kết quả lợi nhuận cuối cùng có thể không phản ánh chính xác chấtlượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Do điều kiện kinh doanh khác nhau về nhiều mặt như vị trí địa lý, thịtrường tiêu thụ…giữa các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực kinh doanh khác nhau,việc so sánh lợi nhuận để đánh giá kết quả sẽ không mang tính khách quan, toàndiện Ngay cả với doanh nghiệp cùng ngành, lợi nhuận cũng rất khác biệt khidoanh nghiệp có thuận lợi hay khó khăn riêng

- Ngoài ra lợi nhuận của doanh nghiệp còn phụ thuộc rất nhiều vào quy

mô doanh nghiệp ở các doanh nghiệp có quy mô lớn, nếu công tác quản lý kémnhưng vẫn có thể thu được lợi nhuận lớn hơn các doanh nghiệp nhỏ có chấtlượng quản lý tốt hơn

Vì vậy, để đánh giá một cách đầy đủ và chính xác nhất hiệu quả sản xuấtkinh doanh đồng thời so sánh và đánh giá chất lượng hoạt động giữa các doanh

Trang 7

nghiệp với nhau thì ngoài chỉ tiêu chất lượng là lợi nhuận cón sử dụng chỉ tiêutương đối là tỷ suất lợi nhuận.

1.1.3.2 Các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận.

Có nhiều cách xác định tỷ suất lợi nhuận Mỗi cách có một nội dung kinh

tế riêng để đánh giá kết quả trên các góc độ khác nhau Sau đây là một số chỉtiêu tỷ suất lợi nhuận thường dùng

- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu (hệ số lãi ròng)

Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế với doanh thu thuần bán hàngtrong kỳ

Tỷ suất lợi nhuận Lợi nhuận sau thuế trong kỳ

sau thuế trên =

doanh thu Doanh thu trong kỳ

Hệ số này phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Khithực hiện 1 đồng doanh thu trong kỳ thì doanh nghiệp thu được bao nhiêu đồnglợi nhuận sau thuế

- Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh hay tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (ROA E )

Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận trước lãi vay và thuế với vốn kinh doanhbình quân trong kỳ

Trang 8

Tỷ suất sinh lời Lợi nhuận trước lãi vay và thuế

kinh tế của =

tài sản (ROA E ) Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ

Chỉ tiêu này phản ảnh khả năng sinh lời của tài sản hay vốn kinh doanh màkhông tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và nguồn gốc vốnkinh doanh

- Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh

Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận trước thuế với vốn kinh doanh bình quân

sử dụng trong kỳ

Tỷ suất lợi nhuận Lợi nhuận trước thuế trong kỳ

trước thuế trên =

vốn kinh doanh Vốn kinh doanh bình quân sử dụng trong kỳ

Chỉ tiêu này thể hiện mỗi đồng vốn kinh doanh trong kỳ có khả năng sinhlời ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trả lãi tiền vay

- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh hay tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA)

Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế với vốn kinh doanh binh quân sửdụng trong kỳ

Tỷ suất lợi nhuận Lợi nhuận sau thuế

sau thuế trên =

vốn kinh doanh(ROA) Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ

Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng vốn sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêuđồng lợi nhuận sau thuế

Trang 9

-Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE): Là tỷ lệ giữa lợi nhuận sau

thuế và số vốn chủ sở hữu bình quân tham gia kinh doanh trong kỳ

Tỷ suất lợi nhuận vốn

- Thu nhập 1 cổ phần (EPS): Đây là chỉ tiêu chất lượng quan trọng, nó

phản ánh mỗi cổ phần thường (hay cổ phần phổ thong) trong năm thu được baonhiêu đồng lợi nhuận sau thuế

Thu nhập 1 cổ

Lợi nhuận sau thuế - Cổ tức trả cho cổ đông ưu đãi

Tổng số cổ phần thường đang lưu hành

Hệ số EPS cao hơn so với các doanh nghiệp cạnh tranh khác luôn là mộttrong những mục tiêu mà các nhà quản lý doanh nghiệp luôn hướng tới

- Cổ tức 1 cổ phần (DIV): Chỉ tiêu này phản ánh mỗi cổ phần thường

nhận được bao nhiêu đồng cổ tức trong năm

Số lợi nhuận sau thuế dành trả cổ tức cho cổ đông thường

Số cổ phần thường đang lưu hành

1.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp đối với việc tăng lợi nhuận trong

Trang 10

Tài chính doanh nghiệp xét về bản chất là các mối quan hệ phân phối dướihình thức giá trị gắn liền với việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanhnghiệp trong quá trình kinh doanh Xét về hình thức tài chính doanh nghiệpphản ánh quá trình vận động và chuyển hóa các nguồn lực tài chính trong quátrình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp.

Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đưa ra các quyết địnhtài chính, tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạtđộng của doanh nghiệp, đó là tối đa hóa lợi nhuận, không ngừng làm tăng giá trịcủa doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường

Do đó quản trị tài chính doanh nghiệp có vai trò quan trọng đối với việctăng lợi nhuận:

Tài chính doanh nghiệp có vai trò huy động và đảm bảo đầy đủ, kịp thờivốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nhờ đó giúp xác định đúng đắncác nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp, lựa chọn các hìnhthức và phương pháp huy động vốn đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động liêntục và có hiệu quả với chi phí huy động vốn ở mức thấp nhất Từ đó làm giảmchi phí góp phần tăng lợi nhuận của doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp góp phần tổ chức và sử dụng vốn kinh doanh tiếtkiệm có hiệu quả giúp tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận của công ty Tài chínhdoanh nghiệp còn có vai trò giám sát kiểm tra thường xuyên chặt chẽ các hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó giúp doanh nghiệp rà soát cáckhoản chi phí không cần thiết cũng như tìm ra các nguyên nhân gây lãng phí thấtthoát trong doanh nghiệp

1.3 Phương hướng, biện pháp nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp.

1.3.1 Những nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp.

Trang 11

Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp, đó là cácnhân tố ảnh hưởng tới doanh thu và chi phí của doanh nghiệp trong kỳ Nộidung lợi nhuận của doanh nghiệp bao gồm lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinhdoanh, lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận từ hoạt động khác, để phântích các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp ta phải đề cập tới tất

cả các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận từ hoạt động SXKD, hoạt động tài chính

và hoạt động khác Tuy nhiên do thời gian có hạn nên trong đề tài này em chỉxin đề cập tới các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp

1.3.1.1 Nhóm nhân tố ảnh hưởng tới giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ.

Giá thành toàn bộ của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ là biểu hiệnbằng tiền của toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để hoàn thành việc sảnxuất và tiêu thụ một đơn vị sản phẩm, dịch vụ hay một loại sản phẩm, dịch vụnhất định

Giá thành là một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng giảm lợinhuận của doanh nghiệp Bởi vì, trong điều kiện các nhân tố khác không thayđổi, việc hạ giá thành sản phẩm sẽ trực tiếp làm tăng lợi nhuận của doanhnghiệp Ngoài ra việc hạ giá thành cũng là cơ sở để doanh nghiệp xây dựng mộtchính sách giá phù hợp Nếu tiết kiệm được chi phí sản xuất, hạ giá thành sảnphẩm sẽ giúp doanh nghiệp có thể hạ được giá bán sản phẩm, tăng được doanhthu, tăng lợi nhuận, mở rộng được thị trường

Giá thành toàn bộ của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ chịu ảnhhưởng của nhiều nhân tố, song có thể chia thành 2 nhóm nhân tố chủ yếu:

* Nhóm nhân tố về mặt khoa học kỹ thuật, công nghệ sản xuất

Trang 12

Đây là nhân tố phản ánh trình độ trang bị máy móc thiết bị, trình độ cơgiới hóa trong sản xuất của doanh nghiệp Nhân tố này đóng vai trò quan trọngtrong việc tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm Nếu thực hiện trang

bị máy móc, công nghệ hiện đại sẽ giúp doanh nghiệp tăng năng suất lao động,tiết kiệm được hao phí lao động sống và lao động vật hóa trong quá trình sảnxuất từ đó có thể hạ giá thành sản xuất

* Nhóm nhân tố về mặt tổ chức quản lý sản xuất

Thực tế cho thấy việc tổ chức quản lý sản xuất khoa học, hợp lý có tácđộng mạnh mẽ tới việc tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm của doanhnghiệp Chẳng hạn việc lựa chọn loại hình sản xuất, phương pháp tổ chức sảnxuất, tổ chức lao động hợp lý sẽ đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hànhcân đối, nhịp nhàng liên tục, hạn chế tối đa những thiệt hại về ngừng sản xuất,tận dụng được thời gian, công suất hoạt động của máy móc thiết bị Việc tổ chứclao động khoa học sẽ tạo điều kiện nâng cao được năng suất lao động, khơi dậyniềm tin sáng tạo trong người lao động, loại trừ những nguyên nhân gây lãng phísức lao động, từ đó có thể tiết kiệm được chi phí nhân công trong giá thành

1.3.1.2 Nhóm nhân tố ảnh hưởng tới doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền bán sản phẩmhàng hóa, dịch vụ sau khi đã trừ đi các khoản giảm giá hàng bán, hàng bán bị trảlại (nếu có) và đã được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ phụ thuộc vào đặc điểm sảnxuất, tiêu thụ của từng ngành và có ảnh hưởng lớn tới tình hình tài chính củamỗi doanh nghiệp

Doanh thu bán hàng chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố nhưng có thể chiathành 5 nhóm nhân tố chủ yếu sau:

Trang 13

* Khối lượng sản phẩm tiêu thụ

Đây là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu bán hàng Trongđiều kiện các nhân tố khác không đổi thì khối luợng sản phẩm tiêu thụ càngnhiều, doanh thu sẽ càng lớn, lợi nhuận càng cao và ngược lại

* Chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ

Chất lượng sản phẩm luôn là yếu tố niềm tin của khách hàng đối với sảnphẩm của doanh nghiệp Chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp càng cao, uytín của doanh nghiệp càng lớn, chiếm được niềm tin của khách hàng, từ đó gópphần làm tăng khối lượng tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu bán hàng dẫn đếntăng lợi nhuận của doanh nghiệp Tuy nhiên chất lượng sản phẩm cũng gắn liềnvới giá bán của sản phẩm Chất lượng càng cao thì chi phí sản xuất ra sản phẩmcũng cao và giá bán tất yếu sẽ cao, điều đó có ảnh hưởng trực tiếp tới khối lượngsản phẩm tiêu thụ Nếu giá bán quá cao có thể làm giảm khối lượng tiêu thụ sảnphẩm, từ đó làm giảm doanh thu bán hàng, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.Chính vì vậy doanh nghiệp cần nghiên cứu, khảo sát nhu cầu của thị trường vềgiá cả, chất lượng sản phẩm, để từ đó đưa ra những quyết định sản xuất cho phùhợp

* Giá bán sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ

Trong trường hợp các yếu tố khác không đổi thì việc thay đổi giá báncũng có ảnh hưởng trực tiếp tới doanh thu Dưới tác động của các quy luật thịtrường thì giá bán được hình thành một cách khách quan do quan hệ cung cầu

Vì vậy, doanh nghiệp phải xây dựng một chính sách giá phù hợp, linh hoạt đượckhách hàng chấp nhận, bù đắp được chi phí tạo ra lợi nhuận

Trang 14

* Thị trường tiêu thụ và phương thức tiêu thụ, thanh toán tiền hàng

Đây là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến doanh thu tiêu thụ sản phẩm củadoanh nghiệp Nếu sản phẩm của doanh nghiệp có thị trường tiêu thụ lớn, sứcmua dồi dào sẽ là một cơ hội tốt để tăng doanh thu

Khi sản phẩm của doanh nghiệp có một thị trường tiêu thụ rộng lớn, sảnphẩm đủ sức cạnh tranh trên thị trường thì việc đa dạng hóa phương thức bánhàng và thanh toán tiền hàng sẽ là một nhân tố kích thích, thu hút khách hànglựa chọn sản phẩm của doanh nghiệp, từ đó tăng doanh thu tiêu thụ

* Kết cấu mặt hàng sản phẩm hàng hóa tiêu thụ

Trong điều kiện hiện nay, để đáp ứng nhu cầu thị trường thì mỗi doanhnghiệp thường sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau, trong mỗi loại lại chia ranhững dòng sản phẩm có quy cách, chất lượng khác nhau và tất yếu là giá cả củachúng cũng khác nhau Do đó trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, nếudoanh nghiệp tăng tỷ trọng sản xuất và tiêu thụ mặt hàng có giá bán cao, giảm tỷtrọng mặt hàng có giá bán thấp thì doanh thu tiêu thụ sẽ tăng và ngược lại Nhìnchung việc thay đổi kết cấu mặt hàng tiêu thụ chủ yếu do sự biến động của nhucầu thị trường, doanh nghiệp cần điều chỉnh hoạt động sản xuất của mình hướngtheo thị trường, có như vậy doanh nghiệp mới có thể đạt được hiệu quả cao nhất

1.3.2 Một số biện pháp chủ yếu nhằm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.

1.3.2.1 Đẩy mạnh khối lượng bán ra, tăng doanh thu bán hàng

Đây là một biện pháp quan trọng nhằm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.Khi những điều kiện khác không thay đổi thì khối lượng sản phẩm, hàng hoá vàdịch vụ tiêu thụ, cung ứng có ảnh hưởng trực tiếp tới doanh thu bán hàng từ đótrực tiếp tác động đến mức lợi nhuận của doanh nghiệp Để có thể đẩy mạnhkhối lượng bán ra, tăng doanh thu bán hàng về phía chủ quan doanh nghiệp cóthể đưa ra một số biện pháp sau:

Trang 15

- Tìm các biện pháp để tổ chức tốt nhất các nguồn lực như tổ chức laođộng sao cho phù hợp với khả năng và trình độ của công nhân viên, khuyếnkhích được lòng hăng say lao động, tinh thần trách nhiệm với công việc; tổ chứccung ứng kịp thời, đầy đủ các loại nguyên vật liệu cho hoạt động sản xuất kinhdoanh diễn ra một cách thuận lợi, trang bị cơ sở vật chất phù hợp với quy môkinh doanh và trình độ công nhân…Qua đó tận dụng được mọi năng lực về nhâncông, máy móc thiết bị để tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinhdoanh cho doanh nghiệp.

- Thực hiện nghiên cứu khảo sát nhu cầu thị trường về các loại sản phẩm,dịch vụ; yêu cầu của thị trường đối với các sản phẩm dịch vụ đó về mẫu mã, giá

cả, chất lượng Từ đó, doanh nghiệp đưa ra những chính sách Marketing thíchhợp giới thiệu sản phẩm của mình đối với khách hàng và kích thích họ chọn sảnphẩm của doanh nghiệp

- Đa dạng hoá sản phẩm, mở rộng loại hình kinh doanh để đáp ứng nhữngnhu cầu khác nhau của người tiêu dùng

- áp dụng nhiều hình thức bán hàng như bán buôn, bán lẻ, bán trả góp …

để đáp ứng mọi nhu cầu và khả năng tài chính của khách hàng

- Thực hiện chính sách thanh toán mềm dẻo và giá cả linh hoạt sao chotiêu thụ được khối lượng sản phẩm tiêu thụ nhiều nhất và đảm bảo khả năng thuhồi vốn cho doanh nghiệp …

Bên cạnh đó doanh nghiệp cần phải đặc biệt chú ý tới chất lượng sảnphẩm và công tác chăm sóc khách hàng sau khi bán vì điều đó quyết định rất lớntới uy tín của doanh nghiệp, khẳng định thương hiệu của doanh nghiệp Nó cóảnh hưởng rất lớn tới lợi nhuận của doanh nghiệp Vì trong điều kiện hiện nay,hàng hóa trên thị trường vô cùng phong phú, mức độ cạnh tranh ngày càng caochất lượng sản phẩm là vấn đề sống còn của các doanh nghiệp, chất lượng sản

Trang 16

phẩm cao thì khả năng tiêu thụ càng lớn, uy tín của doanh nghiệp càng cao ….Đây cũng là nhân tố thuộc về chủ quan của doanh nghiệp nên doanh nghiệp cầnxây dựng các định mức về sản xuất theo đúng tiêu chuẩn chất lượng quốc gia vàquốc tế đề ra, phấn đấu thực hiện tốt kế hoạch định mức hay thiết kế kỹ thuật đểđảm bảo chất lượng sản phẩm tốt nhất Trên cơ sở đó từng bước xây dựng mộtthương hiệu có uy tín cho doanh nghiệp.

1.3.2.2 Lựa chọn kết cấu mặt hàng tiêu thụ hợp lý

Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, nếu thay đổi kết cấu mặt hàngtiêu thụ sẽ làm cho tổng lợi nhuận thay đổi theo Nếu tăng tỷ trọng tiêu thụ củasản phẩm có lợi nhuận đơn vị cao, giảm tỷ trọng sản phẩm có lợi nhuận đơn vịthấp thì quy mô lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ lớn hơn và ngược lại

Để thu được lợi nhuân cao, doanh nghiệp cần bám sát nhu cầu thị trườngtạo cho mình một kết cấu sản phẩm thích hợp, đồng thời tìm tòi, nghiên cứu chếtạo ra các sản phẩm mới ưu việt hơn thay thế cho sản phẩm đã lạc hậu

1.3.2.3 Thực hiện tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm

Tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm hàng hoá, dịch vụ là con đường

cơ bản để tăng lợi nhuận Nếu như giá bán và mức thuế đã được xác định thì lợinhuận đơn vị sản phẩm tăng lên hay giảm bớt là do giá thành sản phẩm quyếtđịnh Trong kinh doanh, doanh nghiệp cần quan tâm đến quản lý chi phí, tìmbiện pháp để giảm chi phí, loại trừ những chi phí bất hợp lý, bất hợp lệ từ đó tiếtkiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm

Từ công thức xác định lợi nhuận nêu trên ta cũng thấy giá thành toàn bộsản phẩm giảm bao nhiêu thì lợi nhuận tăng bấy nhiêu Hạ giá thành sản phẩmchính là giảm các chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm bao gồm chi phí nguyênvật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung, chi phí bán

Trang 17

hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp Để hạ giá thành sản phẩm các doanh nghiệpcần thực hiện tốt các giải pháp sau:

* Tăng năng suất lao động

Tổ chức, sắp xếp lao động một cách khoa học, hợp lý, đúng người đúngviệc như vậy sẽ tạo ra sự kết hợp hài hoà với các yếu tố sản xuất và loại trừ đượctình trạng sử dụng lãng phí lao động Nâng cao trình độ tay nghề và ý thức tráchnhiệm của người lao động Có các chính sách hợp lý về tiền lương, tiềnthưởng…nhằm khuyến khích lòng nhiệt tình, hăng say lao động, có sáng kiếntrong sản xuất để giảm chi phí, tổ chức lao động theo hướng giảm tối đa laođộng gián tiếp, xây dựng bộ máy quản lý gọn nhẹ mà hiệu quả cao

Cải tiến máy móc thiết bị cho phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp, tạo điều kiện để quá trình sản xuất tận dụng được tối đa côngsuất máy móc thiết bị Đồng thơi sắp xếp lao động hợp lý, sửa chữa, bảo dưỡngmáy móc thiết bị định kỳ, tuân thủ nghiêm các yêu cầu của quy trình kỹ thuật

*Tiết kiệm nguyên vật liệu tiêu hao:

Chi phí nguyên vật liệu thường là khoản chiếm tỷ trọng lớn trong giáthành sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp, nếu tiết kiệm được chi phí này sẽ cótác dụng to lớn trong việc hạ giá thành sản phẩm Để tiết kiệm nguyên vật liệutiêu hao cần giảm tỷ lệ hao hụt, giảm mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn

vị sản phẩm … Do đó cần có các biện pháp bảo quản nguyên vật liệu, quy địnhmức tiêu hao nguyên vật liệu, thường xuyên giám sát quá trình sản xuất nhằmngăn chặn kịp thời tình trạng mất mát, sử dụng lãng phí vật tư, tận dụng tốt phếliệu để tăng thu nhập cho doanh nghiệp … Ngoài ra doanh nghiệp cần coi trọngđổi mới máy móc thiết bị, áp dụng công nghệ mới cho phép sử dụng tiết kiệmvật tư hay sử dụng loại rẻ tiền thay cho cho đắt tiền, nguyên vật liệu trong nướcsản xuất được thay cho loại nhập khẩu

Trang 18

1.3.2.4 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh,các doanh nghiệp phải bỏ ra một số vốn nhất định phù hợp với quy mô và điềukiện kinh doanh Với một lượng vốn nhất định tham gia kinh doanh ở các công

ty khác nhau có thể tạo ra một lượng lợi nhuận cao hay thấp khác nhau Điều đó

la do hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ở các công ty khác nhau là hoàn toànkhác nhau Với cùng một lượng vốn, nếu doanh nghiệp nào có hiệu quả sử dụngvốn cao có thể thu được lợi nhuận cao hơn so với những doanh nghiệp có hiệuquả sử dụng vốn kinh doanh thấp hơn Do đó việc nâng cao hiệu quả sử dụngvốn cũng là một cách để tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp

Căn cứ vào đặc điểm chu chuyển vốn, có thể chia vốn kinh doanh củadoanh nghiệp thành 2 bộ phận là vốn lưu động (VLĐ) và vốn cố định (VCĐ)

- VLĐ là biểu hiện bằng tiền của các loại vật tư, hàng hoá, thành phẩm…

Sử dụng tốt VLĐ đồng nghĩa với việc nâng cao hiệu quả sử dụng của chúng,tăng tốc độ luân chuyển của VLĐ Tốc độ luân chuyển VLĐ nhanh hay chậmnói lên hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp cao hay thấp Tốc độ luânchuyển của VLĐ nói lên tình hình tổ chức các mặt công tác mua sắm, dự trữ,tiêu thụ vật tư của doanh nghiệp có hợp lý không, vật tư dự trữ cho sản xuất cóđảm bảo chất lượng hay không, VLĐ luân chuyển nhanh hay chậm còn phảnánh số lượng vật tư sử dụng tiết kiệm hay không, thời gian nằm ở khâu sản xuất

và lưu thong là hợp lý hay không hợp lý… Tốc độ luân chuyển vốn tăng tức làđồng vốn đã được quay vòng nhanh hơn, điều đó cũng có nghĩa là doanh nghiệp

sẽ phải bỏ ra ít vốn hơn mà vẫn đảm bảo sản xuất kinh doanh liên tục Do đóviệc sử dụng VLĐ có hiệu quả sẽ làm giá thành sản phẩm hạ và tăng lợi nhuậncho doanh nghiệp

- VCĐ là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản cố định của doanhnghiệp VCĐ có ý nghĩa rất quan trọng vì nó mang tính chất quyết định đến

Trang 19

năng lực sản xuất của doanh nghiệp Mặt khác, VCĐ thường gắn với giá trị lớn,đầu tư dài hạn, thu hồi chậm và dễ gặp rủi ro Vì vậy, nâng cao hiệu quả sử dụngVCĐ cũng là trọng điểm của công tác tài chính doanh nghiệp.

Để làm tốt công tác nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh,các doanh nghiệp cần chú ý các vấn đề sau:

- Đối với VLĐ cần tính toán xác đinh nhu cầu số vốn cần thiết phục vụcho hoạt động sản xuất kinh doanh đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được lientục; tăng cường công tác kiểm tra giám đốc tài chính đối với các bộ phận VLĐnhư vốn dự trữ sản xuất, vốn sản phẩm dở dang, vốn thành phẩm….tạo điềukiện cho quá trình luân chuyển của vốn được thuận lợi, từ đó tăng tốc độ luânchuyển của vốn Kiểm tra chặt chẽ các định mức tiêu hao nguyên vật liệu, pháthuy tinh thần năng động, sáng tạo, tinh thần làm chủ của người lao động, trên cơ

sở đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp

- Đối với VCĐ doanh nghiệp cần phải xác định được nhu cầu vốn đầu tưvào TSCĐ trong những năm trước mắt và lâu dài để lựa chọn khai thác cácnguồn vốn đầu tư phù hợp, chi phí sử dụng vốn thấp nhất Trong quá trình sửdụng cần phát huy tối đa công suất lao động, rút ngắn thời gian khấu hao TSCĐthu hồi vốn nhanh, tránh được các hao mòn vô hình Bên cạnh đó luôn phải quản

lý, thực hiện đúng quy chế sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa nâng cao năng lựchoạt động của TSCĐ, không để TSCĐ hư hỏng trước thời hạn quy đinh

Trên đây là một số giải pháp cơ bản để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.Không thể có một mô hình chung cho tất cả các doanh nghiệp, mỗi doanhnghiệp phải tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh doanh và phương hướng phát triển củamình, kết hợp với những giải pháp cơ bản trên thì mới có thể đưa ra giải pháp cụthể một cách hữu hiệu nhất

Trang 20

Công ty Cổ phần Xi măng Tuyên Quang là một doanh nghiệp hoạt độngsản xuất kinh doanh nên cũng không nằm ngoài mục tiêu lợi nhuận và phấn đấuđạt lợi nhuận ngày càng cao Sau đây, chúng ta sẽ đi sâu nghiên cứu một cách cụthể và chi tiết vấn đề thực hiện lợi nhuận năm 2009 và các giải pháp phấn đấutăng lợi nhuận ở Công ty Cổ phần Xi măng Tuyên Quang.

Trang 21

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN LỢI NHUẬN Ở CÔNG TY CỔ PHẦN XI

MĂNG TUYÊN QUANG 2.1 Khái quát chung về Công ty

2.1.1 Quá trình hình thành phát triển của công ty

Tên gọi Công ty: Công ty Cổ phần Xi măng Tuyên Quang

Trụ sở chính: Tràng Đà – Tuyên Quang

Công ty cổ phần xi măng Tuyên Quang được khởi công xây dựng năm

1977, với tên gọi là Xí nhiệp xi măng Yên Lĩnh gồm một dây chuyền sản xuấtvới công xuất thiết kế là 01 vạn tấn/năm, gồm 2 lò đứng ( 1,5m x 6m ) Sau hainăm xây dựng, đúng ngày 3/2/1979, công trình đã hoàn thành bàn giao và đượcđưa vào sản xuất, cho ra đời bao xi măng đầu tiên đánh dấu một bước phát triểncông nghiệp của Tỉnh Tuyên Quang

Tháng 7/1986 Xí nghiệp lại nhận bàn giao 01 xí nghiệp khai thác đá vôi vớicông xuất 30.000m/năm của tỉnh sát nhập vào

Năm 1991, Xí nghiệp vay vốn ngân hàng, đầu tư xây dựng tiếp dây chuyềnsản xuất thứ 2 (Gồm 2 lò đứng 1,5m x 6m với tổng công suất 1 vạn tấn/năm).Đưa tổng công suất của Xí nghiệp lên 2 vạn tấn/ năm

Năm 1993, Xí nghiệp đã vay vốn ngân hàng để đầu tư xây dựng tiếp mộtdây chuyền sản xuất xi măng Póc Lăng (PCB30) lò đứng công nghệ Trung Quốc

với công suất thiết kế 8 vạn tấn/năm, tổng số vốn đầu tư là 39.514.629.000đ.

Trang 22

Cũng năm 1993, Xí nghiệp đã liên doanh với công ty TMD (Công ty pháttriển công nghệ và vật liệu xây dựng) lắp đặt một dây chuyền nghiền bột Baritevới công suất 15.000 tấn/năm Sản phẩm đạt tiêu chuẩn API của Viện dầu lửa

Mỹ, phục vụ ngành công nghiệp khoan thăm dò dầu khí trong và ngoài nước Năm 2005, căn cứ nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19/06/2002 củachính phủ về việc chuyển đổi Doanh nghiệp nhà nước thành Công ty cổ phần.Thực hiện công văn số 1683/UBND ngày 3/8/2004 của UBND tỉnh TuyênQuang về việc đẩy nhanh công tác cổ phần hóa và sắp xếp lại tại các Doanhnhiệp, Xí nghiệp xi măng Tuyên quang chuyển thành Công ty Cổ phần xi măngTuyên Quang từ ngày 01/04/2005 theo QĐ số 1344/QĐ-CT ngày 04/11/2004

Vốn điều lệ : 20.444.000.000 đồng

Trong đó: - Vốn nhà nước ( 51% ): 10.426.500.000 đồng

- Vốn của cổ đông Công ty ( 49% ): 10.017.500.000 đồng

Tổng số cổ đông ( Ngày 01/04/2005 ) là: 1.135 cổ đông

Trong đó : - Cổ đông nhà nước: 01

- Cổ đông là người lao động trong Công ty: 1.134

- Thu nhập 1 cổ phần EPS (năm2008) : 17.048 đồng/CP

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty

* Các sản phẩm chính:

- Sản phẩm đá ba: Đá là nguyên liệu chính để sản xuất xi măng với hàm

lượng CaO >=52%, R nén >40 N/m2 khi đá dùng vào sản xuất xi măng thì nómang đặc điểm của nguyên vật liệu đầu vào của quá trình sản xuất nhưng khibán ra thị trường thì đá lại là một thành phẩm

- Sản phẩm xi măng PCB 30: R nén > 30 N/m2; độ mịn < 20%; thời gianđông kết bắt đầu >45’ và kết thúc < 10h; tính ổm định thể tích theo phương pháp

Trang 23

Lostalie <10m, hàm lượng SO3 <3%; hàm lượng mất khi nung <5%; vôi tự dotrong Xi măng <2,5%; mầu sắc theo sở thích.

- Sản phẩm bột Barite: Bột barite có tỷ trọng >4,2 tấn/m3; cỡ hạt > 75micromet <3%; hàm lượng kim loại kiềm thổ tam trong nước < 250%; đượcdùng để tạo ra độ nhớt trong dung dịch lỏng; với đặc tính nặng, linh động, để đổxuống lỗ khoan bê tông chống phóng xạ

* Nhiệm vụ kinh doanh

- Tổ chức sản xuất xi măng Pooclăng (PCB30) theo tiêu chuẩn TCVN

2682-1992, khai thác và chế tiến bột barite và vật liệu xây dựng khác Tổ chức doanhnghiệp theo hình thức công ty cổ phần, hạch toán kinh tế độc lập

- Quản lý và sử dụng vốn đúng chế độ hiện hành (Tự trang trải về tài chínhđảm bảo sản xuất kinh doanh có lãi)

- Nắm bắt khả năng sản xuất kinh doanh, nhu cầu tiêu dùng của thị trường để

tổ chức sản xuất kinh doanh đáp ứng nhu cầu của khách hàng và phục vụ cáccông trình xây dựng của tỉnh nhằm thu lợi nhuận tối đa

- Chấp hành và thực hiện đầy đủ chính sách chế độ pháp luật của nhà nước

về hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người laođộng

* Ngành nghề kinh doanh của công ty

- Sản xuất xi măng

- Khai thác và chế biến bột Ba rít

- Khai thác đá

- Mua bán vật liệu xây dựng

- Mua bán, xuất nhập khẩu thiết bị , phụ tùng thay thế phục vụ sản xuất xi măng

Trang 24

- Xây dựng công trình công nghiệp

2.1.3 Cơ cấu tổ chức hoạt động của công ty

Công ty Cổ phần Xi măng Tuyên Quang chịu sự quản lý trực tiếp của Uỷban Nhân dân tỉnh Tuyên Quang, hiện tại công ty có 1019 CBCNV, 50 người cótrình độ đại học, 100 người có trình độ cao đẳng và trung cấp, 500 người cótrình độ bậc thợ từ bậc 5 trở lên

* Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý: Công ty Cổ phần xi măng Tuyên quang

gồm các phòng, ban và phân xưởng sản xuất như sau: (sơ đồ 1)

- Ban Giám đốc Công ty (01 giám đốc và 02 phó giám đốc)

- Phòng tổ chức - lao động tiền lương

- Phân xưởng cơ điện

- Phân xưởng khai thác đá

- Phân xưởng barite

- Ban bảo vệ

Trang 25

- Ban y tế

- Ban đời sống

Trang 26

* Chức năng cụ thể của một số phòng, ban, phân xưởng chính :

a- Ban Giám đốc Công ty (gồm 1 giám đốc và 2 phó giám đốc): Quản lý

chung mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty

b- Phòng tổ chức - lao động tiền lương: Làm công tác tổ chức, quản lý

lao động, tham mưu cho lãnh đạo Công ty về công tác định mức lao động, tiềnlương, an toàn lao động, bảo hộ lao động

c- Phòng Kế hoạch - Vật tư: Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế

hoạch sản xuất kinh doanh trong toàn Công ty

d- Phòng tài vụ: Quản lý vốn, tài sản, vật tư của Công ty, làm công tác kế

toán, tham mưu cho Giám đốc Công ty trong việc quản lý kinh tế - tài chính theođúng quy định của pháp luật hiện hành

đ- Phòng kỹ thuật: Tổ chức thực hiện các giải pháp kỹ thuật đảm bảo

yêu cầu của công nghệ sản xuất, tạo điều kiện cho các phân xưởng sản xuất nângcao năng suất, chất lượng sản phẩm

e- Phòng tiêu thụ sản phẩm: Tổ chức, quản lý công tác tiêu thụ sản

phẩm, tham mưu cho lãnh đạo Công ty đưa ra những quyết định đúng đắn vềcông tác tiêu thụ sản phẩm

f- Phòng hành chính quản trị: Làm công tác hành chính, quản trị trong

Công ty

g- Phân xưởng cơ điện: Quản lý kỹ thuật toàn bộ máy móc, thiết bị công

nghệ sản xuất, phương tiện vận tải trong toàn Công ty

h- Phân xưởng nguyên liệu: Quản lý, tổ chức cung cấp nguyên liệu cho

sản xuất

y- Phân xưởng bán thành phẩm: Quản lý, tổ chức cung cấp nguyên liệu

cho sản xuất Quản lý, tổ chức sản xuất thành phẩm (xi măng)

Trang 27

l- Phân xưởng khai thác đá: Tổ chức khai thác, bốc xếp, chế biến đá theo

đúng tiến độ, đảm bảo về khối lượng, chất lượng cho sản xuất xi măng của Công

ty và đảm bảo các nhu cầu về đá khác cho xây dựng cơ bản

n- Phân xưởng barite: Quản lý, tổ chức sản xuất bột barite theo tiêu

chuẩn API

m- Ban đời sống: Chăm lo đời sống, đảm bảo chế độ ăn ca phục vụ cho

CBCNV

i- Ban Y tế: Chăm lo sức khoẻ cho CBCNV và người lao động.

* Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN

CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG TUYÊN QUANG

Hình thức kế toán: Hiện tại Xí nghiệp áp dụng hình thức chứng từ ghi sổ.

Kỳ hạch toán: Báo cáo theo quý.

Phương pháp hạch toán: Phương pháp kê khai thường xuyên.

Phương pháp tính VAT: Hạch toán VAT theo phương pháp khấu trừ.

Bộ phận

kế toán bán hàng

Bộ phận

kế toán thanh toán

Phó phòng tài vụ kiêm kế toán TSCĐ

Kế toán trưởng

Trang 28

Phần mềm kế toán sử dụng: phần mềm kế toán FAST.

2.1.4 Đặc điểm hoạt động SXKD của Công ty

2.1.4.1 Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh

Công ty cổ phần xi măng Tuyên Quang có 5 phân xưởng sản xuất chính làphân xưởng nguyên liệu, phân xưởng bán thành phẩm, phân xưởng thành phẩm,phân xưởng khai thác đá và phân xưởng barite, có 1 phân xưởng sản xuất phụ làphân xưởng cơ điện Từng phân xưởng chia thành các tổ sản xuất thực hiện từngkhâu công việc trong quy trình sản xuất sản phẩm như khai thác nguyên liệu,phối trộn nguyên liệu, nung nguyên liệu, và tạo sản phẩm

2.1.4.1 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất

Ta có thể tóm tắt quy trình công nghệ sản xuất xi măng thành các bước côngnghệ như sau:

* Khai thác nguyên liệu: Đá vôi và đất sét là hai loại nguyên liệu chính dùng

để sản xuất xi măng, hai loại nguyên liệu này công ty tự khai thác

* Phối trộn nguyên liệu: Hai loại nguyên liệu trên được phối trộn theo một tỷ

lệ hợp lý cộng với Quặng sắt và than cám được nghiền nhỏ tạo ra hỗn hợpnguyên liệu xi măng

* Nung nguyên liệu: Hỗn hợp nguyên liệu trên sẽ trải qua 1 giai đoạn nung để

tạo thành Clanhke

* Tạo sản phẩm: Cuối cùng để tạo ra sản phẩm xi măng người ta đem nghiền

Clanhke với thạch cao và một số phụ gia khác theo một tỷ lệ thích hợp Xi măng

có thể được bán dưới dạng rời hoặc đóng bao

Qui trình công nghệ sản xuất xi măng được thể hiện ở sơ đồ sau : (sơ đồ 2)

Trang 29

2.1.4.2 Đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật

Công ty Cổ phần xi măng Tuyên Quang hiện nay sử dụng 1 dây truyềncông nghệ sản xuất xi măng lò đứng, đây là dây truyền sản xuất cũ lạc hậu Trảiqua hơn 30 năm sản xuất và kinh doanh là một bất lợi lớn trong môi trường cạnhtranh khốc liệt như hiện nay Nhận thức được điều đó Công ty đã mạnh dạn đầu

tư đổi mới công nghệ sản xuất xi măng từ lò đứng sang lò quay đến tháng11/2009 đưa vào hoạt động nâng công suất của nhà máy lên 27 vạn tấn ximăng/năm

Ngoài ra phần lớn các TSCĐ của Công ty đã đưa vào sử dụng lâu nămthời gian khấu hao còn lại nhỏ, Công ty cũng đang có kế hoạch đầu tư đổi mớitrang thiết bị, nhà xưởng máy móc, phương tiện vận tải để có thể đáp ứng đượcnhu cầu sản xuất của Công ty trong những năm sắp tới

Bên cạnh đó, xác định được tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệthông tin vào sản xuất kinh doanh, Công ty cũng chú trọng đầu tư trang thiết bị,máy tính cho các phòng ban, đẩy mạnh việc ứng dụng phần mềm kế toán FASTvào công tác kế toán, phục vụ chuyên môn nghiệp vụ, công tác quản lý trongtoàn Công ty

2.1.4.3 Đặc điểm tình hình thị trường và đối thủ cạnh tranh

* Thị trường đầu vào và các yếu tố đầu vào:

Công ty Cổ phần xi măng Tuyên Quang đặt tại xã Tràng Đà – thị xãTuyên Quang, đây là một vùng nguyên liệu lý tưởng cho việc sản xuất xi măngvới trữ lượng đá vôi và đất sét lớn Trữ lượng đá vôi đã được khảo sát là 115triệu tấn tập trung chủ yếu quanh khu vực nhà máy, đất sét chạy dọc theo trụcđường xã Tràng Đà, có trữ lượng khảo sát 60 triệu tấn Đá vôi được công nhâncủa Công ty khai thác tại công trường bằng phương pháp khoan, nổ mìn sau đó

Trang 30

giới Đá sét cũng được khai thác gần đó sau đó được vận chuyển về phân xưởngnguyên liệu.

Ngoài hai nguyên liệu chính là đá vôi và đất sét trong phối nguyên liệucòn sử dụng Pirit là chất thải của nhà máy su-pe phốt phát Lâm Thao tỉnh PhúThọ Xỉ pirit được vận chuyển về nhà máy bằng đường bộ Các nguyên liệu phụkhác bao gồm: cát, bôxit, đất sỏi đen, đất cao lanh…được khai thác tại Công tyhoặc mua từ nơi khác

Về nhiên liệu Công ty sử dụng than cám A3, A4 mua từ Quảng Ninh vậnchuyển bằng đường thủy về nhà máy Than Na Dương loại 1 được khai thác ởLạng Sơn và vận chuyển bằng đường bộ về Tuyên Quang

* Thị trường đầu ra và các đối thủ cạnh tranh :

Sản phẩm của Công ty Cổ phần xi măng Tuyên Quang được tiêu thụ ởmột số tỉnh miền núi phía bắc, chủ yếu là Hà Giang và Tuyên Quang, bên cạnh

đó sản phẩm của Công ty cũng có mặt tại các tỉnh lân cận như Yên Bái, TháiNguyên, Phú Thọ Do nỗ lực chủ quan và cũng nhờ có sự quan tâm tạo điều kiệncủa UBND tỉnh Tuyên Quang nên hàng năm Công ty đã đẩy mạnh được việctiêu thụ, có thể nói việc tiêu thụ sản phẩm diễn ra tương đối tốt Hiện nay thịtrường đầu ra ngày càng khó khăn, nhưng đòi hỏi cũng như nhu cầu của thịtrường ngày càng đa dạng, sức cạnh tranh cũng tăng Sản phẩm của Công typhải đối đầu với sự cạnh tranh của xi măng các tỉnh bạn như: Xi măng La Hiên,

xi măng Yên Bình…bên cạnh đó ngay tại địa bàn xã Tràng Đà - Tuyên Quang,Công ty Cổ phần xi măng Tân Quang đang được xây dựng và sắp đưa vào hoạtđộng với công suất thiết kế 1 triệu tấn/năm Đây là một thách thức không nhỏđối với sản phẩm của Công ty Nhận thức được những thách thức trên trongnhững năm vừa qua Công ty Cổ phần xi măng Tuyên Quang đã không ngừngđầu tư vào nghiên cứu và dự đoán thị trường, bên cạnh đó cũng chú trọng đến

Trang 31

cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm, đồng thời linh hoạt trong chính sách giá

cả để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình

2.1.5 Tình hình tài chính chủ yếu của công ty

2.1.5.1 Kết quả hoạt động SXKD của công ty một số năm gần đây

Qua bảng 1 ta thấy năm 2009 tổng doanh thu thuần của Công ty là155.302.688.807 đồng tăng 26.173.267.161 đồng so với năm 2008 với tỷ lệ tăng20,27% Qua chỉ tiêu này ta thấy sản phẩm của Công ty đã có chỗ đứng trên thịtrường và ngày càng được mở rộng VKDBQ cũng tăng từ 69.487.061.423 đồngnăm 2008 lên 124.888.302.711 đồng năm 2009 tăng 79,7% điều đó chứng tỏquy mô về vốn của Công ty đã tăng Tuy nhiên chỉ tiêu lợi nhuận của Công ty lạigiảm đi Năm 2009 lợi nhuận sau thuế của Công ty là 422.355.441 đồng giảm3.062.759.788 đồng so với năm 2008 với tỷ lệ giảm 87,88% Nộp ngân sách nhànước năm 2009 là 2 645 097 072 đồng, giảm 2.298.592.059 đồng so với năm 2008

Do lợi nhuận sau thuế giảm nên EPS cũng giảm từ 17.047,130 đồng năm

2008 xuống còn 2.065,914 đồng năm 2009, giảm 87,88% điều đó chứng tỏ một

cổ phần thường trong năm 2009 chỉ thu được 2.065,914 đồng lợi nhuận sauthuế, giảm 14.981 đồng so với năm 2008

Tổng số lao động của Công ty năm 2009 là 1019 người giảm 81 người sovới năm 2008, điều này chứng tỏ Công ty đã có sự cắt giảm lao động nhằm tiếtkiệm chi phí nhân công Tổng số lao động giảm, nhưng thu nhập bình quân củangười lao động lại tăng lên từ 2.316.092 đồng/người/tháng năm 2008 lên 2.600.000đồng/ người/tháng năm 2009 , với tỷ lệ tăng 12,26% Điều này cho thấy sự cố gắng củaCông ty trong việc quản lý lao động, giảm những lao động thừa, cải thiện đờisống vật chất tinh thần cho người lao động của Công ty

Trang 32

2.1.5.2 Tình hình tài chính chủ yếu của công ty năm 2008-2009

Qua bảng 2 ta thấy tình hình tài chính của Công ty khá ổn định Tổng sốvốn của Công ty đã tăng lên Tại thời điểm 31/12/2008 là 70.119.612.102 đồngcon số này đã tăng lên 118.605.559.567 đồng tại thời điểm 31/12/2009, tăng48.485.947.465 đồng với tỷ lệ tăng 69,15% chứng tỏ Công ty đã có sự mở rộngsản xuất kinh doanh

Tài sản dài hạn của Công ty không ngừng tăng lên, tại thời điểm31/12/2009 là 43.318.008.134 đồng đã tăng lên 25.584.582.515 đồng so với thờiđiểm 31/12/2008 tương ứng với tỷ lệ tăng 144,27% Việc tăng lên này chủ yếu

là do TSCĐ tăng 25.458.024.853 đồng với tỷ lệ tăng 148,18% Điều này chứng

tỏ Công ty đã có sự đầu tư vào TCSĐ nâng cao năng suất, tăng năng lực sảnxuất kinh doanh

Bên cạnh đó tài sản ngắn hạn của Công ty cũng tăng từ 70.119.612.102đồng tại thời điểm 31/12/2008 lên 118.605.559.567 đồng tại thời điểm31/12/2009, tăng 48.485.947.465 đồng, với tỷ lệ tăng 69,15% Có thể giải thíchviệc tăng lên này chủ yếu là do hàng tồn kho và các khoản phải thu ngắn hạntăng lên Hàng tồn kho tăng 23.330.004.614 đồng, các khoản phải thu ngắn hạntăng 27.689.895.910 đồng Bên cạnh đó tiền và các khoản tương đương tiền lạigiảm 11.899.724.271 đồng Công ty cần phải tính toán lượng hàng tồn kho hợp

lý để tránh ứ đọng vốn, đảm bảo cho sản xuất được liên tục, đồng thời phải xácđịnh các khoản tiền và tương đương tiền hợp lý vừa đảm bảo khả năng thanhtoán vừa tránh việc lãng phí do tiền tồn quỹ quá nhiều Ngoài ra Công ty cũngcần có biện pháp để giảm các khoản phải thu, hạn chế tối đa sự chiếm dụng vốncủa Công ty

Xem xét về nguồn vốn ta thấy nợ phải trả tại thời điểm 31/12/2009 là138.942.735.101 đồng tăng 74.820.898.035 đồng so với thời điểm 31/12/2008với tỷ lệ tăng 116,69% Cả nợ ngắn hạn và nợ dài hạn đều tăng Có thể giải thích

Trang 33

việc tăng này là do Công ty đang vay vốn của Ngân hàng Nông nghiệp TuyênQuang và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Tuyên Quang để đầu tư xây dựng dự

án gỗ và dự án đầu tư chuyển đổi công nghệ từ lò đứng sang lò quay nhằm mởrộng hoạt động sản xuât kinh doanh và nâng cao năng suất lao động của Côngty

Nguồn vốn chủ sở hữu của Công ty đã giảm nhưng không đáng kể, tạithời điểm 31/12/2009 vốn chủ sở hữu của Công ty là 22.980.832.600 đồng giảm750.368.055 đồng với tỷ lệ giảm 3,16% so với thời điểm 31/12/2008, chủ yếu là

do nguồn kinh phí và quỹ khác giảm 724.515.742 đồng với tỷ lệ giảm 112,21%

Tuy nhiên để xem xét một cách cụ thể tình hình tài chính của Công ty ta

có thể xem xét một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu như sau:

Qua bảng 3 ta thấy: từ hệ số khả năng thanh toán hiện thời cho thấy Công

ty luôn đảm bảo khả năng thanh toán nợ ngắn hạn vào thời điểm 31/12/2009một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng 1,05 đồng tài sản lưu động Hệ sốnày đã giảm đi 0,43 lần so với thời điểm 31/12/2008 chứng tỏ khả năng thanhtoán của Công ty đã giảm đi Tuy nhiên vẫn đảm bảo khả năng thanh toán cáckhoản nợ ngắn hạn

Từ hệ số nợ và hệ số VCSH ta thấy Công ty có mức độ sử dụng đòn bẩytài chính cao tại thời điểm 31/12/2008 VCSH chỉ chiếm 27% trong tổng nguồnvốn và đến thời điểm 31/12/2009 lại giảm đi chỉ còn 14% Có thể giải thích việcnày là do Công ty đang vay vốn với quy mô lớn để đầu tư vào 2 dự án đó là dự

án chuyển đổi công nghệ từ lò dứng sang lò quay và dự án xây dựng nhà máychế biến gỗ với công suất 6000m3/năm Tuy nhiên với mức độ sử dụng đòn bẩytài chính cao như vậy thì rủi ro là rất lớn, Công ty phải chú trọng việc quản lý và

sử dụng vốn tốt, kinh doanh có hiệu quả, mới có thể đảm bảo được sự an toàn vềmặt tài chính

Trang 34

Là một Công ty sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng nhưng tỷ lệ đầu tưvào TSNH lại lớn hơn rất nhiều so với tỷ lệ đầu tư vào TSDH, tỷ suất đầu tư vàoTSNH lớn chiếm tới trên 70% tại cả 2 thời điểm 31/12/2008 và 31/12/2009 Tỷsuất đầu tư vào tài sản ngắn hạn và dài hạn của Công ty như vậy là chưa hợp lý

so với mức trung bình ngành, tuy nhiên có thể là do tình hình kinh doanh cụ thểcủa Công ty, cần đi sâu xem xét mới có thể đưa ra kết luận tỷ lệ TSNH vàTSDH như vậy là tốt hay chưa tốt

2.2.Thực trạng tình hình thực hiện lợi nhuận ở Công ty Cổ phần xi măng Tuyên Quang.

2.2.1 Những đặc điểm kinh tế chủ yếu chi phối đến hoạt động kinh doanh

và khả năng tăng lợi nhuận ở Công ty.

Năm 2008 – 2009 nền kinh tế thế giới có nhiều biến động, với ảnh hưởngcủa cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, Việt Nam tuy không chịu hậu quả nặng

nề nhưng ảnh hưởng của nó tới nền kinh tế là không thể tránh khỏi đặc biệt làđối với ngành xây dựng trong đó có ngành sản xuất vật liệu xây dựng Khủnghoảng kinh tế và hậu quả của nó đã làm cho nền kinh tế bị đình trệ, các côngtrình xây dựng lớn giảm mạnh, tất yếu làm cho tình hình tiêu thụ xi măng trongnước giảm, giá sản phẩm liên tục giảm khiến cho nhiều doanh nghiệp trongngành có nguy cơ thua lỗ Tuy nhiên đến quý 2 năm 2009 nhờ có chính sáchkích cầu của chính phủ nên ngành xây dựng đã phục hồi lại được năng lực sảnxuất kinh doanh của mình, sản lượng tiêu thụ được cải thiện qua từng tháng.Tính đến tháng 8/2009 thì tổng sản lượng tiêu thụ xi măng đạt gần 27 triệu tấn,tăng 10,5% so với cùng kỳ năm ngoái

Tuy có sự phục hồi tương đối tốt nhưng nội tại ngành xi măng cũng tồntại nhiều khó khăn, với sự mất cân đối trong phân bố sản xuất ngành xi măng,các nhà máy sản xuất xi măng tập trung chủ yếu ở phía bắc, nên ở miền Bắc môitrường cạnh tranh của các công ty xi măng là vô cùng lớn Điều này cũng có ảnh

Trang 35

hưởng lớn tới khả năng tiêu thụ sản phẩm của Công ty Cổ phần xi măng TuyênQuang.

Bên cạnh đó, trong năm 2009 giá cả các nguyên vật liệu đầu vào phục vụcho sản xuất xi măng đều tăng, giá điện bình quân cũng tăng 6,5 – 7%, đồngthời giá bán than cho sản xuất xi măng lại được điều chỉnh theo giá thị trườngvào quý 2/2009, điều này dẫn đến chi phí sản xuất của các Công ty xi măng tănglên, chi phí tăng lên lợi nhuận tất yếu sẽ giảm đi Là một doanh nghiệp trongngành Công ty Cổ phần xi măng Tuyên Quang không thể nào tránh khỏi nhữngảnh hưởng trên Nhận thức rõ được điều đó Công ty luôn cố gắng trong sản xuấtkinh doanh, hạn chế tối đa những ảnh hưởng bất lợi từ môi trường nền kinh tế

2.2.2 Những thuận lợi và khó khăn chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của Công ty.

* Những thuận lợi

- Công ty Cổ phần Xi măng Tuyên Quang là một doanh nghiệp đã hoạt

động lâu năm trong ngành, đã được xếp hạng là doanh nghiệp loại I, có uy tíntrong việc cung cấp xi măng cho các tỉnh miền núi phía Bắc như Tuyên Quang,

Hà Giang, Phú Thọ, Yên Bái.v.v., chịu sự quản lý trực tiếp của UBND tỉnhTuyên quang, nhận được sự quan tâm giúp đỡ tạo điều kiện của UBND tỉnh, nhờ

đó công ty ngày càng phát huy được những thế mạnh và khẳng định được vị thếcủa mình trên thị trường

- Trung tâm của nhà máy đặt tại xã Tràng Đà – thị xã Tuyên quang đây làmột vùng có những dãy núi đá vôi, đá sét với trữ lượng lớn Ngoài ra còn nhiềuloại khoáng sản khác như quặng bôxit, đất sỏi đen, đất cao lanh, đá donomit…lànhững nguyên liệu chính để sản xuất xi măng, do đó Công ty có thuận lợi lớn

về thị trường các yếu tố đầu vào Mặt khác giao thông đường thủy, đường bộ, rấtthuận lợi

Trang 36

- Công ty luôn chú trọng đến việc đầu tư đổi mới máy móc trang thiết bịhiện đại, mở rộng và nâng cấp nhà máy xi măng hiện có nhằm tận dụng cơ sở hạtầng, giảm chi phí vốn đầu tư, nhanh chóng phát huy hiệu quả kịp thời đáp ứngcân đối nhu cầu tăng trưởng tiêu thụ xi măng, do vậy đã đạt được nhiều kết quảđáng khích lệ, là tiền đề để Công ty xây dựng, khẳng định và phát triển chínhmình.

- Nhìn chung, doanh thu và lợi nhuận của Công ty tăng trưởng tương đối

ổn định qua các năm Do đặc điểm của Công ty là chuyên sản xuất xi măng, loạivật liệu không thể thiếu trong xây dựng nên cùng với mức sống bình quân thunhập được nâng cao thì nhu cầu xây nhà ở cũng như các công trình xây dựngkhác ngày càng cao là yếu tố tăng trưởng bền vững cho toàn ngành công nghiệp

xi măng nói chung cũng như Công ty Cổ phần xi măng Tuyên Quang nói riêng

- Công ty Cổ phần xi măng Tuyên Quang có đội ngũ lao động có tay nghềkhá cao được đào tạo có trình độ phù hợp với công nghệ sản xuất của nhà máy,CBCNV làm việc siêng năng, cần cù, bên cạnh đó còn có đội ngũ cán bộ giàukinh nghiệm, là tiền đề quan trọng để thực hiện các mục tiêu, chiến lược củaCông ty Mặt khác Công ty luôn chăm lo chú trọng đến quyền lợi của CBCNV,giải quyết đủ việc làm cho người lao động Bên cạnh đời sống vật chất, đời sốngtinh thần của CBCBV Công ty cũng không ngừng được nâng cao, do đó đã thúcđẩy CBCNV yêu nghề, gắn bó với Công ty, quyết tâm đạt năng suất cao tronglao động

Bên cạnh những thuận lợi đạt được, Công ty còn gặp phải những khó khăn sau:

* Những khó khăn

- Năm 2009, là năm đầu tiên công ty đưa nhà máy sản xuất xi măngPCB40 và PC40 công suất 270.000 tấn/năm, do mới đưa vào thị trường nênCông ty gặp phải những khó khăn nhất định về vốn, kỹ thuật và lao động

Trang 37

- Nhu cầu về sản phẩm của thị trường ngày càng một cao kèm theo đó làyêu cầu về chất lượng sản phẩm tốt, giá thành hạ Đồng thời trên địa bàn tỉnhTuyên Quang xuất hiện thêm một đối thủ cạnh tranh mới với Công ty Cổ phần

xi măng Tuyên Quang đó là Công ty Cổ phần xi măng Tân Quang đang xâydựng và sắp tham gia vào thị trường, với công suất thiết kế hàng năm từ 910.000

- 1.000.000 tấn xi măng PCB40/năm đây là một thách thức đối với Công ty đểnâng cao khả năng cạnh tranh - một yếu tố sống còn trong nền kinh tế thịtrường

2.2.3 Công tác lập kế hoạch lợi nhuận

Để hoạt động sản xuất trở nên có hiệu quả, sức cạnh tranh trong cơ chếmới ngày càng tăng cao, yêu cầu đặt ra cho mỗi doanh nghiệp là phải chủ độngtính toán các yếu tố đầu vào trên cơ sở nghiên cứu khả năng tiêu thụ sản phẩmcủa mình trên thị trường Vì vậy doanh nghiệp cần lập ra kế hoạch sản xuất kinhdoanh và tổ chức thực hiện kế hoạch đó một cách hiệu quả nhất Nhận thức đượctầm quan trọng của vấn đề, cuối mỗi năm tài chính Công ty Cổ phần xi măngTuyên Quang đều lập kế hoạch sản xuất kinh doanh và lợi nhuận cho năm tới.Việc lập kế hoạch này Công ty thường căn cứ vào số liệu thực tế của các nămtrước cũng như căn cứ vào nhu cầu sản xuất thực tế năm tới để đưa ra một kếhoạch hợp lý, sát với thực tiễn của Công ty

Với công tác lập kế hoạch này sẽ giúp Công ty chủ động hơn, có nhữngchuẩn bị kịp thời để phục vụ sản xuất đảm bảo cho sản xuất được diễn ra liên tụckhông bị gián đoạn, cũng như dự trữ hàng tồn kho hợp lý tránh gây ứ đọng vốn

Trang 38

Một số chỉ tiêu kế hoạch của Công ty cổ phần xi măng tuyên Quang năm 2009

2.2.4.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty qua 2 năm 2008-2009

Qua bảng 4 ta có thể đánh giá được kết quả sản xuất kinh doanh của Công

ty Cổ phần xi măng Tuyên Quang như sau:

* So với kế hoạch năm 2009:

Năm 2009, doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ của Công tychưa hoàn thành được kế hoạch đặt ra, chỉ bằng 85,57% so với kế hoạch Tuynhiên mục tiêu lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ lại vượt kế hoạch

đã đặt ra bằng 104,51% so với kế hoạch, có điều này là do Công ty đã quản lítương đối tốt các khoản chi phí giảm được giá vốn hàng bán của sản phẩm tiêuthụ Tuy nhiên lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh lại quá thấp so với kếhoạch, chỉ bằng 17,04%, có điều này là do Công ty không lường trước được sựtăng lên của các loại chi phí bao gồm CPBH, CPQLDN và chi phí tài chính Do

đó tổng lợi nhuận kế toán trước thuế cũng chỉ đạt 45,46% so với kế hoạch Qua

sự so sánh này ta thấy công tác lập kế hoạch của Công ty còn yếu, chưa sát vớitình hình thực tế

Thu nhập bình quân của CBCNV Công ty đạt 101,96% so với kế hoạch.Chăm lo cải thiện đời sống cho người lao động là một trong những mục tiêuhàng đầu của Công ty nên có thể nói đây là một cố gắng vượt bậc của Công ty

* So với thực tế năm 2008:

Trang 39

Tuy không đạt được kế hoạch đặt ra, nhưng năm 2009 chỉ tiêu doanh thuthuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ của Công ty đã vượt thực tế năm 2008 là26.173.267.161 đồng, tăng 20,27% Cùng với sự tăng lên của doanh thu thuầnthì giá vốn hàng bán cũng tăng lên là 27.586.970.701 đồng với tỷ lệ tăng23,58% Tuy nhiên do tốc độ tăng của doanh thu thuần thấp hơn tốc độ tăng củagiá vốn hàng bán nên lợi nhuận gộp đã giảm 1.413.703.540 đồng, chỉ bằng88,36% so với năm 2008 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh giảm mạnh,năm 2009 lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh là 124.396.507 đồng, chỉbằng 3,5% so với năm 2008 Có thể giải thích điều này là do CPBH, CPQLDN,

và đặc biệt là chi phí tài chính tăng cao Đó là nguyên nhân chính dẫn đến lợinhuận trước thuế của Công ty năm 2009 là 473.007.934 đồng, giảm3.404.332.168 đồng so với năm 2008

Tuy lợi nhuận kế toán trước thuế giảm nhưng thu nhập bình quân đầungười của công ty năm 2009 là 2.6 trđ/người/tháng tăng 12,26% so với năm

2008, có thể nói đây là nỗ lực của công ty trong việc cải thiện đời sống vật chất

và tinh thần của người lao động

Qua phân tích một số chỉ tiêu cơ bản về kết quả hoạt động kinh doanh củaCông ty năm 2009 có thể nhận xét tình hình sản xuất kinh doanh của Công tynăm vừa qua có xu hướng tăng, tuy nhiên do chi phí tài chính cao đã làm lợinhuận của Công ty giảm đi Để đánh giá cụ thể những cố gắng của Công tytrong thực hiện lợi nhuận nói chung và kế hoạch lợi nhuận nói riêng, những vấn

đề còn tồn tại ra sao đòi hỏi phải có sự phân tích chi tiết về tình hình thực hiệnlợi nhuận của Công ty năm 2009

2.2.4.2 Phân tích hình phấn đấu tăng lợi nhuận ở Công ty

Quan sát số liệu trên bảng 5 ta thấy, năm 2009 tổng lợi nhuận sau thuế củaCông ty là 422.355.441 đồng, giảm 3.062.759.788 đồng so với năm 2008 với tỷ

Ngày đăng: 14/04/2016, 08:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN  XI MĂNG TUYÊN QUANG - GIẢI PHÁP NHẰM góp PHẦN TĂNG lợi NHUẬN tại CÔNG TY cổ PHẦN XI MĂNG TUYÊN QUANG
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG TUYÊN QUANG (Trang 27)
Bảng 8: Giá bán một số sản phẩm chính của Công ty năm 2009 - GIẢI PHÁP NHẰM góp PHẦN TĂNG lợi NHUẬN tại CÔNG TY cổ PHẦN XI MĂNG TUYÊN QUANG
Bảng 8 Giá bán một số sản phẩm chính của Công ty năm 2009 (Trang 44)
Bảng 13: CPNVLTT sử dụng cho một số loại sản phẩm chủ yếu của - GIẢI PHÁP NHẰM góp PHẦN TĂNG lợi NHUẬN tại CÔNG TY cổ PHẦN XI MĂNG TUYÊN QUANG
Bảng 13 CPNVLTT sử dụng cho một số loại sản phẩm chủ yếu của (Trang 47)
Sơ đồ phân tích DU PONT - GIẢI PHÁP NHẰM góp PHẦN TĂNG lợi NHUẬN tại CÔNG TY cổ PHẦN XI MĂNG TUYÊN QUANG
Sơ đồ ph ân tích DU PONT (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w