1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ: Công nghiệp tỉnh Hà Nam 1997 2013

107 277 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 198,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề: Với mục tiêu thực hiện thắng lợi công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vấn đề phát triển công nghiệp đang được đặc biệt chú trọng ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương thì đây cũng là mối quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu. Vì vậy có rất nhiều công trình nghiên cứu đã nói đến công nghiệp nói chung và công nghiệp Hà Nam nói riêng trong thời kì đổi mới. Tiêu biểu trong số đó là các cuốn sách: Cuốn Công nghiệp Việt Nam 1945 2000, của tác giả Phạm Viết Muôn, NXB Thống kê, 1997. Cuốn sách đã khái quát các chặng đường phát triển của ngành công nghiệp từ năm 1945 đến năm 1995 và phương hướng, mục tiêu của ngành đến năm 2000 cũng được đề cập đến. Cuốn Chính sách phát triển kinh tế công nghiệp Việt Nam trong quá trình đổi mới, của tác giả Võ Đại Lược, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1987. Cuốn sách đã nêu cụ thể những chính sách phát triển đối với ngành công nghiệp cả nước trong thời kỳ đổi mới. Cuốn 60 năm công nghiệp Việt Nam, NXB Lao động xã hội, Hà Nội, 2005. Cuốn sách đã khái quát tình hình phát triển của ngành công nghiệp qua từng giai đoạn, từng thời kỳ. Bên cạnh đó, những nhân tố mới của ngành trong thời kỳ đổi mới và các ngành kinh tế, kỹ thuật và các cơ sở công nghiệp cũng được đề cập đến

Trang 1

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:

Trong nền kinh tế quốc dân, công nghiệp là ngành sản xuất giữ vai trò rất quan trọng Ngành công nghiệp sản xuất ra một khối lượng sản phẩm khổng lồ phục vụ cho đời sống xã hội Công nghiệp không những cung cấp hầu hết các tư liệu sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho tất cả các ngành kinh tế mà còn tạo ra các sản phẩm tiêu dùng có giá trị, góp phần phát triển nền kinh tế và nâng cao trình độ văn minh của toàn xã hội Công nghiệp còn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác như nông nghiệp, giao thông vận tải, thương mại, dịch vụ và củng cố an ninh quốc phòng Không một ngành kinh tế nào lại không sử dụng các sản phẩm của công nghiệp Vì vậy, để đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo và lạc hậu, đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam thì phát triển công nghiệp là tất yếu Phát triển công nghiệp được coi là điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Nhận thức rõ vai trò to lớn của công nghiệp đối với sự phát triển kinh

tế - xã hội của đất nước, trong đường lối đổi mới của Đảng đã đề cập đến vấn

đề phatsb triển công nghiệp Trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã nêu rõ: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đưa đất nước ta trở thành một nước công nghiệp Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng từ năm 1986 đến nay nền kinh tế nước ta có bước phát triển rõ rệt đã dạt được nhiều thành tựu to lớn đưa nước ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế- xã hội, hội nhập với nền kinh tế quốc tế và khu vực

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của đất nước trên con đường đổi mới,

từ xưa đến nay nhân dân Hà Nam không chỉ được biết đến là vùng đất giàu truyền thống đấu tranh, và giàu truyền thống hiếu học mà ngày nay Hà Nam còn được biết đến như một điểm sang về phát triển kinh tế nhất là kinh tế công nghiệp Hà Nam đang có sự chuyển mình mạnh mẽ với những bước đi trên con

Trang 2

đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên sự phát triển công nghiệp của

Hà Nam mới chỉ là bước đầu, còn có rất nhiều tiềm năng để khai thác

Khi tìm hiểu về sự phát triển của công nghiệp Hà Nam với mong muốn

là một người con của quê hương em muốn tìm hiểu thêm về lịch sử của quê hương,đồng thời làm sáng tỏ một đường lối đổi mới của Đảng với chính sách phát triển công nghiệp và vận dụng vào hoàn cảnh thực tế

Khi tìm hiểu về sự phát triển của công nghiệp Hà Nam từ 1997-2013 cũng chính là cách thức rèn luyện phương pháp nghiên cứu lịch sử địa phương nói riêng từ đó góp phần làm giàu thêm nguồn tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu lịch sử địa phương mình

Chính vì những lý do trên tôi chọn vấn đề “ Công nghiệp tỉnh Hà Nam 1997- 2013” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Với mục tiêu thực hiện thắng lợi công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vấn đề phát triển công nghiệp đang được đặc biệt chú trọng ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương thì đây cũng là mối quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu Vì vậy có rất nhiều công trình nghiên cứu đã nói đến công nghiệp nói chung và công nghiệp Hà Nam nói riêng trong thời kì đổi mới Tiêu biểu trong số đó là các cuốn sách:

Cuốn "Công nghiệp Việt Nam 1945 - 2000", của tác giả Phạm Viết Muôn,

NXB Thống kê, 1997 Cuốn sách đã khái quát các chặng đường phát triển của ngành công nghiệp từ năm 1945 đến năm 1995 và phương hướng, mục tiêu của ngành đến năm 2000 cũng được đề cập đến.

Cuốn "Chính sách phát triển kinh tế công nghiệp Việt Nam trong quá trình đổi mới", của tác giả Võ Đại Lược, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1987 Cuốn

sách đã nêu cụ thể những chính sách phát triển đối với ngành công nghiệp cả nước trong thời kỳ đổi mới.

Trang 3

Cuốn "60 năm công nghiệp Việt Nam, NXB Lao động xã hội, Hà Nội, 2005

Cuốn sách đã khái quát tình hình phát triển của ngành công nghiệp qua từng giai đoạn, từng thời kỳ Bên cạnh đó, những nhân tố mới của ngành trong thời kỳ đổi mới và các ngành kinh tế, kỹ thuật và các cơ sở công nghiệp cũng được đề cập đến.

Trong “Niên giám thống kê 2004” – NXB Thống kê Hà Nội 2005 đa đưa ra các chỉ số phát triển của công nghiệp Hà Nam về cơ cấu giá trị công nghiệp của Hà Nam so với cả nước, cơ cẩu giá trị sản xuất công nghiệp phân theo ngành, theo thành phần kinh tế Những số liệu thống kê này chỉ dừng lại

ở việcđưa ra các số liệu thể hiện sự phát triển của công nghiệp

Cuốn "Công nghiệp Việt Nam 20 năm đổi mới và phát triển", NXB Thống

kê, 2006 đã dựng lại bức tranh về quá trình phát triển công nghiệp cả nước thời kỳ

1985 - 2005 Những thành tựu, hạn chế của ngành công nghiệp từ năm 1985 đến

2006 và những yếu tố tạo điều kiện cho ngành phát triển, nguyên nhân của những hạn chế cũng được đề cấp đến Ngoài ra, các số liệu về sự phát triển ngành công nghiệp từ 1985 - 2005 cũng được phản ánh đầy đủ.

Mặc dù không trực tiếp viết về công nghiệp tỉnh Hà Nam nhưng những cuốn sách trên đã giúp tác giả có cơ sở lý luận để thực hiện nhiệm vụ của luận văn.

Dưới góc độ địa phương Hà Nam, đã có một số công trình nghiên cứu

đề cập đến sự phát triển công nghiệp của tỉnh trong thời kỳ đổi mới

sự phát triển ngành công nghiệp cũng được phản ánh khá sinh động.

Ngoài ra còn có các bài báo đăng trên báo Hà Nam đề cập đến những vấn đề phát triển của nền công nghiệp Hà Nam trong thời gian 1997-2013

Trang 4

Có thể thấy, những tác phẩm trên đã đề cập đến các mặt khác nhau về tình hình phát triển công nghiệp tỉnh Hà Nam trong thời kỳ đổi mới Nhưng những tác phẩm trên mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả ở từng mặt, ở từng thời gian khác nhau Việc nghiên cứu một cách tổng thể và hệ thống về quá trình phát triển công nghiệp của tỉnh Hà Nam từ 1997 đến 2013 thì chưa có công trình lịch sử chuyên biệt nào tập trung nghiên cứu Chính vì vậy, mà tôi chọn đề tài này để nghiên cứu và các công trình trên đã cung cấp nguồn tư liệu quan trọng, phong phú

và gợi ý phương hướng để tôi nghiên cứu đề tài này.

3 Mục tiêu, nhiệm vụ đề tài

* Mục tiêu: Tìm hiểu tình hình phát triển công nghiệp của tỉnh Hà Nam

trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa để làm sáng rõ hơn quá trình công nghiệp hóa của cả nước nói chung và của địa phương nói riêng

4 Đối tượng, phạm vi đề tài, nguồn tài liệu

* Đối tượng: Đề tài tập trung tìm hiểu các ngành, các cơ sở công

nghiệp của tỉnh Hà Nam từ năm 1997 đến năm 2013

Trang 5

5 Nguồn tài liệu và Phương pháp nghiên cứu

* Nguồn tài liệu:

- Tài liệu lưu trữ của tỉnh (Niên giám thống kê, Báo cáo hàng năm của UBND và các sở ban ngành)

- Các văn kiện của Đảng và Nhà nước, các Văn kiện Đại hội đại biểu tỉnh Hà Nam

- Các sách báo chuyên khảo … có liên quan

Ngoài ra đề tài còn sử dụng các tài liệu điều tra thực địa, điền dã

* Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng 2 phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgic

Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương pháp bổ trợ khác như: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh nhằm đảm bảo tính khách quan, khoa học của các nội dung nghiên cứu

6 Đóng góp của luận văn.

Khi nghiên cứu đề tài “Công nghiệp Hà Nam 1997-2013” khóa luận đã

hệ thổng hóa những chủ trương, chính sách phát triển công nghiệp của Hà Nam trong thời kì đổi mới Đồng thời luận văn cũng đã dựng lại bức tranh về tình hình phát triên công nghiệp Hà Nam từ khi tái lập tỉnh đến năm 2013 Thông qua đó luận văn đã rút ra những bài học kinh nghiệm đề xuất những giải pháp pháp triển công nghiệp của địa phương trong thời gian tới Khóa luận còn là nguồn tài liệu nghiên cứu cho nhiều công trình có liên quan

Ngoài ra, luận văn còn cung cấp nguồn tư liệu hoàn chỉnh, hệ thống về tình hình phát triển công nghiệp cho các nhà nghiên cứu về Hà Nam

7 Bố cục của luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, phần nội dung được chia làm 3 chương sau.

Trang 6

Chương 1: Các điều kiện tác động đền sự phát triển công nghiệp của tỉnh Hà Nam

Chương 2: Tình hình công nghiệp tỉnh Hà Nam trong thời kì 1997 -2013Chương 3: Tác động của sự phát triển công nghiệp đến tình hình kinh tế- xã hội tỉnh Hà Nam thời kì 1997- 2013

CHƯƠNG I:

CÁC ĐIỀU KIỆN TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGhIỆP

TỈNH HÀ NAM THỜI KÌ 1997- 2013

1 1 Điều kiện tự nhiên.

1.1 Vị trí địa lý

Hà Nam là tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa các tỉnh phía Bắc với các tỉnh phía Nam, nằm trong tọa độ địa lý

20021,- 21o45, độ vĩ Bắc đến 105o45,- 106o10, tiếp giáp với thủ đô Hà Nội về phía Bắc; phía Đông giáp với tỉnh Hưng Yên, Thái Bình; phía Nam giáp với Nam Định; phía Tây Nam giáp với Ninh Bình; phía Tây giáp với Hòa Bình Hà Nam có diện tích đất tự nhiên 860.115 km2 (chiếm 0,25% diện tích đất cả nước, 4,08% diện tích ĐBSH, và xếp thứ 62/63 tỉnh thành phố trong cả nước); gồm 6 đơn vị hành chính cấp huyện là thành phố Phủ Lý, huyện Duy Tiên, Thanh Liêm, Kim Bảng, Lý Nhân, Bình Lục, và 116 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 6 xã phường, 7 thị trấn và 103 xã

Hà Nam là “cửa ngõ của thủ đô” cách Hà Nội khoảng 60km về phía Nam, nằm trên các tuyến đường giao thông huyết mạch của cả nước như đường bộ, đường sắt, đường thủy

Đường bộ: Hà Nam có 5050,8km đường bộ, trong đó QL 120 km gồm

các đường quan trọng như QL 1A chạy dọc tỉnh nối Hà Nam với Hà Nội ở các tỉnh phía Bắc với Ninh Bình ở phía Nam, QL 21A chạy ngang tỉnh nối với Hòa Bình ở phía Tây nối với Nam Định ở phía Nam, QL 21B đi Mỹ Đức- Hà Nội, đường 971 và QL38 đi ra phía Đông (sông Hồng) ranh giới với các tỉnh

Trang 7

Hưng Yên Đặc biệt trên đường 38 vừa qua đã xây xong cầu Yêu Lệnh, thông

xe nối liền Hà Nam vời Hưng Yên qua sông Hồng có tác dụng lớn rút ngắn đoạn đường vận chuyển giảm lượng xe không cần qua Hà Nội trong lưu thông đường bộ từ các tỉnh phía Đông như Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Ninh, Hải Phòng….với các tỉnh phía Nam đồng bằng Bắc Bộ như Nam Định, Ninh Bình…và theo chiều ngược lại

Hệ thống đường tỉnh (tính cả đường nội thị) của Hà Nam cũng khá phát triển Tổng chiều dài của mạng đường tỉnh là 312km với 35 tuyến, trong đó tỉnh quản lý 7 tuyến còn lại ủy thác cho các huyện quản lý Các đường tỉnh đều đạt tiêu chuẩn đường cấp V hoặc cấp IV đồng bằng Không những thế Hà Nam còn được đánh giá là một trong những tỉnh có hệ thống giao thông nông thôn hiện đại và đồng bộ Tính đến thời điểm hiện nay mạng lưới giao thông nông thôn có tổng chiều dài 4519 km, trong đó đường huyện:192 km, đường xã và liên xã: 666 km, đường thôn xóm đường ra đồng: 3661 km Toàn bộ các tuyến đường này đều được rải nhựa hoặc đổ bê tông, mặt đường tương đối rộng, bằng phẳng, đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân trong tỉnh

Đường sắt: có đường sắt Bắc Nam dài 30km và 10km đường chuyên

dùng Có 3 ga chính: ga Đồng Văn, ga Phủ Lý, ga Bình Lục và các ga đều nằm ở trung tâm thành phố, thị trấn nền rất thuận tiện cho vận chuyển hàng hóa và nhân dân đến các tỉnh trong cả nước Đường sắt chuyên dùng (Phủ Lý- Kiện Khê) đi và khu sản xuất VLXD phục vụ trực tiếp việc cung cấp nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm đá, xi măng, vôi, bột nhẹ…

Đường sông: trên địa bàn Hà Nam có 2 sông lớn do trung ương quản lý

là sông Hồng và sông Đáy, ngoài ra còn có các sông khác

Sông Hồng dài khoảng 35km nằm ở phía Bắc và Đông Bắc của tỉnh chảy qua 2 huyện Duy Tiên và Lý Nhân rất thuận lợi cho vận tải đường thủy

Sông Đáy nằm ở phía Tây của tỉnh có chiều dài 40km chảy qua 2 huyện Kim Bảng và Thanh Liêm Hiện nay đoạn sông Đáy qua Hà Nam chưa được nạo vét Đoạn từ Phủ Lý đến xã Thanh Hải huyện Thanh Liêm vẫn đảm bảo cho tàu có trọng tải 200- 300 tấn đi lại thuận tiện

Trang 8

Sông Châu: dài 50km, rộng trung bình 30-40 m từ Phủ Lý chảy qua các huyện Duy Tiên, Thanh Liêm, Bình Lục, Lý Nhân Hiện nay tỉnh đang thực hiện dự án Tắc Giang nhằm khai thông sông Châu với sông Hồng để lấy nước từ sông Hồng về sông Châu, sông Đáy phục vụ cho tưới đồng ruộng Hà Nam, Ninh Bình Đồng thời mở thông tuyến vận tải đường sông từ Hà Nam qua sông Hồng đến với các tỉnh đồng bằng sông Hồng và cả nước.

Sông Nhuệ: dài 18km, rộng trung bình 60m, sâu 2m chảy qua huyện Kim Bảng, Duy Tiên hiện đang bị ô nhiễm nặng do nước thải từ Hà Nội đổ về Hiện nay Chính phủ các địa phương Hà Nội và Hà Nam đang quan tâm xử lý ô nhiễm môi trường khu vực này

Sông Sắt dài 17km, rộng trung bình 45m, sâu khoảng 1m có nhiệm vụ chủ yếu dẫn nước tưới cho huyện Bình Lục

Hiện tại việc đầu tư cải tạo trên địa bàn tỉnh mới chỉ dừng ở công tác quản lý chống lần chiếm, chống sạt lở Các điều kiện tĩnh về luồng lạch rất thuận lợi cho hoạt động vận tải nhưng chưa được khai thác hữu hiệu do trên các tuyến có 3 đập ngăn nước, 10 cống thủy lợi, 6 cầu tạm các loại Như vậy hệ thống sông ngòi của Hà Nam còn nhiều tiềm năng chưa khai thác triệt để, nếu được khai thác tốt đây sẽ đem lại nhiều thuận lợi cho Hà Nam phát triển kinh tế của mình

Hà Nam nằm gần các nguồn năng lượng lớn của quốc gia ở miền Bắc như gần vùng than Quảng Ninh với trữ lượng lớn, gần thủy điện Hòa Bình Hà Nam được đáp ứng thỏa mãn nhu cầu về than và điện cho sản xuất công nghiệp

Hơn nữa, Hà Nam cũng nằm gần địa bàn kinh tế trọng điểm phía Bắc với tuyến hành lang Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Điều này, cũng tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển công nghiệp của địa phương

Có thể nói, với vị trí địa lý thuận lợi và hệ thống giao thông đường sắt, đường bộ, đường sông phân bố hợp lý, cùng với quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế tạo điều kiện cho Hà Nam phát triển kinh tế và ngành công nghiệp

Trang 9

1.1.2 Địa hình, đất đai

* Về địa hình

Do vị trí địa lý nằm ở rìa phía châu thổ Đồng bằng sông Hồng - nơi có

sự đan xen giữa đồng bằng với núi đồi thuộc phức hệ Tây Bắc nước ta nên Hà Nam có địa hình rất đa dạng và phức tạp, vừa có đồi núi và nửa đồi núi, vừa

có đồng bằng, vừa có vùng trũng Có thể chia địa hình theo 2 vùng chính:

- Địa hình đồi núi: nằm ở phía Tây và Tây Nam của tỉnh thuộc 2

huyện Thanh Liêm và Kim Bảng chiếm 20% diện tích toàn tỉnh, có độ cao tuyệt đối 378m, là vùng tập trung nhiều khoáng sản đá vôi, than bùn….đây là tiềm năng lớn cho phát triển công nghiệp của tỉnh đặc biệt là công nghiệp vật liệu xây dựng

- Vùng đồng bằng : chiếm 71,1% diện tích tự nhiên, độ cao trung bình

0,9-1,2m so với mặt nước biển Đất ở vùng này chủ yếu là đất phù sa được bồi và không được bồi, tập trung một phần huyện Thanh Liêm và Kim Bảng, còn lại chủ yếu ở Thành phố Phủ Lý, huyện Lý Nhân, Duy Tiên, Bình Lục Tiềm năng phát triển của vùng là nông nghiệp: Trồng lúa, rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày Đây chính là nguồn nguyên liệu dồi dào cung cấp cho ngành công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm Đặc biệt với địa hình bằng phẳng như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dưng các khu công nghiệp và cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh

* Về đất đai

Bảng 1.1: Hiện trạng sử dụng đất năm 2013

Tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó 85.169 100

Trang 10

Qua bảng số liệu ta thấy tổng quỹ đất tự nhiên của tỉnh tính đến năm

2012 là 85.169 ha, đứng thứ 7 về diện tích tự nhiên trong 11 tỉnh, thành phố thuộc khu vực Đồng bằng sông Hồng Trong đó, tổng quỹ đất dùng cho sản xuất (bao gồm đất nông nghiệp và lâm nghiệp) chiếm đa số,trên 70% diện tích

tự nhiên Chỉ tính riêng đất nông nghiệp chiếm tới 60,9%, hơn một nửa tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh Với tiềm năng đất đai như vậy sẽ tạo điều kiện cho Hà Nam phát triển kinh tế nông nghiệp cho nông nông nghiệp nhiều, cung cấp nguồn nguyên liệu dồi dào cho công nghiệp chế biến của ngành công nghiệp Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có 7.214 ha đất chưa sử dụng, chiếm 8,4% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Đây cũng là tiềm năng có thể khai thác sử dụng để phục vụ cho phát triển sản xuất công nghiệp

Như vậy với nguồn tài nguyên đất đai đa dạng và phong phú như vậy, tỉnh Hà Nam có điều kiện để phát triển một nền nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa, sẽ cung cấp nguồn nguyên liệu phong phú cho công nghiệp Ngoài

ra với diện tích đất chưa sử dụng còn khá lớn ta có thể khai thác vào việc xây dựng các nhà máy xí nghiệp, xây dựng các cơ sở công nghiệp trong toàn tỉnh

1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên

* Tài nguyên rừng

Theo thống kê năm 2010 tiềm năng đất lâm nghiệp ở Hà Nam là 8.769

ha chiếm 10,3 % diện tích đất tự nhiên và tập trung chủ yếu ở hai huyện Kim Bảng và Thanh Liêm Trong đó diện tích rừng tự nhiên là 6.917 ha và rừng trồng là 1.852 ha Tài nguyên rừng của tỉnh có giá trị không lớn nhưng đây cũng là nguồn nguyên liệu quan trọng cung cấp một phần nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến gỗ của tỉnh Hà Nam

* Tài nguyên nước

Tài nguyên nước trong tỉnh khá dồi dào và đa dạng bao gồm nước mặt

và nước ngầm trong đó:

Nguồn nước mặt: Hà Nam nằm trong vùng mưa lớn, lượng mưa trung bình hàng năm 2.138 mm3 (nguồn niêm giám thống kê năm 2011) (nguồn

Trang 11

22,tr 7 ) Hà Nam có nguồn nước mặt dồi dào từ các song và một số hồ ao có thể thỏa mãn về nước cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt Song hiện nay nguồn nước đang bị ô nhiễm nên đã ảnh hưởng không tốt đến việc cung cấp nguồn nước của các nhà máy sản xuất nước sạch và tưới tiêu cho đồng ruộng.

Nguồn nước ngầm của Hà Nam qua các tài liệu khảo sát của Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường Sở nông nghiệp thì bị nhiễm ASEN nên việc khai thác và sử dụng rất hạn chế

* Tài nguyên khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản của tỉnh Hà Nam không phong phú và không có nhiều chủng loại, chủ yếu là phi khoáng phục vụ cho ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng như:

- Đá vôi: Theo dự án điều chỉnh Quy hoạch phát triển VLXD tỉnh Hà

Nam đến năm 2020 tổng trữ lượng đá vôi khoảng 7,4 tỷ m3 trong đó nguồn đá vôi có chất lượng cho sản xuất xi măng khoảng gần 1 tỷ tấn cho phép xây dựng các nhà máy xi măng công xuất lớn Ngoài ra còn có đá vôi cho sản xuất hóa chất, vật liệu xây dựng….Các mỏ đá vôi tập trung chủ yếu là: mỏ đá vôi xi măng Bút Phong, Hồng Sơn (Kim Bảng); mỏ đá vôi Đồng

Ao, Thanh Tân, Thanh Nghị (Thanh Liêm); mỏ đá vôi hóa chất ở Kiện Khê, Thanh Nghị (Thanh Liêm), Thanh Sơn (Kim Bảng); mỏ Đô lômit ở Bút Sơn (Kim Bảng)…

Đá vôi của Hà Nam có chất lượng tốt lại dễ khai thác, giao thông đi lại thuận lợi…làm cho chi phí khai thác, chế biến thấp tạo lợi thế tuyệt đối với các tỉnh lân cận

- Đất sét: Tổng trữ lương đất sét ở Hà Nam khoảng 400 triệu tấn, trong

đó đất sét chuyên làm nguyên liệu sản xuất xi măng khoảng 331 triệu tấn có hàm lượng Al203 từ 7,4 đến 18,6 % Các mỏ sét phục vụ xi măng tập trung chủ yếu ở các huyện Thanh Liêm, Kim Bảng Ngoài ra Hà Nam có nguồn đất sản xuất gạch, ngói rất phong phú dọc song Hồng qua 2 huyện Duy Tiên và

Trang 12

Lý Nhân cho phép xây dựng các lò sản xuất gạch tuynel lớn Hàng năm sản xuất trên 350 triệu viên phục vụ xây dựng của nhân dân trong và ngoài tỉnh.

- Cát san lấp và xây dựng: Hà Nam có nguồn cát đen tập trung chủ yếu

ở ven sông Hồng, sông Đáy thuộc các huyện Duy Tiên, Lý Nhân, Kim Bảng, Thanh Liêm và thành phố Phủ Lý cung cấp cho thị trường hàng trăm nghìn

m3/năm Tuy nhiên chỉ có nguồn cát ở ven sông Hồng có thể khai thác thường xuyên và có trữ lượng lớn, còn nguồn cát ở sông Đáy nếu khai thác nhiều sẽ ảnh hưởng đến môi trường Hiện nay tỉnh quản lý và nghiêm cấm khai thác cát trên sông Đáy

- Than bùn: các mỏ than bùn có trữ lượng trên 6 triệu m3 ở Ba Sao và hồ Liên Sơn (Kim Bảng) Mỏ than bùn Ba Sao dài khoảng 2km, rộng 1-2km, chỗ dày nhất lên tới 1,5m Mỏ than hồ Liên Sơn có chiều dài 800-900m, rộng 200- 300m, dày gần 2m có trữ lượng khoảng 7,296 triệu tấn

- Cát kết: mỏ cát kết Khe Non huyện Thanh Liêm được khai thác sử

dụng làm phụ gia cho sản xuất xi măng ở Hà Nam, trữ lượng khoảng 19,22 triệu tấn

*Tài nguyên du lịch

Hà Nam có một số danh lam thắng cảnh du lịch như: Núi Cấm, ngũ động thi sơn, hồ Tam Chúc ở huyện Kim Bảng, Kẽm Trống ở huyện Thanh Liêm, núi Đọi Sơn ở huyện Duy Tiên, hang Luồn, hang Dơi, động Vông, khu Bát cảnh Tiên…

Về di tích lịch sử văn hóa : Hà Nam có nhiều tên đất tên làng và danh nhân nổi tiếng như nơi thờ Lý Thường Kiệt- vị anh hùng dân tộc thời Lý; đền Trần Thương ở huyện Lý Nhân thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn; từ đường thờ Nguyễn Khuyến ở xã Trung Lương huyện Bình Lục, lễ hội Long Đọi Sơn ở Duy Tiên, tượng đài 10 cô gái dân quân Lam Hạ thành phố Phủ Lý, tượng đài các anh hùng liệt sĩ Chanh Chè xã Thanh Tâm huyện Thanh Liêm…

Trang 13

Hiện nay Hà Nam đang kêu gọi đầu tư xây dựng khu du lịch sinh thái Tam Chúc- Ba Sao rộng 2042 ha với hồ Tam Chúc rộng 750 ha thành khu du lịch cấp vùng có thể liên kết tạo thành tour du lịch Tam Chúc- Hương Sơn- Bái Đính để đáp ứng nhu cầu trong và ngoài tỉnh tạo sự đột phá trong lĩnh vực

du lịch- dịch vụ

1.2 Điều kiện dân cư, xã hội

Hà Nam là vùng đất có truyền thống văn hóa lâu đời Cư dân Hà Nam sống chủ yếu bằng nghề nông, ngoài trồng lúa, nhân dân còn trồng nhiều loại cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả, cây lấy gỗ, cây công nghiệp Bên cạnh đó, Hà Nam vốn là vùng đất có nhiều nghề thủ công mỹ nghệ nổi tiếng như: nghề dệt ở Nha Xá (Duy Tiên) là làng nghề truyền thống về dệt vải, lụa

tơ tằm, đũi có từ lâu đời và rất nổi tiếng ở Hà Nam.Tính đến năm 2012 làng dệt Nha Xá có khoảng 500 khung dệt, công suất đạt 850 nghìn đến 1 triệu mét lụa/năm, tạo công ăn việc làm cho 1.7000 lao động Trung bình cứ 3 người đảm nhiệm 1 máy dệt Trong làng cũng hình thành sự phân công lao động theo hướng chuyên môn hóa theo mặt hàng và theo công đoạn sản xuất Sản phẩm lụa, đũi tơ tằm của Nha Xá hiện được tiêu thụ khắp các vùng, miền trong nước và xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới.Nghề thêu ren ở Thanh Hà (huyện Thanh Liêm) gồm 7 thôn, nằm cạnh quốc lộ 1A Từ năm 1990 đến nay do chuyển đổi cơ chế thị trường truyền thống bị thu hẹp nên nghề thêu ren gặp không ít khó khăn song cũng tìm được hướng đi để tồn tại và phát triển Hiện nay sản phẩm thêu ren đã xuất đi nhiều nước chủ yếu là các nước Châu Âu và Bắc Á Làng nghề làm rũa cưa ở xã An Đổ (huyện Bình Lục).Các công đoạn của nghề này cũng có sự phân công theo hướng chuyên môn hóa theo các hộ nên sản phẩm có số lượng và chất lượng ngày càng cao Làng nghề làm bánh đan nem, bánh đa khô, bánh thái các loại ở xã Hòa Lý- Nguyên Lý- Lý Nhân, sản lượng mỗi năm lên tới 2000- 2500 tấn, tiêu thụ

Trang 14

nhiều nơi khác Trong đó có hàng trăm tấn sản phẩm được xuất khẩu ra nước ngoài Ngoài ra ở Hòa Lý còn có nhiều nghề khác như xay xát, buôn bán thóc gạo, …Nghề làm trống ở Đọi Tam (Huyện Duy Tiên) có từ rất lâu đời và rất nổi tiếng.Trống Đọi Tam hiện nay được bán ở rất nhiều nơi kể cả thị trường nước ngoài, phần lớn làm theo đơn đặt hàng với nhiều loại kích cỡ và mẫu mã đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng.Đây chính là tiềm năng để Hà Nam phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp với nhiều sản phẩm phong phú và đa dạng sẽ cung cấp nguồn nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp của tỉnh, nâng cao đời sống của nhân dân phát triển kinh tế xã hội.

Trải qua hàng nghìn năm chinh phục thiên nhiên, đức tính cần cù, lòng dũng cảm, sự sáng tạo trong lao động của nhân dân Hà Nam đã được hun đúc Bằng sức lực trí tuệ của mình, trong quá trình hoạt động phát triển kinh tế - xã hội nhân dân Hà Nam cũng đã nhanh chóng tiếp thu và làm chủ kĩ thuật mới, phương thức sản xuất tiên tiến, hiện đại để ngày càng tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội phấn đấu thành tỉnh có bước phát triển khá trong khu vực và trong cả nước

Ngày 01/01/1997 , tỉnh Hà Nam được tái lập nhưng với sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội vấn đề dân số, lao động và việc làm có nhiều chuyển biến tích cực Chất lượng dân số, lao động được cải thiện rõ rệt Theo kết quả tổng điều tra dân số 1/1/2012 dân sô toàn tỉnh là 785.057 người Trong đó nam giới 385.059 người chiếm 49,05 %, nữ giới 399.998 người chiếm 50,95% Dân số thành thị 77.087 người chiểm 9,82% cao hơn năm 1999 là 1,84% Dân sô nông thôn 707.970 người chiếm 90,18% Quy mô số khẩu bình quân hộ gia đình 3,37 khẩu/hộ giảm 0,59 khẩu/hộ so với năm 1999 Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặc biệt là việc hình thành và mở rộng các khu công nghiệp đã thu hút nhiều lao động trẻ tuổi từ nông thôn ra thành thị làm ăn nên dân số thành thị ngày càng tăng lên Tỷ lệ nhóm người trong độ tuổi lao động: nam từ 15-60 tuổi, nữ từ 15-55 tuổi, tăng nhanh sau 10 năm.Tổng số người trong độ tuổi lao động 1/1/2009 là 489.545 người

Trang 15

chiếm 62,5% dân số cao hơn năm 1999 là 4,3% Dân số từ 70 tuổi trở lên 57.547 người chiếm 7,3% dân số cao hơn năm 1999 là 3,7% Với cơ cấu dân số trẻ như vậy Hà Nam có điều kiện phát triển kinh tế trong thời gian tới.

Cơ cấu dân số trẻ và chất lượng nguồn lao động cũng ngày càng cao với sự phát triển của nền giáo dục Hà Nam trong thời gian qua

Về giáo dục phổ thông có sự phát triển cả về cơ sở vật chất và trình độ giáo viên, chất lượng dạy và học Ngay từ những năm đầu tái lập, tỉnh đã đặc biệt chú trọng đầu tư nâng cấp kiên cố hệ thống trường học các cấp, ưu tiên đảm bảo chi thường xuyên cho hoạt động giáo dục chiếm tỷ lệ trung bình 19,8% tổng chi ngân sách của tỉnh hàng năm với mức tăng trưởng bình quân 19,1%/năm Hà Nam cũng là một trong những tỉnh đầu tiên của cả nước hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học năm 1999, bậc trung học cơ sở năm

2002 đồng thời giữ vững và duy trì thành quả đó Toàn tỉnh hiện nay có 405 trường học ở 4 bậc học phổ thông, trong đó bậc mầm non là 120 trường, trường trung học phổ thông là 25 trường, trong 14 năm (1997-2010) đã thành lập thêm 22 trường Chất lượng giáo dục từng bước được cải thiện tỷ lệ thu hút học sinh vào bậc THPT tăng lên Năm học 2009-2010 đạt 7,3% vượt mục tiêu đại hội XVII Hà Nam còn có 9 trường đang hoạt động đào tạo là: 1 trường đại học, 6 trường cao đẳng và cao đẳng nghề, 2 trường trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề đã đào tạo nhiều ngành nghề với nhiều loại hình đào tạo Trong đó có hai trường đào tạo công nhân kĩ thuật với các ngành nghề đạo tạo như: cơ khí, điện, vận hành máy, xây dựng Học sinh được đào tạo ra trường có đủ năng lực làm việc trong các khu công nghiệp trình độ kỹ thuật cao Với nguồn nhân lực có trình độ khá, nền giáo dục phát triển đã tạo điều kiện cho phát triển khoa học công nghệ, một trong những yếu tố cần thiết

và quan trọng hàng đầu để phát triển ngành kinh tế nói chung và ngành công nghiệp nói riêng của địa phương

Cơ sở hạ tầng phát triển nhanh trong những năm đổi mới Tỉnh đã hoàn

Trang 16

lạc, các công trình phúc lợi như: trường học, trạm y tế, nhà văn hóa…được xây dựng, nâng cấp đáp ứng yêu cầu cơ bản cho phát triển kinh tế- xã hội Năm 2005 toàn tỉnh cơ bản không còn hộ đói, số hộ nghèo giảm còn 9,68 % năm 2011 (theo tiêu chí mới) Bệnh viện đa khoa tỉnh và ở các huyện được xây dựng nâng cấp, mở rộng mạng lưới chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội từ năm 1997 đến nay, đời sống của dân cư trên địa bàn tỉnh cũng không ngừng được cải thiện và từng bước được nâng cao cả về vật chất lẫn tinh thần Sản lượng lương thực sản xuất duy trì tốc độ phát triển khá , tăng trung bình quân 1,66%/năm (1997-2000) nhanh hơn tốc độ phát triển của các tỉnh đồng bằng sông Hồng Sản xuất lương thực phát triển đi đôi với thực hiện tốt chính sách dân số- kế hoạch hóa gia đình đã đưa sản lượng lương thực bình quân theo đầu người của tỉnh đạt khá cao Năm 2010 đạt 567kg/người/năm gấp 1,23 lần năm 1997, đạt tốc độ phát triển bình quân 1,62%/năm các tỉnh đồng bằng sông Hồng chỉ đạt 0,72%/năm [13, tr.52]

Với những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội như trên đã tạo cho ngành công nghiệp Hà Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển như: sự giao lưu kinh tế thuận lợi; nguồn nguyên liệu phong phú; nguồn nhân lực dồi dào Đây chính là tiền đề, cơ sở vững chắc cho ngành công nghiệp Hà Nam tiếp tục phát triển góp phần vào thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

1.3 Đường lối chính sách phát triển công nghiệp của Đảng, Nhà nước

Đường lối đổi mới đất nước được đề ra lần đầu tiên tại đại hội VI (12/1986) và được điều chỉnh, bổ sung và phát triển qua các kỳ đại hội VII (6/1991), VIII (6/1996), IX (4/2001), X (6/2006) Qua các kỳ đại hội, chủ trương chính sách phát triển kinh tế - xã hội được đề ra một cách toàn diện trong đó chủ trương chính sách phát triển kinh tế nói chung và ngành công nghiệp nói riêng được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm, coi trọng Đảng xác định nước ta:Từ một nền sản xuất nhỏ đi lên, điều rất quan trọng là phải

Trang 17

xác định đúng bước đi của công nghiệp hóa cho phù hợp với mục tiêu và khả

năng của mỗi chặng đường Chính vì thế, qua từng thời kỳ chủ trương, chính

sách phát triển công nghiệp đều được Đảng và Nhà nước đưa ra một cách cụ thể đối với từng ngành, từng vùng, từng thành phần kinh tế

Đại hội VI của Đảng là mốc lịch sử quan trọng trên con đường đổi mới toàn diện ở nước ta Sau khi phân tích phê phán nghiêm túc những sai lầm, thiếu sót trong thời gian qua Đại hội đã đề ra chủ trương chính sách đổi mới kinh tế, có đổi mới phát triển công nghiệp Cụ thể, có những nội dung chủ yếu sau:

- Đổi mới toàn diện nhưng trọng tâm là đổi mới kinh tế

- Xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường

- Thừa nhận nền kinh tế có nhiều thành phần

- Mở rộng kinh tế đối ngoại

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991) Đảng và Nhà nước

đã đề ra chính sách phát triển cho từng ngành công nghiệp Đại hội chỉ rõ:

- Đối với ngành công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản, phải quy vùng tập trung chuyên canh, đưa khoa học công nghệ vào sản xuất, tạo ra nguồn nguyên liệu lớn, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp chế biến hiện đại Phát triển cơ sở chế biến gần với vùng nguyên liệu, nâng cao chất lượng, đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh, đa dạng hóa mặt hàng thực phẩm

- Với công nghiệp hàng tiêu dùng, phát triển hàng công nghiệp tiêu dùng thông dụng, mở rộng sản xuất hàng lâu bền, cao cấp Đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng, đa dạng hóa mặt hàng, cải tiến bao bì và giảm giá thành Phát triển mạnh sản xuất hàng tiêu dùng xuất khẩu, đặc biệt các sản phẩm may mặc, dệt, da, hàng điện tử, đồ điện gia dụng, hàng thủ công mỹ nghệ, chuyển nhanh từ gia công sang tự sản xuất để xuất khẩu

- Công nghiệp cơ khí và điện tử - tin học: Tận dụng năng lực hiện có, tranh thủ công nghệ hiện đại, tạo thêm năng lực sản xuất mới cần thiết Mở rộng hợp tác liên doanh với nước ngoài, đi từ lắp ráp sản xuất phụ tùng tiến

Trang 18

tới sản xuất các sản phẩm hoàn chỉnh Tập trung thực hiện chương trình cơ khí trang bị cho nông, lâm, ngư nghiệp; sản xuất thiết bị chế biến nông - lâm - thủy sản, hàng tiêu dùng.

- Các ngành công nghiệp sản xuất nguyên, nhiên, vật liệu đẩy mạnh tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu, khí Các ngành sản xuất than, xi măng, thép được chú ý phát phát triển [52, tr.577 ]

Không chỉ đề ra chủ trương phát triển cho từng ngành công nghiệp mà trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (2001- 2010) Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX còn đề ra chủ trương xây dựng cơ cấu ngành công nghiệp hợp lý: Phát triển nhanh các ngành công nghiệp có khả năng phát huy lợi thế cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu như chế biến nông, lâm, thủy sản, may mặc, da giầy, điện tử, tin học, một số sản phẩm cơ khí và hàng tiêu dùng Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng, luyện kim, cơ khí chế tạo, hóa chất cơ bản, phân bón, vật liệu xây dựng [28,tr 321]

Đảng và Nhà nước ta còn chủ trương phát triển có hiệu quả các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, xây dựng một số khu công nghiệp cao, hình thành các cụm công nghiệp lớn và khu kinh tế mở; phát triển rộng khắp các cơ sở công nghiệp nhỏ và vừa với ngành nghề đa dạng; đổi mới nâng cấp công nghệ trong các cơ sở hiện có để nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả, sử dụng phù hợp các công nghệ có khả năng thu hút nhiều lao động; phát triển nhiều hình thức liên kết giữa các doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn, giữa sản xuất nguyên liệu và chế biến, tiêu thụ sản phẩm trên cơ sở đảm bảo hài hòa về lợi ích; tăng tỷ lệ nội địa hóa trong công nghiệp gia công, lắp ráp; tăng cường công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm, bảo hộ sở hữu công nghiệp và bảo vệ môi trường

Đến đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (tháng 6/2006) cũng nêu rõ mục

tiêu: "Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức,

Trang 19

tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020" [33, tr 296].

Như vậy, có thể thấy những chủ trương chính sách phát triển công nghiệp của Đảng và Nhà nước trải qua các kỳ đại hội đều nhằm mục tiêu xây dựng một nền công nghiệp phát triển, góp phần vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa

Trên cơ sở đường lối, chính sách phát triển công nghiệp của Đảng và Nhà Nước, căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương sau khi tái lập tỉnh (1997), Hà Nam đã đề ra chủ trương, chính sách phát triển công nghiệp của mình Cụ thể là:

- Khai thác mọi thành phần kinh tế vào phát triển công nghiệp Tại Đại

hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII (tháng 8/1992), đã xác định "Tổ chức sắp xếp lại

sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, phát triển các thành phần kinh tế" [30, tr.130].

- Sản vật liệu xây dựng và chế biến thực phẩm là 2 ngành mũi nhọn của tỉnh Chủ trương này được Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII đề ra và tiếp tục khẳng định tại các Đại hội Đảng bộ lần thứ XIV, XIX XX Cụ thể, ngay tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XIII đã xác định nhiệm vụ cụ thể cho ngành

công nghiệp là: "Tập trung vào 4 lĩnh vực chủ yếu, trong đó công nghiệp sản

xuất vật liệu xây dựng và chế biến thực phẩm là mũi nhọn" 31, tr.42].

- Phát triển cả công nghiệp và thủ công nghiệp Chủ trương này được

đề cập đến ngay từ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII và tiếp tục được khẳng định tại các Đại hội sau đó Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội tỉnh đến

năm 2010 cũng chỉ rõ: "Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây

dựng các làng nghề theo hướng hiện đại hóa, công nghiệp hóa, nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển dịch kinh tế, gắn công nghiệp với nông nghiệp, nông thôn" [30, tr.152].

Trang 20

- Công nghiệp Hà Nam chủ yếu phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Điều này được thể hiện rõ qua chủ trương của Đại hội Đảng bộ Tỉnh

lần thứ XIII và XIV Tại Đại hội Đảng bộ lần thứ XIII đã xác định: "Các

xí nghiệp xây dựng mới chủ yếu là qui mô vừa và nhỏ nhưng công nghệ cao" [30, tr.42].

Đi lên từ điểm xuất phát thấp, kinh tế kém phát triển, thiếu vốn, thiếu

kỹ thuật nên Hà Nam đã xác định con đường vươn lên làm giàu là phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Do có nhiều làng nghề truyền thống nên việc xây dựng mô hình làng nghề là hướng đi đúng đắn để thực hiện mục tiêu

"dân giàu, tỉnh mạnh" Tỉnh đã ban hành chính sách ưu tiên nhằm giữ vững và phát triển các làng nghề truyền thống hiện có, tập trung vào các ngành nghề thu hút nhiều lao động, tạo thêm nhiều nghề mới và đổi mới công nghệ ở các làng nghề

Hà Nam trương áp dụng tổng thể các biện pháp làm sao đẩy nhanh tốc

độ phát triển công nghiệp, xây dựng các khu, cụm công nghiệp tập trung với các chính sách như huy động vốn, chính sách phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng lao động, đầu tư cho giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ

để hỗ trợ cho ngành công nghiệp và các doanh nghiệp Ngoài ra tỉnh còn xây dựng Quỹ khuyến công, quỹ đào tạo nghề, quỹ khuyến khích xuất khẩu, vốn sự nghiệp khoa học, tạo môi trường thông thoáng và lành mạnh để phát triển công nghiệp Tỉnh cũng đã tiến hành cải cách hành chính, ban hành quy định thực hiện "cơ chế một cửa" tạo điều kiện cho các nhà đầu tư yên tâm và mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh

Với những đường lối, chính sách nêu trên của Đảng, Nhà nước ta nói chung và tỉnh Hà Nam nói riêng, đã tạo cơ sở và điều kiện thuận lợi cho công nghiệp của Hà Nam phát triển và đạt được nhiều thành tựu to lớn

1.4 Vài nét về công nghiệp tỉnh Hà Nam trước năm 1997

1.4.1 Tình hình công nghiệp Hà Nam trước năm 1986

Trang 21

Cùng với sự hình thành và phát triển của con người thì nền kinh tế cũng phát triển nhằm phục vụ cho nhu cầu của cư dân Là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế ngành công nghiệp cũng không nằm ngoài quy luật đó

Ngay từ thời phong kiến, bên cạnh việc phát triển nông nghiệp lúa nước thì Hà Nam đã nổi tiếng nhiều làng nghề thủ công mỹ nghệ như dệt ở Nha Xá, Thanh Hà- Thanh Liêm, nghề làm nghề thêu ren ở Đọi Tiên, nghề làm bánh

đa nem ở Nguyên Lý- Lý Nhân, nghề chế tác đồ sừng và đồ mĩ nghệ … Sản phẩm của các làng nghề không chỉ phục vụ cho nhu cầu dân cư trong vùng mà còn cung cấp cho các vùng khác

Từ cuối thế kỉ XIX bên cạnh các nghề tiểu thủ công gia đình trong các làng xã ở Hà Nam bắt đầu xuất hiện các loại hình công nghiệp công xưởng,

có quy mô lớn kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa Đó là các cơ sở công nghiệp của các chủ tư bản người Pháp và một số tiểu chủ, tiểu tư sản trong nước Các cơ sở công nghiệp này chủ yếu khai thác ở những dãy núi đá ven sông Đáy, những mỏ đá thuận tiện về giao thông ở các huyện Kim Bảng, Thanh Liêm Năm 1883, Ghiôm- một chủ tư sản người Pháp đã thành lập xưởng khai thác đá ở Kẻ Sở- Kiện Khê Năm 1884, Bôren lập công trường khai thác đá ở Quyển Sơn

Đến năm 1930, ở Hà Nam có khoảng 18 mỏ khai thác đá với sản lượng đạt hàng trăm nghìn mét khối mỗi năm Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có một

số xưởng làm gạch,ngói, vôi, gốm, sứ, chế biến tre, đường mật…của các tiểu chủ, tiểu tư sản người Việt, xưởng chế biến sữa, thịt, sơ chế cà phê trong các đồn điền của Pháp, ở khu vực thị xã Phủ Lý xuất hiện một số cơ sở công nghiệp như xưởng in, trạm phát điện đi-ê-zen (ở phố Quy Lưu), xưởng sửa chữa ô tô, ca nô, may mặc, làm đồ gỗ, gò hàn….Tuy nhiên trước cách mạng tháng Tám (năm 1945) các cơ sở công nghiệp ở Hà Nam vẫn hết sức nhỏ bé Hơn nữa sau cách mạng tháng tám nhất là trong thời kì kháng chiến chống, nhiều cơ sở công nghiệp đã ngừng hoạt động, thu hẹp sản xuất hoặc phải sơ

Trang 22

tán, phân tán sản xuất Nền công nghiệp Hà Nam chỉ thực sự có những bước chuyển biến đáng kể từ cuối những năm 1950 đầu những năm 1960, với việc cải tạo công nghiệp tư bản tư nhân, hình thành các xí nghiệp công tư hợp doanh và thành lập mới hàng chục nhà máy, xí nghiệp công nghiệp quốc doanh (cả trung ương và địa phương) trên địa bàn tỉnh Nhiều cơ sở công nghiệp đã đi vào hoạt động như: Nhà máy đường Vĩnh Trụ (1959); xí nghiệp

đá vôi Kiện Khê (1959 -1960); nhà máy nhiệt điện Phủ Lý (1960); xưởng nông cụ, xưởng may mặc, cơ sở chế biến gỗ (1958 -1960); nhà máy thiết bị

và kết cấu thép Phủ Lý (1963)…Tuy vậy chỉ có một số nhà máy được trang bị máy móc, thiết bị cơ khí như nhà máy đường Vĩnh Trụ, nhà máy nhiệt điện Phủ Lý…còn lại phần lớn các cơ sở công nghiệp lúc bấy giờ chỉ có công nghệ sản xuất thủ công

Trong những năm 1970 đầu những năm 1980 trên địa bàn Hà Nam có thêm một số cơ sở công nghiệp quốc doanh được xây dựng và đi vào hoạt động như nhà máy xi măng X-77 của Bộ Quốc phòng năm (1977); nhà máy xi măng nội thương (năm 1978) và nhiều cơ sở công nghiệp quốc doanh địa phương của tỉnh và của các huyện Song từ cuối những năm 1980 đầu những năm 1990 trong quá trình chuyển đổi cơ chế từ kế hoạch hóa tập trung sang

cơ chế thị trường, nhiều cơ sở công nghiệp địa phương đã phải thu hẹp sản xuất,giải thể hoặc chuyển sang cổ phần hóa

Như vậy sau khi đất nước thống nhất (năm 1975), Đảng và Nhà nước ta

đã đưa đường lối phát triển kinh tế : đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất của CNXH, phải đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ Khi đã thấm nhuần tư tưởng của đường lối trên tỉnh ủy Hà Nam đã đề ra chủ trương: khôi phục các làng nghề, sản xuất các mặt hàng phục vụ trực tiếp sản xuất, xuất khẩu và đời sống của nhân dân Vì vậy thực hiện đường lối trên công

Trang 23

nghiệp Hà Nam đã có những bước phát triển nhanh Các sản phẩm công nghiệp ngày càng đa dạng và phong phú như đồ gỗ, gạch, ngói… Có giá trị sản xuất công nghiệp ngày càng cao.

Công nghiệp Hà Nam trước năm 1986 mặc dù đã đạt được một số thành tựu quan trọng, nhưng về cơ bản còn nhỏ bé, lạc hậu, cơ cấu ngành chưa đa dạng, giá trị sản xuất chưa cao, chủ yếu là công nghiệp làng nghề Công nghiệp chế biến còn quá nhỏ bé phần lớn là nông sản, thực phẩm và hàng tiêu dung Tuy nhiên ngành công nghiệp trong thời gian qua cũng có những đóng góp nhất định vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Sự phát triển của công nghiệp thời kì này tạo điều kiện tiền đề và là cơ sở cho sự phát triển công nghiệp ở giai đoạn sau

1.4.1 Công nghiệp Hà Nam thời kì 1986 – 1997

Trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) là đâị hội mở đầu đường lối đổi mới đất nước và đường lối này được các đại hội VII, VIII, IX tiếp tục phát triển bổ sung và hoàn thiện Trong đường lối đổi mới toàn diện Đảng đã xác định lấy đổi mới kinh tế là trọng tâm, xóa bỏ cơ chế quản lý quan lieu bao cấp, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, tăng cường lien doanh, lien kết với nước ngoài Đảng ta còn chủ trương “xây dựng kinh tế Trung ương, đồng thời phát triển kinh tế địa phương, kết hợp cân đối giữa công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và nông nghiệp”

Bước vào thời kì đổi mới công nghiệp Hà Nam đã đạt được kết quả đáng khích lệ Trong thời kì 1990- 1996 tỷ trọng khu vực kinh tế Nhà nước vẫn giữ được chiều hướng tăng, năm 1990 chiếm 22,9% đến năm 1996 là 26,2% Tỷ trọng công nghiệp ngoài quốc doanh có xu hướng giảm, năm 1990 chiếm 77,0% đến năm 1996 chiếm 73,7% (chủ yếu do sự giảm sút của khu vực kinh tế tập thể) Tỷ trọng công nghiệp khai mỏ giảm chủ yếu là khai thác

đá năm 1990 chiếm 18,1% đến năm 1996 giảm còn 9,9% Tuy nhiên tỷ trọng

Trang 24

công nghiệp chế biến có xu hướng tăng từ 81,2% năm 1990 lên 84,6% năm

1996 Trong đó các ngành sản xuất thực phẩm và đồ uống, công nghiệp dệt, chế biến, sản xuất các sản phẩm từ gỗ…có xu hướng tăng Nhờ có sự chuyển dịch cơ cấu trên nên công nghiệp Hà Nam đã có nhịp độ tăng trường tương đối khá, bình quân thờ kì 1986- 1996 giá trị sản xuất công nghiệp tăng khoảng

14,5%/năm Năm 1997 so với năm 1996 tăng 9,02% : [52, tr 577]

Công nghiệp ngoài quốc doanh có mức tăng trưởng cao nhất tới 13,1%/năm Trong thành phần kinh tế Nhà nước công nghiệp quốc doanh trung ương có tỷ trọng giảm, năm 1990 chiếm 57,3% đến năm 1996 giảm xuống còn 28,7%, công nghiệp quốc doanh địa phương có tỷ trọng tăng từ 42,7% năm 1990 lên 71,3% năm 1996 Do có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nên nhịp độ tăng trưởng bình quân thời kì 1990-1996 của khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể đạt 24,2% Về cơ cấu công nghiệp theo các huyện, thị xã thì các huyện Lý Nhân, Kim Bảng và Duy Tiên là ba huyện có tỷ trọng công nghiệp cao nhất lên tới 77,6% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp của toàn tỉnh Lý Nhân cũng là huyện có nhịp độ tăng trưởng công nghiệp cao nhất với

bình quân 20%/năm thời kì 1991-1995 [52,tr 577- 578 ]

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công nghiệp Hà Nam trong thời

kỳ này còn bộc lộ nhiều hạn chế Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nhỏ bé, chưa phát huy được tiềm năng thế mạnh Công nghiệp quốc doanh quy mô nhỏ, trình độ công nghệ lạc hậu, phần lớn thiết bị máy móc của các doanh nghiệp thuộc thế hệ trước năm 1960 Nhiều cơ sở sản xuất bằng phương pháp thủ công, năng suất thấp, chất lượng hiệu quả kém Một số xí nghiệp công nghiệp quốc doanh khi chuyển sang cơ chế thị trường tự hạch toán kinh doanh còn gặp nhiều lúng túng, sản xuất kinh doanh thua lỗ triền miên và không tìm được hướng đi phù hợp cho mình Công nghiệp Hà Nam thời kỳ này phát triển chưa tưng xứng với vị trí, tiềm năng và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Trang 25

* Tiểu kết chương 1

Như vậy, với những thuận lợi nhất định về điều kiện tự nhiên - xã hội cùng với những chủ trương chính sách phát triển công nghiệp của Đảng và Nhà nước đã tạo tiền đề để các ngành công nghiệp ở Hà Nam phát triển, góp phần thực hiện thành công công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh

Trang 26

CHƯƠNG 2:

KINH TẾ CÔNG NGHIỆP TỈNH HÀ NAM TRONG THỜI KỲ

1997 - 2013

2.1 Về cơ sở sản xuất công nghiệp.

Trong gần 20 năm qua (1997 - 2013), ngành công nghiệp Hà Nam đã

có sự phát triển vượt bậc Số lượng các cơ sở sản xuất và lực lượng lao động công nghiệp phát triển nhanh đã tạo điều kiện cho việc hình thành và phát triển các cụm và khu công nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh

Năm 1997, số lượng các cơ sở sản xuất công nghiệp chỉ có 12.213 cơ sở Khi tái lập tỉnh nhờ những chủ trương chính sách phát triển công nghiệp của Đảng, Nhà nước và Đảng bộ Hà Nam thì số lượng các cơ sở công nghiệp trên địa bàn tỉnh không ngừng tăng lên Điều này thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.1: Các cơ sở sản xuất công nghiệp phân theo ngành thời kỳ (1990 - 2013)

Đơn vị: Cơ sở

TT

Năm Ngành

công nghiệp

1 Công nghiệp khai thác 31 154 124 272 172 195 109

2 Công nghiệp chế biến 12.181 14.544 16.326 22.408 26.018 26.389 26.588

3 Công nghiệp sản xuất

Trang 27

Tổng cộng 12.213 14.699 16458 22.688 26.202 26.596 26793

Nguồn: [17, tr.88;23,tr.258,259]

Qua bảng số liệu trên ta thấy số lượng các cơ sở công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng nhanh Nếu như trước khi tái lập tỉnh số lượng cơ sở công nghiệp của ta chỉ có 12.213 cơ sở vào năm 1990 thì từ năm 1997 số lượng các

cơ sở công nghiệp tăng nhanh Đến năm 1997 số cơ sở sản xuất tăng lên 2.486 cơ sở so với năm 1990 Và từ năm 2000 trở đi số lượng các cơ sở công nghiệp lại tăng mạnh hơn do có luật doanh nghiệp mới ra đời Với những quy định không quá khắt khe của nhà nước, những ai có nhu cầu mở doanh nghiệp có thể làm hồ sơ nộp cho Nhà nước sau một thời gian kiểm tra nếu không có vấn đề gì thì doanh nghiệp đó được phép mở cơ sở sản xuất Vì vậy thời gian này số lượng các cơ sở sản xuất công nghiệp mà chủ yếu là cơ sở công nghiệp ngoài quốc doanh tăng lên nhanh chóng Thời kì (2000-2005) số các

cơ sở công nghiệp tăng 6.230 cơ sở gấp 3,54 lần thời kì 1997-2000, và bình quân tăng 1,25 cơ sở/ năm Nhưng đến năm 2010 chỉ tăng 394 cơ sở so với năm 2009 do nền kinh tế bị suy thoái lâm vào khủng hoảng bắt đầu ảnh hưởng đền sự thành lập các cơ sở công nghiệp thời kì này Như vậy từ năm

1900 đến 2013 tăng lên 14.580 cơ sở công nghiệp và bình quân mỗi năm tăng thêm 633 cơ sở sản xuất công nghiệp Các cơ sở công nghiệp hoạt động sản xuất trong các lĩnh vực chủ yếu là chế biến nông, lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng, may mặc, công nghiệp hóa chất và các ngành công nghiệp khác

Về sự phân hóa giữa các ngành công nghiệp: Trong hơn 20 năm qua

các cơ sở công nghiệp được thành lập tăng lên và giữa các ngành cũng có sự phân hóa.Trong ngành công nghiệp khai thác nhìn chung là tăng nhưng không đồng đều Từ năm 1990 đến năm 1997 tăng 4,97 lần nhưng đến năm 2000 số lượng cơ sở đó lại giảm 0,8 lần, và đến năm 2013 là 190 cơ sở tăng 6,1 lần so với năm 1990.Các cơ sở công nghiệp chế biến thì tăng nhanh và tăng liên tục qua các năm Từ năm 1990 đến 2013 số cơ sở tăng lên 4407 cơ sở , bình quân tăng 626,4 cơ sở/ năm Sở dĩ ngành công nghiệp chế biến của Hà Nam tăng

Trang 28

nhanh như vậy là do đường lối chính sách của tỉnh có nhiều chính sách cho ưu tiên phát triển ngành này và dựa vào tiềm năng thế mạnh về nguồn nguyên nhiên liệu, nhân công của ta phù hợp cho sự phát triển của ngành Ngành công nghiệp chế biến sẽ sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ do ngành nông nghiệp, thủ công nghiệp của ta làm ra, ngành này lại cần nhiều lao động,trình độ lao động không yêu cầu quá cao Vì vậy sẽ khai thác hết mọi tiềm năng của tỉnh để phát triển kinh tế Các cơ sở sản xuất và phân phối điện nước cũng tăng nhưng số lượng và tốc độ thì khiêm tốn hơn 2 ngành trên Từ năm 1900 đến năm

2013 số lượng cơ sở sản xuất điện nước tăng từ 1 lên 15 cơ sở và gấp 15 lần so với năm 1990 Sự phát triển nhanh của ngành này là do khi nền kinh tế phát triển nhu cầu sử dụng điện của nhân dân trong toàn tỉnh ngày càng lên cao, đặc biệt là ở các khu công nghiệp và các cụm công công nghiệp Vì trong các nhà mày sản xuất đó đã được điện khí hóa, việc sản xuất đã phân theo dây truyền và sử dụng điện vào sản xuất trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất

Cùng với sự tăng nhanh của các cơ sở sản xuất công nghiệp, lực lượng lao động trong toàn ngành công nghiệp cũng tăng lên đáng kể Điều này đã được cụ thể qua bảng số liệu sau:

Bảng 2.2: Số lao động công nghiệp phân theo ngành thời kỳ (1997- 2013)

1 Công nghiệp khai thác 2.411 2.309 2.962 5.598 6.806 6.940 7.001

2 Công nghiệp chế biến 33.513 34.396 33.740 55.977 61.717 63.158 63.368

3 Công nghiệp sản xuất

phân phối điện nước 35 51 623 689 1.865 1.920 1.967

Tổng cộng 35.959 36.756 37.325 62.264 70.388 71.018 72.336

Nguồn: [17, tr.90;49,tr.33]

Như vậy ta thấy lực lượng lao động làm việc trong các ngành công nghiệp tăng nhanh qua các năm Từ năm 1990 đến năm 2013 tăng thêm

Trang 29

36.377 người bình quân mỗi năm tăng1581 người Trong đó lao động làm việc trong ngành công nghiệp khai thác tăng 4590 người từ năm 1900 đến

2013 và tăng gấp 2,9 lần so với năm 1990 và gấp 3,03 lần so với năm 1997 Ngành công nghiệp chế biến và khai thác tăng mạnh nhất từ 33.513 người năm 1990 đến 63.368 người năm 2013 gấp 1,9 lần so với năm 1990 và gấp 1,8 lần so với năm 1997.Lao động làm việc trong ngành phân phối điện nước từ năm 1990 đến năm 2013 tăng 1932 người tăng so 1916 người với năm

1997 và gấp 56,2 lần so với năm 1990, gấp 39 lần so với năm 1997.Nhìn chung trình độ tay nghề của lao động của tỉnh Hà Nam chưa cao và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển ngày càng cao của xã hội Phần lớn là lao động chưa qua đào tạo và chưa có nhiều kinh nghiệm làm việc mà họ vừa làm vừa học việc nên năng suất và chất lượng còn thấp Trong mấy năm gần đây số lượng lao động đó ngày càng nhiều vì nhiều lao động sau khi học xong trung cấp,cao đẳng, có cả đại học nhưng chưa có việc làm phù hợp với trình độ của họ nên những người đó lại phải lao vào các nhà máy xí nghiệp làm công nhân như những lao động phổ thông khác.Đây cũng là tình trạng chung của Hà Nam nói riêng và Việt Nam nói chung, tình trạng “thừa thày, thiều thợ” ngày càng phổ biến

Do số lượng các cơ sở sản xuất công nghiệp tăng nhanh nên nhu cầu sản xuất tập trung quy hoạch vào một khu có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của ngành công nghiêp Do vậy, năm 2008 Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam đã có Quyết định số 2551/QĐ-UB ngày 31/12/2008 về việc “Phê duyệt Quy hoạch các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh” bổ sung quy hoạch 4 KCN mới, nâng tổng số KCN trên địa bàn tỉnh lên 08 KCN lên tổng diện tích quy hoạch là 1.774,6 ha Nhằm khai thác hiệu quả các nguồn lực về tài nguyên, lao động, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp công nghiệp có thể sử dụng các

cơ sở hạ tầng, sử dụng đất đai với giá rẻ nhất, kinh tế nhất, cũng như việc bảo

vệ môi trường được thực hiện tốt hơn Tuy nhiên, trong quá trình triển khai

Trang 30

thực hiện, đến năm 2013 đã có một số thay đổi so với quy hoạch ban đầu được phê duyệt Cụ thể:

- KCN Đồng Văn I: diện tích 137,8 ha

- KCN Đồng Văn II: diện tích 263,82 ha

- KCN Châu Sơn- Thanh Liêm: diện tích 170 ha

- KCN Hòa Mạc: diện tích 230 ha

- KCN Liêm Phong: diện tích 200 ha

- KCN Kim Bảng: diện tích 300 ha

- KCN Itahan: diện tích 300 ha

- KCN Liêm Cần- Thanh Bình: diện tích 200 ha

Như vậy ta thấy các KCN của tỉnh Hà Nam phân bố ở hầu hết các huyện, huyện Duy Tiên tập trung đến 3 KCN với diện tích 631,2 ha chiếm 36% diện tích các KCN trên địa bàn toàn tỉnh Tuy nhiên KCN Hòa Mạc mới đang trong giai đoạn đầu của quá trình hoạt động nên chưa mạnh Dự tính khi KCN Hòa Mạc xây dựng hoàn thành sẽ cùng với KCN Cầu Giát thu hút lực lượng lao động khá lớn trong và ngoài tỉnh, giải quyết vấn đề việc làm cho lao động trong tỉnh.Ngoài ra huyện Thanh Liêm cũng chiếm tới 2 KCN của tỉnh với diện tích 370 ha chiếm 20,8% số diện tích các KCN trong toàn tỉnh Cả hai huyện Duy Tiên và Thanh Liêm có vị trí thuận lợi hơn so với các huyện khác Duy Tiên nằm trên đường quốc lộ 1 A và quốc lộ 38, đặc biệt khi thông cầu Yên Lệnh làm cho nhu cầu đi lại của nhân dân trong và ngoài tỉnh qua Hà Nam tăng nhanh Thanh Liêm nằm dọc theo đường quốc lộ 1A và có nguồn nguyên liệu quý, đó là các mỏ đá vôi sẽ cung cấp nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp

Ngoài các khu công nghiệp trên còn có các cụm công nghiệp Tây Nam Phủ Lý với diện tích 173 ha

Với diện tích các khu công nghiệp lớn như vậy hằng năm đã thu hút số lượng dự án đầu tư lớn: tính đến hết 2013 các KCN trên địa bàn tỉnh đã th hút được 117 dự án trong đó có 37 dự án FDI và 80 dự án có vốn đầu tư trong nước

Trang 31

Diện tích đã giao cho các doanh nghiệp thứ cấp thuê là 265,3ha trong đó KCN Đồng Văn I là 105,8 ha, KCN Đồng Văn II là 60 ha, KCN CHâu Sơn 39,4 ha, KCN Hòa Mạc 4 ha,cụm công nghiệp Tây Nam Phủ Lý 56,1 ha.

Giá trị sản xuất trong các khu công nghiệp: Năm 2006 đạt 293 tỷ đồng đến năm 2010 đạt 4.500 tỷ đồng tăng 4,88 lần Bình quân thời kì

2006 -2010 đạt tốc độ tăng trưởng ở mức 37,3%/ năm Năm 2013 số đầu

tư lên đến 6.245 tỷ đồng tăng 1.745 tỷ đồng so với năm 2010 và tăng 5.952 tỷ đồng so với năm 2006

 Hiện trạng các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh như sau:

* Khu công ngiệp Đồng Văn I

Khu công nghiệp Đồng Văn nằm tại thị trấn Đồng Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Cách Hà Nam khoảng 10 km về phía bắc và cách Hà Nội khoảng 50 km, khu công nghiệp Đồng Văn nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm của tỉnh Hà Nam Khu công nghiệp Đồng Văn là khu công nghiệp được đầu tư và xây dựng sớm nhất trên địa bàn Hà Nam Tổng diện tích được phê duyệt của khu công nghiệp là 150 ha, trong đó giai đoạn I là 110 ha Tổng mức đầu tư xây dựng là 178,8 tỷ đồng Theo quy hoạch mạng lưới các khu công nghiệp của tỉnh Hà Nam đến năm 2010, khu công nghiệp Đồng Văn sẽ được mở rộng thêm 60 ha trong giai đoạn 2006-2010; như vậy tổng diện tích của khu công nghiệp sẽ lên tới 210 ha

Khu công nghiệp Đồng Văn có địa hình bằng phẳng, địa chất ổn định thuận lợi cho xây dựng và phát triển công nghiệp-thương mại Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc Nam chạy dọc theo chiều dài khu công nghiệp, khoảng 2 km, ngay cạnh đó là ga đường sắt Đồng Văn Trong giai đoạn tới, dự án đường

Trang 32

cao tốc Cầu Giẽ–Ninh Bình đi qua địa phẩn các tỉnh Hà Tây(cũ), Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình sẽ được triển khai với điểm đầu tại trước Cầu Giẽ và điểm cuối tại nút giao thông của đường vành đai thị xã Ninh Bình Đường cao tốc này cũng sẽ chạy dọc theo khu công nghiệp Đồng Văn, tạo thêm điều kiện thuận lợi cho giao thông và lưu chuyển hàng hóa của khu công nghiệp Từ Đồng Văn, theo quốc lộ 38, qua cầu Yên Lệnh có thể tới Hưng Yên, Hải Phòng và Quảng Ninh một cách nhanh chóng Đường cáp quang quốc gia chạy dọc Quốc lộ 1A đi ngang qua khu công nghiệp nên điều kiện về viễn thông hết sức thuận lợi.

Khu công nghiệp Đồng Văn được đầu tư xây dựng để thu hút các nhà đầu tư sản xuất và kinh doanh trên các lĩnh vực:Công nghiệp điện tử, cơ khí lắp ráp, nhựa, hóa mỹ phẩm; Công nghiệp chế biến nông, thủy sản thực phẩm; Công nghiệp vật liệu xây dựng, trang trí nội thất, hàng mỹ nghệ gốm sứ cao cấp; Công nghiệp khác như may mặc, thêu ren, giầy da xuất khẩu

Cho tới nay tổng diện tích đã thu hồi là 85 ha và đã cấp phép đầu tư cho

18 doanh nghiệp vào khu công nghiệp với diện tích đất giao thực tế 58,7 ha, lấp kín 95% diện tích đất đã được thu hồi Tổng số vốn đầu tư của các doanh nghiệp đăng ký là 1.258 tỷ đồng Hiện đã có 6 doanh nghiệp đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh 12 doanh nghiệp còn lại đang triển khai đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật

Sau khi ký thỏa thuận hợp tác giữa Hà Nội và Hà Nam, rất nhiều doanh nghiệp ở Hà Nội đã tiếp tục đăng ký vào khu công nghiệp Đồng VănĐến nay đã hoàn thành việc xây dựng đường giao thông giai đoạn 1 với tổng chiều dài 2.023m, chuẩn bị thi công đường giao thông giai đoạn 2 (2.050m) Điện, nước sạch đã và đang được thi công đồng bộ với các tuyến đường giao thông trong khu công nghiệp.Việc xây dựng hệ thống thông tin liên lạc trong phạm vi khu công nghiệp đã hoàn thành

* Khu công nghiệp Châu Sơn

Khu công nghiệp Châu Sơn nằm phía tây-nam thị xã Phủ Lý, thuộc phường Lê Hồng Phong và xã Châu Sơn, thị xã Phủ Lý Khu công nghiệp

Trang 33

Châu Sơn có diện tích được phê duyệt trong quy hoạch là 169ha, nếu tính cả Cụm công nghiệp Châu Sơn thì lên tới khoảng 200ha Tổng mức đầu tư được phê duyệt là 309,3 tỷ đồng.

Cho đến hết năm 2005, khu công ngiệp Châu Sơn sẽ được xây dựng với phần diện tích 70 ha 100 ha còn lại sẽ được xây dựng trong giai đoạn tiếp theo 2006-2013

Đây là khu công nghiệp chủ yếu thu hút các nhà đầu tư hoạt động trên các lĩnh vực công nghiệp vật liệu xây dựng được chế biến từ xi măng, công nghiệp chế biến nông lâm sản, thực phẩm, công nghiệp lắp ráp điện tử, điện lạnh, công nghiệp cơ khí phục vụ nông nghiệp và công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, dệt may

Trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng và kinh doanh, khu công nghiệp Châu Sơn đã giải quyết xong việc thực hiện giải phóng mặt bằng và thu hồi được 100ha Cho đến thời điểm hiện nay 13 doanh nghiệp đã được cấp phép đầu tư với diện tích giao thực tế là 15,2ha Tổng vốn đầu tư của các doanh nghiệp đã đăng ký khoảng 200-250 tỷ đồng Việc xây dựng hệ thống đường giao thông, điện, nước sạch, thông tin liên lạc đang được thi công kịp thời để phục vụ nhu cầu của các nhà doanh nghiệp

* Khu công nghiệp Hòa Mạc

Địa điểm: Quốc lộ 38, thị trấn Hoà Mạc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà

Nam, Việt Nam (Cách Ngã tư Đồng Văn giao giữa Đường Cao tốc Cầu Giẽ -

Ninh Bình (Quốc Lộ 1) và Quốc Lộ 38 là 6km) Công ty Phát triển hạ tầng: Công ty TNHH Quản lý Khai thác KCN Hòa Mạc (trực thuộc Công ty

Cổ phần Xây dựng và Phát triển Đô thị Hoà Phát - Tập Hòa Phát)

Quy mô: Tổng diện tích: 203 ha, Giai đoạn 1: 131ha

Được thành lập theo văn bản số 2003/TTg-CN ngày 25/12/2007 của Thủ Tướng Chính Phủ Chấp thuận của UBND tỉnh Hà Nam tại Công văn số 250/UBND-DN&XTĐT ngày 08/3/2007 Giấy chứng nhận đầu tư số

06221000045 do Ban Quản lý các KCN tỉnh Hà Nam cấp ngày 03/7/2008

Trang 34

Khu công nghiệp Hòa Mạc nằm ở vị trí thuộc địa phận 3 xã Chuyên Ngoại, Trác Văn và Hòa Mạc, huyện Duy Tiên Tổng diện tích được quy hoạch của khu là 140 ha Khu công nghiệp Hòa Mạc đã được triển khai quy hoạch và xây dựng vào năm 2004 và những năm tiếp theo Giai đoạn 1 từ nay đến hết năm 2005 sẽ triển khai xây dựng 50 ha, trong các năm 2006-2010 sẽ tiếp tục mở rộng thêm 90 ha.

Đây sẽ là khu công nghiệp đa ngành nghề như dệt may, giầy da, hóa chất, cơ khí, điện lạnh chế biến hàng nông sản thực phẩm

Khu công nghiệp Đồng Văn II : Diện tích: 264 ha.

Khu công nghiệp Đồng Văn II được thành lập theo quyết định số

335/2006/QĐ-UBND của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Nam ngày 22 tháng 3 năm 2006 về việc thành lập và phê duyệt dự án giao Công ty cổ phần phát triển Hà Nam làm chủ đầu xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp Đồng Văn II, thị trấn Đồng Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam

Khu công nghiệp Đồng Văn II thuộc thị trấn Đồng Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam có diện tích: 264 ha với phạm vi, ranh giới được xác định như sau: Phía Bắc : Giáp Khu dân cư thị trấn Đồng Văn Phía Nam: Giáp Khu công nghiệp Đồng Văn 1 Phía Đông: Giáp tuyến đường cao tốc 1B Phía Tây: Giáp tuyến quốc lộ 1A

Khu công nghiệp Đồng Văn II là Khu công nghiệp đa ngành, ít gây

ô nhiễm môi trường bao gồm các ngành nghề chính: Công nghiệp lắp ráp

cơ khí điện tử; chế biến thực phẩm; công nghiệp nhẹ, hàng tiêu dùng; Chế biến đồ trang sức; Sản xuất linh kiện điện tử chính xác, xe máy, ôtô; đồ điện gia dụng; cơ khí

Khoảng cách đến Khu công nghiệp Đồng Văn II: Cách Sân bay quốc tế Nội Bài 65 km; Cách trung tâm Thành phố Hà Nội 45 km; Cách Cảng Hải Phòng 125 km; Cách Cảng nước sâu Quảng Ninh – Cái Lân 145 km

Trang 35

Khu công nghiệp Đồng Văn II nằm giáp đường cao tốc 1A là trục đường huyết mạch của đất nước liền kề thủ đô Hà Nội và các tỉnh ven biển đồng bằng Bắc Bộ rất thuận tiện cho việc vận chuyển hàng hoá giao thương.

Lực lượng lao động: Số dân thị trấn Đồng Văn là: 852.695 người Tỉnh

Hà Nam dân số khoảng 1,5 triệu người, trong đó 65% là người lao động dưới

35 tuổi Đây là nguồn lao động có thể cung cấp đầy đủ cho các Doanh nghiệp trong Khu công nghiệp Hệ thống các trường cao đẳng, trường trung cấp, đào tạo nghề trong khu vực rất đa dạng Không kể các trường dạy nghề do huyện thị quản lý Tỉnh Hà Nam có khoảng 10 trường chuyên nghiệp dạy nghề với đội ngũ giáo viên trên 500 người và trên 10.000 học viên theo học/ năm (như trường Cao đẳng sư phạm Hà Nam, trường Cao đẳng phát thanh truyền hình, trường Trung học thuỷ lợi, trường công nhân chế biến gỗ, trường Trung học Bưu chính Viễn thông 1, trường Trung học Y tế Hà Nam ) Hơn nữa, khoảng cách từ trung tâm TP Hà Nội đến Khu công nghiệp khoảng 45 km, Hệ thống

xe Buýt đảm bảo cho việc lực lượng lao động từ Hà Nội đi lại hàng ngày đến KCN thuận tiện và dễ dàng

Sau hơn 5 năm đi vào hoạt động, với chính sách thu hút đầu tư hiệu quả, môi trường đầu tư thông thoáng tại tỉnh Hà Nam, đến nay Khu công nghiệp Đồng Văn II đã lấp đầy được khoảng trên 60% (diện tích: trên 120 ha) với rất nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước Các nhà đầu tư lớn của Nhật Bản như: Tập đoàn Sumitomo, Tập đoàn Honda, Honda Lock, Showa Denko, Tachibana, của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ: Cargill; Các nhà đầu tư trong nước như: Hanosimex, Vinawind, đều đã lựa chọn Khu công nghiệp Đồng Văn II để thực hiện dự án đầu tư Khu công nghiệp Đồng Văn

II đi vào hoạt động đã góp phần tạo điều kiện cho hàng nghìn lao động ở địa phương có việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng nguồn thu cho Ngân sách của Tỉnh từ các dự án đầu tư trong Khu công nghiệp

* Khu công nghiệp Kim Bảng: có diện tích 300 ha Cách quốc lộ 1A

2km, đường cao tốc Bắc - Nam 4km Tỉnh Hà Nam mong muốn thu hút các

Trang 36

nhà đầu tư có năng lực và kinh nghiệm làm chủ đầu tư kinh doanh hạ tầng KCN trên.

Khu công nghiệp Liêm Phong: Diện tích: 200 ha

Vị trí: Cạnh quốc lộ 21, cách đường sắt Bắc - Nam 4km Tỉnh Hà Nam

mong muốn thu hút các nhà đầu tư có năng lực và kinh nghiệm làm chủ đầu

tư kinh doanh hạ tầng KCN trên

Khu công nghiệp Liêm Cần - Thanh Bình có diện tích: 200 ha với vị trí nằm

liền kề đường cao tốc Bắc - Nam, cách đường sắt Bắc - Nam 4km

Khu công nghiệp Liêm Cần - Thanh Bình đã quy hoạch, chuẩn bị đầu tư hạ tầng Tỉnh Hà Nam mong muốn thu hút các nhà đầu tư có năng lực và kinh nghiệm làm chủ đầu tư kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp trên

- Bên cạnh các khu công nghiệp thì các cụm công nghiệp cũng được thành lập ngày càng nhiều với quy mô cơ cấu ngà càng lớn:

Bảng 2.3 Danh sách các Cụm CN-TTCN trên địa bàn tỉnh đã được phê duyệt

quy hoạch (2013)

Diện tích quy hoạch (ha)

DT sau khi điều chỉnh lại (ha)

Đã được phê duyệt QHCT

1 Cụm CN-TTCN Nam Châu Sơn Châu Sơn, Phủ Lý 10 19 19

3 Cụm CN-TTCN Kim Bình Kim Bình, Kim Bảng 53.5 56.07 33.4

4 Cụm CN-TTCN Thi Sơn Thi Sơn, Kim Bảng 29.5 29.49 29.49

5 Cụm TTCN làng nghề Nhật Tân Nhật Tân, Kim Bảng 17 17.5 17.5

6 Cụm CN-TTCN Tượng Lĩnh Xã Tượng Lĩnh, Kim Bảng 10 10

7 Cụm CN-TTCN Nhật Tựu Xã Nhật Tựu, Kim Bảng 10 10

8 Cụm CN-TTCN Cầu Giát Chuyên Ngoại, Duy Tiên 35 20.9 20,9

9 Cụm CN-TTCN Tiên Tân Tiên Tân, Duy Tiên 16 16

10 Cụm TTCN làng nghề Ngọc Động Hoàng Đông, Duy Tiên 6 9.1 9.1

11 Cụm TTCN làng nghề Nha Xá Mộc Nam, Duy Tiên 3 3

Trang 37

IV Huyện Thanh Liêm 128.75 115.55 93.95

12 Cụm TTCN làng nghề Thanh Lưu Thanh Lưu, Thanh Liêm 6 5.7 5.7

13 Cụm CN-TTCN Thanh Hải Thanh Hải, Thanh Liêm 25 16.5 16.5

14 Cụm TTCN Kiện Khê Kiện Khê, Thanh Liêm 20 15.6 15.6

15 Cụm TTCN Kiện Khê 1 Kiện Khê, Thanh Liêm 56.15 56.15 56.15

16 Cụm CN Tây Thanh Hải Thanh Hải, Thanh Liêm 21.6 21.6

đi vào hoạt động, 05 cụm công nghiệp mới tiến hành giao đất cho doanh nghiệp và có doanh nghiệp mới đến đầu tư

Tổng số vốn đầu tư xây dựng hạ tầng các cụm công nghiệp 77.563 triệu đồng, đã giải ngân được 32.942 triệu đồng và chiếm 42.5% tổng số ngân sách Vốn đầu tư xây dựng hạ tầng chủ yếu được triển khai thực hiện từ nguồn ngân sách tỉnh (mới có 02/22 cụm công nghiệp cụm công nghiệp Kiện Khê của huyện Thanh Liêm và cụm công nghiệp Trung Lương của huyện

Trang 38

Bình Lục thu hút được đơn vị kinh doanh hạ tầng) Một số cụm công nghiệp khác việc kình doanh hạ tầng do UBND huyện làm chủ đầu tư.Tính đến nay các các cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã thu hút được 111 dự án đăng kí đầu tư, trong đó 89 dự án đi vào hoạt động với tổng vốn đăng kí là 1.208,04 tỷ đồng, vốn thực hiện theo dự án đạt 598,08 triệu đồng Với 89 dự án đi vào hoạt động đã thu hút được 5.000 lao động vào làm việc trong các cụm công nghiệp trên địa bàn trong và ngoài tỉnh Vì vậy đã góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho lao động ở Hà Nam, tạo cho họ có công việc ổn định và mức thu nhập tương đối cao Qua đó đã làm cho tình hình xã hội được ổn định, các tệ nạn xã hội giảm xuống nhanh chóng Trong thời gian tới đòi hỏi ban lãnh đạo của Hà Nam khai thác thế mạnh trong công nghiệp của tỉnh, xây dựng và hoàn thiện các KCN và các cụm công nghiệp tạo nhiều ngành nghề phù hợp với từng đối tượng lao động trong tỉnh.

Tuy nhiên, việc thu hút vốn đầu tư vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp phát triển chậm Đầu tư cơ sở hạ tầng ở một số khu công nghiệp tiến hành còn chậm và chưa được đồng bộ, một số cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp như hệ thống đường giao thông, cấp thoát nước Vấn đề xử lý môi trường trong các khu công nghiệp chưa tiến hành đồng bộ với việc xây dựng các công trình sản xuất công nghiệp Công tác giải phóng mặt bằng khu công nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc ảnh hưởng đến tiến độ đầu tư của chủ đầu tư Mối liên kết, tác động qua lại giữa khu, cụm công nghiệp của tỉnh còn hạn chế, chưa thực sự hỗ trợ lẫn nhau trong phát triển

Như vậy, việc hình thành các khu và cụm công nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào các cơ sở công nghiệp trên địa bàn tỉnh Qua đó thúc đẩy ngành công nghiệp phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng và giá trị xuất khẩu cao, góp phần tăng trưởng kinh tế Trong 20 năm qua, tỉnh Hà Nam ngoài những tiềm năng và lợi

Trang 39

thế về địa lý, tỉnh đã có những chủ trương, chính sách hấp dẫn trong việc mời gọi đầu tư như các doanh nghiệp được hỗ trợ kinh phí giải phóng mặt bằng, thuê đất với giá ưu đãi, được miễm giảm thuế theo quy định, cùng với thủ tục hành chính đơn giản, nhanh chóng thuận tiện Những chủ trương, chính sách

đó đã tạo ra sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư đến với Hà Nam

2.2 Về giá trị sản xuất công nghiệp

Để phát huy những tiềm năng, thế mạnh sẵn có của tỉnh, cùng với những chủ trương chính sách phát triển công nghiệp đúng đắn của Đảng bộ và chính quyền tỉnh, công nghiệp Hà Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ Giá trị sản xuất công nghiệp hàng năm của địa phương có sự tăng trưởng cao, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh Hà Nam tăng nhanh được thể hiện qua bảng số liệu sau:

Bảng 2.4: Giá trị sản xuất công nghiệp thời kỳ (1997 - 2013)

Trang 40

trong 3 năm đầu từ (1997 – 1999 ), giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh chỉ đạt dưới ngưỡng 1000 tỷ đồng Đến năm 2000, giá trị sản công nghiệp của tỉnh đã vượt ngưỡng 1000 tỷ đồng; đến năm 2003, giá trị sản xuất công nghiệp đã đạt trên 2000 tỷ đồng Như vậy, chỉ trong vòng 2 năm giá trị sản xuất công nghiệp tăng hơn 1000 tỷ đồng Từ năm 2004 trở đi giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh tiếp tục tăng nhanh và liên tục từ 1000- 2000 tỷ/ năm Đến năm 2008, giá trị sản xuất công nghiệp có sự tăng vượt bậc từ con số dưới 2000 tỷ / năm và tăng từ 5.809,2 lên đến 8.458,0 tỷ Đến năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp đã vượt ngưỡng 10.000 tỷ đồng; Giá trị sản xuất công nghiệp thời kì này tăng mạnh nhất là từ năm 2009- 2010 tăng đến 6.450 tỷ/ năm Đặc biệt năm 2012, giá trị sản xuất công tăng thêm 6.312 tỷ đồng so với năm 2011 Với con số này đã đưa giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh lên ngưỡng trên 30.000 tỷ đồng vào năm 2013 Đây là mức tăng khá cao so với nền kinh tế chung của cả nước Đến năm 2013 giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh đạt 33.768,9 tỷ đồng, gấp hơn 105 lần so với năm 1997.

Mức tăng trưởng của ngành công nghiệp Hà Nam trong gần 20 năm qua tăng nhưng không đều qua các năm Năm tăng năm giảm,nhưng không năm nào mức tăng trưởng bị âm Trong đó, năm tăng trưởng cao nhất là năm

1999 đạt mức 94% sau đó là 2010 đạt mức tăng trưởng 59.9% Nguyên nhân chủ yếu là do năm này các doanh nghiệp Nhà nước và ngoài Nhà nước tiếp tục phát triển và có thêm nhiều cơ sở đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh với quy mô lớn đã đẩy tốc độ phát triển sản xuất của ngành lên cao Nhưng từ năm 2000 đến năm 2005 giá trị sản xuất công nghiệp giảm chỉ còn 19,9 % Nguyên nhân chủ yếu là do trong thời gian này một số sản phẩm công nghiệp

có giá trị lớn của công nghiệp quốc doanh gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ nên sản lượng giảm mạnh như: sản lượng than giảm 50,9%, đá khai thác giảm 27,4%, thịt đông lạnh giảm 39,0%, sứ dân dụng giảm 50%, điện giảm 37,7%,

đã ảnh hưởng đến giá trị sản xuất công nghiệp năm này Từ năm 2003 đến

2013 trong 1o năm liên tục giá trị sản xuất công nghiệp tăng giảm không đồng

Ngày đăng: 13/04/2016, 11:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban quản lý các khu công nghiệp, Báo cáo tổng kết công tác năm 2004 và nhiệm vụ 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2004 và nhiệm
2. Ban quản lý các khu công nghiệp, Báo cáo tổng kết công tác năm 2005 và nhiệm vụ 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban quản lý các khu công nghiệp, "Báo cáo tổng kết công tác năm 2005 và nhiệm
3. Ban quản lý các khu công nghiệp, Báo cáo tổng kết công tác năm 2006 và phương hướng nhiệm vụ 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2006 và
4. Ban quản lý các khu công nghiệp, Báo cáo tổng kết công tác năm 2007 và phương hướng nhiệm vụ 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2007 và
5. Ban quản lý các khu công nghiệp, Báo cáo tổng kết công tác năm 2008 và phương hướng nhiệm vụ 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2008 và
6. Ban quản lý các khu công nghiệp, Báo cáo tổng kết công tác năm 2009 và phương hướng nhiệm vụ 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban quản lý các khu công nghiệp, "Báo cáo tổng kết công tác năm 2009 và
7. Ban quản lý các khu công nghiệp, Báo cáo tổng kết công tác năm 2010 và phương hướng nhiệm vụ 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2010 và
8. Ban quản lý các khu công nghiệp, Báo cáo tổng kết công tác năm 2011 và phương hướng nhiệm vụ 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2011 và
9. Ban quản lý các khu công nghiệp, Báo cáo tổng kết công tác năm 2012 và phương hướng nhiệm vụ 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2012 và
10. Ban quản lý khu công nghiệp, Báo cáo tổng kết nhiệm vụ công tác năm 2013 và phương hướng nhiệm vụ năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết nhiệm vụ công tác năm 2013 và
11. Bộ Kế hoạch và đầu tư, Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Hồng thời kỳ 1996 - 2000, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng "Đồng bằng sông Hồng thời kỳ 1996 - 2000
12. Bùi Ngọc Lan, Việc làm của nông dân Đồng bằng sông Hồng trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc làm của nông dân Đồng bằng sông Hồng trong quá trình "công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
13. Cục thống kê tỉnh Hà Nam (2010), Kinh tế- xã hội Hà Nam 14 năm phát triển 14. Cục thống kê Hà Nam, Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế- xã hội Hà Nam 14 năm phát triển"14. Cục thống kê Hà Nam
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Hà Nam
Năm: 2010
17. Cục thống kê Hà Nam, Niên giám thống kê 1990- 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 1990
21. Cục thống kê Hà Nam, Niên giám thống kê 2001, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2001
22. Cục thống kê Hà Nam, Niên giám thống kê 2009, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2009
25. Cổng thông tin điện tử: Hà Nam.gov.vn - báoHà Nam org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nam.gov.vn
28. Đảng bộ tỉnh Hà Nam, Văn kiện đại hội đại biểu Đảng Bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XX, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu Đảng Bộ tỉnh Hà Nam lần thứ "XX
29. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự thật, Hà Nội, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Nhà XB: NXB Sự thật
30. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Hiện trạng sử dụng đất năm 2013 - Luận văn thạc sĩ: Công nghiệp tỉnh Hà Nam 1997 2013
Bảng 1.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2013 (Trang 9)
Bảng 2.1: Các cơ sở sản xuất công nghiệp phân theo ngành thời kỳ - Luận văn thạc sĩ: Công nghiệp tỉnh Hà Nam 1997 2013
Bảng 2.1 Các cơ sở sản xuất công nghiệp phân theo ngành thời kỳ (Trang 26)
Bảng 2.2: Số lao động công nghiệp phân theo ngành thời kỳ (1997- 2013) - Luận văn thạc sĩ: Công nghiệp tỉnh Hà Nam 1997 2013
Bảng 2.2 Số lao động công nghiệp phân theo ngành thời kỳ (1997- 2013) (Trang 28)
Bảng 2.6: Cơ cấu giá trị sản xuất các ngành công nghiệp Hà Nam thời   kỳ(1997 - 2013) - Luận văn thạc sĩ: Công nghiệp tỉnh Hà Nam 1997 2013
Bảng 2.6 Cơ cấu giá trị sản xuất các ngành công nghiệp Hà Nam thời kỳ(1997 - 2013) (Trang 48)
Bảng 2.7: Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo khu vực kinh tế (1997 - 2013) - Luận văn thạc sĩ: Công nghiệp tỉnh Hà Nam 1997 2013
Bảng 2.7 Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo khu vực kinh tế (1997 - 2013) (Trang 57)
Bảng 2.8: Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của Hà Nam thời kỳ   (1997- 2013) - Luận văn thạc sĩ: Công nghiệp tỉnh Hà Nam 1997 2013
Bảng 2.8 Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của Hà Nam thời kỳ (1997- 2013) (Trang 60)
Bảng 3.1: Cơ cấu tổng  sản phẩm các tỉnh Đồng bằng sông Hồng  phân theo ngành kinh tế thời kỳ (1997 - 2013) - Luận văn thạc sĩ: Công nghiệp tỉnh Hà Nam 1997 2013
Bảng 3.1 Cơ cấu tổng sản phẩm các tỉnh Đồng bằng sông Hồng phân theo ngành kinh tế thời kỳ (1997 - 2013) (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w