Để hình thành nên tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông, doanh nghiệp cần phải có một số vốn thích ứng để đầu tư vào các tài sản ấy, số tiền ứng trước về những tài sản
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập.
Tác giả luận văn tốt nghiệp
(Ký và ghi rõ họ tên)
Dương Thị Hằng
Trang 2MỤC LỤC
Lớp: CQ47/11.01
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCKQKD : Báo cáo kết quả kinh doanh
DTH ĐTC : Doanh thu hoạt động tài chính
NVLĐTT : Nguồn vốn lưu động tạm thời
NVLĐTX : Nguồn vốn lưu động thường xuyên
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Lớp: CQ47/11.01
Trang 5MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Năm 2012 là một năm nền kinh tế Thế Giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng đều có nhiều biến động, tăng trưởng kinh tế chậm, thất nghiệp tăng cao, số lượng các doanh nghiệp phá sản không ngừng gia tăng Do đó một doanh nghiệp muốn tồn tại và đứng vững trên thị trường phải đạt được hiệu quả kinh tế cao Mà trước hết muốn tiến hành SXKD thì cần phải có vốn, vốn không chỉ là một trong những yếu tố giữ vai trò quan rọng quyết định trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp Quá trình tạo lập và
sử dụng vốn như thế nào luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu để hoạt động của doanh nghiệp được tiến hành liên tục và tối đa hoá lợi nhuận
Hiện nay đứng trước sự khó khăn thách thức của nền kinh tế toàn cầu, càng
có nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả do hiệu quả sử dụng vốn rất thấp Điều này không chỉ ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng xấu tới toàn bộ nền kinh tế quốc dân Do đó việc quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng là một vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các doanh nghiệp Tuy nhiên, làm thế nào để thúc đẩy cũng như nâng cao hiệu quả của việc quản lý và sử dụng vốn kinh doanh nói chung và vốn lưu động nói riêng vẫn còn là một câu hỏi khó đối với các DN Việt Nam hiện nay
Xuất phát từ vị trí, vai trò vô cùng quan trọng của vốn lưu động và thông qua quá trình thực tập tại Công ty cổ phần đầu tư và xây lắp Tây Hồ
lưu động tại Công ty cổ phần đầu tư và xây lắp Tây Hồ” làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Đối tượng và mục đích nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu là công tác tổ chức quản lý và sử dụng vốn lưu động
Trang 6- Mục tiêu nghiên cứu: Củng cố và bổ sung thêm những kiến thức đã học đồng thời vận dụng các kiến thức đã tiếp thu vào việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá và giải quyết những vấn đề thực tiễn trong công tác quản trị vốn lưu động nói riêng và quản trị tài chính nói chung ở công ty cổ phần đầu tư và xây lắp Tây Hồ Từ đó đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty.
3 Phạm vi nghiên cứu:
- Thời gian nghiên cứu từ ngày 23/01/2013 đến ngày 26/04/2013
- Tập hợp số liệu từ năm 2010 đến năm 2012 tại đơn vị thực tập là công ty cổ phần đầu tư và xây lắp Tây Hồ
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Sử dụng phương pháp so sánh để xác định chênh lệch
- Sử dụng phương pháp tỷ trọng để xác định cơ cấu
5 Kết cấu của luận văn tốt nghiệp:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về vốn lưu động và hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng công tác tổ chức và sử dụng vốn lưu động ở công
Trang 7CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 VỐN LƯU ĐỘNG VÀ NGUỒN HÌNH THÀNH VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP.
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm vốn lưu động.
* Khái niệm vốn lưu động.
Trong nền kinh tế quốc dân, mỗi doanh nghiệp được coi như một tế bào của nền kinh tế với nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hoá, lao vụ, dịch vụ cung cấp cho xã hội Doanh nghiệp có thể thực hiện một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm lao vụ, dịch vụ trên thị trường nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận
Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có
tư liệu sản xuất, đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra sản phẩm hàng hoá, dịch vụ Khác với tư liệu lao động, đối tượng lao động khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh luôn thay đổi hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm
và được bù đắp khi giá trị sản phẩm được thực hiện Biểu hiện dưới hình thái vật chất của đối tượng lao động gọi là tài sản lưu động, TSLĐ của doanh nghiệp gồm TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông
- TSLĐ sản xuất: Gồm một bộ phận là những vật tư dự trữ để đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục như nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên
Trang 8liệu, và một bộ phận là những sản phẩm đang trong quá trình sản xuất như: Sản phẩm dở dang, bán thành phẩm,…
- TSLĐ lưu thông gồm: là những tài sản lưu động nằm trong quá trình lưu thông của doanh nghiệp như: Thành phẩm trong kho chờ tiêu thụ, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán,
Quá trình sản xuất của doanh nghiệp luôn gắn liền với quá trình lưu thông Trong quá trình tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông luôn chuyển hoá lẫn nhau, vận động không ngừng làm cho quá trình tái sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục và thuận lợi Để hình thành nên tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông, doanh nghiệp cần phải có một số vốn thích ứng để đầu tư vào các tài sản ấy, số tiền ứng trước về những tài sản ấy được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp
Như vậy, vốn lưu động của các doanh nghiệp sản xuất là số vốn ứng ra để hình thành nên các tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được thu hồi toàn bộ, hoàn thành một vòng luân chuyển khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh
Trong doanh nghiệp, vốn lưu động thường xuyên vận động, chuyển hoá lần lượt qua nhiều hình thái khác nhau
+ Đối với doanh nghiệp sản xuất: Vốn lưu động từ hình thái ban đầu là tiền được chuyển hoá sang hình thái vật tư dự trữ, sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hoá, khi kết thúc quá trình tiêu thụ lại trở về hình thái ban đầu là tiền
T – H … H’ – T’
+ Đối với doanh nghiệp thương mại: Sự vận động của vốn lưu động nhanh hơn, từ hình thái vốn bằng tiền chuyển sang hình thái hàng hoá và cuối cùng chuyển về hình thái tiền
Lớp: CQ47/11.01
Trang 9T – H – T’
Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục, không ngừng nên
sự tuần hoàn của vốn lưu động cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của vốn lưu động
Trong quá trình kinh doanh, vốn lưu động chu chuyển không ngừng nên tại một thời điểm nhất định, vốn lưu động thường xuyên có các bộ phận cùng tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau trong các giai đoạn mà vốn đi qua
* Đặc điểm của vốn lưu động.
- Vốn lưu động trong quá trình luân chuyển luôn thay đổi hình thái biểu hiện
- Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn bộ sau mỗi chu kỳ kinh doanh
- Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh
1.1.2 Phân loại vốn lưu động
Để quản lý, sử dụng vốn lưu động có hiệu quả cần phải tiến hành phân loại vốn lưu động của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau
Thông thường có những cách phân loại sau đây:
* Dựa theo hình thái biểu hiện của vốn có thể chia vốn lưu động thành: vốn bằng tiền và vốn tồn kho.
- Vốn bằng tiền và các khoản thu:
Vốn bằng tiền gồm: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển Tiền là một loại tài sản có tính linh hoạt cao, doanh nghiệp có thể dễ dàng chuyển đổi thành các loại tài sản khác hoặc để trả nợ Do vậy, trong hoạt động kinh doanh đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần phải có một lượng tiền cần thiết nhất định để đảm bảo khả năng thanh toán, sự liên tục của quá trình sản xuất kinh doanh
Các khoản phải thu: Chủ yếu là các khoản phải thu từ khách hàng thể hiện ở số tiền mà các khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình
Trang 10bán hàng, cung ứng dịch vụ dưới hình thức bán trước trả sau Ngoài ra, với một số trường hợp mua sắm doanh nghiệp còn có thể phải ứng trước tiển mua hàng cho người cung ứng, cũng hình thành nên khác khoản phải thu.
- Vốn về hàng tồn kho:
Trong doanh nghiệp sản xuất vốn tồn kho bao gồm: vốn về vật tư dự trữ, vốn sản phẩm dở dang, vốn thành phẩm Chi tiết hơn vốn tồn kho trong doanh nghiệp bao gồm:
Vốn nguyên vật liệu chính: Là giá trị các loại nguyên vật liệu chính dự trữ
cho sản xuất, khi tham gia vào sản xuất chúng hợp thành thực thể của sản phẩm
Vốn vật liệu phụ: Là giá trị các loại vật liệu phụ dự trữ cho sản xuất, giúp
cho việc hình thành sản phẩm, nhưng không hợp thành thực thể chính của sản phẩm, chỉ làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bề ngoài của sản phẩm hoặc
tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh thực hiện được thuận lợi.
Vốn nhiên liệu: Là giá trị các loại nhiên liệu dự trữ dùng trong sản xuất
kinh doanh
Vốn phụ tùng thay thế: Là giá trị các loại vật tư dùng thay thế , sửa chữa
các tài sản cố định
Vốn vật đóng gói: Là giá trị các loại vật liệu bao bì dùng đóng gói sản
phẩm trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Vốn công cụ và dụng cụ: Là giá trị các loại công cụ và dụng cụ không đủ
tiêu chuẩn tài sản cố định dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Vốn sản phẩm dở dang: Là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản xuất kinh
doanh đã bỏ ra cho các sản phẩm đang trong quá trình sản xuất (giá trị sản phẩm dở dang, bán thành phẩm)
Vốn về chi phí trả trước: Là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng
có tác dụng cho nhiều chu kì sản xuất kinh doanh nên chưa tính hết vào giá thành sản phẩm trong kì này, mà được tính dần vào giá thành sản phẩm các kì tiếp theo như chi phí cải tiến kỹ thuật, chi phí nghiên cứu thí nghiệm
Lớp: CQ47/11.01
Trang 11Vốn thành phẩm: Là giá trị những sản phẩm đã được sản xuất xong, đạt
tiêu chuẩn kĩ thuật và được nhập kho
Trong doanh nghiệp thương mại vốn về hàng tồn kho chủ yếu là giá trị các loại hàng hóa dự trữ
Việc phân loại vốn lưu động theo hình thái biểu hiện này có tác dụng là tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá xem xét mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp Mặt khác, với cách phân loại này có thể tìm được các biện pháp phát huy chức năng các thành phần vốn và biết được kết cấu vốn lưu động theo hình thức biểu hiện để định hướng điều chỉnh hợp lý cho hiệu quả
* Dựa theo vai trò của vốn lưu động đối với quá trình sản xuất kinh doanh vốn lưu động có thể phân loại thành:
- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất gồm các khoản:
Trang 12+ Các khoản vốn đầu tư ngắn hạn về chứng khoán, cho vay ngắn hạn…Với cách phân loại này giúp nhà quản trị biết được kết cầu vốn lưu động theo vai trò, từ đó giúp cho việc đánh giá phân bổ vốn lưu động trong các khâu của quá trình luân chuyển vốn, thấy được vai trò của từng thành phần với quá trình sản xuất kinh doanh Trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp tổ chức quản lý thích hợp nhằm tạo ra kết cấu vốn lưu động hợp lý, tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động.
* Dựa theo quan hệ sở hữu.
Vốn lưu động có thể được chia thành hai loai: Vốn chủ sở hữu và vốn nợ phải trả
+ Vốn chủ sở hữu: là số VLĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ quyền chiếm hữu, sử dụng chi phối và định đoạt
+ Vốn nợ phải trả: là các khoản VLĐ mà doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng trong một thời hạn nhất định (như vốn vay ngắn hạn của các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính: vốn vay thông qua phát hành trái phiếu ngắn hạn, các khoản nợ khách hàng nhà cung cấp chưa thanh toán)
Các phân loại này cho thấy kết cấu VLĐ của doanh nghiệp được hình thành bằng bốn của bản thân doanh nghiệp hay các khoản nợ Từ đó có các quyết định trong huy động và quản lý, sử dụng VLĐ hợp lý hơn, đảm bảo an ninh tài chính trong sử dụng vốn của doanh nghiệp
Như vậy, mỗi cách phân loại vốn lưu động đáp ứng những yêu cầu nhất định của công tác quản lý, phục vụ cho những mục đích nhất định
1.1.3 Nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp và các mô hình
tài trợ vốn lưu động của doanh nghiệp.
* Dựa theo nguồn gốc hình thành, VLĐ được hình thành từ các nguồn:
Lớp: CQ47/11.01
Trang 13- Nguồn vốn điều lệ: là số vốn lưu động được hình thành từ nguồn vốn điều
lệ ban đầu khi thành lập hoặc nguồn vốn điêù lệ bổ sung trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Nguồn vốn tự bổ sung: là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung trong quá trình sản xuất kinh doanh như từ lợi nhuận của doanh nghiệp được tái đầu tư
- Nguồn vốn liên doanh, liên kết: là số vốn lưu động được hình thành từ vốn góp liên doanh của các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh
- Nguồn vốn đi vay: vốn vay của các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng, vốn vay của người lao động trong doanh nghiệp, vay các doanh nghiệp khác
- Nguồn vốn huy động từ thị trường vốn: phát hành cổ phiếu, trái phiếu
Việc phân chia vốn lưu động theo nguồn hình thành giúp cho doanh nghiệp thấy được cơ cấu nguồn vốn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động trong kinh doanh của mình Từ góc độ quản lý tài chính mọi nguồn tài trợ đều có chi phí
sử dụng của nó Do đó doanh nghiệp cần xem xét cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu
để giảm thấp chi phí sử dụng vốn của mình
* Dựa theo thời gian của nguồn hình thành vốn lưu động, vốn lưu động được hình thành từ hai nguồn: nguồn vốn lưu động tạm thời và nguồn vốn lưu động thường xuyên.
- Nguồn vốn lưu động tạm thời là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn chủ yếu
để đáp ứng các nhu cầu vốn lưu động có tính chất tạm thời phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác
- Nguồn vốn lưu động thường xuyên là nguồn vốn có tính chất ổn định nhằm hình thành nên TSLĐ thường xuyên cần thiết
Nguồn vốn lưu động thường
Trang 14Việc phân chia nguồn hình thành vốn lưu động như trên giúp cho người quản lý xem xét huy động các nguồn vốn lưu động một cách phù hợp với thời gian sử dụng để nâng cao hiệu quả tổ chức và sử dụng VLĐ trong doanh nghiệp mình Ngoài ra nó còn giúp cho nhà quản lý lập các kế hoạch tài chính hình thành nên những dự định về tổ chức nguồn vốn lưu động trong tương lai, trên cơ sở xác định quy mô, số lượng VLĐ cần thiết để lựa chọn nguồn vốn lưu động này mang lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp.
1.2 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là một phạm trù kinh tế, nó phản ánh trình
độ khai thác, sử dụng, quản lý nguồn lực vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.2 Sự cần thiết của nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
Thứ nhất: Xuất phát từ mục đích hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp Mọi doanh nghiệp khi tham gia quá trình kinh doanh đều kỳ vọng vào việc tối đa hoá lợi nhuận Lợi nhuận là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng là một trong những biện pháp quan trọng góp phần tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm, để từ đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
Thứ hai: Xuất phát từ vai trò của vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh
doanh Vốn lưu động là một bộ phận không thể thiếu khi doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Như đã biết, vốn lưu động tồn tại nhiều hình thái khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra thường xuyên, liên tục, đảm bảo sự ổn định trong hoạt động của doanh nghiệp
Lớp: CQ47/11.01
Trang 15Do đó, khi nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn lưu động cũng có nghĩa là góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung của toàn doanh nghiệp, đây là mục tiêu mà các doanh nghiệp đều muốn hướng tới.
Thứ ba: Xuất phát từ yêu cầu hạch toán kinh doanh đầy đủ của doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường đầy cạnh tranh, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải đảm bảo yêu cầu hạch toán kinh doanh: lấy thu bù chi và
có lợi nhuận Để đạt được yêu cầu này, đòi hỏi doanh nghiệp phải bảo toàn được vốn lưu động và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh để có thể khẳng định vị trí của mình trên thị trường
1.2.3 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp, thường dùng các chỉ tiêu sau:
- Tốc độ luân chuyển vốn lưu động.
Việc sử dụng vốn lưu động được biểu hiện ở tốc độ luân chuyển vốn lưu động Tốc độ luân chuyển vốn lưu động nhanh hay chậm phản ánh hiệu quả
sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp cao hay thấp
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động đựơc biểu hiện bằng hai chỉ tiêu: Số lần
luân chuyển và kỳ luân chuyển vốn lưu động.
+ Số lần luân chuyển vốn lưu động (số vòng quay của vốn lưu động).
VlđbqTrong đó: L: Số lần luân chuyển vốn lưu động trong kỳ
M: Tổng mức luân chuyển vốn lưu động ở trong kỳ Hiện nay, tổng mức luân chuyển vốn lưu động trong kỳ được xác định bằng doanh thu thuần bán hàng của doanh nghiệp trong kỳ
Trang 16Vlđbq: Số vốn lưu động bình quân sử dụng ở trong kỳ được xác định bằng phương pháp bình quân số học.
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh số lần luân chuyển vốn lưu động hay số
vòng quay của vốn lưu động thực hiện được trong 1 thời kì nhất định (thường
là một năm) Vốn lưu động quay càng nhiều chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp ngày càng cao
- Kỳ luân chuyển vốn lưu động:
Trong đó: K: Kì luân chuyển vốn lưu động
N: Số ngày trong kì được tính chẵn 1 năm là 360 ngày, 1 quý là
90 ngày, 1 tháng là 30 ngày
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh số ngày bình quân cần thiết để vốn
lưu động thực hiện được một lần luân chuyển hay độ dài 1 vòng quay của vốn lưu động ở trong kì
- Mức tiết kiệm vốn lưu động bình do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động.
Trong đó: Vtk: Số vốn lưu động có thể tiết kiệm (-) hay phải tăng thêm (+)
có ảnh hưởng trong tốc độ luân chuyển Vlđ kì so sánh so với kỳ gốc
M1: Tổng mức luân chuyển Vlđ kì so sánh (kì kế hoặch)
K1, K0: Kì luân chuyển Vlđ kì so sánh, kì gốc
L1, L0: Số lần luân chuyển Vlđ kì so sánh, kì gốc
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh số vốn lưu động có thể tiết kiệm được do
tăng tốc độ luân chuyển ở kì so sánh (kì kế hoặch) so với kì gốc (kì báo cáo)
- Hàm lượng vốn lưu động: là số vốn lưu động đạt 1 đồng doanh thu về
tiêu thụ sản phẩm
Lớp: CQ47/11.01
Trang 17Hàm lượng Vlđ =
VlđbqDTTTrong đó: Vlđbq : như trên
DTT: Doanh thu thuần
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh để có được 1 đồng doanh thu thuần về bán
hàng cần bao nhiêu vốn lưu động
- Tỷ suất lợi nhuận trước thuế và lãi vay trên vốn lưu động:
VlđbqTrong đó: EBIT: Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Vlđbq: Vốn lưu động bình quân
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn lưu động đưa vào hoạt
động sản xuất kih doanh tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay
- Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn lưu động:
Tỷ suất LNTT trên Vlđ = LNTT
VlđbqTrong đó: LNTT: Lợi nhuận trước thuế
Vlđbq: như trên
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh để có được một đồng lợi nhuận sau thuế thì
cần bao nhiêu đồng vốn lưu động
Trang 18- Tốc độ luân chuyển hàng tồn kho:
Tốc độ luân chuyển hàng tồn kho đựơc biểu hiện bằng hai chỉ tiêu: Số lần
luân chuyển và kỳ luân chuyển hàng tồn kho
Stk: Số dư bình quân về hàng tồn kho
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh bình quân trong kỳ nghiên cứu hàng tồn
kho quay được bao nhiêu vòng
+ Kỳ luân chuyển hàng tồn kho:
K tk = 360
SVtkTrong đó: Ktk: Kỳ luân chuyển hàng tồn kho
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh một vòng luân chuyển hàng tồn kho mất
bao nhiêu ngày
- Tốc độ luân chuyển khoản phải thu:
Tốc độ luân chuyển các khoản phải thu ngắn hạn thể hiện ở số vòng quay các khoản phải thu và kỳ thu tiền trung bình
+ Số vòng quay các khoản phải thu:
SptTrong đó: SVpt: Số vòng quay khoản phải thu
Spt: Số dư bình quân khoản phải thu
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh bình quân trong kỳ nghiên cứu các khoản
phải thu ngắn hạn quay bao nhiêu vòng
+ Kỳ thu tiền trung bình:
Lớp: CQ47/11.01
Trang 19Kpt = Spt* 360
DTT
Trong đó: Kpt: Kỳ thu tiền trung bình
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh bình quân trong kỳ nghiên cứu các
khoản phải thu ngắn hạn quay một vòng hết bao nhiêu ngày
1.2.4 Một số nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
1.2.4.1 Các nhân tố khách quan:
- Do chính sách vĩ mô của Nhà nước có sự thay đổi về chính sách chế độ,
hệ thống pháp luật, thuế cũng tác động đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp Tuỳ theo từng thời kỳ, tuỳ theo từng mục tiêu phát triển mà Nhà nước có những chính sách ưu đãi về vốn về thuế và lãi suất tiền vay đối với từng ngành nghề cụ thể, có chính sách khuyến khích đối với ngành nghề này nhưng lại hạn chế ngành nghề khác
- Do ảnh hưởng của môi trường kinh tế vĩ mô như lạm phát có thể dẫn tới
sự mất giá của đồng tiền làm cho vốn của các doanh nghiệp bị mất dần theo tốc độ trượt giá của tiền tệ hay các nhân tố tác động đến cung cầu đối với hàng hóa của doanh nghiệp, nếu nhu cầu hàng hóa giảm xuống sẽ làm cho hàng hóa của doanh nghiệp khó tiêu thụ, tồn đọng gây ứ đọng vốn và hiệu quả
sử dụng vốn lưu động cũng bị giảm xuống
1.2.4.2 Các nhân tố chủ quan.
- Xác định nhu cầu vốn lưu động: do xác định nhu cầu VLĐ thiếu chính xác dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu vốn trong sản xuất kinh doanh, điều này sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
- Việc lựa chọn phương án đầu tư: là một nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp đầu tư sản
Trang 20xuất ra những sản phẩm lao vụ dịch vụ chất lượng cao, mẫu mã phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, đồng thời giá thành hạ thì doanh nghiệp thực hiện được quá trình tiêu thụ nhanh, tăng vòng quay của vốn lưu động, nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ và ngược lại.
- Do trình độ quản lý: trình độ quản lý của doanh nghiệp mà yếu kém sẽ dẫn đến thất thoát vật tư hàng hoá trong quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, dẫn đến sử dụng lãng phí VLĐ, hiệu quả sử dụng vốn thấp
QUẢN LÝ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp, mỗi doanh nghiệp tuỳ vào đặc điểm, ngành nghề, hình thức hoạt động,…để lựa chọn những phương pháp phù hợp với bản thân doanh nghiệp mình Dưới đây, em xin được đề cập đến một số biện pháp cơ bản sau:
Thứ nhất: Xác định nhu cầu vốn lưu động cần thiết một cách chính xác,
đầy đủ, kịp thời cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Thứ hai: Quản lý tốt vốn bằng tiền của doanh nghiệp bằng cách xác định
mức tồn quỹ hợp lý, dự đoán và quản lý chặt chẽ các luồng xuất nhập quỹ tránh gây lãng phí nguồn lực do dự trữ thừa tiền măt hoặc mất khả năng thanh toán
Thứ ba: Quản lý tốt các hoạt động thanh toán của doanh nghiệp.
* Doanh nghiệp phải làm tốt công tác thanh toán nợ, chủ động phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh, chủ động thanh toán tiền hàng, hạn chế tình trạng bán hàng không thu tiền làm vốn bị chiếm dụng, khi cần vốn phải vay từ bên ngoài làm tăng chi phí sử dụng vốn, tăng rủi ro cho doanh nghiệp
* Doanh nghiệp phải thường xuyên theo dõi các khoản phải thu để xác định đúng tình trạng của chúng, nhận diện các khoản phải thu có vấn đề và dự kiến biện pháp xử lý kịp thời
Lớp: CQ47/11.01
Trang 21Thứ tư: Quản lý chặt chẽ vốn tồn kho Quản lý vốn tồn kho để giúp doanh
nghiệp tránh được tình trạng ứ đọng vật tư, hàng hoá, góp phần đẩy nhanh tốc
độ chu chuyển vốn lưu động
* Đồng thời phải tối thiểu hoá chi phí quản lý vốn tồn kho bằng cách: Xác định và lựa chọn nguồn cung cấp hợp lý về giá, chi phí vận chuyển, chất lượng nguồn hàng, lựa chọn phương tiện vận chuyển để tối thiểu hoá chi phí vận chuyển, xếp dỡ
* Thường xuyên theo dõi, dự đoán xu thế biến động của thị trường để có quyết định điều chỉnh kịp thời việc mua sắm, dự trữ vật tư, hàng hoá có lợi cho doanh nghiệp Thường xuyên kiểm tra, phát hiện kịp thời tình trạng vật tư bị ứ đọng, không phù hợp để có biện pháp giải phóng kịp thời nhằm thu hồi vốn
Trang 22CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ SỬ DỤNG VỐN LƯU
ĐỘNG Ở CÔNG TY TÂY HỒ
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY TÂY HỒ.
2.1.1 Quá trình hình thành phát triển của công ty.
- Tên công ty: Công ty Tây Hồ
- Địa điểm: Số 2 – Đường Hoàng Quốc Việt – Phường Nghĩa Tân – Quận Cầu Giấy – Hà Nội
- Tên giao dịch của công ty: Công ty Tây Hồ
- Hình thức pháp lý: Công ty cổ phần
- Vốn điều lệ: 25 tỷ
Quá trình hình thành và phát triển đựơc đánh dấu bằng sự ra đời của trung tâm giao dịch xuất nhập khẩu và dịch vụ - Bộ Quốc Phòng năm 1982 với chức năng chính là thực hiện việc quản lý, giao dịch các hoạt động có liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu trong quân đội với chức năng chính là kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp
Năm 1988, chuyển đổi trung tâm giao dịch xuất nhập khẩu và dịch vụ - Bộ Quốc Phòng thành công ty kinh doanh xuất nhập khẩu và dịch vụ Bộ Quốc Phòng với chức năng kinh doanh chính là kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp.Vào năm 1992, công ty Tây Hồ được hình thành trên cơ sở sát nhập của trung tâm giao dịch xuất nhập khẩu và dịch vụ - BQP vào năm 1982 với chức năng chính là thực hiện việc quản lý, giao dịch các hoạt động liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu trong quân đội và có nhiệm vụ chính là kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp
Ngày 18/04/1996, BQP đã quyết định sát nhập công ty Tây Hồ với công ty xây dựng số 232 để thành lập công ty Tây Hồ
Lớp: CQ47/11.01
Trang 23Ngày 01/07/2005, Bộ trưởng Bộ quốc phòng ra quyết định số BQP thực hiện cổ phần hoá công ty Tây Hồ từ DNNN thành Công ty cổ phần với 51% vốn Nhà nước.
1362/QĐ-Từ 01/01/2008, thực hiện quyết định của Bộ trưởng BQP, Công ty Tây Hồ
- BQP chuyển thành Công ty Cổ phần đầu tư và xây lắp Tây Hồ
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ kinh doanh của công ty Tây Hồ.
Công ty đã xác định 6 chức năng ngành nghề căn cứ vào chức năng ngành nghề đã được Bộ Quốc Phòng và các Bộ chức năng của Nhà nước ra quyết định cấp giấy phép hoạt động trên địa bàn cả nước
- Về chức năng xây lắp
+ Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, quốc phòng
+ Xây dựng các công trình vừa và nhỏ
+ Xậy dựng các trạm và lắp đặt hệ thống cấp thoát nước
- Tư vấn, khảo sát, thiết kế, quy hoạch và xây dựng
- Lắp đặt thiết bị công trình và dây truyền sản xuất
- Sản xuất, kinh doanh vật liệu, vật tư, thiết bị xây dựng, vật tư thanh lý
- Kinh doanh bất động sản (kể cả dịch vụ mua bán nhà)
- Kinh doanh xuất nhập khẩu
2.1.3 Đặc điểm tổ chức quản lý và tổ chức bộ máy kế toán của công
ty Tây Hồ.
2.1.3.1 Đặc điểm tổ chức quản lý của công ty Tây Hồ.
Trang 24HÌNH 2.1: SƠ ĐỒ TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY TÂY HỒ
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
CÁC PHÓ TỔNG GIÁM
ĐỐC
PHÒNG
KẾ HOẠCH
KỸ THUẬT
PHÒNG TÀI CHÍNH KẾ TOÁN
PHÒNG CHÍNH TRỊ TỔ CHỨC
VĂN PHÒNG
CHI
NHÁNH
TÂY HỒ 6
XÍ NGHIỆP XÂY LẮP
497
XÍ NGHIỆP XÂY DỰNG 797
XÍ NGHIỆP XÂY LẮP 897
XÍ NGHIỆP XÂY LẮP 997
CÁC XNXD SỐ 2,5,7,8,9, 10
XÍ NGHIỆP THI CÔNG
CƠ GIỚI
CÁC ĐỘI XÂY DỰNG
XÍ NGHIỆP TƯ VẤN THIẾT KẾ
VÀ KHẢO SÁT XÂY DỰNG
TRUNG TÂM XUẤT NHẬP KHẨU VÀ XÂY DỰNG TÂY HỒ
Chú thích
Điều hành
Chỉ đạo
Trang 25- Bộ phận tài chính: quản lý vốn, tài sản, theo dõi đảm bảo chế độ chính sách.
- Bộ phận kiểm tra kế toán: đối chiếu số liệu giữa các chứng từ kế toán, sổ
kế toán và báo cáo kế toán với nhau
- Bộ phận kế toán tổng hợp: kiểm tra, xử lý chứng từ, lập bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính,…
- Các bộ phận kế toán cụ thể: thực hiện theo các phần hành kế toán cụ thể
đã được phân công
2.1.4 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
2.1.4.1 Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh.
* Tình hình tổ chức nhân sự: Công ty có tổng số cán bộ công nhân viên là
169 người Trong đó, trình độ đại học và kỹ sư chuyên nghiệp: 62 người, chiếm 36,7%; trình độ cao đẳng và trung cấp: 33 người, chiếm 19,5%; trình
độ công nhân nghề: 90 người, chiếm 43,8%
Trang 26* Tổ chức sản xuất: Mô hình tổ chức của công ty gồm các phòng ban và các xí nghiệp thành viên, trong đó các xí nghiệp là bộ phận trực tiếp tham gia sản xuất, được tổ chức thành các tổ, đội, cụ thể như sau:
- Bộ phận sản xuất chính: Có nhiệm vụ là tạo ra sản phẩm chính cho công
ty như công trình xây dựng và công trình giao thông gồm các bộ phận sau:
+ Xí nghiệp xây lắp 497, 597, 797, 997, 897
+ Các đội xây dựng số 1,2,3,5
+ Đội thi công cơ giới
+ Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu
- Bộ phận sản xuất phụ trợ: Có nhiệm vụ là phục vụ kịp thời đáp ứng mọi yêu cầu của các bộ phận sản xuất chính bao gồm các bộ phận như các bộ phận phòng ban bổ trợ cho hoạt động sản xuất
- Bộ phận phục vụ sản xuất: + Hệ thống các kho bãi vật liệu xây dựng
+ Bộ phận vẩn chuyển vật liệu ở công trường + Đội xe cơ giới
2.1.4.2 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất.
Xuất phát từ đặc điểm của ngành sản xuất xây lắp, quá trình xây dựng thường được chia làm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn lại chia thành nhiều phần việc khác nhau Do đó quy trình sản xuất công nghệ sản xuất của công
ty như sau:
Mua vật tư, tổ chức nhân công
Lập kế hoặch thi công
Lớp: CQ47/11.01
Tổ chức thi công
Nghiệm thu bàn giao công trình
Trang 27HÌNH 2.2 SƠ ĐỒ QUI TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT CỦA CÔNG TY.
Do đặc thù ngành xây lắp nên sản phẩm của công ty là sản phẩm chiếc, chu kì sản xuất lâu dài tập trung, cần nhiều nguyên liệu, sản phẩm chỉ bán cho một khách hàng
2.1.5 Tình hình thị trường và đối thủ cạnh tranh của công ty.
2.1.5.1 Tình hình thị trường yếu tố đầu vào.
Vì công ty hoạt động chủ yếu trong ngành xây lắp công trình nên nguồn nguyên liệu chính chủ yếu là vật liệu xây dựng
Nhìn chung về số lượng, thị trường đầu vào của công ty khá ổn định Tuy vậy, hoạt động xây lắp luôn chịu ảnh hưởng của tự nhiên và các yếu tố trên thị trường mà các yếu tố này luôn biến động bất thường dẫn đến chi phí cho hoạt động xây lắp là không ổn định và ngày một tăng
Các nhà cung cấp chính cho công ty: Công ty 789 – Bộ quốc phòng (Bê tông thương phẩm), công ty vật tư kỹ thuật xi măng (xi măng), công ty gang thép Thái Nguyên (Thép)
2.1.5.2 Tình hình thị trường dầu ra và đối thủ cạnh tranh của công ty.
Sản phẩm chủ yếu là các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi Thị trường của công ty là thị truờng trong nước
Đối thủ cạnh tranh của công ty: là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dân dụng công nghiệp, giao thông thuỷ lợi: công ty cầu Thăng Long, công ty xây dựng Sông Đà 909, công ty xây lắp và vật tư xây dựng VI,…
2.1.6 Kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính chủ yếu của công ty Tây Hồ qua hai năm 2011 – 2012.
2.1.6.1 Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của công ty qua hai năm 2011 – 2012.
* Những thuận lợi của công ty trong những năm gần đây.
Trang 28- Công ty có truyền thống 20 năm xây dựng và phát triển, là một đơn vị hoạt động kinh doanh có hiệu quả, có uy tín và được các chủ đầu tư tin tưởng, đánh giá cao Bên cạnh đó công ty được tổng cục công nghiệp Quốc phòng tạo điều kiện cho thắng thầu những công trình có giá trị lớn.
- Công ty có đội ngũ lãnh đạo giỏi chyên môn, nghiệp vụ, giàu kinh nghiệm và sáng tạo trong quản lý Có một đội ngũ công nhân có trình độ nghiệp vụ, năng động, có khả năng tiếp cận thị trường, thành tựu khoa học, đồng thời có tinh thần đoàn kết một lòng, mọi người đều nhiệt huyết và kỷ luật cao trong công việc
- Công ty xây dựng được định hướng phát triển là “Đa dạng hóa ngành nghề, sản phẩm, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh, không ngừng mở rộng
và phát triển kinh doanh” Hiện nay, công ty đã và đang thực hiện một số dự
án có tính chất khả thi cao, giải quyết được tăng trưởng về gía trị sản lượng công nghiệp, giải quyết việc làm cho người lao động
* Những khó khăn của công ty trong thời gian qua.
- Trong giai đoạn kinh tế xã hội hiện nay chỉ số lạm phát tăng cao (tỷ lệ lạm phát năm 2011 lên đến 18,6%), giá cả hàng hóa, xăng dầu, vật liệu xây dựng biến động liên tục, nhà nước có các biện pháp thắt chặt quản lý tiền tệ
đã ảnh hưởng đến nguồn vốn và tiến độ một số công trình của công ty đã và
sẽ thi công
- Việc các ngân hàng đồng loạt tăng lãi suất trong thời gian qua cũng là nhân tố tăng chi phí lãi vay của công ty mà cơ cấu tài sản của công ty Tây Hồ lại nghiêng về nợ phải trả
- Sức ép cạnh tranh từ thị trường xây dựng khá lớn, đó là các công ty hoạt động trong cùng lĩnh vực xây dựng cơ bản, có thời gian hoạt động lâu năm, có khả năng thắng thầu ở những gói thầu lớn như: công ty cầu 7 Thăng Long, công ty xây dựng Sông Đà 909, công ty xây lắp và vật tư xây dựng VI,…
Lớp: CQ47/11.01
Trang 29- Công ty thiếu vốn kinh doanh do sản phẩm của công ty là các công trình xây dựng, để hoàn thành một công trình đòi hỏi một thời gian dài và vốn đầu
tư lớn Trong khi đó, khi tham gia xây dựng các công trình công ty chỉ được ứng trước một phần trên giá trị công trình mà số vốn tự có không đủ Vì vậy, công ty phải vay vốn ngân hàng để thi công Công ty phải gánh chịu nhiều rủi
ro như: tăng chi phí, tăng giá thành, giảm lợi nhuận ở các công trình đã ký kết hợp đồng hoặc đang xây dựng, chưa bàn giao, quyết toán vốn
- Công tác thanh toán tiền hàng của công ty còn yếu kém, các chủ đầu tư chậm thanh toán tiền công trình làm cho các khoản phải thu chiếm tỷ trọng lớn,
số vốn bị chiếm dụng nhiều, tình trạng nợ nần dây dưa vẫn tồn tại Điều này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thanh toán cũng như hiệu quả sử dụng VLĐ
2.1.6.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty qua hai năm (2011 – 2012).
Qua bảng 2.1 ta có thể thấy một cách khái quát về tình hình sản xuất kinh doanh của công ty qua hai năm (2011- 2012) như sau: Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2012 là 268.871.692.255 đồng, giảm 3.637.850.830 đồng tương ứng với tỷ lệ giảm là 1,33% Doanh thu giảm là do giá trị sản lượng thi công năm 2012 giảm xuống so với năm 2011 Đây cũng
là một trong những khó khăn đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp trong thời gian qua
Xét về chi phí giá vốn hàng bán của công ty năm 2012 so với năm 2011 giảm khoảng 4.100.975.323 đồng, tỷ lệ giảm tương ứng là 1,56% Ta thấy tốc
độ giảm của giá vốn hàng bán hai năm qua nhanh hơn tốc độ giảm của doanh thu (chênh lệch là 0,23%), điều này cho thấy công ty đã chú trọng đến việc nâng cao hiệu quả công tác quản trị chi phí giá vốn Chính điều này đã giúp cho lợi nhuận gộp về bán hàng năm 2012 tăng 4,52% so với năm 2011, tăng nhanh hơn cả tốc độ gia tăng của doanh thu
Trang 30Trong khi đó, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty năm 2012 đều tăng lên so với năm 2011 Cụ thể, chi phí quản lý doanh nghiệp năm 2012 là 11.153.526.345 đồng, tăng 32,41% so với năm 2011, chi phí bán hàng tăng 206.192.180 đồng so với năm 2011 tương ứng với tỷ lệ tăng là 100% Điều này cho thấy công ty chưa nỗ lực trong việc tiết giảm chi phí ngoài sản xuất
Về hoạt động tài chính của công ty: Doanh thu hoạt động tài chính năm 2012
là 10.117.286.068 đồng, tăng 92,93% so với năm 2011, chi phí tài chính năm
2012 là 6.574.715.446 đồng, tăng 28,73% so với năm 2011 Như vậy, với việc
mở rộng quy mô đầu tư vào hoạt động tài chính (đầu tư tài chính dài hạn), hoạt động đầu tư tài chính của công ty đã phát huy hiệu quả trong năm 2012
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh và lợi nhuận kế toán trước thuế của công ty năm 2012 đều tăng so với năm 2011, tuy nhiên lợi nhuận sau thuế năm 2012 giảm 145.386.405 đồng tương ứng với tỷ lệ giảm là 2,96% so với năm 2011 Nguyên nhân lợi nhuận sau thuế giảm đó là do năm 2012 chi phí chịu thuế thu nhập doanh nghiệp tăng lên so với năm 2011 (chi phí bất hợp lý
bị loại trừ ra khỏi chi phí chịu thuế thu nhập doanh nghiệp giảm xuống, cụ thể: chi phí bất hợp lý bị loại trừ khi tính thuế năm 2012 là 27.056.832 đồng, năm 2011 là 96.112.823 đồng) đồng thời do năm 2011 công ty được giảm số tiền nộp thuế là176.453.929đồng
Mặc dù hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty năm 2012 vẫn có lãi nhưng hiệu quả đạt được lại thấp hơn so với năm 2011 Điều này được lý giải
sơ bộ là do công tác quản trị chi phí chưa hiệu quả, giá vốn hàng bán còn khá cao, chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí tài chính tương đối lớn Đồng thời thị trường hoạt động xây lắp những năm gần đây hoạt động cũng rất khó khăn khiến cho kết quả kinh doanh đạt được không như mong đợi
Lớp: CQ47/11.01
Trang 31BẢNG 2.1 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY TÂY HỒ QUA HAI NĂM (2011 – 2012).
(Nguồn: Trích từ bảng báo cáo kết quả kinh doanh của công ty năm 2012).
1 Doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ 268.871.692.255 272.509.543.085
(3.637.850.830
) (1,33) 2.Giá vốn hàng bán 258.156.499.741 262.257.475.064 (4.100.975.323) (1,56)
3 Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ 10.715.192.514 10.252.068.021 463.124.493 4,52
4 Doanh thu hoạt động tài chính 10.117.286.068 5.243.978.346 4.873.307.722 92,93
5 Chi phí tài chính 6.574.715.446 5.107.306.633 1.467.408.813 28,73
-7 Chi phí quản lý doanh nghiệp 11.153.526.345 8.423.645.598 2.729.880.747 32,41
8 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh 2.898.044.611 1.965.094.136 932.950.475 47,48
9 Thu nhập khác 2.715.009.335 3.667.683.895 (952.674.560) (25,97)
10 Chi phí khác - 20.000.000 (20.000.000) (100,00)
11 Lợi nhuận khác 2.715.009.335 3.647.683.895 (932.674.560) (25,57)
12 Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 5.613.053.946 5.612.778.031 275.915 0,005
13 Thuế thu nhập doanh nghịêp 844.856.320 699.194.002 145.662.318 20,83
14 Lợi nhuận sau thuế 4.768.197.626 4.913.584.029
(145.386.403
) (2,96)
15 Thu nhập bình quân/người/tháng
Trang 32Mặc dù có những biến động về lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế nhưng trong năm qua công ty vẫn thực hiện chính sách tăng lương, đảm bảo
sự ổn định đời sống của toàn bộ công nhân viên trong công ty…
Tóm lại: Tổng hợp tình hình kinh doanh của công ty Tây Hồ qua hai năm
2012 và 2011 là tương đối tốt, hoạt động kinh doanh có lãi góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho công nhân viên trong công ty, đóng góp vào ngân sách nhà nước Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh của công ty có sự sụt giảm mặc dù công ty đã mở rộng qui mô hoạt động sản xuất kinh doanh Nguyên nhân là do công tác quản trị chi phí của doanh nghiệp trong năm vừa qua chưa hiệu quả Để đánh giá chi tiết ta phải đi sâu phân tích ở phần sau
2.1.6.3 Tình hình tài chính chủ yếu của công ty qua hai năm (2011 – 2012).
Qua bảng 2.2 ta thấy về cơ cấu vốn của công ty trong năm 2012 so với năm
2011 thay đổi theo hướng: giảm tỷ trọng vốn lưu động và tăng tỷ trọng vốn cố định trong tổng vốn kinh doanh của công ty, tuy nhiên sự biến động này không đáng kể, vốn lưu động vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng vốn kinh doanh của công ty
Trong năm 2012 và 2011, kết cấu vốn nghiêng quá nhiều về nguồn vốn nợ (cả hai năm hệ số nợ đều trên 80%) Cơ cấu này năm 2012 so với năm 2011 vẫn theo hướng tăng tỷ trọng vốn nợ và giảm tỷ trọng vốn chủ sở hữu Như vậy, rủi ro tài chính đối với công ty là rất lớn nếu như công ty sử dụng vốn vay không hiệu quả
Cả hai năm lượng tài sản của công ty đều đủ đảm bảo thanh toán các khoản
nợ của mình nhưng có sự sụt giảm và ở mức thấp Cụ thể: cuối năm 2011 một đồng nợ của công ty được đảm bảo bởi 1,141 đồng tài sản; đến cuối năm 2012 con số này là 1,138 đồng tài sản; giảm 0,003 đồng tài sản
Đồng thời khả năng chuyển đổi tài sản ngắn hạn để thanh toán các khoản
nợ ngắn hạn của công ty cũng giảm và ở mức thấp Điều này cho thấy công ty đang gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ ngắn han Cuối năm
Lớp: CQ47/11.01
Trang 332012 khả năng thanh toán nhanh có sự cải thiện đáng kể so với cuối năm
2011, cụ thể: hệ số khả năng thanh toán nhanh cuối năm 2011 là 0,69 nhưng đến thời điểm cuối năm 2012 tăng lên là 0,8 do cuối năm 2012 hàng tồn kho (chi phí sản xuất kinh doanh dở dang) đã giảm xuống so với cuối năm 2011
Hệ số này nhỏ hơn 1 nhưng so với các doanh nghiệp khác cùng ngành thì hệ
số này tương đối tốt (hệ số KNTT nhanh cuối năm 2012 của công ty cổ phần HUD 1 là 0,69; đầu năm 2012 là 0,54) Khả năng thanh toán lãi vay của công
ty năm 2012 là 1,85; giảm 0,25 lần so với năm 2011 Do trong năm 2012 công ty tăng cường vay nợ ngắn hạn để tài trợ cho vốn lưu động đã làm cho chi phí lãi vay của doanh nghiệp tăng lên Mặc dù lợi nhuận trước thuế và lãi vay trong năm 2012 có tăng nhưng tốc độ tăng của lợi nhuận trước thuế và lãi vay thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng của chi phí lãi vay, từ đó đã làm giảm khả năng thanh toán lãi vay của công ty
Ngoài ra, các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của việc sử dụng vốn trong công ty năm qua có sự biến động theo chiều hướng đi xuống Cả vòng quay vốn kinh doanh và vòng quay vốn lưu động của công ty đều giảm so với năm 2011
Khả năng sử dụng nguồn lực của công ty năm 2012 so với năm 2011 nhìn chung chưa tốt: tỷ suất sinh lời của lợi nhuận trước thuế tăng nhưng tỷ suất
Trang 34BẢNG 2.2 MỘT SỐ CHỈ TIÊU TÀI CHÍNH CHỦ YẾU CỦA CÔNG TY TÂY HỒ NĂM 2012.
Các chỉ tiêu tài chính chủ yếu ĐVT Cuối năm 2012 Cuối năm 2011 Chênh lệch
- Hệ số khả năng thanh toán
- Hệ số hoạt động kinh doanh
- Hệ số khả năng sinh lời
Trang 35sinh lời của lợi nhuận sau thuế lại giảm so với năm 2011, khả năng sinh lời của vốn kinh doanh cũng giảm, tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu giảm, điều này chứng tỏ công ty chưa phát huy được hiệu quả của đồng vốn khi đưa nó vào hoạt động kinh doanh.
Tóm lại: Cuối năm 2012 so với cuối năm 2011, các chỉ tiêu tài chính của
công ty có biến động nhưng không nhiều Trong năm 2012 công ty đã tăng tỷ trọng đầu tư vào các khoản đầu tư tài chính dài hạn nhưng lại không chú trọng đầu tư vào tài sản cố định, cơ cấu nguồn vốn thể hiện mức độ nợ rất cao, khả năng thanh toán cũng như khả năng sinh lời của đồng vốn còn ở mức thấp và
có sự sụt giảm
2.2 TÌNH HÌNH TỔ CHỨC VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÔNG TY TÂY HỒ.
2.2.1 Vốn lưu động và nguồn hình thành vốn lưu động tại công ty Tây Hồ.
2.2.1.1 Cơ cấu và sự biến động vốn lưu động của công ty Tây Hồ năm 2012.
Theo bảng 2.3, tổng vốn lưu động của công ty tại thời điểm cuối năm 2012 là
ứng với tỷ lệ tăng là 4,53% Tổng vốn lưu động tăng chủ yếu là do các khoản phải thu tăng 9,15%; tiền và các khoản tương đương tiền tăng 202,15%; tài sản ngắn hạn khác tăng 25,43% trong khi đó hàng tồn kho giảm 24,11%
* Xét về sự biến động:
- Tiền và các khoản tương đương tiền: Cuối năm 2012 là 25.796.021.642
202,15% do công ty được chủ đầu tư thanh toán đối với những công trình, hạng mục công trình đã được nghiệm thu và bàn giao
- Các khoản phải thu: Cuối năm 2012 là 148.764.583.933 đồng, tăng 12.469.365.322 đồng so với đầu năm 2012, tỷ lệ tăng tương ứng là 9,15%
Trang 36Nguyên nhân chủ yếu là do các khoản phải thu khách hàng tăng lên, công ty chưa thu hồi được tiền công trình từ phía các chủ đầu tư Như vậy, lượng vốn
bị chiếm dụng của công ty cuối năm 2012 so với đầu năm 2012 tăng lên đáng
kể và ở mức khá cao
đồng, tỷ lệ giảm là 24,11% Điều này cho thấy công ty đã đẩy nhanh được tốc độ thi công, nhiều hạng mục công trình đã được hoàn thành, nghiệm thu
và bàn giao cho chủ đầu tư
- Tài sản ngắn hạn khác: Cuối năm 2012 là 12.355.793.949 đồng, tăng 2.505.144.720 đồng so với đầu năm 2012, với tỷ lệ tăng tương ứng là 25,43%
* Xét về tỷ trọng: Vốn lưu động biến động theo hướng tăng tỷ trọng các
khoản phải thu; tiền và tương đương tiền; tài sản ngắn hạn khác; đồng thời giảm tỷ trọng hàng tồn kho Cụ thể là: các khoản phải thu là khoản mục chiếm
tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn lưu động của công ty, có sự biến động tăng tỷ trọng, đầu năm 2012 là 56,14% đến cuối năm 2012 tăng lên là 58,62% trong
đó phải thu khách hàng chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng các khoản phải thu (cuối năm 2012 là 65,03%; đầu năm 2012 là 61,24%) Khoản mục hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn thứ hai lại biến động giảm, đầu năm là 36,29% đến cuối năm là 26,21%
Lớp: CQ47/11.01
Trang 37Chỉ tiêu Cuối năm 2012 Đầu năm 2012 Chênh lệch
Số tiền (đ) Tỷ trọng (%) Số tiền (đ) Tỷ trọng (%) Số tiền (đ) Tỷ trọng (%) Tỷ lệ (%)
5 Các khoản phải thu khác 20.768.432 0,01 7.026.454.541 5,16 (7.005.686.109) (5,14) (99,70)
6 Dự phòng các khoản phải thu khó đòi (3.768.297.152) (2,53) (2.482.159.832) (1,82) (1.286.137.320) (0,71) 51,82
Trang 382.2.1.2 Nguốn vốn lưu động của công ty Tây Hồ.
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn và tổ chức nguồn vốn lưu động đồng thời đánh giá tính hợp lý trong mô hình tài trợ vốn lưu động của công ty ta đi vào nghiên cứu nguồn vốn lưu động và sự tài trợ vốn lưu động của công ty Tây Hồ trong năm 2012 vừa qua
Phần nguồn vốn thường xuyên tài trợ cho tài sản lưu động được gọi là nguồn vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp
Trang 39BẢNG 2.4 CƠ CẤU NGUỒN VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÔNG TY NĂM 2012.
Số tiền (đồng)
Tỷ trọng (%)
Số tiền (đồng)
Tỷ trọng (%)
Số tiền (đồng)
Tỷ trọng (%)
Tỷ
lệ (%)
1 Nguồn vốn lưu động tạm thời 233.876.726.196 92,16 223.280.841.470 91,97 10.595.884.726 0,19 4,75
2 Nguồn vốn lưu động thường xuyên 19.898.975.536 7,84 19.501.926.444 8,03 397.049.092 (0,19) 2,04
Trang 40* Xét về sự biến động:
Nguồn vốn lưu động cuối năm 2012 so với cuối năm 2011 tăng 10.992.933.818 đồng, tỷ lệ tăng tương ứng là 4,53% Nguyên nhân là do cả nguồn vốn lưu động tạm thời và nguồn vốn lưu động thường xuyên đều tăng
Cụ thể: nguồn vốn lưu động thường xuyên cuối năm 2012 so với đầu năm
2012 tăng 397.049.092 đồng, tỷ lệ tăng tương ứng là 2,04% Nguồn vốn lưu động tạm thời cuối năm 2012 so với đầu năm 2012 tăng 10.595.884.726 đồng,
2.2.1.2.1 Sự biến động nguồn vốn lưu động thường xuyên của công ty
Qua bảng số liệu 2.3, nguồn vốn lưu động thường xuyên của công ty ở cả thời điểm cuối năm 2012 và đầu năm 2012 đều dương, cụ thể: đầu năm 2012
là 19.501.926.444 đồng, cuối năm 2012 là 19.898.975.536 đồng Như vậy, mô hình tài trợ vốn lưu động của công ty đảm bảo nguyên tắc cân bằng tài chính, công ty đã dùng một phần nguồn vốn dài hạn để đầu tư cho tài sản ngắn hạn, đảm bảo khả năng thanh toán trong ngắn hạn, đem lại sự an toàn, ổn định đối với hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp
Nguồn vốn lưu động thường xuyên cuối năm 2012 tăng 397.049.092 đồng
so với đầu năm 2012 tương ứng với tỷ lệ tăng là 2,04% Nguyên nhân là do
Lớp: CQ47/11.01