Tại điều 24.2 – Luật giáo dục có ghi : “Phương pháp giáo dục phải pháthuy tính tự giác, chủ động, sáng tạo của người học, phù hợp với đặc điểm củatừng môn học, lớp học, bồi dưỡng phương
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Người hướng dẫn khoa học
TS.NGÔ VĂN HƯNG
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡcủa thầy cô và các bạn
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy Ngô Văn Hưng (Chuyên
viên chính – Vụ Giáo dục Trung học, Bộ giáo dục và Đào tạo ) đã tận tìnhhướng dẫn, cho em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này
Em cũng xin trân thành cảm ơn các thầy cô giáo bộ môn phương phápgiảng dạy, các thầy cô giáo trong khoa Sinh – KTNN, trường Đại Học SưPhạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài khoa học của mình
Mặc dù đã hết sức cố gắng thực hiện hiện đề tài nhưng vì thời gian eohẹp nên đề tài còn có những sơ sót nhất định, rất mong nhận được sự đónggóp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn
Em xin trân thành cảm ơn
Ngày 29 tháng 04 năm 2012
Sinh viên
Vũ Thị Huế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan kết quả nghiên cứu của đề tài này đảm bảo tính chínhxác, khách quan, trung thực và không trùng lặp với bất cứ đề tài nào
Nếu sai em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 29 tháng 04 năm 2012
Sinh viên
Vũ Thị Huế
Trang 4MỤC LỤC
Trang 5PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 5
3 Giả thuyết khoa học 5
4 Đối tượng nghiên cứu 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Những đóng góp mới của đề tài 7
PHẦN II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 8
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8
1.1 Cơ sở lý luận 8
1.1.1 Dạy học tích cực 8
1.1.2 Phương tiện dạy học 14
1.1.3 Bản đồ tư duy – Phương tiện tổ chức hoạt động độc lập của HS .16
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 20
1.2.1 Thực tiễn dạy học với việc sử dụng BĐTD của GV THPT 20
1.2.2 Tình hình học tập của học sinh lớp 12 – THPT ( năm học 2011 – 2012 ) 27
CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG BẢN ĐỒ TƯ DUY PHƯƠNG TIỆN TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HS TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG I – SH12 33
2.1 Vị trí, cấu trúc, chuẩn kiến thức kỹ năng chương I 33
2.1.1 Vị trí 33
2.1.2 Cấu trúc 33
Trang 62.1.3 Phân tích chuẩn kiến thức kỹ năng làm cơ sở xây dựng BĐTD
34
2.2 Xây dựng hệ thống BĐTD cho chương I – Cơ chế di truyền và biến dị 40
2.2.1 Cách xây dựng BĐTD 44
2.2.2 Các hình thức vẽ BĐTD 44
2.2.3 Hệ thống BĐTD đã xây dựng 44
CHƯƠNG 3 SỬ DỤNG HỆ THỐNG BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG I, SINH HỌC 12 57
3.1 Định hướng sử dụng hệ thống BĐTD vào dạy học 57
3.1.1 Một số hoạt động dạy học chủ yếu trong một tiết học 57
3.1.2 Dạy học hợp tác nhóm với BĐTD 58
3.2 Định hướng sử dụng BĐTD vào dạy học chương I – Cơ chế di truyền và biến dị 59
3.3 Sử dụng BĐTD vào dạy học một số bài cụ thể thuộc chương I – Cơ chế di truyền và biến dị 60
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 89
1 KẾT LUẬN 89
2 ĐỀ NGHỊ 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 92
Trang 7PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Do yêu cầu đổi mới của phương pháp dạy học
Theo đánh giá của các nhà xã hội học, thế kỷ XXI là thế kỷ của sựbùng nổ thông tin, của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật Thế kỷ mà nềnkinh tế tri thức đóng vai trò chủ đạo, tri thức là sức mạnh và nguyên khí củamột quốc gia Quốc gia nào đứng trên đỉnh cao của tri thức thì quốc gia đóphát triển Chính vì vậy, các quốc gia đều chú trọng vào việc tạo nên mộtcuộc cách mạng trong giáo dục
Việt Nam đang trên con đường hội nhập quốc tế Nền kinh tế đangchuyển dần từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, phấnđấu đến năm 2030 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại Tronggiai đoạn này Đảng và nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, kế hoạch vànhững phương án cụ thể tạo nên những bước chuyển mình trong các lĩnh vựcđời sống, xã hội, quốc phòng…Trong đó, sự chuyển biến trong giáo dục cóvai trò quan trọng, chi phối đến sự phát triển của các lĩnh vực khác Vì vậytrong quá trình phát triển của xã hội thì giáo dục phải luôn đi trước một bước
Đó là một sứ mệnh lịch sử
Thực tế trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng
và nhà nước luôn luôn thực hiện phương châm: “ Coi giáo dục là quốc sáchhàng đầu”, nhân tố con người luôn đặt ở vị trí trung tâm Xã hội mới luôn cầnnhững con người mới: năng động, sáng tạo, có tính độc lập, tự chủ cao, cókhả năng thích nghi với môi trường thay đổi và có kỹ năng giải quyết mọi vấn
đề mà thực tiễn đặt ra Muốn vậy, con người mới cần trang bị những tri thứckhoa học, được hình thành và rèn luyện những kỹ năng cần thiết Như vậy, sựnghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa của nhà nước gắn liền với sự nghiệp
Trang 8xây dựng con người mới Sự nghiệp đào tạo ra những con người mới cần có
sự phối hợp hiệu quả giữa gia đình, nhà trường và xã hội Trong đó giáo dụcnhà trường đóng vai trò nòng cốt
Giáo dục phổ thông có nhiệm vụ trang bị cho học sinh – chủ nhântương lai của đất nước những tri thức khoa học, cơ bản, hiện đại Đặc biệt,trang bị cho các em kỹ năng tự học, tự nghiên cứu, phát hiện và giả quyết vấn
đề, học tập cá thể kết hợp với học nhóm hiệu quả và quan trọng là kỹ năng tựhọc, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề thực tiễn Để thực hiện được sứmệnh đó thì giáo dục cần có sự đổi mới về mục tiêu, nội dung, phương phápdạy học
Định hướng đổi mới dạy học đã được xác định trong nghị quyết TW4(01/1993) Nghị quyết TW2, khóa VIII (12/1996), được thể chế hóa trong luậtgiáo dục (12/1998) và được cụ thể hóa trong chỉ thị của bộ giáo dục và đàotạo Tại điều 24.2 – Luật giáo dục có ghi : “Phương pháp giáo dục phải pháthuy tính tự giác, chủ động, sáng tạo của người học, phù hợp với đặc điểm củatừng môn học, lớp học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vậndụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm và đem lại niềm vui vàhứng thú cho học sinh”
Thực tế, không thể phủ nhận rằng nền giáo dục nước ta ở tình trạngthấp kém trong một thời gian dài Điều đó do nhiều nguyên nhân gây nênnhưng chủ yếu là do ta duy trì nền giáo dục quan liêu, áp đặt trong một thờigian dài Phương pháp chủ yếu là: Thầy truyền đạt - trò nghe và ghi nhớ mộtcách máy móc Ở phương pháp này, người học bị động, không phát huy đượctính tính xực học tập, khó khăn trong việc nhận thức những kiến thức khó,trừu tượng Vì vậy, học sinh thiếu sự sáng tạo và kỹ năng vận dụng kiến thứcvào thực tiễn Nền giáo dục truyền thống là biểu hiện của tư duy sai lầm Vì
Trang 9vậy, muốn có cuộc cách mạng trong giáo dục thì cần phải có sự đổi mới tưduy trong giáo dục Đó là sự thay đổi từ phương pháp dạy học truyền thốngsang phương pháp dạy học tích cực – Dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
Trong DHTC việc sử dụng PTDH là cần thiết bởi lẽ : PTDH dễ dàngchuyển tải kiến thức, phát huy tính tích cực học tập của học sinh Vì vậy sửdụng PTDH hợp lý sẽ nâng cao hiệu quả dạy học Có nhiều phương tiện dạyhọc khác nhau Việc sử dụng PTDH nào vào dạy học phụ thuộc vào nhiều yếutố: nội dung bài học, đặc điểm môn học, khả năng nhận thức của học sinh vàđiều kiện thực tế tại trường Xét thấy rằng, BĐTD là PTDH có nhiều ưu điểm:
dễ dàng tổ chức hoạt động học tập độc lập hay hoạt động nhóm của học sinh,giúp học sinh ghi chép một cách hiệu quả, logic và mạch lạc Đặc biệt cácdụng cụ cần cho việc thiết kế bản đồ tư duy khá đơn giản như giấy, bìa, bảngphụ, bút màu, bút chì, tẩy…đối với việc thiết kế thủ công hay có thể thiết kếBĐTD trên máy tính nhờ sự hỗ trợ của các phần mềm mindmap Đồng thờiBĐTD cũng dễ sử dụng nên rất phù hợp với điiều kiện dạy và học ở nước ta.Trên thế giới, việc sử dụng BDTD trong mọi lĩnh vưc của cuộc sống là kháphổ biến và vô cùng rộng rãi ở mọi lứa tuổi với đủ mọi mục đích khác nhau
Ở nước ta, BĐTD được áp dụng nhiều trong công việc, lập kế hoạch…Trongnhững năm gần đây việc sử dụng BĐTD trong dạy học đã có rất nhiều côngtrình nghiên cứu cũng như được các thầy cô ở tất cả các cấp học áp dụng và
đã bước đầu gặt hái được một số hiệu quả nhất định Hiện nay, BĐTD làphương tiện dạy và học được sử dụng nhiều tại các trường ở đủ mọi cấp học ởcác tỉnh, thành phố như Hà Nội, Hòa Bình, Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh…Tuy nhiên do gặp khó khăn trong khâu thiết kế, khâu tổ chức để học sinh tựthiết kế cũng như hoạt động dạy và học với bản đồ tư duy cùng với những khókhăn khác mà BĐTD vẫn chưa được sử dụng một cách rộng rãi và hiệu quả
Trang 10do đó quá trình dạy học đã không tranh thủ được những ưu điểm của việc sửdụng BĐTD mang lại.
1.2 Do thực tiễn dạy học bộ môn
Hiện nay khoa học kĩ thuật đang phát triển với tốc độ rất nhanh Cứ 4 –
5 năm khối lượng tri thứ lại tăng lên gấp đôi.Trong sự phát triển chung đó thìkhoa học sinh học có tốc độ phát triển nhanh nhất Sự gia tăng khối lượng trithức, sự đổi mới khoa học sinh học tất yếu phải dẫn đến đổi mới phương phápdạy học Sinh học Trước đây phương pháp dạy học sinh học mang lại tính mô
tả thông báo nghĩa là giáo viên nói, học sinh nghe, dẫn đến sự lĩnh hội tri thứcmột cách thụ động không phát huy được tính tích cực của người học
Hiện nay, các GV Sinh học đang áp dụng nhiều phương pháp dạy họctích cực để từng bước chuyển dần cách dạy học từ chỗ trang bị kiến thức chohọc sinh sang dạy cho học sinh cách tiếp cận và tìm tòi kiến thức Từ đó, vậndụng kiến thức vào thực tế và biến đổi thành kỹ năng cho riêng bản thânmình Việc áp dụng PPDH bằng BĐTD kết hợp với các phương pháp họcnhóm, công nghệ thông tin… vào trong giảng dạy hiện đang là công cụ phùhợp và đạt hiệu quả mà ở một số trường đang dần thực hiện trong việc nângcao chất lượng dạy và học trong giáo dục hiện nay
Việc phát triển tư duy cho học sinh và giảng dạy kiến thức về thế giớixung quanh luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của những người làmcông tác giáo dục Nhằm hướng các em đến một phương cách học tập tích cực
và tự chủ, chúng ta không chỉ cần giúp các em khám phá các kiến thức mới
mà còn phải giúp các em hệ thống được những kiến thức đó Việc xây dựngđược một “hình ảnh” thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức sẽ mang lạinhững lợi ích đáng quan tâm về các mặt: ghi nhớ, phát triển nhận thức, tư
Trang 11duy, óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo…Một trong những công cụ hết sứchữu hiệu để tạo nên các “hình ảnh liên kết” là Bản đồ Tư duy.
Bản đồ tư duy giúp cho học sinh học được cách học, tư duy một cáchtích cực huy động tối đa tiềm năng của bộ não, ghi chép một cách có hiệuquả, giúp cho tư duy học sinh không bị lạc lối và rất logic Đặc biệt vẽ BĐTDtrong dạy và học sinh học giúp cho học sinh dễ nắm bắt các kiến thức dàidòng, sâu chuỗi các mạch kiến thức thành một hệ thống Đồng thời cũng tậndụng được nguồn hình ảnh trực quan vô cùng phong phú một trong những ưuthế nổi bật của bộ môn Sinh học
Ngoài ra Chương I - Sinh học 12 có lượng kiến thức lớn, rất trừu tượng,các kiến thức có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, khá logic do đó đòi hỏi ngườihọc phải có sự liên kết chúng bằng các sơ đồ mới thuận lợi cho việc ghi nhớcác kiến thức đó
Với tất cả các lí do trên, cùng với nhu cầu bản thân là muốn trang bịcho mình kỹ năng thiết kế và sử dụng BĐTD vào dạy học tích cực nên chúngtôi nghiên cứu đề tài: “Xây dựng và sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học
chương I : Cơ chế di truyền và biến dị , Sinh học 12 - CTC ”.
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất cách xây dựng bản đồ tư duy, cách tổ chức hoạt động dạy vàhọc với bản đồ tư duy nhằm nâng cao hiệu quả dạy học cũng như phát triểnhoạt động học tập tích cực của học sinh trong dạy học chương I – Sinh học12
3 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống các bản đồ tư duy tốt và sử dụng theophương pháp tích cực sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Chương I –Sinh học 12
Trang 124 Đối tượng nghiên cứu
Nội dung chương I – Sinh học 12 theo chuẩn kiến thức kỹ năng đểthiết kế BĐTD cũng như tổ chức hoạt động dạy và học
Hệ thống các BĐTD để dạy kiến thức mới cũng như khái quát, ôn tậpkiến thức để dạy học Chương I – Sinh học 12
Phương pháp dạy học của giáo viên Sinh học tại ba trường THPT (LýThường Kiệt – Hà Nội, Văn Giang – Hưng Yên, Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội)
Học sinh lớp 12 ở 4 trường THPT (Lý Thường Kiệt – Hà Nội, VănGiang – Hưng Yên, Nguyễn Văn Cừ - Hà Nội, Nguyễn Đăng Đạo – Bắc Ninh)
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Phân tích “ Chuẩn kiến thức, kỹ năng chương I – SH 12 làm cơ sở
cho việc xây dựng hệ thống bản đồ tư duy và cách sử dụng chúng sao cho phùhợp
5.2 Sưu tầm, biên tập hình ảnh phù hợp với nội dung kiến thức chương
I – SH12 để xây dựng hệ thống bản đồ tư duy
5.3 Xây dựng bản đồ tư duy trên giấy và sử dụng phần mềm vẽ bản đồ
tư duy (như mindmap2008, mindmap 5pro.zip hay Buzan’s imindmap4…) đểhoàn thành hệ thống bản đồ tư duy
5.4 Cách sử dụng hệ thống bản đồ tư duy đã làm được giúp học sinh
học bài mới cũng như ôn tập củng cố kiến thức
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các tài liệu có liên quan làm cơ sở lý luận cho đề tài như: lýluận dạy học sinh học, các tài liệu hướng dẫn dạy học, các tài liệu về ứngdụng bản đồ tư duy trong dạy học, các công trình khó học có liên quan
6.2 Điều tra
Trang 13Khảo sát, tìm hiểu thực tiễn việc xây dựng và sử dụng BĐTD trongthực tiễn tại các trường THPT đặc biệt là ở bộ môn Sinh học
6.3 Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến đánh giá của các thầy, cô giáo có kinh nghiệm tâm huyết vớinghề về việc xây dựng cũng như sử dụng BĐTD trong dạy học Sinh học
7 Những đóng góp mới của đề tài
7.1 Góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học của việc xây dựng và sử
dụng BĐTD vào tổ chức hoạt động học tập của học sinh
7.2 Xây dựng được hệ thống BĐTD làm tư liệu tham khảo cho giáo
viên sinh học THPT và các bạn sinh viên có nhu cầu tìm hiểu về BĐTD và sửdụng BĐTD vào dạy học tích cực cũng như hoạt động tự học, hoạt động quản
lý, lập kế hoạch công việc
7.3 Thiết hế được một số giáo án cho chương I có sử dụng BĐTD làm
phương tiện tổ chức dạy học theo phương pháp tích cực
Trang 14PHẦN II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Nếu như người học không đủ năng lực bản thân để tự học, tự biến đổimình thì mục tiêu đào tạo không thể thực hiện được cũng như không thể phùhợp với yêu cầu xã hội đang đặt ra Ngược lại, nếu bản thân có cố gắng và có
kỹ năng tự học một cách hiệu quả thì dù điều hiện có khó khăn mấy thì vẫn cóthể hình thành năng lực mới, phẩm chất mới Bác Hồ đã dạy: “Cách học tậpphải lấy tự học làm cốt, việc học tập của mỗi người không chỉ diễn ra khi đấntrường mà phải diễn ra suốt cuộc đời với mục đích : học để biết, học để làm,học để chung sống và học để làm người
Trang 15* Quan niệm về “ Dạy”
“Dạy” không phải là truyền đạt kiến thức cho người học một cách thụđộng bằng cách giảng giải hay thuyết trình mà phải làm cho người học tựkhám phá ra và tiếp nhận tri thức theo cách thức mà người dạy hướng dẫn
Người dạy phải luôn làm cho người học có hứng thú với tri thức cầntiếp nhận, phát huy tối đa tiềm năng hay sức sáng tạo của người học Ngoài rangười dạy phải hướng dẫn người học phương pháp tự học, tự tìm tòi và pháthiện tri thức Cùng với đó thì người phải chỉ ra cái đích mà người học cần đạttới và hướng dẫn cho người học biết con đường và cách thức để đạt tới cáiđích đó
Người dạy phải biết sử dụng các phương pháp dạy một cách phù hợpnhất đối với từng đối tượng, từng hoàn cảnh,từng cái đích mà người học đanghướng đến
Như vậy, sản phẩm của quá trình dạy học là: hình thành kiến thức, kỹnăng và hoàn thiện nhân cách người học
1.1.1.2 PPDH tích cực
Để đạt được mục tiêu dạy học thì cần chú ý đến PPDH Và việc thayđổi PP từ dạy học truyền thống sang dạy học tích cực là việc cần làm ngay đốivới công tác giảng dạy hiện nay
** Tình hình nghiên cứu và áp dụng của PPDH tích cực vào thực tiễn dạy học
* Trên thế giới:
Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX thì PPDH tích cực đã được chú
ý ở các nước
Trang 16Từ năm 1920: Ở Anh đã hình thành nhà trường kiểu mới, chú ý đến sựphát triển trí tuệ của học sinh, khuyến khích các hoạt động tự học, tự quản củahọc sinh
Năm 1950 : Tại Liên Xô, Đức, Ba Lan đã chú ý đến tích cực hóa hoạtđộng học tập của học sinh
Năm 1980 : Ở Pháp các trường học kiểu mới mà trong đó tại các lớphọc việc học diễn ra tùy thuộc vào hứng thú của học sinh dã có mặt ở khắpmọi nơi trong nước
Một số nước trong khu vực, đến năm 1980 cũng đã bắt đầu chú ý đếntích cực hóa hoạt động học tập của người học
Năm 1990 : bắt đầu cải cách nội dung SGK
Năm 1990 – 1997: xây dựng chuyên ban 12/1995: hội thảo về đổi mớiPPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động của người học
Năm 2000: xây dựng lại chương trình từ lớp 1 đến lớp 12
Trang 17Những năm gần đây các nhà lý luận dạy học nước ta đã và đang rất chú
ý đến việc sử dụng BDTD vào dạy học như các công trình nghiên cứu của T.STrần Đình Châu, Bộ giáo dục và đào tạo và T.S Đặng Thị Thu Thủy, Việnkhoa học giáo dục Việt Nam… Nhưng số lượng các công trình nghiên cứu vềviệc xây dựng và sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học sinh học THPT thìchưa nhiều Tại trường ĐHSP Hà Nội 2, đã có một số đề tài về việc sử dụngphiếu học tập, phương tiên trực quan vào dạy và học chương I, phần Di truyềnhọc nhưng chưa có công trình nào về việc sử dụng BĐTD vào việc dạy họcchương này
** Đặc trưng của PPDH tích cực
PPDH tích cực là một hệ thống các phương pháp có đặc trưng sau:
* Dạy học lấy học sinh làm trung tâm: DHTC đề cao vai trò của ngườihọc HS vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của dạy học, tôn trọng lợi ích và nhucầu của người học Phương pháp dạy học xuất phát từ nhu cầu, lợi ích vàhứng thú của người học Mục tiêu dạy học không chỉ dừng ở việc giúp HSlĩnh hội kiến thức mà cần chú trọng đến việc phát triển năng lực tư duy, tínhchủ động và sáng tạo, phương pháp tự học tự nghiên cứu DHTC yêu cầu cao
về người dạy: là người cố vấn, đạo diễn, trọng tài, là người tổ chức, hướngdẫn, tạo điều kiện để học sinh hoạt động độc lập Vì vậy, người giáo viên cầnphải có năng lực chuyên môn cao và năng lực sư phạm giỏi
* Dạy học bằng tổ chức hoạt động độc lập của HS : DHTC chú trọngđến việc tạo điều kiện để HS trực tiếp tác động đến đối tượng, làm nảy sinhnhiều nhiệm vụ nhận thức HS tự giác, tích cực khám phá tri thức TrongDHTC, hoạt động của HS chiếm tỷ lệ nhiều GV cần hướng dẫn HS tìm đếnkiến thức theo con đường của các nhà khoa học DHTC chú trọng đến việcrèn luyện phương pháp tự học, tự nghiên cứu GV tạo điều kiện để HS tự tìm
Trang 18ra tri thức bằng cách khuyến khích hoạt động khám phá tri thức, khéo léo địnhhướng, tạo điều kiện để học sinh tự tìm ra tri thức bằng cách khuyến khíchhoạt động khám phá tri thức, khéo léo định hướng, tạo điều kiện để HS tự tìmtòi con đường khám phá kiến thức.
* Dạy học cá thể hóa và hợp tác hóa : DHTC kết hợp giữa việc tự họcvới học tập theo nhóm dưới vai trò cố vấn, trọng tài của thầy
* Dạy học đề cao việc tự đánh giá và đánh giá: trong DHTC, GV làngười độ quyền kiểm tra, đánh giá theo định kỳ Trong DHTC thì đề cao việcđánh giá và tự đánh giá của học sinh
1.1.2.3 Tính tích cực học tập và mối quan hệ của tích cực học tập với nhận thức
** Tính tích cực học tập
* Khái niệm
Tính tích cực là bản chất vốn có của con người Nó là trạng thái hoạtđộng của chủ thể, là kết quả và là điều kiện của quá trình hình thành và pháttriển nhân cách
Tính tích cực của HS bao gồm tính tích cực xã hội và tính tích cực họctập Mục tiêu dạy học là hình thành ở học sinh tính tích cực Vì lứa tuổi HS cónhiệm vụ chính là học tập nên dạy học cần chú trọng hơn đến việc hình thànhtính tích cực học tập cho các em
Theo Rebrova: “ Tính tích cực học tập của học sinh là một hiện tượng
sư phạm, thể hiện sự gắng sức cao về nhiều mặt trong quá trình học tập”
Theo GS Trần Bá Hoành: “ tính tích cực học tập là trường hợp đặc biệtcủa tính tích cực nhận thức Tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động cử họcsinh, đặc trưng ở khát vọng học tập và sự cố gắng trí tuệ cũng như nghị lựccao trong quá trình nắm vững kiến thức”
Trang 19* Biểu hiện của tính tích cực học tập
- Bằng hành động:
+ HS khao khát, tự nguyện trả lời câu hỏi của GV hoặc bổ sung câu trảlời của bạn
+ HS hay thắc mắc, đòi hỏi phải được giải thích
+ HS chủ động, vận dụng linh hoạt kiến thức và kỹ năng để nhận thứcnhững vấn đề mới
+ Mong muốn được đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mớingoài bài học
- Bằng cảm xúc:
+ HS hào hứng, phấn khởi trong học tập
+ Ngạc nhiên trước những thông tin mới hay hiện tượng lạ
+ Băn khoăn, day dứt trước bài toán khó hay nhiệm vụ nhận thức chưahoàn thành
+ Tập trung hoặc hoài nghi trước câu hỏi mà giáo viên nêu ra
- Bằng ý trí:
+ HS tập trung vào bài học, chú ý nghe giảng
+ Không nản trước khó khăn, kiên trì làm bằng được những bài toánkhó hay trước những nhiệm vụ được giao
* Các cấp độ của tính tích cực học tập.
- Sao chép, bắt chước : HS chăm chú quan sát, kiên trì làm theo độngtác của giáo viên Tích cực luyện tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên haycủa bạn Cấp độ tích cực này thường gặp ở học sinh tiểu học
- Tìm tòi, phát hiện: HS không chỉ bắt chước , làm theo cách giải bàitập, cách giải quyết vấn đề của thầy mà còn tự mình tìm cách giải hợp lý hơn
Trang 20- Sáng tạo : HS đề xuất những ý tưởng mới, cách giải quyết vấn đề độcđáo Tự nêu ra các tình huống mới hoặc xây dựng được bài tập có tính sángtạo HS có thể thay đổi các yếu tố thí nghiệm hay đưa ra thí nghiệm mới đểchứng minh nội dung bài học.
** Mối quan hệ giữa tính tích cực học tập nhận thức
Các nhà lý luận dạy học đều khẳng định : “ Yếu tố nhận thức là cơ sởtâm lý làm nảy sinh và duy trì tính tích cực học tập”
Theo Comenxki : “…Tạo ra tình tích cực nhận thức làm cho học tập ởtrường trở thành niềm vui…”
TT Rutxo khẳng định: “…Việc lựa chọn phương pháp dạy học thíchhợp phải dưa trên hứng thú nhận thức của học sinh …”
Uxinski cho rằng: “…Hứng thú nhận thức là cơ chế bên trong đảm bảocho hoạt động học tập hiệu quả…”
Các nhà lý luận dạy học nước ta thì khẳng định: “…Hứng thú nhậnthức là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong quá trình thực hiện mục tiêu củatừng bài học và của cả sự nghiệp giáo dục…”
Như vậy có tính tích cực học tập thì mới có quá trình nhận thức Khi đã
có nhận thức thì tính tích cực học tập được tăng cường Mối quan hệ giữa haiyếu tố đó tạo nên tính hiệu quả trong học tập Vì vậy, trong dạy học cần pháthuy tính tích cực của học sinh bằng việc tạo ra hứng thú nhận thức
Điều kiện hình thành và duy trì hứng thú nhận thức: phải phát huy tối
đa hoạt động tư duy của HS bằng việc sử dụng các PPDH tích cực Nội dunghọc tập phải phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh Cần tạo đượckhông khí sôi nổi trong giờ học và những thuận lợi cho việc giao tiếp giữa trò– trò, giữa thầy – trò
1.1.2 Phương tiện dạy học
Trang 211.1.2.1 Khái niệm
Theo Lotx Kinbo ( Đức ), PTDH là tất cả những phương tiện vật chấtcần thiết giúp cho GV và HS tổ chức và tiến hành hợp lý, có hiệu quả quátrình giáo dưỡng và giáo dục ở các môn học cấp học
Theo tác giả Vũ Trọng Rỹ thì PTDH, đồ dùng dạy học là thuật ngữ chỉmột đối tượng vật chất hoặc một tập hợp đối tượng vật chất mà người GV sửdụng với tư cách là phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của HS, cònđối với HS thì đó là nguồn tri thức, là phương tiện giúp HS lĩnh hội các kháiniệm, định luật, thuyết khoa học, hình thành ở họ các kĩ năng, kĩ xảo đảmbảo việc thực hiện mục tiêu dạy học
Theo tác giả Phan Trọng Ngọ : “PTDH là toàn bộ sự vật, hiện tượngtrong thế giới, tham gia vào quá trình dạy học, đóng vai trò là công cụ hayđiều kiện để GV và học viên sử dụng làm khâu trung gian tác động vào đốitượng dạy học PTDH có chức năng khơi dậy, dẫn chuyền và làm tăng sứcmạnh tác động của người dạy và người học đến đối tượng dạy học”
Trong tài liệu lý luận dạy học : PTDH đồng nghĩa với phương tiện trựcquan Đó là những vật thật, vật tượng hình, tranh, hình…được sử dụng trongdạy học
Dựa vào vai trò của BĐTD, người ta quan niệm : PTDH là tập hợp tácđối tượng vật chất được GV sử dụng để điều khiển hoạt động nhận thức củahọc sinh Với HS thì PTDH như một nguồn tri thức phong phú, giúp HS lĩnhhội kiến thức, rèn luyện kỹ năng trực quan
Trong đề tài này chúng tôi coi Thiết bị dạy học hay còn gọi là đồ dùngdạy học, phương tiện dạy học là tất cả những phương tiện vật chất có khảnăng chứa đựng hay chuyển tải thông tin về nội dụng dạy học nhằm hỗ trợ
GV và HS tổ chức và tiến hành hợp lý, có hiệu quả quá trình dạy học
Trang 221.1.2.2 Vị trí của PTDH trong quá trình dạy học
Có thể thấy được vị trí của PTDH qua sơ đồ sau :
Như vậy, PTDH là một yếu tố cấu thành của quá trình dạy học Nó giúpgắn kết các yếu tố của quá trình dạy học hành một chỉnh toàn vẹn Sự có mặtcủa PTDH giúp vận hành và thúc đẩy quá trình dạy học đạt kết quả cao
1.1.2.3 Vai trò của PTDH
PTDH giúp cho việc dạy học hiệu quả hơn, trực quan hơn Vì vậy, việc
sử dụng PTDH giúp HS dễ dàng tiếp thu kiến thức Do đó, PTDH giúp rútngắn thời gian giảng giải của GV
Với việc sử dụng PTDH, HS sẽ hứng thú hơn trong học tập Do đó,tăng khả năng nhận thức và rèn luyện được các kỹ năng học tập: Kỹ năng tưduy, khái quát hóa kiến thức, kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộcsống…
1.1.3 Bản đồ tư duy – Phương tiện tổ chức hoạt động học tập độc lập của
HS
1.1.3.1 Khái niệm về BĐTD và BĐTD trong dạy học
Bản đồ tư duy ( BĐTD ), còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy,…làhình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa
Mục tiêu, kế hoạch
Phương tiện DH
Trang 23một chủ đề hay một mạch kiến thức,…bằng cách kết hợp việc sử dụng đồngthời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Đặc biệtđây là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỷ lệ, chi tiết khắt khe như bản đồ địa lý,
có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùngmàu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưngmỗi người có thể thể hiện nó dưới dạng BĐTD theo một cách riêng, do đóviệc lập BĐTD phát huy được tối đa năng lực sáng tạo của mỗi người
Dạy học bằng BĐTD là phương pháp dạy học bằng cách sử dụng đồngthời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực của giáoviên và học sinh Đây là phương pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh gópphần nhằm đổi mới và làm phong phú hơn cho các phương pháp giảng dạy cótác dụng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
BĐTD có thể được vẽ trước ở nhà hoặc vẽ ngay trên lớp và ngay trongquá trình học
1.1.3.2 Bản chất của BĐTD
Bản đồ tư duy là phương pháp kết nối mang tính đồ họa có tác dụnglưu giữ, sắp xếp và xác lập ưu tiên đối với mỗi loại thông tin ( thường là trêngiấy ) bằng cách sử dụng từ hay hình ảnh then chốt hoặc gợi nhớ nhằm làm
“bật lên” những ký ức cụ thể và các phát sinh các ý tưởng mới Mỗi chi tiếtgợi nhớ trong BĐTD là chìa khóa khai mở các sự kiện, ý tưởng và thông tin,đồng thời khơi nguồn tiềm năng của bộ não kỳ diệu
Bí quyết hiệu quả của BĐTD nằm ở dạng thể linh hoạt của nó BĐTDđược vẽ dưới dạng một tế bào não và có công dụng kích thích não làm việcnhanh chóng, hiệu quả một cách tự nhiên
Trang 24BĐTD – một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một
kỹ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắcphù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não giúp con người khaithác tiềm năng vô tận của bộ não Nó được coi là sự lựa chọn cho toàn bộ trí
óc hướng tới lối suy nghĩ mạch lạc
Tony Buzan là người đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu tìm ra hoạt độngcủa bộ não Theo Tony Buzan thì : “một hình ảnh có giá trị hơn cả ngàn từ”,
và “màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh” Màu sắc mangđến cho BĐTD những rung động cộng hưởng, mang lại sức sống và nănglượng vô tận cho tư duy sáng tạo
Theo một số kết quả nghiên cứu, BĐTD giúp thể hiện ra bên ngoàicách thức mà não bộ chúng ta hoạt động Có một thông tin mới mà chúng tađưa vào, để được lưu trữ và tồn tại thì chúng cần kết nối với các thông tin cũ
đã tồn tại trước đó
Việc sử dụng các từ khóa, chữ số , màu sắc và hình ảnh đã đem lại mộtcông dụng lớn vì đã huy động cả bán cầu não phải và trái cùng hoạt động Sự
Trang 25kết hợp này sẽ làm tăng cường các liên kết giữa hai bán cầu não và kết quả làtăng cường trí tuệ và tính sáng tạo của chủ nhân bộ não
1.1.3.3 Cấu trúc
Ở vị trí trung tâm BĐTD là một hình ảnh hay một từ khóa, thể hiện một
ý tưởng hay khái niệm chủ đạo Từ ý trung tâm hay hình ảnh trung tâm tỏa racác nhánh chính, ta gọi là nhánh cấp 1, từ các nhánh chính lại có sự phânnhánh đến các nhánh nhỏ hơn gọi là nhánh cấp 2 dể nghiên cứu sâu hơn Cứthế, sự phân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm hay hình ảnh luôn được kếtnối với nhau Chính liên kết này sẽ tạo ra một bức tranh tổng thể mô tả về ýtrung tâm một cách đày đủ rõ ràng
1.1.3.4 Vai trò
BĐTD giúp giáo viên dễ dàng tổ chức hoạt động học tập cho học sinh.Giúp học sinh học tập một cách tích cực BĐTD phát huy tối đa sức sáng củaphát triển năng khiếu hội họa, sở thích của HS Các em được khuyến khíchđóng góp ý kiến của mình, thuyết trình trước cả lớp là cho các em HS ngàycàng mạnh dạn và tự tin
BĐTD giúp cả GV và HS có cách ghi chép kiến thức một cách hiệuquả, lohic và mạch lạc và HS học được phương pháp học hiệu quả, phát triển
Trang 26* Bản đồ tư duy theo đoạn văn: là loại BĐTD với nội dung theo từng đoạnvăn nhỏ trong sách Mỗi BĐTD dùng để tóm tắt một đoạn văn hoặc một tríchđoạn trong sách.
BĐTD theo đoạn văn giúp cho học sinh dễ dàng nắm vững từng đoạnkiến thức nhỏ cũng như tiết kiệm thời gian ôn lại những thông tin cần thiết màkhông cần đọc lại đoạn văn đó
Những BĐTD loại này có thể được vẽ vào những mẩu giấy nhỏ rồiđính chúng vào trong SGK
* Bản đồ tư duy theo chương hay chủ đề : Là loại BĐTD cho từng trang sáchriêng biệt hoặc cho các chủ đề khác nhau
* Bản đồ tư duy theo đề cương: dạng BĐTD này này được tạo ra dựa trênbảng mục lục trong sách, nó mang lại cái nhìn tổng quát cho toàn bộ môn học.Thường dùng loại BĐTD này để HS ôn tập cho các kỳ thi hay kiểm tra cuốinăm GV có thể dùng cho bài tổng kết cuối năm nhằm định hướng việc ôn tậpcho học sinh
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
Khảo sát tình hình dạy và học chương I – Sinh học 12 bằng cách sử dụngBĐTD ở một số trường THPT nhằm xác định được những PPDH hiện đangđược GV sử dụng rộng rãi, trên cơ sở đó so sánh với cách dạy học bằngBĐTD mà khóa luận đề xuất
Chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng của việc dạy - học Sinh học ở 4trường THPT với 15 GV và 198 HS đó là các trường Trường THPT LýThường Kiệt – Hà Nội, THPT Văn Giang – Hưng Yên, THPT Nguyễn Văn
Cừ – Hà Nội, THPT Nguyễn Đăng Đạo – Bắc Ninh Ở mỗi trường chúng tôichọn các GV dạy môn Sinh học (3 - 4) người và chọn ngẫu nhiên 01 lớp HS
Trang 27tham gia khảo sát Việc lựa chọn như vậy đảm bảo tính ngẫu nhiên, kháchquan của mẫu nghiên cứu.
Đợt khảo sát được tiến hành vào đầu năm học 2011 – 2012
Cách khảo sát : chúng tôi biên soạn loại phiếu điều tra cho giáo viên (5 câuhỏi tự luận và 10 câu test) và loại phiếu điều tra cho học sinh (gồm 20 câu test)
1.2.1 Thực tiễn dạy học với việc sử dụng BĐTD của GV THPT
* Kết quả thu được từ phân tích nội dung trả lời 5 câu hỏi như sau :
Câu 1 Phần (chương) nào trong SGK Sinh học lớp 12 mà thầy (cô) cho
là khó dạy nhất ?
Hầu hết ( 14/15) GV đều cho rằng chương I Cơ chế di truyền và biến dị
là chương có kiến thức rất trừu tượng, khó lại là chương đầu tiên và là chương
cơ sở cho nên việc dạy và học chương này gặp rất nhiều khó khăn Có 1/15
GV không cho ý kiến
Câu 2 Phương pháp chủ yếu thầy (cô) sử dụng để dạy học Sinh học 12
là gì ?
Một số ít (2/15) GV sử dụng phương pháp giảng giải còn hầu hết(13/15) GV sử dụng phương pháp giảng giải kết hợp với việc sử dụng phiếuhọc tập, biểu diễn trực quan, hỏi đáp, thí nghiệm
Câu 3 Thầy (cô) có thường sử dụng BĐTD vào trong dạy học Sinh họclớp 12 không ?
Hầu hết tất cả GV (15/15) đều biết về phương pháp sử dụng BĐTDtrong dạy học nhưng không áp dụng thường xuyên vào trong giảng dạy vìchưa thành thạo cách xây dựng cũng như sử dụng chúng vào trong giảng dạy
Câu 4 Theo thầy (cô) việc sử dụng BĐTD trong dạy học có giúp nângcao chất lượng dạy và học Sinh học 12 ?
Trang 28Tất cả GV đều cho rằng việc sử dung BĐTD trong dạy học Sinh học 12chắc chắn sẽ nâng cao được chất lượng dạy học của giáo viên cũng như giúphọc sinh rèn luyện và củng cố kỹ năng tự học và tư duy một cách tích cực.Việc học các kiến thức mới cũng như ôn tập các kiến thức trở nên nhẹ nhànghơn.
Câu 5 BĐTD được sử dụng vào giảng dạy vào khâu nào là hợp lý vàđem lại hiệu quả?
Phần lớn ( 13/15) GV cho rằng sử dụng BĐTD vào dạy bài ôn tập tổngkết vì sử dụng nó để khái quát hóa kiến thức Ít GV (2/15) GV cho rằng có thể
sử dụng BĐTD dạy kiến thức mới cũng như ôn tập củng cố cuối mỗi chươnghay mỗi phần Các thầy ( cô ) còn đề xuất việc sử dụng BĐTD vào việc kiểmtra đánh giá kiến thức của HS
* Kết quả phiếu điều tra dành cho GV
Câu 1 Trong thực tiễn dạy học thầy (cô) sử dụng BĐTD vào việc hệthống hóa kiến thức cho học sinh vào lúc nào và mức độ ra sao?
Trang 29Hình thức sử
dụng
Mức độThường xuyên Đôi khi Không bao giờ
Đôi khi Không bao giờ
a Viết tóm tắt nội dung một
mục trong SGK
b Mô tả một bức tranh, giải
thích nội dung bức tranh
c Phân tích nội dung một
khái niệm sinh học
d Nêu dẫn chứng minh họa
một khái niệm
e Giải một bài tập hay vận
dụng một khái niệm sinh
Trang 30Câu 4 Trong các giờ lên lớp thầy ( cô ) đã yêu cầu HS thu thập thôngtin bằng cách nào và mức độ ra sao?
Thườngxuyên
Đôi khi Không bao giờ
Đôi khi Không bao giờ
Trang 31a Viết rõ mục tiêu Dạy – Học 0/15 2/15 13/15
Trang 32năng trọng tâm
d Lựa chọn phương pháp DH
phù hợp căn cứ vào mục tiêu,
nội dung, người học
Câu 9 Các biện pháp thầy ( cô ) sử dụng để dạy học Sinh học là :
Thường xuyên Đôi khi Không bao giờ
a Làm việc với SGK, tài
liệu tham khảo
Trang 33a Tự học nội dung kiến thức
e Gia công trí tuệ, chuyển
hóa nội dung kiến thức thành
- Đa số giáo viên nhầm tưởng BĐTD chỉ dùng được trong giờ ôn tậptổng kết mà không biết rằng BĐTD sử dụng trong dạy học bài mới cũng đạtnhững hiệu quả không ngờ Việc sử dụng BĐTD trong dạy học vẫn còn rấtcứng nhắc
- Ở trên lớp , SGK chỉ được sử dụng để HS tự đọc những nội dung kiênthức đơn giản mà không yêu cầu học sinh gia công sử lý nội dung như phânloại tài liệu, phân tích tư liệu, tổng hợp…
- Qua dự giờ chúng tôi thấy vẫn còn hiện tượng nhiều HS không mangSGK, nhiều học sinh không tích cực, tự lực khi giáo viên yêu cầu tự đọcnhững kiến thức dễ trong SGK để trả lời câu hỏi và tham gia xây dựng bài
- Số giáo viên rèn luyện cho HS vẽ và sử dụng BĐTD trong học tậpmôn Sinh học chiếm tỷ lệ rất ít
Trang 34- Phần lớn GV ít sử dụng BĐTD để hệ thống hóa kiến thức trong quátrình dạy học Một số bộ phận nhỏ GV có sử dụng ít trong nghiên cứu tài liệumới, củng cố hoàn thiện kiến thức nhưng không thường xuyên.
- Hầu hết GV cho rằng việc sử dụng BĐTD trong khâu giảng bài mớitốn rất nhiều thời gian, khó áp dụng trong một tiết lên lớp, có chăng chỉ ápdụng trong các tiết ôn tập
- Qua tìm hiểu tôi nhận thấy có GV và HS ở trường THPT Diễn Châu –Nghệ An,THPT Đô Lương I – Nghệ An, THPT Hà Nội Amsterdam… đã sửdụng BĐTD rất hiệu quả trong dạy và học
1.2.2 Tình hình học tập của học sinh lớp 12 - THPT (năm học 2011 – 2012)
Để tìm hiểu tình hình học tập của học sinh lớp 12 ở các trường thựcnghiệm chúng tôi biên soạn “ Phiếu điều tra học sinh” gồm 20 câu hỏi Bêncạnh những câu hỏi điều tra về thái độ, tình hình học tập, điều kiện học tậpcủa HS, chúng tôi chú trọng tìm hiểu thực tiễn về phương pháp học tập của
HS, đặc biệt là việc sử dụng “ Bản đồ tư duy”
Kết quả điều tra cho phép chúng tôi đưa ra một số nhận định sau:
- Số đông HS chỉ coi việc học môn Sinh học là một nhiệm vụ (chiếm50,97%) không hứng thú, say mê môn học (chiếm 32,01%), chỉ một số ít làcác em yêu thích môn học này (chiếm 17,02%) Phần lớn các em không thíchhọc bộ môn Sinh học vì cho rằng kiến thức quá khó so với khả năng nhậnthức của bản thân (28,3%); không được thực hành, thí nghiệm (9,6%) và thầy
cô dạy không hấp dẫn (52%)
- Phần lớn học sinh không thích cách dạy của giáo viên hiện nay(67,29%) với các lý do khác nhau như: dạy khô khan, chỉ đọc lại kiến thứccủa SGK, ít sử dụng phương tiện dạy học…Qua điều tra, chúng tôi cũng được
Trang 35biết có 76,23% học sinh cho rằng giáo viên chỉ sử dụng BĐTD khi ôn tậpcuối kỳ hoặc khi tổng kết chương, phần Một số ít học sinh (19,21%) cho rằnggiáo viên sử dụng phương pháp hệ thống hoá kiến thức khi dạy bài mới (tổngkết bài học) Do vậy, có đến 31,70% học sinh chỉ lĩnh hội được 50% kiến thứcngay tại lớp và chỉ có 6,76% lĩnh hội được 100% kiến thức ngay tại lớp Từ
đó đã dẫn đến kết quả là chất lượng lĩnh hội kiến thức và kết quả bộ môn cònthấp (số HS đạt loại trung bình, số học sinh hiểu sâu kiến thức, có phươngpháp học tập chủ động, sáng tạo chiếm tỉ lệ thấp (7,38%), từ đó dẫn đến chấtlượng lĩnh hội kiến thức, kết quả học tập thấp loại trung bình: 56,25%; loạiyếu, kém: 21,14%
- Chưa tách ra được nội dung kiến thức chính, bản chất từ tài liệu; chưaxác định được mối quan hệ giữa các thành phần kiến thức để có thể chắt lọc,
cô đọng, hệ thống hóa kiến thức thành hệ thống (79,8%)
- Về kĩ năng hệ thống hóa kiến thức: Chỉ có rất ít HS vận dụng thànhthạo các thao tác tư duy, lập được BĐTD (0,78%); Vận dụng thành thạo cácthao tác tư duy vẽ được BĐTD (0,62%) Đa số HS chưa phân tích, xác địnhđược mối quan hệ giữa các thành phần kiến thức (79,80%)
Nhận xét chung:
Thực tế hiện nay trong trường THPT, số HS hiểu sâu kiến thức, cóphương pháp học tập chủ động sáng tạo chiếm tỉ lệ rất thấp, phần lớn vẫn làphương pháp học thụ động như: đối với việc chuẩn bị bài mới, nếu GV giaonhiệm vụ cụ thể thì số HS cũng đã có ý thức chuẩn bị bài cũng là ít Bên cạnh
đó, số HS có thể tự đọc tài liệu, SGK mà không có hướng dẫn của GV chiếm
tỉ lệ rất thấp, tỉ lệ HS tìm sự liên quan giữa kiến thức sắp học với kiến thức cũ;tìm đọc thêm tài liệu liên quan ngoài SGK cũng chỉ chiếm khoảng 2% Sự
Trang 36chuẩn bị bài của HS chủ yếu là bằng cách học thuộc lòng những gì được ghitrong vở, thậm chí là không chuẩn bị gì cho bài mới Có thể nói, phần lớn HSvẫn chưa có ý thức đầu tư thời gian và công sức vào tìm hiểu bài, cũng nhưchưa thấy rõ được tầm quan trọng của môn học nên HS chỉ học với thái độđối phó, chưa thực sự say mê, yêu thích môn học Có thể nói, hiện nay các
GV đã có sự đổi mới PPDH bộ môn, đã áp dụng một số phương pháp tíchcực Tuy nhiên, GV chưa có những biện pháp thực sự hiệu quả để tổ chứchoạt động nhận thức cho người học Phương pháp học tập của HS chủ yếuvẫn còn thụ động, khả năng vận dụng kiến thức cũng như năng lực tư duy cònchưa cao
Đa số HS không ham thích môn Sinh học đều giải thích nguyên nhân là
do kiến thức Sinh học THPT rất khó; thầy dạy khó hiểu; các em chủ yếu làhọc thuộc lòng, tiếp thu một cách thụ động, máy móc, hời hợt Nhiều HS coimôn Sinh học là môn phụ, nên học có tính chất đối phó để lấy điểm
Ví dụ: Khi hỏi HS, để chuẩn bị trước cho một bài học môn Sinh học emthường làm những việc gì? Rất ít HS trả lời: Đọc trước sách giáo khoa, ghi lạinhững thắc mắc để hỏi thầy cô trong giờ học; hoặc tìm đọc thêm tài liệu để tựgiải đáp thắc mắc; hay xem trước sách giáo khoa để khi GV hỏi có thể trả lời
dễ dàng; đa số HS trả lời không chuẩn bị gì
Khi thầy/cô giáo gọi em lên kiểm tra bài cũ, lúc này em thường làm gì?
Đa số HS trả lời xem lại bài để đối phó nhỡ thầy, cô giáo gọi đến mình; rất ít
HS trả lời: Suy nghĩ về cách trả lời câu hỏi kiểm tra GV đặt ra, hoặc nghe bạntrả lời để đánh giá, nhận xét, hay dự kiến câu trả lời của mình
Trong giờ lên lớp, khi GV ra bài tập, hoặc đặt câu hỏi em thường làmgì? Rất ít HS trả lời: Suy nghĩ cách làm, cách trả lời câu hỏi hay trả lời bàitập; ngược lại đa số HS trả lời: Chờ xem các bạn trả lời như thế nào; không
Trang 37dám phát biểu vì sợ trả lời sai; hoặc chỉ thích xem GV chữa bài tập hoặc sửalại cách trả lời câu hỏi Điều này cũng gợi ý cho chúng tôi cần xem lại PPDHcủa GV, rất có thể GV chưa vận dụng tốt các PPTC để có tác dụng kích thíchtính tích cực học tập của HS và khả năng hệ thống hóa kiến thức của HS rấtyếu
Những tồn tại trên có thể do một số nguyên nhân sau:
- Một bộ phận GV ý thức vươn lên cái mới, cái tích cực, cải tiến PPDHcòn mờ nhạt Điều này được thể hiện ở quá trình gia công bài lên lớp còn theolối cũ, chưa thể hiện được hoạt động của GV đóng vai trò chủ đạo, tổ chức,điều khiển các hoạt động học tập của HS, các bài soạn nặng về thiết kế cáccâu hỏi với số lượng nhiều, chủ yếu là các câu hỏi tái hiện kiến thức, chưachứa đựng mâu thuẫn nhận thức, chưa gây ra nhu cầu nhận thức, phát huytính tích cực học tập của học sinh và chưa phù hợp với trình độ, đối tượng
HS Tóm lại, các câu hỏi chưa tạo được tình huống có vấn đề trong học tập
- GV dạy theo phương pháp diễn giảng, trần thuật, giảng giải là chủyếu
- Kiến thức về phần Sinh học 12 của nhiều GV còn hạn chế; nhiều GVđược đào tạo khá lâu, kiến thức về Sinh học 12 trừu tượng, khó, mới và thayđổi nhiều, nhưng GV ít được bồi dưỡng về kiến thức lẫn PP, khi dạy chưa
nắm chắc “ Chuẩn kiến thức, kĩ năng chương trình” Bởi vậy, một số GV chỉ
giảng qua loa, đôi khi nội dung kiến thức truyền đạt còn thiếu chính xác Do
đó GV rất lúng túng trong việc rèn luyện HS kĩ năng hệ thống hóa kiến thức
- Việc kiểm tra, củng cố, đánh giá và thi cử vẫn chưa đổi mới nhiều.Thi và kiểm tra còn nặng về tái hiện kiến thức (đánh giá và thi cử như thế nào
sẽ có cách dạy, đối phó tương ứng) Các kỳ thi và kiểm tra nói chung vẫn chủyếu là câu hỏi có nội dung trả lời đã có trong SGK, ít câu hỏi đòi hỏi phải cần
Trang 38sự hiểu, vận dụng, phân loại HS Vì vậy, không phát huy tính tích cực học tậpcủa HS.
- Các hoạt động chỉ đạo nghiên cứu, bồi dưỡng giảng dạy, còn nặng vềtìm hiểu và khai thác nội dung chương trình và sách giáo khoa Thiếu sựchuẩn bị đồng bộ đối với các mắt xích trong mối quan hệ rất chặt chẽ là mụctiêu - nội dung - phương pháp - phương tiện dạy học
- HS chưa xác định đúng động cơ, thái độ học tập, chưa ham thích họctập bộ môn nên thụ động trong việc tiếp thu kiến thức mới
- Việc nghiên cứu PPDH nói chung chỉ dừng lại ở mức độ lí thuyết,chưa được cụ thể hoá nên việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu còn nhiềukhó khăn
Trang 39CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG BẢN ĐỒ TƯ DUY CHO CHƯƠNG I – SH12
2.1 Vị trí, cấu trúc, chuẩn kiến thức kỹ năng chương I
+ Chương 1: Cơ chế di truyền và biến dị
+ Chương 2: Tính quy luật của hiện tượng di truyền
+ Chương 3: Di truyền học quần thể
+ Chương 4: Ứng dụng di truyền học
+ Chương 5: Di truyền học người
Vậy, chương 1 – Cơ chế di truyền và biến dị là chương đầu, cơ bản của phần
Trang 40+ Bài 3: Điều hòa hoạt động của gen.
+ Bài 5: Nhiễm sắc thể và đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể
+ Bài 6: Đột biến số lượng nhiễm sắc thể
+ Bài 7: Thực hành – Quan sát các dạng đột biến nhiễm sác thể trêntiêu bản cố định và trên tiêu bản tạm thời
2.1.3 Phân tích chuẩn kiến thức kỹ năng làm cơ sở xây dựng BĐTD
- Quá trình nhân đôi ADN ở sinh vật nhân sơ :
+ Bước 1 : Tháo xoắn phân tử ADN
+ Bước 2 : Tổng hợp các mạch ADN mới
+ Bước 3 : Hai phân tử ADN được tạo thành
Các mạch mới tổng hợp dến đâu thì 2 mạch đơn xoắn đến đó → tạothành phân tử ADN con, trong đó một mạch mới được tổng hợp còn mạchkia là của ADN ban đầu ( nguyên tắc bán bảo tồn )
* Trình bày được những diễn biến chính của cơ chế phiên mã và dịch mã
- Cơ chế phiên mã :
+ Đầu tiên ARN polimeraza bám vào vúng điều hòa làm gen tháo xoắn
để lộ mạch mã gốc ( có chiều 3’ – 5’ ) và bắt đầu tổng hợp tại vị trí đặc hiệu
+ Sau đó, ARN poolimaraza trượt dọc theo mạch mã gốc trên gen cóchiều 3’ → 5’ để tổng hợp nên mARN theo nguyên tắc bổ sung ( A – U ; G –
X ) theo chiều 5’→ 3’