Từ đó, giúp các em biết yêu quý và có hứng thútạo ra các sản phẩm mới bằng nhiều hình thức thể hiện khác nhau từ ý thứcđường nét, bố cục, màu sắc đến chất liệu … Để hỗ trợ việc dạy học M
Trang 1ĐỀ TÀI:NÂNG CAO KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THÔNGQUA VIỆC QUAN SÁT CUỘC SỐNG XUNG QUANH GIÚP HỌC SINHBIẾT YÊU CÁI ĐẸP VÀ THÍCH TẠO RA CÁI ( HỌC SINH LỚP 4
TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐOÀN ĐỨC THÁI)
cụ thể mai sau Dạy học Mỹ thuật ở trường Tiểu học không chỉ là dạy và học cáckiến thức mỹ thuật mà còn dạy các em biết suy nghĩ, biết quan sát những sự vật,hiện tượng gần gũi xung quanh Từ đó, giúp các em biết yêu quý và có hứng thútạo ra các sản phẩm mới bằng nhiều hình thức thể hiện khác nhau từ ý thứcđường nét, bố cục, màu sắc đến chất liệu … Để hỗ trợ việc dạy học Mỹ thuật,sách giáo khoa cũng có khá nhiều hình ảnh minh họa, giáo viên tâm huyết cũng
đã sưu tầm và sử dụng thêm các phương tiện hỗ trợ như tranh ảnh hoặc giáoviên hướng dẫn học sinh quan sát kèm theo lời mô tả, giải thích với mục đíchgiúp học sinh hiểu bài và thực hành tốt hơn bài học Tuy nhiên, học sinh trườngTiểu học Đoàn Đức Thái có thói quen là bắt chước chép lại tranh hoặc ảnh thậmchí sao chép lại và lệ thuộc vào hình minh họa
Giải pháp: Tôi đã sử dụng biện pháp cho học sinh làm quen với cuộc sốngxung quanh, những hoạt động cụ thể trong cuộc sống liên quan đến bài học vàcoi đó là nguồn cung cấp thông tin chính giúp các em tìm hiểu xây dựng nộidung, tạo hình ảnh, bố cục cho mình để các em có thể tự tạo ra những sản phẩmmột cách độc lập theo suy nghĩ của các em
Trang 2Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương đương hai lớp 4 ở trườngTiểu học Đoàn Đức Thái Lớp 4A1 là thực nghiệm, lớp 4A2 là kiểm chứng.Lớp thực nghiệm được thực hiện giải pháp thay thế khi dạy bài 4: “Đề tài sinhhoạt- bài 13”; “Tập nặn tạo dáng – Nặn hoặc xé dán con vật hoặc làm ô tô đồchơi – Bài 16” Kết quả cho thấy: Tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến kết quảhọc tập của học sinh Lớp thực nghiệm đã đạt kết quả học tập cao hơn so với lớpđối chứng Điểm bài kiểm tra đầu ra của lớp thực nghiệm có giá trị trung bình là
8 Điểm bài kiểm tra đầu ra của lớp đối chứng có giá trị trung bình là 7,28.( Với
bộ môn mĩ thuật phải đánh giá HS bằng nhận xét A, A+ nhưng ở đề tài này tôixin phép được đánh giá bằng điểm số để so sánh kết quả cho chính xác Điểm 9tương đương với điểm A+, Từ điểm 5 đến điểm 8 ttương đương với A) Kết quảkiểm chứng t-test cho thấy p = 0,00658 < 0,05 có nghĩa là có sự khác biệt lớngiữa điểm trung bình của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng Điều đó chứng
minh rằng ở môn Mỹ thuật: Quan sát cuộc sống xung quanh giúp học sinh
biết yêu cái đẹp và thích tạo ra cái đẹp.
PHẦN II: GIỚI THIỆU
Trong sách giáo khoa lớp 4 đã giới thiệu các bài vẽ, mẫu hình: Bài trangtập nặn tạo dáng , tạo dáng con vật, tạo dáng người là những hình ảnh, nhữngbài vẽ trên mặt phẳng và học sinh chưa thấy được giá trị của nó trong thực tếcuộc sống Bài vẽ tranh đề tài: tranh sinh hoạt, với bức tranh cỡ nhỏ, với hìnhảnh chưa phải là hình ảnh đặc sắc lắm, chưa tuân theo luật xa gần và chưa hoàntoàn gần gũi với cuộc sống của học sinh trường Tiểu học Đoàn Đức thái Vớiviệc cho học sinh tự tìm hiểu về các hoạt động của cuộc sống quanh em gópphần làm phong phú hơn sự hiểu biết của các em về cuộc sống quanh mình về
“những đồ vật ở quanh các em” qua đó giúp các em gần gũi và thấy thêm yêuhơn cuộc sống quanh em Từ đó sẽ nảy sinh ở các em những cảm xúc đẹp, thíchlàm cho cuộc sống của các em thêm đẹp hơn lên bằng những việc tự tạo ra
Trang 3những đồ vật đẹp ở quanh em (như những đồ vật , con vật hoặc những chiếc ô tôlàm từ những phế liệu bỏ đi) hoặc vẽ lên bức tranh đẹp về cuộc sống.
Ở trường Tiểu học Đoàn Đức thái huyện Cát Hải, tôi thấy hầu hết giáo viên mớichỉ sử dụng các tranh, ảnh có sẵn trong sách giáo khoa hoặc có tự sưu tầm tranhảnh hoặc đồ vật nhưng còn rất ít Vì thế, giáo viên mới chỉ cho học sinh hiểunhững tranh ảnh, đồ vật hoặc bức tranh mà giáo viên sưu tầm Học sinh chưachủ động, chưa liên hệ với thực tế cuộc sống Vì thế, học sinh chưa hiểu rộng vềnội dung bài học cũng như chưa hiểu sâu sắc về các sự vật, hiện tượng xungquang mình Kỹ năng vận dụng vào cuộc sống chưa cao Chính vì vậy các emchưa biết yêu cái đẹp sâu sắc sẽ không tạo ra cái đẹp để phục vụ cuộc sống,phục vụ bản thân
Môn Mỹ thuật ở trường tiểu học không nhằm đào tạo hoạ sĩ sáng tác haynhững người chuyên làm về mỹ thuật Môn Mỹ thuật ở tiểu học nhằm giáo dụcthẩm mỹ cho học sinh là chủ yếu: tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc, làm quen,thưởng thức cái đẹp, tập tạo ra cái đẹp, vận dụng cái đẹp vào sinh hoạt học tậphằng ngày và những công việc cụ thể sau này
Môn Mỹ thuật ở tiểu học nhằm nâng cao hơn nữa về năng lực quan sát,khả năng tư duy hình tượng, sáng tạo, phương pháp làm việc khoa học, nhằmhình thành ở các em phẩm chất con người lao động mới đáp ứng đòi hỏi của xãhội ngày càng cao
Mỹ thuật là một môn nghệ thuật mang lại niềm vui cho mọi người, làmcho mọi người nhìn ra cái đẹp, thấy cái đẹp có ở trong mình và xung quanh trởlên gần gũi, đáng yêu Đồng thời mỹ thuật giúp mọi người tự tạo ra cái đẹp theo
ý mình và thưởng ngoạn nó ngay trong cuộc sống hàng ngày, làm cho cuộc sốnghài hòa và hạnh phúc
Mỹ thuật là môn học đòi hỏi sự sáng tạo từ cái thực, có thật tạo nên bài
vẽ, bức tranh đẹp phản ảnh được cái đẹp mà không lệ thuộc (không giống 100%như nguyên thể) Tề Bạch Thạch đã nói: “Tranh vẽ phải vừa thực vừa hư, thựcquá là mị đời, hư quá là dối đời tranh phải lưng trừng giữa thực và hư” Muốn
Trang 4làm được như vậy học mỹ thuật phải suy nghĩ độc lập suy nghĩ và dám nghĩ đểtạo ra cái mới của riêng mình.
Mỹ thuật là môn học tạo ra cái đẹp muốn có cái đẹp phải có kiến thức,phải nghĩ phải thích thú vì không gò ép được không phải chỉ có nhớ là làm đượckhông phải đúng chính xác mà đẹp Vì vậy khi dạy mỹ thuật cần phải làm chohọc sinh phấn khởi hồ hởi mong muốn vẽ đẹp chứ không đơn thuần là truyềnthụ kiến thức Mỹ thuật là môn học kiến thức mà kiến thức của nó vừa cụ thể rõràng vừa chung chung trừu tượng, khó thấy khó nhìn và là loại kiến thức có ởxung quanh ta đó là kiến thức cơ bản của bộ môn và kiến thức của bộ môn khác
có liên quan đó là kiến thức của khoa học xã hội và khoa học tự nhiên đồng thờiphải liên hệ với thực tiễn xung quanh
Từ xa xưa, con người nhận thức thế giới thông qua các hình ảnh hiệntượng cụ thể những gì thấy được qua cái thực con người nhận thức được thế giới
tự nhiên ngày càng phong phú và qua đó sáng tạo nên tất cả những gì cần chocuộc sống của mình:
+ Thấy chim bay con người cũng nghĩ ra cách bay của mình như làm tàulượn, làm máy bay…
+ Hình ảnh con cá bơi nhanh ở dưới nước giúp con người phát minh rathuyền có chèo để bơi (như vây cá) có bánh lái để lái (như đuôi cá )
+ Nhờ sấm chớp mà con người phát minh ra điện
+ Newton phát minh ra định luật vạn vật hấp dẫn nhờ sự rơi của quả táo.+ Học mỹ thuật bắt đầu bằng việc quan sát sự vật hiện tượng xung quanh,
vẽ lại mẫu vật thật và làm ra sản phẩm dựa vào sự vật hiện tượng xung quanhmình Cũng chính vì thế mà người ta nói: “Thiên nhiên là ông thầy vĩ đại nhấtsinh ra mọi thứ để con người sáng tạo” tạo điều kiện để cho con người tìm hiểunghiên cứu, tưởng tượng, sáng tạo những gì con người cần có trong cuộc sốnglàm cho cuộc sống ngày càng phong phú hơn
Trang 5Để giúp học sinh có thể học tốt hơn môn Mỹ Thuật, đề tài nghiên cứu này
đã sử dụng các biện pháp giúp học sinh chủ động liên hệ bài học với cuộc sốngquanh mình và qua đó biết yêu cái đẹp và thích làm ra cái đẹp
…)
Giáo viên chuẩn bị những đồ vật, con vật, một số vật dụng khác và nhữngbài làm đẹp được giáo viên và học sinh khóa trước làm cho học sinh xem để họcsinh học hỏi làm ra những đồ vật này và ứng dụng nó vào cuộc sống hàng ngàynhư hộp cắm hoa, hộp đựng bút, hộp trang trí đồ vật, túi xách, lọ hoa, ô tô đòchơi, các con vật ngộ ngĩnh, …
Với bài vẽ tranh về đề tài sinh hoạt, giáo viên hướng dẫn học sinh tìmhiểu các hoạt động của các em từ nhà đến trường, ra ngoài xã hội, cho học sinh
đi thăm quan các địa điểm gần gũi với các em Chiếu trên máy chiếu các hoạtđộng của các em diễn ra trong năm học với những hoạt động lớn: Vui tết trungthu, Hội khỏe Phù Đổng, khai giảng, chào mừng ngày 20-11, đón xuân mới,chào mừng ngày 8-3, ngày 30-4, 1-5… các hoạt động sản xuất tại địa phương:cấy, gặt, đón xuân, trại hè … Các hoạt động sinh hoạt hàng ngày trong gia đình
để học sinh có thể tự lựa chọn cho mình nội dung thích hợp để thể hiện bài vẽcủa mình
Vấn đề nghiên cứu: Việc sử dụng các đồ vật có thật trong cuộc sống và
videoclip về cuộc sống xung quanh vào dạy bài “Tập nặn tạo dáng – Nặn , xédán hoặc làm các con vật ( làm đồ chơi)” và “Vẽ tranh đề tài sinh hoạt” có nângcao kết quả học tập của học sinh lớp 4 không?
Trang 6Giả thuyết nghiên cứu: Sử dụng đồ vật thật và videoclip trong dạy học
sẽ nâng cao kết quả học tập các bài học “Tập nặn tạo dáng – Nặn, xé dán hoặclàm các con vật ( làm đồ chơi)” và “Vẽ tranh đề tài sinh hoạt” cho học sinh lớp 4trường Tiểu học Đoàn Đức Thái huyện Cát Hải Thành phố Hải Phòng
Về ý thức học tập: Tất cả học sinh ở hai lớp này đều tích cực chủ động
Về hình thức học tập: năm học trước hai lớp tương đương nhau về điểm
số của môn mỹ thuật
b Thiết kế:
Trang 7Chọn hai lớp nguyên vẹn: Lớp 4A1 là nhóm thực nghiệm và lớp 4A2 lànhóm đối chứng Tôi dùng bài kiểm tra thực hành ở các bài học trước khi họchai bài “Tập nặn tạo dáng – Nặn , xé dán hoặc làm các con vật ( làm đồ chơi)”
và “Vẽ tranh đề tài sinh hoạt” làm bài kiểm tra trước tác động Kết quả kiểm tracho thấy: Điểm trung bình của hai nhóm có sự khác nhau Do đó tôi dùng phépkiểm chứng T-test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình của hainhóm trước tác khi tác động
Sử dụng thiết kế 2: Kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhómtương đương (được mô tả ở bảng 2)
Bảng 3: Thiết kế nghiên cứu:
Nhóm Kiểm tra trước tác
03
Không sử dụng đồ dùng làm sản phẩm thật và không sử dụng Video
04
Trang 8c Quy trình nghiên cứu:
* Chuẩn bị bài của giáo viên:
- Tôi dạy lớp đối chứng 4A2: Thiết kế kế hoạch bài học, không dặn họcsinh chuẩn bị các đồ vật và không có video clip quy chuẩn bị bài như bìnhthường
- Tôi dạy lớp thực nghiệm 4A1: Thiết kế kế hoạch bài học có sử dụng đồvật thật và một số đồ chơi của HS khóa trước và video clip: Cho học sinh về nhàchuẩn bị các đồ vật thật và các hộp giấy, keo, kéo, và một số vật liệu khác … vàtham khảo các bài của đồng nghiệp (Cô Đặng Thị Đượm - giáo viên trường Tiểuhọc &THCS Văn Phong- huyện Cát Hải và cô Nguyễn Thị Thanh Huyền -giáo viên trường Tiểu học thị Trấn Núi Đèo huyện Thủy Nguyên thành phố HảiPhòng), sưu tầm và lựa chọn thông tin tại các websiteBaigiangdientubachkim.com, tvtlbachkim.com, giaovien.net …
* Tiến hành dạy thực nghiệm:
Thời gian tiến hành thực nghiệm vẫn tuân theo kế hoạch dạy học của nhàtrường và theo thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan, cụ thể
Bảng 4: Thời gian thực nghiệm:
Thứ, ngày Môn/ Lớp/ Tiết Tiết theo PPCT Tên bài dạy
Thứ 2
Ngày 19/11/2012
Mỹ thuậtLớp 4A1: Tiết 1Lớp 4A2: Tiết 2
16
TNTD: Nặn tạodáng con vật hoặc
ô tô bằng vỏ hộp
d Đo lường:
Trang 9Bài kiểm tra trước tác động: Tôi lấy điểm kiểm tra trung bình ở các bàithực hành trước tiết 12 trong phân phối chương trình ở khối lớp 4 môn Mỹ thuật
ở cả hai lớp
Bài kiểm tra sau tác động: Là điểm kiểm tra trung bình thực hành của haibài “Tập nặn tạo dáng – Nặn , xé dán hoặc làm các con vật – ô tô ( làm đồchơi)” và “Vẽ tranh đề tài sinh hoạt” sau khi học xong Bài kiểm tra sau tácđộng gồm:
1 Em hạy tập nặn hoặc làm con vật – ô tô đồ chơi từ các vỏ hộp
2 Vẽ một bức tranh về đề tàì sinh hoạt
* Tiến hành kiểm tra và chấm bài:
Sau khi tiến hành thực hiện xong các bài học trên, tôi tiến hành cho các
em làm bài kiểm tra từ ở nhà, sau một tuần thu và chấm bài
Chênh lệch giá trị trung bình
Như trên đã chứng minh rằng: Kết quả hai nhóm trước tác động là tươngđương nhau, sau tác động kiểm chứng chênh lệch độ trung bình bằng T-test chokết quả P=0,00658 Thấy sự chênh lệnh giữa điểm trung bình nhóm thực nghiệm
và nhóm đối chứng rất có ý nghĩa Tức là chênh lệch kết quả điểm trung bìnhnhóm thực nghiệm cao hơn điểm trung bình nhóm đối chứng không phải là ngẫunhiên mà do kết quả của tác động
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = =2
Trang 10Điều đó cho thấy mức độ ảnh hưởng của dạy học có sử dụng đồ dùng làvật thật và video clip cùng với sự chuẩn bị và tìm hiểu của học sinh về cuộcsống xung quanh đến điểm trung bình trung của nhóm thực nghiệm là lớn.
Giả thuyết của đề tài “Quan sát cuộc sống xung quang giúp học sinh biếtyêu cái đẹp và thích làm ra cái đẹp” đã được kiểm chứng
Hình 1: Biểu đồ so sánh điểm trung bình trước tác động và sau tác động của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng
PHẦN IV: BÀN LUẬN
Kết quả của bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm là trungbình trung 8 kết quả bài kiểm tra tương ứng của nhóm đối chứng là 7,28 Độchênh lệch điểm số giữa hai nhóm là 0,72 Điều đó cho thấy, điểm trung bìnhcủa hai lớp đối chứng và thực nghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt, lớp được thựcnghiệm có điểm trung bình trung cao hơn lớp đối chứng
6.4 6.6 6.8 7 7.2 7.4 7.6 7.8 8
Trư?c TĐ Sau TĐ
Nhóm đ?i ch?ng
Nhóm th?c nghi?m
Trang 11Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD =2 Điều
đó có nghĩa mức độ ảnh hưởng của tác động là lớn
Phép kiểm chứng T-test ĐTB sau tác động của hai lớp là 0.00658 < 0,05.Kết quả này khẳng định sự chênh lệch điểm trung bình của hai nhóm không phải
do ngẫu nhiên mà là do tác động
* Hạn chế:
- Nghiên cứu này sử dụng các đồ vật thật và video clip trong giờ học môn
Mỹ thuật là một giải pháp rất tốt nhưng để sử dụng có hiệu quả thì
Người giáo viên cần phải sử dụng rất nhiều thời gian để tìm, sưu tầm đồvật đẹp và hình ảnh hoạt động chọn lọc
Người giáo viên phải có trình độ về công nghệ thông tin, có kỹ năng thiết
kế giáo án điện tử, biết khai thác và sử dụng các nguồn thông tin trên mạnginternet, biết thiết kế kế hoạch bài học hợp lý
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
* Kết luận:
Việc sử dụng những đồ vật thật có dạng hình chữ nhật và videoclip vàogiảng dạy hai bài Tập nặn tạo dáng – Nặn , xé dán hoặc làm các con vật – ô tô( làm đồ chơi)” và “Vẽ tranh đề tài sinh hoạt” ở lớp 4 trường Tiểu học ĐoànĐức Thái thay thế cho hình ảnh tĩnh có trong sách giáo khoa đã nâng cao hiệuquả học tập của học sinh
* Kiến nghị:
- Đối với các cấp lãnh đạo: Cần quan tâm về cơ sở vật chất như trang thiết
bị, máy tính, máy chiếu profector… cho các nhà trường, mở các lớp ứng dụngcông nghệ thông tin, khuyến khích và động viên giáo viên áp dụng công nghệthông tin vào dạy học,
Trang 12- Đối với giáo viên: Không ngừng tự học, tự bồi dưỡng để hiểu biết vềcông nghệ thông tin, biết khai thác thông tin trên mạng internet, có kỹ năng sửdụng thành thạo các trang thiết bị dạy học hiện đại.
Với kết quả của đề tài này, tôi mong rằng các bạn đồng nghiệp quan tâm,chia sẻ và đặc biệt là đối với giáo viên Mỹ thuật ở các trường Tiểu học có thểứng dụng đề tài này vào việc dạy học để tạo hứng thú và nâng cao kết quả họctập của học sinh
PHẦN VI: TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Tài liệu nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng của Bộ giáo dục đàotạo Dự án Việt - Bỉ
- Tư liệu tập huấn nghiên cứu khoa học sư phạm ứng của Phan ThanhThế
- Phương pháp viết khoa học ứng dụng trên Internet
- Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS môn
Mỹ thuật – Âm nhạc – Thể dục của Bộ giáo dục đào tạo
- Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Mỹ thuật THCS củanhà xuất bản Giáo dục năm 2008
- Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kỳ III 2007) môn Mỹ thuật quyển 2 của nhà xuất bản giáo dục
thuvienbaigiangdientu.bachkim.com; giaoan.net…
MỤC LỤC