Trong nấm ăn có chứa hàm lượng không nhỏ dược tính tốt cho con người như nấm bào ngư chứa pleurotin có tác dụng kháng sinh; retin kháng ung thư; nấm rơm có volvatoxin A1&A2 có tác dụng t
Trang 1MỤC LỤC
Danh mục các bảng iii
Danh mục biểu đồ iv
Danh mục các hình v
Lời mở đầu 1
Chương 1: Tổng quan tài liệu 1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NẤM TRỒNG 3
1.1.1 Lịch sự phát triển của nấm ăn và tiềm năng [10] 3
1.1.2 Nấm trồng trong thế giới nấm [6,10] 3
1.1.3 Khái quát về nấm trồng 5
1.1.4 Đặc điểm biến dưỡng và sinh lí của nấm [6, 8, 10] 7
1.1.5 Sự phân hủy các hợp chất hữu cơ có trong nguyên liệu [2,4] 10
1.2 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NẤM VUA (Pleurotus eryngii)[10, 20] 12
1.2.1 Vị trí phân lọai 12
1.2.2 Đặc điểm chung của nấm vua ( Pleurotus eryngii) 12
1.2.3 Gía trị dinh dưỡng [5, 8, 10] 13
1.2.4 Giá trị dược tính [1, 14] 14
1.2.5 Giá trị về kinh tế- xã hội [8, 9, 10] 15
1.2.6 Nguyên liệu trồng nấm [5, 10, 16, 17] 16
1.2.7Qui trình trồng nấm 18
Chương 2: Vật liệu và phương pháp 2.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 23
2.2 VẬT LIỆU THÍ NGHIỆM 23
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2.2 Thiết bị - hóa chất 23
2.2.3 Điều kiện nuôi trồng 24
2.2.4 Thời gian, địa điểm 24
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.3.1 Phương pháp xác định tỉ lệ C/N của các nguyên liệu [7, 12, 13] 24
2.3.2 Phương pháp xác định tốc độ lan tơ 26
Trang 22.3.3 Khảo sát sự tạp nhiễm của bịch phôi 27
2.3.4 Nuôi trồng thử nghiệm nấm vua (Pleurotus eryngii) 27
2.3.5 So sánh đành giá quả thể nấm trồng trên các cơ chất khác nhau 31
2.3.6 Xác định độ ẩm bằng phương pháp sấy khô [7] 31
2.3.7 Phương pháp xử lý số liệu 32
Chương 3: Kết quả và biện luận 3.1 XỬ LÝ CƠ CHẤT TRỒNG NẤM 34
3.1.1 Xác định tỉ lệ C/N của nguyên liệu ban đầu 34
3.1.2 Bổ sung dinh dưỡng 35
3.2 KHẢO SÁT TỐC ĐỘ LAN TƠ 36
3.2.1 So sánh tốc độ lan tơ ở nguyên liệu phối trộn so với đối chứng 36
3.2.2 Xác định công thức có tốc độ lan tơ nhanh nhất 42
3.3 KẾT QUẢ NUÔI TRỒNG 44
3.3.1 Năng suất của các công thức trồng 44
3.3.2 Tỉ lệ tạp nhiễm 46
3.3.3 So sánh nấm thu được ở các thí nghiệm 49
Chương 4: Kết luận và đề nghị 4.1 KẾT LUẬN 58
4.2 ĐỀ NGHỊ 59
PHỤ LỤC 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 : So sánh chất lượng dinh dưỡng của nấm với các lọai thực phẩm khác
(theo Rao và Placchi) 14
Bảng 1.2 Nhiệt độ thích hợp cho ủ tơ và ra quả thể của vài lòai nấm bào ngư 21
Bảng 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của nấm bào ngư vua 21
Bảng 2.1: Các tỷ lệ phối trộn nguyên liệu 28
Bảng 3.1: Kết quả xác định tỉ lệ C/N của 4 loại nguyên liệu 34
Bảng 3.2: Lượng urê bổ sung 35
Bảng 3.3 So sánh số ngày tơ lan đầy bịch, tốc độ ăn lan trung bình giữa đối chứng và bã mía – mạt cưa 36
Bảng 3.4: So sánh số ngày tơ lan đầy bịch, tốc độ ăn lan trung bình giữa đối chứng và cùi bắp – mạt cưa 38
Bảng 3.5 So sánh số ngày tơ lan đầy bịch, tốc độ ăn lan trung bình giữ đối chứng và rơm – mạt cưa 40
Bảng 3.6 Khảo sát số ngày tơ lan đầy bịch giữa đối chứng với các công thức phối trộn ở cùng một tỷ lệ 42
Bảng 3.7: Năng suất từng tỉ lệ phối trộn bã mía – mạt cưa so đối chứng 44
Bảng 3.8: Năng suất từng tỉ lệ phối trộn của cùi bắp – mạt cưa so đối chứng 45
Bảng 3.9: Năng suất từng tỉ lệ phối trộn rơm – mạt cưa so đối chứng 45
Bảng 3.10 Khảo sát tỉ lệ nhiễm trên các lọai nguyên liệu nuôi trồng nấm bào ngư vua (Pleurotus eryngii) 46
Bản g 3.11: Khảo sát hình dạng - màu sắc quả thể thu được trên các lọai nguyên nuôi trồng 49
Bảng 3.12: Khảo sát kích thước cuống nấm thu hái được trên các lọai nguyên liệu nuôi trồng 50
Bảng 3.13: Trọng lượng trung bình của tai nấm ở mỗi lọai cơ chất 51
Trang 4DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Chiều sâu lan tơ trung bình nguyên liệu bã mía – mạt cưa so với đối
chứng 37
Biểu đồ 3.2: Chiều sâu lan tơ trung bình nguyên liệu cùi bắp – mạt cưa so với đối chứng 39
Biểu đồ 3.3: Chiều sâu lan tơ trung bình nguyên liệu rơm – mạt cưa so với đối chứng 41
Biểu đồ 3.4: So sánh tốc độ lan tơ ở cùng tỉ lệ phối trộn 75% so với đối chứng 42
Biểu đồ 3.5: So sánh tốc độ lan tơ ở cùng tỉ lệ phối trộn 50% so với đối chứng 43
Biểu đồ 3.6: So sánh tốc độ lan tơ ở cùng tỉ lệ phối trộn 25% so với đối chứng 43
Biểu đồ 3.7: Tỉ lệ nhiễm trung bình từng loại cơ chất so với đối chứng 47
Biểu đồ 3.8: Trọng lượng tươi trung bình của tai nấm ở mỗi lọai cơ chất 52
Biểu đồ 3.9: Trọng lượng nấm khô trung bình của tai nấm sau thu hái 52
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Chu trình phát triển của nấm lớn 7
Hình 1.2 Hình ảnh so sánh sự khác nhau giữa bào ngư trắng (Pleurotus florida) và bào ngư vua (Pleurotus eryngii) 12
Hình 1.3: Quy trình trồng nấm 20
Hình 2.1: Qui trình trồng nấm vua 30
Hình 3.1: Tốc độ lan tơ trên bã mía – mạt cưa so với đối chứng 37
Hình 3.2: Tốc độ lan tơ trên cùi bắp – mạt cưa so với đối chứng 39
Hình 3.3: Tốc độ lan tơ của rơm – mạt cưa so vớ đối chứng 41
Hình 3.4: Các lọai nhiễm thường gặp khi trồng thực nghiệm nấm ăn 48
Hình 3.5: Kích thước của quả thể nấm bào ngư vua (Pleurotus eryngii) 51
Hình3.6: Giai đọan bắt đầu ủ tơ 54
Hình 3.7: Sau ba tuần ủ tơ 54
Hình 3.8: Sau năm tuần ủ tơ 54
Hình 3.9: Bắt đầu giai đọan tưới đón nấm 55
Hình 3.10: Qủa thể nấm bào ngư vua (Pleurotus eryngii) 55
Hình 3.11: Hạch nấm sau khi gở nút bông 2 ngày 56
Hình 3.12: Hạch nấm 3 ngày tiếp theo 56
Hình 3.13: Qủa thể nấm sau 5 ngày 56
Hình 3.14: Qủa thể nấm khi thu hái 56
Trang 6Lời mở đầu
Hàng năm, sau mỗi vụ mùa bắp, cafê, lúa, khoai mì, mía…bên cạnh các nông sản chính như: gạo, cafê, đường mía…đem đến lợi nhuận cao cho người nông dân Thì các phụ phế phẩm như: vỏ hạt cafê, bã mía, rơm rạ, thân khoai mì, cám bắp, cùi bắp…cũng góp phần không nhỏ cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập người nông dân qua việc trồng nấm
Trong nấm ăn có chứa hàm lượng không nhỏ dược tính tốt cho con người như nấm bào ngư chứa pleurotin có tác dụng kháng sinh; retin kháng ung thư; nấm rơm
có volvatoxin A1&A2 có tác dụng trợ tim, ức chế tế bào ung thư…
Nấm vua (Pleurotus eryngii) cũng
thuộc cùng lòai với các nấm bào ngư mà
ta thường thấy như nấm bào ngư xám
Pleurotus sajor-caju, nấm bào ngư tím Pleurotus ostreatus, nấm bào ngư trắng Pleurotus florida…
Nấm vua hay nấm bào ngư nói chung là lọai khá dễ trồng Vì đặc điểm
độ ẩm 80% đến 90%; nhiệt độ thích hợp cho nấm phát triển dao động trong khỏang
250C đến 300C tùy từng lòai Nguyên liệu dùng trồng nấm là những lọai khá dễ tìm,
độ hoai mục không cao như: nấm rơm; nấm mỡ Nấm vua hay nấm bào ngư có hệ enzyme thủy giải mạnh các nguyên liệu chưa hòan tòan mùn hóa Hệ enzyme bao gồm: cellulase thủy giải cellulose, hemicellulase thủy giải hemicellulose, laccase thủy giải lignin
Để tận dụng nguồn phế liệu sẵn có trong nước, và góp phần cải thiện đời sống người nông dân, cũng như làm phong phú thêm chủng lọai nấm ăn cung cấp cho thị
trường Đề tài đặt ra là “ trồng thử nghiệm nấm vua (Pleurotus eryngii) trên một số
lọai nguyên liệu phổ biến ở nước ta”
Trang 7Chương 1:
Trang 81.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NẤM TRỒNG
1.1.1 Lịch sự phát triển của nấm ăn và tiềm năng [10]
Vào thời kì đồ đá (5000 – 4000 năm trước Công Nguyên), những cư dân nguyên thủy ở Trung Quốc đã biết sử dụng nhiều lòai nấm ăn trong tự nhiên Năm
400 trước Công Nguyên, ở nước này đã có những mô tả khoa học sinh lý, sinh thái của không ít lòai nấm ăn Năm 300 trước Công Nguyên, nấm được xem là mỹ thực cung đình Trung Hoa Trong nền văn minh Hy Lạp, người Hy Lạp đã sử dụng nấm từ
1500 năm trước Công Nguyên Tuy nhiên nấm chỉ bắt đầu được trồng vào thế kỉ 17
và ngày nay hơn 15 triệu tấn nấm được sản xuất mỗi năm trên thế giới
Ở nước ta, khó xác định được nghề trồng nấm đã có từ khi nào Tuy nhiên, nấm trồng thật sự phát triển mạnh ở miền Nam vào khỏang cuối những năm 60 Sau
đó, là thời kì du nhập nuôi trồng và thuần các giống nấm ôn đới Từ đó đến nay, nhiều làng nấm, trại nấm với quy mô lớn bắt đầu mọc ra rãi rác ở Đồng Nai, Hóc Môn, Củ Chi… nhưng chủ yếu là nuôi trồng nấm mèo, nấm đông cô, nấm rơm
Cho đến nay, với sự phát triển vượt bậc về kỹ thuật nhân giống, thuần giống, nước ta đã có thể đưa vào trồng thử nghiệm một số lòai nấm quí, có giá trị dinh
dưỡng cao, trong đó có nấm bào ngư vua (Pleurotus eryngii) Và bước đầu đã có một
vài thành công nhất định, nhìn chung nghề trồng nấm đang mở ra cho người dân ở nông thôn một hướng làm kinh tế mang lại hiệu quả cao, lợi nhuận tốt hơn so với nghề trồng lúa hiện nay
1.1.2 Nấm trồng trong thế giới nấm [6,10]
Hiện nay, số lòai nấm nuôi trồng được chỉ chiếm một phần trong số nấm ăn có trong thiên nhiên Ngòai đặc điểm chung là có quả thể hoặc tai nấm lớn (đa số có dạng tán dù), chúng còn ăn ngon và ít bị ràng buộc bởi môi trường xung quanh trong việc tạo quả thể
Thật ra, nấm rất phong phú và đa dạng, bao gồm cả những lòai ăn được và ăn không được, những lòai cho quả thể lớn và những lòai phải sử dụng kính hiển vi mới quan sát được Do đó, quan điểm ban đầu cho rằng nấm là thực vật đã không còn thuyết phục nữa và nhiều nhà phân lọai đề nghị xếp vào giới riêng, gọi là giới nấm theo hệ thống phân lọai 5 giới của R.H.Whittaker (1920 – 1981)
Trang 9Dựa theo tỷ lệ giữa số lòai nấm với số lòai thực vật trong cùng một môi trường, các nhà khoa học đã ước tính giới nấm có khỏang 1,5 triệu lòai Trong đó có gần 83.000 lòai được phát hiện và định danh, tuy nhiên kích cỡ thật sự của tính đa dạng của giới nấm vẫn còn là bí ẩn
Nấm phân bố trên tòan thế giới và phát triển ở nhiều dạng môi trường khác nhau, kể cả sa mạc Trong giới nấm, có những lòai chỉ là những tế bào chứa một nhân (đơn bào), nhưng cũng có những tế bào chứa nhiều nhân (cộng bào) Một đặc điểm phổ biến ở giới nấm là cấu trúc dạng sợi hay còn gọi là sợi nấm (khuẩn ty) Ở các lòai tiến bộ hơn thì trong mỗi sợi nấm có nhiều vách ngăn, tạo thành chuỗi tế bào nối liền nhau (đa bào) Vách ngăn giữa các tế bào này chỉ mang tính tương đối, vì thường giữa các tế bào có lỗ thông nhau Nhờ các lổ này mà các chất bên trong các tế bào có thể di chuyển từ nơi này qua nơi khác của sợi nấm
Người ta còn phân biệt nấm nhầy ( niêm khuẩn) với nấm thật (chân khuẩn) (Alexopolous -1962):
Nấm nhầy (Exomycota): là một dạng đặc biệt có cả hai tính chất, vửa động vật vừa thực vật Chúng có kiểu sinh sản bằng bào tử như thực vật, nhưng tế bào lại là khối sinh chất không có vách bao bọc, di chuyển và nuốt thức ăn như động vật (amid)
Nấm thật (Eumycota): chiếm số lượng khá đông đảo, bao gồm các tế bào với nhân khá hòan chỉnh Tế bào nấm có vách ngăn bao bọc như tế bào thực vật, nhưng đa số cấu tạo bởi chitin, tương tự chất cấu tạo nên lớp võ cứng ở côn trùng Ngòai ra ở một số tế bào nấm còn tích trữ Glycogen, tương tự động vật Ở một số lòai, còn sinh sản theo lối tạo giao tử có roi nhằm dễ dàng di chuyển, nhưng hợp
tử lại phát triển theo kiểu chung của nấm
Ngòai ra còn phân biệt nấm bậc cao (nấm thượng đẳng), nấm bậc thấp (nấm
hạ đẳng) Nấm bậc cao bao gồm nang khuẩn, đảm khuẩn, nấm bất tòan Ở các lớp này hệ sợi nấm tương đối phát triển với các vách ngăn chia thành các tế bào đều nhau Nấm ăn thuộc nấm bậc cao và chủ yếu là nấm đảm Ngòai ra do kích thước và
sự tạo thành quả thể lớn nên còn gọi là nấm lớn
Trang 101.1.3 Khái quát về nấm trồng
1.1.3.1 Hình thái học [6]
Nấm trồng phần lớn cho tai nấm với kích thước lớn Tai nấm có dạng dù với những cuống nấm đưa mũ lên cao như ở nấm rơm, nấm mối,… Hay có dạng phiến không cuống như nấm mèo, chúng có thể có bao gốc hoặc không có Cơ quan dinh dưỡng là tản, tản này phát triển cho quả thể (cơ quan sinh sản) sinh ra các đảm bào
tử
Tản:
Tản hợp bởi các khuẩn ty phát triển, có cấu tạo tế bào Ở vài lòai các khuẩn ty này hợp với nhau thành bó như rễ cây, có hai lọai khuẩn ty là khuẩn ty sơ cấp, và khuẩn ty thứ cấp
Khuẩn ty sơ cấp được hình thành từ bào tử nảy mầm Trong mỗi tế bào khuẩn
ty có một nhân Tuy nhiên lúc khởi đầu, khuẩn ty phát triển từ đảm bào tử có thể có nhiều nhân Nhưng sau đó vách ngăn hình thành chia khuẩn ty thành từng tế bào đơn hạch
Khuẩn ty thứ cấp được hình thành từ các khuẩn ty sơ cấp Trong mỗi tế bào của khuẩn ty có hai nhân, khuẩn ty thứ cấp được hình thành khi hai tế bào đơn hạch của hai khuẩn ty sơ cấp phối hợp với nhau
Tế bào lưỡng hạch sẻ phân chia thàn nhiều tế bào lưỡng hạch Nhưng sự phân chia này chỉ xảy ra ở tế bào ngọn của khuẩn ty
Phần tai nấm này có thể mở ra khi mới hình thành để lộ các đảm bào tử hoặc sau khi trưởng thành mới nở ra Ở các lòai tai nấm luôn đóng kín, phần đảm chỉ được phóng thích ra bên ngòai khi nấm tan rã
Trang 11 Đảm:
Đảm là cơ quan là cơ quan mang bào tử Lọai đảm có dạng hình chùy của các đảm khuẩn thượng đẳng được coi là đảm tiêu biểu Đảm này phát triển từ tế bào lưỡng hạch ở ngọn khuẩn ty thứ cấp Tế bào này là một tiền đảm, khi thành lập tiền đảm tăng trưởng kích thước, đồng thời hai nhân trong đảm phối hợp lại thành nhân hợp tử giảm phân cho ra 4 nhân con Nhân này chui vào ngọn bào tử tạo đảm bào tử, thường mỗi đảm mang 4 đảm bào tử, nhưng cũng có khi chỉ mang một hoặc nhiều hơn số đảm bào tử này tùy từng lòai
Đảm bào tử:
Đảm bào tử là cơ quan tiêu biểu cho cơ cấu đơn bào, đơn hạch Hình dạng chúng biến thiên từ hình tròn đến hình bầu dục, dài, màu sắc cũng biến thiên từ không màu đến màu sắc rực rỡ hay màu nâu đen
Khi gặp điều kiện thuận lợi đảm bào tử này nảy mầm cho ra các ống mầm phát triển thành khuẩn ty sơ cấp Ở một vài đảm khuẩn, đảm bào tử khi trưởng thành phân chia thành hai nhân Trong trường hợp này bào tử ở dạng lưỡng hạch như vẫn cho ra khuẩn ty sơ cấp Riêng đảm bào tử có hai nhân, do hai nhân trong đảm chui vào cùng một bào tử, thì chúng thường nảy mầm cho khuẩn ty thứ cấp
1.1.3.2 Chu trình sống của nấm [3,8,10]
Chu trình sống của nấm cũng như các loài nấm đảm khác, bắt đầu từ đảm bào
tử hữu tính, nẩy mầm cho hệ sợi dinh dưỡng sơ cấp (haploid), hai sợi sơ cấp phối hợp cho sợi thứ cấp(diploid) Các sợi thứ cấp hợp lại thành hệ sợi nấm còn gọi là khuẩn ty thể (mycelium) Hệ sợi phát triển thành mạng sợi nấm (anastomose)
Khi gặp điều kiện thuận lợi về nhiệt độ, độ ẩm, mạng sợi liên kết tạo hạch nấm (primordia), sau đó hạch nấm lớn dần trải qua nhiều dạng thù hình khác nhau như ở nấm bào ngư thì: san hô, dùi trống, dạng phễu, bán cầu lệch, lá lục bình Ở nấm rơm thì đinh ghim, dạng nút, dạng trứng, dạng kéo dài
Trang 12Hình 1.1: Chu trình phát triển của nấm lớn
1.1.4 Đặc điểm biến dưỡng và sinh lí của nấm [6, 8, 10]
1.1.4.1 Đặc điểm biến dưỡng của nấm
Nấm chủ yếu sống dị dưỡng, lấy thức ăn từ các nguồn hữu cơ Ngọai trừ niêm khuẩn thay đổi hình dạng tế bào để nuốt thức ăn tương tự động vật, còn lại hầu hết các lọai nấm đều lấy thức ăn qua màng tế bào giống như thực vật Một số lòai nấm có
hệ Enzyme phân giải tương đối mạnh giúp chúng có thể sử dụng các dạng thức ăn phức tạp, bao gồm các đại phân tử chất xơ như cellulose, hemicellulose, chất đạm như protein, chất bột như polysaccharide, chất mộc như lignin… Với cấu trúc dạng sợi, tơ nấm len lỏi vào sâu bên trong cơ chất (rơm rạ, mạt cưa, cùi bắp, bã mía, lục bình khô…) để rút lấy thức ăn đem nuôi tòan cơ thể nấm
Dựa vào đặc tính dinh dưỡng của nấm, có thể chia thành ba nhóm:
Hoại sinh: đặc tính chung của hầu hết các lòai nấm, trong đó có nấm trồng Thức ăn của chúng là xác bã thực vật, động vật Ở nhóm này chúng có hệ men tiêu hóa tương đối mạnh, phân giải được hầu hết
Trang 13nhiên cũng có trường hợp nấm không thể phân giải được nhiều cơ chất, mà nhờ vào các sinh vật khác ( vi khuẩn, nấm mốc, xạ khuẩn) tiến hành trước một bước
Ký sinh: chủ yếu là các lòai gây bệnh, chúng sống bám vào cơ thể các sinh vật khác (động vật, thực vật, và các loài nấm khác) Thức
ăn của chúng chính là các chất lấy ra từ ký chủ, làm ký chủ bị tổn thương và suy yếu Một số nấm ăn có thể sống trên cây tươi, nhưng đời sống thật sự vẫn là họai sinh, nên được xếp vào nhóm trung gian, gọi là bán ký sinh như nấm mèo
Cộng sinh: là nhóm nấm đặc biệt, lấy thức ăn từ cơ thể vật chủ nhưng không làm chết hoặc gâu tổn thương vật chủ, mà còn giúp phát triển tốt Vì vậy các lòai này có mối quan hệ mật thiết với nhau Việc nuôi trồng trong điều kiện nhân tạo trở nên phức tạp như đông trùng hạ thảo
1.1.4.2 Sự phát triển của sợi nấm [1, 2, 5, 10]
Nhu cầu dinh dưỡng của sự phát triển sợi nấm
- Nguồn carbon: trong thiên nhiên, carbon được cung cấp chủ yếu từ các nguồn như tinh bột, cellulose, lignin, hemicellulose,… Các đại phân tử này sau khi phân giải nhờ các enzyme do nấm tiết ra sẻ trở thành các phân tử nhỏ hơn, và sản phẩm cuối là D-glucose Đây là dạng đường đơn mà hầu hết các lọai nấm đều cần đến, là nguồn carbon chính tổng hợp các chất trong cơ thể nấm bao gồm thành phần cấu tạo nên sợi nấm và các hợp chất liên quan đến họat động sống
- Nguồn nitơ (đạm): là nguồn dinh dưỡng không thể thiếu trong sự phát triển của nấm Tơ nấm sử dụng nguồn nitơ để tổng hợp nên các enzyme cần thiết trong phản ứng biến dưỡng của tế bào, các bazơ pirimidin, purin cấu tạo nên acid nucleic, đồng thời tham gia tổng hợp chitin cho vách tế bào Nguồn đạm được cung cấp ở hai dạng :
Nitơ vô cơ: được nấm hấp thụ tốt nhất ở dạng muối nitrat (NO3
-), muối amon (NH4+)…
Nitơ hữu cơ: cám bắp, cám gạo, bột đậu nành, pepton…
Tỷ lệ C/N là yếu tố vô cùng quan trọng quyết định năng suất nấm trồng
Trang 14- Nguồn khóang: có rất nhiều loại khóang như:
Phosphate: tham gia vào thành phần cấu tạo acid nhân, phospholipid màng và các chất tạo năng lượng, nếu thiếu phosphate sẻ gây sự kiềm hảm hấp thụ glucose, cũng như quá trình hô hấp của nấm Nguồn này thường được cung cấp dưới dang muối
Kali: kali cần thiết cho sự họat động của các enzyme,vai trò của kali trong enzyme đóng vai trò là cofactor Kali còn tham gia vào khuynh độ điện hóa và sự thẩm thấu nước vào tế bào
Sulfur: tham gia vào tổng hợp acidamine Nguồn này thường được cung cấp dưới dạng muối sunfate
Magie (Mg): một số enzyme họat động cần Magie làm cofactor Nguồn Magie thường được cung cấp dưới dạng muối Magie sunfate
Các nguyên tố vi lượng như sắt (Fe), kẽm (Zn), bor (Bo), molybden (Mo), đồng (Cu),… chỉ cần một lượng rất nhỏ nhưng lại rất cần thiết trong hoạt hóa enzyme, tổng hợp vitamin, hấp thu, trao đổi chất, kể cả việc ra quả thể bình thường
- Vitamin: là những phân tử hữu cơ được dùng với lượng rất nhỏ, chúng không là nguồn cung cấp năng lượng cho tế bào, và giữ chức năng đặc biệt trong hoạt động của enzyme Hai vitamin tối thiểu cần thiết cho nấm là: biotin (vitamin H), thiamine (vitamin B1)
Ảnh hưởng của các yếu tố vật lý đến sự phát triển của sợi nấm
- Nhiệt độ: có ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng của nấm Nhiệt độ tác động đến sự họat động của hệ enzyme, nhiệt độ giảm 100C sự họat động của enzyme giảm đi một nữa, nếu tăng nhiệt độ lên 100C sự họat động của enzyme tăng gấp đôi Tuy thế nhưng nếu tăng nhiệt độ lên quá ngưỡng họat động của enzyme thì làm ức chế họat động của enzyme Có những lòai tăng trưởng ở nhiệt độ cao 300C – 35 0C, nhưng lại có những lòai có nhiệt độ tăng trưởng thấp hơn từ 150C – 200C Ngòai ra, nhiệt độ ra quả thể có thể thấp hơn nhiệt độ tăng trưởng vài độ
- pH: pH môi trường chi phối nhiều đến sự tăng trưởng của nấm, đặc biệt là trong quá trình hình thành quả thể pH chua hoặc phèn sẻ làm cho tơ nấm mọc chậm,
Trang 15thưa, quả thể bị biến dạng pH kiềm tơ mọc chậm hoặc ngừng tăng trưởng, quả thể
bị chai và không phát triển tiếp
- Độ ẩm: độ ẩm giúp hòa tan chất dinh dưỡng và vẫn chuyển chúng qua màng
tế bào Nếu môi trường không có nước hay độ ẩm thì sợi tơ nấm sẻ bị khô và chết
Do đó, để môi trường không thiếu ẩm cần thêm nước vào môi nguyên liệu nuôi trồng Trong quá trình phát triển cùa nấm cũng cần chú ý đến độ ẩm không khí Độ
ẩm này thường rất cao, nhờ thế quả thể khọng bị mất nước và phát triển bình thường
- Ánh sáng: có giá trị trong giai đọan ra quả thể, ở một số lòai nấm ánh sáng
có vai trò quan trọng trong việc kích thích sự hình thành nụ nấm, và giúp tai nấm phát triển bình thường
- Chế độ thông khí: O2 cần cho quá trình hô hấp của tế bào nấm CO2 ức chế
sự quá trình phát triển bình thường của quả thể, với lương CO2 cao có thể làm quả thể
bị biến dạng hoặc không kích thích hình thành nụ nấm như mong muốn
1.1.5 Sự phân hủy các hợp chất hữu cơ có trong nguyên liệu [2,4]
Hầu hết trong các nguyên liệu dùng trồng nấm đều có chứa lượng lớn các chất
xơ khó phân hủy như: cellulose, hemicellulose, lignin
Cellulose: là thành phần quan trọng và chiếm tỷ lệ lớn trong thành tế bào cũng
như trong cơ thể thực vật
Cellulose được cấu tạo từ nhiều gốc glucose nối với nhau bằng liên kết β- cosid Mức độ polymer hóa của phân tử cellulose thay đổi nhiều từ vài trăm đến gần
glu-15000 dalton
Cellulose không tan trong nước, bị phân hủy ở nhiệt độ thường hoặc ở 40
-500C nhờ vào hệ enzyme cellulase Celluloe bị phân hủy bởi acid hoặc kiềm mạnh khi đun nóng Trong tế bào thực vật cellulose liên kết chặt chẽ với hemicellulose, pectin, lignin, điều này ảnh hưởng đến sự phân giải cellulose của các ezyme
Hemicellulose: là polysaccharide tan trong kiềm gắn với cellulose trong thành
tế bào thực vật Hemicellulose không có cấu tạo mạch thẳng như cellulose, chúng có các mạch bên nối vào mạch chính
Khi thủy phân hemicellulose tạo ra hai lọai sản phẩm là: pentose (cấu tạo gồm xylose và arabinose), hexose (cấu tạo gồm có glucose, mannose, glactose) Hệ en-
Trang 16zyme dùng thủy phân hemicellulose gồm có endo và exoglucanase, trong đó lucanase phổ biến hơn
endog-Lignin: là một hợp chất đa phân tử phức tạp, cấu tạo gồm 69%C, 7%H,
24%O Đơn vị cấu tạo nên lignin là các dẫn xuất của phenyl propan Trong vách tế bào thực vật cellulose gắng chặt với lignin- chất vô định hình và hemiceluulose Ba loại polymer này kết hợp chặt chẻ với nhau bởi các liên kết cộng hóa trị tạo thành một phức hợp được biết đến như một lignocellulose chiếm 90% trọng lượng khô của
tế bào thực vật Gỗ mềm chứa nhiều lignin hơn gỗ cứng, trung bình thì lignocellulose bao gồm 45% cellulose, 30% hemicellulose và 25% lignin
Vi sinh vật phân giải chất hữu cơ
Xạ khuẩn thuộc nhóm vi khuẩn Gram dương, là nhóm vi sinh vật có khả năng phân hủy các hợp chất hữu cơ cao phân tử như cellulose, hemicellulose, lignin thành hợp chất trung gian tổng hợp thành các chất mùn
Xạ khuẩn là nhóm vi sinh vật đơn bào có kích thước nhỏ, có thành tế bào cấu tạo từ cellulose và chitin không có nhân thật Chúng phân bố rộng rãi trong tự nhiên thậm chí trên những lọai cơ chất mà nấm mốc và các vi khuẩn khác không thể phát triển được
Xạ khuẩn tham gia vào chu trình tuần hòan vật chất trong tự nhiên Chúng sử dụng các hợp chất hữu cơ khó phân giải trong đất Mặc dù thuộc nhóm sinh vật nhân
sơ nhưng xạ khuẩn thường sinh trưởng dưới dạng sợi và thường tạo nhiều bào tử Chúng sản sinh ra chất kháng sinh từ acid amine tạo thành trong quá trình trao đổi chất của vi khuẩn quang hợp và các chất hữu cơ Chất kháng sinh này có tác dụng tiêu diệt nấm và vi khuẩn gây hại Ngòai ra nó còn có khả năng sản sinh các hợp chất hữu cơ có giá trị như vitamine B1, enzyme cellulase
Trang 171.2 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NẤM VUA (Pleurotus eryngii)[10, 20]
1.2.1 Vị trí phân lọai: Nấm bào ngư vua còn gọi là nấm đùi gà thuộc:
Lòai : Pleurotus eryngii
1.2.2 Đặc điểm chung của nấm vua ( Pleurotus eryngii)
1.2.2.1 Hình dạng
Nấm vua giống các lọai nấm bào ngư khác ở chỗ tai nấm có các kéo dài xuống chân, cuống nấm gần gốc có các lông tơ nhỏ mịn Tai nấm khi còn non có màu nhạt nhưng khi trưởng thành có màu đậm hơn
Nấm vua khác các lòai nấm bào ngư thường thấy là phần mũ nấm ít phát
triển Đường kính mũ nấm và cuống nấm gần như bằng nhau, riêng phần chân của cuống nấm nở rộng giống đùi gà nên còn gọi là nấm đùi gà
Hình 1.2 Hình ảnh so sánh sự khác nhau giữa bào ngư trắng (Pleurotus florida) và
bào ngư vua (Pleurotus eryngii)
Trang 181.2.2.2 Phân bố [10]
Nấm vua (Pleurotus eryngii) thuộc nhóm “ưa nhiệt”, lòai nấm này phát
triển tốt ở nhiệt độ 250C ± 50C, thường trồng nhiều ở các nước Châu Á như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc,…Trong đó Nhật Bản là nước có sự đầu tư cao về kỹ thuật, và cơ sở hạ tầng tốt nhất cho việc trồng nấm sạch
Đặc điểm bào tử: bào tử có màu trắng, hình trứng, kích thước nhỏ
Đặc điểm tơ nấm: tơ có dạng sợi mảnh mịn Trên giá thể nuôi trồng tơ nấm
dày lên bao quanh các nguyên liệu, và có màu trắng đục ở phần kết nụ nấm
Vòng đời của nấm vua: giống như chu trình sống của các lọai nấm lớn khác (
hình 1.1)
1.2.3 Gía trị dinh dưỡng [5, 8, 10]
Nấm vua là một trong các lọai nấm không những ăn ngon mà còn có nhiều tính chất tốt cho cơ thể Trong nấm vua hay nấm nói chung có vị “Umami”, đây là
vị đặc biệt không giống một lọai thực phẩm nào khác Hương vị “Umami” còn được biết đến và sử dụng phổ biến hiện nay là bột ngọt sodium glutamat
Nấm vua là lọai thực phẩm rất tốt cho cơ thể, nó giàu chất xơ và protein chứa 8 lọai acid amine không thay thế ở người Ngòai ra đây là lọai thực phẩm chứa
ít chất béo, ít calo, không có cholesterol thích hợp cho người ăn kiêng Nó còn chứa nhiều lọai vitamin như riboflavin (B2), thiamine (B1),… Nấm còn chứa nhiều lọai khóang như Magie ( Mg), kẽm (Zn), sắt( Fe),…
Nếu tính về thành phần dinh dưỡng thì nấm vua có nhiều chất đường thậm chí còn cao hơn nấm rơm, nấm mỡ, nấm đông cô, hàm lượng đạm và khóang thì không thua các lọai nấm kể trên
Trang 19Bảng 1.1 : So sánh chất lượng dinh dưỡng của nấm với các lọai thực phẩm khác (theo Rao và Placchi)
Chỉ số acid amin cần thiết
(EAI)*
Tỉ lệ acid amin (AAS)*
Chỉ số dinh dưỡng (NI)*
Kháng ung thư :
o Trên thực nghiệm, hầu hết các loại nấm ăn đều có khả năng ức chế
sự phát triển của tế bào ung thư Nhiều loại nấm ăn trong đó có bào ngư có chứa hai loại polysaccharide có họat tính kháng ung bướu
Trang 20chất được biết đến nhiều nhất gồm có 69% β 1-3 glucan, 13% tose, 6% mannose, 13% uronic acid
galac-o Trong thử nghiệm về ung thư trên chuột bạch cho thấy, khi dùng
nước chiết xuất từ nấm bào ngư có thể làm ức chế sự phát triển của
khối u với tỉ lệ là 50% lượng chuột thí nghiệm
Dự phòng và trị liệu các bệnh tim mạch : trong nấm có chứa lovastatin( 3-
hydroxy-3- methylglutaryl-coenzyme A reducate) được cơ quan Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) đồng ý cho điều trị dư cholesterol trong máu
Thanh trừ các gốc tự do và chống lão hóa : gốc tự do là các sản phẩm có hại
của quá trình chuyển hóa tế bào Nhiều loại nấm ăn như nấm bào ngư, nấm linh chi, mộc nhĩ đen, ngân nhĩ có tác dụng thanh trừ các sản phẩm này, làm giảm chất mỡ trong cơ thể, từ đó có khả năng làm chậm quá trình lão hóa và kéo dài tuổi thọ
Giúp cơ thể chống lại một số lòai vi sinh vật gây bệnh:
o Trong nấm bào ngư có chứa chất diệt khuẩn tên là Paolin I và Paolin
II Cả hai chất này đều có khả năng chịu nhiệt cao trong một thời gian dài 950C trong vòng 45 phút Trong đó Paolin I là protein có phân tử lượng khá lớn từ 5.000 đến 10.000 dalton
o Theo thí nghiệm cho thấy khi Paolin I kết hợp với “phần C” ( là hợp chất kháng khuẩn được tìm thấy ở nấm bào ngư Vua) có thể làm
giảm tử vong ở chuột thí nghiệm bị nhiễm khuẩn Streptococus genes Còn khi kết hợp Paolin II với “phần C’ có thể ngăn 99% số virus Polio và Influenza A ở các thử nghiệm trên tế bào thận khỉ
pyo-1.2.5 Giá trị về kinh tế- xã hội [8, 9, 10]
Về kinh tế
Nấm bào ngư vua có vòng đời ngắn và vòng quay sản xuất nhanh
Sử dụng nguyên liệu là các phế liệu trong nông – lâm nghiệp
Có thể nuôi trồng công nghiệp hoặc kinh tế hộ gia đình nhỏ lẻ
Có giá trị thương mại cao
Trang 21 Về xã hội
Tạo việc làm cho người dân ở nông thôn, tăng thu nhập cho các hộ nghèo
Tạo nguồn thực phẩm có lợi cho con người
Giải quyết vấn đề môi trường trong sản xuất nông – lâm nghiệp
Vì khi đốt bã mía sẽ sản sinh các lọai khí như SO2, NOx , CO,… các khí này sẻ gây ra các bệnh về hô hấp như khó thở, tức ngực, nếu chịu lâu ngày sẻ có tình trạng
ho ra máu Trước vấn đề này, thì giải pháp sử dụng bã mía để làm nguyên liệu trồng nấm đã được ứng dụng
Bã mía rất giàu cellulose, hemicellulose, lignin, và một lượng đường còn sót, đây là nguyên liệu cung cấp đầy đủ lượng carbon, nitơ cho nấm phát triển
Sau thời gian trồng nấm nguồn cơ chất này còn có thể tái sử dụng làm phân vi sinh, nuôi trùng quế trong nông nghiệp Do bã mía là nguyên liệu giữ nước tốt, độ xốp thấp, hàm lượng dinh dưỡng cao Nên khi trồng nấm bào ngư vua ta cần thực hiện phối trộn giữa mạt cưa và bã mía ở tỉ lệ thích hợp nhằm tận dụng được các yếu
tố có lợi ở hai lọai nguyên liệu này
1.2.6.2 Mạt cưa cao su
Mạt cưa là nguồn phế phẩm trong các nhà máy gỗ Mạt cưa không đồng nhất
về kích thước có hạt lớn, hạt nhỏ Nhưng điều này lại thích hợp cho sự phát triển của nấm Vì với các hạt nhỏ sẻ giúp tơ nấm ăn lan nhanh, các hạt lớn lại kích thích sự dày lên của tơ nấm giúp hình thành hạch nấm Thành phần trong mạt cưa gồm có cellu-lose, hemicellulose và một vài lọai khóang
Trang 22Trên thế giới nguồn nguyên liệu trồng nấm phổ biến là mạt cưa Và lọai mạt cưa dùng để trồng nấm bào ngư vua là mạt cưa gỗ mềm, không chứa chất dầu, chất thơm
Ở nước ta mạt cưa thường dùng trồng nấm là mạt cưa cao su (Hevea sis) Năm 2005, nước ta có diện tích trồng cao su lớn thứ 5 thế giới, sản lượng xuất
brasilien-khẩu đứng thứ 4 thế giới, diện tích trồng cao su tăng từ 76600 hecta năm 1976 lên
480000 hecta năm 2005 Song song với sự phát triển ấy, là việc thanh lý những diện tích cao su đã già cỗi để trồng mới Phần lớn các cây cao su này được mang về chế biến ở các nhà máy gỗ Từ đây một lượng không nhỏ mạt cưa được thải ra hàng ngày Chính vì thế mà ở nước ta hiện nay, việc sử dụng mạt cưa cao su để nuôi trồng các lọai nấm ăn đang là một lựa chọn đúng đắn để giải quyết đồng thời hai mục tiêu kinh tế và môi trường
1.2.6.3 Cùi bắp
Bắp sau khi tróc hết hạt sẽ còn lại phần phế phẩm là cùi bắp Một phần phế phẩm này thường được dùng làm thức ăn độn cho gia súc lớn như bò, trâu Còn phần lớn lại được thải ra môi trường xung quanh, như thế gây hại cho môi trường sống của người dân quanh vùng Nên việc tận dụng cùi bắp sau khi đã phơi khô, đập nhỏ làm nguyên liệu trồng nấm cũng đang là biện pháp tốt để sử lý ô nhiễm, và tạo nguồn thu nhập tương đối cho người dân ở các khu vực Tây Nguyên
Trong cùi bắp có chứa cellulose, lignin, protein và acid amine ( lysin, prolin, arginin,…) Và các đường như galatose, arabinose,… Do có chứa một lượng lớn dinh dưỡng nên việc xử lý kỹ nguyên liệu này trước khi nuôi trồng nấm là việc cần thiết
Cùi bắp là cơ chất nhẹ, độ xốp cao, trong trồng nấm bào ngư vua, ta cần phối trộn cùi bắp với mạt cưa để tạo được lọai nguyên liệu có độ xốp, có hàm lượng dinh dưỡng cao, và giữ ẩm tốt
1.2.6.4 Rơm rạ
Mỗi năm ở nước ta sản xuất hàng chục triệu tấn gạo, từ đó cho ra một lương rơm, rạ khổng lồ Phần lớn lượng rơm rạ hiện nay dùng để làm chất đốt, còn lại một lượng không nhỏ thì dùng làmthức ăn cho các đại gia súc, thậm chí ở một số nơi còn
Trang 23mang bỏ ra các con kênh, các mương nước gần nhà dẫn đến gây ô nhiễm, và tạo điều kiện cho muỗi và các vi sinh vật phát triển
Trong rơm rạ có chứa các thành phần như cellulose, protein, nghèo khóang và vitamin Vì thế mà trước đây rơm đã được dùng để trồng các loại nấm như: nấm rơm, nấm mỡ… Năng suất trồng không cao, thời gian ủ hoai mục rơm để trồng các lọai nấm trên rất lâu Nên việc dùng rơm để trồng nấm bào ngư đang là lựa chọn thích hợp nhất Vì nấm bào ngư là lọai nấm khi trồng không đòi hỏi cao về độ hoai mục của nguyên liệu
Rơm là lọai nguyên liệu nhẹ, độ xốp cao, tích nước tương đối tốt Vì vậy ta cần phối hợp giữa rơm và mạt cưa để tạo ra lọai nguyên liệu tốt hơn cho trồng nấm bào ngư nói riêng, và các lọai nấm ăn khác nói chung
1.2.7 Qui trình trồng nấm
Qui trình trồng nấm bào ngư vua cũng giống vài lòai nấm khác gồm có các
bước cơ bản sau [5, 8, 9, 10, 11]
Trang 241.2.7.4 Cấy meo giống
Trước khi cấy meo giống, nguyên liệu đã hấp khử trùng phải được để nguội qua một đêm, nhằm làm cho nhiệt độ bên trong bịch phôi giảm xuống Khi cấy meo giống phải đảm bảo điều kiện vô trùng để tránh bị nhiễm bào tử nấm dại, nấm mốc… phát triển làm ảnh hưởng đến năng suất nấm trồng Trong thực tế ở các trại nấm, người ta thường xông formol để sát trùng nhà cấy
1.2.7.5 Ủ tơ
Thời gian ủ tơ được tính từ khi cấy meo giống đến khi tơ nấm lan hết bịch phôi, thời gian ủ dài hay ngắn tùy từng lòai nấm bào ngư, độ ẩm, nhiệt độ mà có thể kéo dài từ 4 tuần- 6 tuần
1.2.7.6 Tưới đón nấm và thu hái
Sau khi tơ lan đầy bịch, ta tiến hành gỡ nút bông bịch phôi và tưới đón nấm Ở giai đọan tưới đón nấm này nhiệt độ, độ ẩm không khí trong nhà trồng cần giữ ổn định Nếu nhà trồng quá nóng cần phun nước dưới dạng sương để duy trì độ ẩm nhà trồng Còn độ ẩm quá cao, thì nên gỡ bớt lớp nilon che nhà trồng, tạo độ thóang khí nhưng tuyệt đối không cho ánh nắng chiếu trực tiếp với cường độ cao vào nhà trồng Đối với nấm bào ngư vua để cho năng suất nấm cao ta cần sốc nhiệt cho nấm khi
ra quả thể Cụ thể là ở giai đọan ủ tơ nhiệt độ ủ là 300C ± 20C, giai đọan tưới đón nấm thì nhiệt độ là 250C ± 20C
1.2.7.7 Qui trình chung của trồng nấm
Trang 25Nhiệt độ: 250C
Độ ẩm không khí: 80%
Cường độ ánh sáng 400-500 lux
Hình 1.3: Quy trình trồng nấm
Trang 26Bảng 1.2 Nhiệt độ thích hợp cho ủ tơ và ra quả thể của vài lòai nấm bào ngư
Loài nầm bào ngư Nhiệt độ thích hợp
cho tăng trưởng tơ
Nhiệt độ thích hợp ra nấm
Nhiệt độ cho phép sản xuất
(2) Kaufert
(3) Jong và Peng, 1975
(4) Cailleux và Diop, 1976
(5) Oso, 1977
Bảng 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của nấm bào ngư vua
Yếu tố Nhiệt độ Độ ẩm cơ
chất
Độ ẩm không khí Ánh sáng pH Thông khí
≥ 70%
Ánh sáng không cần nhiều
5
-
7
Thông thóang
70%
- 90%
Cường độ ánh sáng yếu 400-
5
-
7
Vừa phải tránh gió lùa trực
Trang 27CHƯƠNG 2:
Trang 282.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Khảo sát cơ chất trồng nấm bào ngư vua
Khảo sát tốc độ lan tơ nấm ở các công thức phối trộn
Thử nghiệm nuôi trồng nấm vua (Pleurotus eryngii) trên các công thức phối
trộn
So sánh đánh giá quả thể nấm trồng trên các cơ chất khác nhau
2.2 VẬT LIỆU THÍ NGHIỆM
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Chủng nấm bào ngư vua (Pleurotus eryngii) được nhận từ Trung Tâm Công
Nghệ Sinh Học Ứng Dụng, số 2 Bis Nguyễn Hữu Cảnh, phường Bến Nghé, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh
Trang 292.2.3 Điều kiện nuôi trồng
Trong quá trình thực nghiệm trồng thử nghiệm nấm bào ngư vua ta cần thỏa mãn các yếu tố sau:
- Nhiệt độ: 250C đến 300C
- Độ ẩm không khí: 80% đến 90%
- Cường độ ánh sáng: 200 lux đến 500 lux
2.2.4 Thời gian, địa điểm
- Thời gian thực hiện đề tài là 3 tháng từ 9/2009 đến 12/2009
- Địa điểm thực hiện đề tài: Trung Tâm Ứng Dụng Công Nghệ Sinh Học, số 2 Bis Nguyễn Hữu Cảnh, phường Bến Nghé, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp xác định tỉ lệ C/N của các nguyên liệu [7, 12, 13]
2.3.1.1 Phương pháp xác định carbon tổng số của cơ chất
Xác định carbon tổng số bằng phương pháp so màu Ghram
- Nguyên tắc: dựa trên cơ sở oxid hóa chất hữu cơ bằng K2Cr2O7 theo phương pháp Walkley- Black, xác định hàm lượng chất hữu cơ bằng phương pháp so màu xanh của Cr3+ tạo thành do quá trình khử K2Cr2O7 khi đo ở bước sóng 625 nm
- Thiết bị: quang phổ kế
- Hóa chất thí nghiệm: gồm dung dịch K2Cr2O7 , acid H2SO4 đậm đặc
- Cách pha các dung dịch thí nghiệm:
Dung dịch K2Cr 2O7 : cân chính xác 49,04g K2Cr2O7 tinh thể pha thành 1l dung dịch
Dung dịch tiêu chuẩn chất hữu cơ 3% (dung dịch mẹ): cân chính xác 7,125g saccarose (đường mía C12H22O11) pha trong 100ml nước cất
Dung dịch tiêu chuẩn sử dụng (dung dịch con): trên cơ sở xác định dãy tiêu chuẩn từ 0- 1,0 ml (chứa từ 0- 30mg C, tương đương từ 0-3,0% C khi mẫu là 1g)
Trang 30 Cho nhanh 20ml acid H2SO4 đậm đặc
Thêm chính xác 60 ml nước cất và trộn đều
Để qua đêm cho lắng cặn, hoặc có thể ly tâm để tách cặn
Trích một phần dung dịch trên đem đo ở bước sóng 625nm
Tiến hành với dãy chuẩn bằng cách dùng micropipette hút lượng dung dịch mẹ từ 0- 1,0ml cho vào bình tam giác 125ml
Làm đồng thời cùng hai mẫu trắng
- Cách tính :
Xác định đồ thị tiêu chuẩn và trên cơ sở đo trên máy xác định hàm lượng C trong mẫu
2.3.1.2 Phương pháp xác định hàm lượng nitơ tổng
- Nguyên tắc: theo phương pháp Kjeldahl, chất đạm sau khi vô cơ hóa tạo thành dạng ((NH4)2SO4), cho tác dụng với chất kiềm mạnh như NaOH phóng thích ra amo-niac Lượng amoniac phóng thích ra, được hơi nước lôi cuốn bằng máy Parnas-
Wargner và được đưa vào bình tam giác chứa một lương thừa H2SO4 Từ đó ta xác định được lượng amonic phóng thích ra, tương đương xác định được lương đạm có trong mẫu
Trang 31- Tiến hành
Cân chính xác 1g mẫu nghiền nát cho vào bình Kjeldahl Thêm vào 5ml acid
H2SO4 đậm đặc và khỏang 0,5 g xúc tác K2SO4/CuSO4, sau đó đưa vào trong tủ Hotte tiến hành vô cơ hóa mẫu
Dung dịch sau khi vô cơ hóa có thể không màu hoặc có màu xanh lơ, pha lõang mẫu trong nước cất để được 100ml dịch lõang
Cất đạm: hút 10ml dịch mẫu pha lõang trên cho vào máy Parnas- Wargner sau đó thêm 10ml NaOH vào và tiến hành cất đạm Hứng NH3 bay ra bằng erlen bên trong có chứa acid H2SO4 0,1N và có sự hiện diện của metyl đỏ
- Cách tính:
Số gam nitơ tổng có trong 100g nguyên liệu khô
N= 1,4× ΔV × x (g/100g)
Với ΔV= V0 – V1
V0: thể tích NaOH 0,1N của mẫu thử trắng
V1: thể tích NaOH 0,1N của mẫu thử thật
x: là hệ số hiệu chỉnh của dung dịch NaOH 0,1N
2.3.2 Phương pháp xác định tốc độ lan tơ
Xác định tốc độ lan tơ trên nguyên liệu được thực hiện theo phương thức phối trộn tỉ lệ như bảng 2.1
Các túi phôi được cho ủ lan tơ ở nhiệt độ 300C ± 10C, sau 14 ngày bắt đầu đo
tơ lần một, vạch 4 đường thẳng lên thân bịch phôi Mỗi ngày hoặc mỗi tuần đều đo tơ lan, quá trình này kết thúc khi tơ lan đầy bịch Ở mỗi tỷ lệ phối trộn trên thực hiện 15 bịch
Trong quá trình đo lan tơ ghi nhận các số liệu sau:
Số ngày tơ nấm lan đầy bịch
So sánh sự khác nhau của tơ nấm trong từng lọai nguyên liệu
Tính tốc độ ăn sâu trung bình của tơ nấm
Chụp hình ở từng giai đọan tơ lan
Trang 322.3.3 Khảo sát sự tạp nhiễm của bịch phôi
Ghi nhận:
Số bịch phôi bị nhiễm ở mỗi tỷ lệ phối trộn
Xác định tỷ lệ nhiễm ở các loại nguyên liệu
Chụp các dạng nhiễm
2.3.4 Nuôi trồng thử nghiệm nấm vua (Pleurotus eryngii)
Bước 1 Chuẩn bị các nguyên liệu như
Mạt cưa cao su sau khi thu mua được từ một cơ sở trồng nấm ở quận 7 thành phố Hồ Chí Minh, đem phân lọai sơ bộ để loại bỏ rác, các mảnh gỗ to Sau
đó dùng dung dịch nước vôi có nồng độ 0,5% làm ẩm mạt cưa, và ủ đống nguyên liệu trong thời gian từ 5- 6 ngày
Bã mía sau khi thu gom từ các xe nước mía trong thành phố, phơi héo mặt trước một ngày, rồi tiến hành cắt khúc 5cm, nếu có máy xay thì có thể xay nhuyễn, dùng nước vôi có nồng độ 2% tưới lên nguyên liệu, ủ đống trong 4- 5 ngày
Rơm rạ là lọai nguyên liệu có thời gian hoai mục lâu nhất vì thế cần chuẩn bị
ủ sớm Rơm sau khi thu mua ở Củ Chi, cắt khúc 4-5 cm, hoặc tốt nhất là xay nhuyễn Sau đó đem ngâm qua nước vôi, ủ đống trong 6 - 8 ngày
Cùi bắp tươi sau khi thu mua từ chợ bắp ở Hóc Môn, phơi héo trong 2-3 ngày nếu nắng nhiều hoặc lâu hơn nếu thời tiết không tốt Cùi bắp tươi rất
dễ bị mốc vì có lượng đường cao, và có độ ẩm thích hợp cho nấm mốc phát triển Khi nguyên liệu khô đem đập nhỏ, tưới nước vôi 1%, ủ đống trong 2 – 3 ngày
Bước 2 Bổ sung urê để đạt điều kiện C/N=30, và tiến hành phối trộn
Sau thời gian ủ đống nguyên liệu, tiến hành bổ sung urê đưa C/N nguyên liệu về 30, tiếp tục phối trộn các nguyên liệu ở các tỉ lệ khác nhau, nhằm xem xét tỉ lệ phối trộn nào cho kết quả nuôi trồng cao nhất
Nguyên liệu sau phối trộn đóng vào các bao PP (polypropylen) chịu nhiệt, đem khử trùng
Trang 33Bảng 2.1: Các tỷ lệ phối trộn nguyên liệu
Ký
Ký hiệu
Bã mía-
mạt cưa
75%
bã mía:
25%
mạt cưa
75M
50% bã mía:
50% mạt cưa
50M
25% bã mía:
75% mạt cưa
25M
Trong nguyên liệu trồng chỉ
có mạt cưa (đối chứng )
MC Cùi bắp –
mạt cưa
75%
cùi bắp:
25%
mạt cưa
75B
50% cùi bắp:
50% mạt cưa
50B
25% cùi bắp:
75% mạt cưa
75R
50%
rơm:
50% mạt cưa
50R
25%
rơm:
75% mạt cưa
25R
Bước 3 Khử trùng nguyên liệu nhiệt độ hấp khử trùng là 1210C, áp suất đạt 1-1.5 atm, thời gian hấp 1 giờ, hoặc nhiệt độ khử trùng là 950C – 1000C , trong thời gian 6 giờ
Bước 4 Cấy meo giống
Meo giống sử dụng là meo cọng hoặc meo hạt Meo hạt được làm từ các lọai hạt ngũ cốc có phổ biến ở nước ta như hạt bắp, hạt kê, hạt thóc Hiện tại
ở Trung Tâm Công Nghệ Sinh Học Ứng Dụng thường dùng hạt thóc vì nó phổ biến và giá thành không cao lắm Các hạt thóc sau khi rữa sạch, được
Trang 34nấu chín cho đến khi tách vỏ trấu, rồi cho vào các ống nghiệm hoặc các túi
PP chịu nhiệt, đem hấp khử trùng, để nguội và cấy giống
Meo cọng làm từ thân cây khoai mì Thân cây khoai mì sau khi đã tước bỏ
vỏ bên ngòai, được đem chẻ nhỏ, ngâm vôi 1%, bổ sung cám bắp, hấp khử trùng, để nguội và cấy giống
Bước 5 Ủ tơ
Sau khi cấy meo cọng vào các bịch phôi, ta cần xếp lên giàn nếu như không
có nhà ủ tơ riêng Trong suốt thời gian ủ tơ nên che chắn nhà trồng để không cho ánh nắng chiếu trực tiếp vào bịch phôi
Đối với nấm bào ngư vua thì trong thời gian ủ tơ, nhiệt độ tốt nhất khỏang 300C
Bước 6 Tưới đón nấm và thu hái quả thể nuôi trồng
Sau giai đọan ủ tơ 5 tuần, hầu hết ở các bịch phôi đã lan kín tơ nấm, lúc này tiến hành gỡ bỏ nút bông qua giai đọan tưới đón nấm
Để quá trình tạo hạch nấm và phát triển quả thể, cần sốc nhiệt cho các bịch phôi bằng việc đưa vào trong nhà trồng lạnh với nhiệt độ 250C ± 10C
Bốn ngày sau nấm bắt đầu kết hạch, mười bốn ngày tiếp theo nấm ở giai đọan có thể thu hái được Khi thu hái đợt đầu xong, cần tưới nước dạng phun sương lên các bịch phôi, vệ sinh sạch sẽ nhà trồng và chờ sau 4 tuần
để thu hái đợt nấm tiếp theo
Trang 35Cùi bắp khô Bã míakhô Rơm khô
Cùi bắp- mạt cưa
Mạt cưa
Nguyên liệu đã xử lý, phối trộn
Vô bao
Cấy meo giống