1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài Trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật hiện hành, một số vấn đề lí luận và thực tiễn

25 335 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 157 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luật được thể hiện qua việc áp dụng các chế tài và được thực hiện bởi bộ máycưỡng chế nhà nước.- Tính đền bù, mục đích của trách nhiệm pháp lý không chỉ là trừng trị hành vi viphạm pháp

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Nghĩa vụ dân sự là một trong những chế định quan trọng của Bộ Luật Dân

sự của nước ta Hiện nay, xoay quanh nội dung này còn khá nhiều vấn đề về mặt líluận cũng như thực tế đáng quan tâm Xuất phát từ yêu cầu như vậy, tại bài viết

này em xin trình bày vấn đề trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ dân sự theo quy

định của pháp luật hiện hành – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn để phần nào

góp phần giải quyết vấn đề mang tính pháp lí này

Trách nhiệm pháp lí là một khái niệm chung được sử dụng tại nhiều ngành

luật khác nhau Về mặt khái niệm trách nhiệm pháp lý được hiểu là hậu quả pháp

lý (sự trừng phạt) đối với chủ thể vi phạm pháp luật, thể hiện ở mối quan hệ đặc biệt giữa nhà nước với các chủ thể vi phạm pháp luật, được các quy phạm pháp luật xác lập và điều chỉnh, trong đó chủ thể vi phạm pháp luật phải chụ những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế được quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật 1

Trách nhiệm pháp lý có những đặc điểm sau:

- Thành phần đang chú ý nhất của trách nhiệm pháp lý là "hậu quả pháp lý" haynói cách khác là chế tài, thái độ của nhà nước đối với các hành vi vi phạm pháp

1Theo giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội,

Trang 2

luật được thể hiện qua việc áp dụng các chế tài và được thực hiện bởi bộ máycưỡng chế nhà nước.

- Tính đền bù, mục đích của trách nhiệm pháp lý không chỉ là trừng trị hành vi viphạm pháp luật mà bên cạnh đó còn có sự khôi phục tình trạng tương ứng đối vớiphần hậu quả mà người vi phạm đã gây ra do không thực hiện nghĩa vụ của mình

- Về hình thức của trách nhiệm pháp lý chỉ tồn tại khi được quy định trong các vănbản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành

2 Nghĩa vụ dân sự

Nghĩa vụ dân sự luôn là một vấn đề pháp lý đáng quan tâm của các Bộ luậtdân sự đã từng tồn tại ở Việt Nam từ trước đến nay Về mặt khái niệm, hiện nay

theo quy định tại điều 280 Bộ luật dân sự năm 2005: "Nghĩa vụ dân sự là việc mà

theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền, hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của môt hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi là bên có quyền)

Nghĩa vụ dân sự được phân thành nhiều loại khác nhau, đó là nghĩa vụ dân

sự riêng rẽ, nghĩa vụ dân sự liên đới, nghĩa vụ dân sự được phân chia theo phần,nghĩa vụ hoàn lại và nghiã vụ bổ sung Nghĩa vụ dân sự có những đặc điểm riêng

đó là: Nghĩa vụ dân sự là một quan hệ pháp luật dân sự; Các bên chủ thể trongnghĩa vụ dân sự luôn được xác định cụ thể; quyền và nghĩa vụ dân sự của hai bênchủ thể đối lập nhau; Quyền dân sự của các bên chủ thể là một quyền đối nhân

3 Trách nhiệm dân sự.

Về mặt thuật ngữ, trách nhiệm dân sự theo nghĩa rộng là các biện pháp có

tính cưỡng chế được áp dụng nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu của một

Trang 3

quyền dân sự bị vi phạm, trách nhiệm dân sự theo nghĩa hẹp là các biện pháp có tính cưỡng chế 2

II, Căn cứ phát sinh trách nhiệm pháp lý do vi phạm nghĩa vụ dân sự.

Trách nhệm pháp lí do vi phạm nghĩa vụ dân sự là một hiện tượng trong thực tế và được pháp luật điều chỉnh Vì vậy căn cứ phát sinh trách nhiệm pháp lý

do vi phạm nghĩa vụ dân sự phải được pháp luật quy định cụ thể

1, Theo điều 302 bộ luật dân sự năm 2005 quy định:

"1, Bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.

2, Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được nghĩa vụ dân sự do

sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

3, Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền"

Như vậy căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự bao gồm:

1.1 Hành vi vi phạm nghĩa vụ.

Hành vi không thực hiện nghĩa vụ được hiểu là người có nghĩa vụ phải thựchiện nghĩa vụ trước người có quyền theo mối quan hệ nghĩa vụ được xác lập nhưngngười có nghĩa vụ đã không thực hiện, hành vi không thực hiện nghĩa vụ có thểđược biểu hiện qua các trường hợp sau đây:

2Theo chuyên đề về bộ luật dân sự năm 2005 và Tạp chí pháp luật dân chủ của Bộ

Tư Pháp

Trang 4

- Người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ chuyển giao tài sản nếu đốitượng của nghĩa vụ được các bên thỏa thuận là tài sản và theo đó các bên có nghĩa

vụ phải chuyển giao tài sản cho bên có quyền

- Người có nghĩa vụ không thực hiện công việc theo thỏa thuận với bên cóquyền hoặc theo quy định của pháp luật, hành vi thực hiện không đúng nghĩa vụđược hiểu là người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ theo nội dung được xácđịnh cụ thể (thực hiện đúng đối tượng, đúng thời hạn ) nhưng người có nghĩa vụ

đã không thực hiên đúng nội dung của nghĩa vụ theo thỏa thuận với người cóquyền, hoặc dù đã thực hiện nhưng chỉ mới thực hiện môt phần, chưa đầy đủ(không giao đủ tiền, không giao đủ số lượng hàng hóa )

Sự vi phạm hay không thi hành nghĩa vụ có thể được thể hiện thông qua mộtlời tuyên bố của người có nghĩa vụ là sẽ không thi hành, sự kiện này có thể cónhiều lý do: Người có nghĩa vụ không muốn thi hành vì giả dối; Do sự nhầm lẫn,người có nghĩa vụ tưởng rằng nghĩa vụ đã chấm dứt trong khi trên thực tế họ vẫnđang bị ràng buộc với nghĩa vụ đó (ví dụ: Tưởng đã thanh toán hết số tiền muahàng, nhưng trên thực tế còn thiếu còn thiếu khoản tiền cước phí vận chuyển)

Ngoài ra, có thể trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên giao kết có thểkhông đồng ý với nhau về nội dung nghĩa vụ, vì thế một bên từ chối thực hiệnnghĩa vụ viện cớ rằng theo họ nghĩ thì họ không phải thi hành nghĩa vụ mà bên kiađòi hỏi (ví dụ: Hai bên giao kết hợp đồng biểu diễn ca nhạc, bên thuê không trả hếttiền vì cho rằng, tiền thuê nhạc cụ và âm thanh bên biểu diễn phải tự chịu hoặc đãbao gồm trong phí thuê biểu diễn) Nếu người có nghĩa vụ tuyên bố công khai vềviệc không thực hiện thì ý định của họ đã rõ ràng, nhưng nhiều khi giữ thái độ imlặng, không thông báo gì Đối với trường hợp này cần phải xem xét việc họ chưathực hiện nghĩa vụ là do họ không thể thực hiện hay từ chối thực hiện, để làm đượcđiều này thì người có quyền cần gửi cho người có nghĩa vụ một giấy thông báo yêu

Trang 5

cầu thực hiện nghĩa vụ như thỏa thuận, nếu người có nghĩa vụ không trả lời hoặcđưa ra lý do không chính đáng và không hợp pháp, thì đây có thể là căn cứ hợppháp để người có quyền khởi kiện ra tòa.

1.2 Lỗi.

Tại điều 308 Bộ luật dân sự có quy định như sau:

Lỗi là yếu tố chủ quan thể hiện thái độ tâm lý của con người đối với hành vicủa mình và hậu quả của hành vi đó gây ra Để xác định người có nghĩa vụ khi viphạm nghĩa vụ đó có phải chịu trách nhiệm dân sự hay không, trước hết phải xemxét người đó có lỗi hay không và trường hợp đó thuộc lỗi cố ý hay vô ý

Lỗi cố ý được hiểu là một người khi thực hiện một hành bi nhất định, nhậnthức được hành vi của mình sẽ gây ra thiệt hại cho người khác, mặc dù mục đíchcủa hành vi đó không nhất thiết là phải gây thiệt hại

Lỗi vô ý gây thiệt hại là một người khi thực hiện một hành vi không thấytrước được hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác, mặc dù phải biếthoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra, hoặc biết trước hành vi của mình sẽ gâythiệt hại nhưng cho rằng thiệt hại không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được

Bộ luật dân sự 2005 quy định người có nghĩa vụ mà không thực hiện nghĩa

vụ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm dân sự khi họ có lỗi.Trong một số trường hợp nhất định, thì điều kiện xác định trách nhiệm dân sự phải

là lỗi cố ý

Người vi phạm nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình

dù lỗi cố ý hay vô ý, nhưng cần lưu ý, việc phân biệt lỗi cố ý hoặc vô ý trong tráchnhiệm dân sự có ý nghĩa trong việc giảm mức bồi thường thiệt hại cho người vi

Trang 6

phạm hoặc xác định trách nhiệm của người có quyền nếu họ có lỗi đối với hành vi

vi phạm nghĩa vụ của người có nghĩa vụ

Trong một số trường hợp yếu tố lỗi cố ý hay vô ý được nhận thức dễ dàng từtính chất của vụ việc Mặc dù vậy, không phải lúc nào cũng có thể xác định đượcviệc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ là do lỗi cố ý hay lỗi vô

ý của người có nghĩa vụ Do đó, trước đây điều 309 Bộ luật dân sự năm 1995 quyđịnh trách nhiệm chứng minh lỗi cố ý hoặc vô ý thuộc về người vi phạm nghĩa vụ.Tuy nhiên, đây là quy định thuộc về pháp luật tố tụng, việc đưa ra các chứng cứchứng minh mình có lỗi trong việc thực hiện nghĩa vụ dân sự hay không đã được

bộ luật tố tụng dân sự 2004 quy định đầy đủ và cụ thể, vì thế bộ luật dân sự 2005không điều chỉnh quy định này

2, Trách nhiệm buộc phải thực hiện nghĩa vụ.

2.1 Trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ phải làm một công việc hoặc không được làm một công việc.

Đây là trường hợp trách nhiệm phát sinh khi đối tượng của nghĩa vụ là côngviệc phải thực hiện hoặc không được thực hiện, nếu giữa các bên có thỏa thuậnrằng một bên có nghĩa vụ phải làm một việc hay không được làm một việc thì bên

có nghĩa vụ phải thực hiện theo đúng thỏa thuận đó Thông thường đối tượng củacông việc phải thực hiện hoặc không thực hiện được thỏa thuận trong các hợp đồnggia công hoặc dịch vụ

Công việc phải được làm được coi là đối tượng của nghĩa vụ, nếu đó là côngviệc được nhiều người xác lập với nhau một quan hệ nghĩa vụ mà theo đó, người

có nghĩa vụ phải thực hiện công việc theo đúng nội dung đã được xác định Côngviệc phải làm có thể có thể được hoàn thành với một kết quả nhất định, nhưng cũng

có thể không gắn với một kết quả nào đó, có thể được thể hiện vật chất cụ thể, cũng

Trang 7

có thể không thể hiện dưới dạng vật chất (ví dụ: A ký với B vẽ riêng cho B một bức

tranh chân dung đây là dạng vật chất cụ thể; C ký với D hợp đồng gia sư cho con mình không dưới dạng vật chất cụ thể).

Khi các đã thỏa thuận trong hợp đồng về việc phải thực hiện hay không đượcthực hiện một việc mà bên có nghĩa vụ vi phạm cam kết thì phải chịu trách nhiệmdân sự theo khoản 1 điều 304 Bộ luật dân sự 2005: "Trong trường hợp bên cónghĩa vụ không thực hiện một công việc mà mình phải thực hiện thì bên có quyền

có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hoặc giao cho người khác thựchiện công việc đó và yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán chi phí hợp lý và bồithường thiệt hại"

Khoản 2 điều 304 quy định: "Khi bên có nghĩa vụ không được thực hiện mộtcông việc mà lại thực hiện công việc đó thì bên có quyền được quyền yêu cầu bên

có nghĩa vụ phải chấm dứt việc thực hiện, khôi phục tình trạng ban đầu và bồithường thiệt hại" Như vây, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này

đi kèm với biện pháp tiếp tục thực hiện hoặc chấm dứt thực hiện nghĩa vụ, đối vớiviệc áp dụng việc tiếp tục thực hiện một công việc phải làm hay chấm dứt mộtcông việc không được làm mới chỉ là biện pháp nhằm ngăn chặn hậu quả đã hoặc

có thể xảy ra cho bên vi phạm nghĩa vụ, còn chế tài bồi thường đi kèm nhằm đền

bù, khắc phục những thiệt hại về mặt vật chất cho bên bị vi phạm

2.2 Trách nhiệm do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa

vụ giao vật: Là việc triển khai tất cả các nội dung mà các bên đã cam kết trong

hợp đồng, các bên phải hoàn thành nghĩa vụ của mình để đảm bảo quyền lợi cho phía bên kia Nghĩa vụ chuyển giao tài sản là nghĩa vụ phổ biến trong hợp đồng

thông thường, tồn tại ở đa số các hợp đồng như hợp đồng mua bán hàng hóa, hợpđồng vận chuyển, hợp đồng thuê khoán Bên có nghĩa vụ chuyển giao tài sản phảithực hiện nghĩa vụ của mình và việc không thực hiện nghĩa vụ chuyển giao tài sản

Trang 8

là một trong những nguyên nhân làm phát sinh trách nhiệm dân sự do vi phạmnghĩa vụ.

Theo quy định tại điều 16 bộ luật dân sự 2005, tài sản mà bên có nghĩa vụchuyển giao có thể vật, giấy tờ có giá và quyền tài sản, khi thực hiện nghĩa vụchuyển giao vật, bên có nghĩa vụ cần phải chú ý đối tượng của hợp đồng là vật đặcđịnh và vật cùng loại

Theo khoản 3 điều 303 quy định: "Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa

vụ giao vật đặc định thì người có quyền được quyền yêu cầu bên có ngĩa vụ phải giao đúng vật đó; Nếu vật không còn hoặc bị hư hỏng thì phải thanh toán giá trị của vật" Trong trường hợp này nhà làm luật không quy định bên bị vi phạm có

quyền yêu cầu Tòa án cưỡng chế bên vi phạm nghĩa vụ trên thực tế, vì lí do trongthực tiễn nghĩa vụ đó đã trở nên không thực hiện được khi mà đã bị mất hoặc hưhỏng

Đáng chú ý đối với các nghĩa vụ gắn với nhân thân và liên quan đến các vấn

đề thanh danh cá nhân, thì khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ chuyểngiao vật, thì bên có quyền cũng không thể yêu cầu Tòa án cưỡng chế thi hành nghĩa

vụ dân sự được (ví dụ: Hợp đồng thuê nhac sĩ sáng tác ca khúc, nếu họ không có

cảm hứng hoàn thành tác phẩm thì cũng không thể cưỡng chế bắt họ làm ra tác phẩm nghệ thuật của mình) Trong trường hợp đó, bên có quyền chỉ có thể yêu cầu

bên có nghĩa vụ thanh toán giá trị tài sản phải chuyển giao và bồi thường thiệt hại

vì hành vi vi phạm hợp đồng

Do có những tính chất chung đặc điểm, nếu đó là vật cùng loại, bên vi phạmnghĩa vụ có thể khắc phục bằng việc thay thế vật đã bị hư hỏng bằng vật khác Vìvậy, bên có nghĩa vụ có thể xin gia hạn thực hiện nghĩa vụ đó và bồi thường thiệthại xảy ra nếu đến thời hạn mà bên có nghĩa vụ chuyển giao vật chưa thực hiệnđược nghĩa vụ giao vật cùng loại

Trang 9

Thực hiện nghĩa vụ dân sự là một trong các nguyên tắc mà các bên thực hiện hợp đồng thực hiện không đúng nghĩa vụ chuyển giao tài sản là việc chuyển giao tài sản không đúng số lượng, không đúng phương thức, không đúng địa điểm,

do không giao vật đồng bộ, không đúng chủng loại việc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ cũng được coi là thực hiện không đúng nghĩa vụ.

Đối với nghĩa vụ giao vật đồng bộ cũng như vậy, nếu như bên có nghĩa vụkhông giao đúng vật đồng bộ dẫn đến mục đích sử dụng vật không đạt được thì bênchuyển giao vật cũng có trách nhiệm về hành vi vi phạm nghĩa vụ chuyển giao vậttheo khoản 1 điều 436 Bộ luật dân sự 2005

Việc thực hiện không đúng nghĩa vụ chuyển giao tài sản còn thể hiện ở việcchuyển giao không đúng vật chủng loại, bên có nghĩa vụ không được lấy vật khác

thay thế cho vật đã thỏa thuận, quy định tại điều 437 Bộ luật dân sự 2005: "Trong

trường hợp vật dược giao không đúng chủng loại thì bên mua có một trong các quyền sau:

1 Nhận và thanh toán theo giá mà các bên thỏa thuận;

2 Yêu cầu giao đúng chủng loại và bồi thường thiệt hại;

3 Hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại;"

Đối với trường hợp thực hiện nghĩa vụ không đúng thời gian thỏa thuận, nhưthực hiện trước thời hạn hoặc thực hiện muộn nghĩa vụ chuyển giao tài sản, thì việcchậm nghĩa vụ lại là một căn cứ khác làm phát sinh trách nhiệm của bên vi phạmnghĩa vụ Nhưng đối với việc thực hiện sớm nghĩa vụ thì cẩn giải quyết thế nào và

có được coi là một trong các trường hợp phát sinh trách nhiệm do thực hiện khôngđúng nghĩa vu không? Có thể thấy trong việc thực hiện sớm nghĩa vụ, bên cóquyền có tiếp nhận hoặc không tiếp nhận nghĩa vụ đó, việc thực hiện trước, trườnghợp nếu rủi ro mà xảy ra là lỗi hoàn toàn thuộc về bên có nghĩa vụ, những rủi ro đó

Trang 10

do bên có nghĩa vụ phải gánh chịu Bên có quyền cũng không được quyền yêu cầubên có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại và cũng không có quyền chấm dứt hợpđồng Vì thế, bên có nghĩa vụ thực hiện trước thời hạn thì có lẽ không nên đặt ravấn đề trách nhiệm dân sự đối với bên có nghĩa vụ.

2.3 Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự:

Chậm thực hiện nghĩa vụ là bên có nghĩa vụ phải thể hiện dưới hành động cụthể hướng tới bên có quyền bằng việc thông báo là không thể hoàn thành nghĩa vụđúng thời hạn, bên có quyền chấp nhận việc gia hạn cho bên có nghĩa vụ để hoànthành nghĩa vụ, bên có nghĩa vụ sau đó phải có những hành động cụ thể chứng tỏviệc thực hiện nghĩa vụ của mình vẫn diễn ra và vẫn muốn được tiếp tục thực hiệnnghĩa vụ

Trường hợp bên có nghĩa vụ hoàn toàn không có ý thức muốn thực hiệnnghĩa vụ, khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ, bên có nghĩa vụ không hoàn thành nghĩa

vụ của mình và cũng không thể hiện có hành động và thông báo cho bên có quyềnbiết, được coi là không thực hiện nghĩa vụ

Trường hợp trong hợp đồng có quy định thời hạn thực hiện nghĩa vụ cụ thể,bên có nghĩa vụ không hoàn thành nghĩa vụ đúng thời hạn, xin gia hạn nhưngkhông được bên có quyền chấp nhận và từ chối việc tiếp nhận nghĩa vụ thì cũngđược coi là trường hợp không thực hiện nghĩa vụ

Theo quy định tại khoản 1 điều 305 Bộ luật dân sự 2005 người có nghĩa vụphải bồi thường thiệt hại cho người có quyền: "Khi nghĩa vụ dân sự chậm đượcthực hiện thì bên có quyền có thể gia hạn để bên có nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ;nếu quá thời hạn này mà nghĩa vụ vẫn chưa được hoàn thành thì theo yêu cầu củabên có quyền, bên có nghĩa vụ vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ và bồi thường

Trang 11

thiệt hại Nếu việc thực hiện không còn cần thiết đối với bên có quyền thì bên này

có quyền từ chối tiếp nhận nghĩa vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại"

Đối với nghĩa vụ trả tiền, nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng thời hạnthì phải trả thêm tiền lãi đối với thời gian chậm trả, theo lãi xuất cơ bản do ngânhàng nhà nước công bố, tương ứng Trừ khi hai bên có thỏa thuận khác

2.4 Trách nhiệm do chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự:

Theo quy định tại điều 288 Bộ luật dân sự 2005: "Chậm tiếp nhận thực hiện

nghĩa vụ dân sự là khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ đã thực hiện theo thỏa thuận, nhưng bên có quyền không tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ đó".

Theo quy điều 306 quy định về trách nhiệm do chậm tiếp nhận việc thực

hiện nghĩa vụ như sau: "Bên có quyền chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân

sự làm phát sinh thiệt hại cho bên có nghĩa vụ thì phải bồi thường thiệt hại cho người đó và phải chịu mọi rủi ro xảy ra kể từ thời điểm chậm tiếp nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.

Qua đó có thể thấy một số điểm đáng lưu ý khi nghiên cứu vấn đề trách nhiệm của các bên trong việc tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ:

+ Người có nghĩa vụ không được miễn việc thực hiện nghĩa vụm nhưngđược miễn mọi điều bất lợi gắn liền với việc không thực hiện nghĩa vụ, khi bên cóquyền chấp nhận tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ, thì bên có nghĩa vụ vẫn phải cócác biện pháp cần thiết để bảo quản tài sản và có quyền thanh toán chi phí hợp lýphát sinh đối với việc bảo quản đó.(khoản 2 điều 288)

+ Nếu đối tượng của nghĩa vụ là tài sản có nguy cơ bị hỏng thì bên có nghĩa

vụ có quyền bán tài sản là thanh toán bằng tiền cho bên có quyền từ việc bán tài

Trang 12

sản (trừ đi chi phí hợp lý để bảo quản và bán tài sản đó) Ngoài ra bên có nghĩa vụkhông phải chờ sự đồng ý của bên có quyền về việc bán tài sản của mình (khoản 3điều 288).

+ Nếu việc chậm tiếp nhận thực hiện nghĩa vụ của bên có quyền làm phátsinh thiệt hại cho bên có nghĩa vụ thì mới phải bồi thường thiệt hại cho bên cónghĩa vụ

III Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

1 Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

1.1 Hành vi vi phạm: Là một loại trách nhiệm pháp lí nên trách nhiệm bồi

thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ chỉ phát sinh khi có sự vi phạm và áp dụngđối với chủ thể có hành vi vi phạm, hành vi vi phạm nghĩa vụ là hành vi khôngthực hiện hoặc thực hiện không đúng, đầy đủ các quy định của hợp đồng

1.2 Lỗi: Đây là một trong những căn cứ quan trọng trong việc xác định trách

nhiệm dân sự, về nguyền tắc, người nào gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại

và chỉ bồi thường khi có lỗi, nếu bên có nghĩa vụ không có lỗi thì không phải chịutrách nhiệm bồi thường thiệt hại khi có hành vi vi phạm

1.3 Có thiệt hại thực tế xảy ra: Nội dung của trách nhiệm bồi thường thiệt

hại là việc người có nghĩa vụ phải bù đắp cho bên bị thiệt hại những tổn thất màmình đã gây ra do việc mình đã vi phạm nghĩa vụ dân sự, bởi vậy thiệt hại được coi

là yếu tố bắt buộc và tiền đề để giải quyết có phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệthại hay không

Thiệt hại trong vi phạm nghĩa vụ theo nghĩa đơn thuần là thiệt hại về vậtchất, theo giáo trình Luật dân sự trường đại học luật hà nội thì: "Thiệt hại là sự biếnđổi theo chiều hướng xấu đi trong tài sản của một người thể hiện ở những vật chất

Ngày đăng: 13/04/2016, 13:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w