Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này cùng với việc nghiêncứu thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành phố Điện Biên Phủ, em đã chọn n
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, thì tín dụng ngắn hạn chiếm
tỷ trọng lớn và đóng góp một phần quan trọng trong thu nhập của ngân hàng.Những năm gần đây, các ngân hàng thương mại đã mở rộng hoạt động dịch
vụ, tín dụng trung và dài hạn song hoạt động tín dụng ngắn hạn vẫn là hoạtđộng mang tính chủ đạo trên thị trường tài chính – ngân hàng Việt Nam Bởi
vì, nhu cầu vốn ngắn hạn là luôn thường trực đối với các doanh nghiệp, đápứng nhu cầu vốn ngắn hạn cho doanh nghiệp không những thúc đẩy doanhnghiệp hoạt động hiệu quả mà còn mang lại lợi nhuận cho ngân hàng cũngnhư đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, việc nâng cao hiệuquả tín dụng ngắn hạn là vô cùng cần thiết
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này cùng với việc nghiêncứu thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn thành phố Điện Biên Phủ, em đã chọn nghiên cứu đề tài:" Giải
pháp nâng cao hiệu quả tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp tại NHNo&PTNT Tp Điện Biên Phủ" để làm luận văn cuối khóa.
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Tín dụng ngắn hạn đối với Doanh nghiệp của ngân hàngthương mại
Trang 2Phạm vi nghiên cứu: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thônthành phố Điện Biên Phủ với số liệu về tình hình hoạt động kinh doanh trong
ba năm 2007, 2008, 2009
4 Kết cấu đề tài:
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về tín dụng ngắn hạn và hiệu quả tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp của ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng hiệu quả tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành phố Điện Biên Phủ
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành phố Điện Biên Phủ.
Trang 3to lớn cho nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, căn cứ vào chức năng và vai tròcủa ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thì tín dụng ngân hàng được coi
là loại hình tín dụng quan trọng, phổ biến nhất và thường xuyên được nghiêncứu
Trong đó, tín dụng là một mặt của hoạt động của ngân hàng, thông quahoạt động tín dụng ngân hàng thực hiện điều hòa vốn trong nền kinh tế dướihình thức phân phối nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi huy động được từ trong xãhội để đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống
Cũng có thể hiểu tín dụng là quyền của ngân hàng thương mại với tưcách là người cho vay yêu cầu khách hàng của mình – người đi vay muốn vayđược vốn phải tuân thủ những điều kiện nhất định, những điều kiện này là cơ
sở ràng buộc về mặt pháp lý đảm bảo cho người cho vay có thể thu hồi đượcvốn (gốc + lãi) sau một thời gian nhất định Để thu hồi được vốn, các ngânhàng có quyền yêu cầu người đi vay đáp ứng những điều kiện vay cụ thể dựatrên cơ sở mức tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau giữa ngân hàng và khách hàng
Qua các khái niệm trên cho thấy bản chất của tín dụng là một giaodịch về tiền và tài sản trên cơ sở có hoàn trả mà thực chất là sự vay mượn dựatrên cơ sở sự tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau Trong đó sự hoàn trả là đặc trưng
Trang 4thuộc về bản chất của tín dụng, là nguyên tắc để phân biệt phạm trù cho vayvới cấp phát của ngân sách Nhà nước.
Kết luận: Tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ tín dụng giữa một
bên là ngân hàng, một tổ chức chuyên kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, vớimột bên là các chủ thể còn lại của nền kinh tế
Đặc trưng của tín dụng ngắn hạn:
Cơ sở của quan hệ tín dụng: lòng tin, sự tín nhiệm Sự tín nhiệm nàythể hiện qua sự thẩm định năng lực khách hàng, sự thế chấp bảo đảm hoặc sựtín chấp của khách hàng
Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng là tiền, ngân hàng giao tiềncho khách hàng sử dụng với những thỏa thuận nhất định, ngân hàng kiểm soátkhoản tiền bằng cách giải ngân trực tiếp vào tài khoản của người bán
Giá trị khi hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay.Người đi vay phải hoàn trả cả gốc và phần lãi trả cho việc sử dụng vốn
+ Tín dụng dài hạn: Là các khoản vay có thời hạn từ 60 tháng trở lên
- Theo đối tượng: Căn cứ theo đối tượng thì tín dụng bao gồm
+ Tín dụng đối với doanh nghiệp
+ Tín dụng đối với cá nhân
- Theo mục đích sử dụng vốn, tín dụng được chia thành:
Trang 5+ Tín dụng kinh doanh.
+ Tín dụng tiêu dùng
Ngoài ra, còn có các tiêu thức phân loại khác như phân loại theo loạitiền, theo phương pháp hoàn trả, theo loại hình doanh nghiệp, theo hình thứcbảo đảm tiền vay… Tùy vào mục đích của chủ thể nghiên cứu mà sử dụngcách phân loại nào để có hiệu quả nhất
1.1.3 Nguyên tắc tín dụng
Nguyên tắc tín dụng có hiệu quả là điều kiện và biện pháp hàng đầuđảm bảo cho ngân hàng duy trì sự tồn tại và phát triển ổn định Muốn vậy,hoạt động tín dụng của ngân hàng phải lành mạnh và có hiệu quả Cụ thể, các
tổ chức tín dụng phải thực hiện tốt việc kiểm tra khả năng hoàn trả của ngườixin vay trước khi cho vay, đảm bảo tính độc lập trong quá trình kiểm tra,kiểm soát, tuân thủ quy trình cho vay, cho vay chỉ tiến hành trên cơ sở bảođảm theo đúng quy định
Ngân hàng chỉ cho vay khi khách hàng đảm bảo được các nguyên tắcsau:
- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong Hợp đồng tíndụng Đây là nguyên tắc cơ bản, vì có sử dụng vốn đúng mục đích thì kháchhàng mới có thể thực hiện được dự án, phương án sản xuất kinh doanh theolợi ích dự kiến, do vậy mới có thể thu hồi được vốn để hoàn trả nợ cho ngânhàng Nguyên tắc này nhằm hạn chể rủi ro đạo đức và hạn chế khả năngkhách hàng dùng vốn vay để thực hiện các hành vi mà pháp luật cấm
- Phải hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn Nguyên tắc này đảm bảophương châm hoạt động của ngân hàng là “đi vay để cho vay” và thực hiệnnguyên tắc trong hạch toán kinh doanh lấy thu bù chi và có lãi
Trang 61.2 TÍN DỤNG NGẮN HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
1.2.1 Khái quát chung về Doanh nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm
Theo Luật Doanh nghiệp 2005, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên
gọi, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quyđịnh của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh
Để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn là điều kiện không thể thiếu, nó phản ánh nguồn lực tài chínhđược đầu tư vào sản xuất kinh doanh Trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp người ta chú ý đến việc quản lý việc huy động và luân chuyển của vốn
Các nguồn vốn của một doanh nghiệp:
- Nguồn vốn tự có của chủ doanh nghiệp: đây là khoản đầu tư ban đầu khi thành lập doanh nghiệp
- Vốn chiếm dụng của nhà cung cấp (Tín dụng thương mại): Đây cũng
là một nguồn vốn tương đối quan trọng trong doanh nghiệp
- Nguồn vốn khác: ví dụ lợi nhuận để lại, lương cán bộ công nhân viênchậm thanh toán,
- Vốn vay: Ngoài phần vốn tự có của doanh nghiệp (vốn góp) thì nguồn vốn vay có vị trí đặc biệt quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nó có thể đáp ứng các nhu cầu về vốn trong ngắn hạn hoặc dài hạn, có thể huy động được số vốn lớn, tức thời
1.2.1.2 Đặc điểm chu chuyển vốn của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành hoạt động sản xuất kinhdoanh, các doanh nghiệp cần phải có các yếu tố cơ bản sau: Sức lao động, đốitượng lao động và tư liệu lao động Để có được các yếu tố này đòi hỏi doanh
Trang 7nghiệp phải ứng ra một số vốn nhất định phù hợp với quy mô và điều kiệnkinh doanh.
Vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời củadoanh nghiệp mà nó còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết địnhtrong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp
Căn cứ vào đặc điểm chu chuyển của vốn, có thể chia vốn kinh doanhthành hai loại: Vốn cố định và vốn lưu động
Đặc điểm chu chuyển vốn cố định:
Trong nền kinh tế thị trường để có được các tài sản cố định cần thiết(nhà xưởng, thiết bị) cho hoạt động kinh doanh doanh nghiệp phải đầu tư ứngtrước một lượng vốn tiền tệ nhất định Số vốn doanh nghiệp ứng ra để hìnhthành nên tài sản cố định được gọi là vốn cố định của doanh nghiệp
Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, vốn cố định chuchuyển giá trị dần dần từng phần và được thu hồi giá trị từng phần sau mỗichu kỳ kinh doanh
Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh mới hoàn thành mộtvòng chu chuyển
Đặc điểm chu chuyển của vốn lưu động:
Để sản xuất kinh doanh, ngoài các tài sản cố định, doanh nghiệp cầnphải có các tài sản lưu động Tài sản lưu động gồm tài sản lưu động sản xuất(nguyên vật liệu, nhiên liệu…) và tài sản lưu động lưu thông (thành phẩm chờtiêu thụ, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán )
Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thườngxuyên, liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng tài sản lưu động nhấtđịnh Do đó, để hình thành nên các tài sản lưu động, doanh nghiệp phải ứng ramột số vốn tiền tệ nhất định đầu tư vào các tài sản đó, số vốn này được gọi làvốn lưu động của doanh nghiệp
Trang 8Vốn lưu động trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình thái biểuhiện.
Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoànlại toàn bộ sau mỗi chu kỳ kinh doanh
Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinhdoanh
Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trìnhtái sản xuất Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục, doanh nghiệp phải
có đủ tiền vốn đầu tư vào các hình thái khác nhau của vốn lưu động, khiếncho các hình thái có được mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau Như vậy sẽtạo điều kiện cho chuyển hóa hình thái của vốn trong quá trình luân chuyểnđược thuận lợi, góp phần tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, tăng hiệusuất sử dụng vốn lưu động và ngược lại
Xuất phát từ nhu cầu vốn của doanh nghiệp, để đáp ứng nhu cầu pháttriển, doanh nghiệp luôn cần bổ sung tăng vốn Có nhiều cách thức mà doanhnghiệp có thể lựa chọn: Vay dài hạn để bổ sung vốn cố định, vay ngắn hạn để
bổ sung vốn lưu động
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình trạng thiếu vốn lưuđộng diễn ra thường xuyên đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm kiếm các nguồnngắn hạn Khi mà các nguồn huy động khác gặp khó khăn và hạn chế thìnguồn vốn vay ngắn hạn từ ngân hàng được xem là dễ tiếp cận và hiệu quả.Với chức năng huy động và cho vay, là nơi tập trung vốn lớn và cung cấpphần lớn các khoản vay ngắn hạn, ngân hàng thương mại là nơi doanh nghiệp
có thể tìm thấy nguồn tài trợ lớn, đáp ứng nhu cầu của mình
Doanh nghiệp cần duy trì một cơ cấu vốn hợp lý Các nguồn vốn cấuthành là: Nợ và vốn chủ sở hữu Một cơ cấu vốn tối ưu mà doanh nghiệp đạtđược là cơ cấu tối đa giá trị tài sản của chủ sở hữu Sử dụng nợ như thế nào để
Trang 9đạt được chi phí vốn tối ưu là một bài toán không dễ với bất kì một doanhnghiệp nào Một những cách để thực hiện được điều đó là vay vốn ngân hàng.
Doanh nghiệp sử dụng nợ để tạo ra đòn bẩy tài chính Vì chi phí nợ làchi phí trước thuế nên so với việc sử dụng vốn chủ sở hữu, việc sử dụng nợ sẽtiết kiệm thuế cho doanh nghiệp, làm khuyếch đại thu nhập cho chủ sở hữu
Do vậy, khi thiếu vốn tạm thời, cân nhắc giữa sinh lợi và rủi ro, doanh nghiệpthích lựa chọn vay ngắn hạn để tạo đòn bẩy này
1.2.2 Tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp
1.2.2.1 Các hình thức tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp
Căn cứ vào tính chất của việc cấp vốn, cho vay ngắn hạn đối với doanhnghiệp được chia thành:
- Cho vay bổ sung vốn lưu động: Cho vay bổ sung vốn lưu động củangân hàng nhằm tài trợ thêm vốn lưu động cho các hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Khi vay tiền, người vay dùng chính thu nhập thuđược từ việc sử dụng vốn vay để trả nợ ngân hàng, vì vậy các yếu tố quantrọng mà ngân hàng tập trung vào xem xét là: khả năng kinh doanh, tình hìnhtài chính, hiệu quả sử dụng vốn vay của doanh nghiệp
- Cho vay trên tài sản: Bao gồm
+ Chiết khấu giấy tờ có giá: là việc các tổ chức tín dụng mua giấy tờ
có giá chưa đến thời hạn thanh toán của doanh nghiệp
+ Cho vay trên bộ chứng từ hàng xuất: Căn cứ vào giá trị được ghitrên bộ chứng từ xuất, ngân hàng sẽ cho doanh nghiệp vay vốn
+ Bao thanh toán: bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của tổchức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua bán các khoản phải thuphát sinh từ việc mua bán hàng hóa giữa bên bán hàng và bên mua hàng thỏathuận trong hợp đồng mua bán
Trang 10- Các hình thức cho vay khác: Cho vay theo hạn mức thấu chi, cho vaytheo hạn mức dự phòng, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụngthẻ tín dụng, cho vay kinh doanh chứng khoán.
1.2.2.2 Đặc điểm tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp
Vốn vay ngắn hạn luân chuyển cùng chu kỳ sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Lúc này, tín dụng ngắn hạn chủ yếu để đáp ứng nhu cầu thiếuhụt tạm thời vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Việc cho vay và thu nợ luôn diễn ra vào lúc bắt đầu và kết thúc củachu kì sản xuất kinh doanh Ngân hàng thường cho vay khi các doanh nghiệpphát sinh nhu cầu vốn để mua vật tư, nguyên vật liệu, hoặc trang trải các chiphí sản xuất Khi hàng hóa được tiêu thụ, khách hàng có thu nhập, cũng là lúcngân hàng thu hồi nợ Do vậy, thời gian thu hồi vốn trong tín dụng ngắn hạnrất nhanh
So với tín dụng trung và dài hạn, tín dụng ngắn hạn của ngân hàng cólãi suất thấp hơn và ít rủi ro hơn
Tùy vào quy mô của doanh nghiệp mà quy mô, cách thức, quy trình củatín dụng cũng khác nhau Doanh nghiệp nhỏ, thủ tục cho vay, thẩm định đơngiản, kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay thường dễ dàng hơn Trong khidoanh nghiệp lớn như tập đoàn, công ty mẹ và công ty con thủ tục, quy trìnhphức tạp bởi đặc điểm sản xuất kinh doanh, bạn hàng của đối tượng này đadạng, rắc rối hơn
1.2.2.3 Vai trò của tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp
- Tín dụng ngắn hạn sẽ giúp bổ sung kịp thời cho các nhu cầu về vốnngắn hạn của doanh nghiệp Nguồn vốn này giúp các doanh nghiệp tiếp tụcquá trình sản xuất kinh doanh, hoặc giúp doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn tạmthời về tài chính Trong nhiều trường hợp, vay vốn ngân hàng còn là giải pháptiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp bắt kịpnhững cơ hội kinh doanh, tận dụng được thời cơ phát triển sản xuất
Trang 11- Tín dụng ngắn hạn cũng là động lực, yếu tố kích thích sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Các điều kiện trong cho vay ngắn hạn tạo áp lựcbuộc doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả Khi doanh nghiệp vay vốn từngân hàng thì áp lực mà họ phải chịu là thời hạn trả tiền và khoản lãi sẽ phảitrả, chính vì điều kiện này nên doanh nghiệp cố gắng quay vòng vốn nhanh vàtìm kiếm cơ hội kinh doanh tốt nhất vì mục tiêu lợi nhuận.
- Tín dụng ngắn hạn là một trong những công cụ tạo đòn bẩy chodoanh nghiệp bằng việc sử dụng cơ cấu nợ hợp lý Sử dụng nợ tốt sẽ làm chohiệu quả vốn chủ sở hữu tăng cao và mang lại nhiều lợi nhuận cho các chủ sởhữu hơn
Trong điều kiện hiện nay, để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, doanhnghiệp có thể huy động từ nhiều nguồn nhưng vốn vay ngân hàng luôn chiếmmột vị trí quan trọng Đặc biệt trong điều kiện các nguồn huy động khác như
từ bạn bè và đối tác đang trở lên khan hiếm thì vốn huy động từ ngân hang làyêu cầu khách quan
1.3 HIỆU QUẢ TÍN DỤNG NGẮN HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP
1.3.1 Khái niệm về hiệu quả tín dụng ngắn hạn của ngân hàng
thương mại
Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, tín dụng làmột nghiệp vụ mang lại phần lớn lợi nhuận, chiếm tỷ trọng cao trong doanhthu của ngân hàng, nhưng đây cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro có khảnăng xảy ra với tỉ lệ cao Ngân hàng còn được định nghĩa là “tổ chức kinhdoanh rủi ro” Trong mỗi khoản cho vay của ngân hàng chứa đựng rất nhiềukhả năng không thu hồi đủ gốc và lãi thậm chí còn có khả năng mất vốn Vìthế, ngân hàng cần phải cho vay một cách hiệu quả Hiệu quả tín dụng thểhiện ở khía cạnh: hiệu quả đối với ngân hàng, hiệu quả đối với khách hàng,hiệu quả đối với xã hội
Trang 12Hiệu quả đối với ngân hàng thể hiện: chất lượng tín dụng được nângcao Những khoản cho vay của ngân hàng luôn đáp ứng được nhu cầu củakhách hàng, tăng trưởng về quy mô, gia tăng lợi nhuận, giảm bớt những tồnđọng nợ xấu, nợ quá hạn, xây dựng hình ảnh ngân hàng, mang lại niềm tin, sựtín nhiệm đối với khách hàng.
Hiệu quả đối với doanh nghiệp: vốn vay của ngân hàng đáp ứng kịpthời đầy đủ cho doanh nghiệp và doanh nghiệp đưa nó và quá trình sản xuấtkinh doanh một cách hiệu quả nhất nhằm tạo ra một lượng tiền lớn hơn đểtrang trải đủ chi phí, có lợi nhuận và hoàn trả cho ngân hàng đầy đủ gốc vàlãi Doanh nghiệp sử dụng vốn vay gia tăng đòn bẩy tài chính, tạo ra doanhthu hơn, tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng, gây dựng thương hiệu uy tíntrên thị trường, ngày càng trở nên phát triển
Hiệu quả đối với xã hội: Hiệu quả của hoạt động trong ngân hàng, tìnhhình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận lớn hơn mang lạicông ăn việc làm nhiều hơn, cải thiện đời sống người lao động, đóng góp thuếcho ngân sách Nhà nước, góp phần tạo nên một đất nước giàu mạnh
1.3.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả tín dụng ngắn hạn trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận là động cơ to lớn nhất thúc đẩy
sự cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng với nhau, giữa các doanh nghiệpvới nhau và mặt trái của sự cạnh tranh này là những vấn đề nhức nhối trong
xã hội Không thể có lợi nhuận khi mà các ngân hàng, các doanh nghiệp hoạtđộng không hiệu quả, bên cạnh đó giải quyết các vấn đề như nạn thất nghiệp,cải thiện đời sống cho người lao động cũng là vấn đề vô cùng cần thiết
Ngân hàng thương mại cũng là doanh nghiệp, bỏ vốn của mình đầu tưvới mong muốn thu được lợi nhuận và thu hồi vốn của mình Hoạt động thulời của các ngân hàng thương mại nhất là các ngân hàng thương mại ở ViệtNam chủ yếu là hoạt động tín dụng - hoạt động truyền thống Đảm bảo chất
Trang 13lượng cho các khoản tiền cho vay, bản thân nó đối với ngân hàng là một nhucầu cấp thiết Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường khi các ngân hàng thươngmại ngày càng cạnh tranh gay gắt hơn, chất lượng của các khoản vay đánh giáchất lượng của ngân hàng thương mại, hiệu quả tín dụng đánh giá hiệu quảhoạt động của ngân hàng thương mại Và đặc biệt, đối với các ngân hàngthương mại Việt Nam hiện nay không còn là cái bóng của ngân hàng Trungương mà trở thành chủ thể kinh doanh độc lập tự kiếm lợi nhuận và chịu tráchnhiệm đối với khách hàng và ngân hàng Trung ương.
Đối với doanh nghiệp, lợi nhuận là một vấn đề sống còn và đảm bảo sựtồn tại của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, sự đào thải của thịtrường đối với những doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả ngày càng khắtkhe hơn Với mong muốn ngày càng phát triển, doanh nghiệp luôn luôn cónhu cầu tăng vốn và một trong những cách bổ sung vốn hữu hiệu là vay vốnngân hàng Cơ cấu vốn hợp lý sẽ mang lại doanh thu cao nhất cho doanhnghiệp với chi phí ít nhất Sử dụng vốn vay có hiệu quả có nghĩa là doanhnghiệp dùng khoản tiền được vay đó sử dụng vào sản xuất kinh doanh mộtcách hợp lý, tạo ra doanh thu lớn và mang lại lợi nhuận Việc nâng cao hiệuquả sử dụng vốn vay đối với doanh nghiệp là một điều cần thiết Việc sử dụngvốn vay có hiệu quả thể hiện việc kinh doanh của doanh nghiệp đạt được kếtquả mong muốn Sự kiểm tra, kiểm soát gắt gao của ngân hàng đối với cáchoạt động của doanh nghiệp cũng là một trong các nhân tố thúc đẩy doanhnghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn Bất kì một doanh nghiệp nào khi
bỏ tiền ra sản xuất kinh doanh đề mong doanh nghiệp của mình hoạt độnghiệu quả, sinh lời cao, tạo ra những sản phẩm có chất lượng, gia tăng thị phần
và gây dựng thương hiệu vững mạnh trên thị trường Một trong những cáchthức thực hiện được mong muốn đó là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay
Các ngân hàng hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận và để tối đa hóa lợinhuận ngân hàng phải đa dạng hóa, hiện đại hóa các dịch vụ tài chính mà
Trang 14mình cung cấp Sự phát triển của ngân hàng phụ thuộc chặt chẽ vào tốc độtăng trưởng và phát triển của nền kinh tế Thông qua chính sách tín dụng củamình, cách ngân hàng đã góp phần vào sự phát triển của ngành, của lĩnh vựcsản xuất kinh doanh và do đó tạo ra những điều kiện về công ăn việc làm từ
đó cải thiện mức sống cho người lao động Trong đó hoạt động tín dụng củangân hàng liên quan đến rất nhiều đối tượng: doanh nghiệp, đối tác, các cơquan chức năng quản lý… Ngân hàng có đặc thù so với các ngành kinh tếkhác ở chỗ hoạt động của nó liên quan tới nhiều đối tượng ở mọi ngành nghề.Điều này tất yếu dẫn đến việc ngân hàng có ảnh hưởng to lớn đến đời sốngkinh tế xã hội Nâng cao hiệu quả tín dụng ngắn hạn là vấn đề vô cùng quantrọng, không chỉ là công việc hàng đầu của mỗi ngân hàng riêng lẻ mà là toàn
bộ hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế
1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng
1.3.3.1 Các chỉ tiêu định tính
Đây là nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng ngắn hạn đối vớidoanh nghiệp trên cơ sở pháp lý, việc tuân thủ các quy chế, quy trình nghiệp
vụ, việc thực hiện theo đúng cam kết trong hợp đồng
Cơ sở pháp lý: Tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp có hiệu quả là
phải chấp hành pháp luật của Nhà nước, cao nhất là Luật các tổ chức tín dụng,các quy chế và các văn bản chỉ đạo của chính phủ và ngân hàng Nhà nước cácvăn bản quy phạm pháp luật có liên quan
Quy chế của ngân hàng thương mại: Hoạt động tín dụng có hiệu quả
luôn phải tuân thủ các quy chế, quy trình tín dụng Từ những đặc điểm riêng
có của mình, hầu hết các ngân hàng đều nghiên cứu và đưa ra những quy chếphù hợp nhất Cụ thể, các ngân hàng lập Sổ tay tín dụng, trong đó đưa ranhững khái niệm, quy định và quy trình hướng dẫn cụ thể cho nhân viên ngânhàng Các quy định được áp dụng cụ thể cho từng trường hợp là nhằm thực
Trang 15hiện cung cấp tín dụng có chất lượng Do vậy, việc tuân thủ những quy định,quy trình là tiền đề của chất lượng tín dụng, nâng cao hiệu quả tín dụng.
Hợp đồng tín dụng: Hợp đồng tín dụng sẽ quy định chi tiết về các yếu
tố quan trọng như thời hạn vay, mục đích sử dụng, số tiền vay, phương thứctrả nợ, trả lãi…và được thể hiện ở dạng những cam kết Một khoản vay đượccoi là có chất lượng khi nó được thực hiện đúng những cam kết đã ký trongHợp đồng tín dụng Nếu trong một món vay, khách hàng không thực hiệnđúng mục đích xin cấp tín dụng thì đã có thể coi món vay đó có chất lượngkém, hiệu quả tín dụng không cao Hợp đồng tín dụng cũng là cơ sở pháp lýcho ngân hàng và khách hàng giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trìnhcho vay và thu nợ Hợp đồng tín dụng cần phải được làm một cách chặt chẽ
và đảm bảo quyền lợi cũng như nghĩa vụ của mỗi bên
Dư nợ tín dụng năm trước
Chỉ tiêu về tăng trưởng dư nợ cho vay tuyệt đối và tương đối phản ánhmức tăng trưởng trong hoạt động tín dụng cua ngân hàng, thể hiện hiệu quảtín dụng xét về quy mô
- Chỉ tiêu nợ quá hạn, nợ xấu
Chỉ tiêu này có thể nói là quan trọng nhất khi xem xét chất lượng tíndụng của một ngân hàng, từ đó quyết định đến hiệu quả tín dụng:
Trang 16Tỷ lệ nợ quá hạn =
=
Nợ quá hạn
* 100% Tổng dư nợ
Chỉ tiêu phản ánh rõ nét nhất về hiệu quả tín dụng ngân hàng Nếu tỷ
lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cao chứng tỏ hiệu quả tín dụng của ngân hàngthấp, rủi ro cao vì với một số lớn các khoản nợ không được hoàn trả vào đúnghạn thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc phân phối luồng vốn vào - ra.Với việc không thu được nợ thì ngân hàng sẽ phải đối mặt với việc mất khảnăng thanh toán, bởi rủi ro tín dụng là rủi ro cơ bản dẫn đến hàng loạt các rủi
ro khác, trong đó nguy hiểm nhất là rủi ro thanh toán Tỷ lệ nợ quá hạn thấpbiểu hiện chất lượng tín dụng ở ngân hàng cao, mức độ an toàn cao hay rủi rothấp vì nó nói lên trong các khoản cho vay của ngân hàng chỉ có một số ít cáckhoản vay không hoàn trả đúng thời hạn
Nợ xấu
* 100% Tổng dư nợ
Nợ xấu bao gồm nhóm nợ 3, 4, 5 được phân loại theo điều 7- Quyết
định 493/2005/QĐ-NHNN và quyết định 18/2007/QĐ-NHNN sửa đổi bổ
sung quyết định 493/2005/QĐ-NHNN Nợ xấu bao gồm nợ dưới tiêu chuẩn,
nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn Tỷ lệ nợ xấu càng cao, rủi ro cho ngânhàng càng lớn, hiệu quả tín dụng của ngân hàng càng thấp
Trang 17Dư nợ bình quân
Vòng quay vốn tín dụng lớn chứng tỏ trong tổng dư nợ của ngân hàng,
dư nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao Thời gian cho vay phụ thuộc vào chu kỳsản xuất kinh doanh cũng như khả năng trả nợ của từng doanh nghiệp Vòngquay vốn tín dụng cũng là một trong những chỉ tiêu đánh giá vốn ngân hàng
đã luân chuyển nhanh, tham gia nhiều vào chu kì sản xuất kinh doanh và lưuthông hàng hóa Với số lượng vốn nhất định nhưng do tốc độ quay vòng vốnnhanh nên ngân hàng không những đáp ứng được nhu cầu vốn cho các doanhnghiệp mà còn có thêm nguồn vốn để tiếp tục đầu tư cho doanh nghiệp khácphát triển sản xuất kinh doanh Vòng quay tín dụng nếu quá lớn cũng khôngtốt, có thể đó là do khách hàng trả trước nợ vay hoặc quá nhiều dư nợ ngănhạn Bởi tình trạng trả nợ trước hạn có ảnh hưởng không tốt đến kế hoạchhoạt động của ngân hàng dẫn tới sử dụng vốn không hiệu quả
- Chỉ tiêu mức sinh lời của đồng vốn cho vay
Mức sinh lời của đồng
Dư nợ bình quân
Thu nhập của các ngân hàng trong hệ thống các ngân hàng thương mại
ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là từ tín dụng, mà trong đó tín dụng ngắn hạnđối với doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn Do vậy, có thể nói, thu nhập từ tíndụng ngắn hạn ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngânhàng Chỉ tiêu này đánh giá tín dụng ngắn hạn ở khía cạnh hoạt động kinhdoanh của ngân hàng Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận thu được trên mộtđồng vốn cho vay Mức sinh lợi cao cho thấy hoạt động tín dụng của ngânhàng là có hiệu quả
1.4 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ TÍN DỤNG NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
Trang 181.4.1 Nhân tố khách quan
1.1.4.1 Môi trường kinh tế xã hội
Môi trường kinh tế xã hội có ảnh hưởng to lớn tới hoạt động của ngânhàng, điều này thấy rõ ở đường lối chủ trương phát triển kinh tế của Nhà nước
ở mỗi địa phương và ở mức độ phát triển của mỗi quốc gia, từng địa phương
Một nền kinh tế ổn định sẽ dẫn đến một chính sách tín dụng tự do sovới một nền kinh tế lệ thuộc vào các biến động thời vụ Các khoản ký tháctrong nền kinh tế không ổn định thường chao đảo biến động mạnh so với cáckhoản ký thác trong một nền kinh tế ổn định Nhiều người vay đã làm ăn phátđạt trong những giai đoạn thịnh vượng nhưng trong giai đoạn suy thoái vốn cóthể bị tiêu tan, lợi nhuận có thể giảm sút từ đó gây nên tình trạng ngân hàngkhông thu hồi được vốn Một yếu tố hiển nhiên ảnh hưởng đến chính sách tíndụng của ngân hàng là đường lối chủ trương của quốc gia, địa phương Lý dochủ yếu để ngân hàng được tồn tại là nhằm phục vụ các nhu cầu tín dụng củacộng đồng, xã hội Các ngân hàng chỉ cho những ai vay tiền nếu đưa ra đượcyêu cầu xin vay hợp lệ, hợp pháp và lành mạnh về kinh tế, phù hợp với chủtrương của Nhà nước
Tóm lại, hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nóiriêng đạt hiệu quả cao hay thấp, rủi ro nhiều hay ít có quan hệ hữu cơ với sựphát triển kinh tế của quốc gia
1.4.1.2 Môi trường pháp lý
Nhân tố pháp luật có vị trí hết sức quan trọng đối với hiệu quả tíndụng, nó tạo môi trường hành lang pháp lý cho hoạt động của ngân hàng.Nhân tố pháp luật ở đây bao gồm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, tínhđầy đủ, tính thống nhất của các văn bản dưới luật, đồng thời gắn liền với quátrình chấp hành luật pháp và trình độ dân trí
Trang 19Việc hoàn chỉnh cơ chế, thể lệ tín dụng của ngành đúng với luật ngânhàng, phù hợp với thực tiễn là một điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quảtín dụng Bất kì một điều khoản nào, một quy định nào chưa phù hợp với thựctiễn đều ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng.
Hiện nay nước ta có nhiều bộ luật, tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cậpchưa sát với thực tế gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế xã hội nói chung vàhoạt động tín dụng nói riêng Trong điều kiện như vậy, việc vận dụng thực thicác bộ luật đã có như thế nào để có thể tạo được hành lang pháp lý đầy đủ chohoạt động ngân hàng là vấn đề có nhiều ảnh hưởng lớn đến hoạt động tíndụng của ngân hàng
1.4.1.3 Doanh nghiệp vay vốn
Trong khi các nhà sử dụng vốn ở các ngành kinh tế khác trực tiếp sửdụng quản lý vốn của mình thì ngân hàng sử dụng vốn của mình dưới hìnhthức gián tiếp đó là giao vốn cho khách hàng, không được trực tiếp quản lývốn của mình mà thông qua hình thức giám sát đơn vị vay vốn
Do vậy hiệu quả tín dụng chịu sự chi phối rất lớn từ bản thân hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp vay vốn Các yếu tố của doanh nghiệp có ảnhhưởng một cách lớn lao đến hiệu quả vay vốn, nhất là các khoản vay ngắnhạn
Yếu tố đầu tiên là nguồn vốn của doanh nghiệp Một câu hỏi luôn đượcđặt ra là “Doanh nghiệp có đủ vốn cố định và vốn lưu động để thực hiện mụctiêu sản xuất kinh doanh của mình hay không ?” Một doanh nghiệp có nguồnvốn dồi dào, nguồn vốn ít bị phụ thuộc vào ngân hàng, vào các chủ nợ khácthì khả năng hoàn trả vốn cho ngân hàng là cao hơn so với các doanh nghiệp
có vốn chủ yếu là đi vay Chất lượng hoạt động của một doanh nghiệp đượcthể hiện qua vài tiêu chuẩn đo lường sức mạnh tài chính của chính họ, vàthường là một trong những yếu tố quyết định khối lượng tín dụng mà mộtngân hàng sẵn lòng cho doanh nghiệp đó vay
Trang 20Khối lượng và chất lượng tài sản của doanh nghiệp nói lên khả năngcủa nhà quản lý doanh nghiệp, qua đó ngân hàng sẽ đánh giá xem một số hoặctất cả tài sản có thể đảm bảo cho khoản vay Điều đó có nghĩa nếu khối lượngtài sản càng nhiều và chất lượng tài sản càng cao thì khả năng hoàn trả sẽ caohơn khi rủi ro xảy ra Tuy nhiên chúng ta phải chú ý một điều, tuy các tài sản
đó giảm bớt rủi ro cho ngân hàng nhưng các ngân hàng vẫn mong muốn vốnvay sẽ được trả từ lợi nhuận bởi vì điều đó chứng minh rằng vốn của ngânhàng được sử dụng hiệu quả, doanh nghiệp tạo ra được nhiều lợi nhuận vàngân hàng cũng thu về được nhiều lợi nhuận
Chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tốt hayxấu, tương lai của doanh nghiệp phát triển ở mức độ nào, dự án, phương ánsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có đủ khả năng tồn tại và phát triểnđược trong cuộc cạnh tranh quyết liệt của cơ chế thị trường hay không Điềunày có ý nghĩa quyết định cho số phận của món tiền ngân hàng cho vay, nếudoanh nghiệp hoạt động kinh doanh trên đà phát triển có hiệu quả thì vốn củangân hàng chắc chắn sẽ được hoàn trả và sử dụng hiệu quả
Mức độ chuyển biến nhận thức, quan điểm tâm lý của ban lãnh đạodoanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường ra sao Họ đã có đầy đủ ýthức và trách nhiệm trả nợ đối với khoản vay hay vẫn mang nặng tư tưởngbao cấp trông chờ vào nguồn vốn được cấp, được vay ưu đãi Trình độ doanhnghiệp ở mức độ nào, đã đáp ứng được mức độ nào trong điều kiện kinh tếhiện thời Một doanh nghiệp trở nên hưng thịnh, phát triển trong khi mộtdoanh nghiệp cũng kinh doanh trong điều kiện tương tự thì lại bị thua lỗ, suysụp Sự khác biệt này có nguyên nhân chính xuất phát từ trình độ chất lượngquản lý và đây cũng là yếu tố quyết định khiến cho doanh nghiệp có được vayvốn ngân hàng hay không và qua đó để đánh giá phần nào hiệu quả tín dụng
Như vậy, có thể nói việc quản lý sử dụng vốn vay sao cho có hiệu quả,đảm bảo trả nợ ngân hàng và có lợi nhuận cho người vay, các doanh nghiệp
Trang 21có trình độ quản lý tốt, năng lực sản xuất kinh doanh tốt, bảo tồn và phát triểnđược vốn vay thì hiệu quả tín dụng sẽ cao và ngược lại.
1.4.2 Nhân tố chủ quan của ngân hàng
* Trình độ cán bộ tín dụng:
Năng lực, trình độ hiểu biết của đội ngũ cán bộ ngân hàng trong cơ chếthị trường có ảnh hưởng to lớn tới hiệu quả tín dụng của ngân hàng Chúng tađang đứng trước một thực trạng chung là xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thếgiới, các thị trường tài chính mở rộng phạm vi hoạt động dường như không cóbiên giới, vừa tạo điều kiện có cơ hội mới cho ngân hàng vừa làm sâu sắcthêm quá trình cạnh tranh, đặt ngân hàng trước những thử thách mới Bởi vậynếu ngân hàng nào không nhận thức được vấn đề này, không tự đổi mới tìmcách tạo dựng và phát triển thế mạnh của riêng mình, có hướng đi và chínhsách tín dụng thích hợp thì sẽ khó lòng tồn tại và phát triển, trong đó chiếnlược con người giữ vai trò chỉ đạo Thực tế cho thấy nếu ngân hàng có độingũ cán bộ nhanh nhạy sáng tạo trong công việc, có tinh thần tập thể vì lợi íchcủa ngân hàng thì ngân hàng đó có thể đứng vững và phát triển, ngày càng có
uy tín Trong khi đó, nếu có những cán bộ tín dụng gian dối trong thẩm địnhtín dụng của ngân hàng, đánh giá sai tài sản thế chấp, lơ là sự giám sát củamình đối với các doanh nghiệp để dẫn đến ngân hàng chịu mọi rủi ro
* Chính sách tín dụng:
Chính sách tín dụng của ngân hàng là những quy định của ngân hàngkhi cho vay Quy định về phạm vi đối tượng cho vay, quy định về giới hạncho vay đối với từng khách hàng, quy định về thời gian cho vay, lãi suất chovay, các khoản phí dịch vụ, hình thức xử lý nợ có vấn đề… Trong hoạt độngtín dụng, xây dựng một chính sách tín dụng hợp lý, khoa học rất quan trọng.Chính sách tín dụng thông thoáng sẽ khuyến khích khách hàng vay vốn, ngânhàng có điều kiện mở rộng tín dụng Ngược lại, một chính sách tín dụng chặt
Trang 22chẽ, khắt khe sẽ gây khó khăn cho người đi vay, hạn chế khả năng cho vaycủa ngân hàng, thu hẹp quy mô tín dụng.
* Quy trình cho vay:
Quy trình cho vay là tập hợp những nội dung kỹ thuật hướng dẫn trình
tự tổ chức thực hiện nghiệp vụ cho vay của ngân hàng từ khi phát sinh chođến khi kết thúc một khoản vay, bao gồm nhiều bước: Hướng dẫn khách hànglập hồ sơ, thẩm định trước khi cho vay, theo dõi trong quá trình cho vay, thu
nợ và xử lý nợ Nếu quy trình cho vay được xây dựng rườm rà, phức tạp tốnnhiều thời gian để có được khoản vay sẽ gây khó khăn cho khách hàng khiđến giao dịch vay vốn ngân hàng, điều này sẽ hạn chế khách hàng tiếp cậnđược nguồn vốn vay của ngân hàng và dẫn đến thu hẹp quy mô cho vay củangân hàng Ngược lại, nếu quy trình cho vay được xây dựng một cách rõ ràng
và linh hoạt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng vay vốn, tiết kiệm đượcthời gian đi vay, nâng cao hiệu quả tín dụng
* Kiểm soát tín dụng:
Trong quá trình cho vay, kiểm soát tín dụng là hoạt động thườngxuyên, cần thiết đối với các ngân hàng thương mại bởi lẽ công tác kiểm tra,kiểm soát càng thường xuyên càng liên tục chặt chẽ thì càng đảm bảo chohoạt động tín dụng thực hiện đúng nguyên tắc quy trình, phát hiện ra nhữngsai phạm, yếu kém trong hoạt động tín dụng Từ đó có các biện pháp xử lý kịpthời, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả tín dụng
CHƯƠNG 2:
Trang 23THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ TÍN DỤNG NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG
THÔN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NHNo&PTNT Tp ĐIỆN BIÊN PHỦ
2.1.1 Lịch sử hình thành và cơ cấu tổ chức của NHNo&PTNT Tp Điện Biên Phủ
* Lịch sử hình thành
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành phố Điện BiênPhủ là chi nhánh cấp 3 trực thuộc ngân hàng Nông nghiệp và Phát triểnNông thôn Việt Nam Được thành lập theo quyết định số 13/2004/QĐ –HĐQT ngày 15/01/2004 của Hội Đồng quản trị Ngân hàng Nông nghiệp vàPhát triển Nông thôn Việt Nam
Ngày 01/02/2004 chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triểnNông thôn chính thức khai trương và đi vào hoạt động Sự ra đời của ngânhàng tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế của tỉnh đi lên, góp phần xóa đói giảmnghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống
* Cơ cấu tổ chức
Tổng số cán bộ công nhân viên: 40 người, trong đó nữ: 30 người chiếm75%, được bố trí như sau:
- Ban giám đốc: 2 người
- Phòng kế toán- ngân quỹ: 7 người
- Phòng kế hoạch-kinh doanh: 5 người
- Phòng giao dịch Mường Thanh: 6 người
- Phòng giao dịch Thanh Bình: 7 người
- Phòng giao dịch Him Lam: 5 người
Trang 24- Quỹ tín dụng nhân dân số 2: 8 người.
2.1.2 Đánh giá khái quát hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Tp Điện Biên Phủ
2.1.2.1 Hoạt động huy động vốn:
Hoạt động huy động vốn và tín dụng là hai nghiệp vụ quan trọng và chủ yếu của bất kỳ ngân hàng nào Cho vay được coi là một hoạt động sinh lời cao nên các ngân hàng luôn tìm cách cố gắng huy động được nguồn vốn lớn nhất để có thể đảm bảo đủ nguồn để cho vay và các hoạt động đầu tư
khác Bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 2004, NHNo&PTNT Tp Điện Biên Phủ đã xác định mục tiêu rõ ràng là phải gây dựng được niềm tin đối với khách hàng Bằng các hình thức huy động vốn đa dạng phong phú và hấp dẫn, Chi nhánh đã ngày càng gia tăng thị phần của mình trong khu vực và các vùng lân cận
Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn của NHNo&PTNT Tp Điện Biên Phủ
Quỹ tín dụng nhân dân số 2
Phòng giao dịch Mường Thanh
Phòng giao dịch Thanh Bình
Phòng giao dịch Him Lam
Trang 25Theo đối tượng
Cá nhân 105.584 180.188 74.604 227.159 46.971
Tổ chức kinh tế 31.531 54.960 23.429 48.378 -6.582
(Nguồn: Phòng kế toán NHNo & PTNT Tp.Điện Biên Phủ)
Năn 2007, tổng nguồn vốn huy động được của Agribank Tp.Điện BiênPhủ là 137.115 triệu đồng Trong đó, nguồn vốn huy động không kỳ hạn vàngắn hạn là 65.288 triệu đồng chiếm 47,6% tổng nguồn vốn huy động, nguồnvốn huy động trung, dài hạn là 71.827 triệu đồng chiếm 52,4% Kết cấu vốnhuy động ngắn hạn và dài hạn khá đều nhau, đáp ứng nhu cầu sử dụng vốnngắn hạn cũng như dài hạn ngày càng tăng
Năm 2008, tổng nguồn vốn huy động lên tới 235.148 triệu đồng tăng98.033 triệu đồng (71,49%) so với năm 2007 Trong đó nguồn vốn huy độngkhông kỳ hạn và ngắn hạn là 208.416 triệu đồng, tăng 143.128 triệu đồng(219,22), nguồn vốn trung, dài hạn đạt 26.732 triệu đồng giảm 45055 triệuđồng (62,78%) so với năm 2007 Nguồn vốn huy động của ngân hàng tăngtrưởng một cách nhanh chóng, đây là một nỗ lực, cố gắng lớn trong công táchuy động vốn của ngân hàng trong điều kiện trên cùng địa bàn có nhiều ngânhàng thương mại cùng cạnh tranh gay gắt
Trang 26Về kết cấu, nguồn vốn không kỳ hạn và ngắn hạn chiếm tỷ trọng caohơn nguồn trung, dài hạn Nguồn không kỳ hạn và ngắn hạn chiếm tỷ trọng88,63%; trong khi tỷ trọng nguồn huy động trung, dài hạn là 11,37%.
Tính đến ngày 31/12/2009, nguồn vốn huy động trong năm 2009 đạt
275.537 triệu đồng, tăng 17% so với năm 2008 và đạt 90% kế hoạch đặt ra.
Trong đó, nguồn vốn huy động không kỳ hạn và ngắn hạn là 235.554 triệuđồng tăng 27.138 triệu đồng (13,02%); nguồn vốn huy động trung, dài hạn là39.983 triệu đồng, tăng 13.251 triệu đồng (49,57%) Nguồn vốn huy độngngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng cao hơn nguồn vốn trung dài hạn và có xu hướngngày càng tăng lên
Nguồn vốn huy động từ cá nhân vẫn chiến tỷ trọng cao và tăng nhanhlên trong tổng nguồn vốn huy động qua các năm với 73% trong năm 2007,tăng đến 77% trong năm 2008 và 82% trong năm 2009
Tóm lại, tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng tăng lên qua cácnăm Trong đó, vốn có kỳ hạn ngắn chiếm tỷ trọng lớn, chi phí thấp nên tạođiều kiện cho ngân hàng hoạt động có hiệu quả Để đạt được kết quả như vậy
là do Chi nhánh đã thực hiện tốt công tác nghiên cứu tình hình hoạt động củacác ngân hàng trên cùng địa bàn, theo diễn biến lãi suất huy động trên thịtrường, có những biện pháp điều chỉnh lãi suất huy động vốn linh hoạt…
Trang 27Theo khách
hàng
Doanh nghiệp 116.587 99.415 -17.172 132.319 32.904
Cá nhân 173.25 152.474 -20.776 162.865 11.392
(Nguồn: Phòng kế hoạch kinh doanh NHNo & PTNT Tp.Điện Biên Phủ.)
Năm 2007, tổng dư nợ cho vay đạt 289.837 triệu đồng Trong đó dư nợcho vay ngắn hạn đã đạt 195.188 triệu đồng; dư nợ cho vay trung, dài hạn đạt
là 94.649 triệu đồng Trong năm này, hoạt động của Chi nhánh đã đi vào ổnđịnh, mục tiêu của Chi nhánh là tập trung đẩy mạnh tăng trưởng dư nợ chovay, góp phần cơ cấu lại danh mục Tài sản Có sinh lời, nâng cao hiệu quả sửdụng nguồn vốn huy động, đạt một bước trong lộ trình phấn đấu đưa mứcchênh lệch lãi suất đầu vào - đầu ra tại Chi nhánh lên mức bình quân của toàn
hệ thống
Năm 2008, khủng hoảng kinh tế xảy ra và kéo theo đó là sự sụp đổ củamột số ngân hàng nổi tiếng trên thế giới Điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏđến tình hình kinh tế cũng như hoạt động của các ngân hàng trong nước Tổng
dư nợ cho vay chỉ đạt 251.889 triệu đồng giảm 37.948 triệu đồng (13,09%) sovới năm 2007 Trong đó, dư nợ cho vay ngắn hạn chỉ là 157.173 triệu đồnggiảm 38.015 triệu đồng (19,47%); dư nợ cho vay trung, dài hạn không thayđổi nhiều vẫn đạt 94.716 triệu đồng
Trang 28Năm 2009, nền kinh tế bắt đầu phục hồi Tổng dư nợ cho vay tăng lên295.185 triệu đồng tăng 17% Trong đó, dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 188.658triệu đồng tăng 31.485 triệu đồng (20%); dư nợ cho vay trung và dài hạn đạt106.527 triệu đồng tăng 11.811 triệu đồng (35%).
Tỷ trọng
Thực hiện
Tỷ trọng
Thực hiện
Tỷ trọng Tổng số lượng
Cá nhân 1658 96,95% 1706 96,38% 1720 96,08%
(Nguồn: Phòng kế hoạch kinh doanh NHNo & PTNT Tp.Điện Biên Phủ.)
Trong tổng lượng khách hàng của NHNo&PTNT Tp.Điện Biên Phủ thìkhách hàng cá nhân chiếm tỷ trọng lớn, khách hàng doanh nghiệp chiếm tỷ lệrất nhỏ và tăng đều qua các năm với tỷ lệ tăng không nhiều Tuy nhiên, kháchhàng doanh nghiệp lại đóng góp phân nửa trong tổng dư nợ tín dụng của ngânhàng, qua các năm thì tỷ trọng đóng góp này càng tăng lên
Tóm lại, hoạt động cho vay của NHNo&PTNT Tp.Điện Biên Phủ ngàycàng tăng trưởng theo hướng phát triển ổn định và bền vững Chi nhánh luônluôn tuân thủ trung thực, minh bạch, cẩn thận trong nghiệp vụ tín dụng, lấychất lượng tín dụng, an toàn cho vay, hiệu quả đầu tư làm mục tiêu, động lựcthúc đẩy phát triển bền vững, đảm bảo dựa trên nguyên tắc “đi vay để chovay” Do đó công tác tín dụng luôn cố gắng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi, tíchcực thu hồi lãi treo, đảm bảo các món cho vay đều được kiểm tra trước, trong
và sau cho vay, phối hợp cùng khách hàng tìm các biện pháp tháo gỡ khókhăn
2.1.2.3 Hoạt động kinh doanh khác
Trang 29Ngoài hai hoạt động cơ bản là huy động vốn và cho vay, NHNo&PTNTTp.Điện Biên Phủ cung cấp các dịch vụ truyền thống như chuyển tiền trongnước, bảo lãnh, mở tài khoản, phát hành thẻ với nguồn thu ổn định và tăngđều qua các năm Năm 2007 thu từ dịch vụ ròng đạt 512 triệu đồng, đến năm
2008 giảm 12 triệu đồng so với năm 2007 (đạt 500 triệu đồng) và năm 2009nguồn thu này tăng mạnh đạt được 948 triệu đồng tương đương với tỷ lệ tăng89,6%
Trong đó:
- Dịch vụ đối với khách hàng doanh nghiêp: Thực hiện tốt theo quytrình tư vấn phục vụ khách hàng; tiến hành ký kết các hợp đồng bảo hiểm lớn;thực hiện đảm bảo các giao dịch nhanh chóng, chính xác phục cho kháchhàng một cách tốt nhất
- Dịch vụ đối với khách hàng cá nhân: Thực hiện chuyển tiền phục vụcán nhân, Western Union, kiều hối với khối lượng lớn, đảm bảo an toàn vàhiệu quả hoạt động dịch vụ Thực hiện tốt công tác trả lương qua tài khoảncho cán bộ công nhân viên hưởng lương từ ngân sách Nhà nước theo chỉ thị
20 của Chính phủ
Tính đến cuối năm 2009, ngân hàng đã phát hành được 1.395 thẻ, đạt93% kế hoạch được giao Các dịch vụ Mobile Bankking, bảo hiểm ABICđược thực hiện tốt
2.1.2.4 Kết quả kinh doanh
Đối với một doanh nghiệp kinh doanh, lợi nhuận là yếu tố tiên quyết và
là mục tiêu phải đạt được Kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp sẽ đánhgiá trung thực nhất hiệu quả và thực trạng của doanh nghiệp Chi nhánhNHNo& PTNT Tp Điện Biên Phủ luôn đảm bảo lấy thu bù chi và có lãi
Bảng 2.4: Kết quả hoạt động kinh doanh
Đơn vị tính: triệu đồng
Trang 30( Nguồn số liệu: Báo cáo kết quả tổng kết năm 2007, 2008 và 2009 )
Do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế năm 2008 và sau đó làchính sách thắt chặt tiền tệ kiềm chế lạm phát của Chính phủ trong năm
2009 đã làm cho thu nhập của NHNo&PTNT Tp Điện Biên Phủ trong 2năm này giảm rất nhiều so với năm 2007 Trong tổng thu thì thu từ hoạtđộng tín dụng là giảm nhiều nhất, năm 2008 giảm 2,8% so với năm 2007,năm 2009 giảm tới những 51,7% so với năm 2008
2.2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ TÍN DỤNG NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI NHNo&PTNT Tp ĐIỆN BIÊN PHỦ
2.2.1 Khái quát chung về tín dụng ngắn hạn tại NHNo&PTNT Tp Điện Biên Phủ
2.2.1.1 Các hình thức tín dụng ngắn hạn
Tại chi nhánh NHNo&PTNT Tp Điện Biên Phủ hiện nay, cho vay đốivới doanh nghiệp được thực hiện dưới các hình thức:
Cho vay vốn lưu động theo món:
Đối tượng: Những khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường
xuyên, có nguồn thu không ổn định và một số khách hàng có nhu cầu vaytheo món khác
Trang 31Thủ tục: Mỗi lần cấp một khoản cho vay phải làm đầy đủ tất cả các thủ
tục
Cơ sở xác định: Nhu cầu vay vốn cho từng phương án của khách hàng,
hợp đồng kinh tế, báo cáo tài chính, kế hoạch, phương án sản xuất kinhdoanh
Mức trả nợ và kì hạn trả nợ với hình thức cho vay theo món có thểđược xác định dựa trên cơ sở chu kì sản xuất, kinh doanh hoặc khả năng thuhồi tại thời điểm gần nhất thời điểm cho vay Mỗi lần cho vay, ngân hàng vàkhách hàng cần làm một hợp đồng vay vốn riêng biệt
Cho vay vốn lưu động theo hạn mức:
Đối tượng: Áp dụng đối với các khách hàng có sản xuất kinh doanh ổn
định, có hiệu quả và có quan hệ tín dụng thường xuyên với ngân hàng và cónhu cầu vay vốn theo hạn mức
Thủ tục: Chỉ cần làm đầy đủ thủ tục ở lần đầu xin cấp hạn mức tín
dụng
Cơ sở xác định: Dựa vào đề nghị của khách hàng, báo cáo quyết toán
của năm trước, báo cáo kế toán tại thời điểm gần nhất, kế hoạch sản xuất kinhdoanh năm, quý
Trong cho vay theo hạn mức, thường Chi nhánh làm một hợp đồng lớnvới doanh nghiệp trong đó quy định Hạn mức tín dụng sẽ cấp cho Doanhnghiệp cùng với các cam kết kèm theo, trong đó không ghi cụ thể mức lãisuất Mỗi khi cần vốn, doanh nghiệp và ngân hàng sẽ làm hợp đồng cụ thể
2.2.1.2 Quy trình tín dụng tại NHNo&PTNT Tp Điện Biên Phủ
Quy trình tín dụng tại NHNo&PTNT Tp Điện Biên Phủ được thựchiện theo quy trình chung của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam đã đượctrình bày trong quyển Sổ tay tín dụng Bao gồm các bước như sau: