1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH Ở XÃ, THỊ TRẤN

28 411 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 325,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của tư pháp cấp xã trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính Theo quy định của pháp luật hiện hành thì chức danh tư pháp cấp xã không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, kh

Trang 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH Ở XÃ,

THỊ TRẤN

I VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA CHÍNH QUYỀN VÀ TƯ PHÁP XÃ, THỊ TRẤN TRONG HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

1 Vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã trong xử lý vi phạm hành chính

Chính quyền xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) có vai trò rất quan trọng trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính (bao gồm xử phạt hành chính và

áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác), vì đây là cấp cơ sở, là nơi chủ yếu diễn

ra các hành vi vi phạm hành chính Do đó, cấp xã chính là nơi phát hiện, lập biên bản

vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền hoặc lập hồ sơ, biên bản và chuyển đến cấp có thẩm quyền xử lý…

2 Vai trò của tư pháp cấp xã trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì chức danh tư pháp cấp xã không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, không tham gia trực tiếp trong việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác Tuy nhiên, tư pháp xã cần thiết nắm vững những nguyên tắc và nội dung cơ bản của hoạt động xử lý vi phạm hành chính để tư vấn cho chính quyền cấp xã trong hoạt động này, bảo đảm việc xử phạt hành chính cũng như

áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác tại cấp xã được thực hiện hiệu quả và đúng pháp luật

II MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TẠI CẤP XÃ

Như vậy, theo định nghĩa trên, chúng ta thấy có 5 dấu hiệu cơ bản để nhận biết

vi phạm hành chính:

Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi vi phạm là cá nhân hoặc tổ chức

Thứ hai, đó là hành vi có lỗi, cố ý hoặc vô ý

Thứ ba, hành vi đó là trái pháp luật, tức là đã vi phạm các quy định của pháp luật

về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực (ví dụ vi phạm các quy định của pháp luật trong lĩnh vực an toàn giao thông, bảo vệ rừng v.v)

Thứ tư, hành vi vi phạm đó không phải là tội phạm, tức là mức độ xâm hại của hành vi chưa nguy hiểm đến mức phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Trang 2

Thứ năm, hành vi đó phải được quy định trong các văn bản pháp luật về xử phạt

vi phạm hành chính (văn bản pháp luật ở đây được hiểu là từ mức độ nghị định trở lên đến luật, pháp lệnh Bởi vì, theo quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính thì chỉ Chính phủ mới có thẩm quyền quy định một hành vi là vi phạm hành chính; ở cấp

độ cao hơn, một số Luật, Pháp lệnh cũng quy định hành vi vi phạm hành chính)

Khi đề cập đến hành vi vi phạm hành chính thì cần phân biệt hành vi vi phạm hành chính với tội phạm hình sự

Nhìn chung, vi phạm hành chính hay tội phạm hình sự đều là hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm hành chính bị xử lý bằng các chế tài (biện pháp) hành chính, còn tội phạm hình sự bị xử lý bằng các chế tài (biện pháp) hình sự Điều phân biệt rõ rệt giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự là mức độ nguy hiểm của hành vi đó gây

ra cho xã hội Ví dụ: đều là hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông như phóng xe quá tốc độ giới hạn cho phép, nếu không gây hậu quả cho người hoặc tài sản thì là vi phạm hành chính, nhưng cũng hành vi đó mà gây chết người hoặc huỷ hoại tài sản của

tổ chức, cá nhân khác thì là tội “vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ” (Điều 202 Bộ luật Hình sự)

Như vậy, khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật, người có thẩm quyền phải xem xét, đối chiếu với các văn bản pháp luật, ở đây là các nghị định của Chính phủ về

xử phạt hành chính trong từng lĩnh vực cụ thể và các quy định có liên quan của Bộ luật Hình sự, để từ đó nhận định đó là hành vi vi phạm hành chính hay là hành vi có dấu hiệu của tội hình sự để quyết định xử phạt hành chính hoặc chuyển sang cơ quan điều tra xử lý

2 Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính, các chế tài xử phạt hành chính

Trước khi đi vào khái niệm “xử phạt vi phạm hành chính”, chúng ta cần tìm hiểu khái niệm “xử lý vi phạm hành chính”

Xử lý vi phạm hành chính là việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước (các chế tài hành chính) đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính Theo Pháp lệnh XLVPHC hiện hành thì xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác

Trang 3

Xử phạt vi phạm hành chính bao gồm các chế tài chủ yếu đánh vào lợi ích kinh

tế, tinh thần của người vi phạm Các chế tài xử phạt hành chính bao gồm hình thức xử phạt chính, hình thức phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả

- Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính Ví dụ: một người sử dụng cuốc, xẻng, cưa máy… để chặt phá rừng thì ngoài việc bị phạt tiền còn bị tịch thu các phương tiện, vật dụng (cuốc, xẻng, cưa ) đã dùng để thực hiện hành vi vi phạm

- Trục xuất (đối với người nước ngoài) khi không áp dụng là hình phạt chính

2.3 Các biện pháp khắc phục hậu quả

- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây

ra hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép (ví dụ: buộc trồng lại khoảng rừng

đã bị đốt, bị chặt phá; buộc tháo dỡ nhà xây lấn chiếm đất công)

- Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất các hàng hóa, vật phẩm, phương tiện Biện pháp này được áp dụng chủ yếu trong quá trình xử phạt các

vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan hoặc các lĩnh vực có liên quan đến việc xuất nhập khẩu hoặc có hàng hoá, vật phẩm, phương tiện được đưa từ nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam như kiểm dịch thực vật, thuỷ sản Ví dụ như hàng hoá, vật phẩm, phương tiện được nhập khẩu trái với quy định của pháp luật hoặc hàng tạm nhập tái xuất nhưng không tái xuất theo đúng quy định của pháp luật sẽ bị buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất

- Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường sống, lây lan dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra (ví dụ: buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm nguồn nước đối với nhà máy sản xuất phân bón không thực hiện các biện pháp xử lý chất thải gây ra tình trạng ô nhiễm)

- Buộc tiêu huỷ văn hóa phẩm độc hại, vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con người

và vật nuôi, cây trồng

- Ngoài những biện pháp khắc phục hậu quả nêu trên, các nghị định của Chính phủ về xử phạt hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước còn quy định thêm các biện pháp khắc phục hậu quả khác mà người có thẩm quyền được áp dụng khi xử phạt vi phạm hành chính

2.4 Nguyên tắc áp dụng hình thức, biện pháp xử phạt vi phạm hành chính

- Đối với mỗi hành vi vi phạm chỉ được áp dụng một hình thức xử phạt chính

Trang 4

- Hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả chỉ áp dụng kèm theo hình phạt chính, không áp dụng độc lập (ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt pháp luật quy định không xử phạt do hết thời hiệu xử phạt) nhưng vẫn áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả để bảo đảm trật tự công cộng, vì lợi ích chung của cộng đồng

- Đối với mỗi hành vi vi phạm phải căn cứ vào các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực cụ thể để xác định xem hành vi đó được quy định ở điều nào, khoản nào, bị áp dụng những hình thức, biện pháp gì, mức phạt bao nhiêu v.v

3 Các nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính

Việc xử phạt hành chính đối với tổ chức, cá nhân phải tuân theo những nguyên tắc pháp luật quy định, cụ thể là:

- Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay;

- Việc xử phạt vi phạm hành chính phải do người có thẩm quyền tiến hành theo đúng quy định của pháp luật;

- Việc xử phạt vi phạm hành chính phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục Ví dụ: hành vi đào đường bị xử phạt và buộc phải làm lại đoạn đường đó; hành vi xây nhà lấn chiếm đất công bị xử phạt và buộc tháo dỡ công trình vi phạm, không được “phạt cho tồn tại”

- Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính

do pháp luật quy định (xem thêm Khái niệm vi phạm hành chính)

- Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần (Ví dụ: Hành vi chặt phá một số cây rừng đã bị Chủ tịch xã lập biên bản, xử phạt 100.000 đồng thì sau đó không được xử phạt nữa, trừ trường hợp người vi phạm lại tiếp tục chặt phá cây rừng thì đây được coi là hành vi mới, sẽ bị xử phạt nặng hơn (có tình tiết tăng nặng là tái phạm)

- Nhiều người cùng thực hiện hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt (Ví dụ: Một nhóm người cùng có hành vi đập phá, gây rối trật tự công cộng thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt)

- Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm Ví dụ: Một người gây rối trật tự công cộng, khi Công an tới can thiệp lại có hành vi chống đối sẽ bị xử phạt về 2 hành vi gây rối trật tự công cộng và chống người thi hành công vụ

- Việc xử phạt phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để quyết định hình thức, mức xử phạt thích hợp

- Không xử lý vi phạm trong trường hợp thuộc tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc vi phạm trong khi đang mắc bệnh tâm thần, các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình

Người có thẩm quyền khi tiến hành xử phạt phải tuyệt đối tuân thủ các nguyên tắc xử phạt hành chính đã được pháp luật quy định Việc tuân thủ các quy định này là

Trang 5

bắt buộc để bảo đảm tính pháp lý của quyết định xử phạt và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của Nhà nước và mọi tổ chức, cá nhân

4 Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính

Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:

- Cá nhân người Việt Nam:

+ Người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt về mọi hành vi vi phạm hành chính do mình gây ra, kể cả lỗi cố ý hoặc vô ý Khi áp dụng phạt tiền đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì mức phạt tiền áp dụng không quá 1/2 mức phạt đối với người thành niên có cùng hành vi vi phạm;

+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ bị xử phạt về vi phạm hành chính do

cố ý (hình phạt áp dụng đối với họ chỉ là cảnh cáo, không áp dụng hình thức phạt tiền trong mọi trường hợp);

+ Người dưới 14 tuổi không bị xử phạt vi phạm hành chính

- Tổ chức Việt Nam: Tổ chức ở đây bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội,

tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị và các tổ chức khác có hành vi vi phạm hành chính,

ví dụ một cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội… không chấp hành chế

độ báo cáo thống kê hoặc có hành vi vi phạm quy tắc xây dựng, không chấp hành quy tắc phòng cháy, chữa cháy… đều bị xử phạt hành chính

- Cá nhân, tổ chức nước ngoài: Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trên lãnh thổ Việt Nam thì bị xử phạt theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác Thông thường, những trường hợp mà người nước ngoài được miễn trừ trách nhiệm hành chính được quy định trong các điều ước quốc tế, đặc biệt là Công ước Viên về miễn trừ ngoại giao năm 1961

5 Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính

Thời hiệu xử phạt hành chính là khoảng thời gian mà pháp luật quy định người

có thẩm quyền được áp dụng xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm, quá thời hiệu này thì không được xử phạt nữa Thời hiệu thông thường là 1 năm, kể từ ngày vi phạm hành chính xảy ra Đối với một số lĩnh vực như tài chính, chứng khoán,

sở hữu trí tuệ, xây dựng, môi trường, an toàn và kiểm soát bức xạ, nhà ở, đất đai, đê điều, xuất bản, xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, sản xuất, buôn bán hàng giả thì thời hiệu là 2 năm kể từ ngày vi phạm hành chính xảy ra (Điều 10 Pháp lệnh XLVPHC)

Cần lưu ý rằng, mặc dù pháp luật quy định thời hiệu xử phạt khá dài, nhưng điều

đó không có nghĩa là khi người có thẩm quyền phát hiện thấy hành vi vi phạm có thể

“treo” vụ việc đó, không xử lý Theo quy định của pháp luật thì khi phát hiện thấy vi phạm, người có thẩm quyền phải đình chỉ ngay hành vi vi phạm và lập biên bản để xử phạt, nếu thiếu trách nhiệm để quá thời hiệu mà không xử phạt thì tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý trách nhiệm kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự

Trang 6

6 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh ở xã, thị trấn

a Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Uỷ ban nhân dân cấp xã, đặc biệt là trong các lĩnh vực như bảo vệ trật tự, trị an, giữ gìn vệ sinh môi trường, quản lý

và bảo vệ rừng, lâm sản, quản lý đất đai v.v

Theo quy định tại khoản 4 Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính (năm 2008), Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền:

- Phạt cảnh cáo;

- Phạt tiền đến 2.000.000 đồng: thẩm quyền phạt tiền này là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm, ví dụ nếu một người thực hiện 2 hành vi vi phạm khác nhau, mức phạt đối với mỗi hành vi vi phạm là 2.000.000 đồng thì vẫn thuộc thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã

- Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 2.000.000 đồng;

- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây

ra (Ví dụ: Buộc trồng lại cây rừng đã bị chặt phá, buộc làm lại đoạn đường đã bị đào bới…)

Ở đây, cần phân biệt biện pháp “Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu” với biện pháp “Buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép” Theo quy định, thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã không có thẩm quyền áp dụng biện pháp “Buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép” Tuy nhiên, khi xử phạt hành chính trong lĩnh vực xây dựng, lấn chiếm đất đai thì 2 biện pháp này về cơ bản có nhiều nét giống nhau, nên khi áp dụng cũng không thể máy móc mà phải xác định từng trường hợp cụ thể Ví dụ: một người lấn chiếm đất công, dựng hàng rào, lều, quán trên đất đó hoặc người xây dựng trái phép chỉ mới đổ móng, xây tường (chưa đổ mái, chưa làm kiên cố thành một

“công trình”) thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã có thể áp dụng biện pháp “buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu” Còn “buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép” được hiểu là biện pháp áp dụng đối với một công trình đã được xây dựng tương đối kiên cố (trong trường hợp này có thể hiểu là công trình đã được xây tường, đổ mái xong)

Trang 7

- Buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra (ví dụ: buộc thực hiện các biện pháp làm trong sạch nước bị gây ô nhiễm);

- Buộc tiêu huỷ vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con người, vật nuôi và cây trồng, văn hoá phẩm độc hại (ví dụ: buộc tiêu hủy tài liệu bói toán, mê tín dị đoan; buộc tiêu hủy các thực phẩm ôi thiu, gây hại cho sức khoẻ );

- Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

b Trưởng Công an cấp xã

Trưởng Công an cấp xã được áp dụng các hình thức xử phạt hành chính như Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã đã nêu tại điểm a trên đây, trừ quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

c Chiến sỹ Công an nhân dân đang thi hành công vụ có quyền:

6.2 Xác định và phân định thẩm quyền xử phạt hành chính

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được xác định, phân định dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau đây:

a Việc xác định thẩm quyền xử phạt phải căn cứ vào quy định của nghị định về

xử phạt hành chính trong từng lĩnh vực cụ thể để xem mức phạt đối với một hành vi nhất định thuộc thẩm quyền xử phạt của chức danh nào (hiện nay có khoảng gần 60 nghị định của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính) Về nguyên tắc, thẩm quyền phạt tiền đối với hành vi vi phạm được căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt quy định đối với hành vi đó Ví dụ: theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp thì hành vi “Có điều kiện thi hành án nhưng cố tình trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ thi hành án” sẽ bị phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng Như vậy, mức phạt tiền tối đa đối với hành vi này là 500.000 đồng

b Thẩm quyền xử phạt của một chức danh đối với một hành vi vi phạm không chỉ căn cứ vào thẩm quyền phạt tiền mà còn phải căn cứ vào thẩm quyền áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả theo nguyên tắc: nếu cả hình phạt chính, hình phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với hành vi vi phạm đều thuộc thẩm quyền của chức danh đó thì họ mới có thẩm quyền xử phạt đối với hành vi đó

Trang 8

c Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp (bao gồm cả cấp xã) có thẩm quyền xử phạt

vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương (theo địa bàn lãnh thổ) Như vậy, Chủ tịch xã có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi xảy ra trên địa bàn xã mình quản lý

d Các chức danh thuộc các cơ quan quản lý chuyên ngành (ví dụ: thanh tra chuyên ngành, kiểm lâm, thuế vụ, quản lý thị trường, công an nhân dân ) chỉ có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực thuộc ngành mình quản lý

đ Trong trường hợp vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người thì việc xử phạt do người đầu tiên thụ lý thực hiện Ví dụ: hành vi săn bắn động vật rừng trái phép thuộc thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã và Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm; nếu Chủ tịch xã là người phát hiện ra hành vi này và đã lập biên bản thì việc xử phạt sẽ do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện

6.3 Uỷ quyền xử phạt vi phạm hành chính

- Nguyên tắc uỷ quyền: Về nguyên tắc, cấp trưởng có thể ủy quyền cho cấp phó của mình thực hiện quyền xử phạt hành chính Tại cấp xã, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã có thể uỷ quyền cho Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã; Trưởng Công an cấp xã có thể uỷ quyền cho Phó Trưởng Công an cấp xã thực hiện quyền xử phạt hành chính của mình Việc uỷ quyền chỉ được thực hiện trong trường hợp Chủ tịch cấp xã hoặc Trưởng Công an cấp xã vắng mặt (đi công tác, ốm, nằm viện ) Người được uỷ quyền có thẩm quyền xử phạt và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình Người được uỷ quyền không được uỷ quyền tiếp theo cho bất kỳ chức danh nào khác

- Hình thức uỷ quyền: Việc uỷ quyền phải bằng văn bản (có thể bằng một văn bản độc lập hoặc uỷ quyền dưới dạng văn bản phân công công việc)

6.4 Các nguyên tắc xử lý trong trường hợp vụ vi phạm không thuộc thẩm quyền

Trên thực tế, nhiều khi, người thi hành công vụ phát hiện ra các hành vi vi phạm pháp luật nhưng không thuộc thẩm quyền xử lý của mình, đó là các trường hợp:

- Vụ vi phạm hành chính vượt quá thẩm quyền xử phạt của người phát hiện vi phạm hành chính;

- Vụ vi phạm không còn là vi phạm hành chính mà có dấu hiệu tội phạm

Trong các trường hợp này, người thi hành công vụ phải tiến hành lập biên bản với đầy đủ các tình tiết, nội dung, sự kiện, người chứng kiến Nếu cần thiết thì báo cáo cấp trên để có biện pháp hỗ trợ

Nếu vụ vi phạm hành chính vượt quá thẩm quyền xử phạt của người đó (về mức tiền phạt, về thẩm quyền áp dụng hình phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả, về thẩm quyền theo địa bàn, theo lĩnh vực quản lý ), thì người đang thụ lý phải chuyển

vụ vi phạm đến cấp có thẩm quyền để xử phạt Tại xã, phường, thị trấn, thông thường, nếu vụ việc không thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, Trưởng Công an cấp xã thì phải chuyển hồ sơ vụ vi phạm lên cấp trên tức là chuyển tới Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Trưởng Công an cấp huyện hoặc tuỳ theo đặc điểm,

Trang 9

tính chất từng vụ việc mà chuyển sang các cơ quan quản lý chuyên ngành đóng trên địa bàn (hải quan, kiểm lâm, thuế vụ, quản lý thị trường )

Khi xem xét thấy vụ việc vi phạm có tính nghiêm trọng, có dấu hiệu tội phạm thì

cơ quan (người) đang thụ lý phải báo cáo cấp có thẩm quyền để chuyển sang cơ quan

xử lý hình sự theo quy định của pháp luật, không được giữ lại các vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử phạt hành chính

6.5 Thẩm quyền của cấp xã trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử phạt hành chính

Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 quy định một số biện pháp nhằm ngăn chặn kịp thời vi phạm hành chính tiếp tục diễn ra hoặc để bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính có hiệu quả Theo quy định của pháp luật thì một số chức danh thuộc cấp xã cũng có thẩm quyền áp dụng một số biện pháp nhất định

a Thẩm quyền của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn, Trưởng Công an phường: các chức danh này được áp dụng các biện pháp tạm giữ người; tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; khám người và khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính Cấp phó được ủy quyền của các chức danh nói trên có thẩm quyền áp dụng các biện pháp này trong trường hợp cấp trưởng vắng mặt Cần lưu ý là chỉ áp dụng các biện pháp này khi cần thiết và theo đúng quy định của pháp luật (về biện pháp, thẩm quyền, thời hạn, trình tự,…)

- Tạm giữ người vi phạm hành chính:

Căn cứ: Tạm giữ người chỉ được áp dụng trong trường hợp cần ngăn chặn, đình chỉ ngay hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác hoặc cần xác minh, thu thập những tình tiết quan trọng làm căn cứ để quyết định xử phạt Thời hạn tạm giữ: không quá 12 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm; trong trường hợp cần thiết có thể tạm giữ tới 24 giờ Đối với vi phạm quy chế biên giới (như xuất nhập cảnh trái phép ) hoặc vi phạm ở vùng núi, vùng xa xôi hẻo lánh, thời hạn tạm giữ có thể dài hơn nhưng cũng không được quá 48 giờ

Thủ tục tạm giữ: phải có quyết định tạm giữ người bằng văn bản và giao cho người bị tạm giữ một bản Phải thông báo cho gia đình người bị tạm giữ biết nếu họ yêu cầu hoặc nếu tạm giữ người chưa thành niên trên 6 giờ

Nơi tạm giữ: tại cấp xã, nơi không có nhà tạm giữ có thể tạm giữ người vi phạm

ở nơi làm việc hoặc trụ sở Uỷ ban nhân dân Trường hợp tạm giữ qua đêm thì phải bố trí giường hoặc sàn nằm và phải có chiếu, chăn màn cho người bị tạm giữ Pháp luật nghiêm cấm việc giữ người vi phạm hành chính ở những nơi không bảo đảm an toàn,

vệ sinh; nghiêm cấm việc xâm phạm sức khoẻ, thân thể, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giữ Các quy định cụ thể về tạm giữ người theo thủ tục hành chính thực hiện theo quy định tại Nghị định số 162/2004/NĐ-CP của Chính phủ ban hành Quy chế tạm giữ người theo thủ tục hành chính và Nghị định số 19/2009/NĐ-CP ngày

19 tháng 02 năm 2009 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tạm giữ người theo thủ tục hành chính ban hành kèm theo Nghị định số 162/2004/NĐ-CP của Chính phủ

Trang 10

- Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính:

Căn cứ: áp dụng trong trường hợp cần giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính để xác minh tình tiết làm căn cứ để quyết định xử phạt hoặc cần ngăn chặn ngay

vi phạm hành chính Ví dụ: cần tạm giữ xe ô tô vận chuyển hàng lậu để xác minh chủ hàng, chủ xe, tạm giữ xe máy vi phạm giao thông mà người điều khiển phương tiện không có giấy tờ, tạm giữ gậy gộc, cuốc xẻng người vi phạm dùng để đánh nhau, gây rối trật tự…

Thủ tục: phải lập biên bản về việc tạm giữ, trong biên bản phải ghi rõ tình trạng,

số lượng, chủng loại tang vật và phải có chữ ký của người vi phạm

Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm: trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tạm giữ, người có thẩm quyền phải ra xử lý tang vật theo các biện pháp ghi trong quyết định xử phạt (ví dụ: tịch thu tang vật, phương tiện hoặc buộc tiêu huỷ đối với vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con người, văn hóa phẩm đồi trụy ); nếu không có căn cứ để áp dụng các biện pháp đó thì phải trả lại phương tiện hoặc những vật đã tạm giữ Trong trường hợp đặc biệt, thời hạn tạm giữ tang vật có thể được kéo dài theo thời hạn ra quyết định xử phạt đã được gia hạn nhưng tối đa không quá 60 ngày (Xem thêm Thời hạn ra quyết định xử phạt)

- Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính:

Căn cứ: chỉ được khám khi có căn cứ để cho rằng nơi đó có cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính (có tin báo, tố giác hoặc qua công tác, nắm địa bàn

có căn cứ cho rằng nơi đó cất giấu hàng lậu, gỗ lậu )

Thủ tục: phải có quyết định khám bằng văn bản; nếu nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là nơi ở thì quyết định khám phải được sự đồng ý bằng văn bản của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện trước khi tiến hành Nơi ở là địa điểm dùng để cư trú thường xuyên cho cá nhân, hộ gia đình có hộ khẩu thường trú hoặc đăng ký tạm trú, hoặc tàu, thuyền là nơi cư trú thường xuyên của cá nhân, hộ gia đình có đăng ký phương tiện (Điều 17 Nghị định số 128/2008/NĐ-CP)

Phải lập biên bản về việc khám và phải có mặt chủ nơi bị khám hoặc thành viên trong gia đình họ và người chứng kiến Nếu không có chủ nơi bị khám hoặc thành viên trong gia đình họ mà việc khám không thể trì hoãn thì phải có đại diện chính quyền và hai người chứng kiến

Không được khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính vào ban đêm, trừ trường hợp khẩn cấp, nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản

- Khám phương tiện vận tải, đồ vật:

Trang 11

Căn cứ: Việc khám phương tiện vận tải, đồ vật chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho rằng trong phương tiện vận tải, đồ vật đó có cất giấu tang vật vi phạm hành chính Thủ tục: Khi khám phải có chủ phương tiện vận tải, đồ vật đó và một người chứng kiến; nếu không có mặt chủ phương tiện vận tải, đồ vật đó thì phải có hai người chứng kiến Mọi trường hợp khám đều phải lập biên bản

b Thẩm quyền của Thủ trưởng trực tiếp của Chiến sỹ Công an nhân dân

Thủ trưởng trực tiếp của Chiến sỹ Công an nhân dân (được hiểu là Đội trưởng, Trạm trưởng của họ) có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong trường hợp khẩn cấp, tức là trường hợp khi thực hiện công vụ của mình, họ có căn cứ để cho rằng nếu không ra quyết định tạm giữ ngay thì tang vật, phương tiện vi phạm có thể bị tẩu tán, tiêu huỷ Tuy nhiên, trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khám phải báo cáo Thủ trưởng của mình là những người có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và phải được sự đồng ý bằng văn bản của người đó Nếu không được sự đồng ý của họ thì phải huỷ ngay quyết định tạm giữ

c Thẩm quyền của Chiến sỹ Công an nhân dân

- Khám người trong trường hợp khẩn cấp:

Chiến sỹ Công an đang thi hành công vụ có quyền khám người trong trường hợp khẩn cấp, tức là khi có căn cứ để cho rằng nếu không tiến hành khám ngay thì đồ vật, tài liệu, phương tiện vi phạm hành chính có thể bị tẩu tán, tiêu huỷ và phải báo cáo kịp thời bằng văn bản cho Thủ trưởng của mình là những người có thẩm quyền khám người và phải được sự đồng ý bằng văn bản của người đó

- Khám phương tiện vận tải, đồ vật:

Chiến sỹ Công an đang thi hành công vụ có quyền khám phương tiện, vận tải đồ vật trong phạm vi thẩm quyền của mình Phạm vi thẩm quyền ở đây được hiểu là phạm vi chức trách, nhiệm vụ được giao Việc khám phương tiện vận tải, đồ vật chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho rằng trong phương tiện vận tải, đồ vật đó có cất giấu tang vật vi phạm hành chính Ví dụ: khi có căn cứ (nhận được tin báo đáng tin cậy hoặc qua hoạt động theo dõi, điều tra) cho rằng trong xe ô tô hoặc trong túi xách của đối tượng cất giấu hàng cấm thì chiến sĩ công an đang thi hành công vụ có quyền khám phương tiện vận tải, đồ vật đó Khi khám phải có chủ phương tiện vận tải, đồ vật đó và một người chứng kiến; nếu không có mặt chủ phương tiện vận tải, đồ vật đó thì phải có hai người chứng kiến Mọi trường hợp khám đều phải lập biên bản

7 Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính

Các quy định về thủ tục xử phạt vi phạm hành chính là trình tự mà pháp luật quy định mà người có thẩm quyền xử phạt, bao gồm cả người có thẩm quyền xử phạt ở cấp xã phải nắm vững và tuân thủ triệt để khi tiến hành xử phạt vi phạm hành chính

Có 2 loại thủ tục xử phạt hành chính cơ bản là thủ tục đơn giản và thủ tục xử phạt có lập biên bản

7.1 Đình chỉ hành vi vi phạm hành chính

Trang 12

Hành vi vi phạm hành chính phải bị đình chỉ ngay khi nó được phát hiện Đây là bước đầu tiên và bắt buộc trong quy trình xử phạt vi phạm hành chính, dù là trường hợp áp dụng thủ tục xử phạt đơn giản hay thủ tục lập biên bản Người có thẩm quyền khi phát hiện ra vi phạm hành chính phải ra lệnh đình chỉ ngay hành vi vi phạm Tùy theo từng loại vi phạm mà lệnh đình chỉ có thể là lệnh miệng hoặc lệnh viết Lệnh viết thường được ban hành trong trường hợp pháp luật có quy định cụ thể hoặc bản thân người có thẩm quyền xét thấy lệnh bằng văn bản là cần thiết, ví dụ: yêu cầu một doanh nghiệp đình chỉ sản xuất thực phẩm không bảo đảm vệ sinh, an toàn hoặc đình chỉ hoạt động của dây chuyền sản xuất gây ô nhiễm môi trường… thì không thể dùng lệnh miệng

7.2 Thủ tục đơn giản

Thủ tục đơn giản là thủ tục xử phạt hành chính không phải lập biên bản mà ra quyết định xử phạt ngay, trừ trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ Thủ tục đơn giản được áp dụng trong các trường hợp sau:

- Áp dụng đối với việc xử phạt một hành vi vi phạm mà mức xử phạt là cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 10.000 đồng đến 200.000 đồng

- Áp dụng đối với việc xử phạt nhiều hành vi vi phạm mà mức xử phạt đối với mỗi hành vi là cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 10.000 đồng đến 200.000 đồng

Thủ tục đơn giản áp dụng đối với các vi phạm hành chính nhỏ, rõ ràng, không cần lập biên bản, không có tình tiết phức tạp cần xác minh thêm và được áp dụng nhiều trong lĩnh vực an toàn giao thông Ví dụ: vượt đèn đỏ, đi vào đường ngược chiều… để nhằm giải quyết nhanh chóng các trường hợp vi phạm Dù không lập biên bản, nhưng mọi trường hợp xử phạt hành chính đều phải ra quyết định xử phạt Quyết định xử phạt theo thủ tục đơn giản thường được in sẵn theo mẫu chung do cơ quan có thẩm quyền ban hành

Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có thể nộp tiền phạt cho người có thẩm quyền xử phạt và nhận biên lai thu tiền phạt (nộp phạt tại chỗ) để người có thẩm quyền nộp vào Kho bạc nhà nước theo quy định Nếu cá nhân không có tiền ngay tại chỗ thì cũng có thể nộp tại Kho bạc nhà nước

7.3 Thủ tục xử phạt có lập biên bản

a Lập biên bản vi phạm hành chính: là bước bắt buộc khi tiến hành xử phạt đối với các trường hợp không áp dụng thủ tục đơn giản Khi phát hiện vi phạm hành chính, ngưòi có thẩm quyền phải kịp thời lập biên bản Theo quy định tại Nghị định số 128/2008/NĐ-CP thì người có thẩm quyền lập biên bản là những người có thẩm quyền xử phạt và những người có thẩm quyền đang thi hành công vụ Ví dụ: chiến sỹ cảnh sát trong khi đi tuần tra hoặc cán bộ, công chức được giao thực thi công vụ thanh tra, kiểm tra… Biên bản phải được người lập biên bản, người vi phạm ký, nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại thì những người này cùng ký vào biên bản, trong trường hợp người vi phạm hoặc những người có liên quan từ chối ký thì người lập

Trang 13

biên bản ghi rõ lý do và ký vào biên bản Biên bản trong trường hợp này vẫn hợp pháp

và người lập biên bản phải chịu trách nhiệm về nội dung trung thực của biên bản

b Ra quyết định xử phạt hành chính

- Thời hạn ra quyết định xử phạt:

Sau khi tiến hành lập biên bản về vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt phải xem xét vụ việc và ra quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày lập biên bản; đối với vụ vi phạm hành chính có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 30 ngày Đây là thời hạn mà pháp luật quy định cho người có thẩm quyền xử phạt phải tuân thủ, không được cố tình trì hoãn hoặc tắc trách làm việc

xử phạt bị dây dưa, kéo dài Trong trường hợp đặc biệt, tức là khi thấy vụ việc có quá nhiều tình tiết phức tạp cần có thêm thời gian xem xét, xác minh mà thời hạn 30 ngày không đủ để xem xét, ra quyết định xử phạt thì người có thẩm quyền phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình để xin gia hạn Việc gia hạn phải bằng văn bản và thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày Quá thời hạn trên thì không được ra quyết định xử phạt nữa nhưng vẫn có thể áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả và tịch thu tang vật vi phạm hành chính thuộc loại cấm lưu hành

- Nội dung quyết định xử phạt:

Quyết định xử phạt phải bằng văn bản, bao gồm đầy đủ các nội dung quy định tại khoản 3 Điều 56 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính Thông thường, quyết định

xử phạt được in sẵn theo mẫu chung và người tiến hành xử phạt chỉ phải điền vào các mục có sẵn

- Hiệu lực của quyết định, gửi quyết định xử phạt:

Quyết định xử phạt có hiệu lực kể từ ngày ra quyết định, tức là từ ngày người có thẩm quyền ký quyết định xử phạt Quyết định xử phạt cũng có thể có hiệu lực muộn hơn, vào thời điểm nhất định ghi trong quyết định xử phạt và phải được gửi (trao) cho người (tổ chức) bị xử phạt trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày ra quyết định Nếu là quyết định phạt tiền thì quyết định còn phải được gửi cho cơ quan thu tiền phạt

- Chấp hành quyết định xử phạt, thu nộp tiền phạt:

Người bị xử phạt phải đến nộp phạt tại Kho bạc nhà nước trừ trường hợp đã nộp tiền phạt tại chỗ theo thủ tục đơn giản và tại những vùng xa xôi, hẻo lánh, trên sông, trên biển thì người có thẩm quyền có thể thu nộp tiền phạt tại chỗ và nộp lại vào Kho bạc nhà nước theo hướng dẫn của Bộ Tài chính

8 Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và thẩm quyền của cấp xã

8.1 Các biện pháp cưỡng chế

Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là việc cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cần thiết mà pháp luật quy định để bắt buộc cá nhân, tổ chức bị xử phạt hành chính phải thực hiện quyết định xử phạt, trong trường hợp họ không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt

Trang 14

Các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:

- Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản tại ngân hàng;

- Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá;

- Các biện pháp cưỡng chế khác để thực hiện tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm (ví dụ: bắt buộc người vi phạm phải giao nộp tang vật, phương tiện vi phạm hành chính); các biện pháp bắt buộc cá nhân, tổ chức vi phạm thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính (ví dụ: nếu người vi phạm không tự nguyện tháo dỡ công trình xây dựng trái phép thì tổ chức tháo dỡ và buộc người vi phạm phải trả chi phí )

8.2 Thẩm quyền của cấp xã trong việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt hành chính

Tại cấp xã, chỉ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn là người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt Các quyết định xử phạt do các chức danh khác ở cấp xã ban hành như Trưởng Công an xã, Chiến sĩ cảnh sát nhân dân thuộc Công an xã… nếu cần cưỡng chế phải báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã để Chủ tịch xã ra quyết định cưỡng chế Thủ tục cưỡng chế thực hiện theo quy định của Nghị định số 37/2005/NĐ-CP

8.3 Tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế

- Đối với quyết định cưỡng chế của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã:

+ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã khi ra quyết định cưỡng chế có nhiệm vụ tổ chức cưỡng chế như lập kế hoạch, huy động và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan, đơn vị có liên quan, chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện cưỡng chế

+ Các cơ quan chức năng của Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thi hành quyết định cưỡng chế của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp theo sự phân công của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân

+ Cơ quan Công an cấp xã có nhiệm vụ bảo đảm trật tự, an toàn trong quá trình thi hành quyết định cưỡng chế của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã

- Đối với quyết định cưỡng chế của các cơ quan nhà nước khác:

Trong việc thi hành quyết định cưỡng chế của các cơ quan nhà nước khác đối với cá nhân, tổ chức đóng trên địa bàn xã, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan đó Lực lượng cảnh sát nhân dân có trách nhiệm bảo đảm trật tự, an toàn trong quá trình thi hành quyết định cưỡng chế của các cơ quan nhà nước khi được các cơ quan đó yêu cầu

Ví dụ: Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm ra quyết định cưỡng chế tịch thu số gỗ lậu đối với cá nhân vi phạm ở xã A thì khi nhận được văn bản đề nghị của Chi cục kiểm lâm, Chủ tịch xã A và Trưởng Công an xã A có trách nhiệm phối hợp với Chi cục kiểm lâm trong việc cưỡng chế

Ngày đăng: 13/04/2016, 01:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w