Bản thân conngười và xã hội loài người luôn mang bản tính của một thưc thể tự nhiên.Nhận thức đúng đắn về mối quan hệ hữu cơ giữa con người và tự nhiên, xácđịnh một cách có ý thức tích c
Trang 1Phần I: MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Con người và xã hội là một bộ phận đặc thù – đặc biệt của thế giới tựnhiên, được sinh ra trong tự nhiên và tồn tại trong tự nhiên Bản thân conngười và xã hội loài người luôn mang bản tính của một thưc thể tự nhiên.Nhận thức đúng đắn về mối quan hệ hữu cơ giữa con người và tự nhiên, xácđịnh một cách có ý thức tích cực các hoạt động thực tiễn của con người phùhợp với quy luật tự nhiên – đó là cơ sở để giải quyết mọi vấn đề về môitrường sinh thái
Hiện nay chúng ta đang trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước, phát triển nền kinh tế thị trường Sự nghiệp đó không thể không liênquan chặt chẽ đến những vấn đề thuộc về môi trường – sinh thái – nhân văn
Trong thực tế chúng ta đang sống trong môi trường sinh thái có chiềuhướng suy giảm Trong vòng vài chục năm trở lại đây, loài người mới giậtmình vì thấy Trái Đất có quá nhiều người, môi trường quá ô nhiễm, còn quá íttài nguyên Quá nhiều sự cố môi trường, diễn biến bất thường của thời tiếtđang hàng ngày đe dọa con người
Vì thế, vấn đề môi trường sống hiện nay đã vượt ra ngoài phạm vi sinhthái học thông thường, mà nó đã trở thành một vấn đề kinh tế - chính trị - xãhội của toàn cầu Bảo vệ môi trường trở thành nhiệm vụ cấp bách đối với mọingười, mọi dân tộc, mọi quốc gia trên Trái Đất Để giải quyết được vấn đềnày thì công việc giáo dục bảo vệ môi trường là một trong những biện pháphữu hiệu nhất, tinh tế nhất, có tính bền vững và sâu rộng nhất trong số cácbiện pháp để thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đấtnước
Trong số các môn học ở trường THPT thì môn Công Nghệ là một trongnhững môn học thực nghiệm, nó cung cấp cho học sinh rất nhiều các kiến
Trang 2thức cơ bản về thế giới tự nhiên nói chung và về môi trường xung quanh Vìthế qua môn học này, mỗi khi cung cấp một đơn vị kiến thức cơ bản có liênquan đến môi trường thì GV có thể tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường vàotừng đơn vị kiến thức này hoặc từng bài giảng của mình.
Để việc tích hợp giáo dục BVMT vào trong từng bài giảng có liên quanđến môi trường đạt hiệu quả cao nhất thì theo tôi chúng ta cần phải làm sao đểkhông những gây được hứng thú học tập cho các em về môn học này màchúng ta còn có thể lồng ghép kiến thức về môi trường và vấn đề BVMT đểrồi từ đó xây dựng ý thức BVMT cho các em
Trên cơ sở tìm tòi những tư liệu về BVMT, thu thập thông tin qua báođài và internet, đặc biệt là nắm bắt về phương pháp dạy học có tích hợpGDMT bộ môn Công Nghệ Bên cạnh đó dựa vào việc tìm ra những đơn vịkiến thức trong chương trình Công Nghệ 10 có liên quan đến việc giáo dục
BVMT, tôi đã chọn đề tài “Vận dụng một số biện pháp tích hợp GDMT trong dạy học chương 1- Công Nghệ 10”.
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc GDMT trong dạy học Công nghệ 10
- Nghiên cứu thực trạng GDMT và BVMT ở trường THPT
- Phân tích nội dung kiến thức chương 1- Công nghệ 10 – THPT làm cơ
sở cho việc tích hợp GDMT
Trang 3- Đề xuất nội dung và một số biện pháp nhằm tích hợp GDMT trong dạyhọc Công nghệ 10.
- Thiết kế một số bài giảng vận dụng tích hợp GDMT trong dạy họcchương 1 – Công nghệ 10
4 Đối tượng nghiên cứu
- Nội dung SGK Công nghệ 10 – THPT
- Học sinh lớp 10 – THPT
- Nhiệm vụ của môn học Công nghệ 10 – THPT
- Các hình thức dạy học có tích hợp GDMT trong Công nghệ 10 –THPT
5 Phạm vi nghiên cứu
- Phần 1, chương 1: Trồng trọt, lâm nghiệp đại cương
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan tới việc GDMT làm cơ sở lí luậncho đề tài, nghiên cứu nhiệm vụ của môn Công nghệ - THPT
6.2 Phương pháp điều tra
- Điều tra thực trạng vận dụng các biện pháp tích hợp GDMT trong dạyhọc Công nghệ 10 của giáo viên và nhận thức của học sinh về vấn đề BVMT,thông qua dự giờ, nghiên cứu giáo trình, bằng phiếu, phỏng vấn trực tiếp
6.3 Phương pháp chuyên gia
- Xin ý kiến của những GV – THPT có kinh nghiệm về phương phápdạy học môn Công nghệ và khả năng tích hợp GDMT vào dạy học Công nghệ10
7 Những đóng góp của đề tài
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lí luận của việc tích hợp GDMT trongdạy học Công nghệ 10
Trang 4- Góp phần phản ánh thực trạng GDMT và BVMT trong dạy học Côngnghệ ở trường THPT.
- Phân tích nội dung tích hợp GDMT trong phần 1, chương 1: Trồngtrọt, lâm nghiệp đại cương – Công nghệ 10
- Thiết kế được một số giáo án có ví dụ tích hợp GDMT trong dạy họcchương 1 - Công nghệ 10
Trang 5Phần II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN GDMT TRONG DẠY HỌC CÔNG NGHỆ 10
1.1 Khái niệm về môi trường và ô nhiễm môi trường
1.1.1 Khái niệm về môi trường
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo cóquan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống,sản xuất, phát triển của con người và thiên nhiên (Điều 1, Luật BVMT củaViệt Nam, 1993)
Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cầnthiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên,không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội
Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉbao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộcsống con người Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầygiáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườntrường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc,làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫnđược công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp,nghị định, thông tư, quy định
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở
để sống và phát triển
1.1.2 Khái niệm về ô nhiễm môi trường
Theo định nghĩa trong Luật bảo vệ môi trường của nước Cộng hoà Xãhội chủ nghĩa Việt Nam: Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất củamôi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường
Trang 6Theo cách hiểu chung, ô nhiễm môi trường là hiện tượng một chất nào
đó có mặt trong môi trường với thành phần và lượng chất có khả năng ngăncản các quá trình tự nhiên vận hành một cách bình thường hoặc làm cho cácquá trình này xảy ra theo xu hướng không như mong muốn, gây nên nhữngảnh hưởng có hại đối với sức khoẻ và sự sinh tồn của con người hoặc của cácloài sinh vật khác sinh sống trong môi trường đó
Ô nhiễm môi trường là khái niệm để chỉ sự xuất hiện của một chất lạtrong môi trường tự nhiên hoặc làm biến đổi thành phần, tỷ lệ về hàm lượngcủa các yếu tố có sẵn, gây độc hại cho cơ thể sinh vật và con người nếu nhưhàm lượng của các chất đó vượt khỏi giới hạn thích nghi tiềm tàng của cơ thể
1.2 GDMT trong dạy học Công Nghệ
1.2.1 Thực trạng môi trường Việt Nam
Xếp hạng thứ 5 khu vực châu Á - Thái Bình về mức độ ô nhiễm khóibụi ở thành phố đông dân, nồng độ khí thải tăng cao và nhanh, hiện tượngnhiều dòng sông cục bộ chết, việc xuất hiện các làng ung thư là những điểmnóng, cung cấp những bức tranh nhỏ lẻ, khiến người dân bức xúc về thựctrạng môi trường Việt Nam hiện nay
Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe doạ trực tiếp sự phát triển kinh tế
- xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và tương lai
Ô nhiễm môi trường hoàn toàn không phải là một hiện tượng mới Từthời thượng cổ, con người đã có những hoạt động làm ô nhiễm môi trường,nhưng chưa đáng kể vì dân số ít, khoa học kĩ thuật chưa phát triển Dần dầnnhững tác động của con người gây ô nhiễm môi trường ngày càng rõ rệt vàtăng lên đáng kể (đặc biệt là trong nửa cuối thế kỉ 20)
Trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, vì tập trung ưu tiênphát triển kinh tế và cũng một phần do nhận thức hạn chế nên việc gắn pháttriển kinh tế với bảo vệ môi trường chưa chú trọng đúng mức Tình trạng tách
Trang 7rời công tác bảo vệ môi trường với sự phát triển kinh tế - xã hội diễn ra phổbiến ở nhiều ngành, nhiều cấp, dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm môi trườngdiễn ra phổ biến và ngày càng nghiêm trọng
Ô nhiễm môi trường gây ra do những nguyên nhân chính sau:
- Sự gia tăng dân số và tốc độ đô thị hoá diễn ra ngày càng nhanh
- Sự ô nhiễm môi trường có thể là hậu quả của các hoạt động tự nhiên,hoạt động núi lửa, thiên tai lũ lụt, bão,…hoặc các hoạt động do con ngườithực hiện trong công nghiệp, giao thông, chiến tranh và công nghệ quốcphòng
- Sự gia tăng chất thải độc hại do con người sử dụng quá nhiều loại hoáchất mới trong các ngành sản xuất công - nông nghiệp cũng như để đáp ứngcác nhu cầu sinh hoạt, trong khi chưa có biện pháp kiểm soát hữu hiệu, đặcbiệt là các chất phân huỷ ảnh hưởng đến khả năng tự thanh lọc của môitrường
Chất gây ô nhiễm môi trường rất đa dạng về nguồn gốc và chủng loại,tuy vậy chúng được phân chia thành ba nhóm lớn: chất thải rắn, chất thải lỏng
và chất thải khí Mỗi dạng có thể chứa đựng nhiều chất, từ các hoá chất, cáckim loại nặng, đến chất phóng xạ và vi trùng Nhiệt cũng là tác nhân trực tiếphay gián tiếp gây nên sự ô nhiễm môi trường
Đối tượng gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là hoạt động sản xuất củanhà máy trong các khu công nghiệp, hoạt động làng nghề và sinh hoạt tại các
đô thị lớn Ô nhiễm môi trường bao gồm 3 loại chính là: ô nhiễm đất, ô nhiễmnước và ô nhiễm không khí
Môi trường không khí: Chất lượng không khí ở Việt Nam nói chung
còn khá tốt, đặc biệt là ở nông thôn và miền núi Thế nhưng vấn đề bụi lạiđang trở thành vấn đề cấp bách ở các khu đô thị và các khu công nghiệp Việcgia tăng các phương tiện giao thông cũng đang gây ô nhiễm không khí ở
Trang 8nhiều nơi Nồng độ chì, khí CO khá cao, trực tiếp gây hại đến sức khoẻ củanhững người tham gia giao thông Nhiều vụ cháy rừng gần đây làm suy giảmchất lượng không khí và gây ra một số hiện tượng thiên nhiên không bìnhthường khác.
Ô nhiễm không khí, việc xả khói chứa bụi và các chất hóa họcvào bầu không khí Ví dụ về các khí độc là cacbon mônôxít, điôxít lưu huỳnh,các chất cloroflorocacbon (CFCs), và ôxít nitơ là chất thải của công nghiệp và
xe cộ Ôzôn quang hóa và khói lẫn sương (smog) được tạo ra khi các ôxít nitơ
phản ứng với nước trong không khí (chính là sương) xúc tác là ánh sáng mặttrời
Môi trường nước: Chất
lượng nước ở thượng lưu các con
sông còn khá tốt nhưng vùng hạ
lưu phần lớn bị ô nhiễm, nhiều nơi
ô nhiễm nghiêm trọng Chất lượng
nước suy giảm mạnh: nhiều chỉ
tiêu như BOD, COD, NH4, tổng N, tổng P cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiềulần Nước ngầm ở một số vùng, đặc biệt là một số khu công nghiệp và đô thị
có nguy cơ cạn kiệt vào mùa khô và ở một số nơi đã có dấu hiệu bị ô nhiễm
do khai thác bừa bãi và không đúng kỹ thuật
Trang 9 Ô nhiễm nước xảy ra khi nước bề mặt chảy qua rác thải sinhhoạt, nước rác công nghiệp, các chất ô nhiễm trên mặt đất, rồi thấm xuốngnước ngầm.
Môi trường đất: Có xu thế thoái hoá do xói mòn, rửa trôi, mất chất hữu
cơ; khô hạn, sa mạc hoá, ngập úng, lũ; trượt, sạt lở đất; mặn hoá, phèn hoá dẫn đến nhiều vùng đất bị cắn cỗi, không còn khả năng canh tác và tăng diệntích đất bị hoang mạc hoá
Ô nhiễm đất xảy ra khi đất bị nhiễm các chất hóa học độc hại(hàm lượng vượt quá giới hạn thông thường) do các hoạt động chủ động củacon người như khai thác khoáng sản, sản xuất công nghiệp, sử dụng phân bónhóa học hoặc thuốc trừ sâu quá nhiều, hoặc do bị rò rỉ từ các thùng chứa
Trang 10ngầm Phổ biến nhất trong các loại chất ô nhiễm đất là hydrocacbon, kim loạinặng, MTBE, thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu, và các hydrocacbon clo hóa.
Rừng và độ che phủ
thảm thực vật: Độ che
phủ rừng tăng nhưng chất
lượng rừng chưa được cải
thiện, vẫn tiếp tục bị suy
giảm Rừng tự nhiên đầu
nguồn và rừng ngập mặn
bị tàn phá nghiêm trọng
Trang 11Môi trường biển ven
bờ: Việt Nam có bờ biển
dài hơn 3.200km nhưng
trong vòng 20 năm qua,
diện tích rừng ngập mặn
nước ta giảm hơn một nửa
Lũ quét, triều cường, sóng
biển dẫn tới sạt lở bờ biển
làm cho các loài sinh vật
bị mất nơi cư trú, suy giảm
mạnh về chủng loại và số
lượng
Đa dạng sinh học: Việt
Nam là một trong mười quốc
gia có đa dạng sinh học thuộc
dạng cao nhất trên thế giới
Tuy nhiên, những năm gần
đây, đa dạng sinh học nước ta
bị suy giảm mạnh do cháy
rừng, do chuyển đổi mục đích
sử dụng đất đai, làm thu hẹp
nơi cư trú của các giống loài
Trang 12Nạn khai thác và đánh bắt quá mức, buôn bán trái phép động vật, thực vật quýhiếm vẫn tiếp diễn
Ô nhiễm môi trường đang trở thành hiểm hoạ đối với đời sốngcủa sinh giới và cả đối với con người ở bất kì phạm vi nào, từ quốc gia, khuvực đến toàn cầu Ô nhiễm môi trường là sản phẩm của quá trình công nghiệphoá và đô thị hoá diễn ra hơn 200 năm nay Ô nhiễm hiện nay đã lan tràn vàomọi nơi, từ đất, nước đến khí quyển, từ bề mặt đất đến các lớp sâu của đất vàcủa đại dương
Việt nam chúng ta đang trong quá trình hiện đại hoá, công nhiệp hoáđất nước, hơn nữa sự đô thị hoá cũng như giao thông vận tải chưa phát triển vìthế sự ô nhiễm môi trường nói chung chưa xảy ra trên diện rộng, nhưng ônhiễm môi trường đã xảy ra cục bộ, từng lúc, từng nơi
Giáo dục môi trường là một quá trình thông qua các hoạt động giáo dụcchính quy và không chính quy nhằm giúp con người có được sự hiểu biết, kỹnăng và giá trị tạo điều kiện cho họ tham gia vào phát triển một xã hội bềnvững về sinh thái
Giáo dục môi trường cũng được quan niệm là: “Một quá trình thườngxuyên qua đó con người nhận thức được môi trường của họ và thu được kiếnthức, giá trị, kỹ năng, kinh nghiệm cùng quyết tâm hành động giúp họ giảiquyết các vấn đề môi trường hiện tại và tương lai, để đáp ứng các yêu cầu củacác thế hệ hiện nay mà không vi phạm khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế
hệ tương lai” (Dự án VIE/95/041, 1997)
- Quan tâm: Giúp các tổ chức xã hội và cá nhân biết cảm thụ và quan tâmđến môi trường nói chung và vấn đề môi trường nói riêng
Trang 13- Tri thức : Giúp các tổ chức xã hội và cá nhân có được nhiều trải nghiệm
về môi trường và các vấn đề của nó, có tri thức cơ bản về môi trường vàcác vấn đề của nó
- Thái độ: Giúp các tổ chức và cá nhân có được động cơ tham gia tích cựccải thiện và bảo vệ môi trường, có tình cảm và giá trị quan đối với môitrường
- Kỹ năng : Giúp các tổ chức và cá nhân có kỹ năng xác định và giải quyếtcác vấn đề môi trường
- Tham gia: Cung cấp cho mọi người cơ hội được tham dự tích cực vàomọi hoạt động có mục tiêu giải quyết vấn đề môi trường
- Giáo dục về môi trường: Xem môi trường là một đối tượng khoa học,người dạy truyền đạt cho người học các kiến thức của bộ môn khoa học
về môi trường, cũng như phương pháp nghiên cứu về đối tượng đó
- Giáo dục trong môi trường: Xem môi trường thiên nhiên hoặc nhân tạonhư một địa bàn một phương tiện để giảng dạy, học tập, nghiên cứu Vớicách tiếp cận này, môi trường sẽ trở thành “phòng thí nghiệm thực tế” đadạng, sinh động cho người dạy và người học Xét về hiệu quả học tậpkiến thức, kỹ năng, nghiên cứu có thể hiệu quả rất cao
- Giáo dục vì môi trường: Truyền đạt kiến thức về bản chất, đặc trưng củamôi trường hình thành thái độ, ứng xử, ý thức trách nhiệm, quan niệmgiá trị nhân cách, đạo đức đúng đắn về môi trường, cung cấp tri thức kỹnăng, phương pháp cần thiết cho những quyết định, hành động BVMT
và phát triển bền vững
- Huy động kinh nghiệm của đối tượng giáo dục, tức là khai thác nhữngkinh nghiệm thực tế sống phong phú và làm việc của bản thân Không
Trang 14ngừng nâng cao nhận thức về MT của đối tượng giáo dục, làm cho ngườihọc hiểu rõ bản chất, tầm quan trọng của các vấn đề MT và trách nhiệmcủa họ đối với các vấn đề này.
- Xem xét thái độ và quan niệm về giá trị, tức là xem xét tính đúng đắn và
sự phù hợp của thái độ và quan niệm của người học về các vấn đề môitrường
- Xây dựng ý thức trách nhiệm, nghĩa là thái độ và quan niệm về giá trịphải được thể hiện thành ý thức trách nhiệm, cam kết của người học đốivới các vấn đề MT cụ thể mà họ gặp
- Tăng cường hiểu biết về các vấn đề MT cần xử lý cũng như cần phòngngừa và khả năng khoa học, công nghệ, quản lý để thực hiện các việcnày
- Cung cấp kỹ năng: Đó là những kỹ năng cụ thể để quan sát, phân tích,quyết định, hành động, và tổ chức hành động
- Khuyến khích hành động: Các nội dung nêu trên cần được thể hiện trongthực tế thành hành động cụ thể của người học
Thường chú ý sử dụng 7 phương pháp sau:
- Giáo dục qua kinh nghiệm thực tế của người học, người học được tiếpxúc trực tiếp với đối tượng học tập nghiên cứu
- Tham quan, khảo sát thực địa
- Phương pháp giải quyết vấn đề
- Nghiên cứu những vấn đề môi trường thực tế,những trường hợp cụ thểcủa địa phương hoặc cơ sở nơi người học ở hoặc làm việc
- Học tập theo thực tiễn dự án
- Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
Trang 15- Phát triển thái độ, cách ứng sử, đạo đức cần có về MT cụ thể thông qualồng ghép các vấn đề giá trị trong bài giảng, giảng giải ý nghĩa trong vàngoài bài giảng.
1.3.Nhiệm vụ của chương trình Công Nghệ 10-THPT
1.3.1 Nhiệm vụ trí dục phổ thông
- Chương trình Công nghệ Nông nghiệp ở phổ thông có nhiệm vụ trang
bị cho HS những kiến thức kĩ thuật nông nghiệp phổ thông, cơ bản hiện đại vàphù hợp với thực tiễn sản xuất Nông nghiệp ở nước ta
- Kiến thức phổ thông: Là những kiến thức cần thiết tối thiểu cho thanhthiếu niên đủ điều kiện tham gia lao động sản xuất và các hoạt động xã hội
- Kiến thức cơ bản hiện đại: Là kiến thức được lựa chọn dựa trên các họcthuyết quy luật cơ bản và phù hợp với sự phát triển khoa học hiện đại
Trong chương trình Công nghệ 10 – THPT, kiến thức cơ bản nhất là hệthống các kiến thức các khái niệm, các quy luật được phát triển theo một trình
tự logic chặt chẽ Các kiến thức này đặt nền móng cho việc tiếp tục học lênhoặc vào các trường trung học chuyên nghiệp – dạy nghề có liên quan hoặc rađời, hòa nhập với cộng đồng, tham gia lao động sản xuất và các công việctrong ngành nghề khác
Khoa học kĩ thuật ngày càng hiện đại, lượng thông tin ngày một tăng lênnhanh chóng Vì vậy, những kiến thức phổ thông cũng cần phải cập nhật, đổimới Ngoài việc cải cách thay SGK theo chu kì từng giai đoạn, thì người giáoviên cũng cần phải thường xuyên cập nhật tri thức, tìm kiếm tích lũy thông tinkhoa học Công nghệ
Qua quá trình dạy học HS phải hiểu, nhớ và vận dụng được, theo nguyên
lí giáo dục đi đôi với thực hành, lí luận kết hợp với thực tiễn, giáo dục kết hợpvới lao động sản xuất, việc giảng dạy môn Công nghệ phải quán triệt tinh thầngiáo dục kĩ thuật tổng hợp Thông qua môn Công nghệ giúp HS nắm vững cơ
Trang 16sở khoa học của những công cụ kĩ thuật, quy trình sản xuất cơ bản có liênquan đến các đối tượng sống Nguồn tri thức cung cấp cho HS thông qua conđường giáo dục là nguồn tri thức có mục đích, đã được chọn lọc, sắp xếp có
hệ thống, quy định trong chương trình SGK và được GV thể hiện trong quátrình hướng dẫn HS theo kế hoạch hợp lí
1.3.2 Nhiệm vụ phát triển tư duy
Trong quá trình dạy học, GV phải tạo cơ hội thuận lợi để HS tập dượt,phát triển các kĩ năng và phẩm chất trí tuệ nhằm nâng cao hiệu quả nhận thức,
để HS rèn luyện các thao tác, kĩ năng, kĩ xảo, xây dựng thói quen vận dụngkiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống
Nhiệm vụ phát triển tư duy bao gồm hai mặt liên quan chặt chẽ với nhaulà: Phát triển năng lực nhận thức và phát triển năng lực hành động
- Năng lực nhận thức: Bao gồm hệ thống các kĩ năng giúp cho quá trìnhnhận thức thuận lợi và có hiệu quả hơn như: kĩ năng quan sát, kĩ nănglàm thí nghiệm, kĩ năng suy luận, so sánh, khái quát hóa, trừu tượnghóa,
- Năng lực hành động: Đó là phẩm chất tư duy, biểu hiện ở tính tích cực,độc lập, sáng tạo trong học tập như: tự học, tự nghiên cứu, năng lực pháthiện và giải quyết kịp thời những vấn đề nảy sinh trong thực tế
Trong quá trình dạy học Công nghệ ở trường THPT, GV cần chú ýphát triển các kĩ năng nhận thức sau:
a Kĩ năng quan sát
Biết quan sát không phải chỉ là sự tinh tường của các giác quan mà điềuquan trọng hơn còn là biết định hướng quan sát sao cho tư liệu tri giác đượcvừa phong phú, lại vừa phù hợp với mục đích nhận thức đối tượng và hiệntượng sống
Trang 17Trong dạy học, để hình thành năng lực quan sát, GV phải tập cho HSbiết xác định mục đích, nội dung, phương pháp và phương tiện quan sát Đó
là những kĩ năng giúp HS quan sát thu được các tài liệu tri giác về đối tượng.Những gì thu được từ hoạt động quan sát trong tự nhiên, trong thực tiễn sảnxuất và đời sống, trong thực nghiệm khoa học cần phải được tiếp tục giacông, xử lý để có thể trở thành các biểu tượng rồi từ đó khái quát thành cáckhái niệm, quy luật sinh học Hoạt động gia công, xử lí này đòi hỏi phải sửdụng các biện pháp logic như phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, rút
ra kết luận
b Kĩ năng làm thí nghiệm
Thông qua việc thực hiện các thí nghiệm trên lớp, GV rèn luyện, giúp
HS biết cách xác định mục đích thí nghiệm, xây dựng kế hoạch tiến hành Kĩnăng thí nghiệm bao gồm: Lựa chọn, lắp ráp các dụng cụ thí nghiệm, bố trí thínghiệm Giúp HS biết ghi chép diễn biến kết quả của thí nghiệm, giải thíchcác hiện tượng và biết tường trình tổng kết rút ra kết luận
c Phát triển các biện pháp, phương pháp tư duy lôgic
Mọi hoạt động đều cần tới tư duy Tư duy là đặc trưng của hoạt độngnhận thức Nói tư duy, chủ yếu muốn đề cập tới hai con đường logic là quynạp, diễn dịch và các thao tác tư duy bao gồm phân tích, tổng hợp, so sánh,trừu tượng hóa, khái quát hóa Mỗi con đường đều sử dụng các thao tác tưduy đó
Quy nạp: Là quá trình tư duy đi từ các sự kiện riêng rẽ đến các quy luật,quy trình, nguyên lý chung Quy nạp bắt đầu từ việc tích lũy những hiểu biếtcủa nhiều sự kiện và hiện tượng cùng loại Nhờ so sánh, phân tích các nhómđối tượng cùng loại mà người ta phát hiện được các dấu hiệu và thuộc tínhchung của chúng Quy nạp chỉ có kết quả khi đã tích lũy được đầy đủ những
sự kiện quan sát, thực nghiệm
Trang 18Diễn dịch: Là con đường tư duy đi từ những quy luật khái niệm đến nhậnthức các sự vật hiện tượng cụ thể Suy lí diễn dịch thường dùng khi vận dụngkhái niệm đã biết vào các trường hợp cụ thể, qua đó mà nắm vững thêm kháiniệm Nhờ có diễn dịch mà trong dạy học hình thành những tri thức cụ thể,cùng loại được nhanh chóng, đầy đủ và chính xác.
Quy nạp và diễn dịch là hai mặt của quá trình tư duy thống nhất, luôn bổsung hỗ trợ cho nhau và thường được sử dụng đồng thời trong quá trình dạyhọc Cả hai con đường quy nạp và diễn dịch mục đích cuối cùng là làm saocho HS nắm chắc các khái niệm
- Gáo dục hướng nghiệp
- Giáo dục môi trường
Cung cấp cho HS những nhận thức đúng đắn về vị trí của việc BVMTthiên nhiên
Cung cấp cho HS những kiến thức hiểu biết về môi trường
Phải biến những nhận thức và kiến thức hiểu biết đó thành những hànhđộng thiết thực để tham gia bảo vệ môi trường
Hiện nay vẫn còn nặng giáo dục về MT, nhưng chưa chuyển đượcthành giáo dục vì MT Chính vì thế mà ý thức của mọi người đối với MT cònchưa cao
Trang 19Ba nhiệm vụ dạy học có mối quan hệ khăng khít với nhau, không tách rờinhau và phải thực hiện đồng thời trong từng tiết học, từng chương và cả quátrình dạy học.
Trong đó, nhiệm vụ trí dục là nhiệm vụ hàng đầu bởi phải có một vốntri thức nhất định mới hình thành và phát triển được thao tác tư duy và mới cóthể biến kiến thức thành niềm tin, thành hành vi đạo đức
Nhiệm vụ phát triển tư duy chỉ có thể thực hiện được thông qua quátrình nhận thức, nhưng khi đạt đến trình độ tư duy nhất định sẽ giúp cho quátrình tiếp thu kiến thức thuận lợi hơn
Nhiệm vụ giáo dục là kết quả tất yếu và cũng là mục đích cuối cùngcủa quá trình dạy học khi HS đã có những nhận thức đúng đắn nhiệm vụ họctập của mình, có ý thức tự giác học tập thì kết quả học tập sẽ tốt hơn
Chương 2 TÍCH HỢP GDMT TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG 1,
CÔNG NGHỆ 10 - THPT
2.1 Khái niệm tích hợp
Tích hợp (integration) có nghĩa là sự hợp nhất, sự hoà nhập, sự kết hợp
Trong lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu
cơ, có hệ thống, ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc cácmôn học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống
Trang 20nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đếntrong các môn học hoặc các hợp phần của bộ môn đó.
Tích hợp trong phạm vi GDBVMT là một khái niệm chung, nói về mộtphương thức, một cách tiến hành giảng dạy về môi trường cho HS Cách nàykhông đòi hỏi phải có một môn học riêng, bởi vì các kiến thức GDMT đượcđưa xen vào nội dung các môn học đã có ở trường phổ thông Tích hợp là mộtcách có hệ thống các kiến thức GDBVMT và kiến thức môn học thành mộtnội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau dựa trên những mối liên hệ về
lí luận và thực tiễn được đề cập trong bài học Như vậy, kiến thức GDBVMTkhông phải muốn đưa vào bài học nào cũng được, mà phải căn cứ vào nộidung của bài học có liên quan với vấn đề môi trường mới có thể tìm chỗ thíchhợp để đưa vào
Tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau, quy địnhlẫn nhau, là tính liên kết và tính toàn vẹn Liên kết phải tạo thành một thực thểtoàn vẹn, không còn sự phân chia giữa các thành phần kết hợp Tính toàn vẹndựa trên sự thống nhất nội tại các thành phần liên kết, chứ không phải sự sắpđặt các thành phần bên cạnh nhau Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức,
kĩ năng chỉ được thụ đắc, tác động một cách riêng rẽ, không có sự liên kết,phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội dung hay giải quyết một vấn đề, tìnhhuống
2.2 Phương pháp tích hợp GDMT trong dạy học
Dạy học Công nghệ theo định hướng tích hợp vẫn theo đuổi quan điểm
“lấy HS làm trung tâm”, tích cực hoá hoạt động học tập của HS trong mọimặt, mọi khâu của quá trình dạy học; tìm mọi cách phát huy năng lực tự học,năng lực sáng tạo của HS Do vậy, việc lựa chọn và sử dụng các phương phápdạy học cần chú ý bảo đảm các yêu cầu sau:
Trang 21- Giúp HS tích hợp các kiến thức và kĩ năng đã lĩnh hội, xác lập mối liên hệgiữa các tri thức và kĩ năng thuộc các phân môn đã học bằng cách tổ chức,thiết kế các nội dung, tình huống tích hợp để HS vận dụng phối hợp các trithức và kĩ năng riêng rẽ của các phân môn vào giải quyết vấn đề đặt ra, qua
đó lĩnh hội các kiến thức và phát triển năng lực, kĩ năng tích hợp
- Tổ chức, thiết kế các hoạt động phức hợp để HS học cách sử dụng phốihợp những kiến thức và kĩ năng đã thụ đắc trong “nội bộ các phân môn”
- Đặt HS vào trung tâm của quá trình dạy học để HS trực tiếp tham gia vàogiải quyết các vấn đề, tình huống tích hợp; biến quá trình truyền thụ trithức thành quá trình HS tự ý thức về cách thức chiếm lĩnh tri thức vàhình thành kĩ năng
- Phát huy tính tích cực chủ động và sáng tạo của HS; chú trọng mối quan
hệ giữa HS với SGK; phải buộc HS chủ động tự đọc, tự làm việc độc lậptheo SGK, theo hướng dẫn của GV
2.3 Cấu trúc chương trình công nghệ 10 và nội dung tích hợp GDMT
trong chương 1 Công Nghệ 10
2.3.1 Cấu trúc chương trình công nghệ 10
Được cấu trúc theo kiểu đồng tâm xoáy ốc, tức là được mở rộng vànâng cao dần từ trung học cơ sở đến trung học phổ thông
Chương trình Công nghệ ở bậc trung học cơ sở đề cập đến nội dung:Trồng trọt, lâm nghiệp, chăn nuôi, thủy sản
Trang 22Khi lên đến trung học phổ thông, ở chương trình Công nghệ 10 các emlại được học về trồng trọt, lâm nghiệp, chăn nuôi, thủy sản, nhưng kiến thứcđược mở rộng và nâng cao hơn Bên cạnh đó, các em còn được học thêm vềkiến thức bảo quản chế biến lương thực thưc phẩm và tạo lập doanh nghiệp.Đây chủ yếu là những kiến thức đại cương nhằm cung cấp cho HS nhữngnguyên lý cơ bản nhất để có thể vận dụng vào thực tiễn cuộc sống.
Chương trình Công nghệ 10 – THPT được cấu trúc 2 phần:
Phần 1: Nông, lâm,ngư nghiệp: Gồm 3 chương
Chương 1: Trồng trọt, lâm nghiệp đại cương
- Giống cây trồng
- Sử dụng, cải tạo và bảo vệ đất trồng
- Sử dụng và sản xuất phân bón
- Phòng trừ sâu, bệnh hại cây trồng
Chương 2: Chăn nuôi, thủy sản đại cương
- Giống vật nuôi
- Sử dụng và sản xuất thức ăn chăn nuôi
- Môi trường sống của vật nuôi và thủy sản
- Phòng, chữa bệnh cho vật nuôi và thủy sản
Chương 3: Bảo quản chế biến sản phẩm nông , lâm, thủy sản
- Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nông sản
- Bảo quản một số sản phẩm nông, lâm, thủy sản
- Chế biến một số sản phẩm nông, lâm, thủy sản
Phần 2: Tạo lập doanh nghiệp: Gồm 2 chương
Chương 4: Doanh nghiệp và lựa chọn lĩnh vực kinh doanh
- Doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Lựa chọn lĩnh vưc kinh doanh
Chương 5: Tổ chức và quản lí doanh nghiệp
Trang 23- Xác định kế hoạch kinh doanh
- Tổ chức và quản lí kinh doanh
2.3.2 Nội dung tích hợp GDMT (gồm 7 bài tích hợp)
Bài 9: Biện pháp cải tạo và sử
Từ đó HS thấy được vai trò, tầm quantrọng của rừng đầu nguồn, có thái độ tích cực trong việc bảo vệ rừng và tài nguyên đất Giáo dục ý thức bảo vệ tài nguyên đất và rừng
Tình trạng sử dụng phân bón hiện naygây ô nhiễm môi trường đất và môi trường sống, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, là hiểm họa cho nền sản xuất nông nghiệp trong tương lai Thấy được vai trò của việc xây dựng nền nông nghiệp bền vững, thân thiện với môi trường
Tầm quan trọng của việc sử dụng
Trang 24sinh trong sản xuất phân bón.
Bài 19: Ảnh hưởng của thuốc
hóa học bảo vệ thực vật đến quần
thể sinh vật và môi trường
những loại phân bón sạch, thân thiện với môi trường nhưng vẫn giải quyết được vấn đề nhu cầu lương thực ngày càng tăng
Thấy được việc sử dụng thuốc hóa học trong sản xuất nông nghiệp khôngphải là biện pháp duy nhất để tiêu diệtsâu, bệnh hại mà còn nhiều biện pháp không gây hại môi trường mà vẫn đạt được kết quả Sử dụng hợp lí thuốc hóa học
Giáo dục học sinh ý thức trong việc
sử dụng thuốc hoá học phòng trừ sâu bệnh, ý thức xử lí các chai lọ đưng thuốc,…
Thấy được rõ tác hại của thuốc hóa học bảo vệ thực vật không chỉ tác động trực tiếp đến quần thể sinh vật
và môi trường, làm phá vỡ sự cân bằng sinh thái, mà còn ảnh hưởng gián tiếp đến sức khỏe con người Từ
đó đề ra những biện pháp khắc phục
và hạn chế những ảnh hưởng xấu của thuốc hóa học bảo bệ thực vật
Trang 252.4 Thực trạng vận dụng tích hợp GDMT trong dạy học Công Nghệ 10 2.4.1 Thực trạng dạy và học Công Nghệ 10
Đối với giáo viên
- Ngày 31/ 01/ 2005 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Chỉ thị vềviệc tăng cường công tác GDBVMT, nhiệm vụ của giáo dục phổ thông là phảitrang bị cho HS kiến thức, kĩ năng về môi trường và BVMT bằng nhiều hìnhthức phù hợp trong các môn học và thông qua các hoạt động ngoại khóa
- Tuy nhiên một số giáo viên thuộc nhiều môn học thực hiện nội dungtích hợp giáo dục bảo vệ môi trường vào trong các tiết học còn ít
- Một số giáo viên chưa hướng dẫn các em liên hệ những kiến thức đãhọc với thực tiễn, chưa rút ra được những bài học kinh nghiệm từ thực tiễnsau khi được học lý thuyết
- Một số giáo viên đã có liên hệ thực tiễn, tuy nhiên còn ít và hiệu quảgiáo dục chưa cao
- Việc cập nhật thông tin, số liệu, sự kiện của địa phương ở một số giáoviên chưa liên tục vì vậy quá trình vận dụng để tích hợp giáo dục môi trườngcòn nhiều hạn chế
Thông qua việc dự giờ và trao đổi với GV dạy bộ môn Công nghệ 10
về vấn đề tích hợp GDMT trong dạy học, tôi nhận thấy môn Công nghệ ở
Trang 26trường phổ thông nói chung và môn Công nghệ 10 nói riêng đến nay vẫn chưađược quan tâm đúng mức, do thiếu thốn về cơ sở vật chất và ảnh hưởng củatâm lí phân biệt môn chính, môn phụ nên GV chưa nhiệt tình trong giảng dạy.
Đa số GV vẫn sử dụng phương pháp thuyết trình - thông báo, chú trọngtruyền đạt kiến thức lí thuyết chưa quan tâm đến việc rèn luyện kĩ năng vàphát triển tư duy của HS Nhiều GV chưa chú trọng đến việc tích hợp kiếnthức GDMT, còn lúng túng trong việc liên hệ với thực tiễn, lựa chọn phươngpháp thích hợp để thực hiện nhiệm vụ GDMT
Đối với học sinh:
- Việc nắm bắt kiến thức, nhìn nhận các vấn đề về môi trường cònmông lung (Ví dụ: Chưa hiểu rõ ý nghĩa của việc bảo vệ môi trường, tác hạicủa ô nhiễm môi trường, thực trạng của các vấn đề môi trường là do đâu? Vaitrò của học sinh hiện nay trong việc bảo vệ môi trường như thế nào? )
- Chưa đề cao trách nhiệm của bản thân đối với môi trường
- Chưa tự giác trong việc giữ gìn vệ sinh nơi công cộng, nơi sinh sống
Trang 27hệ giữa người với người, giữa con người với công cụ lao động, với công nghệsản xuất, dịch vụ và với môi trường thiên nhiên: Qua đó sẽ hình thành thóiquen và kĩ năng lao động Từ những vấn đề trên ta thấy rằng giữa môn Côngnghệ và giáo dục bảo vệ môi trường có sự giao thoa với nhau.
Trong chương trình Công nghệ THPT, ta thấy có khá nhiều nội dungđều có liên quan đến môi trường và việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi trườngthông qua các bài giảng trên lớp thật cần thiết và hữu ích Tuy nhiên, trongquá trình thực hiện vẫn còn một số hạn chế như: thiếu cơ sở vật chất nhất là
về phòng học giáo án điện tử, các nguồn tư liệu từ phim ảnh còn nghèo nàn,
….Bên cạnh đó là ý thức học tập của học sinh về bộ môn còn coi nhẹ
Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÍCH HỢP GDMT VÀ THIẾT KẾ BÀI GIẢNG
TRONG CHƯƠNG 1 - CÔNG NGHỆ 10
3.1 Một số biện pháp tích hợp GDMT
Nôi dung GDBVMT được tích hợp trong nội dung của môn học nêncác phương pháp GDBVMT cũng được tích hợp vào các phương pháp giảngdạy bộ môn Tuy nhiên, muốn đạt được mục tiêu của GDBVMT là không chỉgiúp cho người học có kiến thức mà phải hình thành cho họ sự quan tâm,hành vi đối với MT thì không chỉ dừng lại ở phương pháp truyền thống mànên kết hợp với việc sử dụng các phương pháp tích cực, việc sử dụng phương
Trang 28pháp này sẽ phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học Một số phươngpháp GDBVMT có thể sử dụng là:
3.1.1 Phương pháp nêu tình huống có vấn đề
Đặc trưng của dạy học nêu vấn đề: GV đưa ra trước HS một hay hệ thống
các tình huống có chứa đựng mâu thuẫn nhận thức làm nảy sinh những bănkhoăn thắc mắc và nhu cầu tìm hiểu giải quyết các vấn đề Sau đó đưa ra cácgiả thuyết và lần lượt giải quyết vấn đề bằng cách bác bỏ những giả thuyếtsai, xác nhận giả thuyết đúng và rút ra kết luận khoa học
Tình huống có vấn đề: Là trạng thái tâm lí đặc biệt, trong đó HS tiếp thu
những mâu thuẫn khách quan như một mâu thuẫn chủ quan làm nảy sinhnhững nhu cầu nhận thức và kích thích tư duy sáng tạo
Vấn đề học tập: kiến thức cũ mâu thuẫn với kiến thức mới
Cách tạo tình huống có vấn đề:
- Đưa ra những hiện tượng mâu thuẫn với những kiến thức sẽ học
- Đưa ra các hiện tượng thực tiễn mâu thuẫn với kiến thức sẽ học
- Đưa ra những hiện tượng nghịch lí nhưng nó là một hiện thực
- Đưa ra nhiều phương án nhưng HS chỉ được lựa chọn một phương án
Các bước của dạy học nêu vấn đề:
Tạo tình huống có vấn đề:
- Tái hiện những kiến thức cũ có liên quan
- Đưa ra hiện tượng hoặc kiến thức có chứa đựng mâu thuẫn với nhữngcái đã biết
- Phát hiện và nhận dạng vấn đề nảy sinh
- Phát biểu vấn đề dưới dạng câu hỏi nghi vấn
Giải quyết vấn đề:
- Đề xuất các giả thuyết
- Xác nhận giả thuyết đúng
Trang 29ra và giải quyết cho phù hợp với chương trình và mục tiêu học tập lại là nghệthuật của người GV Muốn làm được điều này, GV phải tìm kiếm trong cáctài liệu học tập, các văn bản và trong hoạt động thực tiễn dạy và học.
Nguyên tắc dạy học khi vận dụng phương pháp dạy học theo tìnhhuống là:
- Học tập phải gắn liền với thực tiễn, nghĩa là học ở những ví dụ thực tiễn
- Học cách giải quyết vấn đề, nghĩa là học ở những ví dụ có những giảipháp giải quyết vấn đề khác nhau và đi đến sự quyết định
Khi dùng phương pháp này, người học được đưa vào một tình huốngtrong công việc họ đang thực hiện với vai trò là một chủ thể hành động thực
tế, họ không chịu sự ép buộc nào, nhưng họ đang đứng trước một tình huốngbuộc họ phải hành động và có trách nhiệm giải quyết, họ phải nhìn nhận toàn
bộ các mối liên quan đến tình huống và sự tạo ra các thông tin để nắm bắt vấn
đề Những thông tin khó hiểu phải được chia tách ra và giải thích cặn kẽ, rõràng và tạo điều kiện cho họ có thể dễ dàng thông hiểu và xử lí được, bằngcách dùng những câu hỏi gợi ý và hướng dẫn công việc để người học địnhhướng tiếp tục cho những vấn đề nhất định
Ví dụ đưa ra tình huống: “Phân hữu cơ chứa nhiều chất dinh dưỡng ,
khó phân giải.Vậy nên sử dụng chúng như thế nào để phát huy ưu điểm đó?”
Trang 30(áp dụng trong bài 12: Đặc điểm, kĩ thuật sử dụng một số loại phân bón thông thường).
3.1.2 Phương pháp vấn đáp
Bản chất: GV nêu hệ thống câu hỏi theo nội dung của bài giảng và yêu
cầu HS vận dụng vốn hiểu biết thông qua thao tác phân tích, so sánh, tổnghợp lần lượt trả lời các câu hỏi
Ưu điểm:
- Gây được hứng thú học tập, kích thích tư duy tích cực giúp HS tiếp thukiến thức chủ động, HS nắm vững kiến thức, đồng thời được rèn luyện cácthao tác tư duy, khả năng diễn đạt
- Tạo được thông tin ngược thường xuyên từ trò tới thầy
- Tạo được không khí sôi nổi trong lớp học
- Vừa có vai trò dạy kiến thức, vừa có vai trò dạy cách lập luận logic choHS
Đặc điểm của câu hỏi - phát hiện:
- Là một hệ thống câu hỏi, trong đó, những câu hỏi và câu trả lời thể hiệnlogic chặt chẽ các bước giải quyết vấn đề (hoặc câu hỏi mang tính nêuvấn đề)
- Câu hỏi luôn giữ vai trò chủ đạo dẫn dắt HS từng bước khám phá bảnchất của sự vật hiên tượng
- Nêu rõ yêu cầu phân tích hoặc tổng hợp, khái quát hóa
Khi đặt những câu hỏi cho HS, GV cần chú ý:
- Đặt những câu hỏi mang tính chất thách thức, mang tính thăm dò, đánhgiá, đòi hỏi HS phải suy nghĩ, nhận thức cao hơn
Ví dụ : Sau khi HS trả lời được hai nguyên nhân gây xói mòn đất GV sẽ
hỏi thêm: “Nguyên nhân sâu sa dẫn đến mưa lũ nhiều là gì?”
Trang 31Đặt những câu hỏi mở, tránh những câu hỏi đóng và câu hỏi “có không”, không phát huy hết khả năng của HS, tận dụng tối đa các câu
-hỏi bắt đầu bằng cái gì, tại sao, như thế nào
Ví dụ: Đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nào chịu tác động của quá
trình xói mòn đất mạnh hơn? Tại sao?
- Đặt những câu hỏi ngắn gọn, tránh những câu hỏi rườm rà không tậptrung được vào kiến thức cơ bản, làm HS không hiểu rõ ý câu hỏi
- Bên cạnh đó, trước khi đưa ra câu hỏi mới hay câu trả lời thì GV cần chờđợi sự phản hồi từ phía HS và cũng cần hướng dẫn để giúp HS có thểphát hiện ra nội dung kiến thức
3.1.3 Thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm là phương pháp nhằm giúp HS tham gia một cách chủđộng, tích cực vào quá trình học tập, tạo điều kiện cho HS có thể chia sẻ kinhnghiệm hay ý kiến để giải quyết một vấn đề nào đó
Lớp được chia thành các nhóm nhỏ, hoạt động theo nhóm (mỗi nhóm
6-8 người) được duy trì ổn định trong cả tiết học hay thay đổi tùy theo hoạtđộng Các nhóm được giao cùng nhiệm vụ hoặc các nhiệm vụ khác nhau.Các bước tiến hành:
Bước 1: Làm việc chung cả lớp: GV nêu vấn đề, phân công nhiệm vụ chocác nhóm, cung cấp nguồn tài liệu tham khảo
Bước 2: Làm viêc theo nhóm:
- Từng cá nhân làm việc độc lập
- Trao đổi ý kiến trong nhóm (chú ý: Mỗi nhóm bầu một nhóm trưởng
và thư ký ghi chép các ý kiến thảo luận)
- Các nhóm báo cáo thảo luận dưới hình thức: nói, bài viết, kết hợphình ảnh
Trang 32- Trong quá trình thảo luận GV làm nhiệm vụ quan sát, theo dõi vàkhông tham gia thảo luận.
Bước 3: Thảo luận, tổng kết trước toàn lớp
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
- Thảo luận chung
- GV tổng kết ý kiến của các nhóm
Yêu cầu khi tiến hành thảo luận:
- Đảm bảo yếu tố cạnh tranh và thi đua trong các nhóm
- Đảm bảo yếu tố thông tin phản hồi từ các nhóm
- GV đóng vai trò trọng tài, cố vấn, kết luận, kiểm tra
Để đạt hiệu quả cao GV phải:
- Lựa chọn được chủ đề thảo luận
- Biết cách phân chia các nhóm thảo luận
- Biết phân bố thời gian cho mỗi chủ đề thảo luận
- Có khả năng chuyển hóa các tri thức trong SGK sang tri thức dưới dạngtình huống
- Phải là người có năng lực tổ chức, điều khiển và dẫn dắt HS thảo luận
- Phải tạo được không khí thoải mái trong tiến trình thảo luận
- Phải có khả năng điều tiết và xử lí khéo léo các tình huống bất thườngdiễn ra trong quá trình thảo luận
- Phải là người biết sủ dụng các phương tiện dạy học hiện đại
Thảo luận nhóm là một trong nhiều biện pháp có thể phát huy được tínhtích cực, chủ động sáng tạo của người học trong học tập Phương pháp nàykhông những giúp HS tự giác, tích cực, chủ động tiếp thu kiến thức mà còntạo nên MT thuận lợi để người học tham gia vào quá trình giao tiếp, hòa nhậpvào cộng đồng xã hội, là phương pháp hữu hiệu nhằm tích hợp một cáchthuận lợi GDMT trong bài học Công nghệ 10
Trang 33Ví dụ1: “Biết được những hậu quả của việc lạm dụng thuốc hóa học
BVTV đối với con người và MT Hãy xác định nguyên nhân gây nên hậu quả
đó?” (Bài 19: Ảnh hưởng của thuốc hóa học BVTV đến quần thể sinh vật và
môi trường)
Ví dụ 2: “Mục tiêu của hoạt động cải tạo và sử dụng đất xám bạc màu là
gì?” (Bài 9: Biện pháp cải tạo và sử dụng đất xám bạc màu, đất xói mòn
mạnh trơ sỏi đá).
3.1.4 Sử dụng phương tiện trực quan
Phương pháp dạy học trực quan là phương pháp dạy học trong đó GV
sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học để hình thành kiến thức, củng cốkiến thức cho HS
Các phương tiện trực quan như: Tranh ảnh, băng hình video, phimảnh Đó là những phương tiện rất hữu ích cho việc giảng dạy kiến thức vềGDBVMT Việc sử dụng các phương tiện trực quan gây hứng thú và ấn tượngsâu sắc cho HS
Tranh ảnh về tình trạng ô nhiễm MT và tác hại của chúng đối với conngười và hệ sinh thái Hệ thống tranh ảnh có thể do GV tự sưu tầm hoặc giaonhiệm vụ cho các em sưu tầm các nguồn: báo, tạp chí, mạng internet, ; Cácphim, băng hình có nội dung GDBVMT là một loại phương tiện có tác dụngnhư một nguồn tri thức Băng hình được sử dụng trong dạy học có nhiều ưuđiểm hơn hẳn các loại tranh ảnh, vì nó sinh động, phong phú về số lượnghình, âm thanh tốt và nhất là dễ hình thành những biểu tượng và khái niệmsâu sắc
Khi lựa chọn và sử dụng băng hình, GV nên chú ý:
- Nội dung (phim, băng hình phải phù hợp với nội dung bài học và có ýnghĩa trong việc GDBVMT Ví dụ: Các băng hình về đặc điểm rừng ViệtNam, việc khai thác rừng, ô nhiễm môi trường )
Trang 34- Thời gian sử dụng
- Hệ thống các câu hỏi (để HS trả lời sau khi xem)
- Tổng kết (nêu lên những ý chính của bài theo mục đích)
Vai trò của phương tiện trực quan trong dạy học:
- Cung cấp hình ảnh chính xác sinh động về đối tượng nghiên cứu
- Thu hút sự chú ý của HS gây được hứng thú học tập, giúp HS tiếp thuđược kiến thức một cách chủ động (hiểu sâu nhớ lâu)
- HS được rèn luyện kĩ năng quan sát phát triển các thao tác tư duy sosánh, phân tích tổng hợp
- Đảm bảo nguyên tắc trực quan trong dạy học
Sử dụng phương tiện dạy học trực quan trong việc GDMT là một biệnpháp hiệu quả nhất vì HS có thể mắt thấy tai nghe, các em tin những gì diễn
ra là thực Từ đó, khơi dậy tình yêu thiên nhiên và nó thúc đẩy việc hìnhthành ý thức, thái độ, tình cảm với môi trường
Ví dụ1: GV chiếu một số hình ảnh về ảnh hưởng của thuốc hóa học đến
cây trồng và MT ( Bài 17: Phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng).
Ví dụ 2: GV cho HS xem tranh ảnh,băng hình về xói mòn đất và chặt
phá rừng, tác hại của chặt phá rừng Từ đó hình thành cho HS ý thức bảo vệ
rừng (Bài 9: Biện pháp cải tạo và sử dụng đất xám bạc màu, đất xói mòn
mạnh trơ sỏi đá).
3.1.5 Dạy học ngoại khóa
Ở nước ta, hình thức dạy học ngoại khóa từ trước đến nay còn khá làmới mẻ và chưa phổ biến Ở nhiều nước trên thế giới, việc GDBVMT cho HSqua hình thức này rất được chú ý Vì đây là cơ hội để HS tiếp cận với thiênnhiên, ứng dụng những kiến thức môi trường đã học vào thực tế môi trường
tự nhiên, phát triển khả năng đôc lập của HS, giúp HS tự tổ chức việc tìmhiểu, nhận xét, thảo luận các vấn đề về môi trường và các hoạt động bảo vệ
Trang 35môi trường Chính những hoạt động này dễ dàng giúp HS có ý thức BVMT.Hoạt động ngoại khóa có thể tiến hành với nhiều hình thức khác nhau:
- Tổ chức nói chuyện giao lưu về môi trường
- Tổ chức thi tìm hiểu về môi trường địa phương, đố vui về môi trường
- Tổ chức xem phim về môi trường
- Nghiên cứu môi trường địa phương
- Tổ chức hoạt động BVMT trường học và môi trường địa phương theochế độ thường xuyên hay định kỳ
- Tổ chức tham quan về môi trường
Đây là hình thức tổ chức dạy học có thể giải quyết được các nhiệm vụchuyên biệt mà các hình thức khác không thể giải quyết được
Ví dụ: Giáo dục cho HS về môi trường sinh thái, nếu ở trên lớp không
giải quyết một cách triệt để các thí nghiệm thì GV phải đưa HS đi tham quan
mô hình sản xuất nông nghiệp, trang trại -> Giáo dục cho HS về môi trườngsinh thái Việc thực hiện giải quyết ô nhiễm môi trường sinh thái phải đượctrực tiếp tham quan
Thông qua tham quan hoạt động nhận thức của HS được vận dụng tối
đa nguyên tắc trực quan
Trong tham quan, phương pháp chủ đạo là phương pháp thực hànhquan sát
- Giáo dục cho HS làm các bài tập thực hành ở nhà
Các bài tập giúp cho HS vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn
Vì vậy, hình thành cho HS kĩ năng sống, học tập bảo vệ môi trường
Ví dụ: Tìm hiểu về tình hình ô nhiễm môi trường ở địa phương.
Các khu vực bị ô nhiễm ở địa phương
Các tác nhân gây ô nhiễm
Mức độ ô nhiễm
Trang 36 Hậu quả của ô nhiễm gây ra.
Đề xuất biện pháp khắc phục
Để thực hiện được những hoạt động trên thì cần có sự quan tâm của Bangiám hiệu nhà trường, sự nhiệt tình của các thầy, cô giáo Bởi vì, mỗi hoạtđộng cần tốn nhiều thời gian và công sức để xây dựng kế hoạch, nội dung,hình thức, thời gian tổ chức, đối tượng tham gia
3.2 Thiết kế một số giáo án có tích hợp GDMT trong Công nghệ 10 BÀI 9: BIỆN PHÁP CẢI TẠO VÀ SỬ DỤNG ĐẤT XÁM BẠC
MÀU, ĐẤT XÓI MÒN MẠNH TRƠ SỎI ĐÁ
- Rèn luyện kỹ năng quan sát
- Rèn luyện thao tác tư duy và khả năng phân tích, tổng hợp