Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu về KNDH Số và các phép tính đ có một số công trình nghiên cứu, đề cập dưới các góc độ khác nhau, trong đó đáng chú ý là công trình củ
Trang 1CAO THỊ THU HÀ
PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG DẠY HỌC
SỐ VÀ CÁC PHÉP TÍNH Ở LỚP 2 THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2014
Trang 2CAO THỊ THU HÀ
PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG DẠY HỌC
SỐ VÀ CÁC PHÉP TÍNH Ở LỚP 2 THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI
Trang 3Trang
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4 Giả thuyết khoa học
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3
4
4
7 Những điểm mới, ý nghĩa khoa học của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG
DẠY HỌC SỐ VÀ CÁC PHÉP TÍNH Ở LỚP 2 THEO MÔ HÌNH
26
31
Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG
DẠY HỌC SỐ VÀ CÁC PHÉP TÍNH Ở LỚP 2 THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI (VNEN)
2.2 Hướng dẫn GV tổ chức cho học sinh hoạt động học
nhóm thông qua các hoạt động trải nghiệm 45
Trang 42.2.3
hoạt động trải nghiệm trong mô hình VNEN Tác dụng của việc tổ chức cho học sinh hoạt động học nhóm thông qua các hoạt động trải nghiệm - VNEN
Một số vấn đề về đánh giá kết quả học tập của HS theo
mô hình VNEN Một số gợi ý cụ thể về hoạt động đánh giá kết quả học tập của HS theo mô hình VNEN
Trang 5Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ quá báu của các Thầy cô, đồng nghiệp và các em học sinh Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc, tôi xin gửi tới:
Thầy PGS.TS Vũ Quốc Chung – người Thầy kính mến đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, động viên và tạo mọi thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn Thạc sĩ;
Tôi xin cảm ơn các Thầy cô phòng Sau Đại học – trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thanh Luận văn;
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và học sinh trường Tiểu học Đồng Tâm, trường Tiểu học Trưng Trắc quận Hai Bà Trưng, trường tiểu học Phúc Tân quận Hoàn Kiếm, trường Tiểu học Trung Tự quận Đống Đa – những ngôi trường dạy học theo mô hình trường học mới và hiện hành - đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình khảo sát và thực nghiệm Luận văn
Tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến gia đình và đồng nghiệp - những người luôn động viên, khuyến khích và giúp đỡ về mọi mặt để tôi có thể hoàn thành Luận văn của mình
Hà Nội, tháng 12 năm 2014 Tác giả luận văn
Cao Thị Thu Hà
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là khách quan, trung thực và không tr ng l p với các đề tài khác Tôi c ng xin cam đoan rằng mọi sự giúp
đ cho việc thực hiện luận văn này đ được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đ được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, tháng 12 năm 2014 Tác giả luận văn
Cao Thị Thu Hà
Trang 7TT NỘI DUNG CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế đang đ t ra cho ngành giáo dục nước ta một nhiệm vụ hết sức n ng nề, đó là đào tạo một lớp người có đủ phẩm chất và năng lực thích ứng với nền kinh tế thị trường, tham gia phát triển kinh tế, văn hoá xã hội một cách bền vững Để đạt được mục tiêu đó, ngành giáo dục cần phải đổi mới toàn diện, triệt để cả
về nội dung, chương trình, phương pháp và hình thức giáo dục đào tạo
Vấn đề đổi mới giáo dục đ được đưa vào nghị quyết của các Đại hội Đảng IX, X, XI Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng 8, khóa XI, đ thông qua Nghị quyết 29 “Về đổi mới căn bản và toàn diện Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện Kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”
Một trong những đổi mới trong giai đoạn hiện nay là triển khai mô hình trường học mới (VNEN) vào các trường Tiểu học trên toàn quốc, tập trung ở lớp 2, 3 và 4 Đây là một trong mô hình dạy học hiện đại được nhiều nước tiên tiến trên thế giới áp dụng từ lâu và mang lại hiệu quả cao trong giáo dục
Mô hình này hướng tới việc đáp ứng các yêu cầu của đổi mới PPDH Do đó, việc triển khai mô hình này là yêu cầu mang tính cấp thiết cả về m t lý luận
c ng như thực tiễn ở nước ta hiện nay, phù hợp với xu thế đổi mới giáo dục của khu vực, thế giới, là cơ sở quan trọng để nước ta có thể hội nhập quốc tế
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục tiểu học đóng vai trò là bậc học nền tảng, cơ sở cho việc đào tạo con người toàn diện Cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí hết sức quan trọng Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống; chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học tốt các môn học khác ở Tiểu học và
Trang 9chuẩn bị cho việc học tốt môn Toán ở bậc trung học; Môn toán giúp HS nhận biết những mối quan hệ về số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực; góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, giải quyết vấn đề, góp phần phát triển trí thông minh Những thao tác tư duy có thể rèn luyện cho HS qua môn Toán bao gồm phân tích tổng hợp, so sánh, tương tự, KQH, TTH, cụ thể hoá, đ c biệt hóa Các phẩm chất trí tuệ có thể rèn luyện cho HS bao gồm: tính độc lập, tính linh hoạt, tính nhuần nhuyễn, tính sáng tạo
Đ c biệt, nội dung toán liên quan đến Số và các phép tính là mảng kiến
thức trọng tâm nhất trong bốn mảng kiến thức toán cơ bản ở Tiểu học nói chung Thông qua mảng kiến thức này, HS có kĩ năng đọc, viết, so sánh tập hợp số tự nhiên, số hữu tỉ và thực hành các phép toán cộng, trừ, nhân, chia trên 2 tập số đó Các mảng kiến thức còn lại (Đại lượng và đo đại lượng, Các yếu tố hình học, Số và các phép tính có lời văn) đều được xây dựng xoay quanh mạch kiến thức trọng tâm này, củng cổ thêm cho mảng kiến thức này
Tuy nhiên, để có thể thực hiện tốt các mục tiêu dạy học toán nói chung
và tổ chức có hiệu quả việc dạy học mảng kiến thức Số và các phép tính theo
mô hình Trường học mới VNEN nói riêng thì yêu cầu trước tiên có tính chất quyết định đối với người GV (GV) là phải nâng cao hơn nữa kỹ năng dạy học mảng kiến thức đó Trên thực tế, một GV nếu chỉ có tri thức thì chỉ gọi là “thợ dạy”, và khi nào họ có kỹ năng sư phạm c ng như bộc lộ hệ thống kỹ năng ấy một phù hợp vào thực tiễn giáo dục mới gọi là “Thầy” Một GV giỏi phải có
hệ thống kỹ năng sư phạm được chuyên môn hóa cao, sâu sắc và luôn thích ứng với nhiều hoàn cảnh khác nhau Ngoài việc chú trọng rèn luyện phương pháp dạy học, GV cần có khả năng truyền lửa, kỹ năng tổ chức những hoạt động tương tác với HS, kỹ năng sáng tạo trong phương pháp giảng dạy, kỹ năng quản lý đội, nhóm Với những lý do trên, tôi đ lựa chọn nghiên cứu đề
Trang 10tài “Phát triển KNDH Số và các phép tính ở lớp 2 theo mô hình trường học mới” làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Khoa học giáo dục của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài:
Nghiên cứu về KNDH Số và các phép tính đ có một số công trình
nghiên cứu, đề cập dưới các góc độ khác nhau, trong đó đáng chú ý là công
trình của Trần Thị Thu Hồng với đề tài “Góp phần nâng cao chất lượng dạy
học số học trong môn Toán lớp 4 theo hướng dạy học phù hợp với đối
tượng HS trên cơ sở chuẩn kiến thức kĩ năng” (2010); Vũ Thị Lan với đề tài
“Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hình thành biểu tượng số lượng cho
trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi theo hướng tích hợp” (2011); Đặng Thị Thanh
Nhàn với đề tài “Vấn đề suy luận trong dạy học số tự nhiên ở Tiểu học”
(2004);
Qua các công trình nghiên cứu trên cho thấy, các tác giả đ đề cập đến
KNDH Số và các phép tính với những đối tượng khác nhau như cho HS tiểu
học, HS mầm non… Các công trình trên đ giải quyết được một số vấn đề lý
luận và thực tiễn về KNDH Số và các phép tính ở những khía cạnh khác
nhau, nhưng chưa có một công trình nào đề cập một cách sâu sắc, toàn diện
và có hệ thống về phát triển KNDH Số và các phép tính ở lớp 2 theo Mô hình
trường học mới VNEN Do đó, việc nghiên cứu một cách đầy đủ cả trên phương diện lý luận và thực tiễn c ng như đưa ra những giải pháp nhằm phát
triển KNDH Số và các phép tính ở lớp 2 theo mô hình trường học mới là một
yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay, góp phần hoàn thiện lý luận và đáp ứng yêu cầu thực tiễn đ t ra cho việc triển khai mô hình trường học mới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
* Mục đích nghiên cứu:
- Nhằm làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển KNDH Số và các phép tính ở lớp 2 theo mô hình trường học mới;
Trang 11- Đánh giá thực trạng phát triển KNDH Số và các phép tính ở lớp 2 theo mô hình trường học mới;
- Trên cơ sở đó, luận văn đứ ra một số giải pháp, kiến nghị góp phần phát triển được KNDH Số và các phép tính ở lớp 2 theo mô hình trường học mới
* Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải
quyết những nhiệm vụ chính sau đây:
- Nghiên cứu văn bản, tài liệu liên quan đến phát triển KNDH Số và các phép tính ở lớp 2 theo mô hình trường học mới;
- Thu thập tài liệu, số liệu phản ánh tình hình phát triển KNDH Số và các phép tính ở lớp 2 theo mô hình trường học mới;
- Điều tra, khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng phát triển KNDH Số và các phép tính ở lớp 2 theo mô hình trường học mới;
- Trên cơ sở nghiên cứu đưa ra những giải pháp và đề xuất nhằm phát triển KNDH Số và các phép tính ở lớp 2 theo mô hình trường học mới
4 Giả thuyết khoa học:
Nếu hướng dẫn GV tổ chức cho HS lớp 2 học Toán thông qua hoạt động trải nghiệm của cá nhân và nhóm, kết hợp với kiểm tra đánh giá thì góp phần phát triển được KNDH Số và các phép tính ở lớp 2 của GV trong mô
hình trường học mới VNEN
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Lý luận về phát triển KNDH Số và các phép tính ở
môn Toán lớp 2 theo mô hình trường học mới
- Phạm vi nghiên cứu: Thực tiễn phát triển KNDH Số và các phép tính ở lớp 2
theo mô hình trường học mới tại một số trường tiểu học trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian từ năm 2009 đến 2014
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình hoàn thiện luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích; tổng hợp; so sánh; đối chiếu, toạ đàm; trao
Trang 12đổi; sử dụng tài liệu, báo cáo của một số ngành có liên quan như của một số trường tiểu học trên địa bàn thành phố Hà Nội về mô hình trường học mới
7 Những điểm mới, ý nghĩa khoa học của luận văn
Luận văn đ phân tích, làm rõ đ c trưng rèn luyện dạy học Số và các
phép tính ở lớp 2 mô hình trường học mới VNEN, đồng thời luận văn c ng
làm rõ những vấn đề lý luận về mô hình trường học mới Luận văn đ đánh
giá thực trạng tình hình phát triển KNDH Số và các phép tính ở lớp 2 theo
mô hình trường học mới VNEN Trên cơ sở đó, luận văn đ đề ra một số giải
pháp có tính khoa học góp phần phát triển KNDH Số và các phép tính ở lớp 2
theo mô hình trường học mới
Kết quả nghiên cứu là nguồn tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu khoa học và công tác giảng dạy trong các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Hà Nội và các địa phương khác khi triển khai dạy học theo mô hình trường học mới
8 Cấu trúc của đề tài
Đề tài được cấu trúc gồm 3 phần:
- Phần mở đầu;
- Phần nội dung: Được chia làm 3 chương:
+ Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển KNDH Số và
các phép tính ở lớp 2 theo mô hình trường học mới
+ Chương 2: Các biện pháp nhằm phát triển KNDH Số và các phép tính ở
môn Toán lớp 2 theo mô hình trường học mới
+ Chương 3: Một số biện pháp kiểm nghiệm, đánh giá hiệu quả của các biện
pháp nhằm góp phần phát triển KNDH Số và các phép tính ở lớp 2 theo mô
hình trường học mới
- Phần kết luận;
- Phần cuối Luận văn là Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 13NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG
DẠY HỌC SỐ VÀ CÁC PHÉP TÍNH Ở LỚP 2 THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI (VNEN)
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Kĩ năng
Cho đến nay đ có nhiều công trình nghiên cứu về kĩ năng và đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về nó Tuy các tác giả đưa ra những quan điểm khác nhau, nhưng nổi lên hai khuynh hướng cơ bản sau:
Khuynh hướng thứ nhất: Xem xét kĩ năng nghiêng về m t kĩ thuật của
hành động Đó là quan điểm của các tác giả Hoàng Phê Từ điển Tiếng Việt), V.A Krutecki (V.A.Kruteki – Tâm lí năng lực toán học của HS – NXBGD,
1973, Trần Trọng Thủy (Tâm lí học lao động – NXBGD, 1978)… Theo các
tác giả này, kĩ năng là phương tiện thực hiện hành động mà con người nắm vững Con người có kĩ năng là người nắm được tri thức về hoạt động đó và thực hiện hoạt động đó theo đúng yêu cầu của nó mà không cần tính đến kết quả của hành động
Khuynh hướng thứ hai: Xem xét kĩ năng nghiêng về năng lực của con
người Đó là quan niệm của các tác giả N.Đ Levitop (Gây hứng thú học Toán
cho HS như thế nào:), K.K.Platonop, G.G.Goolubev (Tâm lí học - NXBGD,1997), Nguyễn Quang Ẩn, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Ánh Tuyết…
Theo quan điểm này, kĩ năng thể hiện khả năng thực hiện một hành động có kết quả với chất lượng cần thiết và với thời gian tương ứng trong điều kiện xác định
Trang 14Như vậy, khác với khuynh hướng thứ nhất, các tác giả theo khuynh hướng thứ hai xem xét kĩ năng không chỉ đơn thuần mà là m t kĩ thuật của hành động mà còn là biểu hiện năng lực Các tác giả còn chú ý đến cả kết quả của hành động
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, chúng tôi sử dụng khái niệm kĩ
năng theo khuynh hướng thứ hai Theo GS.TS Nguyễn Quang Ẩn: “Kĩ năng
là khả năng của con người thực hiện một cách có hiệu quả một hành động hay một hoạt động nào đó để đạt được mục đích đã xác định bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức hành động phù hợp với điều kiện thực tiễn cho phép”,
Khái niệm kĩ năng này tương đối chính xác vì: Tri thức là nền tảng của
kĩ năng và bất cứ một hành động nào c ng có những mục đích nhất định Quá trình con người tiến hành hành động là quá trình con người tiến hành thực hiện một hệ thống thao tác theo một trật tự nhất định Và để hành động có kết quả, con người phải có những tri thức cần thiết về mục đích của hành động,
về cách thức hành động đi đến kết quả, những điều kiện cần thiết để triển khai cách thức hành động đó Nhưng chỉ có tri thức cần thiết thì chưa đủ, con người phải biết vận dụng những tri thức đó để thực hiện hành động có kết quả Chỉ khi nào con người hành động có kết quả thì lúc đó con người mới được gọi là có kĩ năng về hành động đó
1.1.2 Kĩ năng dạy học
1.1.2.1 Khái niệm:
* Theo lí luận dạy học, dạy học chính là con đường tổ chức cho HS thực hiện các thao tác, các hành động học tập theo chương trình hóa dưới sự điều khiển và hướng dẫn của GV Đây chính là con đường luyện tập các KN học tập có hiệu quả tránh được những mò mẫm, sai sót
Trang 15* Kỹ năng dạy học (KNDH) là khả năng của người dạy thực hiện một cách có kết quả các hoạt động dạy học của mình để đạt được mục đích giáo dục đ xác định bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức hành động
ph hợp với người học, điều kiện, hoàn cảnh và phương tiện nhất định
1.1.2.2 Đặc trưng của kĩ năng dạy học
- KNDH biểu hiện m t kỹ thuật của hành động giảng dạy và m t năng lực
giảng dạy của mỗi người dạy Có KNDH nghĩa là có năng lực giảng dạy ở
một mức độ nào đó
- KNDH luôn hướng tới mục đích của hoạt động giảng dạy và học tập và có ảnh hưởng quan trọng đến kết quả học tập
- KNDH là một hệ thống mở, mang tính phức tạp, nhiều tầng bậc và mang
tính phát triển, trong đó có những KNDH cơ bản
- Đ c trưng của KNDH cơ bản là chúng có liên hệ mật thiết với chất lượng và kết quả dạy học; có những hình thái phát triển liên tục trong suốt thời gian
làm công tác dạy học ở nhà trường; có tính khả thi, thiết thực đối với người dạy trong điều kiện dạy học hiện nay
và điều kiện DH
KN chuẩn bị phương tiện và thiết bị
DH
KN phân phối thời gian
KN thiết
kế kế hoạch
DH (soạn giáo án)
Trang 161.1.2.3 Kĩ năng dạy học Số và phép tính ở môn Toán lớp 2 – VNEN:
Dựa trên quan điểm đ được trình bày về kĩ năng, chúng tôi hiểu KNDH Số và phép tính ở môn Toán lớp 2 như sau:
“KNDH “Số và Phép tính ở môn Toán lớp 2” là khả năng của người dạy (GV) vận dụng một cách có kết quả những kiến thức và kinh nghiệm dạy Toán đ có vào trong quá trình dạy học những nội dung đó, nhằm giúp HS chiếm lĩnh kiến thức Số và phép tính, hình thành kĩ năng học tập và ứng dụng những kiến thức, kĩ năng đ được học vào thực tế”
* Những biểu hiện của KNDH Số và phép tính ở môn Toán lớp 2 VNEN
Người GV được gọi là có KNDH Số và Phép tính phải đảm bảo một số yêu cầu sau:
- Về kiến thức: Nắm chắc kiến thức về dạy học Tập hợp số và các Phép toán
Sự phát triển kĩ năng dạy học Số và các phép tính được thể hiện qua các mức độ khác nhau: Từ mức độ chưa biết → mức độ biết → hình thành kĩ năng
→ phát triển kĩ năng Một GV sẽ trải qua những mức độ này để phát triển kĩ năng dạy học của mình
Xuất phát điểm từ một sinh viên chưa biết về quy trình hay phương pháp
để dạy học Số và các phép tính Khi hướng dẫn cho HS Số và các phép tính sẽ nói hết những gì mình biết, chỉ cho HS cần phải làm những gì để giải bài đó
NHÓM KN THỰC HIỆN BÀI GIẢNG
KN Trình diễn mẫu
KN quản
lí lớp học
KN tổ chức
HĐ học nhóm
KN sử dụng phương tiện dạy học
KN kiểm tra đánh giá
Trang 17Đôi khi là vô tình đ nói cho HS kết quả của bài toán Làm như vậy HS chỉ có thể hiểu bài toán cụ thể đó nhưng khi g p những bài toán tương tự có thể lại phải nhờ đến sự giúp đ của người khác mà không thể tự giải
Sau khi đ được học, nắm được quy trình dạy học Số và các phép tính thì GV sẽ đi đúng hướng hơn trong việc hướng dẫn HS tìm ra cách giải bài cho bài toán Tuy nhiên, một vấn đề lớn có thể g p phải khi GV chỉ dừng lại ở mức
độ biết cách dạy, đó là sa vào việc nói nhiều, hướng dẫn HS quá chi tiết Từ những việc dễ cho đến nhưng bước khó GV đều can thiệp hướng dẫn HS mà không để các em tự suy nghĩ, tự tìm cách giải quyết Điều đó sẽ làm cho HS phụ thuộc vào GV, làm việc gì c ng lư ng lự không biết đúng hay sai, và cần đến sự giúp đ của người khác
Khi đ có kinh nghiệm, dần dần GV sẽ hình thành kĩ năng dạy học Số và các phép tính GV không còn nói nhiều, hướng dẫn cụ thể chi tiết nữa mà có sự định hướng rõ ràng để HS từ đó tự tìm cách giải quyết bài toán Những bước làm dễ GV chỉ hướng dẫn lần đầu còn những lần làm bài sau để HS tự làm Ví
dụ như bước: đọc đề bài, xác định các dự liệu của đề bài,tóm tắt bài toán GV
sẽ chỉ giúp đ HS khi g p khó khăn trong việc xác định dạng toán và tìm cách giải Hơn nữa, việc đ t câu hỏi của GV khi có kỹ năng c ng sẽ được cải thiện đáng kể, những câu hỏi ngắn ngọn, dễ hiểu, đi đúng hướng mà không cho HS sẵn cách giải
Trên cơ sở kỹ năng sẵn có, GV sẽ phát triển được kỹ năng dạy học Số và các phép tính của mình Một GV có sự phát triển trong kỹ năng dạy học Số và các phép tính thì thường thể hiện qua những việc làm sau:
Biết hướng dẫn cho HS nhận diện được các dạng toán theo từng chủ đề:
Chủ đề 1: Các số trong phạm vi 1000
- Dạng 1: Hình thành số, đọc số, viết số có ba chữ số
Trang 18- Dạng 2: So sánh các số có ba chữ số
Khi hướng dẫn HS làm các dạng bài này, GV cần phải biết đưa ra những yêu cầu ngắn gọn, xúc tích, thao tác với đồ d ng trực quan phải nhanh gọn, chính xác, không có các động tác thừa
Để phát triển kĩ năng, GV phải thường xuyên tiến hành trên lớp để cô
và trò tạo thành thói quen sử dụng đồ d ng trực quan
Chủ đề 2: Phép cộng và phép trừ có nhớ trong phạm vi 100
- Dạng 1: Cộng có nhớ trong phạm vi 20 (thành lập các bảng cộng)
- Dạng 2: Thực hiện tính cộng có nhớ (trong phạm vi 1000)
Ví dụ: Em nghe thầy/cô hướng dẫn cách đ t tính và tính 49+25
GV phải giúp HS hiểu rằng bảng hướng dẫn thực hiện các bước tính đưa ra một quá trình gồm 3 bước, bước đầu tiên: đ t tính (viết các chữ số thẳng cột), bước thứ hai: cộng các số ở hàng đơn vị, bước thứ ba: cộng các số ở hàng chục
GV phải biết kết hợp hướng dẫn HS đối chiếu từng bước tính ghi trong hướng dẫn với quá trình tính thực trên bảng Cách làm như sau:
- GV cho HS đọc đoạn hướng dẫn đầu, đồng thời thể hiện nó bằng cách đ t tính trên bảng
- Tiếp đó, GV cho HS quan sát, đọc hướng dẫn thứ hai (9 cộng 5 bằng 14, viết
4 nhớ 1), đồng thời GV viết kết quả lên bảng (viết 4 thẳng cột với 5 và 9)
- Cuối c ng GV cho HS đọc hướng dẫn cuối, GV nêu cách nhớ: ”thêm 1 bằng 7” và GV viết nốt số 7 thẳng cột với 4 và 2 ở hàng chục trên bảng
Việc làm này của GV sẽ giúp HS có thể hiểu dễ dàng các hướng dẫn tương tự
ở phần tiếp theo Trong các bài sau, HS có thể tự đọc hướng dẫn, thảo luận trong nhóm và tự làm theo hướng dẫn, và dần dần HS có thể độc lập tự thực hiện các phép tính mà không cần đọc hướng dẫn
- Dạng 3: Trừ có nhớ (Trong phạm vi 20)
Trang 19GV cần chú ý nhắc HS nhớ: Với phép trừ, chẳng hạn có 1 không trừ được cho
5, ta phải lấy 11 (vay 1chục ở hàng chục của số bị trừ )trừ 5 bằng 6, viết 6 nhớ
1, khi nhớ thì nhớ thêm vào hàng chục của số trừ, có 1 thêm 1 bằng 2, 5 trừ 2 bằng 3, viết 3
- Dạng 3: Tìm thừa số của phép nhân, tìm số bị chia
GV phải biết thông qua các trò chơi học tập để gợi động cơ học tập và ôn lại tên gọi các thành phần của phép nhân và phép chia GV có thể linh hoạt chọn
và thay đổi trò chơi để tạo hứng thú, phát huy tính tích cự cho HS, tránh sự nhàm chán l p lại Các trò chơi ph hợp với loại bài này có thể sử dụng như:
Trang 20* Nắm vững quy trình dạy học, cách thức tổ chức các hoạt động dạy học
* Biết dạy đúng trọng tâm, tháo g những vướng mắc, khó khăn của
HS đúng lúc, đúng chỗ
* Lường trước và có cách giải quyết tối ưu với những tình huống có thể xảy ra trong quá trình dạy học c ng như quá trình lĩnh hội kiến thức, rèn kỹ năng đọc, viết, so sánh các số và thực hiện tính của HS
* Biết giúp HS phát huy được hết khả năng, sáng tạo Biết khơi gợi, phát triển niềm đam mê toán học của HS
* Biết thông qua dạy học Số và các phép tính để phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận …cho HS…
Ngoài ra, người GV phải có khả năng truyền đạt kiến thức Toán học một cách chính xác, tốc độ thực hiện hoạt động dạy học nhanh chóng, linh hoạt; Có khả năng độc lập thực hiện công việc dạy học; Biết bố trí thời gian, sắp xếp công việc dạy học một cách khoa học, hợp lí; Biết lựa chọn các phương tiện và phương pháp dạy học khác nhau để thực hiện hành động dạy học trong thực tế một cách hợp lí, đa dạng; Biết đánh giá kết quả học tập của
HS một cách chính xác theo đúng chuẩn kiến thức, kĩ năng
1.1.3 Phát triển kĩ năng dạy học:
1.1.3.1 Phát triển:
Theo từ điển Triết học: Phát triển là một phạm tr d ng để khái quát quá trình vận động từ thấp tới cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn
thiện đến hoàn thiện hơn (Giáo trình triết học Mác – Lê Nin, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội)
- Theo từ điển X hội học: Phát triển là sự biến đổi hợp quy luật theo phương hướng không thể đảo ngược, được đ c trưng bởi sự chuyển biến chất lượng, bởi sự chuyển biến sang một trình độ mới Phát triển là đ c điểm cơ bản của vật chất, là nguyên tắc giải thích về sự tồn tại và hoạt động của các hệ
Trang 21thống bất cân bằng, lưu động, biến đổi (Từ điển quản lý xã hội, NXB ĐHQG,
Hà Nội)
- Theo tác giả Fran Emanuel Weinert: Phát triển là sự trải qua, tăng trưởng hay lớn lên tự nhiên, phân hoá ho c tiến hoá tự nhiên với những thay
đổi liên tục kế tiếp nhau (Franz Emanuel Weinert (1998), Sự phát triển nhận
thức học tập và giảng dạy, NXB Giáo dục, Hà Nội.)
Từ các định nghĩa trên cho ta thấy: Phát triển là một trường hợp đặc
biệt của sự vận động biểu hiện chiều hướng đi lên của các đối tượng trong hiện thực khách quan, là quá trình chuyển hoá từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn (Denomme Jean-Marc & Madeleine Roy (2000), Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác, NXB Thanh niên, Hà Nội.)
Nguyên nhân của sự phát triển là kết quả của quá trình tích luỹ đủ về lượng tạo ra sự thay đổi về chất, là biểu hiện của quy luật phủ định của phủ định trong hiện thực khách quan
1.1.3.2 Phát triển kĩ năng dạy học:
Phát triển KNDH là quá trình chuyển hóa kỹ năng dạy học của người
GV từ mức độ thấp đến mức độ cao hơn, từ mức độ đơn giản đến mức độ hoàn thiện hơn
Nguyên nhân của sự phát triển KNDH là kết quả của quá trình trải qua thực tế giảng dạy, đúc rút và tích l y kinh nghiệm c ng như không ngừng nâng cao và bồi dư ng kiến thức chuyên môn của bản thân người GV
1.1.3.3.Các giai đoạn phát triển kĩ năng:
Theo cách phân chia của Kixegof X.I, quá trình hình thành và phát triển KNDH chia thành 5 giai đoạn như sau:
- Giai đoạn 1: Tiếp nhận sự hướng dẫn (bao gồm việc nhận biết mục đích,
ý nghĩa, yêu cầu và cách thức thực hiện hành động) (bắt chước)
Trang 22- Giai đoạn 2: Diễn đạt quy trình, tái hiện hành động (làm được)
- Giai đoạn 3: Quan sát, nắm vững cách thức hành động (làm chính xác)
- Giai đoạn 4: Thực hiện thành thạo hành động một cách có ý thức (Làm
thạo, tính hiệu quả
Có thể mô tả quá trình phát triển kĩ năng nói chung bằng sơ đồ sau:
1.1.3.4 Biểu hiện của sự phát triển KNDH của người GV
Đối với người GV, quá trình hình thành và phát triển kĩ năng qua 5 giai đoạn c ng được thể hiện cụ thể như sau:
- Từ khi còn là Sinh viên ngồi trên giảng đường trường Sư phạm, thông qua việc nghiên cứu giáo trình, tài liệu học tập và thực hành sư phạm dưới sự hướng dẫn của Giảng viên, KNDH của họ hình thành và dần phát triển từ giai đoạn 1 đến 2 (Bắt chước cách dạy học, Dạy học có sự hướng dẫn của GV)
Trang 23- Tốt nghiệp trường Sư phạm, bước chân vào trường học Tiểu học, lúc này người GV bằng việc vận dụng những kiến thức, kĩ năng đ được học ở trường Sư phạm kết hợp việc dạy học thực tế, trải qua những sai lầm, vấp váp
đ tự bổ sung kiến thức, trau dồi và phát triển KNDH của mình lên mức độ cao hơn ( mức độ 3 - dạy đúng yêu cầu trong mọi hoàn cảnh, mọi đối tượng) Càng dạy học lâu năm, tích l y nhiều kinh nghiệm dạy học thì người GV càng
có nhiều kiến thức và càng thuần thục về kĩ năng, lúc này mức độ phát triển kĩ năng của họ có thể ở mức cao ho c rất cao (ở mức 4, 5 - dạy hay, dạy giỏi, trong bất kì hoàn cảnh điều kiện nào, với bất kì đối tượng HS nào, xử lí tình huống sư phạm khéo léo) Người GV được coi là GV dạy giỏi là người GV có mức độ phát triển ở mức 5 Đây là điều mà bất cứ người GV nào c ng đang phấn đấu
Có thể mô tả quá trình phát triển KNDH bằng sơ đồ sau:
Người xưa có câu “Thầy già, con hát trẻ” - đây là câu nói phản ánh khá đúng thực tế trên Tuy nhiên, không phải cứ dạy lâu năm là trở thành GV giỏi,
c ng không thể nói GV trẻ mới vào nghề thì dạy không tốt, điều này còn t y thuộc vào khả năng và niềm say mê nghề nghiệp của từng GV Việc dạy học
là một công việc vô c ng vẻ vang nhưng c ng đầy rẫy khó khăn thử thách, nó
Học cách dạy học
Dạy học có sự hướng dẫn của GV
Biết tự tiến hành dạy học
Dạy học thành thạo, chủ động
Dạy cuốn hút, sáng tạo
Sinh viên
GV
Trang 24đòi hỏi người GV không ngừng tích l y kiến thức, trau dồi kĩ năng để đạt
được những mục đích giáo dục đ đề ra
1.1.4 Phát triển KNDH Số và phép tính ở môn Toán lớp 2 theo mô hình trường học mới VNEN
* Luận văn này đề cập đến vấn đề phát triển kỹ năng dạy học Số và phép tính ở môn Toán lớp 2 cho GV Tiểu học theo mô hình trường học mới (VNEN) như sau:
- Là một loạt biện pháp giúp cho GV nắm vững các yêu cầu cần đạt về
kĩ năng dạy Số và phép tính ở môn Toán lớp 2;
- Được thực hiện thông qua các hoạt động bồi dư ng chuyên môn giúp
GV củng cố vốn kĩ năng đ có, bổ sung, hoàn thiện, phát triển KNDH Số
và phép tính ở môn Toán lớp 2 – VNEN, từ đó đổi mới phương pháp dạy học, cải thiện tình trạng dạy học hiện nay;
- Nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng dạy Số và phép tính ở môn Toán lớp 2 nói riêng, Toán học nói chung và yêu cầu đổi mới PPDH đang là vấn đề cấp thiết hiện nay
Nguyên nhân của sự phát triển KNDH “Số và phép tính ở môn Toán
lớp 2 theo mô hình trường học mới VNEN” là kết quả của quá trình trải qua
thực tế giảng dạy, đúc rút và tích l y kinh nghiệm c ng như không ngừng nâng cao và bồi dư ng kiến thức chuyên môn của bản thân người GV, c ng
là yêu cầu của thực tiễn khách quan: đứng trước yêu cầu đổi mới hình thức và phương pháp dạy học từ mô hình truyền thống quen thuộc nhưng lạc hậu sang
mô hình dạy học hiện đại mới mẻ, tích cực, đem lại hiệu quả giáo dục cao hơn
Trang 25Có thể mô tả quá trình phát triển KNDH số và phép tính ở môn Toán lớp 2 – VNEN bằng sơ đồ sau:
1.1.5 Biểu hiện của sự phát triển KNDH Số và phép tính ở môn Toán lớp 2 theo mô hình trường học mới (VNEN)
* Hệ thống mức độ kỹ năng Dạy học số và phép tính ở môn Toán lớp 2
mô hình VNEN nêu trên được cụ thể hóa thành các yêu cầu cần đạt để bồi
dư ng cho GV và đó c ng chính là tiêu chuẩn đánh giá về sự phát triển kỹ năng Dạy học số và phép tính ở môn Toán lớp 2 mô hình VNEN của GV lớp
2, cụ thể như sau:
- GV được củng cố những kiến thức và kĩ năng về KNDH Số và phép tính ở
môn Toán lớp 2 bằng cách nghiên cứu tài liệu, học hỏi đồng nghiệp
- Kịp thời bổ sung những kiến thức và kĩ năng về KNDH Số và phép tính ở
môn Toán lớp 2 mà mình còn chưa cập nhật ho c chưa thành thạo bằng cách nghiên cứu tài liệu, tự học, tự trau dồi, rút kinh nghiệm sau mỗi tiết dạy
- Tự mình hoàn thiện vốn kiến thức và kĩ năng về KNDH Số và phép tính ở
môn Toán lớp 2 để làm dày thêm hành trang kiến thức, kĩ năng cho bản thân như: biết dạy đúng trọng tâm bài, dạy đúng phương pháp
- Trên cơ sở những kiến thức, kĩ năng đ được trang bị, người GV đáp ứng tốt
những yêu cầu đổi mới PPDH, tiến tới phát triển KNDH Số và phép tính ở
môn Toán lớp 2 lên mức độ cao hơn như: biết chủ động tháo g những khó
Trang 26khăn thắc mắc của HS đúng lúc, đúng chỗ, lường trước những tình huống dạy học có thể xảy ra
- Chủ động Đổi mới cách dạy để cho tiết dạy Toán không bị khô khan, nhàm
chán, thu hút HS, đáp ứng yêu cầu đổi mới PPDH hiện đại VNEN như: tổ chức các hoạt động học tập một cách hiệu quả, sáng tạo, phát huy năng lực, phẩm chất tốt của HS, khơi gợi niềm đam mê Toán học trong các em, thông qua học Toán phát triển tư duy cho HS
1.1.6 Những biện pháp để góp phần phát triển KNDH Số và phép tính ở môn Toán lớp 2 theo mô hình VNEN cho GV lớp 2
1.1.6.1 Biện pháp:
KNDH chỉ được phát triển khi được áp dụng trực tiếp vào một hoạt động dạy học cụ thể KNDH Số và phép tính ở môn Toán lớp 2 theo mô hình VNEN c ng vậy, nó chỉ có thể phát triển nếu đ t trong hoạt động học tập của
mô hình trường học mới với những hình thức dạy học và PPDH hiện đại, mới
mẻ này Những điểm đổi mới cơ bản của mô hình VNEN là:
+ Hình thức học tập thông qua trải nghiệm, khám phá
Trang 27Nội dung bồi dư ng được xác định là hệ thống kỹ năng Dạy học số và phép tính ở môn Toán lớp 2 mô hình VNEN, kết hợp với các tài liệu, cơ sở khoa học liên quan đến mô hình Dạy học số và phép tính ở môn Toán lớp 2
mô hình VNEN do luận văn đề xuất được biên soạn theo trình tự thực hiện các kỹ năng một cách hợp lý
- Phát triển kỹ năng Dạy học số và phép tính ở môn Toán lớp 2 - VNEN thông qua quá trình tự học, tự rèn luyện
Tự học, tự rèn luyện là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao kiến thức
và kỹ năng dạy học Số và phép tính ở môn Toán lớp 2 mô hình VNEN là điều kiện củng cố, nâng cao năng lực, kỹ năng sẵn có Vì vậy cần khuyến khích
GV ý thức tự học, tự rèn luyện thường xuyên trong hoạt động chuyên môn; cần trang bị phương pháp và tạo điều kiện thuận lợi để GV tiến hành tự học,
tự rèn luyện một cách có hiệu quả
1.1.7 Công cụ đánh giá sự phát triển KNDH Số và phép tính ở môn Toán lớp 2 - VNEN
Sự phát triển kỹ năng dạy học Số và phép tính của GV được thể hiện rõ rệt nhất ở tiết dạy của GV và thể hiện trên chính HS trong lớp ấy Vì vậy, để
Trang 28đánh giá sự phát triển kĩ năng dạy học ấy chỉ bằng cách quan sát, dự giờ tiết dạy của GV đồng thời kiểm tra HS về kỹ năng đọc số, so sánh số và làm tính
- Quan sát, dự giờ GV sẽ giúp cho người dự có thể thấy được khả năng, vốn kiến thức, kinh nghiệm và sự sáng tạo của GV
Kỹ năng dạy học Số và phép tính của GV sẽ bộc lộ qua từng bước hướng dẫn HS nắm bắt tri thức, m c d việc nắm bắt tri thức là việc mà HS phải chủ động làm nhưng vẫn cần đến sự định hướng của GV GV sẽ thể hiện
sự khéo léo của mình khi dẫn dắt HS để các em tự giác, chủ động chiếm lĩnh tri thức mà không phải phụ thuộc vào GV
Ngoài ra kỹ năng của GV còn được thể hiện trong việc bao quát HS
cả lớp, không để HS giỏi làm nhanh rồi ngồi chơi, HS kém thì khó khăn với việc đọc số và làm tính
Chúng ta còn có thể đánh giá sự phát triển kỹ năng dạy học Số và các phép tính của GV bằng cách đ t GV vào một tình huống sư phạm, vào một hoàn cảnh khó khăn để GV có cơ hội để bộc lộ kĩ năng của mình Cách GV giải quyết tình huống thể hiện sự phát triển kỹ năng ấy đang ở mức độ nào Nếu trong lớp có sự phân loại HS rõ ràng (có HS kém, có HS giỏi) thì cách GV hướng dẫn HS kém làm tính đúng, nhanh gọn, dễ nhớ mà không làm HS giỏi cảm thấy nhàm chán và có tâm lí chủ quan c ng là một thử thách đối với GV
- GV có thành công với bài dạy hay không, kỹ năng dạy học Số và phép tính của GV có mang đến hiệu quả hay không sẽ thể hiện chính các em
HS Vậy bài làm của HS c ng chính là thước đo của sự phát triển kỹ năng dạy học Số và phép tính của GV HS sẽ thể hiện những hiểu biết của mình bằng việc làm tính cụ thể, chúng ta có thể nhìn cách trình bày, các thao tác tính của
HS để đánh giá HS có kĩ năng nhận biết cấu tạo số, so sánh Số và làm tính hay không Ngoài ra có thể đ t ra một số câu hỏi để phỏng vấn các em như
Trang 29(em có cách tính, cách so sánh nào khác…), việc này sẽ giúp chúng ta hiểu được kiến thức của HS đang ở mức độ nào
Để xác định được các biện pháp đề xuất có thể phát triển được KNDH
Số và phép tính ở môn Toán lớp 2 mô hình VNEN hay không, thông qua việc
dự giờ, thăm lớp đối với GV và đánh giá kết quả học tập của HS, chúng tôi xin đưa ra một số tiêu chí đánh giá như là công cụ đo sự phát triển kĩ năng như sau:
1.1.7.1 Về phía GV:
- Tiêu chí 1: Kỹ thuật trình bày bảng
Viết chữ số và phép tính có rõ ràng, trình bày bảng có khoa học, hợp lí, ngắn gọn và tường minh hay không?
- Tiêu chí 2: Những tiêu chí của kỹ năng truyền đạt:
+ Ngôn ngữ khoa học có chính xác, có nắm vững nội dung và biểu đạt phong phú hay không?
+ Phát âm có rõ ràng, chính xác, tốc độ và tần suất âm thanh có vừa phải hay không?
+ Ngôn ngữ có giản dị, tự nhiên, thiện cảm, giàu hình ảnh, có tính thuyết phục cao hay không? (được thực hiện bằng sự giải thích, mô tả, so sánh, chứng minh bằng các ví dụ)
- Tiêu chí 3: Tiêu chí kỹ năng sử dụng câu hỏi
+ Câu hỏi phải trọng tâm giúp HS hiểu và nắm được bản chất của vấn đề Mục tiêu của bài học, của một đơn vị tri thức cần đạt chứa đựng trong câu hỏi trọng tâm, chủ đạo đó
+ Có hệ thống câu hỏi (các câu hỏi phụ) giúp giải quyết từng phần cho câu hỏi trọng tâm
+ Các câu hỏi phải tương ứng với các cấp độ nhận thức từ thấp đến cao và hỗ trợ nhau trong mỗi bài dạy
Trang 30+ Mỗi phương pháp dạy học có cách tiếp cận vấn đề khác nhau, nên phải có một hệ thống câu hỏi khác nhau
+ Câu hỏi phải vừa sức, ph hợp với đối tượng HS, đồng thời tạo điều kiện cho HS hoạt động độc lập, ho c theo c p, ho c theo nhóm; tạo điều kiện cho
HS tự đánh giá lẫn nhau, kết hợp đánh giá của thầy và đánh giá của trò
+ Kỹ năng chọn trưởng nhóm: Phải có các tố chất; am hiểu các vấn đề trong những nét cơ bản và khái quát; Biết tâm lý nhóm và điều động nhóm có khoa học; Xác định được tiềm năng của nhóm, khơi dậy được tiềm năng đó; Dân chủ
+ Kỹ năng tổ chức các thành viên trong nhóm: Chuẩn bị trước đề cương, thu thập dữ kiện; Đúng giờ, lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác; Có kỷ luật, tự chủ
1.1.7.2 Về phía HS và lớp học:
- Tiêu chí 1: Mọi HS phải được hoạt động, trải nghiệm (cá nhân, theo
nhóm…) để tìm ra tri thức, hình thành kĩ năng và ứng dụng kiến thức đ học vào thực tế
- Tiêu chí 2: Tự HS sản sinh ra trí thức thông qua trải nghiệm
GV đóng vai trò khơi gợi, dẫn dắt HS để các em tự tìm tòi, khám phá, tiến dần đến tri thức cần chiếm lĩnh
Trang 31- Tiêu chí 3: Bầu không khí trong lớp vui vẻ, thoải mái
Để có thể tự do hoạt động, khám phá tri thức, HS Tiểu học cần một môi
trường dạy học đầy sự vui vẻ và thoải mái Bởi lẽ, với một bầu không khí căng thẳng, ngột ngạt thì khó có thể đạt được 2 tiêu chí đ nêu ở trên
1.1.8 Nội dung dạy học Số và phép tính ở môn Toán lớp 2 (VNEN)
* Chương trình Toán 2 VNEN được kết cấu theo các tuần học, mỗi tuần được phân chia thành các bài học, tổng cộng cả năm học lớp 2 có 100 bài học (Toán 2 hiện hành có 175 tiết) Mỗi bài học có thể gồm 1 ho c 2 tiết học thông thường Kết cấu như vậy sẽ tạo điều kiện để HS được d n thời gian phải tập trung chú ý giải quyết các vấn đề lí thuyết, góp phần giảm nhẹ sự
“căng thẳng trí tuệ” trong học toán của trẻ, đồng thời giúp tăng cường hoạt động thực hành và các hoạt động thư gi n và tạo đủ thời gian cần thiết để HS hoàn thiện một đơn vị kiến thức, kĩ năng cụ thể
Ví dụ: 4 tiết học trong chương trình Toán 2 hiện hành: 9 + 5 ; 29 + 5 ; 49 + 25; Luyện tập; nay được bố trí thành 2 bài học trong Toán 2 VNEN: “9 cộng với một số” và “Cộng có nhớ dạng 29 + 5 ; 49 + 25”
* Nội dung chủ yếu của mảng kiến thức về Số và phép tính trong chương trình môn Toán lớp 2 VNEN được chia thành 3 mảng lớn:
Trang 32b) Phép nhân, chia:
- Hình thành khái niệm về phép nhân, chia;
- Các thuật ngữ: tích, thừa số, thương, số bị chia, số chia;
- Các bảng nhân, bảng chia với 2, 3, 4, 5 ;
3) Một số tính chất của phép nhân, chia:
- Tính chất giao hoán của phép nhân
- Quan hệ thuận – nghịch giữa phép nhân và phép chia
- Các phép nhan, chia có liên qun đến 1 và 0
+ Nhân, chia với 1 và nhân với 0;
+ 0 chia cho một số (khác 0);
+ Không thể chia cho số 0;
- Phần tử đối xứng của các số tự nhiên (2, 3, 4, 5) đối với phép nhân
* Nội dung, chương trình Toán lớp 2 theo mô hình trường học mới VNEN về cơ bản giống với mô hình trường học hiện hành, chỉ có phần phương pháp dạy học là có một số điểm khác biệt, cụ thể như sau:
STT Tên bài học/chủ đề Hướng dẫn học Toán 2 VNEN
- Chú ý cân đối cả yêu cầu tính nhẩm và yêu cầu sử dụng kĩ thuật tính theo “cột dọc”
Trang 33- Việc so sánh và sắp thứ tự các số giới thiệu xen kẽ trong từng phân đoạn hình thành số
1.2 MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI (VNEN)
1.2.1 Mục tiêu giáo dục của mô hình:
Dự án Mô hình Trường học mới tại Việt Nam (Dự án GPE–VNEN, Global Partnership for Education–Vietnam Escuela Nueva) là một dự án về sư phạm nhằm xây dựng và nhân rộng một kiểu mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại, ph hợp với mục tiêu phát triển và đ c điểm của Giáo dục Việt Nam
Dự án nhằm mục đích sau:
- Tạo điều kiện cho trẻ em thuộc các nhóm trẻ khó khăn hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học có chất lượng, thông qua việc đổi mới cách tổ chức các hoạt động giáo dục và hoạt động dạy học (chuyển việc dạy học từ lối truyền thụ kiến thức của GV sang hướng dẫn hoạt động học cho HS mà không làm thay đổi chuẩn kiến thức, kỹ năng và kế hoạch dạy học của chương trình hiện hành) ở trường tiểu học;
- Rút ra những bài học thực tiễn có giá trị về đổi mới việc tổ chức các hoạt động dạy và học trên toàn quốc (ở cấp trung ương và địa phương) nhằm chuẩn bị cho đổi mới căn bản, toàn diện cả về chương trình, nội dung, phương pháp và đánh giá cho chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015, đồng thời để đạt được giáo dục có chất lượng và bền vững
1.2.2 Những điểm khác so với các mô hình giáo dục truyền thống:
Trang 341.2.2.1 Hình thức dạy học:
Điểm nổi bật của mô hình trường học mới là hình thức dạy học tương tác Trong quá trình dạy học, ở tất cả các hoạt động học tập đều có sự tương tác qua lại giữa GV với HS, giữa HS với HS Nó khác với những hình thức dạy học truyền thống Cụ thể hóa bằng mô hình tương tác sau:
Dạy học truyền thống:
Mô hình trường học hiện hành: Mô hình trường học mới:
Xét theo các mô hình tương tác trong dạy học thì dạy học truyền thống
đ chọn mô hình giao lưu song phương và đơn phương để triển khai các hoạt động dạy học Mô hình trường học hiện hành c ng chú ý đến sự tương tác GV – HS nhưng chưa triệt để Theo chúng tôi, dạy học theo mô hình trường học mới có nhiều kênh dẫn, giao lưu, tương tác giữa các nhân tố trong DH, tức nhấn mạnh quá trình hoạt động hợp tác giữa thầy - trò và trò - trò trong dạy học Thầy có lúc là người cố vấn, chỉ đạo, tham dự, có lúc là thành viên trong nhóm, không phải là người mang lại nguồn tin duy nhất
Trang 35Trong mô hình trường học mới, HS chỉ còn phải học 4 môn bắt buộc là Tiếng Việt; Toán; Ngoại ngữ (bắt đầu học từ lớp 3); Tự nhiên và X hội 1, 2, 3
ho c Lịch sử và Địa lý, Khoa học lớp 4, 5 Nội dung các môn học khác được chuyển sang Hoạt động giáo dục
- Tích hợp kiến thức với quy trình học và quy luật tư duy;
- Tích hợp nội dung học với hình thức hoạt động học, hướng dẫn học;
- Tích hợp phương pháp dạy với phương pháp học;
- Tích hợp nội dung toán học với nội dung các môn học khác và các tình huống thực tiễn
1.2.2.4 Tiến trình bài học:
Mỗi bài học trong sách Hướng dẫn học:gồm ba nhóm hoạt động:
- Phần Hoạt động cơ bản giúp HS học qua trải nghiệm, học qua việc
làm thực tế, học qua tìm tòi, khám phá, phát hiện với sự giúp đ thích hợp của
GV
- Phần Hoạt động thực hành thể hiện các hoạt động thực hành của HS
nhằm củng cố, rèn luyện, phát triển các kiến thức, kĩ năng vừa học Phần này thường có từ 2 đến 4 bài tập, có thể kết hợp cả yêu cầu lí thuyết và thực hành
- Phần Hoạt động ứng dụng khuyến khích HS bước đầu biết vận dụng
kiến thức trong thực tế cuộc sống Nhấn mạnh sự quan tâm hỗ trợ HS học tập
từ gia đình và cộng đồng Khuyến khích HS mở rộng vốn kiến thức qua các nguồn thông tin khác nhau (từ gia đình, cộng đồng làng bản, thôn xóm)
Trang 36Dạng bài Em ôn lại những gì đã học (Tương tự như dạng bài Luyện tập theo SGK hiện hành) ho c Em đã học được những gì? (Tương tự như dạng
Luyện tập chung theo SGK hiện hành) giúp HS luyện tập, củng cố, vận dụng
các kĩ năng thực hành giải quyết vấn đề Với các dạng bài này chỉ kết cấu thành 2 phần: Phần thực hành và phần ứng dụng
1.2.2.5 Phương pháp dạy - học môn Toán lớp 2 –VNEN:
* 5 bước giảng dạy:
Có nhiều kiểu cấu trúc một bài học, trong đó thường d ng nhất là kiểu cấu trúc gồm ba bước: Nghe giảng lí thuyết -> Theo dõi bài tập mẫu -> Luyện tập Tuy nhiên, nếu GV sử dụng không hợp lí sẽ dẫn đến lối dạy học mang
tính áp đ t, bình quân, đồng loạt
Để góp phần tích cực hoá hoạt động học tập của HS, người ta thường khuyến khích sử dụng kiểu dạy học thông qua các hoạt động trải nghiệm, khám phá, phát hiện của HS, gồm 5 bước chủ yếu
Gợi động cơ, tạo hứng thú Trải nghiệm Phân tích, khám phá, rút ra bài học Thực hành Vận dụng (kiểu quy trình 5 bước)
“Kiểu cấu trúc bài học” được khuyến khích sử dụng trong mô hình trường học mới VNEN, c ng như ở nhiều nơi trên thế giới và ở Việt Nam, đó
là tổ chức dạy học thông qua trải nghiệm Chu trình này bao gồm 5 bước chủ yếu:
Bước 1 Tạo hứng thú cho HS
GV kích thích sự tò mò, khơi dậy hứng thú của HS về chủ đề sẽ học bằng cách: Đ t câu hỏi; Câu đố vui; Kể chuyện; Đ t một tình huống; Tổ chức trò chơi; Ho c sử dụng các hình thức khác
Bước 2 Tổ chức cho HS trải nghiệm
Trang 37GV huy động vốn hiểu biết, kinh nghiệm có sẵn của HS để chuẩn bị học bài mới bằng cách: Tổ chức các hình thức trải nghiệm thú vị, gần g i với
HS
Bước 3 Phân tích – Khám phá – Rút ra kiến thức mới
GV dùng các câu hỏi gợi mở, câu hỏi phân tích, đánh giá để giúp HS thực hiện tiến trình phân tích và rút ra bài học
Có thể sử dụng các hình thức thảo luận c p đôi, thảo luận theo nhóm,
ho c các hình thức sáng tạo khác nhằm kích thích trí tò mò, sự ham thích tìm tòi, khám phá phát hiện của HS GV nên soạn những câu hỏi thích hợp giúp
HS đi vào tiến trình phân tích thuận lợi và hiệu quả Các hoạt động trên có thể thực hiện với toàn lớp, nhóm nhỏ, ho c cá nhân từng HS
Bước 4 Thực hành – Củng cố bài học
+ GV thông qua việc giải những bài tập rất cơ bản để HS rèn luyện việc nhận dạng, áp dụng các bước giải và công thức cơ bản GV quan sát HS làm bài và phát hiện xem HS g p khó khăn ở bước nào GV giúp HS nhận ra khó khăn của mình, nhấn mạnh lại quy tắc, thao tác, cách thực hiện
+ Tiếp tục ra các bài tập với mức độ khó dần lên ph hợp với khả năng của HS GV tiếp tục quan sát và phát hiện những khó khăn của HS, giúp các
em giải quyết khó khăn bằng cách liên hệ lại với các quy tắc, công thức, cách làm, thao tác cơ bản đ rút ra ở trên
+ Có thể giao bài tập áp dụng cho cả lớp, cho từng cá nhân, ho c theo nhóm, theo c p đôi, theo bàn, theo tổ HS
Trang 38+ Khuyến khích HS diễn đạt theo ngôn ngữ, cách hiểu của chính các
em Khuyến khích HS tập phát biểu, tập diễn đạt bước đầu có lí lẽ, có lập luận.” [2]
* Kết luận: Mô hình Trường học mới (VNEN) là một trong những mô hình nhà trường hướng tới việc đáp ứng các yêu câu của đổi mới PPDH, thể hiện qua một số đ c điểm cơ bản: HS được học theo tốc độ ph hợp với trình độ nhận thức của cá nhân; Nội dung học thiết thực, gắn kết với thực tiễn đời sống hằng ngày của HS; Kế hoạch dạy học được bố trí linh hoạt; Môi trường học tập thân thiện, phát huy tinh thần dân chủ, ý thức tập thể; Tài liệu học có tính tương tác cao và là tài liệu hướng dẫn HS tự học; Chú trọng kĩ năng làm việc theo nhóm họp tác; Phối hợp ch t chẽ giữa phụ huynh, cộng đồng và nhà trường; Tăng quyền chủ động cho GV và nhà trường, phát huy vai trò tích cực, sáng tạo của các cấp quản lí giáo dục địa phương
1.3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG DẠY HỌC SỐ VÀ CÁC PHÉP TÍNH Ở LỚP 2 THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI
1.3.1 Tổ chức điều tra
1.3.1.1 Mục đích điều tra
- Tìm hiểu thực trạng về việc sử dụng các PPDH của GV Tiểu học ở mô hình trường học hiện hành và mô hình trường học mới VNEN
- Tìm hiểu thực trạng dạy học Số và các phép tính lớp 2 mô hình VNEN
- Tìm hiểu nhận thức của GV về việc phát triển KNDH Số và phép tính ở môn Toán lớp 2 mô hình VNEN
1.3.1.2 Đối tượng, địa bàn, phạm vi và thời gian điều tra
Chúng tôi tiến hành khảo sát với 12 GV chủ nhiệm lớp 2 của ba trường
Tiểu học: Tiểu học Đồng Tâm, Tiểu học Trưng Trắc quận Hai Bà Trưng, Tiểu
học Phúc Tân quận Hoàn Kiếm Về thâm niên: số GV từ 5 đến 10 năm chiếm
tỷ lệ cao nhất 50% và từ 15 năm trở lên là 35,7%, còn lại là số người có thâm niên từ 1-5 năm là 14,3% Điều này cho thấy số GV trẻ tuổi chiếm đa số do
Trang 39đó có nhiều thuận lợi cho việc áp dụng và nâng cao KNDH mới theo mô hình VNEN Về chuyên môn nghiệp vụ: Trong số người trả lời có 100% có trình
độ đại học và trên đại học Như vậy tất cả GV có trình độ trên chuẩn
Thời gian tiến hành: Năm học 2014 - 2015
1.3.1.3 Nội dung điều tra
- Điều tra việc sử dụng và mức độ sử dụng các PPDH của GV Tiểu học ở
mô hình trường học hiện hành và mô hình trường học mới VNEN
- Điều tra thực trạng dạy học Số và các phép tính lớp 2 mô hình VNEN
- Điều tra nhận thức của GV về việc phát triển KNDH Số và phép tính ở môn Toán lớp 2 mô hình VNEN (về đổi mới PPDH, thực hiện đổi mới PPDH
và kết quả đổi mới PPDH của GV lớp 2)
1.3.1.4 Phương pháp điều tra
- Dự giờ, thăm lớp, trao đổi, phỏng vấn GV và HS lớp 2
- Điều tra bằng bảng hỏi đối với 10 GV lớp 2
1.3.2 Kết quả và kết luận điều tra
Trang 40Kết quả trên cho thấy, trong 12 GV được điều tra:
- Chỉ có 6 GV (chiếm 50%) cho rằng họ thường xuyên rèn luyện và
phát triển kỹ năng dạy học Số và các phép tính của bản thân Đây là một thực
tế không mấy khả quan khi hầu hết các GV đều biết được tầm quan trọng của
kỹ năng dạy học Số và các phép tính, nhưng lại chỉ có một số ít GV thường xuyên nâng cao kỹ năng dạy học Số và các phép tính của bản thân
- Có đến 64 GV (chiếm 50%) thừa nhận rằng họ chỉ đôi khi ho c rất ít
khi tự giác rèn kỹ năng dạy học giải toá Số và các phép tính n cho bản thân Trong khi đó, kỹ năng dạy học Số và các phép tính c ng như bất kì một kỹ
năng nào c ng cần được rèn luyện và phát triển một cách thường xuyên để tạo thành thói quen Thực tế đó đ cho thấy rằng bên cạnh việc bồi dư ng nhận thức cho GV về việc phát triển kỹ năng dạy học một cách đầy đủ và thấu đáo vẫn cần có những nội dung và hình thức cụ thể để giúp GV rèn luyện kỹ năng
Số và các phép tính
* Đánh giá về thực trạng sử dụng PPDH
Các kết quả khảo sát cho thấy: GV lớp 2 chủ yếu vẫn sử dụng các PPDH
truyền thống như thuyết trình, trực quan, vấn đáp, thảo luận nhóm, tổ chức