1. Lí do lựa chọn đề tài Trong triết học duy vật biện chứng, không gian và thời gian được coi là hai hình thức tồn tại của vật chất đang vận động. Cuộc sống của con người luôn luôn gắn với không gian và thời gian. Con người luôn ở trong một không gian nhất định, ở đó nhờ có sự hiểu biết về cơ thể của mình mà con người xác định được vị trí của mình và của các đối tượng khác trong những mối quan hệ không gian khác nhau. Từ đó, mỗi người mới có thể tổ chức sắp đặt bản thân trong các mối quan hệ với người khác và với các sự vật hiện tượng trong không gian nơi con người sinh sống. Như vậy khả năng định hướng không gian có vai trò vô cùng to lớn trong việc giúp con người sống và hoạt động bình thường, nó là một bộ phận cấu thành của đời sống con người. Sự định hướng không gian của con người được thực hiện trên cơ sở tri giác trực tiếp không gian và biểu thị bằng lời các phạm trù không gian như: Vị trí, độ xa, mối quan hệ không gian giữa các vật. Đối với trẻ em, sự định hướng không gian nhờ vào chính cơ thể của trẻ. Ban đầu, trẻ liên hệ các hướng không gian với các phần, các bộ phận của cơ thể mình như: Phía trên là phía có đầu, phía dưới là phía có chân, phía sau là phía có lưng, phía trước là phía có ngực... Điều này cho thấy sự định hướng trên cơ thể trẻ là xuất phát điểm quan trọng cho việc trẻ nhỏ nhận biết các hướng không gian khác nhau. Nhà khoa học L. Doyon đã chỉ ra rằng: Sau khi đã khám phá ra cơ thể mình, đứa trẻ xác định vị trí mà nó giữ trong mối liên hệ với những đối tượng xung quanh nó và tạo dựng một toàn thể quan hệ giữa vận động của chính nó và những vận động của thế giới bên ngoài. Trong khi sử dụng cơ thể như là điểm mốc, từ đó trẻ phóng chiếu ra không gian xung quanh để xác định những khái niệm về không gian. Do vậy, phát triển khả năng định hướng không gian cho trẻ là rất cần thiết và bắt đầu bằng việc trẻ tìm hiểu bản thân mình, định hướng trên cơ thể mình để định hướng vào không gian xung quanh. Giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, giáo dục mầm non góp phần đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành các phẩm chất mới của con người Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Điều 2 Luật giáo dục 2005 chỉ ra mục tiêu của GDMN là: “Giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp Một”. Việc phát triển khả năng định hướng không gian cho trẻ mầm non là một nhiệm vụ quan trọng của GDMN. Khả năng này giúp trẻ biết được vị trí của mình trong không gian, biết được các vật có vị trí như thế nào với nhau, biết sắp xếp bản thân mình trong không gian mà mình đang ở... Từ đó trẻ biết điều chỉnh các hoạt động của mình phù hợp với không gian, đồng thời hình thành ở trẻ những phẩm chất như: tính tổ chức, kỷ luật, chính xác, có định hướng... Ở trẻ mẫu giáo, vui chơi là hoạt động chủ đạo và được xem là hình thức tổ chức quá trình sư phạm ở trường mầm non, là một phương tiện giúp trẻ định hướng không gian một cách hiệu quả. Trong những năm gần đây, tâm vận động là một lĩnh vực đang được thế giới nghiên cứu và ứng dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó có giáo dục. Trò chơi tâm vận động là một hình thức giáo dục tâm vận động, thông qua những trải nghiệm vận động cơ thể giúp trẻ phát triển về nhận thức, tình cảm, có khả năng thích ứng xã hội. Tâm vận động là một cách tiếp cận mới giúp phát triển nhiều khả năng của trẻ trong đó có khả năng định hướng không gian. Từ thực tiễn giáo dục mầm non hiện nay cho thấy, việc tổ chức các hoạt động nhằm phát triển khả năng định hướng không gian cho trẻ chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Định hướng không gian là một khả năng khó, khái niệm không gian trừu tượng, trẻ khó nắm bắt, dễ nhầm lẫn. Vì vậy, giáo viên còn gặp nhiều lúng túng trong xây dựng và tổ chức các hoạt động dạy trẻ định hướng không gian. Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn nêu trên, đề tài: “Xây dựng trò chơi tâm vận động phát triển khả năng định hướng không gian cho trẻ 3 4 tuổi” được lựa chọn nghiên cứu.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do lựa chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 4
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Những đóng góp mới của đề tài 5
9 Cấu trúc của luận văn: 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÒ CHƠI TÂM VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG ĐỊNH HƯỚNG KHÔNG GIAN CHO TRẺ 3 - 4 TUỔI 7
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Nghiên cứu tâm vận động, giáo dục tâm vận động, trò chơi tâm vận động trên thế giới 7
1.1.2 Nghiên cứu tâm vận động, giáo dục tâm vận động, trò chơi tâm vận động ở Việt Nam 11
1.2 Lí luận về trò chơi tâm vận động phát triển khả năng định hướng không gian cho trẻ 3 - 4 tuổi 12
1.2.1 Lý luận về trò chơi tâm vận động 12
1.2.2 Vai trò của trò chơi tâm vận động đối với sự phát triển tâm lí trẻ em .21 1.3 Lý luận về khả năng định hướng không gian của trẻ 3 - 4 tuổi 23
1.3.1 Khái niệm "khả năng định hướng không gian" 23
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng định hướng không gian 28
1.3.3 Vai trò của khả năng định hướng không gian đối với trẻ mẫu giáo 33
Trang 21.3.4 Đặc điểm phát triển khả năng định hướng không gian của trẻ 3 - 4 tuổi .34 1.4 Ảnh hưởng của trò chơi tâm vận động đối với sự phát triển khả năng định
hướng không gian của trẻ 3 - 4 tuổi 36
Kết luận chương 1 40
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG TRÒ CHƠI PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG ĐỊNH HƯỚNG KHÔNG GIAN CHO TRẺ 3 - 4 TUỔI VÀ KHẢ NĂNG ĐỊNH HƯỚNG KHÔNG GIAN CỦA TRẺ 3 - 4 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 41
2.1 Tổ chức nghiên cứu 41
2.1.1 Mục đích nghiên cứu 41
2.1.2 Khách thể khảo sát 41
2.1.3 Nội dung nghiên cứu 42
2.1.4 Địa bàn nghiên cứu 43
2.1.5 Phương pháp nghiên cứu 43
2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng 48
2.2.1 Thực trạng sử dụng các trò chơi và trò chơi tâm vận động phát triển khả năng định hướng không gian cho trẻ 3 - 4 tuổi ở trường mầm non 48
2.2.2 Thực trạng khả năng định hướng không gian của trẻ 3 - 4 tuổi 60
Kết luận chương 2 70
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG VÀ THỰC NGHIỆM MỘT SỐ TRÒ CHƠI TÂM VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG ĐỊNH HƯỚNG KHÔNG GIAN CHO TRẺ 3 - 4 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 71
3.1 Xây dựng một số trò chơi tâm vận động phát triển khả năng định hướng không gian cho trẻ 3 - 4 tuổi 71
3.1.1 Cơ sở khoa học xây dựng các trò chơi tâm vận động phát triển khả năng định hướng không gian của trẻ 71
Trang 33.1.2 Nguyên tắc xây dựng trò chơi tâm vận động nhằm phát triển khả năng
định hướng không gian cho trẻ 3 - 4 tuổi 74
3.1.3 Xây dựng một số trò chơi tâm vận động phát triển khả năng định hướng không gian cho trẻ 3 - 4 tuổi 74
3.2 Kết quả thực nghiệm một số trò chơi tâm vận động phát triển khả năng định hướng không gian cho trẻ 3 - 4 tuổi 77
3.2.1 Mục đích thực nghiệm 77
3.2.2 Nội dung thực nghiệm 77
3.2.3 Đối tượng, phạm vi, thời gian thực nghiệm 77
3.2.4 Tổ chức thực nghiệm 78
3.2.5 Kết quả thực nghiệm 78
3.2.6 So sánh khả năng định hướng không gian của nhóm thực nghiệm trước và sau tác động sư phạm 83
3.2.7 So sánh khả năng định hướng không gian trước và sau tác động sư phạm của hai nhóm thực nghiệm và đối chứng 84
3.2.8 So sánh kết quả các bài tập của nhóm thực nghiệm và đối chứng trước và sau thực nghiệm 86
Kết luận chương 3 94
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM 95
1 Kết luận 95
2 Kiến nghị sư phạm 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Quan điểm của giáo viên về mức độ chú trọng các nội dung dạy trẻ
3 - 4 tuổi định hướng không gian 51 Bảng 2.2: Quan điểm của giáo viên về mức độ hiệu quả các hoạt động phát
triển khả năng ĐHKG cho trẻ 3 - 4 tuổi 54 Bảng 2.3: Mức độ sử dụng các trò chơi phát triển khả năng ĐHKG cho trẻ 3 - 4
tuổi ở trường mầm non 56 Bảng 2.4: Quan niệm về trò chơi tâm vận động của giáo viên mầm non 59 Bảng 2.5: Kết quả thực trạng khả năng ĐHKG của trẻ 3 - 4 tuổi 60 Bảng 2.6: Kết quả thực hiện các nhóm bài tập khảo sát khả năng định hướng
không gian của trẻ 3 - 4 tuổi 64 Bảng 2.7 : Kết quả khả năng định hướng không gian của trẻ nam và nữ 68 Bảng 3.1: Khả năng định hướng không gian của hai nhóm đối chứng và thực
nghiệm trước thực nghiệm 79 Bảng 3.2: Khả năng định hướng không gian của hai nhóm đối chứng và thực
nghiệm sau thực nghiệm 81 Bảng 3.3: So sánh khả năng định hướng không gian của trẻ nhóm thực
nghiệm trước và sau tác động sư phạm 84 Bảng 3.4: Khả năng định hướng không gian trước và sau thực nghiệm của hai
nhóm đối chứng và thực nghiệm 85 Bảng 3.5 : Kết quả thực hiện bài tập khảo sát khả năng định hướng không gian
của trẻ hai nhóm đối chứng và thực nghiệm trước thực nghiệm 88 Bảng 3.6: Kết quả thực hiện bài tập khảo sát khảo sát khả năng định
hướng không gian của trẻ hai nhóm đối chứng và thực nghiệm sau thực nghiệm 90 Bảng 3.7: Kết quả thực hiện 4 nhóm BT khảo sát khả năng định hướng không
gian trước và sau thực nghiệm của hai nhóm ĐC và TN 91
Trang 5không gian của hai nhóm đối chứng và thực nghiệm sau tác động sư phạm 91 Biểu đồ 3.6: Kết quả thực hiện 4 nhóm bài tập trước và sau thực nghiệm của
nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm 93
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do lựa chọn đề tài
Trong triết học duy vật biện chứng, không gian và thời gian được coi làhai hình thức tồn tại của vật chất đang vận động Cuộc sống của con ngườiluôn luôn gắn với không gian và thời gian Con người luôn ở trong một khônggian nhất định, ở đó nhờ có sự hiểu biết về cơ thể của mình mà con người xácđịnh được vị trí của mình và của các đối tượng khác trong những mối quan hệkhông gian khác nhau Từ đó, mỗi người mới có thể tổ chức sắp đặt bản thântrong các mối quan hệ với người khác và với các sự vật hiện tượng trongkhông gian nơi con người sinh sống Như vậy khả năng định hướng khônggian có vai trò vô cùng to lớn trong việc giúp con người sống và hoạt độngbình thường, nó là một bộ phận cấu thành của đời sống con người
Sự định hướng không gian của con người được thực hiện trên cơ sở trigiác trực tiếp không gian và biểu thị bằng lời các phạm trù không gian như:
Vị trí, độ xa, mối quan hệ không gian giữa các vật Đối với trẻ em, sự địnhhướng không gian nhờ vào chính cơ thể của trẻ Ban đầu, trẻ liên hệ cáchướng không gian với các phần, các bộ phận của cơ thể mình như: Phía trên
là phía có đầu, phía dưới là phía có chân, phía sau là phía có lưng, phía trước
là phía có ngực Điều này cho thấy sự định hướng trên cơ thể trẻ là xuất phátđiểm quan trọng cho việc trẻ nhỏ nhận biết các hướng không gian khác nhau.Nhà khoa học L Doyon đã chỉ ra rằng: "Sau khi đã khám phá ra cơ thể mình,đứa trẻ xác định vị trí mà nó giữ trong mối liên hệ với những đối tượng xungquanh nó và tạo dựng một toàn thể quan hệ giữa vận động của chính nó vànhững vận động của thế giới bên ngoài" Trong khi sử dụng cơ thể như là
"điểm mốc", từ đó trẻ phóng chiếu ra không gian xung quanh để xác địnhnhững khái niệm về không gian Do vậy, phát triển khả năng định hướng
Trang 7không gian cho trẻ là rất cần thiết và bắt đầu bằng việc trẻ tìm hiểu bản thânmình, định hướng trên cơ thể mình để định hướng vào không gian xung quanh.
Giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, giáo dụcmầm non góp phần đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành các phẩm chất mớicủa con người Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước Điều 2 - Luật giáo dục 2005 chỉ ra mục tiêu của GDMN là: “Giúp trẻphát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ hình thành những yếu tố đầutiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp Một” Việc phát triển khả năngđịnh hướng không gian cho trẻ mầm non là một nhiệm vụ quan trọng củaGDMN Khả năng này giúp trẻ biết được vị trí của mình trong không gian,biết được các vật có vị trí như thế nào với nhau, biết sắp xếp bản thân mìnhtrong không gian mà mình đang ở Từ đó trẻ biết điều chỉnh các hoạt độngcủa mình phù hợp với không gian, đồng thời hình thành ở trẻ những phẩmchất như: tính tổ chức, kỷ luật, chính xác, có định hướng
Ở trẻ mẫu giáo, vui chơi là hoạt động chủ đạo và được xem là hình thức
tổ chức quá trình sư phạm ở trường mầm non, là một phương tiện giúp trẻđịnh hướng không gian một cách hiệu quả Trong những năm gần đây, tâmvận động là một lĩnh vực đang được thế giới nghiên cứu và ứng dụng vàonhiều lĩnh vực khác nhau trong đó có giáo dục Trò chơi tâm vận động là mộthình thức giáo dục tâm vận động, thông qua những trải nghiệm vận động cơthể giúp trẻ phát triển về nhận thức, tình cảm, có khả năng thích ứng xã hội.Tâm vận động là một cách tiếp cận mới giúp phát triển nhiều khả năng của trẻtrong đó có khả năng định hướng không gian
Từ thực tiễn giáo dục mầm non hiện nay cho thấy, việc tổ chức cáchoạt động nhằm phát triển khả năng định hướng không gian cho trẻ chưa thực
sự được quan tâm đúng mức Định hướng không gian là một khả năng khó,
Trang 8khái niệm không gian trừu tượng, trẻ khó nắm bắt, dễ nhầm lẫn Vì vậy, giáoviên còn gặp nhiều lúng túng trong xây dựng và tổ chức các hoạt động dạy trẻđịnh hướng không gian.
Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn nêu trên, đề tài: “Xây dựng trò chơi tâm vận động phát triển khả năng định hướng không gian cho trẻ 3 -
4 tuổi” được lựa chọn nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, đề tài xây dựng và sử dụngmột số trò chơi (TC) tâm vận động (TVĐ) nhằm giúp trẻ 3 - 4 tuổi phát triểnkhả năng định hướng không gian (ĐHKG)
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trò chơi TVĐ phát triển khả năng ĐHKG cho trẻ 3 - 4 tuổi
3.2 Khách thể nghiên cứu
- Quá trình phát triển khả năng ĐHKG cho trẻ 3 - 4 tuổi ở trường MN
- Trẻ em 3 - 4 tuổi ở trường MN
- Giáo viên MN
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
4.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu
- Khảo sát thực trạng việc tổ chức các trò chơi nhằm phát triển khảnăng ĐHKG cho trẻ 3 - 4 tuổi của giáo viên MN tại một số trường MN tỉnhTuyên Quang
- Khảo sát khả năng ĐHKG của trẻ 3 - 4 tuổi tại một số trường MN trênđịa bàn tỉnh Tuyên Quang
Trang 9- Nghiên cứu xây dựng và thực nghiệm một số trò chơi TVĐ phát triểnkhả năng định hướng không gian cho trẻ 3 - 4 tuổi.
4.2 Giới hạn địa bàn và khách thể nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu: Trường MN Sông Lô, Hoa Phượng, LưỡngVượng, An Khang thuộc thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
Khách thể nghiên cứu: 120 trẻ 3 - 4 tuổi (gồm cả nam và nữ), 40 giáoviên dạy ở các lớp 3 - 4 tuổi
5 Giả thuyết khoa học
Việc sử dụng TC phát triển khả năng ĐHKG cho trẻ 3 - 4 tuổi ở một sốtrường MN tại TP Tuyên Quang còn hạn chế Khả năng ĐHKG của trẻ 3 - 4tuổi ở một số trường MN trên địa bàn TP Tuyên Quang còn nhiều trẻ đạt mức
độ trung bình Nếu xây dựng được những TC TVĐ phát triển khả năngĐHKG cho trẻ 3 - 4 tuổi phù hợp và sử dụng một cách linh hoạt trong cáchoạt động giáo dục trẻ ở trường MN sẽ góp phần phát triển tốt hơn khả năngnày cho trẻ
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về việc hình thành và phát triển khả năngĐHKG của trẻ 3 - 4 tuổi thông qua cách tiếp cận TVĐ
- Khảo sát thực trạng tổ chức các trò chơi phát triển khả năng ĐHKGcho trẻ 3 - 4 tuổi ở trường mầm non và khả năng ĐHKG của trẻ
- Xây dựng và thực nghiệm một số trò chơi TVĐ phát triển khả năngĐHKG cho trẻ 3 - 4 tuổi ở trường MN
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Trang 10Thu thập tài liệu, nghiên cứu, so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quáthóa, hệ thống hóa những tài liệu có liên quan đến đề tài Nghiên cứu, cụ thểhóa lí thuyết xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra viết (Anket)
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng một số công thức toán thống kê để xử lí các số liệu thu đượctrong quá trình điều tra và thực nghiệm
8 Những đóng góp mới của đề tài
Trang 119 Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị sư phạm, danh mục tài liệutham khảo, phụ lục, nội dung luận văn được cấu trúc làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về trò chơi tâm vận động phát triển khả năngđịnh hướng không gian cho trẻ 3 - 4 tuổi
Chương 2: Thực trạng sử dụng trò chơi phát triển khả năng định hướngkhông gian cho trẻ 3 - 4 tuổi và khả năng định hướng không gian của trẻ 3 - 4tuổi ở trường mầm non
Chương 3: Xây dựng và thực nghiệm một số trò chơi tâm vận độngphát triển khả năng định hướng không gian cho trẻ 3 - 4 tuổi
Trang 12động” được xuất hiện chính thức trong một bài diễn văn của Dupré đầu thế kỷ
XX Lịch sử nghiên cứu về TVĐ tuy chưa dài nhưng lại là một phạm trù thểhiện quan niệm của con người về cơ thể của mình Lịch sử của nó gắn liền với
sự phát triển quan niệm về mối quan hệ giữa tâm lí và cơ thể - đó là quá trìnhdài dẫn đến những quan niệm này Theo tổng kết của tác giả Nguyễn Thị NhưMai trong luận án Tiến sĩ “Nghiên cứu tâm vận động ở trẻ em 5 - 6 tuổi” thì
đã có nhiều nhà triết học, tâm lí học đề cập đến vấn đề cơ thể và tâm hồn vàmối quan hệ giữa chúng Có thể kể đến một số những tư tưởng về TVĐ quanhững nghiên cứu sau:
Từ thời Cổ đại với những quan niệm sơ khai Platon, Aristote đã bàn vềvấn đề cơ thể và tâm hồn Đứng trên quan điểm duy tâm, Platon cho rằng cơthể có vị trí tạm thời còn tâm hồn là vĩnh cửu Cơ thể phụ thuộc vào tâm hồn
ở ba phẩm chất chính: điều độ, can đảm và công bằng Với quan điểm duy vậthơn Aristote cho rằng mọi trạng thái của tâm hồn đều liên quan đến cơ thểsống, sự di chuyển là một trong những chức năng của tâm hồn, chính tâm hồnlàm cho trái tim vận động (VĐ), giúp cơ thể VĐ
Trang 13Với câu nói bất hủ “Tôi tư duy tức là tôi tồn tại” nhà triết học nổi tiếngđầu thế kỷ XVII R.Descartes đã chỉ ra vai trò của tư duy Ông cho rằng conngười là “một vật biết suy nghĩ”, nhưng ông lại không cho rằng sự suy nghĩthuộc về con người, cơ thể không biết suy nghĩ Phân tích cơ chế sinh lý của
sự hợp nhất giữa tâm hồn và cơ thể, ông cho rằng VĐ của con người tuân theo
ý thức có ý chí có được do các khớp, các cơ bắp và các đường thần kinh
Đến đầu thế kỷ XIX, Maine de Biran có lí thuyết “Tâm lí học hoạtđộng” Ông là người đầu tiên coi VĐ là một thành phần cơ bản của cấu trúctâm lí về cái Tôi Theo quan điểm của ông VĐ chính là một phần của nhân cách
Những tư tưởng trên cho thấy, ngay từ thời cổ đại đã có những tưtưởng, những quan niệm về sự liên quan giữa cơ thể và tâm lí và xem TVĐnhư một chức năng của tâm lí, bị tâm lí chi phối
Nửa đầu thế kỷ XX, khái niệm TVĐ có liên quan đến lịch sử thần kinhbệnh học và thần kinh học Thuận ngữ “Tâm vận động” được ra đời từ nhữngphát minh lớn của khoa sinh lí thần kinh và thần kinh bệnh lí gắn liền vớinhững nhà nghiên cứu thần kinh bình thường (Dupré, Charcot, Shilder )
H.Wallon trong tác phẩm “Đứa trẻ hiếu động” đã nói đến những giai
đoạn và những rối loạn phát triển TVĐ và trí tuệ của trẻ em Ông cũng đi sâunghiên cứu mối quan hệ làm hợp nhất những hành động VĐ và xúc cảm.Chính nhờ H Wallon khái niệm TVĐ được áp dụng vào khái niệm phát triển,rối loạn TVĐ, kiểu loại TVĐ
J Piagiet cho rằng sự thông minh là từ hoạt động cảm giác VĐ Nhờ sựxây dựng các sơ cấu cảm giác VĐ và sự chi phối giữa chúng mà cơ thể khônggian, thời gian được xây dựng đồng thời do kinh nghiệm lặp đi, lặp lại Theoquan niệm của ông con người thể hiện mình bằng chính hành động
Trang 14Trường phái Phân tâm học đại diện là S.Freud, cho rằng cơ thể có mộttầm quan trọng đặc biệt trong sự hình thành vô thức - thành phần chủ yếu củađời sống tâm lý con người Cơ thể chính là nguồn của mọi xung động Theo
S.Freud, cái tôi có nguyên nhân từ cơ thể.
Tâm lí học Gestalt (Koffka, Kohler, Lewin) và nhất là triết học Hiệntượng luận (Merleau Ponty) đã làm thay đổi sâu sắc cách nhìn về TVĐ Trongnhững nghiên cứu của họ TVĐ được xem xét trong quan niệm tổng thể, tổngquát, năng động đầy sinh lực Merleau Ponty: “Tôi nhận thức thế giới bằng cơthể tôi” Kể từ đây, với quan điểm của Gestalt và triết học hiện tượng luận,TVĐ được thực sự xóa bỏ khỏi quan niệm nhị nguyên buổi ban đầu, chỉ rõmối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa cơ thể và tâm lí
Đầu những năm 60 của thế kỷ XX, TVĐ được nghiên cứu kĩ càng hơnvới J.de Ajuriaguerra - một trong những người khởi xướng khoa TVĐ Ôngcho rằng có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa tâm lí và VĐ chứ không chỉ là sựsong hành giữa chúng Những nghiên cứu của H Wallon, Ajuriaguerra đã đặtnền móng về lí thuyết cho những vấn đề về rối loạn TVĐ và cách chữa trị TVĐ
Đến những năm 70 của thế kỷ XX, các nhà tâm lí học ngày càng quantâm đến vai trò của cơ thể thực, đặc biệt là trong chữa trị tâm lí Họ quan tâmtới rối loạn TVĐ, quan tâm đến mối quan hệ giữa TVĐ với toàn bộ con người
và hướng tới ứng dụng những nghiên cứu đó vào việc trị liệu Vấn đề GDTVĐ cũng được ưu tiên nghiên cứu trong thời kỳ này
- Giáo dục tâm vận động và trò chơi tâm vận động
Nhiều nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu vấn đề GD TVĐ:
B.Aucounturier là người đầu tiên xây dựng nên các nội dung thực hành
GD TVĐ Những nội dung thực hành độc đáo do ông tạo ra sử dụng một môitrường chuyên biệt, những khái niệm đặc trưng và những cách thức hành
Trang 15động riêng Những nội dung này được sử dụng như là một phương tiện để GDtrẻ ở giai đoạn phát triển đầu tiên và đã được thực hiện ở châu Âu với trẻ MN.Những thực hành của ông hướng tới tính thống nhất của con người - như làmột cấu trúc tâm lí hợp lí không thể chia cắt có nguồn gốc cơ thể.
Từ năm 1974, chính phủ Pháp đã đào tạo các nhà TVĐ Việc đào tạonày là việc làm cần thiết, khởi đầu cho việc nghiên cứu và ứng dụng GD TVĐvào cuộc sống Một trong những người đi tiên phong là Gerda Alexander Từnăm 2002, TVĐ được dạy ở bậc tú tài
Nhà khoa học P Vayer (1970, Pháp) cũng có những công trình nghiêncứu về GD TVĐ và ứng dụng TVĐ vào thực tế
Hai tác giả L.Picp, P.Vayer (1968, Pháp) cũng có nghiên cứu về GDTVĐ cho trẻ em chậm phát triển trí tuệ
Hiện nay, những ứng dụng TVĐ vào GD và y tế ở nhiều nước châu Âunhư Pháp, Đức, Áo rất thịnh hành Ở Canada, Nam phi, Mỹ, những côngtrình nghiên cứu và ứng dụng về TVĐ cũng rất phát triển Có thể thấy, TVĐ
và vấn đề GD TVĐ ngày càng được quan tâm Những ứng dụng của nó có sứclan tỏa lớn trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhất là giáo dục và y tế
TC TVĐ là một nội dung thu hút nhiều ngành khoa học quan tâmnghiên cứu Có thể kể đến:
A.De Meur, Ph.Navet (Bỉ, 1979), J.Dubosson (Pháp, 1968) đã cónhững nghiên cứu và xây dựng những bài tập về tri giác, cảm giác - vận động,nghiên cứu và ứng dụng những phương pháp thực hành về TVĐ cho trẻ em.Đặc biệt, A.De Meur là người có công rất lớn khi đưa ra hệ thống những TCvận động cho trẻ em Những TC mà ông xây dựng được sử dụng rộng rãi vàmang lại hiệu quả giáo dục cao
Trang 16Nhà tâm lý học L.Doyon (Canada) cũng có công trình nghiên cứu xâydựng nhiều TC TVĐ cho trẻ em trước tuổi học (1992).
J.le Boulch (Pháp) xây dựng những bài tập luyện TVĐ cho trẻ từ tuổi
MN đến tuổi học sinh tiểu học (1984)
Tóm lại, lịch sử nghiên cứu về TVĐ tuy chưa dài như các lĩnh vựcnghiên cứu tâm lí khác nhưng đến đầu thế kỷ XX khái niệm về TVĐ đượchình thành và phát triển một cách đầy đủ Đến nay, TVĐ và các vấn đề GDTVĐ đã trở nên quen thuộc ở nhiều nước trên thế giới Chính những quanđiểm của các nhà nghiên cứu trong những năm 60, 70 của thế kỷ XX đã đặtnền móng cho sự phát triển mạnh mẽ của TVĐ ngày nay
1.1.2 Nghiên cứu tâm vận động, giáo dục tâm vận động, trò chơi tâm vận động ở Việt Nam
Những công trình nghiên cứu trong nước về TVĐ, trước hết phải kểđến nghiên cứu của bác sĩ Vũ Thị Chín và các cộng sự; công trình vận dụngthang phát triển TVĐ Brunet - Lézin trên trẻ em Việt Nam; năm 1977 tại khoaThần kinh bệnh viện Bạch Mai; bác sĩ Lê Đức Hinh và các cộng sự đã sửdụng Test Denver trong chẩn đoán sự phát triển TVĐ ở trẻ em…
Nghiên cứu về vấn đề này, theo tác giả Nguyễn Khắc Viện thì “Thầnkinh phát triển đến đâu vận động phát triển theo và kết hợp với sự luyện tậpvới kinh nghiệm, chịu sự chi phối của tình cảm, vận động dần dần phù hợpvới mục tiêu Trong thời thơ ấu, phát triển vận động và trí khôn gắn liền vớinhau, với một em bé 5 tuổi, có thể đánh giá trí khôn thông qua sự phát triểnvận động” [40,309]
Những nghiên cứu về TVĐ ở Việt Nam còn được các nhà khoa học đềcập đến trong cuốn “Từ điển tâm lí” đã giải thích về khái niệm “tâm vận
Trang 17động”; Nguyễn Thị Nhất trong cuốn biên soạn và dịch cuốn “6 tuổi, vào lớp1”; Ngô Công Hoàn trong cuốn “Tâm lí học trẻ em”; …
Tác giả Nguyễn Thị Như Mai đã thể hiện những nghiên cứu chuyên sâu
về TVĐ trong Luận án Tiến sĩ của mình và nhiều bài báo và sách về TVĐ và
sự phát triển TVĐ ở trẻ em trên các tạp trí Tâm lí học, Giáo dục học, giáotrình “Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non”,… Kế thừa những thành quảnghiên cứu này, tác giả Võ Thị Quỳnh Hoa, Trương Thị Thanh Lịch trongluận văn Thạc sĩ của mình đã là rõ tầm quan trọng của việc GD TVĐ thôngqua hình thức TC và đề xuất các nguyên tắc xây dựng TC TVĐ…
Như vậy, điểm qua vài nét cơ bản về lịch sử nghiên cứu TVĐ trong vàngoài nước cho thấy: vấn đề TVĐ, GD TVĐ đã được nhiều nhà nghiên cứuquan tâm, tìm hiểu và đưa ra quan điểm của mình Những công trình nghiêncứu trên đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu ứng dụng TVĐ vào trong giáodục nhằm phát triển con người
1.2 Lí luận về trò chơi tâm vận động phát triển khả năng định hướng không gian cho trẻ 3 - 4 tuổi
1.2.1 Lí luận về trò chơi tâm vận động
1.2.1.1 Khái niệm chung về hoạt động chơi
* Khái niệm về hoạt động chơi:
Chơi là một hoạt động tự nhiên và cần thiết nhằm thỏa mãn những nhucầu giải trí đa dạng của con người TC là phương tiện GD, giải trí giúp cánhân rèn luyện; giúp tập thể có bầu không khí vui vẻ, đoàn kết, thân ái Trong
TC, cả người lớn và trẻ em đều say mê, thỏa mãn
Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê thì "chơi là hoạt động chỉ nhằm cho vui mà thôi, không nhằm mục đích gì khác" [27,166]
Trang 18Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết đề cập đến khái niệm trò chơi: "Chơi là một hoạt động vô tư, người chơi không chú tâm nhằm vào lợi ích thiết thực nào cả, trong khi chơi các mối quan hệ của con người với tự nhiên và xã hội được mô phỏng lại, nó mang đến cho người chơi một trạng thái tinh thần vui
vẻ, thoải mái, dễ chịu" [34,9]
Theo A.V Daparogiet [6,252] "trò chơi là sự phản ánh hiện thực xung quanh và trước hết là những hành động và những mối quan hệ qua lại của những người xung quanh".
Theo A.N Leonchiev trong "Sự phát triển tâm lí trẻ em" thì "Loại hoạt động nào lại có cấu trúc đó, tức là cấu trúc có động cơ nằm trong chính quá trình hoạt động Đó chính là hoạt động mà ta gọi là chơi" [17,35] Ông cũngkhẳng định rằng TC của trẻ em không giống với TC của động vật TC của trẻ
là hoạt động với sự vật của loài người Nó là cơ sở để nhận thức thế giới sựvật của loài người
Chơi đối với trẻ MG còn mang lại nhiều lợi ích hơn, bởi chơi chính làcuộc sống của trẻ Chơi là con đường để trẻ nhận thức thế giới Động cơ củahoạt động chơi luôn nằm ở quá trình thực hiện hành động chứ không nằm ởkết quả của hoạt động
Hoạt động chơi của trẻ có những đặc thù riêng Trước hết, chơi là mộthoạt động không nhằm tạo ra sản phẩm mà chỉ nhằm để thỏa mãn nhu cầu
được chơi của trẻ Theo A.V Daparogiet: "Cái làm cho trò chơi khác với tất
cả các hoạt động khác là động cơ của nó không nằm ở kết quả mà ở ngay trong bản thân hành động; trò chơi thoát khỏi những phương thức hành động
và những thao tác bắt buộc; và đặc điểm ấy cho phép phát triển một hoàn cảnh tưởng tượng" [6,144] Trẻ chơi vì nó thích chính quá trình chơi đó Chơi
là một hoạt động độc lập, tự do và tự nguyện của trẻ Trẻ chơi vì chúng muốn
Trang 19chơi Nếu không muốn chơi thì trẻ sẽ không thấy thoải mái và lúc đó trò chơikhông đúng nghĩa là trò chơi nữa Trẻ say sưa chơi, chúng như những kĩ sưxây dựng thực thụ, hoặc như những người mẹ, ông bố với những "lí luận" vềgia đình rất riêng và độc đáo Tất cả những điều đó đã tạo nên cho trò chơicủa trẻ có những nét rất riêng độc đáo và hấp dẫn Nó làm cho trẻ được sốngcuộc sống trẻ thơ của mình Bởi vậy, TC nói riêng và hoạt động vui chơi(HĐVC) nói chung trở thành hoạt động chủ đạo của trẻ MG.
Chơi có mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động học tập của trẻ Trẻ họcqua chơi, chơi mà học Trò chơi chính là con đường, là cơ sở để nhận thức thếgiới sự vật của loài người Trong giới hạn nghiên cứu, nhận thấy qua điểm về
TC của A.N Leonchiev trong "Sự phát triển tâm lí trẻ em" là phù hợp
* Vai trò của hoạt động chơi đối với sự phát triển của trẻ em:
Chơi có vai trò quan trọng đối với đời sống trẻ thơ Trong khi chơi, trẻvừa được học tập, vừa được lao động và chơi cũng là một hình thức, phươngthức, biện pháp giáo dục tốt nhất đối với trẻ MG, giúp phát triển ở trẻ nhân
cách toàn diện A.C Macarenco đã viết: "Trò chơi có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của trẻ em, có ý nghĩa như là hoạt động, công tác, phục vụ đối với người lớn vậy Trẻ là một đứa như thế nào trong khi chơi thì phần lớn nó
sẽ như thế ấy trong công tác sau này, khi lớn lên" Hoạt động chơi có ảnh
hưởng lớn đến tâm lí - nhân cách của trẻ Cụ thể:
HĐVC ảnh hưởng mạnh đến sự hình thành tính chủ định của quá trìnhtâm lí Trong TC, trẻ bắt đầu hình thành chú ý có chủ định và ghi nhớ có chủđịnh Khi tham gia vào TC, trẻ tập trung chú ý tốt hơn và ghi nhớ được nhiềuhơn Bản thân những TC đòi hỏi trẻ phải có sự tập trung vào những tìnhhuống chơi, nội dung chơi Vì vậy, để được chơi và chơi được trẻ phải tậptrung chú ý và ghi nhớ một cách có chủ định
Trang 20Tình huống TC và những hành động của vai chơi ảnh hưởng tới sự pháttriển của hoạt động trí tuệ trẻ MG Trong TC trẻ học hành động với vật thaythế mang tính tượng trưng Khi đó, trẻ học cách suy nghĩ về đối tượng thực.Dần dần hành động chơi với các vật thay thế bên ngoài được chuyển vào bìnhdiện bên trong Như vậy TC góp phần rất lớn vào việc chuyển tư duy từ bìnhdiện bên ngoài (tư duy trực quan - hành động) vào bình diện bên trong (tư duytrực quan - hình tượng) Đồng thời, TC giúp phát triển tư duy cho trẻ; nhữngbiểu tượng thu được từ TC làm cơ sở cho hoạt động tư duy của trẻ.
Vui chơi ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ MG.Tình huống TC đòi hỏi mỗi trẻ tham gia vào TC phải có một trình độ giao tiếpbằng ngôn ngữ nhất định Rõ ràng, nếu trẻ không diễn đạt được một cáchmạch lạc nguyện vọng của mình, những ý kiến của mình thì không thể nàotham gia vào TC được Như vậy, TC chính là điều kiện để kích thích ngônngữ của trẻ phát triển một cách nhanh chóng
Trò chơi, đặc biệt là TC ĐVTCĐ có ý nghĩa quyết định đối với sự pháttriển trí tưởng tượng của trẻ MG Trong HĐVC, trẻ học thay thế đồ vật nàybằng các đồ vật khác, nhận đóng các vai khác nhau Đó là cơ sở để phát triểntrí tưởng tượng Nhập vào vai nào là trẻ phải tưởng tượng xem vai chơi củamình phải hành động như thế nào, phải nói năng ra sao, phải sử dụng các vậtthay thế sao cho phù hợp, đúng với vai chơi Chính HĐVC của trẻ đã làmnảy sinh hoàn cảnh chơi, tức làm nảy sinh trí tưởng tượng
N.K Crupxkaia chỉ ra rằng, trò chơi chính là phương thức nhận biết thếgiới, là con đường dẫn dắt trẻ đi tìm chân lí Trẻ không chỉ học trong lúc học,
mà còn học cả trong lúc chơi Trẻ em học cách tổ chức, học nghiên cứu cuộcsống Trong khi chơi, trẻ tập khắc phục khó khăn, nhận thức hoàn cảnh xungquanh và tìm ra được lối thoát đúng đắn
Trang 21TC nói chung, trong đó trung tâm là TC ĐVTCĐ có tác động rất mạnhđến sự phát triển đời sống tình cảm của trẻ MG Trẻ tham gia vào trò chơi vớitất cả sự nhiệt tình, lòng say mê, sự sáng tạo Khi chơi trẻ tỏ ra rất vui sướng
và thích thú Được "gia nhập" vào thế giới của người lớn làm cho trẻ hết sứcvui thích Khi phản ánh vào trò chơi những mối quan hệ giữa người và người
và nhập vào những mối quan hệ đó thì những rung động mang tính người củatrẻ được gợi lên Trong TC trẻ đã thể hiện được tình người, thái độ chu đáo,
ân cần, sự đồng cảm, tinh thần tương trợ và một số phẩm chất đạo đức khác
Những phẩm chất ý chí của trẻ MG được hình thành mạnh mẽ trong
TC, đặc biệt là TC ĐVTCĐ Khi tham gia vào TC, trẻ nhập vai một cách đíchthực, tức là trẻ tự buộc mình vào những yêu cầu nhất định của trò chơi, vaichơi; phải điều tiết hành vi của mình sao cho phù hợp với vai chơi, với mốiquan hệ mà mình đang tham gia vào Từ đó hình thành ở trẻ những hành vitheo chuẩn mực xã hội Qua TC, trẻ còn được hình thành những phẩm chất ýchí như: tính mục đích, tính kỉ luật, tính dũng cảm
Tóm lại: HĐVC ở tuổi MG thực sự đóng vai trò chủ đạo Ý nghĩa chủđạo thể hiện trước hết là ở chỗ nó giúp trẻ giải quyết mâu thuẫn trong bướcphát triển từ tuổi ấu nhi lên tuổi MG TC là phương tiện góp phần phát triểntoàn diện nhân cách trẻ TC tạo ra những nét tâm lí đặc trưng cho tuổi MG,
mà nổi bật là tính hình tượng và tính dễ xúc cảm, khiến cho nhân cách của trẻ
MG mang tính độc đáo khó tìm thấy ở các lứa tuổi khác Do đó tổ chức TCchính là tổ chức cuộc sống của trẻ TC là phương tiện để trẻ học làm người
Nhiều nhà GD đã gọi chơi là trường học của cuộc sống của trẻ Trẻ cầnchơi như cần ăn no, mặc ấm vậy TC nuôi dưỡng tâm hồn trẻ, giúp cho đứatrẻ phát triển một cách toàn diện Không tổ chức cho trẻ chơi cũng có nghĩa làchúng ta ngăn chặn con đường phát triển tự nhiên của trẻ Chơi làm phát triển
Trang 22toàn diện nhân cách trẻ TC thực sự là "con đường dẫn trẻ tới việc nhận thức thế giới mà trẻ sống trong đó và trẻ có nhiệm vụ thay đổi thế giới ấy"
(Macxim Gorki)
1.2.1.2 Khái niệm về trò chơi tâm vận động
TVĐ là một lĩnh vực đang được thế giới quan tâm nghiên cứu và ứngdụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có giáo dục TVĐ là quan niệmtổng thể về con người Cách tiếp cận này nhìn nhận con người một cách toàndiện 3 mặt: thể chất, tình cảm - xã hội và nhận thức, từ đó giúp con ngườihoạt động tâm lí bình thường, tạo lập được mối quan hệ với người khác vàmôi trường
Theo quan niệm của Yernaux Jean - Pierre: “Những khái niệm cơ bản được tồn tại một cách cảm xúc bởi cơ thể trong vận động và hành động”;
“Tâm vận động là cơ sở cần thiết, là nguồn để từ đó trẻ có thể rút ra cái nó cần để tạo nên những kinh nghiệm và thu được những khả năng có cơ sở là
cơ thể, rồi đến lời nói, chữ viết, âm nhạc, toán…cho phép trẻ giải quyết những vấn đề khác nhau nó gặp phải” [dẫn theo 12] Theo quan điểm này,
TVĐ dùng cơ thể làm gốc, nhờ cơ thể, thông qua cơ thể mà con người tích lũyđược những kinh nghiệm, những khả năng… để hoạt động một cách thoải máitrong chính cơ thể đó và trong thế giới xung quanh
Giáo dục TVĐ là một hệ thống tác động giáo dục nhằm phát triển chứcnăng VĐ của trẻ em, thông qua đó phát triển toàn diện tâm lí - nhân cách trẻ.Bằng cách sử dụng những khả năng của trẻ, thông qua sự tác động qua lại vớimôi trường con người, thông qua những trải nghiệm về luyện tập về VĐ, giúptrẻ phát triển về nhận thức, tình cảm, có được những khả năng cần thiết đểhọc tập ở trường phổ thông, có khả năng thích ứng xã hội Những tác động vềTVĐ cho phép thống hợp tốt nhất về giác quan và TVĐ, giúp trẻ dễ dàng hoạt
Trang 23động làm phát triển nhân cách trẻ Theo tác giả Nguyễn Thị Như Mai: “Giáodục TVĐ giúp trẻ đạt được những kết quả sau: Hình thành những hiểu biết,nắm được những khái niệm thông qua hành động vận động; biết thể hiện bằnghành động vận động; có khả năng cần thiết để học ở trường phổ thông; tự tin,sẵn sàng tiếp xúc với người khác; có khả năng thích ứng xã hội” [23]
Giáo dục TVĐ nhấn mạnh vai trò hoạt động của cơ thể trẻ, coi nó làphương tiện trung gian Kinh nghiệm cơ thể giữ vị trí trung tâm trong sự pháttriển Xúc cảm đến từ cơ thể, trí tuệ được hình thành bởi những kinh nghiệmcủa cơ thể Một đứa trẻ cảm nhận tốt về cơ thể, hoạt động thoải mái và cóhiệu quả bằng cơ thể sẽ dễ dàng và cân bằng hơn khi tiếp xúc với người khác.Hiểu biết tốt về cơ thể giúp trẻ nhận biết được về không gian, thời gian, giúp
tư duy của trẻ phát triển… Có thể nói giáo dục TVĐ giữ vai trò cơ bản đối vớiviệc chuẩn bị cho trẻ bước vào đời sống và học tập sau này
TC TVĐ là một hình thức giáo dục TVĐ hiệu quả TC có vai trò to lớn
đối với sự phát triển của trẻ Tác giả Bernard cho rằng: “Không phải trẻ em
Theo quan điểm này, tác giả nhấn mạnh rằng: thông qua TC đã phát triển ởtrẻ những khả năng học tập, chơi được thì sẽ học được
Trên thực tế các TC TVĐ đã được sử dụng nhiều ở các nước, song ởViệt Nam chưa nhiều
Có thể hiểu: Trò chơi TVĐ là những trò chơi sử dụng những khả năng của trẻ, thông qua những tác động qua lại với môi trường con người, thông qua những trải nghiệm và luyện tập về vận động, giúp trẻ phát triển về nhận thức, tình cảm, có được những khả năng cần thiết để học tập ở trường phổ thông, có khả năng thích ứng xã hội [24]
Trang 24TC TVĐ không phải là TC học tập TC học tập có thể hiểu đơn giản lànhững TC phát triển trí tuệ Còn TC TVĐ đồng thời phát triển nhận thức, tìnhcảm - xã hội, giúp trẻ chế ngự bản thân và kiểm soát cơ thể TC TVĐ pháttriển toàn diện đối với trẻ thông qua hoạt động vận động.
TC TVĐ giúp thúc đẩy ở trẻ các chức năng TVĐ như một phương thứchiện mối quan hệ qua lại giữa con người và thế giới, qua đó làm phát triển cácnăng lực người Những thành quả này sẽ giúp trẻ càng ngày càng phát huymột hình ảnh tích cực về bản thân Đó cũng là cơ hội để trẻ phát huy đời sống
tự lập, khả năng tiếp xúc và sáng tạo Trên cơ sở này, trẻ em có khả năng mởrộng môi trường sinh hoạt, hướng ra thế giới bên ngoài, sẵn sàng đón nhận vàtiếp thu những hình thức học tập khác thuộc lĩnh vực học tập và xã hội
1.2.1.3 Những đặc trưng của trò chơi tâm vận động
TC TVĐ là một hình thức giáo dục TVĐ, vì vậy nó mang những đặctrưng riêng:
- Cũng giống như các TC khác, TC TVĐ mang tính chất chơi, nó manglại cho trẻ sự vui thích, tự nguyện và thoải mái khi tham gia Trẻ tham gia vào
TC không vì chúng thích chơi mà còn vì bản thân trò chơi hấp dẫn trẻ Nếu
TC mang lại cho trẻ sự vui thích, sẽ giúp trẻ em có khả năng vượt qua những
Trang 25xúc động, lo lắng, sợ hãi của mình Động cơ chơi nằm trong quá trình chơichứ không phải là kết quả chơi.
- Khi tham gia các TC TVĐ trẻ sử dụng cơ thể như một công cụ đểkhám phá thế giới Ở đó, trẻ được phát huy tối đa khả năng tự tìm kiếm, trảinghiệm thông qua những cảm nhận của chính cơ thể mình Thông qua sự vậnđộng cơ thể trong các TC, dựa vào quan sát và sử dụng giác quan một cáchhợp lý nhà giáo dục kích thích các khả năng của trẻ
TC TVĐ nhấn mạnh vai trò của hành vi và tác phong vận động trongmối quan hệ thống hợp với yếu tố tâm lí: Khi trẻ thực hiện các hành độngchơi các chức năng TVĐ được thực hiện trên cơ sở mối quan hệ tương hỗgiữa sự hiểu biết về trí tuệ, sự nhạy cảm về tình cảm và những vận động tinhkhéo của cơ thể Trước khi đứa trẻ thể hiện ý nghĩ của mình bằng lời nói thì
nó có sự cảm nhận và thể hiện bằng những “xúc cảm” của cơ thể… Nhữngđộng tác, được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ phát sinh nhiều loại cảm giác khácnhau về nội tâm các giác quan và vận động Những kinh nghiệm cảm giác đến
từ vận động cơ thể giúp trẻ dễ dàng nhận thức được thế giới xung quanh vàđặt ra được chiến lược hành động phù hợp
TC TVĐ có nhiều cấp độ khác nhau nhưng đều hướng đến mang lạicho trẻ: hiểu biết về ngôn ngữ không lời do chính cơ thể của mình trình bày
và diễn đạt; vận dụng một cách vui thích và thoải mái những vận động toàndiện của cơ thể; lắng nghe và đón nhận ngôn ngữ cơ thể của bản thân và củangười khác; khuyến kích sự thể hiện hiểu biết và xúc cảm, tình cảm của mìnhbằng hành động vận động; giúp trẻ cảm nghiệm về không gian, thời gian vàcác mối quan hệ nhằm phát triển toàn diện nhân cách
TC TVĐ tạo được cho trẻ những cảm nghiệm vui thích, an tâm và mãnnguyện Như vậy, nhờ chơi, trẻ em được sống, được trải nghiệm những điều
Trang 26thú vị của cuộc sống Đồng thời, khi có những trải nghiệm bằng chính cơ thểmình trẻ sẽ tác động lên môi trường bên ngoài, khám phá được nhiều điềumới mẻ như biểu tượng về không gian, thời gian và những thuộc tính của sựvật hiện tượng… Nếu chúng ta ép buộc trẻ, làm hộ trẻ, trẻ khó mà có thể cókinh nghiệm, điều đó khiến trẻ khó khăn trên con đường học làm Người.
Như vậy, có thể thấy ngoài tính chất chung của TC, TC TVĐ có nhữngđặc trưng riêng, giúp phát triển nhiều chức năng trong đời sống khám phá vàhọc hỏi của trẻ: TC TVĐ giúp phát triển các chức năng TVĐ ở trẻ đặc biệt làmối quan hệ tương hỗ giữa vận động và đời sống tâm lí; thúc đẩy phát triểncác yếu tố TVĐ như: sơ đồ cơ thể; sự phân hóa ưu thế thuận cơ thể; sự cấutrúc hóa không gian; sự định hướng thời gian; diễn tả tư tưởng qua các hoạtđộng cụ thể: đọc, viết, vẽ… Đồng thời giải tỏa những ức chế, những xung độtnội tâm và áp lực của cuộc sống tràn đầy những xúc cảm của trẻ
1.2.2 Vai trò của trò chơi tâm vận động đối với sự phát triển tâm lí trẻ em
TC TVĐ có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của trẻ nói chung và đốivới sự phát triển TVĐ nói riêng Khi chơi, thông qua vận động của cơ thể màtrẻ được phát triển về nhận thức, tình cảm và khả năng thích ứng xã hội:
- TC TVĐ giúp cho nhận thức của trẻ được phát triển TC này có nhiềuchức năng trong đời sống khám phá và học hỏi của trẻ em: Nhờ TC, trẻ em cóthêm kiến thức mới về các lĩnh vực khác nhau Bản chất của TC TVĐ là dùng
cơ thể để cảm nghiệm, do vậy, những biểu tượng trẻ tự tích lũy được trẻ sẽnhớ rất lâu Chúng ta cần cơ hội cho trẻ có đủ thì giờ để tự mình bắt đầu vàkết thúc một nhiệm vụ để chính trẻ được thực sự trải nghiệm, khám phá bằngchính những khả năng từ cơ thể của chúng TC mang lại hứng thú để trẻ hoànthành nhiệm vụ nhận thức mà không cảm thấy bị ép buộc hay khiên cưỡng
Vì vậy, thông qua chơi trẻ không những thu lượm được kiến thức về chính cơ
Trang 27thể của mình mà còn có thêm những hiểu biết về không gian và cảm nghiệm
về không gian với nhiều thuộc tính khác nhau… Đồng thời, chơi là cơ hội tốt
để trẻ vận dụng trí tưởng tưởng và khả năng phóng ngoại của mình để tìmkiếm và thao tác những dụng cụ để chơi hoặc TC, làm thao tác tư duy pháttriển
- Trò chơi TVĐ có ảnh hưởng đến khả năng học tập của trẻ Những khảnăng học tập như đọc, viết, tính toán… chủ yếu bị chi phối bởi khả năng địnhhướng, phân biệt phải - trái, sự phối hợp tay - mắt là những yếu tố cơ bản củaTVĐ Muốn phát huy khả năng học tập, trước hết trẻ phải chế định và kiểmsoát tốt hoạt động vận động, tuân thủ hướng viết… khái niệm trước sau vềthời gian, về nhịp của nét viết Những trẻ gặp khó khăn về vận động thườngkéo theo khó khăn về học tập Các TC TVĐ như phát triển ĐHKG, thời gian,phát triển khả năng tri giác, khả năng chú ý… nếu được tổ chức tốt sẽ tạo điềukiện tốt trong việc chuẩn bị những điều kiện cần thiết để trẻ học tập ở trườngphổ thông cũng như phát triển toàn diện nhân cách trẻ
- TC với trẻ không chỉ là phương tiện để học, nó còn là một sinh hoạt
có chức năng đáp ứng những nhu cầu của đời sống tình cảm của trẻ: Tuổi MG
là thời kỳ tình cảm thống trị tất cả các mặt trong hoạt động tâm lí của trẻ.Tình cảm được nảy sinh trong các mối quan hệ giữa trẻ với người khác và thếgiới xung quanh, được thể hiện bằng những hành động vận động TC là mộthoạt động giúp trẻ hòa nhập tích cực vào các mối quan hệ đó Khi chơi trẻ embộc lộ và giải tỏa những mâu thuẫn nội tâm của mình TC còn giúp trẻ làmđược những công việc mà ở cuộc sống thực trẻ không được phép làm, nó làmgiảm đi những áp lực giúp trẻ điều chỉnh hành vi tốt hơn, phù hợp với hoàncảnh hơn TC TVĐ là trò chơi đem đến cho trẻ sự thoải mái vui vẻ, nó giúptrẻ luôn cảm thấy thoải mái trong chính cơ thể mình Khi trẻ chơi trò chơi này
Trang 28tạo nên những cảm xúc tích cực cho trẻ, làm phát triển đời sống tình cảm ở trẻmột cách hài hòa.
- TC TVĐ có ảnh hưởng đến khả năng thích ứng xã hội: TC TVĐ làmột hình thức giáo dục TVĐ hữu hiệu nó mang đến cho đứa trẻ sự thoải máigiúp trẻ cảm nhận tốt về cơ thể của mình và hoạt động hiệu quả bằng chính cơthể của chúng Sự phát triển TVĐ hài hòa giúp trẻ phát triển về mặt xã hội
Có mối liên hệ chặt chẽ giữa những kết quả phát triển TVĐ với những phảnứng tình cảm ở trẻ Những trẻ có khả năng vận động tốt, khéo léo… sẽ cảmthấy thoải mái, tự tin khi tiếp xúc với người khác và ngược lại Như vậy, việcnhận biết, cảm nhận tốt về cơ thể của mình chính là cơ sở để trẻ tự tin hơn khitiếp xúc với mọi người xung quanh Sự tự tin giúp trẻ nhanh chóng thích ứng
xã hội, có những hành động phù hợp với chuẩn mực xã hội Mặt khác, TCTVĐ đồng thời phát triển mặt nhận thức và tình cảm ở trẻ, những yếu tố nàylàm cho khả năng thích ứng xã hội của trẻ phát triển tốt hơn
Có thể khẳng định, nếu tổ chức những TC TVĐ phù hợp với lứa tuổicủa trẻ sẽ giúp trẻ thể hiện được mình; giúp trẻ tăng trưởng và phát triển TVĐkích thích trẻ vượt qua khó khăn trong cuộc sống; giúp trẻ cảm nghiệm cuộcsống một cách vui thích, hứng thú và mãn nguyện Ngược lại, nếu chúng ta tổchức TC không phù hợp với trẻ sẽ làm cho trẻ bị động, chán chường, gây kíchđộng khiến trẻ có những biểu hiện tiêu cực
1.3 Lý luận về khả năng định hướng không gian của trẻ 3 - 4 tuổi
1.3.1 Khái niệm " khả năng định hướng không gian"
1.3.1.1 Khái niệm "định hướng không gian"
Sự định hướng không gian (ĐHKG) của con người xảy ra khi chủ thể
có tác động qua lại với môi trường sống Đó là khi chủ thể ý thức được vị trícủa cơ thể mình, vị trí của các vật với nhau trong môi trường và có khả năng
Trang 29biết tự tổ chức, sắp đặt vị trí, phương hướng của bản thân cũng như các sự vậtkhác trong không gian Khái niệm ĐHKG được nhiều nhà khoa học nghiêncứu và đưa ra những cách hiểu khác nhau.
Theo từ điển tiếng Việt của tác giả Tân Việt và nhóm cộng tác [41]
"định hướng nghĩa là xác định phương hướng" Cách định nghĩa này cho thấy
việc định hướng gắn liền với không gian, tuy nhiên nó chưa nêu lên được vaitrò, mục đích của chủ thể trong việc xác định các hướng không gian, cũngnhư chưa chỉ ra được con người định hướng trong không gian bằng cách nào
Theo "từ điển tâm lí học" của Henri Pieron: "Sự định hướng là khả năng tự xếp đặt về không gian và tự điều chỉnh bản thân về một vị trí xác định không trực tiếp nhận thấy" [dẫn theo 26] Trong định nghĩa này sự định
hướng cũng gắn liền với không gian, nói đến định hướng là nói đến sự địnhhướng trong không gian Đồng thời định nghĩa nêu vai trò, mục đích của chủthể trong việc xác định các hướng không gian, đó là tự xếp đặt về không gian
và tự điều chỉnh bản thân hướng về một vị trí xác định mà không trực tiếpnhận thấy Tuy nhiên định nghĩa chưa chỉ cho chúng ta thấy con người dựavào đâu để định hướng trong không gian
Theo tác giả Đỗ Thị Minh Liên trong "lí luận và phương pháp hình
thành biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non" cho rằng: "Khái niệm ĐHKG bao gồm cả sự đánh giá khoảng cách, xác định kích thước, hình dạng
và vị trí tương đối của chúng so với vật thể chuẩn" [19,32]
Trong cuốn sách "toán học và phương pháp hình thành các biểu tượngban đầu về toán cho trẻ mầm non", các tác giả Nguyễn Thanh Sơn, Trịnh
Minh Loan, Đào Như Trang đưa ra định nghĩa về sự ĐHKG như sau: "Đó là việc xác định khoảng cách, kích thước, hình dạng, vị trí tương quan của các vật trong không gian" [29,145]
Trang 30Trong cuốn "Phục hồi chức năng định hướng không gian" của Trung
tâm giáo dục trẻ có tật, các tác giả nhận định: "Định hướng không gian là quá trình xác định vị trí của con người trong không gian nhờ một hệ thống
phạm vi nghiên cứu, đề tài thống nhất quan điểm với khái niệm về ĐHKGnày của các tác giả thuộc Trung tâm giáo dục trẻ có tật
Như vậy, các tác giả không chỉ coi ĐHKG là xác định hướng, vị trí củacon người trong mối quan hệ không gian với các đối tượng khác mà còn chỉ
ra cách thức để con người có thể định hướng được trong không gian, đó là:Con người dựa vào chính bản thân mình và những vật xung quanh Các tácgiả cho thấy: Để có thể ĐHKG, trước hết con người phải nhận thức được về
cơ thể mình, nhận thức được vị trí của các bộ phận trên cơ thể, nắm được quyước phân biệt các hướng không gian (trên - dưới, trước - sau, phải - trái ) Từ
đó lấy mình, các vật xung quanh làm chuẩn để xác định hướng, vị trí của bảnthân, của người khác, của các sự vật trong các mối quan hệ không gian Cáchhiểu này làm rõ hơn và hiểu được đầy đủ hơn về khái niệm ĐHKG
1.3.1.2 Khái niệm "khả năng định hướng không gian"
* Khái niệm "khả năng"
Khả năng là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những khái niệmkhác nhau:
Khái niệm 1: Khả năng được dùng theo ba nghĩa [7]
Thứ nhất: Mức độ thành thạo ngang với những đòi hỏi của nhiệm vụnghề nghiệp
Thứ hai: Tính chất của người có điều kiện tự nhiên hay do rèn luyện,học tập tạo ra để làm tốt một việc
Trang 31Thứ ba: Tính chất của một điều gì có thể trở thành hiện thực, sự thật.Khái niệm 2: Khả năng được dùng theo hai nghĩa [27]
Thứ nhất: Khả năng là cái có thể xuất hiện, có thể xảy ra trong điềukiện nhất định
Thứ hai: Khả năng là cái vốn có về vật chất hoặc tinh thần để có thểlàm được việc gì
Qua nghiên cứu những định nghĩa trên, nhận thấy nghĩa thứ hai củakhái niệm 1 "khả năng là tính chất của người có điều kiện tự nhiên hay do rènluyện, học tập tạo ra để làm tốt một việc" và nghĩa thứ hai của khái niệm 2
"khả năng là cái vốn có về vật chất hoặc tinh thần để có thể làm được việc gì"
có thể bổ sung cho nhau để tạo nên một khái niệm hoàn chỉnh về khả năng,phù hợp với giới hạn nghiên cứu của đề tài Chính vì vậy, đề tài sử dụng kếthợp nghĩa thứ hai của cả hai khái niệm trên
Khái niệm khả năng được hiểu như sau: Khả năng là cái vốn có về vật chất, tinh thần của con người hay do rèn luyện, học tập tạo ra để có thể làm được việc gì.
Từ những khái niệm về khả năng, về ĐHKG ở trên, đề tài lựa chọn và
xây dựng khái niệm về khả năng ĐHKG như sau: Khả năng định hướng không gian là cái vốn có về vật chất, tinh thần của con người hay do rèn luyện, học tập tạo ra để có thể xác định hướng, vị trí của bản thân, của người khác, của các đối tượng khác trong mối quan hệ không gian nhờ hệ thống phương hướng của bản thân và vật thể xung quanh làm chuẩn.
Khái niệm bao gồm những nội hàm chủ yếu về khả năng ĐHKG sau:
- Thứ nhất: Khả năng ĐHKG có thể là cái vốn có về vật chất và tinhthần của con người, cũng có thể là cái con người có được do sự học tập, rèn
Trang 32luyện tạo nên Cái vốn có về vật chất là tiền đề, cơ sở để hình thành, phát triểnkhả năng ĐHKG với sự học tập, rèn luyện đúng phương pháp của chủ thể.
- Thứ hai: Để có thể ĐHKG, trước hết con người phải xác định được hệthống phương hướng của bản thân, dựa vài hệ thống phương hướng (chuẩn)
đó để xác định hướng trong không gian Điều đó có nghĩa là con người phảixác định hướng, vị trí của các sự vật trong mối quan hệ với chính bản thânmình trước Từ định hướng trên chính mình, con người phóng chiếu vào cácđối tượng xung quanh (người khác, sự vật khác) để nhận biết, xác định hệthống phương hướng của các đối tượng, lấy đó làm chuẩn để xác định hướng,
vị trí của các đối tượng trong các mối quan hệ không gian
Như vậy, hệ thống phương hướng, hay cách "lấy chuẩn" bao gồm:+ Xác định hướng, vị trí của các đối tượng khác so với bản thân trongcác mối quan hệ không gian - định hướng từ bản thân Để định hướng được từbản thân, chủ thể phải biết sử dụng hệ quy chiếu là chính mình, lấy mình làmgốc tọa độ để định hướng trong không gian Con người phải nắm được "sơ đồthân thể" của mình, nhận thức được các hướng không gian dựa trên chính cơthể của mình Từ đó xác định vị trí, mối quan hệ của đối tượng trong khônggian so với bản thân Ví dụ: Phải nhận thức được khoảng không gian ở phíatrước mặt mình là phía trước, khoảng không gian bên tay phải mình là phíaphải, con người mới xác định được vị trí của vật ở phía nào so với mìnhtrong các mối quan hệ không gian khác nhau
+ Xác định hướng, vị trí của các đối tượng với nhau trong những mốiquan hệ không gian - định hướng từ vật: Để định hướng "từ vật" đòi hỏi điểmbắt đầu hệ quy chiếu là vật nào đó so với các vật khác Để thực hiện mục đích
đó, con người phải biết phân chia các hướng (phía trên - phía dưới, phía trước
- phía sau, phía phải - phía trái ) của vật được chọn là gốc tọa độ Ví dụ: Phải
Trang 33nhận thức được khoảng không gian phía trước, phía sau, phía phải, phía trái của búp bê thì mới xác định được quả bóng ở phía nào so với búp bê.
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng định hướng không gian
1.3.2.1 Cơ thể và khả năng định hướng không gian
Khi sinh ra, trẻ đã có những phản xạ không điều kiện bẩm sinh đảmbảo sự thích nghi ban đầu với môi trường xung quanh và nhiều phản xạ địnhhướng khác Đó là cơ sở ban đầu của hoạt động ĐHKG ở trẻ Biểu hiện đầutiên của phản xạ định hướng ở trẻ em là trẻ chăm chú nhìn vào đồ vật có màusắc sặc sỡ, sáng hoặc sự chuyển động của đồ vật Sự quay đầu và mắt, sau
đó là thân một cách ăn ý theo hướng có kích thích ánh sáng hoặc âm thanhđược hình thành ở tháng thứ ba Điều đó nói lên sự hình thành sớm của nhữngphản ứng vận động thị giác và vận động thính giác, những phản ứng này đòihỏi phải có sự định hướng khu vực các sự vật trong không gian
Vỏ não người là nơi nhận các tác động từ bên ngoài tạo ra các hình ảnhtâm lí: cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng , là nơi chuẩn bị, vận hành,điều khiển, điều chỉnh mọi hành vi, hành động và hoạt động nhiều vẻ của conngười Một bộ phận nào đó của não bộ bị tổn thương thì có thể nhiều chứcnăng tâm lí khác nhau cũng bị rối loạn và ngược lại, một chức năng tâm lí cóthể bị rối loạn khi các bộ phận khác nhau của não bị tổn thương Chẳng hạn,các vùng đỉnh chẩm của vỏ não trái bị chấn thương thì khả năng ĐHKG củabệnh nhân cũng không còn nữa bệnh nhân sẽ gặp khó khăn khi tính toán,không có khả năng hiểu các mối quan hệ ngữ pháp logic phức tạp, hoạt độngtrí tuệ bị phá vỡ và khả năng khác có liên quan đến các khả năng kể trên cũngkhông thể duy trì [18,126]
Theo Xmiêcnôp, sự hoạt động đồng thời của các bộ máy thị giác, vậnđộng và tiền đình giúp con người nhận biết phương hướng [43,139] Để nhìn
Trang 34rõ các sự vật, con người quay mặt hoặc quay đầu về phía sự vật, do đó cáccảm giác nhìn luôn luôn được gắn với những cảm giác vận động và tiền đìnhphát sinh khi đó Từ sự đối chiếu, so sánh những thuộc tính của đối tượngbằng các hành động định hướng bên ngoài, trẻ chuyển sang so sánh, đối chiếucác thuộc tính của các đối tượng bằng mắt Một kiểu hành động tri giác mớiđược hình thành Nó dùng mắt để lựa những đối tượng hay bộ phận cần thiết
để hành động phù hợp ngay mà không cần phải ướm thử như trước đây Ví dụtrước đây trẻ phải dựa lưng vào tường mới nói được "tường ở phía sau cháu",nhưng khi khả năng định hướng bằng mắt phát triển thì trẻ không cần dựa sátlưng vào tường vẫn xác định được "tường ở phía sau cháu"
Nhờ cảm giác cơ mà con người nhận được thông tin: về tư thế thân thểtrong không gian, về sự sắp xếp tương ứng với nhau của tất cả các bộ phậnthân thể, về động tác của toàn thân hay các bộ phận của nó Chính cảm giác
cơ bắp cũng giúp tiếp thu thông tin về phương hướng, tức là thông qua cảmgiác cơ, con người có thể cải biến thông tin về đặc tính không gian - thời giancủa các vật thể Thông qua cảm giác cơ, con người phân biệt các hình thứcvận động cơ bản của không gian và thời gian
Cơ thể con người với sự hoạt động của hệ thần kinh, sự phối hợp hoạtđộng của các cơ quan chức năng là cơ sở vật chất, là tiền đề để hình thành vàphát triển khả năng ĐHKG Đứa trẻ sinh ra được thừa hưởng một nền tảng vậtchất đầy đủ, bình thường là điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển khảnăng ĐHKG Ví dụ, khi nghe thấy tiếng động, trẻ lập tức quay đầu về phíaphát ra âm thanh đó, hoặc khi nhìn thấy đồ vật, đồ chơi, đứa trẻ đưa tay ra vớitheo hướng của đồ vật, Nếu như bị mắc những dị tật bẩm sinh như mù,điếc, đứa trẻ khó có thể có sự tiếp nhận và phản ứng kịp thời với những kíchthích bên ngoài Chính vì vậy người lớn cần chú ý bảo vệ, rèn luyện, pháttriển sự nhạy cảm của các giác quan cho trẻ
Trang 35Trẻ em không thể hoạt động được nếu thiếu sự ĐHKG Muốn địnhhướng được trong không gian, trẻ phải nhận thức được về cơ thể của bản thân.Bởi vì để ĐHKG, trước hết trẻ phải tìm điểm mốc trên cơ thể mình, rồi phóngchiếu những điểm mốc đó vào thế giới xung quanh Chính vì vậy, nhận thức
về sơ đồ thân thể là điều kiện không thể thiếu để hình thành và phát triển khảnăng này của trẻ
Quá trình nhận ra sơ đồ thân thể diễn ra như sau: Trẻ có cảm nhận vềbản thân, trước hết là cảm nhận những cảm giác xuất phát từ cơ thể, từ cơkhớp, các giác quan, từ tiền đình về tư thế của toàn thân hay từng bộ phận,tổng hòa của mọi cảm giác ấy là một cảm nhận chung, làm nền cho cảm giác
và ý nghĩ Nhờ có vận động kết hợp với thị giác, sau hai tháng rưỡi trẻ biết lầntay theo chân, dùng tay nọ nắm lấy tay kia và như vậy, bước đầu trẻ đã biếtphân định các chi (tay, chân) 6 - 7 tháng tuổi, trẻ biết để ý đến bản thân mìnhtrong gương, sau đó dần dần biết chỉ từng bộ phận của thân thể Khoảng 2 - 3tuổi, trẻ nhận ra thân thể mình khác với những người xung quanh, đã có sẵnmột "sơ đồ thân thể" đơn giản để phân biệt "ta" với trẻ khác Đến 5 - 6 tuổi,phần lớn trẻ mới biết thật rõ bên phải, bên trái của bản thân Cơ thể của trẻ lúcnày là "cơ thể có định hướng", giúp cho trẻ căn cứ vào đó để xác định vị trícủa các đối tượng trong không gian xung quanh
Sự phát triển nhận thức về cơ thể và sử dụng cơ thể để định hướngtrong môi trường xung quanh có liên quan chặt chẽ với các hoạt động củachính bản thân trẻ, đặc biệt là hoạt động với đồ vật Trong khi thao tác với đồvật và trong khi phát hiện ra những thay đổi của thế giới, qua kết quả của cáchành động đó trẻ không chỉ nhận thức được về đồ vật mà còn nhận thức bảnthân mình Vì vậy, nhà GD cần dựa vào đặc điểm phát triển tâm lí lứa tuổi,đặc điểm phát triển nhận thức về cơ thể của trẻ để tổ chức các hoạt động GD
Trang 36nhằm phát triển ở trẻ sự nhận thức đầy đủ, chính xác về các bộ phận cơ thể.
Đó là cơ sở để hình thành và phát triển khả năng ĐHKG cho trẻ
1.3.2.2 Vận động và khả năng định hướng không gian
Ngay từ khi còn trong bụng mẹ, đứa trẻ đã có sự vận động đáp lạinhững kích thích từ bên ngoài Khi sinh ra, trẻ đã có thể vận động tay chân vàvận động toàn thân "Bất kì một động tác của toàn thân, của toàn bộ các bộphận thân người đều kèm theo cảm giác vận động cơ Nhờ cảm giác vận động
cơ mà con người nhận được thông tin về tư thế thân thể trong không gian, vềđộng tác của toàn thân hay các bộ phận của nó" [28,150] Vận động có tácdụng giúp trẻ phát triển khả năng ĐHKG vì trong khi vận động trẻ phải xácđịnh hướng, vị trí của các đối tượng và giữa các đối tượng với nhau trongkhông gian thì mới có thể thực hiện được động tác vận động
Theo bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: "Thần kinh đến đâu vận động pháttriển theo và kết hợp với sự luyện tập, với kinh nghiệm, chịu sự chi phối củatình cảm, vận động dần dần phù hợp với ý đồ, mục tiêu Trong thời thơ ấu,phát triển của vận động và trí khôn gắn liền với nhau, một em bé 5 tuổi có thểđánh giá trí khôn thông qua sự phát triển của vận động [40] Nhờ có sự phốihợp vận động giữa thị giác và cảm giác vận động cơ mà tri giác không gianxuất hiện sớm ở trẻ Tri giác không gian có ý nghĩa rất to lớn, không chỉ giúptrẻ thích ứng nhanh chóng với các quan hệ người, công việc mà còn từngbước chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1
Mỗi bước tiến bộ của vận động có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành vàphát triển khả năng ĐHKG Kinh nghiệm vận động trực tiếp trong không gian
là cơ sở đầu tiên của sự lĩnh hội về không gian của trẻ Các hướng của khônggian như phía trước - phía sau, phía phải - phía trái, phía trên - phía dưới được trẻ lĩnh hội dần trong quá trình phát triển thông qua các hoạt động như
Trang 37hoạt động với đồ vật, HĐVC, hoạt động học tập và các hoạt động khác trongcuộc sống hàng ngày của trẻ Vì vậy, người lớn cần thường xuyên chú ý đếnviệc tổ chức các hoạt động trong ngày cho trẻ theo hướng tích hợp, để trẻ trựctiếp tham gia vào các hoạt động thì việc vận động trong không gian và sựĐHKG sẽ có những tiến bộ rõ rệt và có vai trò tích cực trong việc điều khiểncác hoạt động của trẻ.
1.3.2.3 Hoạt động, giao tiếp, giáo dục và khả năng định hướng không gian
Trong sự phát triển tâm lí nói chung và sự hình thành, phát triển khảnăng ĐHKG của trẻ em nói riêng thì giao tiếp với người lớn cùng với hoạtđộng của bản thân trẻ đóng vai trò quyết định Sự tiến bộ của những vận động
và hành động của trẻ phụ thuộc hoàn toàn vào người lớn Nếu người lớnthường xuyên giao tiếp với trẻ và tổ chức cho trẻ hoạt động thì việc di chuyểntrong không gian như bò, đi chập chững và việc cầm nắm các đồ vật, hànhđộng với chúng có bước tiến bộ rõ rệt và đóng vai trò tích cực trong việc pháttriển khả năng ĐHKG
Những kiến thức về không gian và kĩ năng ĐHKG gian mà trẻ nắmđược là sản phẩm của chính hoạt động trực tiếp của trẻ với đồ vật, với conngười Để hình thành, phát triển khả năng ĐHKG, trẻ phải được tham gia trựctiếp vào các hoạt động giáo dục do người lớn tổ chức Ở tuổi MG, vui chơi làhoạt động chủ đạo của trẻ Chính vì vậy để hình thành và phát triển khả năngĐHKG cho trẻ, cần tổ chức các hoạt động GD theo phương châm "học bằngchơi, chơi mà học" Những nội dung GD nhằm phát triển khả năng này đượcđưa vào trong những TC vừa gây được hứng thú với trẻ và nâng cao hiệu quả
GD Vì vậy, để việc dạy trẻ ĐHKG đạt kết quả cao, giáo viên cần phải sửdụng tích cực các TC trong việc tổ chức và tiến hành dạy học
Trang 38Sự hình thành và phát triển khả năng ĐHKG của mỗi người phụ thuộcvào trình độ phát triển tâm lí ở mỗi thời kì nhất định Vì vậy, để quá trình này
ở trẻ mang lại hiệu quả GD thì nhà GD phải nghiên cứu, xác định xem dạy trẻcái gì và dạy như thế nào ở các giai đoạn khác nhau trong sự phát triển củatrẻ Có nghĩa là nhà GD phải hình thành một hệ thống yêu cầu cụ thể vềĐHKG mà trẻ cần đạt được ở các giai đoạn phát triển khác nhau, cũng nhưxây dựng một hệ thống phương pháp, hình thức tổ chức và hướng dẫn cáchoạt động phù hợp với sự phát triển tâm lí của trẻ
1.3.3 Vai trò của khả năng định hướng không gian đối với trẻ mẫu giáo
Trong tất cả mọi hoạt động đều đỏi hỏi con người phải ý thức được vịtrí của mình trong môi trường, vị trí của các vật với nhau, biết tự tổ chức, sắpđặt vị trí của bản thân và các sự vật trong không gian Định hướng được trongkhông gian thì con người mới có thể di chuyển được từ vị trí này sang vị tríkhác, mới điều khiển được các hoạt động của mình theo mục đích đã đặt ra,đồng thời phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế cho phép
Đối với trẻ em, ĐHKG có vai trò quan trọng trong sự phát triển các quátrình nhận thức của trẻ như: cảm giác, tri giác, tư duy, Các nhà khoa học đãchứng minh rằng, việc ĐHKG là một trong những điều kiện quan trọng củaviệc lĩnh hội những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo và phát triển trí tuệ của trẻtrong bất cứ dạng hoạt động nào ở trường mầm non và trường phổ thông.Những hạn chế trong sự phân biệt không gian và thời gian chính là nguyênnhân dẫn tới lỗi đặc trưng của trẻ khi học các môn khác nhau cũng như nhữngkhó khăn khi thực hiện các hoạt động khác
Sự ĐHKG là điều kiện cần thiết để trẻ bước vào trường phổ thông Trẻcần phải biết tri giác đầy đủ, chính xác và tỉ mỉ trước khi vào lớp 1 Vì việchọc tập ở trường phổ thông chủ yếu dựa trên hoạt động của bản thân trẻ với
Trang 39những tài liệu khác nhau dưới sự hướng dẫn của giáo viên Trẻ phải có nhữnghiểu biết về phương hướng không gian mới thực hiện được những hành độngtheo lời chỉ dẫn của giáo viên để hoàn thành nhiệm vụ Nhiệm vụ chủ yếu củalớp 1 là tập đọc, tập viết Điều kiện cơ bản để thực hiện nhiệm vụ này là địnhhướng được trong không gian Trẻ phải nhìn nhận được sự vật, nhận ra cái gì,chi tiết nào ở trên hay ở dưới, ở phía trước hay phía sau, ở phía phải hay phíatrái Ví dụ trẻ phải có khẳn năng ĐHKG tốt thì mới dễ dàng phân biệt đượcdấu sắc, dấu huyền, dấu lớn - dấu nhỏ, chữ b - chữ d
ĐHKG là điều kiện để hình thành nhân cách trẻ, có tác dụng giáo dụctrẻ trở nên là người có tổ chức, biết ứng xử phù hợp trong những hoàn cảnhkhác nhau Vì vậy, để hình thành và phát triển con người toàn diện, cần pháttriển đồng thời các khả năng tâm lí, trong đó có khả năng ĐHKG
1.3.4 Đặc điểm phát triển khả năng định hướng không gian của trẻ 3 - 4 tuổi
Sự tri giác không gian xuát hiện rất sớm ở trẻ nhỏ: Một tháng tuổi trẻ
đã biết dừng mắt nhìn vật đặt cách xa 1 - 1,5m Hai tháng trẻ đã biết nhìn theocác vật chuyển động Ở giai đoạn dầu, sự dõi mắt nhìn theo vật ở trẻ mangtính gián đoạn Giai đoạn tiếp theo, trẻ đã biết đưa mắt liên tục theo vậtchuyển động Sự dõi nhìn theo vật chuyển động còn gắn liền với sự dịchchuyển của trẻ và dẫn tới sự thay đổi vị trí của trẻ trong không gian Vì vậy,
sự dịch chuyển của vật là nguồn gốc phát triển những cảm nhận về khônggian ở trẻ
Trẻ càng lớn thì tầm nhìn của trẻ càng mở rộng, khả năng phân biệt cácđối tượng ở các khoảng cách khác nhau trong không gian càng phát triển,kinh nghiệm cảm nhận không gian ngày càng phong phú, hướng nhìn của trẻngày càng mở rộng Ban đầu, trẻ chỉ biết dõi mắt nhìn vật chuyển động theophương nằm ngang, sau đó là những vật chuyển động theo phương thẳng
Trang 40đứng Điều đó có tác dụng mở rộng không gian tri giác của trẻ và kích thíchtrẻ chuyển dịch về phía vật Như vậy, sự chuyển dịch của trẻ và của vật cùngdẫn tới sự phát triển cơ chế cảm nhận không gian của trẻ.
Ngay từ lứa tuổi nhà trẻ, trẻ đã nhận biết được vị trí sắp đặt trongkhông gian của các vật Tuy nhiện, trẻ chưa phân tách được các hướng khônggian và các mối quan hệ không gian giữa các vật Ở lứa tuổi này, trẻ dựa vào
hệ tọa độ cảm giác, tức là hệ tọa độ dựa theo các chiều của cơ thể trẻ đểĐHKG Khi lên ba tuổi, những biểu tượng đầu tiên về các hướng không gianbắt đầu được hình thành ở trẻ Những biểu tượng này gắn liền với những hiểubiết của trẻ về cấu trúc cơ thể mình Đối với trẻ, cơ thể mình là trung tâm,
"điểm xuất phát" để dựa vào đó mà trẻ xác định được các hướng trong khônggian Dưới sự hướng dẫn của người lớn, trẻ bắt đầu phân biệt đúng tay phải,tay trái dựa theo các chức năng của nó, tuy nhiên chưa hoàn toàn chính xác
Vì vậy, cô giáo cần dạy trẻ phân biệt đúng tay nào thường làm những côngviệc gì một cách cụ thể và chính xác
Trẻ lĩnh hội hệ tọa độ bằng lời nói diễn đạt các hướng không gian cơbản (phía trên - phía dưới, phía trước - phía sau) Sự lĩnh hội hệ tọa độ nàyphụ thuộc vào mức độ định hướng "trên mình" của trẻ Trẻ liên hệ các hướngkhông gian với các phần, bộ phận cụ thể của cơ thể: Phía trên là phía có đầu,phía dưới là phía có chân, phía trước là phía có ngực, phía sau là phía cólưng Điều này cho thấy sự định hướng trên cơ thể trẻ là xuất phát điểm quantrọng cho việc trẻ 3 - 4 tuổi nhận biết các hướng không gian khác nhau
Với ba cặp phương hướng chính tương ứng với ba trục khác nhau của
cơ thể con người Trẻ 3 - 4 tuổi phân biệt được hướng phía trên, tiếp theo làphía dưới, phía trước và phía sau (chưa thực sự xác định được phía phải vàphía trái, đến giai đoạn sau trẻ mới phân biệt được trục này) Trong từng cặp