Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến lâm nghiệp cộng đồng về các khía cạnh: i cải tiến chính sách; ii thể chế tiếp cận; iii phát triển công nghệ trên cơ sở kinh nghiệm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHÍ LÂM BÀNG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG
TẠI HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS DƯƠNG VĂN THẢO
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn: “Nghiên cứu thực trạng và một số giải pháp quản lý rừng cộng
đồng ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái” là công trình nghiên cứu thực sự của cá
nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sỹ Dương Văn Thảo
Tôi xin cam đoan các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong Luận văn này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Tác giả luận văn
Phí Lâm Bàng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và một số giải pháp quản lý rừng cộng
đồng ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái” được thực hiện từ tháng 10 năm 2014 đến
tháng 8 năm 2015
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài, tôi đã được TS Dương Văn Thảo và các Thầy, Cô trong Phòng Đào tạo - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ để đề tài tiến hành được thuận lợi Sự thành công của đề tài không thể tách rời sự giúp đỡ và hợp tác có hiệu quả của chính quyền và nhân dân các thôn, bản trong vùng dự án “Chương trình thí điểm lâm nghiệp cộng đồng ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 2006-2009”; tiếp nối là dự án “Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam, tỉnh Yên Bái 2012-2013” nơi mà đề tài đã đến điều tra, khảo sát và thu thập số liệu hiện trường trong thời gian qua
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới TS Dương Văn Thảo - người Thầy đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo những kiến thức chuyên môn thiết thực và những chỉ dẫn khoa học quý báu Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm của Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Đào tạo Sau đại học, Khoa Lâm nghiệp; Chi cục Lâm nghiệp, Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Yên Bái, Ủy ban nhân dân huyện Lục Yên, Phòng Nông nghiệp và PTNT, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Hạt Kiểm lâm, Trạm Khuyến nông, Ủy ban nhân dân các xã Phan Thanh, An Phú, Lâm Thượng, Tân Phượng và nhân dân các thôn, bản đã trực tiếp giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu, điều tra, thu thập số liệu và đã đóng góp ý kiến giúp tác giả bổ sung, sửa chữa và hoàn thiện luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song do thời gian, kinh phí và trình độ có hạn Mặt khác, đây cũng là lĩnh vực nghiên cứu mới ở một huyện cụ thể nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các Thầy, Cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn !
Tác giả luận văn
Phí Lâm Bàng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ẢNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích, mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 4
1.1 Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học 4
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu 4
1.1.2 Nghiên cứu tại khu vực 15
1.1.3 Tiến trình hình thành và phát triển quản lý rừng cộng đồng 23
1.1.4 Thảo luận 27
1.2 Điều kiện tự nhiên Kinh tế - Xã hội huyện Lục Yên 28
1.2.1 Vị trí địa lý, ranh giới 28
1.2.2 Điều kiện tự nhiên 28
1.2.3 Đặc điểm dân sinh, kinh tế - xã hội 31
1.2.4 Hiện trạng sử dụng đất đai 36
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1 Nội dung nghiên cứu 38
2.1.1 Thực trạng quản lý rừng cộng đồng ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 38
2.1.2 Phân loại, đánh giá các hình thức quản lý rừng cộng đồng ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 38
2.1.3 Tác động của các chính sách vĩ mô đến quản lý rừng cộng đồng 38
2.1.4 Kinh nghiệm bản địa trong quản lý rừng cộng đồng 38
2.1.5 Một số đề xuất nhằm quản lý rừng cộng đồng có hiệu quả 38
Trang 62.2 Phương pháp nghiên cứu 38
2.2.1 Phương pháp kế thừa 40
2.2.2 Phương pháp, công cụ thu thập số liệu tại hiện trường 40
2.2.3 Phương pháp đánh giá tài nguyên rừng có sự tham gia 41
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 48
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 49
3.1 Thực trạng quản lý rừng cộng đồng tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 49
3.1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý và bảo vệ rừng cộng đồng 49
3.1.2 Mối quan tâm của các bên liên quan đến công tác quản lý và bảo vệ rừng cộng đồng 51
3.1.3 Mức độ quan trọng của các bên liên quan đến công tác quản lý và bảo vệ rừng cộng đồng 53
3.1.4 Mức độ quan trọng của tài nguyên rừng đối với cộng đồng và hộ gia đình 55
3.1.5 Các giải pháp quản lý và bảo vệ rừng cộng đồng đang tồn tại ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 57
3.2 Phân loại, đánh giá các hình thức quản lý rừng cộng đồng ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 58
3.2.1 Mục đích của việc phân loại các hình thức quản lý rừng cộng đồng ở huyện Lục Yên 58
3.2.2 Tiêu chí phân loại 60
3.2.3 Đặc điểm của các hình thức quản lý rừng cộng đồng ở huyện Lục Yên 61
3.2.4 Đánh giá các hình thức quản lý rừng cộng đồng ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 66
3.2.5 Đánh giá hiệu quả QLRCĐ của các thôn/ bản được giao rừng trong chương trình dự án thí điểm lâm nghiệp cộng đồng trên địa bàn huyện 67
Trang 73.3 Tác động của các chính sách vĩ mô đến quản lý rừng cộng đồng 70
3.3.1 Chính sách giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn 70
3.3.2 Chính sách giao khoán rừng và đất rừng 73
3.3.3 Chính sách đầu tư 74
3.3.4 Chính sách khai thác, sử dụng rừng và hưởng lợi từ rừng 74
3.3.5 Chính sách của địa phương 76
3.4 Kinh nghiệm bản địa trong quản lý và bảo vệ rừng cộng đồng 80
3.5 Một số đề xuất nhằm quản lý rừng cộng đồng có hiệu quả ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 82
3.5.1 Nhóm giải pháp về nhận thức 82
3.5.2 Nhóm giải pháp về thể chế, chính sách và tổ chức 82
3.5.3 Nhóm giải pháp về kỹ thuật 84
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHẦN PHỤ LỤC 1
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 ADB Ngân hàng phát triển châu Á
2 BV&PTRCĐ Bảo vệ và Phát triển rừng cộng đồng
3 CBFM Quản lý rừng dựa vào cộng đồng
5 CFMP1 Dự án “Chương trình thí điểm lâm nghiệp CĐ ở Việt Nam”
6 CFMP2 Dự án “Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam”
7 CFM Quản lý rừng cộng đồng
8 CFR Tài nguyên rừng cộng đồng
9 CIFOR Tổ chức nghiên cứu lâm nghiệp Quốc tế
10 DVMTR Dịch vụ môi trường rừng
11 ETSP Dự án “Phổ cập và đào tạo nông lâm nghiệp vùng cao”
12 FAO Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp quốc
22 RDDL Dự án phát triển nông thôn Daklak
23 REDD Giảm phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng
24 SFDP Dự án phát triển lâm nghiệp xã hội Sông Đà
25 TFF Quỹ ủy thác Ngành lâm nghiệp
26 UBND Ủy ban nhân dân
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: So sánh phương thức quản lý rừng truyền thống và LNCĐ 21 Bảng 2.1: Số ô mẫu theo diện tích lô rừng 46 Bảng 3.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý và bảo vệ rừng
cộng đồng 49 Bảng 3.2: Mối quan tâm của các bên liên quan đến công tác quản lý và
bảo vệ rừng 51 Bảng 3.3: Nguyện vọng tham gia quản lý và bảo vệ rừng cộng đồng của
hộ gia đình 52 Bảng 3.4: Mức độ quan trọng của các bên liên quan đến công tác quản
lý và bảo vệ rừng cộng đồng 53 Bảng 3.5: Mức độ quan trọng của tài nguyên rừng đối với cộng đồng và
hộ gia đình 55 Bảng 3.6: Cơ cấu thu nhập của hộ gia đình ở huyện Lục Yên 55 Bảng 3.7: Các giải pháp quản lý và bảo vệ rừng cộng đồng đang tồn tại
ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 57 Bảng 3.8: Tiêu chí phân loại các hình thức quản lý rừng cộng đồng ở
huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 61 Bảng 3.9: Tổng hợp nhóm hộ nhận khoán bảo vệ rừng cộng đồng trên
địa bàn huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 62 Bảng 3.10: Hiệu quả của các hình thức quản lý rừng cộng đồng ở huyện
Lục Yên, tỉnh Yên Bái 66 Bảng 3.11: Đặc điểm khu rừng giao cho cộng đồng thôn Lũng Cọ 1, xã
Tân Phượng được giao năm 2007 68 Bảng 3.12: Đặc điểm khu rừng giao cho cộng đồng thôn Lũng Cọ 1, xã
Tân Phượng sau điều tra, đánh giá 69
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ẢNH
Hình 1.1: Cơ cấu sử dụng đất của huyện Lục Yên 36 Hình 2.1: Sơ đồ lôgic quá trình nghiên cứu của đề tài 39 Hình 2.2: Trao đổi, phỏng vấn về kinh nghiệm quản lý rừng cộng đồng 40 Hình 2.3: Cộng đồng tham gia phân chia, xác định ranh giới, đặt tên lô
rừng, đo đếm diện tích rừng cộng đồng 43 Hình 2.4: Hướng dẫn người dân mô tả lô rừng, xác định mục tiêu quản lý
rừng cộng đồng 45 Hình 2.5 Cùng người dân xác định tuyến hệ thống, vị trí lập ô mẫu 47 Hình 3.1: Biểu đồ cơ cấu các nhóm hộ quản lý và bảo vệ rừng phòng hộ
trên địa bàn huyện Lục Yên 63 Hình 3.2: Biểu đồ cơ cấu các nhóm hộ quản lý và bảo vệ rừng tự nhiên sản
xuất trên địa bàn huyện Lục Yên 63
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, rừng cộng đồng đã tồn tại từ lâu đời, nó gắn liền với đời sống kinh tế, văn hóa và các luật tục của nhiều cộng đồng các dân tộc sống gần rừng và sống dựa vào rừng trên khắp nước ta Mối liên kết giữa cộng đồng với rừng trở nên chặt chẽ khi mà những lợi ích có được từ rừng đem lại một sự đảm bảo cho cuộc sống của cả cộng đồng Sở dĩ rừng cộng đồng là một hình thức quản lý rừng xuất hiện từ lâu và vẫn tồn tại được cho đến ngày nay là do nó dung hòa được các lợi ích khác nhau của những nhóm người sống trong cùng một cộng đồng
Những kiến thức về quản lý rừng cộng đồng cũng như hiểu thế nào về cộng đồng và rừng cộng đồng đã được chỉ ra khá rõ ở nhiều các văn bản pháp luật của nhà nước Chẳng hạn, Luật Đất đai (2013); Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004); Nghị định 05/2008/NĐ-CP, ngày 14/01/2008 của Chính phủ về Quỹ bảo vệ và phát triển rừng; Quyết định số 106/2006/QĐ-BNN, ngày 27/11/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành Bản hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng dân cư thôn; Thông tư số 38/2007/TT-BNN, ngày 24/5/2007của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn; Thông tư số 70/2007/TT-BNN, ngày 01/8/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc Hướng dẫn xây dựng và tổ chức thực hiện Quy ước bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư thôn; Công văn số 2324/BNN-LN ngày 21/8/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc Hướng dẫn các chỉ tiêu kỹ thuật và thủ tục khai thác rừng cộng đồng; Quyết định số 434/QĐ-QLR, ngày 11/4/2007 của Cục Lâm nghiệp về việc ban hành Hướng dẫn xây dựng quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp xã và Hướng dẫn giao rừng gắn với giao đất lâm nghiệp cho cộng đồng dân cư thôn; Công văn số 754/CV-LNCĐ ngày 31/5/2007 của Cục Lâm nghiệp về việc ban hành Hướng dẫn kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng cộng đồng; Công văn số 1327/CV-LNCĐ, ngày 7/9/2007 của Cục Lâm nghiệp về việc Hướng dẫn điều tra rừng cộng đồng; Công văn số 141/CV-LNCĐ, ngày 05/02/2008 của Cục Lâm nghiệp về việc sửa đổi, bổ sung Hướng dẫn điều tra rừng
Trang 12cộng đồng; Công văn số 787/CV-LNCĐ, ngày 23/6/2008 của Cục Lâm nghiệp về việc thí điểm áp dụng phân bố số cây theo cỡ kính mong muốn để lập và tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý rừng cộng đồng
Hình thức quản lý rừng cộng đồng ở nước ta hiện nay đang thu hút sự quan tâm của các cấp từ Trung ương đến địa phương Quản lý rừng cộng đồng được hiểu là việc quản lý tài nguyên rừng do cộng đồng thực hiện Cộng đồng có thể là chủ thể quản lý rừng hoặc cộng đồng không phải là chủ thể quản lý mà chỉ tham gia quản lý rừng và được chia sẻ lợi ích từ rừng Nói một cách khác đi, quản lý rừng cộng đồng là việc bảo vệ, xây dựng, phát triển và sử dụng rừng có sự tham gia điều hành bởi cộng đồng, bất kể rừng đó có thuộc quyền sở hữu của cộng đồng hay không
Ở mỗi một địa phương, do những đặc thù về tài nguyên rừng khác nhau, thành phần dân tộc khác nhau, cùng với đó là sự khác nhau về truyền thống văn hóa, phong tục tập quán, kinh nghiệm bản địa,…đã dẫn đến có sự đa dạng trong quản lý rừng cộng đồng Sự khác nhau đó làm cho tính phức tạp của vấn đề quản lý rừng cộng đồng trở nên rõ ràng, và vì thế không thể áp dụng một cách cứng nhắc các quy định nhà nước vào quản lý rừng cộng đồng cho tất cả các địa phương cũng như khó có thể áp dụng nguyên bản các kinh nghiệm quản lý rừng cộng đồng của địa phương này vào địa phương khác
Huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái là địa phương có nhiều hình thức quản lý rừng cộng đồng Tuy nhiên, không phải hình thức quản lý nào cũng mang lại hiệu quả cao Mỗi một hình thức quản lý rừng cộng đồng đó lại có những ưu và nhược điểm khác nhau Câu hỏi đặt ra là: Thực trạng quản lý rừng cộng đồng ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái đang diễn ra như thế nào và giải pháp nào để các hình thức quản lý rừng cộng đồng đó trở nên hiệu quả hơn? Đi tìm câu trả lời cho câu hỏi đó, chúng
tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và một số giải pháp quản
lý rừng cộng đồng ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái”
2 Mục đích, mục tiêu và yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích
Đánh giá quản lý rừng cộng đồng tại khu vực nghiên cức nhằm “Nâng cao hiệu quả quản lý rừng cộng đồng phục vụ cho phát triển rừng và phát huy được lợi ích mọi mặt của rừng, góp phần cho việc phát triển rừng bền vững ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái”
Trang 132.3 Giới hạn nghiên cứu
- Về đối tượng nghiên cứu: Đối tượng của đề tài là rừng đã giao cho cộng đồng dân thôn/bản quản lý
- Về địa điểm nghiên cứu: Các xã tham gia dự án “Chương trình thí điểm lâm nghiệp cộng đồng ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 2006-2009”; tiếp nối là dự án
“Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam, tỉnh Yên Bái 2012-2013” gồm các xã: Tân Phượng, Lâm Thượng, Phan Thanh và An Phú
2.4 Quan điểm nghiên cứu
Tiếp cận trong nghiên cứu quản lý rừng cộng đồng là tiếp cận mang tính đa ngành, tổng hợp và toàn diện từ các yếu tố kỹ thuật áp dụng để quản lý rừng đến các yếu tố thể chế, chính sách và các yếu tố kinh tế - xã hội tại các cộng đồng thôn/bản nơi có rừng được quản lý theo mô hình rừng cộng đồng Chính vì thế, những nghiên cứu của đề tài sẽ tuân thủ theo hướng tổng hợp, toàn diện và cụ thể Có nghĩa là việc nghiên cứu phải đưa ra được các giải pháp cụ thể cho các hình thức quản lý rừng cộng đồng đang tồn tại ở địa phương thông qua phân tích một cách tổng hợp
và toàn diện các yếu tố cấu thành nên các mô hình quản lý rừng cộng đồng đó
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu
1.1.1.1 Trên thế giới
Năm 1970, khái niệm về lâm nghiệp cộng đồng xuất hiện lần đầu tiên tại
Ấn Độ, đã được tổ chức Nông lương của Liên hợp quốc (FAO) nghiên cứu, quảng bá và nhân rộng Hiện nay thuật ngữ lâm nghiệp cộng đồng được áp dụng hầu hết ở các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển và được xem
là một phương thức quản lý rừng có hiệu quả
Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến lâm nghiệp cộng đồng
về các khía cạnh: (i) cải tiến chính sách; (ii) thể chế tiếp cận; (iii) phát triển công nghệ trên cơ sở kinh nghiệm bản địa để phát triển quản lý rừng dựa vào cộng đồng Đây là những kinh nghiệm tốt có thể kế thừa và vận dụng một cách phù hợp vào điều kiện Việt Nam
* Khái niệm về cộng đồng, lâm nghiệp cộng đồng, quản lý rừng dựa vào cộng đồng, quản lý rừng cộng đồng
- Khái niệm về cộng đồng: Khái niệm này được sử dụng nhiều trong các
nghiên cứu, tuy nhiên chưa có sự thống nhất chung về định nghĩa Cụ thể:
+ Thuật ngữ “cộng đồng” theo FAO (1996) [49] “Cộng đồng là những người sống tại một chỗ trong một tổng thể hoặc là một nhóm người sinh sống tại cùng một nơi theo những luật lệ chung”
- Lâm nghiệp cộng đồng:
+ Thuật ngữ “Lâm nghiệp cộng đồng” (Community Forestry Management) theo FAO (1999) “Lâm nghiệp cộng đồng là bao gồm bất kỳ tình huống nào mà người dân địa phương tham gia vào hoạt động lâm nghiệp”
+ Theo J.E-Michael Arnold (1999) [43] thuật ngữ Lâm nghiệp cộng đồng
được sử dụng với nghĩa hẹp hơn “là các hoạt động lâm nghiệp được tiến hành bởi cộng đồng hoặc nhóm người địa phương”
Trang 15+ Ở Nepal, thuật ngữ lâm nghiệp cộng đồng chỉ được hiểu như là "một nhóm sử dụng rừng (Forest use Group) để chỉ hoạt động lâm nghiệp cộng đồng được tổ chức bởi các nhóm đồng sử dụng tài nguyên rừng trong một làng” [58]
Như vậy, thuật ngữ “lâm nghiệp cộng đồng” đã được đề cập ở nhiều quốc gia
trên thế giới Nó hình thành với mục đích tạo dựng một phương thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng, phân cấp trong quản lý rừng, rừng được quản lý bền vững Mặt khác người dân đang sống phụ thuộc vào rừng, những giải pháp quản lý bảo vệ rừng đóng góp vào việc sinh kế và cải thiện đời sống người dân từ hoạt động lâm nghiệp
Từ quan điểm đó đã hình thành các phương thức, các chương trình hoạt động quản
Theo Denr (2001) [48], Quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM), dựa trên
quan điểm “Con người trước và lâm nghiệp bền vững sẽ theo sau đó”, nó trao cho
các cộng đồng quyền và trách nhiệm trực tiếp quản lý và hưởng lợi từ tài nguyên rừng Quan điểm này cho thấy CBFM nhắc đến việc phân cấp quản lý rừng một cách mạnh mẽ trong đó nhấn mạnh đến giao quyền quản lý các khu rừng và tạo cơ hội cho người dân trong cộng đồng có quyền được hưởng lợi từ rừng Khi mà các vấn đề đói nghèo và mất công bằng trong tiếp cận nguồn tài nguyên được giải quyết thì các cộng đồng địa phương sẽ nhận thấy trách nhiệm của chính họ trong việc quản lý, bảo vệ rừng Điều này đã được nhiều Chính phủ, tổ chức phi chính phủ nhận thức rõ ràng và từ đó đã thúc đẩy cho tiến trình này phát triển ở nhiều cộng đồng vùng cao sống phụ thuộc vào rừng
Trong một số năm gần đây để khẳng định hơn tính sở hữu và làm chủ trong quản lý tài nguyên rừng, khái niệm quản lý rừng dựa vào cộng đồng đã được phân
định rõ hơn “Quản lý rừng dựa vào cộng đồng bao gồm tất cả các hoạt động, tổ chức thu hút cộng đồng tham gia và được chia sẻ lợi ích từ rừng” Trong khi đó một
Trang 16khái niệm cụ thể hơn là “Quản lý rừng cộng đồng” (Community Forest Management - CFM) đã được đề xướng và thực thi ở nhiều nước, nó là một phạm trù của quản lý
rừng dựa vào cộng đồng (CBFM) Tuy nhiên, nó nhấn mạnh và làm rõ quyền sở hữu rừng của cộng đồng, trên cơ sở đó cộng đồng tự tổ chức quản lý sử dụng theo nhu cầu và đảm bảo tính bền vững [52]
Tuy mỗi tác giả, mỗi nước có quan điểm, có cách hiểu về các phạm trù khái niệm khác nhau để phù hợp với điều kiện của từng nước, song nó lại là cơ sở và kinh nghiệm tốt để Việt Nam học hỏi và tham khảo nhằm đưa ra những cơ sở lý luận đúng cho thực tiễn quản lý rừng ở Việt Nam
* Đổi mới chính sách lâm nghiệp phục vụ tiến trình quản lý rừng cộng đồng
Nghiên cứu của Arnol, JEM và Steward, W.C (1989) [43] đã kết luận rằng
“Mặc dù có sự suy thoái về rừng cộng đồng và quản lý tài nguyên sở hữu công cộng (CPRM - Common Pool Resources Management), chúng vẫn còn đóng một vai trò rất quan trọng trong hệ thống lâm nghiệp và trong đời sống dân nghèo” Các tác
giả cho rằng để tiến tới việc quản lý tài nguyên sở hữu công cộng bền vững cần dành ưu tiên cao cho việc sửa đổi chính sách, sự yếu kém và sai sót của luật lệ hiện đang phá huỷ các tổ chức quản lý tài nguyên sở hữu công cộng hoặc đang khuyến khích việc tiếp tục tư nhân hoá
Năm 1987, nghiên cứu của Basu, N.G [44] chỉ ra các vấn đề lâm nghiệp được phân tích dựa trên quan điểm của những cộng đồng sống tại rừng Tác giả đề nghị một chính sách lâm nghiệp mới để ngăn chặn quá trình phát triển đồi trọc và để lôi cuốn nhân dân tham gia vào quá trình quản lý rừng
Theo Denr (2001), [48] mặc dù chính sách lâm nghiệp cộng đồng đã có ở nhiều quốc gia, tuy vậy việc thực hiện chính sách cũng thường gặp các trở ngại như:
(i): Thiếu sự cam kết và mất công bằng trong phân bổ ngân sách
(ii): Tiếp cận từ trên xuống và thiếu linh hoạt
(iii): Quyền sử dụng đất và tài nguyên không ổn định
(iv): Hệ thống quản lý, kỹ thuật lâm nghiệp chưa tương thích với kiến thức
và năng lực của cộng đồng trong quản lý rừng
(v): Nhân viên kỹ thuật lâm nghiệp thiếu kỹ năng thúc đẩy để quản lý rừng dựa vào cộng đồng có sự tham gia vào tiến trình ra các quyết định ở địa phương
Trang 17(vi): Thiếu các khung pháp lý để hỗ trợ lâm nghiệp cộng đồng Nhận thức chưa đầy đủ của một đại bộ phận và nhân viên lâm nghiệp về chính sách lâm nghiệp cộng động hiện hành và tổ chức thực hiện nó
(vii): Thiếu công bằng và rõ ràng trong phân bổ lợi ích từ rừng
Để thực hiện Quản lý rừng cộng đồng (CFM) điều đầu tiên cần có là sự đổi mới
về chính sách, thể chế và quan điểm tiếp cận, phát huy dân chủ trong quản lý tài nguyên thiên nhiên
Quản lý rừng cộng đồng cũng đòi hỏi có sự thay đổi trong tiến trình ra quyết định, đổi mới chính sách cho phù hợp trong quản lý kinh doanh, trong đó giải pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân được chú trọng và tạo ra cơ sở cho phát huy dân chủ Nhân tố cốt lõi của cải cách thể chế, chính sách để hỗ trợ lâm nghiệp cộng đồng là nâng cao tính dân chủ, sự tham gia lập kế hoạch, các quyết định giám sát và phát triển nguồn nhân lực
* Các yếu tố kinh tế - xã hội và lợi ích từ rừng cộng đồng
Năm 1988, Verman, D.P [59] có một nghiên cứu điểm ở một khu rừng trồng
4 ha được tạo lập năm 1974 trên đất chăn thả của cộng đồng thôn Dhanori bang Gujarat, Ấn Độ, theo kế hoạch “rừng làng” của Nhà nước Trong 4 năm liền việc cắt
cỏ để bán ra ngoài bị cấm Cây cối được chặt vào năm 1983 - 1984 và lợi nhuận được phân bổ theo gia đình của cộng đồng, chỉ số lợi nhuận nội bộ của gỗ, củi và cỏ được tính tới 35% Dân làng được hưởng củi, gỗ nhỏ để làm nhà và sửa lại nhà cửa,
có thêm công ăn việc làm Thành công đó đã giúp thôn tự tổ chức được một hội trồng cây và tiếp tục trồng thêm vào năm 1984 - 1986 Kết quả trình diễn của khu rừng đã đem lại thêm 200 ha rừng trồng ở khu này
Lam Tom Linson (1994) và Banerjee (1996) [55] cho rằng, nếu chúng ta nhận thức sự mất rừng có liên quan đến các yếu tố kinh tế, xã hội thì việc cần thiết
để có thể đảm bảo được sự thành công trong công tác quản lý rừng chính là mối quan tâm và sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động đó, phải chú trọng đến mối quan tâm của người dân trong cộng đồng đó là vấn đề sinh kế
Hiện nay, rất nhiều chương trình dự án tham gia quản lý rừng, phục hồi rừng nhưng Chokkalingaman Ravindranath (2001), [47] cho rằng đã thiếu sự chú trọng dài hạn tới cả hai yếu tố sinh thái và kinh tế xã hội Chúng thường khởi đầu với sự nhiệt tình trong việc đầu tư kinh phí cũng như phổ biến kỹ thuật cho cộng đồng địa
Trang 18phương nhưng ở giai đoạn cuối của dự án, sự chú trọng này bị giảm sút hoặc thậm chí mất đi với một nguyên nhân không rõ ràng Chính thực tế này đã làm giảm sự quan tâm của cộng đồng và kết quả của việc quản lý, bảo vệ, phát triển rừng không được như mong đợi
Như vậy, trong quản lý rừng cộng đồng do thiếu nghiên cứu về các vấn đề kinh tế và xã hội một cách đầy đủ, cụ thể, thích hợp mà những biện pháp kỹ thuật thường không được áp dụng hoặc áp dụng một cách hình thức nên không đạt kết quả như mong đợi Vì vậy, cần xem vấn đề kinh tế và xã hội là những yếu tố có tính quyết định đến việc lựa chọn và áp dụng các giải pháp kỹ thuật vào các mô hình quản lý rừng cộng đồng ở địa phương
* Phương pháp điều tra rừng có sự tham gia của người dân
Tại Nepal, với sự hỗ trợ của dự án lâm nghiệp cộng đồng do Chính phủ Thụy Sỹ tài trợ, phương pháp điều tra rừng đơn giản có sự tham gia đã được phát triển và được xem là nhân tố cốt lõi cho quản lý rừng bền vững Điều này giúp cho người sử dụng rừng nhận biết được tiềm năng sản xuất của các khu rừng của họ từ
đó lập kế hoạch quản lý rừng
Theo Chandra Bahadur Rai (2000), [58] và báo cáo: “NSCFP - Nepal Swiss Community Forestry Project - Dự án LNCĐ của Thụy Sỹ tại Nepal năm 2001” [48]
đã đề cập đến các tài liệu hướng dẫn về điều tra và phân tích dữ liệu tài nguyên rừng
đơn giản có sự tham gia (bao gồm gỗ và lâm sản ngoài gỗ) ở các nước Nepal, Thái Lan,
Philippines được thiết lập gồm các nội dung hướng dẫn chính như sau:
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Bao gồm xác định kích thước và số ô mẫu điều tra, phương pháp đo đếm
- Phân tích dữ liệu: Chất lượng tái sinh, dự đoán trữ lượng, sản lượng gỗ củi,
cỏ, thu hoạch lâm sản ngoài gỗ
- Lập kế hoạch quản lý rừng, phân loại rừng chức năng theo kiến thức bản địa,
kế hoạch quản lý tái sinh, khai thác gỗ củi, cỏ, lâm sản ngoài gỗ, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ đất, nước và phương pháp giám sát có sự tham gia
Năm 2000, Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp thế giới (CIFFOR), [53] đã
đưa ra tài liệu hướng dẫn bao gồm các phương pháp như xác định vấn đề, chủ đề điều tra rừng, sử dụng ảnh viễn thám, phân tích dữ liệu và đánh giá các kết quả điều tra Trong đó đã phối hợp các phương pháp điều tra thông thường với PRA và sử
Trang 19dụng công nghệ thông tin để mô hình hóa nhằm dự đoán thể tích cây rừng theo 01
và 02 nhân tố đường kính (D) và chiều cao (H), loài cây:
V = f (D,H, loài cây) từ đây lập biểu đơn giản để hỗ trợ cho việc dự báo thể
- Dự báo trữ lượng rừng dựa vào 2 nhân tố tổng tiết diện ngang và chiều cao lâm phần
- Phân chia các lô và tuyến điều tra tương đối phức tạp
Trong khi đó việc xác định sản lượng khai thác, bảo đảm ổn định rừng chưa được thiết kế rõ ràng, do đó việc tính toán khối lượng gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ thu hoạch hàng năm theo kế hoạch chỉ là ước đoán, chưa thực sự có cơ sở để đảm bảo
sự cân bằng và ổn định sản lượng rừng
Nhìn chung, các hướng dẫn điều tra chỉ phù hợp để cán bộ kỹ thuật lâm nghiệp
tổ chức, đánh giá tài nguyên rừng cho từng làng, xã Cộng đồng địa phương được tham gia như người cung cấp thông tin và hưởng thụ kết quả phân tích tài nguyên rừng
* Lập kế hoạch trong quản lý rừng cộng đồng
Một loạt các nghiên cứu ở các quốc gia về chủ đề này đã cho thấy sự cần thiết phải lập kế hoạch quản lý rừng đơn giản có sự tham gia dựa vào cộng đồng Năm 1987, các tác giả Gallertti HA và Arguelless A [51] đã trình bày khái niệm lập kế hoạch và
mô tả sự thực hiện theo kinh nghiệm của chương trình thí điểm quản lý rừng đơn giản và
có sự tham gia này
Việc đưa người dân vào quá trình lập kế hoạch là một nhiệm vụ phức tạp và đòi hỏi phải có sự đơn giản hóa và công khai trong lập kế hoạch và thực hiện Để cho các kế hoạch lập ra thành công cần phải dựa vào sự hỗ trợ của Thống đốc bang và
Trang 20các cán bộ cao cấp ở Liên bang, các tiêu chuẩn khác cũng quan trọng để thực hiện là thái độ của nhân dân địa phương, quản lý lâm sinh đúng đắn, công nghiệp hoá, marketing sản phẩm và các vấn đề tổ chức
Các kết quả trong lập kế hoạch được đánh giá sau 3 vụ thu hoạch
- Năm 1986, các tác giả Moench, M và Bandy Opadhyah, J [57], đã chỉ rõ là các nhu cầu về sinh tồn của dân làng đã bị bỏ qua trong việc lập kế hoạch quản lý rừng Công trình nghiên cứu này đã chỉ ra rằng cần phải hướng vào nhiên liệu, thức
ăn gia súc, đồng thời nghiên cứu cũng trình bày các mối tương quan giữa mức tiêu thụ sinh khối của thôn bản và sức sản xuất của rừng
- Năm 1988, các tác giả Leuscher, WA và Shakya.K.M [56] đã tuyên bố rằng việc hợp tác giữa cư dân địa phương với cán bộ cấp huyện là rất quan trọng để mang lại
sự thành công trong các dự án Tài nguyên rừng công cộng (CFR) và có thể trở nên dễ dàng bằng cách thu hút các nhóm người dân đó vào lập kế hoạch quản lý rừng Đánh giá các tài nguyên nguồn lực, khả năng của dự án, sự tham gia của người dân là cơ sở cho việc lập kế hoạch quản lý Mặc dù, sự thu hút có hiệu quả dân làng tham gia vào việc xây dựng kế hoạch đã tạo nên sự phấn chấn đối với họ và đạt được mục tiêu của
dự án, nhưng tác giả cho rằng chi phí còn cao và đồng thời có thể tạo nên “cái bẫy”
mong đợi và có thể không phải khi nào cũng dẫn tới việc thực hiện kế hoạch tốt
Năm 1988, Brink W [45] tập trung nghiên cứu vào việc quản lý và tiềm năng sử dụng rừng thôn bản được xây dựng theo một dự án toàn quốc về năng lượng không thường lệ của Chính phủ Vương quốc Thái Lan Việc xây dựng và kết quả của các khu rừng thôn bản đã được xem xét một cách có phê phán Dân làng đã không tham gia vào việc xây dựng kế hoạch và không có các kế hoạch để quản lý hoặc để phân bố lợi ích được thoả thuận với dân Trong khi đó các tầng lớp dân nghèo đặc biệt cần phải phụ thuộc và việc đến các khu rừng để chăn thả gia súc, thu hái tài nguyên lâm sản như củi đun, hoa quả tại rừng… Trường hợp này là một điển hình minh hoạ sự cần thiết việc cộng đồng địa phương phải tham gia tích cực vào việc lập kế hoạch và thiết kế các dự án phát triển, các tổ chức xã hội và các nhóm quyền lợi chung rất cần chúng ta phải quan tâm tới
Trang 21Tóm lại: Vấn đề quản lý tài nguyên rừng và đất rừng cộng đồng có rất nhiều
tác giả, nhiều chương trình, dự án tham gia nghiên cứu đã chỉ ra được:
- Việc đổi mới, sửa đổi lại chính sách lâm nghiệp đã chú trọng đến các khía cạnh, vị trí pháp lý của cộng đồng, kinh tế, xã hội, môi trường cùng với việc hỗ trợ cộng đồng để duy trì vai trò sản xuất của rừng, khuyến khích tham gia và đóng góp
ý kiến của người dân địa phương trong lập kế hoạch quản lý rừng là thành công rất
to lớn ở các nước này
- Nhiều nước đã tiến hành giao đất, giao rừng, xu hướng chung là quay trở lại với hình thức quản lý truyền thống dựa trên cơ sở gắn đất đai và tài nguyên rừng với người dân sở tại
- Cách tiếp cận có sự tham gia của người dân, chú ý đến tiến trình phát huy kinh nghiệm bản địa, nâng cao năng lực của các cộng đồng để xây dựng các mô hình quản lý rừng cộng đồng cũng như lập kế hoạch quản lý rừng là cách tiếp cận phù hợp nhất trong bối cảnh chung về quản lý rừng cộng đồng hiện nay
- Các nghiên cứu đã phản ánh được nhu cầu phát triển phương thức quản lý dựa vào cộng đồng ở các quốc gia và đưa ra được các vấn đề cần quan tâm để phát triển lâm nghiệp cộng đồng trong khu vực:
+ Phân cấp và chuyển giao quyền sở hữu trong sử dụng tài nguyên rừng cho cộng đồng
+ Xây dựng các mô hình hợp tác giữa các cộng đồng và các bên liên quan để phát triển lâm nghiệp cộng đồng
+ Phát triển một hệ thống chính sách đồng bộ hỗ trợ cho phát triển lâm nghiệp cộng đồng ở tất cả các lĩnh vực
+ Phát triển các cách tiếp cận đơn giản về kỹ thuật lâm sinh, về điều tra rừng
có sự tham gia và đưa ra các tài liệu hướng dẫn về điều tra và phân tích dữ liệu tài nguyên rừng đơn giản có sự tham gia trong quản lý tài nguyên để xây dựng các kế hoạch quản lý bền vững dựa vào cộng đồng Đây là những kinh nghiệm tốt có thể
kế thừa và vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với điều kiện của Việt Nam
Trang 221.1.1.2 Ở Việt Nam
* Khái niệm cộng đồng
Theo các nhà Xã hội học, Nhân chủng học ở Việt Nam, xét về mặt ngôn ngữ
thì “cộng đồng” là sự kết hợp của hai từ “cộng” và “đồng” Từ “cộng” được hiểu là cộng vào, gộp vào, thêm vào, kết hợp vào, còn từ “đồng” có nghĩa là cùng, cùng
nhau, giống nhau, chung nhau về một số đặc điểm: nhân chủng học, lãnh thổ, phong
tục tập quán, sở thích… Từ ý nghĩa trên “cộng đồng” được hiểu là “Toàn thể những người sống thành tập thể hay một xã hội mà có những đặc điểm giống nhau, gắn bó với nhau thành một khối và giữa họ có sự liên hệ, hợp tác với nhau để cùng nhau hoạt động ngày, cùng nhau thực hiện những lợi ích của mình và lợi ích chung của toàn xã hội” [38]
Với sự đa nghĩa của khái niệm cộng đồng đã làm cho chúng ta không hiểu được một cách thật sự rõ ràng thuật ngữ này Mặt khác, cộng đồng còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành như: Xã hội học, Nhân chủng học… Mỗi ngành nghiên cứu một khía cạnh khác nhau sẽ có các cách hiểu khác nhau Vì vậy thuật ngữ
“cộng đồng” đã tạo nên các ngữ nghĩa khác nhau
Trong ngành lâm nghiệp, ở lĩnh vực hoạt động quản lý tài nguyên rừng khái
niệm “cộng đồng” được hiểu như sau:
Nguyễn Hồng Quân (2000) [37] đã phân biệt cộng đồng ra làm hai loại:
Cộng đồng dân tộc và cộng đồng làng bản: (i) Cộng đồng dân tộc: Hiện nước ta có
54 dân tộc, mỗi dân tộc đều có những đặc điểm riêng về văn hoá, tổ chức xã hội,
tiếng nói, tập quán truyền thống và hệ thống sản xuất; (ii) Cộng đồng làng bản:
Hiện nay, nước ta có khoảng 50.000 làng, bản tập hợp lại trong khoảng 9.000 xã
Từ xưa mỗi làng bản được coi là một tổ chức cộng đồng chặt chẽ với những đặc điểm rất riêng như làng xóm ở miền xuôi là hình thức cộng đồng lâu đời được hình thành trên cơ sở của phương thức canh tác lúa nước; trong khi thôn bản ở miền núi
là hình thức cộng đồng được hình thành trên cơ sở quan hệ sắc tộc, nền kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc, ít đầu tư và sử dụng các sản phẩm tự nhiên sẵn có; điều này có ảnh hưởng sâu sắc đến công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng
Theo thống kê và nêu đặc điểm của tác giả cho thấy: khái niệm “cộng đồng” sử dụng trong quản lý rừng cộng đồng ở nước ta là “cộng đồng thôn bản”
Trang 23Theo Phạm Xuân Phương (2001), [36] “Cộng đồng bao gồm toàn thể những người sống thành một xã hội có những điểm tương đồng về mặt văn hoá, truyền thống, có mối quan hệ sản xuất và đời sống gắn bó với nhau, thường có ranh giới không gian trong một làng, bản”
Điều 5, Luật đất đai (2013) [29] xác định rõ “ Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ được nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất”
Có rất nhiều khái niệm về cộng đồng nhưng phần lớn các tác giả đều cho
rằng thuật ngữ “cộng đồng” được dùng trong quản lý rừng chính là nói đến cộng đồng dân cư thôn, làng, bản, buôn, phum, ấp, sóc… (gọi tắt là cộng đồng thôn bản) Cho nên khái niệm “cộng đồng” trong đề tài này được hiểu là: “Cộng đồng là cộng đồng dân cư thôn, bản Cộng đồng dân cư thôn, bản là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp… hoặc một đơn vị tương đương”
* Khái niệm lâm nghiệp cộng đồng
Hiện nay, ở Việt Nam có những ý kiến khác nhau về lâm nghiệp cộng đồng,
có thể khái quát thành ba loại ý kiến chính như sau:
- Thứ nhất: Lâm nghiệp cộng đồng là một hoạt động lâm nghiệp của một
cộng đồng mà hình thức thể hiện của nó là các khu rừng của cộng đồng, vườn ươm của cộng đồng, các đám cây gỗ của cộng đồng, lâm nghiệp cộng đồng có thể nhận biết qua các hoạt động chủ yếu sau: (i) Cộng đồng trực tiếp quản lý những diện tích rừng hoặc những đám cây gỗ của họ từ lâu đời; (ii) Cộng đồng tổ chức quản lý những khu rừng nhà nước giao cho cộng đồng; (iii) Các hoạt động mang tích chất lâm nghiệp khác do cộng đồng tổ chức, phục vụ lợi ích trực tiếp cho cộng đồng
Như vậy, theo quan điểm này lâm nghiệp cộng đồng còn có tên gọi khác lâm nghiệp làng bản, phản ánh các hoạt động ở phạm vi cụ thể như một bản hay một làng
- Thứ hai: Lâm nghiệp cộng đồng là hoạt động lâm nghiệp có sự tham gia
của một thôn, bản, dòng họ hay bộ tộc Do đó, các hoạt động lâm nghiệp ở đây là một dạng của lâm nghiệp cộng đồng
Trang 24Như vậy, theo quan điểm này cho rằng lâm nghiệp cộng đồng chính là việc
là các thành viên trong cộng đồng cùng tham gia quản lý những khu rừng thuộc quyền quản lý theo truyền thống
- Thứ ba: Lâm nghiệp cộng đồng là hoạt động lâm nghiệp có sự tham gia của
các cá nhân, hộ gia đình đến toàn thể cộng đồng của họ
Như vậy, lâm nghiệp cộng đồng phân loại theo nguồn gốc có 4 loại: (i) Rừng
cộng đồng hình thành lâu đời qua nhiều thế hệ (Rừng truyền thống); (ii) Rừng cộng đồng
hình thành từ khi chính quyền địa phương thực hiện giao đất giao rừng cho cộng
đồng quản lý sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp (Rừng giao theo Nghị định 01/NĐ-CP); (iii) Rừng và đất rừng do cộng đồng nhận khoán, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng của các tổ chức nhà nước (rừng do các Ban quản lý rừng phòng hộ huyện giao khoán bảo vệ và rừng do Ủy ban nhân dân xã tạm giao); (iv)
Lâm nghiệp cộng đồng theo chủ thể quản lý có các loại sau:
(1) Rừng cộng đồng thôn bản
(2) Rừng nhóm hộ
(3) Rừng cộng đồng của các tổ chức trong cộng đồng như: Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội nông dân, Hội người cao tuổi…
* Khái niệm Quản lý rừng dựa vào cộng đồng
- Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là quản lý rừng được thực hiện bởi cộng đồng Cộng đồng có thể là chủ thể quản lý rừng hoặc cộng đồng tham gia quản lý rừng và được chia sẻ lợi ích từ rừng
- Hay nói một cách khác “Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là việc bảo vệ, xây dựng phát triển và sử dụng rừng có sự tham gia điều hành bởi cộng đồng bất kể rừng đó có thuộc quyền sở hữu của cộng đồng hay không?"
* Khái niệm Quản lý rừng cộng đồng
- Quản lý rừng cộng đồng là cộng đồng quản lý rừng thuộc sở hữu của cộng đồng hoặc thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng Rừng của cộng đồng là rừng của làng bản được quản lý theo truyền thống trước đây, rừng trồng của các HTX trước đây mà sau khi chuyển đổi hoặc giải thể HTX đã giao lại cho các xã hoặc các thôn quản lý
Trang 25- Lâm nghiệp cộng đồng là một hình thức quản lý rừng trong đó cộng đồng với tư cách là chủ rừng tham gia vào các hoạt động giao rừng, lập kế hoạch quản lý rừng và thực hiện kế hoạch đó, thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi, giám sát, đánh giá rừng do nhà nước giao cho cộng đồng
Quản lý rừng cộng đồng và lâm nghiệp cộng đồng là hai khái niệm khác nhau Thuật ngữ quản lý rừng cộng đồng được sử dụng với ý nghĩa hẹp hơn thuật ngữ lâm nghiệp cộng đồng Thuật ngữ này được sử dụng khi đề cập đến việc quản
lý rừng của một cộng đồng dân cư Tuy nhiên, cũng có xu hướng đồng nhất lâm nghiệp cộng đồng và quản lý rừng cộng đồng Điều này có ý nghĩa là nói đến lâm nghiệp cộng đồng hay quản lý rừng cộng đồng chính là diễn tả hàng loạt các hoạt động gắn người dân trong cộng đồng với rừng, cây, các sản phẩm của rừng và việc phân chia lợi ích các sản phẩm từ rừng
Tóm lại: Lâm nghiệp cộng đồng chính là nói tới các hoạt động lâm nghiệp dựa
vào cộng đồng bất kể rừng và đất rừng có thuộc sở hữu của cộng đồng hay không hoặc lâm nghiệp cộng đồng là hình thức kiểm soát quản lý, bảo vệ rừng và đất rừng lâu dài
do cộng đồng làng bản thực hiện theo pháp luật và chính sách của nhà nước
Những khái niệm cơ bản về cộng đồng, lâm nghiệp cộng đồng, quản lý rừng dựa vào cộng đồng, quản lý rừng cộng đồng trên đây là những luận cứ khoa học quan trọng, giúp tác giả trong nghiên cứu cơ sở khoa học cho quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam nói chung và các cộng đồng khu vực nghiên cứu tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái nói riêng Đề tài kế thừa những luận cứ khoa học này để tiếp tục nghiên cứu nhằm hoàn thiện hơn không chỉ về cơ sở phương pháp luận mà còn cả
cơ sở thực tiễn khi nghiên cứu về lâm nghiệp cộng đồng tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái - một trong những địa phương có sự đa dạng trong các hình thức quản lý rừng cộng đồng ở nước ta hiện nay
1.1.2 Nghiên cứu tại khu vực
1.1.2.1 Các hoạt động có liên quan đến quản lý rừng cộng đồng
- Xây dựng thể chế và thiết lập các mô hình quản lý rừng cộng đồng đã được lồng ghép trong các chương trình, dự án có liên quan đến bảo vệ và phát triển rừng
Trang 26Có thể nói sự tham gia của cộng đồng dân cư nói chung và thôn, bản nói riêng trong quản lý rừng đã được các chương trình, dự án có liên quan đến bảo vệ
và phát triển rừng hết sức quan tâm như dự án Quản lý tài nguyên thiên nhiên vùng
hạ lưu sông Mê Kông (SMRP); dự án Lâm nghiệp xã hội sông Đà (SFDP: The Social Forestry Development Project); Chương trình Phát triển nông thôn miền núi
Việt Nam (ADB/FSD); dự án Quản lý rừng đầu nguồn có sự tham gia của người dân huyện Hoành Bồ, Quảng Ninh (GCP NIE/023/BEL) và dự án Lâm sản ngoài gỗ
(NTFP: Non-Timber Forest Products) Các hoạt động chính có liên quan đến quản
lý rừng cộng đồng của các chương trình, các dự án là: Đưa ra thể chế hỗ trợ cộng đồng dân cư trong quản lý rừng trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết các kinh nghiệm được rút ra từ các mô hình quản lý rừng cộng đồng trong các khu vực quản lý của chương trình, dự án Ví dụ như:
Nghiên cứu Quản lý rừng cộng đồng ở hai tỉnh Hà Giang và Yên Bái được thực hiện trong chương trình Hỗ trợ trồng rừng và bảo vệ rừng hiện còn ở những vùng đầu nguồn xung yếu vùng cao của Việt Nam Nghiên cứu cũng đã nhận được
sự hỗ trợ của Chương trình Phát triển nông thôn miền núi (MRDP) và việc xây dựng kế hoạch xã, làng Mục tiêu chính của chương trình nghiên cứu này là cung cấp cơ sở cho việc xây dựng thể chế và xây dựng kế hoạch hành động trên cơ sở tổng kết các kinh nghiệm về quản lý rừng cộng đồng được rút ra từ những nghiên cứu điển hình tại 10 xã thuộc hai tỉnh Hà Giang và Yên Bái
- Tổng kết đánh giá các mô hình quản lý rừng cộng đồng và hỗ trợ thực hiện các chính sách của tổ Công tác Quốc gia về Lâm nghiệp cộng đồng (NWG-CFM)
Từ năm 1999, thông qua một số chương trình nghiên cứu, hội thảo, đi hiện trường, lấy ý kiến chuyên gia, tổ Công tác quốc gia về Lâm nghiệp cộng đồng đã có những đóng góp quan trọng trong việc đề xuất cơ sở pháp lý cho vấn đề quản lý rừng cộng đồng Kết quả có được một số tài liệu, văn bản pháp luật sửa đổi tập trung chính vào vấn đề phân cấp quản lý, trao thêm trách nhiệm cho các cấp dưới và tăng cường khả năng tiếp cận nguồn rừng cho các cộng đồng sống gần rừng hoặc trong rừng Sau khi có được những nội dung mới trong các văn bản pháp luật, tổ Công tác quốc gia
Trang 27đã chuyển từ thu thập ý kiến sang hỗ trợ thực hiện các chính sách đã sửa đổi Các hoạt động này bao gồm: Một là, cung cấp các thông tin cơ sở để Chính phủ và Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn có thể phát triển thành các nghị định và quyết nghị; Hai là, cố vấn cho các đơn vị quản lý cấp tỉnh và các dự án ODA trong việc tăng cường hơn nữa quản lý Lâm nghiệp cộng đồng theo đúng hướng đi sẽ được chỉ
ra trong Nghị định và Quyết định sắp tới và dựa vào các khung cũng như các thủ tục
đã được hài hòa hóa; Ba là, giúp Chính phủ và các nhà tài trợ trong việc phát triển các hệ thống chính sách phù hợp như: Đào tạo và phát triển năng lực và hơn nữa là các cơ chế hỗ trợ tài chính đầy đủ như Qũy phát triển cộng đồng
- Tập hợp các kết quả nghiên cứu, kinh nghiệm quản lý rừng cộng đồng thông qua các hội thảo quốc gia Từ năm 2000 đến nay đã có 7 cuộc hội thảo quốc gia, quốc
tế được tổ chức xoay quanh vấn đề quản lý rừng cộng đồng Kết quả của các cuộc hội thảo và các ấn phẩm được công bố sau hội thảo thực sự là những tài liệu rất hữu ích
về mặt lý luận cũng như thực tế cho việc sửa đổi, bổ sung các chính sách có liên quan
và các công trình nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực quản lý rừng cộng đồng
+ Hội thảo lần thứ nhất được tổ chức vào tháng 6 năm 2000 [15], trong đó tập trung vào chủ đề “Những kinh nghiệm và tiềm năng quản lý rừng cộng đồng” nhằm xác định những yếu tố chủ chốt trong quản lý rừng cộng đồng, xem xét đánh giá và chia sẻ kinh nghiệm trong lĩnh vực này cũng như xác định vai trò của các tổ Công tác về quản lý rừng cộng đồng cấp quốc gia và địa phương trong tương lai Có thể nói hội thảo này là bước đột phá và là hội thảo đầu tiên mà lâm nghiệp cộng đồng là chủ điểm chính
+ Hội thảo lần thứ hai được tổ chức vào tháng 11 năm 2001 [16] tập trung vào phân tích “Khuôn khổ chính sách hỗ trợ rừng cộng đồng” Vấn đề đặt ra là quản
lý rừng cộng đồng đã và đang tồn tại và phát triển, mặc dù khung pháp lý cho sự phát triển của loại hình quản lý rừng này vẫn chưa được Nhà nước thiết lập Vai trò của hình thức quản lý rừng này trong toàn bộ hệ thống quản lý rừng của Việt Nam như thế nào? Những thay đổi trong chính sách gần đây có ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của rừng cộng đồng? Những thách thức và vướng mắc nảy sinh trong quá trình phát triển quản lý rừng cộng đồng? Có nên khuyến khích sự phát
Trang 28triển của quản lý rừng cộng đồng hay không? Cần phải giải quyết những vấn đề pháp lý như thế nào để khuyến khích các cộng đồng tham gia tích cực trong việc bảo vệ và phát triển rừng… Kỳ vọng của hội thảo là sẽ giúp cho lãnh đạo và những nhà hoạch định chính sách ở các cấp thấy được nhu cầu cấp thiết của quản lý rừng
do cộng đồng thôn, bản đảm nhiệm, từ đó đề xuất những thay đổi và điều chỉnh hoặc xây dựng chính sách mới nhằm khuyến khích và thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong quản lý và phát triển rừng
+ Hội thảo lần thứ ba được tổ chức vào tháng 11 năm 2004 [17] sau khi Luật Đất đai được sửa đổi ban hành và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đã được chỉnh sửa Hội thảo lần thứ ba tập trung vào chủ đề “Hướng dẫn thực hiện quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam” Hội thảo nhằm mục đích trao đổi và thảo luận các khuôn khổ hướng dẫn về: Thể chế và quản lý rừng cộng đồng; chính sách hưởng lợi trong quản
lý rừng cộng đồng và đánh giá tài nguyên và khai thác rừng cộng đồng để cụ thể hóa Luật Bảo vệ và Phát triển rừng giúp cho việc quản lý rừng cộng đồng được chặt chẽ và có hiệu quả
+ Hội thảo lần thứ tư được tổ chức vào năm 2006 [18] đã tập trung vào chủ
đề "Chia sẻ tri thức và các bài học kinh nghiệm trong 5 năm thực hiện Dự án: Hỗ trợ phương thức quản lý và sử dụng tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng, phổ biến những ý tưởng đổi mới và kinh nghiệm bản địa; xây dựng quan hệ đối tác và mạng lưới để nâng cao năng lực cho quần chúng địa phương nhằm phát huy quyền làm chủ của người dân địa phương”
+ Hội thảo lần thứ năm được tổ chức vào tháng 7 năm 2007 [19] Hội thảo tập trung vào việc chia sẻ kinh nghiệm và đóng góp ý kiến cho việc hình thành những tài liệu hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng trên cơ sở tập hợp các kết quả, các ấn phẩm của các chương trình, dự án đề tài nghiên cứu
+ Hội thảo lần thứ sáu được tổ chức vào tháng 6 năm 2009 [20] với chủ đề Chính sách và thực tiễn quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam Mục tiêu cụ thể của Hội thảo là chia sẻ và học hỏi những kinh nghiệm quản lý rừng cộng đồng để nâng cao nhận thức, tăng cường kỹ năng quản lý rừng cộng đồng, góp phần phát triển thể chế, chính sách lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam
Trang 29+ Hội thảo lần thứ 7 (hội thảo quốc tế) được tổ chức vào tháng 4 năm 2013 [21] với sự tham gia của các đại biểu đến từ Nepal, India, Cambodia, Philippines, Indonesia, Malaysia, Thailand, Laos, Myanmar Hội thảo tập trung vào chia sẻ kinh nghiệm, bài học về Lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam và các nước trong khu vực; xác định rào cản, thách thức đối với quá trình phát triển Lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam; xác định định hướng phát triển chính sách cho Lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam làm cơ sở cho tài liệu hóa, phổ biến và nhân rộng các mô hình và bài học kinh nghiệm về lâm nghiệp cộng đồng
1.1.2.2 Hiệu quả từ mô hình quản lý rừng cộng đồng
- Theo Bảo Huy (2002) [22], hiệu quả quản lý rừng và đất rừng bởi cộng đồng cho thấy rừng giao cho cộng đồng được quản lý tốt hơn, người dân có niềm vui và ý thức được rừng là tài sản của mình, kết quả này được khẳng định ở hầu hết các địa phương giao rừng Người dân đã quan tâm đầu tư vào các khu rừng của mình, một số khu rừng giao cho cộng đồng đầu tư chăm sóc, làm giàu rừng, áp dụng kinh nghiệm bản địa để kinh doanh Ở tỉnh Đăk Nông, hoạt động sau giao đất giao rừng đã được triển khai ở một số nơi như cộng đồng đã tổ chức phân công bảo vệ rừng đặc biệt là hoạt động kinh doanh rừng với sự tham gia trực tiếp của cộng đồng tạo ra thu nhập từ rừng thông qua công tác lâm sinh như tỉa thưa
Quản lý rừng cộng đồng dựa trên luật tục truyền thống và các quy ước, hương ước được phát triển bởi cộng đồng đã tỏ ra có hiệu lực trong đời sống cộng đồng và góp phần thu hút lực lượng nhân dân trong bảo vệ rừng, họ không còn đứng ngoài cuộc với tình trạng phá rừng
- Hiệu quả quản lý rừng cộng đồng thể hiện khá rõ nét ở các cộng đồng vùng cao nơi sản xuất hàng hoá và thị trường chưa phát triển, nơi còn đang tồn tại nhiều phương thức sử dụng rừng với mục đích chung Điểm này thể hiện khá rõ ở mô hình quản lý rừng cộng đồng người Mông ở Điện Biên Trong trường hợp này quản
lý rừng mang lại hiệu quả trên các mặt xã hội và hiệu quả về môi trường hơn là hiệu quả kinh tế Mặt khác, khi sản xuất hàng hoá phát triển việc quản lý rừng cộng đồng chuyển sang một hình thức mới đó là tạo thành xu hướng cộng đồng nhóm hộ trong quản lý rừng Trong trường hợp này hiệu quả quản lý rừng cộng đồng được nhấn
Trang 30mạnh đến hiệu quả kinh tế Từ đây dễ nhận thấy rằng đã hình thành hai loại hình quản lý rừng cộng đồng như đã tổng kết, đó là lâm nghiệp cộng đồng đáp ứng nhu cầu sinh kế của địa phương và lâm nghiệp cộng đồng tiếp cận với sản xuất hàng hoá
ở các vùng sản xuất và thị trường (Nguyễn Bá Ngãi - 2003) [31]
- Cũng theo tác giả trên, thực tế cho thấy người dân chưa quan tâm nhiều đến
tỷ lệ hưởng lợi từ sản phẩm khai thác, chính vì thời gian chờ đợi quá dài mà thay vào đó là quan tâm đến diện tích đất có thể sản xuất nông nghiệp và mức đầu tư trồng rừng Kinh phí khoán, bảo vệ rừng 50.000 đ/ha/năm đã là quá thấp, trong khi
ở nhiều địa phương người dân nhận khoán bảo vệ rừng được nhận kinh phí còn thấp hơn Với quỹ rừng khoán cho mỗi hộ gia đình quản lý và bảo vệ ít như hiện nay, đa phần dưới 10 ha cho mỗi hộ, chất lượng rừng thấp, nguồn thu từ LSNG ngày càng giảm hoặc rất ít, trong khi nguồn thu từ dịch vụ du lịch sinh thái, môi trường chưa có… thì người dân chưa thực sự có thể sống bằng nghề rừng hoặc các nghề có nguồn gốc liên quan đến rừng Điều này càng chứng minh rằng hiệu quả kinh tế của
hệ thống sản xuất lâm nghiệp là rất thấp, chưa thể so sánh với sản xuất nông nghiệp
Nguồn thu từ sản xuất lâm nghiệp không cao, hiệu quả sinh thái của rừng tự nhiên cao nhưng chưa được định giá một cách thuyết phục, hiệu quả sinh thái rừng trồng thấp phần lớn xói mòn vượt quá mức cho phép, hiệu quả xã hội rừng tự nhiên, rừng trồng thấp… Do vậy, rừng chưa thực sự có sức hút mạnh mẽ mọi tầng lớp nhân dân vào công cuộc quản lý bảo vệ phát triển rừng, xã hội đánh giá chưa cao ngành lâm nghiệp
1.1.2.3 Quy trình kỹ thuật áp dụng trong quản lý rừng cộng đồng
- Theo Bảo Huy (2006) [24], các dự án Phổ cập và đào tạo nông lâm nghiệp
vùng cao (ETSP: Extension Training Support Project) và Dự án phát triển nông thôn Daklak (RDDL: Rural Development DakLak) đã tổ chức thử nghiệm áp dụng
biện pháp kỹ thuật lâm sinh đơn giản trong thực hiện kế hoạch quản lý rừng cộng đồng ở các tỉnh Hoà Bình - Thừa Thiên Huế - Đắc Nông - Đăc Lăk đã đưa ra một số
so sánh để làm rõ sự khác biệt của 2 phương thức quản lý rừng Xét về quy mô kỹ thuật lâm sinh truyền thống thường áp dụng đối với các lâm trường quốc doanh, các công ty lâm nghiệp trong khi kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho quản lý rừng cộng đồng thường áp dụng trên qui mô nhỏ ở trong phạm vi cộng đồng
Trang 31Bảng 1.1: So sánh phương thức quản lý rừng truyền thống và LNCĐ Các chỉ tiêu
so sánh
Lâm nghiệp truyền thống
- Giải pháp lâm
sinh áp dụng
- Khai thác chọn với cường
độ lớn trong một lân (khai thác hết lượng tăng trưởng trên 20 năm của rừng)
- Chặt chọn từng cây theo cỡ
kích loài, cường độ nhỏ (dựa vào mô hình ổn định trong 5 năm, tiêu chuẩn lựa chọn cây chặt, cây chừa)
- Tần số, luân kỳ
khai thác
- Không thường xuyên
“chặt” và “chờ”
- Thường xuyên hàng năm
- Công nghệ sử dụng - Dây chuyền khai thác, vận
suất, vận chuyển chủ yếu là máy móc cơ giới
- Sử dụng dụng cụ đơn giản của địa phương, chủ yếu vận xuất bằng thủ công, gia súc
- Tác động đến môi
trường
- Tác động lớn đến đất, cây tái sinh và cây rừng khác do
sử dụng máy móc và cường
độ chặt lớn
- Tác động của khai thác đến đất tái sinh, cây rừng khác là thấp do sử dụng dụng cụ đơn giản, cường độ chặt thấp
- Nhu cầu nuôi
dưỡng rừng sau
khai thác
- Rất cao (vì tác động lớn đến tài nguyên rừng)
- Thấp (nhưng phụ thuộc vào kỹ thuật lựa chọn cây và chặt hạ)
- Việc áp dụng kỹ thuật lâm sinh vào rừng hiện nay chủ yếu tuân theo quy phạm các giải pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất gỗ và tre nứa do
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành 1993 [1] Quy phạm này được xây dựng phục vụ cho các đơn vị kinh doanh rừng có quy mô diện tích lớn, nay ứng dụng vào điều kiện quản lý rừng cộng đồng sẽ không còn phù hợp với nguồn lực địa phương và phát sinh những trở ngại Thậm chí như Quyết định 40/2005/QĐ-BNN ngày 07/7/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành Quy chế khai thác gỗ và lâm sản nhiều địa phương không thể triển khai thực hiện được
Trang 32+ Cường độ khai thác lớn ứng với luân kỳ kinh doanh dài từ 20 - 30 năm Điều này không thích hợp vì diện tích rừng giao cho cộng đồng không đủ lớn để tổ chức không gian và thời gian trong luân kỳ quá dài, cường độ khai thác lớn sẽ không thực tế với điều kiện đầu tư của cộng đồng
+ Các quy định về đường kính khai thác chỉ phù hợp với việc kinh doanh gỗ; chưa đề cập đến việc ứng dụng các nhu cầu đa dạng sản phẩm từ rừng ở cộng đồng
+ Hướng dẫn nặng về kỹ thuật nhưng lại thiếu cụ thể hoá để có thể ứng dụng + Chưa đề cập đến kiến thức/kinh nghiệm bản địa và điều kiện đặc thù của cộng đồng để lựa chọn giải pháp kỹ thuật thích hợp
+ Tiêu chuẩn xác định đối tượng khai thác rừng cao trong khi đó rừng giao cho cộng đồng hầu hết là rừng nghèo kiệt mới phục hồi sau khai thác, nên không tạo
ra thu nhập trong một thời gian quá dài cho người nhận rừng
+ Các phương pháp xác định trạng thái rừng, đánh giá tài nguyên rừng, tính trữ lượng rừng phức tạp, nhiều công thức khó có thể áp dụng vì không phù hợp với trình độ người dân sống ở miền núi
+ Trên thực tế giao đất, giao rừng các cán bộ kỹ thuật thường tự điều tra đánh giá tài nguyên rừng, ấn định những kết quả này cho cộng đồng dẫn đến cộng đồng sẽ không hiểu họ sẽ quản lý các số liệu tài nguyên đó như thế nào? hoặc sẽ nghi ngờ vì họ không tin vào phương pháp Quản lý rừng cộng đồng bên cạnh các vấn đề về chính sách, kinh tế xã hội cũng cần quan tâm đến vấn đề kỹ thuật đảm bảo nguyên tắc cộng đồng có thể hiểu và áp dụng được Cho nên đòi hỏi phải xây dựng phương pháp điều tra, lập kế hoạch kinh doanh rừng, cũng cần đơn giản hoá, thích ứng và có sự tham gia của người dân Vì vậy, trong phương hướng phát triển quản lý rừng cộng đồng đã nêu lên các tiêu chí để xây dựng phương pháp điều tra, lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng là đơn giản, thực tế, chi phí thấp, dễ theo dõi giám sát, rủi ro thấp về sử dụng tài nguyên quá mức
1.1.2.4 Các văn bản chính có liên quan đến Quản lý rừng cộng đồng
- Luật Đất đai được công bố ngày 29 tháng 11 năm 2013, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 đã chính thức công nhận “Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc,
tổ dân phố và điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng
họ được nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất”
Trang 33- Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được công bố ngày 14 tháng 12 năm 2004 ngoài quyền được công nhận quyền sử dụng rừng ổn định lâu dài, cộng đồng dân
cư thôn còn được khai thác sử dụng lâm sản và các lợi ích khác của rừng vào mục đích công cộng và gia dụng cho các thành viên trong cộng đồng được sản xuất lâm nghiệp - nông nghiệp - ngư nghiệp kết hợp theo qui định cuả Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và Quy chế quản lý rừng; được hướng dẫn về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của Nhà nước để bảo vệ và phát triển rừng và được hưởng lợi ích
từ các công trình công cộng bảo vệ, cải tạo rừng mang lại; được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư để bảo vệ và phát triển rừng theo qui định của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và các quy định khác có liên quan khi Nhà nước có quyết định thu hồi rừng
Luật Đất đai và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đã chính thức công nhận cộng đồng dân cư quyền được sử dụng đất, quyền được sử dụng rừng như các đối tượng khác là sự thay đổi lớn tạo cơ hội cho cộng đồng dân cư thôn phát huy hết được những lợi thế tham gia vào công cuộc bảo vệ và phát triển rừng của đất nước Tuy vậy, cho đến nay cộng đồng dân cư nói chung và cộng đồng dân cư thôn, bản nói riêng vẫn chưa được luật pháp công nhận là chủ thể có tính pháp nhân trong quan hệ dân sự và kinh tế Vấn đề này ít nhiều đã làm hạn chế đến sự phát triển của cộng đồng dân cư trong công cuộc bảo vệ và phát triển rừng
1.1.3 Tiến trình hình thành và phát triển quản lý rừng cộng đồng
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Bá Ngãi (2005; 2009) [33, 34], tiến trình hình thành và phát triển chính sách lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam có thể phân thành các giai đoạn như sau:
- Giai đoạn trước năm 1954: Đã có sự thừa nhận sự tồn tại của lâm nghiệp
cộng đồng Lâm nghiệp thuộc địa, phong kiến thừa nhận rừng cộng đồng truyền thống, quản lý rừng cộng đồng dựa trên các hương ước và luật tục truyền thống
- Giai đoạn từ 1954-1975: Không quan tâm đến rừng cộng đồng nhưng tôn
trọng cộng đồng đang quản lý những khu rừng theo truyền thống Miền Bắc, thực hiện chính sách cải cách ruộng đất và hợp tác hóa, tập trung phát triển lâm nghiệp quốc doanh (Lâm trường quốc doanh) và lâm nghiệp tập thể (hợp tác xã nông-lâm
Trang 34nghiệp) Mặc dù không quan tâm lâm nghiệp hộ gia đình và lâm nghiệp cộng đồng, nhưng về cơ bản, Nhà nước vẫn tôn trọng cộng đồng vùng cao quản lý rừng theo phong tục truyền thống, lâm nghiệp hộ gia đình được xác định là kinh tế phụ Trong khi đó ở miền Nam, thừa nhận sự tồn tại của lâm nghiệp cộng đồng Lâm nghiệp thuộc địa, phong kiến thừa nhận rừng cộng đồng truyền thống Quản lý rừng cộng đồng dựa trên các hương ước và luật tục truyền thống
- Giai đoạn 1976-1985: Tập trung và kế hoạch hóa cao độ lâm nghiệp quốc
doanh và tập thể, rừng do cộng đồng quản lý bị thu hẹp Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Chính phủ quan tâm chú ý phát triển 2 thành phần kinh
tế quốc doanh và tập thể (hợp tác xã) Lâm nghiệp quốc doanh và lâm nghiệp tập thể được phát triển trên quy mô lớn theo cơ chế kế hoạch hóa, tập trung cao độ Lâm nghiệp cộng đồng và lâm nghiệp hộ gia đình không được khuyến khích phát triển Tuy nhiên, một số nơi ở vùng cao, vùng đồng bào dân tộc vẫn tồn tại các khu rừng do cộng đồng tự công nhận nhưng mức độ tự quản dần bị mai một và lỏng lẻo
Quyết định 184/HĐBT, ngày 06/11/1982 của Hội đồng Bộ trưởng và Chỉ thị
29 của Ban Bí thư năm 1983 về đẩy mạnh giao đất giao rừng cho tập thể và nhân dân trồng cây gây rừng, bắt đầu chú ý đến hợp đồng khoán rừng cho hộ gia đình
- Giai đoạn 1986-1992: Lần đầu tiên đề cập làng bản là chủ rừng hợp pháp
đối với rừng truyền thống của làng bản Năm 1986, Chính phủ bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới bằng việc thừa nhận 5 thành phần kinh tế Năm 1988 và năm
1991 Luật đất đai và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng lần đầu tiên được ra đời đã cho phép giao đất giao rừng cho tổ chức, cá nhân và hộ gia đình Lâm nghiệp hộ gia đình được thừa nhận
Ngày 17/01/1992 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ban hành Nghị định số 17/HĐBT về việc thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng xác nhận làng bản có rừng trước ngày ban hành Nghị định là chủ rừng hợp pháp
- Giai đoạn 1993-2002: Tăng cường quá trình phi tập trung hóa trong quản lý
rừng, quan tâm đến xã hội hóa nghề rừng nhưng chính sách đối với lâm nghiệp cộng đồng chưa rõ ràng Ở các địa phương thực hiện nhiều mô hình quản lý rừng cộng
Trang 35đồng nhưng ở mức độ tự phát hoặc mang tính chất thí điểm Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành lập Tổ công tác Quốc gia về lâm nghiệp cộng đồng để triển khai một số nghiên cứu và tổ chức nhiều hội thảo quốc gia về Lâm nghiệp cộng đồng Nhiều chương trình, dự án quốc tế quan tâm đến phát triển lâm nghiệp cộng đồng Nhưng về cơ bản lâm nghiệp cộng đồng chưa được thể chế hóa một cách rõ ràng
Luật đất đai (sửa đổi) năm 1993, Nghị định 02/NĐ-CP, ngày 15/01/1994 của Chính phủ ban hành bản Quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp và Nghị định 163/1999/NĐ-CP, ngày 16/11/1999 của Chính phủ về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp đều không quy định rõ ràng cho đối tượng cộng đồng Luật dân sự năm 1995 không quy định cộng đồng dân cư là một chủ thể kinh tế có tư cách pháp nhân
Trong giai đoạn này, nhiều địa phương đã vận dụng một văn bản của nhà nước và của ngành cho phát triển lâm nghiệp cộng đồng như Nghị định 01/NĐ-CP, ngày 04/01/1995 của Chính phủ ban hành bản Quy định về việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản trong các doanh nghiệp nhà nước; Nghị định 29/1998/NĐ-CP, ngày 11/05/1998 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã; Quyết định 245/QĐ-TTg, ngày 21/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp; Thông tư 56/1999/TT/BNN-KL ngày 30/31999 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hướng dẫn xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư thôn, làng, buôn, bản, ấp; Quyết định 186/2006/QĐ-TTg, ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý rừng; Quyết định 178/2001/QĐ-TTg, ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp
- Giai đoạn từ 2003 đến nay: Hình thành khung pháp lý cơ bản cho lâm
nghiệp cộng đồng
Theo Luật đất đai (sửa đổi) năm 2013, cộng đồng dân cư thôn được nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp với tư cách là người sử dụng đất Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi) năm 2004 có một mục riêng quy
Trang 36định về giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn (Điều 29); quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư thôn được giao rừng (Điều 30)
Luật dân sự (sửa đổi) năm 2005 thừa nhận khái niệm sở hữu chung của cộng đồng Theo đó, cộng đồng dân cư thôn có quyền sở hữu đối với tài sản được hình thành theo tập quán, tài sản do các thành viên trong cộng đồng đóng góp và cùng quản lý, sử dụng theo thỏa thuận vì lợi ích của cộng đồng
Về quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư thôn cũng được quy định trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng, thể hiện ở một số điểm: ngoài các quyền và nghĩa
vụ chung được quy định: Không được phân chia rừng cho các thành viên trong thôn; không được chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp, góp vốn kinh doanh bằng giá trị quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, giá trị quyền
sử dụng rừng được giao
Như vậy, đến nay Việt Nam đã có khung pháp lý và chính sách cơ bản cho quản lý rừng cộng đồng, được thể hiện trong Luật đất đai năm 2013, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 và các văn bản chính sách khác Khung pháp lý và chính sách này thể hiện các điểm căn bản sau đây:
Thứ nhất, cộng đồng dân cư là chủ rừng, người sử dụng rừng có tư cách pháp
nhân đầy đủ hoặc không đầy đủ tùy theo từng điều kiện của mỗi cộng đồng và đối tượng rừng được giao hay nhận khoán
Thứ hai, cộng đồng được giao đất, giao rừng, nhận hợp đồng khoán rừng lâu dài khi đáp ứng các quy định của Pháp luật và chính sách hiện hành như: (i) Khu rừng hiện cộng đồng dân cư thôn đang quản lý, sử dụng có hiệu quả;(ii) Khu rừng giữ nguồn nước phục vụ trực tiếp cho lợi ích chung của cộng đồng;(iii) Khu rừng giáp ranh giữa các thôn, xã, huyện không thể giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mà cần giao cho cộng đồng dân cư thôn để phục vụ lợi ích của cộng đồng
Thứ ba, cộng đồng được hưởng các quyền khi tham gia quản lý rừng theo quy định của pháp luật như: (i) Được công nhận quyền sử dụng rừng ổn định, lâu dài phù hợp với thời hạn giao rừng; (ii) Được khai thác, sử dụng lâm sản và các lợi ích khác của rừng vào mục đích công cộng và gia dụng cho các thành viên trong cộng đồng;(iii) Được sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp kết hợp; được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích rừng được giao;(iv) Được hướng dẫn về
Trang 37kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của nhà nước để bảo vệ và phát triển rừng
và được hưởng lợi ích do các công trình công cộng bảo vệ, cải tạo rừng mang lại; (v) Được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư để bảo vệ và phát triển rừng khi nhà nước có quyết định thu hồi rừng
Thứ tư, cộng đồng thực hiện nghĩa vụ khi tham gia quản lý rừng theo quy định của pháp luật như: (i) Xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng;(ii) Tổ chức bảo vệ và phát triển rừng, định kỳ báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền về diễn biến tài nguyên rừng và các hoạt động liên quan đến khu rừng; (iii) Thực hiện nghĩa vụ tài chính và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật;(iv) Giao lại rừng khi nhà nước có quyết định thu hồi rừng hoặc khi hết thời hạn giao rừng;(v) Không được phân chia rừng cho các thành viên trong thôn, không được chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp, góp vốn kinh doanh bằng giá trị quyền sử dụng rừng được giao
1.1.4 Thảo luận
Các nghiên cứu về rừng cộng đồng và quản lý rừng cộng đồng trên thế giới cũng như ở Việt Nam tương đối nhiều, cung cấp đa chiều các kiến thức cũng như những bài học kinh nghiệm để các quốc gia, địa phương có cơ sở khoa học và thực tiễn trong việc quản lý rừng cộng đồng Việt Nam đã xây dựng, tạo lập một khuôn khổ gồm nhiều các chính sách nhằm quản lý rừng cộng đồng có hiệu quả Tuy nhiên, đối với từng địa phương có những đặc thù về tài nguyên rừng khác nhau, các vấn đề kinh tế - xã hội khác nhau sẽ dẫn đến việc thực thi và áp dụng các chính sách rừng cộng đồng sẽ có sự khác nhau đáng kể Đối với huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái, một số vấn đề cần được nghiên cứu để việc quản lý rừng cộng đồng đem lại hiệu quả đó là:
- Thực trạng của việc quản lý rừng cộng đồng ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái?
- Những tác động của chính sách vĩ mô đến quản lý rừng cộng đồng ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái?
- Những hình thức quản lý rừng cộng đồng đang tồn tại ở huyện Lục Yên và những kinh nghiệm bản địa được sử dụng?
Trang 381.2 Điều kiện tự nhiên Kinh tế - Xã hội huyện Lục Yên
1.2.1 Vị trí địa lý, ranh giới
Huyện Lục Yên nằm ở phía đông bắc tỉnh Yên Bái, trung tâm huyện lỵ cách thành phố Yên Bái 93 km Tổng diện tích tự nhiên là 80.898,36 ha, bằng 11,7 % diện tích tự nhiên của tỉnh, gồm 24 đơn vị hành chính xã, thị trấn Độ cao trung bình
so với mặt nước biển từ 100 đến 150m Có vị trí địa lý nằm ở: 21055’30” đến
22002’30” vĩ độ Bắc: 104030’ đến 104053’30” kinh độ Đông
Địa giới hành chính:
+ Phía Bắc giáp huyện Bắc Quang và Quang Bình, tỉnh Hà Giang; huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai
+ Phía Đông giáp huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang
+ Phía Tây giáp huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
+ Phía Nam giáp huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
1.2.2 Điều kiện tự nhiên
1.2.2.1 Địa hình, địa thế
Nhìn chung, địa hình khá phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi nhiều sông suối lớn tạo thành các kiểu địa hình khác nhau:
- Trên địa bàn huyện Lục Yên có hai dãy núi chính chạy theo hướng Tây Bắc
- Đông Nam, hữu ngạn sông Chảy là dãy Con Voi có độ cao trung bình là 300 - 400
m, đỉnh cao nhất là 1.148m, độ dốc trung bình là 400, bề mặt địa hình núi bị các khe suối chia cắt thành các thung lũng nhỏ, bồn địa bằng phẳng là nơi dân cư tập trung sản xuất và sinh sống từ lâu đời
- Phía tả ngạn sông Chảy là dãy núi đá lớn chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam có độ cao trung bình là 935m, đỉnh cao nhất có độ cao là 1.035m, độ dốc lớn, sườn núi bị cắt xẻ thành các đỉnh sắc nhọn, có độ dốc trên 700, rất hiểm trở, hầu hết được bao phủ bởi rừng tự nhiên
Giữa hai dãy núi là thung lũng sông Chảy với các cánh đồng phì nhiêu và hồ Thác Bà trong ranh giới huyện Lục Yên rộng trên 4.500 ha
Tuy có hai dãy núi chạy hai bên, nhưng diện tích đất có độ dốc dưới 250 vẫn chiếm trên 53% tổng diện tích tự nhiên nên mức độ khai thác lãnh thổ khá thuận tiện
Trang 39Tóm lại, với địa hình chủ yếu là đất đồi núi bị chia cắt mạnh tạo nên các tiểu vùng, đã ảnh hưởng rất lớn đến việc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt
là với hệ thống cơ sở hạ tầng và phân bố dân cư Phần lớn đất đai có độ dốc từ sườn dốc đến rất dốc nên trong sản xuất lâm nghiệp cần phải lựa chọn cây trồng
và sử dụng đất đai hợp lý với từng chức năng của rừng thì mới phát huy được lợi thế của rừng và đất rừng
1.2.2.2 Khí hậu
Huyện Lục Yên nằm trong tiểu vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10; Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 hàng năm
Nhiệt độ trung bình hàng năm 22 - 240 C; Max 39 - 410 C; Min từ 4 -50 C Thời gian chiếu sáng của mặt trời dao động trong ngày từ 10 - 20 giờ, tổng nhiệt độ năm đạt 7.5000 C - 8.0000 C
Lượng mưa trung bình năm tương đối lớn từ 1.500 - 2.200 mm, tập trung từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa trung bình các năm 1.867,6 mm/năm
Lượng nước bốc hơi cả năm là 629 mm Hệ số ẩm ướt trung bình K = 3,4 thuộc vùng có độ ẩm cao
Tóm lại: Với tổng số giờ nắng và lượng mưa tương đối lớn, chế độ nhiệt phong phú, khí hậu Lục Yên thích hợp với nhiều loài thực vật, trong đó có nhiều loài cây trồng lâm nghiệp đạt suất tăng trưởng hàng năm khá cao Ngành lâm nghiệp có thể phát huy lợi thế đó để tổ chức sản xuất hợp lý theo từng tiểu vùng khí hậu, bên cạnh đó cần chú ý những yếu tố bất lợi về thời tiết, khí hậu để hạn chế những rủi ro trong sản xuất và xác định thời vụ trồng rừng chính cho phù hợp để thực hiện đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế cao
1.2.2.3 Sông suối, thuỷ văn
Hệ thống sông Chảy là hệ thống sông chủ yếu trên địa bàn huyện, mật độ sông suối đạt 1,1km/km2 Đoạn sông Chảy chảy qua huyện Lục Yên dài 65 km với nhiều chi lưu lớn như ngòi Trúc Lâu, ngòi Vàn, ngòi Đại Cại, ngòi Biệc
Trang 40Hồ Thác Bà trên địa bàn huyện là hồ lớn đem lại nhiều lợi ích kinh tế, trong
đó có tiềm năng du lịch Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có 153 hồ thuỷ lợi lớn nhỏ khác phục vụ tưới cho 1.487/2.520 ha đất canh tác nông nghiệp của huyện và phục
vụ các nhu cầu dân sinh kinh tế khác
1.2.2.4 Đặc điểm địa chất, đất đai
Về địa chất, theo tài liệu Địa chất miền Bắc Việt Nam, nền địa chất huyện Lục Yên có lịch sử nguồn gốc kiến tạo cuối kỷ Palacosoic, đầu kỷ Mesozoic Địa hình kiến tạo chịu nhiều ảnh hưởng của hoạt động tạo sơn Indexin ở kỷ Triat thuộc đại trung sinh Núi đá vôi trên địa bàn huyện có tuổi địa chất trẻ (Kỷ đệ tam), quá trình bào mòn địa chất tự nhiên không mạnh mẽ Trên địa bàn huyện
- Đất đỏ vàng trên đá biến chất và sét, diện tích chiếm khoảng 12,5%, loại đất này có tỷ lệ đạm, mùn trung bình, thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình và nặng, có khả năng phát triển nông lâm nghiệp và chăn nuôi
- Đất Feralít (Biến đổi do canh tác) loại đất này chiếm khoảng 8% có thành phần cơ giới nhẹ rẽ bị rửa trôi, nghèo đạm
- Các loại đất khác chiếm khoảng 7% có tầng dầy trung bình có khả năng phát triển các cây lương thực, thực phẩm