1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết “Sông”

110 551 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 180,99 KB
File đính kèm Bìa, phụ lục, bảng ......rar (394 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Lý do chọn đề tài 1.1. Thế giới nghệ thuật của nhà văn là “một thế giới sống động, đầy ắp xung đột, buồn vui, hạnh phúc, đau đớn. Thế giới đó là văn bản hình tượng văn bản nội tại của văn bản ngôn từ” 46;81. Đó là một thế giới độc đáo, được cấu thành từ những yếu tố đặc biệt: “Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm lý riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng”… 18;303. Tuy nhiên, nó cùng thống nhất ở chỗ: “thế giới nghệ thuật là thế giới tư tưởng, thế giới thẩm mĩ, thế giới tinh thần của con người” 46;82. Nghiên cứu về cấu trúc của thế giới nghệ thuật sẽ hình thành trong chúng ta một cái nhìn mới mẻ, nhiều chiều về mối quan hệ giữa tác phẩm nghệ thuật của nhà văn với thực tại đời sống. Vì vậy, khi nghiên cứu sự nghiệp của một nhà văn dường như chúng ta khó tránh khỏi việc tìm hiểu, đánh giá thế giới nghệ thuật của nhà văn đó. 1.2. Nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư từ khi xuất hiện trên văn đàn đã sớm trở thành một “hiện tượng” đặc biệt, là đối tượng trong một số cuộc tranh luận văn chương, thu hút sự quan tâm của rất nhiều bạn đọc. Tuy tuổi đời còn trẻ nhưng chị đã gặt hái được nhiều thành công trong sự nghiệp cầm bút: Giải nhất cuộc vận động sáng tác văn học tuổi hai mươi; Giải B của Hội nhà văn Việt Nam 2001, 2004. Chị còn là một trong những gương mặt tiêu biểu năm 2004 do Trung ương Đoàn trao tặng. Năm 2005, Nguyễn Ngọc Tư làm khuấy động văn đàn với tập truyện “Cánh đồng bất tận”. Ngay từ khi mới ra đời, tác phẩm đó đã gây nên cơn sốt dư luận. Có rất nhiều lời khen, tiếng chê về tác phẩm này. Nhưng dù đáp số là như thế nào thì nó cũng là một cú huých mạnh mẽ đẩy văn học từ chỗ yên ắng đến chỗ sôi động. Tập truyện “Cánh đồng bất tận” đã được Hội nhà văn Việt Nam trao giải “Hiện tượng văn học trong năm”. Sau tiếng vang của “Cánh đồng bất tận”, không ít người cho rằng Nguyễn Ngọc Tư khó vượt qua đỉnh cao ấy. Thế nhưng, bằng nỗ lực tự đổi mới chính mình, sau một thời gian tạm thu mình vào những tập tản văn, chị đã tiếp tục thực hiện bước đột phá mới khi cho ra đời tiểu thuyết đầu tay “Sông” (2012). 1.3. Tiểu thuyết “Sông” của Nguyễn Ngọc Tư mới ra đời vào tháng 9 năm 2012, đến thời điểm này cũng vừa tròn một năm. “Sông” gây được sự chú ý và quan tâm của đông đảo bạn đọc với số lượng đầu sách bán ra rất chạy, nhưng đến nay, khi khảo sát trên những diễn đàn và những trang nghiên cứu văn học thì những bài viết về tác phẩm còn rất ít với số lượng chưa vượt quá con số mười. Với niềm yêu thích những sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư cùng sự khâm phục tài năng và nghị lực tự đổi mới mình của chị, bằng luận văn này, chúng tôi muốn tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết “Sông” với hi vọng có một cái nhìn tổng thể, toàn diện về sự đổi mới ngòi bút của Nguyễn Ngọc Tư trong thể loại tiểu thuyết.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Thế giới nghệ thuật của nhà văn là “một thế giới sống động, đầy

ắp xung đột, buồn vui, hạnh phúc, đau đớn Thế giới đó là văn bản hình tượng - văn bản nội tại của văn bản ngôn từ” [46;81] Đó là một thế giới độc đáo, được cấu thành từ những yếu tố đặc biệt: “Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm lý riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng”… [18;303] Tuy nhiên, nó cùng thống nhất ở chỗ: “thế giới nghệ thuật là thế giới tư tưởng, thế giới thẩm mĩ, thế giới tinh thần của con người” [46;82].

Nghiên cứu về cấu trúc của thế giới nghệ thuật sẽ hình thành trongchúng ta một cái nhìn mới mẻ, nhiều chiều về mối quan hệ giữa tác phẩmnghệ thuật của nhà văn với thực tại đời sống Vì vậy, khi nghiên cứu sựnghiệp của một nhà văn dường như chúng ta khó tránh khỏi việc tìm hiểu,đánh giá thế giới nghệ thuật của nhà văn đó

1.2 Nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư từ khi xuất hiện trên văn đàn đã sớm

trở thành một “hiện tượng” đặc biệt, là đối tượng trong một số cuộc tranh

luận văn chương, thu hút sự quan tâm của rất nhiều bạn đọc

Tuy tuổi đời còn trẻ nhưng chị đã gặt hái được nhiều thành công trong

sự nghiệp cầm bút: Giải nhất cuộc vận động sáng tác văn học tuổi hai mươi;Giải B của Hội nhà văn Việt Nam 2001, 2004 Chị còn là một trong nhữnggương mặt tiêu biểu năm 2004 do Trung ương Đoàn trao tặng

Năm 2005, Nguyễn Ngọc Tư làm khuấy động văn đàn với tập truyện

“Cánh đồng bất tận” Ngay từ khi mới ra đời, tác phẩm đó đã gây nên cơn sốt

dư luận Có rất nhiều lời khen, tiếng chê về tác phẩm này Nhưng dù đáp số lànhư thế nào thì nó cũng là một cú huých mạnh mẽ đẩy văn học từ chỗ yên ắng

Trang 2

đến chỗ sôi động Tập truyện “Cánh đồng bất tận” đã được Hội nhà văn Việt

Nam trao giải “Hiện tượng văn học trong năm”.

Sau tiếng vang của “Cánh đồng bất tận”, không ít người cho rằng

Nguyễn Ngọc Tư khó vượt qua đỉnh cao ấy Thế nhưng, bằng nỗ lực tự đổimới chính mình, sau một thời gian tạm thu mình vào những tập tản văn, chị

đã tiếp tục thực hiện bước đột phá mới khi cho ra đời tiểu thuyết đầu tay

Với niềm yêu thích những sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư cùng sự khâmphục tài năng và nghị lực tự đổi mới mình của chị, bằng luận văn này, chúng

tôi muốn tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết “Sông” với hi vọng có

một cái nhìn tổng thể, toàn diện về sự đổi mới ngòi bút của Nguyễn Ngọc Tưtrong thể loại tiểu thuyết

2 Lịch sử vấn đề

Cùng với Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Đình Tú, Võ Thị Hảo…Nguyễn Ngọc Tư là một cây bút trẻ tuổi tiêu biểu trong nền văn xuôi đương

đại Xuất hiện lần đầu với tập truyện “Ngọn đèn không tắt”(2000), bằng văn

phong nhẹ nhàng, trong trẻo, in đậm dấu ấn sông nước miền Nam, NguyễnNgọc Tư đã giành được sự quan tâm đặc biệt của công chúng yêu thích vănhọc và giới phê bình

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng: “Ngọn đèn không tắt đã tạo nên một

không khí rất tự nhiên về màu sắc, hương vị của mảnh đất cuối cùng của Tổ

Trang 3

quốc – mũi Cà Mau, của những con người tứ xứ, về mũi đất của rừng, của sông nước, của biển cả mà cha ông ta dày công khai phá” [41].

Năm 2005, Nguyễn Ngọc Tư cho ra mắt tập truyện ngắn mang tên

“Cánh đồng bất tận” Tập truyện đã nhận được sự phản hồi tích cực của dư

luận và trở thành một “hiện tượng” của văn học Việt Nam với 108.000 bản

được tiêu thụ tính đến năm 2010, nhất là sau khi bộ phim dựa trên truyện vừa

cùng tên được ra mắt cùng năm Cùng trong năm 2005, truyện “Cánh đồng

bất tận” được đứng đầu trong một cuộc bình chọn truyện ngắn đặc sắc trên

báo Văn nghệ Vào năm 2006, tập truyện đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn ViệtNam dành cho tác phẩm xuất sắc Năm 2007, tác phẩm được dịch và xuất bảntại một số nước trên thế giới

Nhà văn Hữu Thỉnh đã nhận xét: “Với Cánh đồng bất tận, Nguyễn

Ngọc Tư đã có sự bứt phá rất ngoạn mục, tự vượt lên chính mình và tạo nên những bất ngờ thú vị cho giới nhà văn” [26;1].

Nhà văn Chu Lai khẳng định: “Cánh đồng bất tận viết về những con

người Nam Bộ với tính cách đặc thù: chân thực, hồn nhiên, chất phác và bản năng Cốt truyện mang tính chất cổ điển, không có gì mới nhưng tác giả viết bằng thứ ngôn ngữ và hơi văn lạ, tạo được sức rung chuyển thẩm mỹ” [26].

Năm 2012, Nguyễn Ngọc Tư “đổi món” với “Sông” Từ địa hạt truyện ngắn và tản văn chị đã “lấn sân” sang tiểu thuyết Tiểu thuyết “Sông” ít nhiều

gây tò mò và háo hức cho bạn đọc bởi lẽ đây là cuốn tiểu thuyết đầu tay của mộtcây bút Nam Bộ đã gặt hái được những thành công nhất định trên lĩnh vựctruyện ngắn và tản văn Người ta tò mò vì muốn biết một Nguyễn Ngọc Tư viếttiểu thuyết ra sao; người ta háo hức vì với những thành quả Ngọc Tư đạt được

trong truyện ngắn và tản văn sẽ hứa hẹn một thành công khác trong “Sông”.

Trần Ngọc Sinh đã có lời nhận xét ngắn gọn nhưng bao quát về tiểu

thuyết “Sông”: “Đẹp Đáo để Trần tục và hư ảo” [3] Câu nói của Trần

Ngọc Sinh như đã nắm bắt được cái “thần” của tác phẩm.

Trang 4

Trần Hữu Dũng qua bài viết: “Nguyễn Ngọc Tư và sông” nhận xét:

“Nguyễn Ngọc Tư đang vạch một hướng đi mới, nhưng nếu nhìn ngoái lại thì người đọc vẫn thấy con đường ấy bắt đầu từ hành trình đã qua của một Nguyễn Ngọc Tư mà độc giả từng yêu mến” [8].

Tác giả Mai Anh Tuấn cho rằng: “Sông là sự hợp thức giữa tiểu thuyết

và lối viết du khảo Cứ mỗi nơi nhân vật đi qua đều để lại tên người, tên đất Con người dấn về phía trước còn những địa danh lùi lại phía sau Sông Di vì thế có thể coi là một thực thể vùng miền Nhưng mặt khác, sông Di cũng là con sông trong tâm tưởng Nhân vật xuôi theo dòng sông thực thể nhưng lại

đi ngược con sông tâm tưởng Tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tư chứa đựng cảm thức của giới trẻ về sự biến mất, nhưng biến mất là để trục vớt ký ức của mình” [4].

Trong bài viết : “Đọc tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư - khảo

về sự biến mất”, tác giả Mai Anh Tuấn cũng viết: “Với Sông, Nguyễn Ngọc

Tư càng cho thấy mình là người tận lực với cơ địa văn hóa vùng miền, bởi, xét rộng hơn, phần lớn những không gian nổi bật, những hình tượng nghệ thuật vươn tới biểu tượng trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư, một cách chủ ý, đều dấp dính sông nước và những hắt bóng của nó như lời ăn tiếng nói, phong cảnh tập tục, đến nhân tình thế thái” [59].

Về những sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, đa số ý kiến đều khẳng địnhrằng chị là một nhà văn luôn trăn trở nghĩ suy về cuộc sống và thân phận của

con người Chị đã từng nói: “Khi viết về thân phận, nỗi đau, sự bối rối thường trực của con người trước những biến cố của cuộc đời, tôi luôn ao ước những trang viết của mình có được sự rung cảm như những giọt nước mắt Khi ấy, trong lòng các bạn, tôi không còn là cô gái Việt Nam viết về Việt Nam, mà là một nhà văn viết về thân phận con người, như các bạn” [22].

Trong “Sông” hiện lên thân phận của những con người cô đơn đang lang

thang kiếm tìm bản thể “trên con đường không dấu chân”.

Trang 5

Có nhiều người quan tâm tới thế giới nghệ thuật trong sáng tác củaNguyễn Ngọc Tư qua ở các phương diện như: nghệ thuật xây dựng nhân vật;quan điểm nghệ thuật về con người Đa số các ý kiến đều đánh giá cao tàinăng của chị trong việc lựa chọn các chi tiết, hình ảnh, chất giọng, ngônngữ…xây dựng thành công con người Nam Bộ.

Huỳnh Công Tín trong bài “Nguyễn Ngọc Tư – nhà văn trẻ Nam Bộ”

viết: “Nhân vật trong tác phẩm của chị là những con người Nam Bộ với những cái tên hết sức bình dị, chân chất kiểu Nam Bộ…Đó là những người sinh sống bằng những ngành nghề cũng gắn liền với quê hương sông nước Nam Bộ Đặc biệt vùng đất và con người Nam Bộ trong sáng tác của chị được dựng lại bằng chính chất liệu của nó là ngôn ngữ và văn phong nhiều chất Nam Bộ của chị” [57].

Càng ngày Nguyễn Ngọc Tư càng nhận được nhiều yêu mến của độcgiả bởi chất giọng Nam Bộ mộc mạc, thấm đượm yêu thương Nhà văn

Nguyên Ngọc đã nhận định: “Mấy năm nay chúng ta đều rất thích Nguyễn Ngọc Tư Cô ấy như một cái cây tự nhiên mọc lên giữa rừng chàm, rừng đước Nam Bộ vậy, tươi tắn lạ thường, đem đến cho văn học một luồng gió mát rượi, tinh tế mà chân chất, chân chất mà tinh tế” [65].

Dạ Ngân trong bài viết “May mà có Nguyễn Ngọc Tư” cũng đánh giá

cao nghệ thuật xây dựng nhân vật của chị, đặc biệt là về ngôn ngữ và giọng

văn: Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư “được diễn tả bằng thứ ngôn ngữ Nam

Bộ lấp lánh và một giọng văn dung dị, đặc biệt ấm áp” [31].

Cùng với các bài viết, tác phẩm bình luận, nghiên cứu, sáng tác củaNguyễn Ngọc Tư còn là đề tài cho các công trình nghiên cứu của nhiều thế hệsinh viên, học viên Có thể kể đến những công trình sau:

Luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Thái Lê: “Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện Nguyễn Ngọc Tư”, ĐHSP Hà Nội, 2007.

Trang 6

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Bích: “Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư”, ĐHSP Hà Nội, 2009.

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Kiều Oanh: “Thế giới nghệ thuật truyện Nguyễn Ngọc Tư”, ĐHSP Hà Nội, 2006.

Luận văn thạc sĩ của Ngô Thị Thúy Hà: “Cảm thức cô đơn trong truyện Nguyễn Ngọc Tư”, ĐHSP Hà Nội, 2011.

Luận văn thạc sĩ của Bùi Thị Nga: “Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư”, ĐHSP Hà Nội, 2008.

Nhìn chung, các ý kiến trên báo chí và những công trình nghiên cứukhoa học đã đề cập đến thế giới nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư ở một sốkhía cạnh sau:

a Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư là những

con người Nam Bộ nghèo khổ, lam lũ, bình dị nhưng có tấm lòng cao thượng,

vị tha và luôn luôn tin tưởng vào ngày mai

b Không gian trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư là không gian

đời tư và không gian lưu lạc được chuyển hóa cùng thời gian sự kiện, đan xengiữa quá khư và hiện tại

c Ngôn ngữ và giọng điệu trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư thường

in đậm dấu ấn vùng sông nước Nam Bộ

Nguyễn Ngọc tư là nhà văn thu hút được đông đảo người quan tâm,nghiên cứu Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại thì chưa thực sự có côngtrình nào nghiên cứu một cách hệ thống thế giới nghệ thuật của Nguyễn Ngọc

Tư dựa trên một tác phẩm cụ thể Kế thừa thành tựu của người đi trước, trongluận văn này tôi sẽ tập trung khảo sát thế giới nghệ thuật của Nguyễn Ngọc

Tư ở một tác phẩm cụ thể từ nhiều phương diện để làm sáng rõ tư duy nghệthuật tiểu thuyết cũng như quan niệm nghệ thuật mới của chị về cuộc đời vàcon người

Trang 7

3 Đối tượng – Phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Tiểu thuyết “Sông” của Nguyễn Ngọc Tư (2012), Nhà xuất bản Trẻ,

Hà Nội

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Xuất phát từ quan niệm thế giới nghệ thuật là một cấu trúc chỉnh thểđược hình thành dựa trên nhiều bình diện, chúng ta phải xem xét thế giới nghệ

thuật tiểu thuyết “Sông” từ nhiều góc độ, phương diện khác nhau.

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Tìm hiểu thế giới nhân vật trong tiểu thuyết “Sông”

+ Phân tích tổ chức không gian – Thời gian trong tiểu thuyết “Sông” + Phân tích đặc điểm ngôn ngữ và giọng điệu trong tiểu thuyết “Sông”

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp phân tích – tổng hợp

Vận dụng phương pháp này, chúng tôi tiến hành khảo sát tác phẩm, tậptrung chú ý các yếu tố chính để làm nổi bật nội dung tư tưởng và hình thức

nghệ thuật tiểu thuyết “Sông” Từ đó, chúng tôi rút ra những nhận xét chung

khái quát, tiêu biểu về thế giới nghệ thuật trong tác phẩm

5.2 Phương pháp so sánh

Để khẳng định sự độc đáo trong thể loại tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc

Tư, trong phạm vi giới hạn của đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp sosánh, đối chiếu Cụ thể: So sánh phong cách viết tiểu thuyết của NguyễnNgọc Tư với phong cách viết truyện ngắn Ngoài ra, chúng tôi còn so sánhphong cách viết tiểu thuyết của chị với phong cách viết tiểu thuyết của nhữngcây bút cùng thời

5.3 Phương pháp tiếp cận hệ thống

Để hiểu được thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết “Sông” của Nguyễn

Ngọc Tư, luận văn chú trọng vào việc tìm ra những yếu tố tạo nên chỉnh thể

Trang 8

và quy luật cấu trúc của nó Mọi đối tượng, vấn đề khảo sát đều được chúngtôi đặt trong hệ thống này.

5.4 Phương pháp phân loại, thống kê

Chúng tôi sẽ tiến hành phân loại và thống kê những yếu tố liên quanđến nội dung của đề tài bằng những số liệu cụ thể Qua đó làm sáng rõ luậnđiểm được đưa ra trong phạm vi đề tài

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần thư mục tham khảo, luận vănđược triển khai trong ba chương chính:

Chương 1: Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết “Sông”

Chương 2: Không gian – Thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết

“Sông”

Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu tiểu thuyết “Sông”

Trang 9

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT “SÔNG”

1.1 Quan niệm về văn chương và sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư

1.1.1 Văn chương là tiếng vọng của tâm hồn

Nguyễn Ngọc Tư đã từng nói: “Tôi viết như cảm xúc của mình, bởi trước khi tôi viết cho ai đó thì tôi viết cho mình” [63] Theo chị, yếu tố làm

nên thành công của một tác phẩm văn học chính là cảm xúc chân thật đượckhơi dậy từ tâm hồn của nhà văn Thực tế luôn chứng minh rằng sự sáng tạo

và cảm xúc của nhà văn không phải bỗng dưng có được nếu không được rènluyện, nuôi dưỡng và trải nghiệm từ cuộc sống Sự sáng tạo nào cũng vậy, nếukhông xuất phát từ cảm xúc chân thật thì khó có thể thăng hoa Nguyễn Ngọc

Tư sinh ra và lớn lên ở vùng đất Cà Mau, nơi có những con người trọng tình,mến khách Tình đất, tình người là suối nguồn cảm xúc vô tận cho nhữngsáng tác của chị Những số phận ngang trái, cuộc đời hẩm hiu, hoàn cảnh éo

le được chị soi chiếu qua lăng kính tâm hồn và hình thành nguồn cảm xúcphong phú Từ đó, chị đã tự khẳng định một phong cách riêng, một lối viếtdung dị thấm đượm tình người

1.1.2 Viết văn là hành trình “Bước ra cánh đồng và đi đến dòng sông”

Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn luôn nỗ lực đổi mới ngòi bút Chị tâm sự:

“mình đã đi xa, phải thay đổi, chỉ có độc giả là vẫn ở đó để nói về những điều đã cũ” [4] Chị không bao giờ dừng lại ở “cánh đồng” – nơi có hào quang rực rỡ mà quyết định bước sang “dòng sông” để trải nghiệm “những trận mưa rào đầu tiên” Sự thay đổi của Nguyễn Ngọc Tư từ truyện ngắn

sang tiểu thuyết, từ văn phong nhẹ nhàng, nhiều xót xa sang sắc lạnh, dửng

dưng theo chị là một lẽ tất nhiên “cây đến mùa thì thay lá, quả đến mùa thì chín, rụng” Đối với nhà văn, cái lớn nhất là vận động và đi tới, bỏ hào quang

lại sau lưng và tìm kiếm những điều mới mẻ cho mình

1.1.3 Viết văn là hành trình theo đuổi biểu tượng “giọt nước mắt”

Trang 10

Nguyễn Ngọc Tư đã từng nói: “Nếu vẽ một biểu tượng của nghề viết

mà tôi đang đeo đuổi, tôi sẽ vẽ hình ảnh của giọt nước mắt” Với chị, mỗi

“giọt nước mắt” là một thân phận, một nỗi đau của kiếp người trước những biến cố trong cuộc sống Khi một nhà văn chạm tới biểu tượng “giọt nước mắt”, có nghĩa nhà văn đó đã thành công trong việc truyền tải cảm xúc đến

người đọc Người đọc sẽ cảm kích trước những thân phận bất hạnh được nóitới trong tác phẩm

Ở tiểu thuyết “Sông”, Nguyễn Ngọc Tư đã giúp người đọc chạm tới

“giọt nước mắt” Dọc theo dòng Di giang là thân phận đau khổ của bao kiếp

người Đó là hình ảnh của người đàn bà tự vẫn bằng những hạt sắn độc; cô gái

bỏ đi biệt xứ bởi sự đồn thổi của người đời vì thằng con trai cô sinh ra không

biết của chồng hay của bố chồng ; cái chết thảm của những cô gái “ăn sương” và bao người dân khu chợ Yên Hoa bởi “những ngôi nhà lần lượt đổ vào sông sau những trận mưa dầm”; hay những người phụ nữ dân tộc Đào

vùng cao nguyên Thượng Sơn mưu sinh bằng cách bán con Thân phận conngười hiện lên vừa đau khổ, vừa mong manh, ở đâu cũng có những cái chếtthê thảm, tức tưởi của những thân phận phải gánh chịu những va đập đau đớncủa cuộc đời

1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Ngọc Tư

Quan niệm nghệ thuật về con người là một tiêu chí quan trọng để đánhgiá giá trị của một tác phẩm văn học Nó được xem như một nhân tố cơ bản làđiểm xuất phát cho mọi sự sáng tạo của nhà văn Những phương tiện, thủpháp nghệ thuật được sử dụng trong tác phẩm từ việc xây dựng nhân vật đến

tổ chức kết cấu cốt truyện hay ngôn ngữ, giọng điệu trần thuật đều góp phầnthể hiện quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn Con người trongvăn học thời kỳ đổi mới được các nhà văn quan niệm không còn đơn giản,xuôi chiều Thay vào đó, nhà văn nhìn con người ở cái nhìn đa chiều, chân

Trang 11

thực và toàn diện hơn Tiểu thuyết là thể loại có khả năng bao quát hiện thựcrộng lớn và đi sâu khám phá đời tư, tâm hồn con người một cách toàn diện.Việc chuyển từ thể loại truyện ngắn sang tiểu thuyết đã khẳng định bước tiếnmới trong việc thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Ngọc

Tư Trong tiểu thuyết “Sông”, Nguyễn Ngọc tư đã cắt nghĩa các vấn đề cuộc

sống liên quan đến con người theo hướng đa chiều, gắn với cuộc sống nhân

sinh Sự ra đời của tiểu thuyết “Sông” với những quan niệm nghệ thuật mới

mẻ về con người đã khẳng định sự thay đổi sáng tạo của Nguyễn Ngọc Tư,giúp nhà văn đi sâu khám phá thế giới bên trong đầy bí ẩn và phức tạp củacon người

1.2.1 Nhà văn nhìn con người từ chiều sâu nội tâm

Nguyễn Ngọc Tư khai thác những vấn đề của cuộc sống không phải ở

bề rộng mà ở bề sâu Thoát khỏi những lo toan bộn bề của cuộc sống, chị đãtập trung bút lực vào việc miêu tả nội tâm của nhân vật bằng cách khai thácthế giới tâm hồn của họ Qua đó, thế giới nội cảm của mọi tầng lớp xã hội, từtrí thức đến nông dân; từ nhà báo, phóng viên đến những cô gái điếm, nhữngđứa trẻ mồ côi…hiện lên sinh động Nguyễn Ngọc Tư có khả năng đi sâu vàomọi ngóc ngách trong tâm hồn nhân vật, thấu hiểu tâm trạng của những kiếpngười đang sống trong sự kì thị, hoài nghi của xã hội Trong tiểu thuyết

“Sông”, chị bước vào thế giới đồng tính để hiểu và viết về tình yêu của họ.

Những giằng co, day dứt, đau đớn đan xen với nỗi nhớ nhung, khắc khoải…được miêu tả thật sâu sắc Bên cạnh đó, với tấm lòng bao dung và tâm hồnđồng cảm trước những con người gặp hoàn cảnh éo le trong cuộc sống, chị đã

lý giải sâu sắc những hành động “trơ trẽn” của nhân vật Chẳng hạn hành

động mở to mắt nhìn vào máy quay của một cô gái điếm theo chị đó không

Trang 12

phải ánh mắt trơ trẽn như nhiều người nhận xét, đó là ánh mắt đau đớn, uất

hận của đứa trẻ bị cha mẹ bỏ rơi, nó giương lên như muốn nói: “Tôi ở đây nè,

ba mẹ ở đâu?”

Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn có cái nhìn nội tâm, khả năng đồng cảm,thấu hiểu tâm lý con người Với ngòi bút sắc sảo, chị đã xây dựng kiểu nhânvật tâm lí hết sức ấn tượng, để lại nhiều day dứt trong lòng ngừơi đọc

1.2.2 Con người là hiện thân của bi kịch

Là nhà văn viết về thân phận con người, Nguyễn Ngọc Tư đã nhìnthẳng vào hiện thực để phản ánh những bi kịch khốc liệt của đời sống nhânsinh Nhân vật trong sáng tác của chị là những con người nhỏ bé, khao khátyêu thương nhưng luôn gặp nghịch cảnh, éo le, ngang trái Đó là Ân , Xu,

Bối, Ánh, San …trong tiểu thuyết “Sông”; ông Năm Nhỏ trong truyện ngắn

“Cải ơi”; ông Tư Nhớ trong truyện ngắn “Đau gì như thể”; Nương, Sương,

Út Vũ trong truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” Họ chấp nhận sống chung với

bi kịch hoặc giải thoát khỏi bi kịch bằng cách kết thúc cuộc đời mình Sangiải thoát bi kịch bằng việc tìm đến một giấc ngủ không bao giờ tỉnh dậy; Ân,

Xu giải thoát bi kịch bằng việc thả “quách” vào“rốn Túi” Cái chết “tự nguyện” như một sự giải thoát khỏi nghịch cảnh, một cơ hội cuối cùng để họ

tìm lại bản thể đã mất

Phần lớn nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư sống trong địahạt của nỗi buồn, cô đơn và bi kịch Điều đó làm day dứt tâm thức người đọc,khiến người đọc phải suy nghĩ, trăn trở về số phận con người

1.2.3 Con người được đặt trong cái nhìn dân chủ

Từ những năm 80 trở đi, dân chủ hóa là xu hướng chính bao trùm nềnvăn học nước ta Nó thấm sâu và được thể hiện ở nhiều cấp độ, bình diện củađời sống văn học, trong đó có quan niệm nghệ thuật về con người Khác với

Trang 13

con người chính trị, con người sử thi trong nền văn học giai đoạn trước, ở giaiđoạn văn học sau này, con người được nhìn nhận trong mối quan hệ nhânsinh Con người không chỉ được xét trong mối quan hệ của nó với xã hội màcòn được xem xét cả ở mối quan hệ với chính nó Qua đó, những bi kịch khốcliệt của cuộc đời, những tính cách, số phận mỗi con người được chị viết ra hếtsức sinh động và chân thật Trong các sáng tác của mình, Nguyễn Ngọc Tư đãxây dựng kiểu nhân vật tự nhận thức Đây là kiểu nhân vật tự lý giải, phán xétbản thân và xã hội qua những xung động nội tâm mạnh mẽ Hình tượng nhânvật hiện lên đầy bản lĩnh, quyết đoán, dám đối diện với chính mình, dám phêphán cái xã hội mình đang sống Đó là nhân vật Bách trong tiểu thuyết

“Sông” với phát ngôn đầy cá tính “tụi này không nhận lấy cái nước đang nợ

nần ngập đầu này đâu, trả bao giờ mới xong” [62;24] Qua đó đưa ra một

cách nhìn, cách hiểu và cách đánh giá mang đậm tính chủ quan

Bên cạnh đó, quan niệm dân chủ của nhà văn đối với nhân vật của mìnhcòn được thể hiện ở việc nhà văn coi nhân vật như những người bạn đồng

hành: nhà văn hiểu thấu nhân vật, nhân vật phát biểu suy nghĩ của nhà văn.

Trong tiểu thuyết “Sông”, nhân vật đã thay lời tác giả nói lên nhiều triết lý

sâu sắc về cuộc đời Chẳng hạn: “Nhưng khổ nỗi tiền là thứ người ta thấy không bao giờ là đủ” hay “chẳng ai cho không ai cái gì” Chính vì vậy,

Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng nên nguyên tắc thể hiện con người rất riêng,tạo nên phong cách đặc thù của chị Qua đó, đời sống hiện tại với những mốiquan hệ nhân sinh, ứng xử của con người được soi chiếu ở mọi góc cạnh

1.3 Những hình tượng nhân vật tiêu biểu trong tiểu thuyết “Sông”

Nhân vật là yếu tố hàng đầu của tác phẩm văn học Nhân vật văn học là

sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người, vì vậy “số phận con người trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhà văn Nhiều cuốn tiểu thuyết đã hướng tới miêu tả số phận những con người bình thường với những

Trang 14

bi kịch của đời họ Bi kịch giữa khát vọng và thực trạng, giữa cái muốn vươn lên và cái kìm hãm, giữa nhân bản và phi nhân bản” [27;230] Tiểu thuyết

ngoài khả năng tái hiện bức tranh toàn cảnh của đời sống xã hội còn có khảnăng đi sâu khám phá số phận con người Từ sau 1975, con người trở về vớimuôn mặt đời thường của một xã hội nhiều biến động Bối cảnh đó đã thúcđẩy ý thức cá nhân thức tỉnh, làm đổi thay quan niệm về con người, các nhàvăn đã nhìn nhận con người như một cá thể bình thường trong đời sống Nhânvật trong tiểu thuyết là những con người sống với nhiều mảnh đời, nhiều bi

kịch cá nhân khác nhau “đầy những vết dập xóa trên thân thể trong tâm hồn”.

Đó là bi kịch của nhân vật Kiên trong “Nỗi buồn chiến tranh” (Bảo Ninh); Tính trong “Thoạt kì thủy” (Nguyễn Bình Phương); Ân, Xu, Bối, San trong

“Sông” (Nguyễn Ngọc Tư) Con người xuất hiện trong tiểu thuyết là con

người trần thế với những mâu thuẫn tất yếu của nó: ánh sáng – bóng tối; cao

cả - thấp hèn; rồng phượng - rắn rết; ý thức – vô thức Nói như nhà Ngữ văn học xuất sắc người Nga Mikhail Bakhtin “con người không bao giờ trùng khít với chính mình” PGS.TS Nguyễn Bích Thu cũng nhận xét: “Nhà văn đã nhận diện con người đích thực với nhiều kiểu dáng nhân vật, biểu hiện phong phú và đa dạng nhu cầu tự ý thức, sự hòa hợp giữa con người tự nhiên, con người tâm linh và con người xã hội” [52] Sự tìm tòi, khám phá bề sâu tâm

thức con người hình thành những kiểu nhân vật mới như: nhân vật cô đơn,nhân vật lạc thời, nhân vật kiếm tìm, nhân vật tâm linh, nhân vật vô thức…

Trong các tiểu thuyết xuất hiện đầu thế kỷ XXI, “Sông” của Nguyễn

Ngọc Tư gây chú ý tới bạn đọc bởi lẽ đây là cuốn tiểu thuyết đầu tay của câybút nữ Nam Bộ đã gặt hái được những thành công nhất định trên địa hạt

truyện ngắn và tản văn Tiếp cận với tiểu thuyết “Sông”, chúng tôi nhận

thấy thế giới nhân vật hiện lên rất đa dạng, phong phú, nhiều kiểu loại Từ

Trang 15

đây, chúng tôi phân chia nhân vật trong tác phẩm thành những kiểu loại sau:Nhân vật kiếm tìm, nhân vật cô đơn, nhân vật tâm linh và vô thức

1.3.1 Nhân vật kiếm tìm

Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn có ý thức trong việc kiếm tìm những điều

mới lạ Không dừng lại ở “cánh đồng”, chị đã đi tới “dòng sông”, dù hướng

đi đó còn nhiều thử thách với cây bút lần đầu viết tiểu thuyết Trong bài

phỏng vấn của mình, chị đã nói: “Tôi nghĩ mình vừa mới bước ra khỏi ngôi nhà ấm cúng kia thôi, gặp vài trận mưa đầu tiên Nhưng nếu gặp bụi gai tôi

sẽ không ngần ngại nhảy, dĩ nhiên là tôi phải nhìn thấy một cái gì lóe lên trong ấy, và hào hứng nghĩ đây có thể là thứ mình tìm, mình phải bới nó ra

mới được” [54] Trong tiểu thuyết “Sông”, chị đã gửi gắm vào nhân vật khát

vọng tìm kiếm chân lý để được sống là chính mình Đây cũng là kiểu nhân vậtxuất hiện phổ biến trong văn học Việt Nam đương đại, thể hiện toàn vẹn vàsâu sắc quan niệm về con người dưới cái nhìn nhân bản

Hệ thống nhân vật với hành trình kiếm tìm bản ngã trong tiểu thuyết

“Sông” xuất hiện tương đối nhiều Đó là Ân, Bối, Xu, Ánh, Phụng…mỗi

người một cuộc sống, một khát vọng, một mục đích kiếm tìm khác nhaunhưng họ cùng mang trong mình tâm trạng hoài nghi, mất niềm tin vào giá trịcuộc sống Càng cô đơn, lạc lõng họ càng khao khát kiếm tìm dù thứ mà họtìm không có hình khối, màu sắc, nó chập chờn, mơ hồ như ảo ảnh Thậm chíchính bản thân họ cũng không biết mình tìm gì Nói như Nguyễn Ngọc Tư:

“Sông đơn giản là câu chuyện của thằng bé nào đó, một hôm làm mất trái

bóng Nó đi tìm kiếm trái bóng, trải qua hành trình cực khổ Rồi cuối cùng,

nó phát hiện ra cái thứ nó tìm kiếm không phải là trái bóng mà là một điều gì

đó mông lung chính nó cũng không biết rõ” [4].

Khi đọc những trang đầu của tác phẩm hẳn không ít người nghĩ đây là

một tiểu thuyết du khảo nói về chuyến đi “phượt” của ba chàng trai Ân, Xu,

Trang 16

Bối Tuy nhiên, bằng giọng văn “nhẩn nha mà xoáy sâu”, Nguyễn Ngọc Tư đã

hé mở dần từng khúc đoạn của truyện Người đọc vỡ òa khi nhận ra đây khôngphải một cuốn tiểu thuyết du khảo nói về chuyến thám hiểm sông Di đơn thuần.Đây chính là cuộc dấn thân, kiếm tìm bản thể của mỗi người nhằm trả lời những

câu hỏi mang tính bản thể luận như: “Ta là ai, sao ta là ta mà không là họ, sao

ta ở đây với những người này mà không cùng người khác” [62;53].

Trong xã hội hiện đại con người luôn đứng trước nguy cơ nhoè mờ căn

cước Ở tiểu thuyết “Sông”, hình ảnh con người luôn xuất hiện trong trạng thái

“đi tìm căn cước” Nhân vật chính xuất hiện trong truyện là Ân, một người bị rơi vào tình trạng “mất căn cước” Mở đầu câu chuyện là việc Ân sắp xếp đồ

đạc để chuẩn bị cho chuyến du khảo tới thượng nguồn sông Di, hoàn thành cuốn

kí sự mà “sếp” anh giao phó Ngoài ra, anh còn có mục đích cá nhân, đó là ra đi với “hy vọng học được cách quên” Tuy nhiên, trên hành trình ấy ý định ban đầu

của Ân đã vô tình biến mất Chuyến đi đã giúp anh tìm kiếm được những chân lýthuộc về bản ngã mà chính anh chưa bao giờ nghĩ tới Nếu như cuộc sống trước

đây của Ân chỉ là “làm việc, ngồi quán, tụ tập và làm tình” thì giờ đây, mỗi bước chân của anh là một bước ngoặt thay đổi cuộc đời Sông Di đã cuốn anh đi,

lạc khỏi dòng chảy của cuộc đời nhàm chán, tầm thường, tẻ nhạt để tìm về dòngchảy mà ở đó anh được là chính mình

Hành trình số phận và cuộc kiếm tìm bản ngã của Đình Ân được hìnhdung qua việc lắp ghép, chắp nối từ những mảnh vụn của hiện thực Chuyến

du khảo sông Di của Ân trước hết là một cuộc trốn chạy hiện tại Sự giằng cogiữa ý thức và vô thức được đẩy lên đỉnh điểm khi Tú – người tình đồng tính,

người Ân coi là cả sinh mạng của mình đột nhiên lấy vợ với lý do “làm vừa lòng người lớn” Ân đã quyết định từ bỏ cuộc sống hiện tại, “xách ba lô và đi” để thực hiện hành trình tìm lại bản thể của mình Tìm về quá khứ chính là

cánh cửa đầu tiên đưa Ân đến với bản ngã của mình Ân luôn bị ám ảnh bởi

Trang 17

cái tôi quá khứ đang lấn át cái tôi hiện tại và tương lai Cuộc sống quanh anhgiờ chỉ còn những hoài niệm Hành trình đi ngược sông Di chính là cuộc hànhtrình tìm về ký ức, hồi tưởng lại quá khứ với những những biến cố, sự kiệntrong đời ảnh hưởng đến con người hiện tại của Ân Hai người quan trọngnhất trong cuộc đời anh là mẹ và Tú Trước đây, họ là những người quyết

định bản ngã của anh “Họ vui cậu vui họ buồn cậu buồn” Tuy nhiên, trên

hành trình thám hiểm sông Di, khi chuẩn bị tới rốn Túi, anh đã nhận ra vị trícủa mình trong mối quan hệ với những người anh yêu thương Nếu trước đây

Ân coi cuộc sống của Tú là của mình, không có Tú anh như một người đi biểnquên mất la bàn Ân luôn cống hiến hết mình cho tình yêu và tuyệt đối hóa

tình yêu “Tình yêu là thứ khiến người ta thấy cả thiên hạ đã biến mất, chỉ còn mỗi một người, mỗi một thứ đáng để sống cho nó và vì nó” [62;77] Giờ đây,

Ân nhận ra Tú không phải là bản ngã của mình, anh cảm thấy tức giận và thất

vọng khi Tú luôn“lửng lơ trong tình yêu”, như một kẻ “nằm dưới gốc sung

há miệng chờ sung rụng” Anh nhận ra nỗi thất vọng của anh với Tú “không hoàn toàn vì yêu, mà vì một người bạn chiến đấu đã bỏ cuộc Tú đã buông xuôi” Với Ân“bỏ lại một người bạn dọc đường là bất nhẫn” Lúc này, Ân có nhiều thứ đáng bận tâm hơn là cứ mãi nhớ về một người đã “buông xuôi”.

Tình yêu không còn giữ vị trí độc tôn trong anh nữa, nó đã vắt kiệt niềm đam

mê, sự kỳ vọng của anh Lúc này, anh giống như “một người quyết đến thiên

hà Andromède để được nhìn mặt trời bằng mắt thường, nhưng khi nhìn thẳng vào mặt trời anh ta chỉ thấy một thứ kém lộng lẫy, tắt hào quang và nó chỉ giống như một vì sao trong hàng vạn vì sao khác” [62;191] Và anh “không muốn nhìn mặt trời đã không còn chói lóa” Trong cuộc hành trình này, Ân

không chỉ nhận ra vị trí của mình trong Tú, Ân còn nhận ra vị trí của anh với

mẹ Đối với mẹ, anh chỉ là một con nợ “mình sống đây là vay mẹ một món

nợ Và sống đây là để trả món nợ ấy” Chính vì vậy, quyết định cuối cùng của

Trang 18

anh là sẽ không quay trở về Sài Gòn, nơi có mẹ và Tú mà anh sẽ tiếp tục cuộc

hành trình đến điểm cuối cùng của dòng Di giang, “không phải vì Xu nói sẽ thấy nhớ” mà là vì “bỏ lại một người bạn ở dọc đường là bất nhẫn” Cũng

như Xu, Ân cũng không ưa bị phản bội Khao khát tìm lại mình ngày càngcháy bỏng khi Ân đi đến rốn Túi – nơi con người tìm đến giải quyết nhữngphân vân Lúc đó anh đã nhận ra rằng, số phận con người đâu phải chỉ được

quyết định bởi những điều tưởng như to lớn, vĩ đại mà “số phận con người ta cũng có khi do mấy thứ bâng quơ ra định đoạt” [62;223] Điều đó khiến anh

có đủ tự tin để thực hiện hành động “dùng ngón chân rút cái cuộn cao su bịt

lỗ dò” để đưa “quách” ra ngoài rốn Túi mà không thấy “có chút tội lỗi nào

vì đã đưa họ ra đây và buộc họ chơi trò đó” Quyết định sẽ giúp Ân tìm được

câu trả lời xác thực nhất về những gì còn và mất; những điều nên giữ vànhững điều nên quên…Nguyễn Ngọc Tư để truyện có một cái kết mở, mặc dùnhân vật đã không dám đương đầu với hiện thực, lựa chọn cho mình conđường dễ dàng để kết thúc cuộc hành trình nhưng người đọc vẫn bán tín bánnghi hi vọng sự lội ngược dòng của số phận Có thể các nhân vật sẽ sống sót

và bơi vào bờ, trở thành con người hoàn toàn mới, được sống cho riêng mình,hoặc họ sẽ chìm vào dòng sông, biến mất giữa dòng đời và để lại một dấu hỏicho nhiều người

Trong “Sông”, thấp thoáng những mảnh đời được ghép lại với nhau.

Kẻ này người kia tồn tại giữa dòng chảy nửa hư nửa thực mang tên “sông”, mang tên “đời” để dấn thân vào những chuyến đi Hai người bạn đồng hành

cùng Ân trong chuyến đi thám hiểm sông Di là Xu và Bối Họ là những ngườitình cờ gặp nhau qua mạng, chỉ biết nhau vỏn vẹn qua cái tên Tuy nhiên với

Ân đó là một sự may mắn vì “những kẻ xa lạ không cần biết quá khứ của nhau đôi khi có thể đi cùng nhau một hành trình dài dễ dàng hơn là những gương mặt quen nhìn thấu những rạn vỡ của nhau” Người đồng hành cùng

Trang 19

Ân từ đầu đến cuối chặng đường là Xu Đằng sau vẻ bụi bặm, dữ dằn củagương mặt có vết sẹo dài là một tâm hồn khao khát yêu thương Trong anhluôn ẩn chứa nỗi đau về gốc gác Suốt cuộc đời anh mải miết đuổi theo câu

hỏi “mình đến từ đâu?” Có lẽ vì thế mà anh yêu thích loài hoa dại – thứ hoa

không tên, không lai lịch, gốc gác Xu luôn hận những người đã sinh ra anhnhưng anh vẫn muốn biết họ là ai? Quê hương anh ở đâu? Khi đến vùng dântộc Đào, chứng kiến cảnh bán con của những người mẹ trẻ, một suy nghĩ lóelên trong đầu Xu: anh có thể cũng là một thằng bé người Đào bị mẹ chúng

mang đi bán? Suy nghĩ đó khiến anh dằn vặt, đau khổ vì “bị bỏ rơi còn ngon lành hơn bị bán” Không chỉ tìm kiếm cội nguồn của mình, Xu còn mải miết

kiếm tìm chân lý của tình yêu Thứ anh căm ghét nhất chính là sự phản bội.Như bao người khác, Xu đã yêu, được yêu, nhưng anh không may mắn đượchưởng hạnh phúc một cách trọn vẹn khi nhiều lần bị bạn gái phản bội Anh

luôn đau đáu tìm đáp án cho câu hỏi “sao ta giữ lại được người đàn bà ta thích?” Đáp án về lai lịch, gốc gác và tình yêu của Xu có lẽ mãi là một bí ẩn,

vì “trên đời này có bao nhiêu câu hỏi máu thịt bày ra mà có được trả lời cho rốt ráo đâu Thứ mà người ta gọi là cuối cùng chưa chắc đã là cuối cùng”.

Nếu Xu tìm được câu trả lời chân thực cho mình liệu anh có vui? Hay sự thùhận và đau thương sẽ ngày một xâm lấn bản thể vốn mỏng manh và yếu ớtcủa anh? Có lẽ hành động trút bỏ những phân vân nơi rốn Túi của Ân và Xu

là cảnh cửa duy nhất giúp họ tìm lại chính mình như nỗ lực cuối cùng để giảithoát bản thể

Bối là nhân vật biến mất giữa chừng nhưng chuyến đi ngắn ngủi củaanh có thể xem như một hành trình tìm kiếm Cuộc sống giả tạo, nhàm chán

bên những người “ít nhìn mặt nhau như nhìn mặt sách” đã thôi thúc Bối ra đi

tìm sự hứng thú trong cuộc đời để biết rằng mình vẫn đang tồn tại Anh tìm

bản ngã của mình qua “một tia sét lóe lên, một bầu trời đen tối đầy thịnh nộ,

Trang 20

một cơn lốc xoáy” [62;44] Kịch tính luôn đưa anh tới tận cùng khoái cảm mà theo Ân đó là “thứ khoái cảm có chút gì đó bệnh hoạn” [62;44] Thế nhưng,

một tiếng sấm động trời, một tia sét cháy khét, một ánh chớp chói lòa có đánhthức được tâm hồn chai sạn của Bối? Hay nó chỉ làm anh khoái cảm tronggiây lát? Có lẽ thứ anh mà anh đang mải miết tìm kiếm chính là tiếng nói sẻchia, quan tâm, đồng cảm của con người Qua đó ta thấy được những tiêu cực,mặt trái của cuộc sống trong nền kinh tế thị trường Đặc biệt, đó là sự suythoái về đạo đức, nhân phẩm của con người, mà biểu hiện rõ nhất đó chính làthái độ thờ ơ, vô cảm đối với mọi sự vật, sự việc diễn ra xung quanh mình.Cách sống này dường như đang lan tỏa trong xã hội với một tốc độ chóngmặt, ko chỉ trong giới trẻ mà đã len lỏi vào khắp mọi giới

Nhân vật trong “Sông” hiện lên như những người sống mà không có

điểm tựa, không có trọng lượng để được hút vào một nơi chốn vững chắc nào đótrong cuộc đời, họ cứ ra đi kiếm tìm mà không biết đích đến là đâu Người đicùng Ân và Xu trong chuyến đi đến hồ Thiên là ông lính già và Phụng Ông línhgià tìm đến hồ Thiên để lãng quên ký ức chết chóc và tìm sự thanh thản cho tâmhồn Tuy nhiên, kí ức đó hãi hùng sẽ không bao giờ được dòng nước hồ Thiêngột rửa một khi ông lính già còn chạy trốn quá khứ và sống giả tạo ở hiện thực.Ông chỉ có thể làm thanh sạch tâm hồn khi dám đối diện với chính mình, dùngdòng nước của Sự Thật để gột rửa tâm hồn Ngày giải phóng đất nước thay vìnói về những chiến công hào hùng, hiển hách ông hãy đối diện với sự thật, nói

về cái chết, sự đớn hèn của cả ta và địch Dù chương trình có thể không thànhcông, dù năm sau ông không còn được lên truyền hình với tư cách là một anhhùng nữa nhưng tâm hồn của ông sẽ thôi khắc khoải, dày vò Nhưng cái đích đóđơn giản đến mức chưa bao giờ xuất hiện trong suy nghĩ của ông già Có lẽ cảđời ông sẽ không đến được cái đích của sự thanh thản, bình yên

Trang 21

Phụng ra đi với mục đích giải thoát cho linh hồn người anh song sinh

và học cách sống cho chính mình, vì “trước giờ cô ta toàn sống nhờ cuộc đời người khác Giờ sống cho mình, không biết phải bắt đầu từ đâu” [62;169] Cô bắt đầu lao vào cuộc tìm kiếm bản thể một cách vụng về do “trực giác cùn lụt, không nhận biết được những dấu hiệu” [62;192] Đã có lúc Phụng nghĩ

cảm giác ái ân, khoái cảm chính là thứ cô đang tìm kiếm, nhưng cái mà Phụngthật sự cần tìm chính là cảm giác an toàn – thứ cảm giác con người sống trong

xã hội hậu hiện đại luôn thiếu

Nhà triết học hiện sinh Pháp Jean – Paul Sartre đã nói đến cái chết như

là sự lãng quên của thân xác và nó không thể làm cho cuộc sống mất hết ý

nghĩa Lạc vào tiểu thuyết “Sông”, ta bắt gặp những con người tìm đến cái

chết như một sự giải thoát Họ coi cái chết như một điểm bắt đầu trong hànhtrình tìm kiếm sự sống San là cô gái có cá tính mạnh mẽ, luôn tìm mọi cách

để thể hiện khát vọng yêu thương, dâng hiến và khát vọng tìm về bản ngã Cả

cuộc đời San luôn kiếm tìm đáp số cho câu hỏi “mình thích gì?” Đến cuối

cuộc đời chị đã tìm thấy câu trả lời đơn giản đến mức không bao giờ chị nghĩ

đến: Chị thích ngủ vì ngủ chính là con đường dẫn chị tới “hang ổ của quên”

[62;179] Chìm vào giấc dài không dứt chính là lối thoát để chấm dứt hiện tạiđau khổ của chị Bên cạnh cái chết của San ta còn bắt gặp nhiều cái chết khácnhư cái chết gieo mình từ vách núi của Son và người đàn bà bắt Sùng Trứngkhông tên, cái chết treo cổ tự tử của chị Ba Út Hết… Đó là cái chết của nhữngngười khao khát kiếm tìm con đường giải thoát đau khổ khi họ hoàn toàn cảm

thấy mất đi chất keo “tình người” gắn kết họ với cuộc sống.

Càng dấn bước trên hành trình tìm kiếm, nhân vật của Nguyễn Ngọc

Tư càng hoang mang, hoài nghi, ngờ vực, không phân biệt được thực hư, thật

ảo Phải chăng, sự hoang mang, hụt hẫng, mất mát chính là bản chất của kiếmtìm? Con người càng muốn biết rõ về một điều gì đó, người ta càng thấy mù

Trang 22

mờ về bản chất của nó? Nếu San tìm kiếm giấc ngủ để quên đi nỗi đau hiệntại thì Ánh đã chọn cách bỏ đi Là người có cá tính mạnh, Ánh luôn ưa khám

phá, mạo hiểm Chị “thích trà trộn vào thiên hạ sống nhiều đời sống khác” Chị luôn tìm kiếm câu trả lời cho những vấn đề “nóng” của xã hội “Chị làm công nhân giày da để trả lời cho câu hỏi tại sao những đứa trẻ sơ sinh bị kiến

ăn ở bãi rác gần khu công nghiệp ngày càng nhiều, chị xin rửa chén trong nhà hàng chuyên thịt động vật có tên trong sách đỏ, để chứng minh bọn ăn chúng phần lớn là quan chức” [62;64] Tuy nhiên, hiện thực cuộc sống chỉ

khiến chị thêm hoang mang, bế tắc Khi bất lực trước những vấn đề không lờigiải đáp chị đã quyết định dứt bỏ cả người tình và sự nghiệp đang trên đà rực

rỡ để ra đi Có lẽ Ánh muốn ra khỏi cuộc sống xô bồ, hỗn tạp của xã hộiđương đại để chìm vào dòng sông, tìm kiếm sự thanh thản cho riêng mình

Cuộc sống của con người luôn tỉ lệ nghịch với khát vọng kiếm tìm.Cuộc sống ngắn ngủi bao nhiêu thì khát vọng kiếm tìm lớn bấy nhiêu Càng

cô đơn, lạc lõng họ càng khao khát kiếm tìm Có người nói cuộc sống của conngười là một vòng tuần hoàn khép kín, điểm tận cùng chính là cái chết Thếnhưng, cuộc sống không hoàn toàn vô nghĩa như ta vẫn tưởng Nằm trongcuộc sống tuần hoàn đó là những nỗ lực, khát vọng của con người luôn muốnvượt lên chính mình, tìm lại phần bản thể bị che khuất Có thể nói, tiểu thuyết

“Sông” của Nguyễn Ngọc Tư chỉ khoác “tấm áo” của một tiểu thuyết du

khảo Cái đích nhà văn muốn hướng tới chính là khát vọng kiếm tìm của mỗi

cá nhân Họ ra đi để kiếm tìm lẽ sống, để khẳng định sự tồn tại của mình, tìm

cách vượt lên sự vô nghĩa, trống rỗng, tầm thường và tẻ nhạt của cuộc đời

1.3.2 Nhân vật cô đơn

Sau 1975, với sự đổi mới trong tư duy nghệ thuật của nhà văn và nhucầu tự ý thức trước sự đổi thay của đời sống xã hội, con người cô đơn đã trởthành một kiểu nhân vật xuất hiện phổ biến trong văn học Không ít nhà văn

Trang 23

đương đại đi vào khám phá những dạng thức cô đơn của con người Trongsáng tác của Phạm Thị Hoài ta thấy hiện lên một thế giới vô hồn, trống rỗng

với những kiếp người phù du, cô độc (Thiên sứ, Chín bỏ làm mười); bao

trùm lên tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương là một thế giới khủng hoảngniềm tin vào con người, sự đổ vỡ của những thang bậc giá trị đạo đức trong

xã hội (Thoạt kì thủy, Ngồi)… Nguyễn Ngọc Tư quan niệm cái Tôi nhà văn

là cái Tôi cô đơn: “Tôi cũng như những con người trong Cánh đồng bất tận,

sống giữa nhiều người, sống giữa cộng đồng, sống giữa biển người nhưng có cảm giác như bị bỏ rơi” Bằng cái tôi cô đơn của người nghệ sĩ và khả năng

nắm bắt tâm lý cũng như những biến động của đời sống xã hội, chị đã khaithác trạng thái cô đơn một cách tinh tế và sâu sắc Đi sâu vào tiểu thuyết

“Sông”, ta thấy kiểu nhân vật cô đơn được nhà văn miêu tả đậm nét Cô đơn

như một nỗi ám ảnh thường xuyên truy bức, dồn nén cuộc sống của con

người Nói như PGS.TS Nguyễn Thị Bích Thu: “Cô đơn là vấn đề của mỗi bản thể, cá nhân nhưng nó không hẳn là vấn đề riêng tư nhỏ bé Có thể nói từng cuộc đời riêng của mỗi cá nhân gộp lại thành vấn đề của cộng đồng, xã hội Con người cô đơn khi thiếu sự đồng cảm, thiếu tiếng nói chung Trạng thái cô đơn thường được thể hiện ở sự trống trải trong tâm hồn” [53].

Trong tiểu thuyết “Sông”, ta bắt gặp cái tôi cô đơn của những cá nhân

trước cộng đồng Họ là những người thiếu vắng sự quan tâm của gia đình và

đánh mất niềm tin vào tình yêu, hạnh phúc Ân xuất hiện với một lý lịch mà

nhiều người mơ ước Anh có đủ tiêu chuẩn của một công dân có địa vị, họcthức trong xã hội Ngoài ra, anh còn là người sở hữu gương mặt thư sinh, dễgây thiện cảm Nhưng đó chỉ là cái vỏ bề ngoài hoàn hảo nhằm che đậynhững trăn trở bên trong Ân là người có ý thức sâu sắc về bản thể, anh nhưmột con cá lội ngược dòng, sống giữa biển người mà luôn thấy mình lạclõng Ngay từ khi còn trong bụng mẹ Ân đã không được chào đón Anh luôn

Trang 24

nghĩ “mình sinh ra là nỗi thất vọng của người khác” [62;26] Bà ngoại tàn

nhẫn đến mức dùng đòn gánh đánh vào bụng mẹ Ân cho trụy thai mới thôi

Lần đầu tiên gặp bà ngoại, cái mà anh nhận được là “cú xô làm đầu cậu va vào góc ván, phù bánh cam” Khoảng cách ruột thịt giữa anh và bà ngoại

được định hình, từ đó không bao giờ anh đến gần bà ngoại nữa Ân cũng cócha nhưng cha Ân chưa bao giờ sống đúng nghĩa một người cha chân chính

Khi Ân sinh ra ông mới chỉ là một cậu “sinh viên thực tập quê xứ xa mù”,

chưa đầy hai mươi tuổi Ân cũng không phải niềm ao ước, tự hào của cha

Khi biết mình có con, ông đã không ngần ngại mà nói: “Tưởng bỏ rồi Kêu

bỏ rồi mà Giữ làm gì cho khổ thân” Chưa bao giờ ông xưng hô cha – con với Ân, đôi khi “ông gọi cậu bằng tên, nếu không thì xưng hô trống không, vì gọi cha con thì cứng lưỡi” Từ nhỏ đến lớn Ân không hề mơ ước có một

người cha, chưa bao giờ anh hỏi mẹ tại sao mình không có cha Ngày Ân gặpcha, câu đầu tiên anh nói với cha không phải tiếng gọi thân thương như bao

đứa trẻ khác dành cho cha mình mà đó lại là một câu chửi thề: “Ụ móa mày” Tình cảm huyết thống không hề được nhen nhóm trong hai cha con “cha con cậu mãi mãi chẳng có cảm giác máu thịt với nhau” Trong phạm vi quan hệ

gia đình, người Ân quan tâm nhất là mẹ Thế nhưng mẹ Ân là một phụ nữ

hướng ngoại, mối quan tâm lớn nhất của bà là nhan sắc và đàn ông Chính vìthế, chưa bao giờ bà quan tâm Ân muốn gì ngoài việc bắt Ân phải quan tâm

tới những điều bà muốn “mẹ không có thói quen lắng nghe cậu nói Việc lắng nghe, là của cậu Việc nhận kỳ vọng và yêu thương, là của cậu”.

Ngay chính con người anh cũng đi ngược với tự nhiên Từ nhỏ Ân đãkhông bình thường như những cậu bé khác, Ân thuộc giới tính thứ ba Anhmang trong mình mặc cảm lạc loài khi biết mình là kiểu đàn ông chỉ xúc cảmvới người đồng giới Sự khác biệt này đẩy anh vào trạng thái hoàn toàn cô độckhi không tìm thấy sự đồng cảm, sẻ chia Trong vô thức, anh đã tự tách biệt

Trang 25

mình ra một thế giới khác Người duy nhất khiến Ân lấy lại được sự cân bằngtrong cuộc sống chính là Tú Tú là người anh đặt vào đó tất cả niềm tin, hyvọng nhưng cuối cùng cũng trở thành nỗi bất hạnh lớn nhất của anh Tình yêu

đổ vỡ, Ân thấy hụt hẫng và đánh mất niềm tin vào giá trị của tình yêu “Tú để cậu một mình, cho cậu thấy cậu đang lặp lại cuộc đời của mẹ Xúng xính khoác lên người những thứ gọi là tình yêu, những người gọi là người yêu, để lúc bất trắc không có ai ở bên mình Lúc cần không có, lúc có lại chẳng cần” [62;167] Tú rẽ dòng để chấp nhận một cuộc hôn nhân “muốn ói” Còn Ân chấp nhận đơn độc ra đi để lãng quên “thứ đã từng là sinh mạng” của mình.

Ở một số nhân vật khác trong “Sông”, nỗi cô đơn hiện hữu như một

định mệnh Nó là sự mất mát, đổ vỡ tình yêu, hạnh phúc do sự thờ ơ, lạnhlùng, tàn nhẫn của con người tạo thành Xu là nhân vật bị rơi vào trạng thái

“mất căn cước” hoàn toàn Không gia đình, không quê hương anh sống mà

không cần biết ngày mai ra sao khi không tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống và

sự tồn tại Trong Xu là quá khứ đau thương của một thằng bé mồ côi được tìm

thấy trong “đống thùng xốp đựng trái cây” Anh là một trong bảy đứa trẻ “tái nhợt, rúm ró” mà cảnh sát tìm thấy Ngay lúc đó, Xu được đôi vợ chồng ở

Thới Lai nhận nuôi Sau hai mươi ngày Xu được trả lại khi không bố mẹ nuôicủa anh không lấy được những đồng tiền thương hại của những người có lòngtrắc ẩn nữa Đứa trẻ đó tiếp tục được chuyển đến tay một bà góa Sau khi bà

chết vì “dòi đã rúc đến xương” Xu được đưa về trại mồ côi Ngay từ lúc còn

là đứa trẻ sơ sinh, trong vô thức Xu đã mang cảm thức cô đơn Nỗi cô đơnkhiến trái tim đứa trẻ sơ sinh chai cứng đến nỗi nó không hề cất lên bất kì mộttiếng khóc nào Trái tim đó ngày càng băng giá hơn khi anh bắt đầu nhận thức

được cuộc sống “từ điển đời tôi không hề có chữ khóc” Nó đúng như lời Xu nói “Người tỉnh càng mất nhiều, càng chai lì, càng thản nhiên” [62;111].

Những tưởng tình yêu có thể sưởi ấm được trái tim giá băng, nhưng tình yêu

Trang 26

chỉ khiến Xu thêm lạnh Anh chưa bao giờ được hưởng niềm hạnh phúc mộtcách trọn vẹn Anh đã từng yêu nhưng tình yêu luôn quay lưng với anh Mốitình đầu anh trao cho cô gái mười bảy tuổi nhưng đau đớn thay, cô gái đó đã

phản bội anh đi theo người khác Đã nhiều lần Xu chứng kiến “những cô gái của mình bỏ đi với người khác”, điều đó khiến anh mất niềm tin vào cuộc

sống, nhào nặn anh thành một người lạnh lùng, vô cảm

Nỗi cô đơn còn được biểu hiện ở sự lẻ loi, cô độc, một mình với nhữngsuy nghĩ và cảm nhận nhân sinh khác biệt với người khác Đối lập với Xu,Bối sinh ra trong một gia đình có địa vị hoàn hảo Cuộc sống của Bối là cuộc

sống mà nhiều người ao ước Từ nhỏ tới lớn Bối sống trong nhung lụa “muốn

gì cũng có, đòi gì cũng được” [62;80] Cha mẹ Bối đều là giáo sư, còn em gái

Bối là tiến sĩ Họ là những người được cả xã hội trọng vọng nhưng với Bối đó

là bi kịch“cuộc sống êm đềm, đầy đủ cũng là một thứ bất hạnh không thể cứu vãn” [62;80] Thái độ không hài lòng về hoàn cảnh xuất thân của mình,

cộng với sự coi thường vinh hoa phú quý, địa vị khiến Bối trở nên lạc lõnggiữa gia đình và xã hội Mọi người trong gia đình hẳn hy vọng Bối sẽ là ngườimang lại niềm tự hào cho họ Thế nhưng, họ kì vọng bao nhiêu thì thất vọngbấy nhiêu Việc mải miết chạy theo danh – lợi đã khiến họ không thể hiểuđược nỗi lòng của Bối Sống trong sự lạnh lùng của những người trong giađình, nỗi cô đơn bủa vây Bối từng ngày Anh đã viết những bài hát chứa chan

cảm xúc của kiếp người cô độc: “Chỉ còn mỗi mưa xiên/Những tìn nhắn không soi vào mắt nữa/Những lời gọi mời tắt ở bên kia cây cầu…/Không ai hỏi mi đã ăn chưa, đã đến đâu/xe mê miết đi qua biên giới của đất nước mang tên bóng tối…/Nhưng sau lưng mình còn có một cơn mưa/Chỉ còn mỗi mưa thôi/Và mưa/cũng tạnh rồi” [62;52] Bối thường tìm cách để thoát khỏi

nỗi cô đơn, tìm kiếm một tiếng nói đồng điệu Ngay từ khi còn nhỏ, Bối đã tựcắt tay cho chảy máu rồi sung sướng khi nhìn mọi người trong nhà rộn lên lo

Trang 27

lắng Khi lớn anh cũng luôn có những hành động kì quái như lặn dưới nướcthật lâu xem ai là người đầu tiên cứu mình; chọc tổ ong cho ong đốt xem cảmgiác ra sao; biến mất để được tìm…Anh luôn muốn thử mọi cảm giác mạnh

để biết mình còn tồn tại hay không, càng cô độc anh càng thu mình vào vỏbọc Nội tâm anh chứa đầy mâu thuẫn, anh vừa muốn trốn chạy, vừa muốnđược quan tâm Có thể hành động biến mất một cách bất ngờ của Bối ở chặngđầu hành trình du khảo sông Di cũng nằm trong kế hoạch tìm kiếm sự quan

tâm của người khác “biến mất để coi ai là người tìm mình đầu tiên” Cách

Bối biến mất là cách chống lại sự quên, chống lại tính dè xẻn yêu thương màđồng loại đang mắc phải

Trong tiểu thuyết “Sông”, Nguyễn Ngọc Tư xây dựng những nhân vật

sống giữa biển người đông đúc, xô bồ nhốn nháo Nhưng chính trong sự đôngđúc ấy, mỗi người co mình lại thành một ốc đảo khép kín Cái cô đơn luônngự trị ở bản thể của mỗi nhân vật Họ là những người đã yêu, đang yêunhưng họ chỉ cho đi mà không bao giờ được nhận lại Mẹ Ân không muốnchấp nhận cuộc sống cô đơn nên đã ra sức phủ nhận nỗi cô đơn bằng việc tạo

ra một lối sống “thoáng” Bà “thoáng” trong tình yêu với những “mối tình tỉnh khô”, cuộc tình chớp nhoáng Mỗi khi thất bại trước một mối tình bà sẽ

lao ngay vào mối tình khác mà không phải mất thời gian suy nghĩ, dằn vặt,đau đớn, xót xa khi nghĩ đến mối tình trước Thế nhưng, tất cả chỉ là vỏ bọcngụy tạo cho cái tôi đang trốn chạy nỗi cô đơn Bởi lẽ, nỗi cô đơn luôn bám

đuổi những con người sợ cô đơn và mang trong mình mặc cảm cô đơn Bà

“chạy đi chạy lại giữa năm bảy người đàn ông” nhưng khi cần thì không một

ai ở cạnh bà “để khi ruột vỡ, mẹ đến viện một mình” với một “chữ kí tê tái”

vào bản cam kết mổ

Cũng như mẹ Ân, Mai Triều là người sống hết mình cho tình yêu

nhưng cả cuộc đời ông như một lữ hành cô độc “trên con đường không dấu

Trang 28

chân” [62;162] Suốt nửa tháng ông nằm viện vì cơn đau tim mà không một

ai đến thăm Ngay cả cô con gái duy nhất cũng chối bỏ trách nhiệm của mộtngười con Nỗi cô đơn đeo bám Mai Triều cho đến khi ông nhắm mắt xuôitay Ông ra đi trong tiếng cãi cọ của mười hai trưởng, phó phòng Họ cứ mặcnhiên cãi cọ mà không biết đến sự ra đi của một linh hồn cô đơn tội nghiệp

Càng sợ cô đơn con người càng ra sức chống lại nó San cũng là ngườimặc cảm với nỗi cô đơn Cũng như Bối, chị chống lại nó bằng cách làm

ngược lại ý muốn của người khác “càng bị chỉ trích càng thấy khoái cảm: họ đang quan tâm mình” [62;219] Chị sống như một người không gia đình bởi

sự chối bỏ của người cha và sự ra đi của người mẹ lúc chị mới chào đời San

khao khát một mái ấm gia đình đến nỗi “thấy con Vện ngồi liếm lông cho bầy con nó mà chị ước gì mình biến thành chó phứt cho rồi” Chị luôn mong ước

được trao cuộc đời mình cho một bờ vai vững chãi, thế nhưng chưa bao giờ

chị có một tình yêu đích thực vì bên chị chỉ là “những người tình bạc bẽo”

[62;220] Ngay đến khát khao được làm mẹ chị cũng không thể thực hiện.Càng dấn thân cho tình yêu chị càng gặp nhiều đau khổ, tình yêu khiến chị trở

nên lạnh lùng và tàn nhẫn “đứa con với mối tình đầu chị đã bỏ lại ở thùng rác một bác sĩ phụ sản huyện…, hay đứa con với nhà thơ Hạc Trầm mà chị

đã hủy hoại trong một cơn ghen tuông, hay đứa con với vài ba người đàn ông khác chị đã từng yêu hoặc không yêu, và chị đã bóp chết chúng bằng những viên thuốc tránh thai khẩn cấp, những cuộc nạo vét sột soạt tê điếng” [62;73].

Ám ảnh tội lỗi ngăn cản con đường San trở về với cuộc sống, chị thu mình

trong căn phòng cô độc “Người đàn bà lội ngược dòng” cuối cùng cũng đầu

hàng Chị chạy trốn khỏi nỗi cô đơn vằ mặc cảm tội lỗi bằng một giấc ngủ vô

tận, đó là cách để đi vào “hang ổ của quên” Xót xa thay, chị sống cô độc và

chết cũng cô độc Trước khi vĩnh viễn chìm vào giấc ngủ, chị thèm được nói

Trang 29

chuyện với một ai đó Thế nhưng, những người chị gọi điện đều không nghemáy và chị đã ra đi trong cô độc khi không có một ai ở bên cạnh.

Không còn gì là niềm tin tuyệt đối và chân lí độc tôn để bám víu, conngười trở thành những mảnh vỡ lẻ loi, cô độc, đáng thương Có biết bao vùng

đất, con người mang tên “Cô Đơn” trên dải đất hình chữ S? Qua chuyến du

khảo sông Di của Ân và Xu ta thấy hiện lên biết bao kiếp người cô độc Đó làthân phận góa bụa của bà mẹ chồng và cô con dâu trên chiếc thuyền trôi dọc

sông Di “ra Vĩnh Châu bổ hàng”; câu chuyện những đứa trẻ luôn mang trong

mình mặc cảm cô đơn, chúng tự thiết lập trong mình một thế giới riêng - thếgiới không tồn tại niềm tin và tình yêu, ngay cả niềm tin với đấng sinh thành.Bởi chúng sinh ra trong cô độc, chưa bao giờ nhận được sự quan tâm, chăm sóc

của cha mẹ Thậm chí chúng buộc phải gọi người sinh ra mình bằng cô “mẹ dặn Cao phải gọi mình bằng cô” [62;29] Ngay đến bầu vú mẹ chúng cũng không được hưởng vì “bà mẹ đem bầu sữa của con mình đem cho thằng nhân tình uống” [62;140] Đó còn là số phận cô độc của Son - cô gái dị tật sinh ra đã mang trong mình nỗi cô đơn tiền định “Son sinh ra với cái môi sứt rộng, hở khoảng lợi đỏ hỏn cùng vài chiếc răng đen xếu xáo Từ ngữ khi đi qua khỏi môi cô cũng dị dạng, xây xước Mười sáu tuổi không một thằng con trai nào ngoái nhìn theo Hai mươi sáu tuổi chưa gã đàn ông nào nhìn thẳng mặt Ba mươi sáu tuối Son vẫn hay ngồi khóc khi trong làng có cưới, là lũ nhỏ con của đám bạn đồng trang lứa ngày xưa” [62;146] Ngay cả khi cô chết, linh hồn cô

đơn đó vẫn không nguôi thổn thức cho số phận mình Linh hồn cô nhập vào

bức tượng thạch cao của chính mình, khiến “môi của bức tượng đỏ mọng, ướt mướt” khiến bao đàn ông trong làng mê mẩn mà bỏ mẹ, bỏ vợ, bỏ con chỉ để ngày ngày ngắm bức tượng Nhiều gia đình phải ly tán vì không chịu được

“cảnh chồng mình suốt ngày quẩn quanh cái tượng đá kia” Nỗi cô đơn của

Son đã lan truyền cho cả làng Ể Ưu như một sự trả thù định mệnh

Trang 30

Đọc tiểu thuyết “Sông”, ta không thể không nói tới nỗi cô đơn của

những cặp tình nhân “yêu mà không lấy được, thích mà không dám nói ra”

[62;122] Sau mười năm chờ đợi họ chỉ mong đến lễ hội Tắm Lu để tâm sự,

sẻ chia nỗi niềm Thế nhưng, sợi dây níu giữ họ với cuộc sống đã đứt khi lễhội Tắm Lu chỉ còn trong hoài niệm Khoảng đất tổ chức lễ hội đã nhườngchỗ cho một trung tâm thương mại mới mọc lên Những giá trị văn hóa bị đảolộn đẩy con người vào trạng thái cô đơn, bế tắc, lạc loài

Tiểu thuyết “Sông” đưa đến cho bạn đọc một góc nhìn rất mới về hiện

thực và con người Hiện thực phi lí được tạo ra từ những chi tiết biểu tượng,

kì ảo gây ám ảnh như: sự biến mất, trôi dạt của con người và cảnh vật; nhữnglinh hồn khao khát được giao cảm…đã khiến con người trở nên hoài nghi, mơ

hồ về những điều đang diễn ra ở cuộc sống hiện tại Sự hoài nghi đó là chấtđộc đẩy con người rơi xuống hố sâu, nơi nỗi cô đơn đang ngự trị Với khảnăng nhận biết, khám phá chiều sâu trong thế giới tâm hồn mỗi nhân vật,Nguyễn Ngọc Tư đã nhận thấy sự khủng hoảng tâm lý của con người hậu hiệnđại Họ rơi vào bi kịch của nỗi cô đơn khi những thang bậc giá trị đạo đức bịđảo lộn: sự thất tín, lạc loài, vong thân, hoài nghi, bất an thường xuyên xuấthiện trong ý thức của mỗi bản thể Xây dựng kiểu nhân vật cô đơn, nhà vănbày tỏ sự đồng cảm đối với những khát khao trong tình yêu, hạnh phúc và ước

vọng được hòa đồng, sẻ chia của con người Chính vì vậy tiểu thuyết “Sông”

ngoài giá trị hiện thực nó còn mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc:“Cô đơn là câu chuyện của cá nhân Nhưng nó không phải vấn đề riêng tư, nhỏ bé Trong từng mảnh đời, từng cá nhân cô độc là những vấn đề xã hội lớn lao Đi vào tâm trạng cô đơn, thể hiện con người cô đơn chính là một biểu hiện của chủ nghĩa nhân đạo hiện nay…góp phần giúp con người hiểu mình hơn, hiểu rõ hơn những tình cảm sâu kín thuộc về con người” [21].

1.3.3 Nhân vật sống trong thế giới tâm linh và vô thức

Trang 31

1.3.3.1 Nhân vật tâm linh

Trong xu thế phát triển không ngừng của xã hội ngày nay, khi nhu cầuvật chất ngày càng được đáp ứng đầy đủ, con người thường có xu hướng tìmlại cân bằng trong đời sống với những nhu cầu về tinh thần Điều đó đã đượcphản ánh qua lăng kính nghệ thuật của nhà văn Đề tài văn học chuyển dần từ

hiện thực khách quan sang “địa hạt” của tâm linh; tiếng nói trong văn học là

tiếng nói của những trăn trở, uẩn khúc đang diễn ra quyết liệt trong tâm hồncon người

Theo PGS.TS Đỗ Lai Thúy: “Con người là một thực thể đa chiều…Đó

là bản chất sinh học, bản chất xã hội và bản chất tâm linh Ba bản chất này tạo thành chiều sâu, chiều rộng và chiều cao của con người” [11;7] Chính vì vậy,

đời sống con người luôn tồn tại thế giới tâm linh, điều đó được thể hiện sinhđộng trong văn học Việt Nam từ văn học dân gian đến văn học hiện đại

Sau thời kỳ đổi mới, các nhà văn như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm ThịHoài, Võ Thị Hảo, Nguyễn Bình Phương…đã có ý thức đi sâu vào thế giới

nội tâm con người để mở cánh cửa đi vào thế giới tâm linh: “Các cây bút tiểu thuyết từ sau đổi mới đã có ý thức đi sâu vào thế giới nội tâm để khám phá chiều sâu tâm linh nhằm nhận diện hình ảnh con người đích thực Sự xuất hiện con người tâm linh biểu hiện sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người của văn học Tiểu thuyết bắt đầu tiếp cận với thế giới đằng sau thế giới hiện thực, đó là thế giới tâm linh, vô thức, tiềm thức, giấc mơ…ngòi bút nhà văn khơi sâu vào cõi tâm linh, vô thức của con người, khai thác con người ở bên trong con người” [27;231] Trong tiểu thuyết đầu tay của mình,

Nguyễn Ngọc Tư cũng mạnh dạn khai thác yếu tố tâm linh để khám phánhững điều sâu kín diễn ra trong bộ não, trái tim của con người

Thế giới tâm linh là nơi có khả năng phát ra những tia sáng bất ngờ Đó

là những khả năng kỳ lạ của con người mà ngày nay khoa học đang nỗ lực lý

Trang 32

giải Không ít trường hợp con người có linh tính trước khi xảy ra những việc

hệ trọng hoặc cảm nhận được những điềm báo kỳ lạ từ đâu đó bên ngoài lý trí

của mình Trong tiểu thuyết đương đại cũng có nhiều nhà văn viết về sự linhcảm kỳ bí này Đó là linh cảm sợ hãi của người mẹ về cái chết của con gái

trong “Thương nhớ đồng quê” (Nguyễn Huy Thiệp); năng lực tâm linh đặc biệt của Kiên trong “Ăn mày dĩ vãng” (Chu Lai)…Nguyễn Ngọc Tư đã xây

dựng kiểu nhân vật này qua hình ảnh cô gái ở Đồng Nàng có khả năng nghethấy tiếng hát của ốc Bụt Cô có được khả năng này rất ngẫu nhiên và kì bí

sau khi vĩnh viễn bị cướp đi ánh sáng “cô nghe được tiếng hát của chúng bằng một khả năng kỳ bí nào đó được trời ban tặng lại sau khi lấy đi ánh sáng năm cô chín tuổi” [62;104] Mỗi lần nghe thấy tiếng hát của ốc Bụt, cô run rẩy như bị nhập đồng “người nhũn ra, bợt bạt” Mặc dù bị mù nhưng cô

có thể cảm nhận được mọi biến động tinh vi nhất xung quanh như đám kiếnvàng chạy trên giề cỏ trôi hay đôi cánh rách của một con chuồn chuồn đang

bay Thậm chí cô còn có thể dự báo được thời tiết “có nhiều mây đen đang núp lùm lùm, mấy anh sẽ bị mưa cho mà coi” Nhưng nghịch lý luôn đồng hành cùng số phận con người Cô chỉ có thể duy trì năng lực “thăm ốc Bụt” khi cô là trinh nữ, vì vậy “bộ ván ọp ẹp của cô và Lượm nằm trong căn buồng che chắn sơ sài bằng một tấm vải, chưa từng oằn đi vì nhục cảm” Sau bao năm mỏi mòn chờ đợi Lượm “kiếm đủ tiền”, dường như cô dự đoán được

lòng tham của con người là vô đáy nên cô đã tự giải thoát khỏi nghịch lý bằng

cách ra đi “chẳng biết cô đi vào sông đến với những con ốc Bụt biết hát hay

bỏ đi khỏi Đồng Nàng” Vì ở lại thì “mãi mãi cô sẽ chẳng bao giờ được yêu đến tận cùng thân xác” [62;105] Sự ra đi của cô gái cũng như một điềm báo

về sự biến mất của ốc Bụt Lần cuối cùng “Lượm bắt được ốc Bụt lớn bằng đầu gối, hôm đó cũng có người chết ở đáy sâu” [62;105].

Trang 33

Thế giới tâm linh là thế giới bí ẩn đa chiều của con người Nếu trướcđây nó được gán cho cái mác duy tâm thì giờ đây nó đang được nhìn nhậnmột cách nghiêm túc, chín chắn hơn Con người hiện đại đã phải thừa nhận nónhư một phần không thể tách rời của đời sống Bên cạnh sự linh cảm, linh

ứng, thế giới tâm linh còn tồn tại những con người siêu thực Ở “Sông”, cõi

âm và cõi dương luôn gắn kết với nhau bởi một sợi dây nối Người cõi âmxuất hiện thường xuyên trên dương thế, sống trà trộn với những người cõidương Con người hai cõi gặp gỡ, giao tiếp với nhau một cách bình đẳng

“chẳng nhận biết được ai là người âm, người dương” [62;119] Thậm chí

người hai cõi còn hẹn ước sẽ có con với nhau Xuất hiện trong chương mườimột của tiểu thuyết là địa danh chợ Chằm - khu chợ của người âm Ở đó Ân

đã gặp Chất – một người phụ nữ bán bánh từ “dưới” lên Chị đã không ngần ngại xin Ân một đứa con để vơi bớt trống trải: “Về dưới một mình buồn lắm Cho chị một đứa con, nhé!” Sau này, mỗi khi nhớ lại Ân không thể quên

“làn môi lạnh Hõm cỏ bốc hơi như băng” của chị Dường như giữa hai cõi

không hề có khoảng cách của sự sống và cái chết, điều đó được thể hiện rõ

nét qua câu chuyện giữa anh Bằng với người ông nội đã khuất: “Anh đã từng gặp ông nội anh ở đó, ngồi rít thuốc lào trông rất sảng khoái Gặp anh ông hỏi sao phiên năm ngoái không đi thăm tao Anh bảo Tết trước con bận Ông côc đầu anh đau điếng, điêu quá, mày trốn đi núi chơi với gái Tao mua đất cho mày dưới này rồi đấy, cất nhà xong vẫn thừa mảnh vườn để trồng đào Chừng mày xuống chắc đào cao khỏi đầu Rồi ông đi, để mình anh ngồi cùng mùi khói thuốc lào lẩn quẩn trong sương” [62;120] Có lẽ với những người

cõi âm, khi chết rồi linh hồn của họ vẫn không thôi khắc khoải, cô đơn bởi cáichết nặng oan khuất Bởi vậy họ tìm lên dương thế để bớt lạnh lẽo cô đơn.Trái lại, người trên dương thế thì tìm về cõi âm để trốn tránh thực tại như: sự

ra đi tìm giấc ngủ của San, cái chết của người đàn bà ở Mù Sa và chị Ba của

Trang 34

Út Hết ở Tân Quới… Đó còn là câu chuyện của Phụng với linh hồn người anh

trai luôn đi bên cạnh bảo vệ cô Đây là một chi tiết kì bí góp phần làm “lạ hóa” tác phẩm Trên chuyến đi đến Hồ Thiên, Phụng mang theo bình tro cốt

của anh trai để giúp anh thực hiện tâm nguyện được tắm một lần ở Hồ Thiên

Trên xe, hũ tro luôn chưng tỏ quyền lực và sự tồn tại của nó bằng “những vụ phá phách khiến người ta điên tiết, bỗng dưng cái quần Jeans của ta bị xén đến tận đùi, tay ta dính đầy những sơn, bỗng dưng môi ta trét đầy son đỏ” [62;164] Thậm chí hũ tro còn đưa ra những triết lý sắc bén thông qua phát ngôn của Bí Đỏ “nước mắt từ con mắt là thứ thường thôi, có thứ nước mắt không chảy ra kiểu vậy” [62;154] Qua đó ta thấy Nguyễn Ngọc Tư đã nỗ lực

“xóa bỏ khoảng cách trần thuật, xóa bỏ khoảng cách của cái bình thường và cái dị biệt” trong văn chương Nhà văn đã khai thác nhân vật của mình trên

nhiều bình diện, đặc biệt chú trọng đến nơi sâu thẳm trong tâm hồn, tình cảmcủa con người Bên cạnh kiểu con người tư tưởng, tình cảm ta còn thấy conngười tâm linh Việc xây dựng con người tâm linh đã mở ra cho tiểu thuyếtViệt Nam một hướng đi khả quan, phù hợp với tính năng nghệ thuật của nó.Thông qua việc xây dựng thế giới tâm linh mang màu sắc kì ảo, Nguyễn Ngọc

Tư đã bộc lộ quan niệm về một thế giới đa chiều Đó là thế giới có sự tồn tạisong song của những yếu tố hiện thực - hoang đường; duy lý – phi lý; tấtnhiên - ngẫu nhiên Từ đó nhà văn mở rộng biên độ cảm nhận cho người đọc,cuộc sống vì thế được soi chiếu đa chiều hơn, sâu sắc hơn

1.3.3.2 Nhân vật vô thức

Xây dựng tiểu thuyết như sự hòa trộn giữa ảo và thực, các nhà văn cònchú trọng đến yếu tố vô thức Cũng như những cây bút văn học đương đại,Nguyễn Ngọc Tư ít nhiều chịu ảnh hưởng từ học thuyết phân tâm học củaFreud về vô thức S.Freud hình dung thế giới tinh thần của con người như mộttảng băng: Ý thức chiếm một phần nhỏ nhô lên mặt nước, không có tác dụng

Trang 35

chi phối hành vi con người; vô thức chiếm phần lớn và chìm sâu dưới đáy,quyết định hành vi con người qua những ham muốn bản năng.

“Vô thức là lĩnh vực tinh thần mang màu sắc tâm linh Nó nằm ngoài

sự kiểm soát của ý thức và là tầng sâu nhất trong cấu trúc của thế giới tinh thần Vô thức gắn liền với một số biểu hiện đặc trưng như: những ẩn ức hay

sự kiềm chế bản năng, những trạng thái nguyên thủy của cảm giác và những trạng thái mê sảng, mộng mị” [20].

Theo S.Freud, nội dung của vô thức là những xung động bản năng màlõi của nó là những ham muốn về tình dục Ông chia làm hai loại bản năngtrọng yếu của vô thức: bản năng sống (Eros) và bản năng chết (Thanatos)

Bản năng sống là sự đói khát, tình dục

Văn học sau đổi mới đã tiếp cận đời sống bản năng của con người, điều

đó được xem là biểu hiện của chủ nghĩa hậu hiện đại Không chỉ Nguyễn

Ngọc Tư, nhiều nhà văn đương đại khác đã viết về vấn đề tính dục như “Iam

đàn bà” (Y Ban), “China Town” (Thuận)… Phương diện đầu tiên các nhà

văn đi sâu khám phá chính là bản năng tính dục Trong cuốn sách “Học

thuyết S.Freud và sự thể hiện của nó trong văn học Việt”, tác giả Trần

Thanh Hà đã viết về cách xử lý tính dục của những nhà văn hậu hiện đại:

“Với Phạm Thị Hoài khi phản ánh con người bản năng xuất hiện trong xã hội đương thời thì bản năng mà chị muốn nói đến bao gồm “mọi lạc thú ăn ngủ

đụ ị ở đời” (Mari sến - Phạm Thị Hoài) Tạ Duy Anh xoay quanh một vấn đề tình dục, bóc trần sức mạnh cũng như sự hủy diệt của nó mà lý thuyết Freud

đã đề cập đến Nhà văn đã diễn tả nhiều nhân vật với đời sống tình dục khác nhau: bình thường như sự kích động và thỏa mãn tình dục Riêng Hồ Anh Thái viết về lối sống bản năng với mục đích săn tìm cực khoái ở những nhân vật đầy thú tính” [17;244] Lần đầu bước vào lĩnh vực viết tiểu thuyết, ngòi

bút của Nguyễn Ngọc Tư đã tỏ ra linh hoạt khi khai thác đề tài này Trong

Trang 36

tiểu thuyết “Sông”, tính dục đã tạo thành mạch ngầm, thành dòng chảy xuyên

suốt văn bản Nó như phần chìm của tảng băng vô thức mà bất cứ nhà tiểuthuyết nào cũng muốn khám phá Với chị, viết về tính dục, đặc biệt là đề tài

đồng tính không phải một phương tiện nhằm mục đích “câu khách” Chị chọn đề tài này vì đó là kiểu dạng nhân vật có đời sống nội tâm “phức tạp, vật vã đấu tranh với bản năng và lý trí, với chính mình và với cái nhìn chật chội của xã hội… Sinh ra (có vẻ) là người này, nhưng sâu thẳm trong họ là người khác, họ vùng vẫy làm sao để sống như mình muốn, như chính mình?” [54] Theo S.Freud, nếu vô thức thắng ý thức thì khả năng tính dục (libido) sẽ

trỗi dậy chi phối, lấn áp các hoạt động ý thức của con người Khi đó, sự đòihỏi xác thịt, đòi hỏi thỏa mãn tính dục, tạo nên những xung năng mãnh liệt, cókhi dẫn đến sự suy đồi tính dục Nhân vật Ân ra đi với mục đích tìm lại chínhmình và lãng quên thứ đã không thuộc về anh Thế nhưng, khao khát tính dụcluôn trở đi trở lại tạo thành ẩn ức nơi sâu thẳm trong anh Kí ức về nhữngcuộc ân ái đến tận cũng xác thịt với Tú luôn khiến anh thao thức khôn nguôi

Có lúc đột nhiên Ân nghĩ đến mùi da thịt Tú: “Da thịt ấy giờ còn nồng không?” và hồi tưởng lại những lần Tú vùi vào mình Chính vì vậy, Bối thường gợi cho anh những liên tưởng về Tú “Bối thường gợi nhớ Tú Vóc dáng Tú cũng khá mảnh dẻ” Những suy nghĩ của Ân về Bối là những ham

muốn xuất hiện bất chợt trong vô thức mà chính anh cũng thể dừng lại được

“Gương mặt nhỏ nhắn, thanh tú đó đôi lúc làm cậu muôn chạm vào, gói nó bằng cả hai tay Ý nghĩ chỉ thoáng qua, cũng giống như có lúc cậu muốn giắt một bông hoa lý có cuống muốt dài lên tóc mình Ham muốn tắt đi nhanh, nhưng rạo rực như cái đuôi, quét lướt thướt trong tâm tưởng” [62;30] Đã có lần Ân viết trong trạng thái vô thức: “lúc kì cọ lưng Bối, mình miết tay lên cái hỏm lưng sâu, cái bớt son phía gần cuối cột sống làm mình liên tưởng tới một cái đuôi vừa rụng…lúc khỏa thân tắm người Bối gì cũng dài, nhã nhặn”

Trang 37

[62;57] Để rồi sau đó anh bất ngờ khi đọc lại những trang viết mà không biết

mình đã viết nó khi nào Không ít lần ý thức trong Ân bị nhấn chìm, nhườngchỗ cho phần vô thức nổi lên Ham muốn tình dục dồn nén khiến anh có

những lúc không tự chủ được hành động của mình Đó là khi Xu “nâng mặt cậu, kéo cái buộc tóc xuống, tay rải tóc” Ngay lập tức Ân đã làm theo sự thôi thúc của bản năng: “Cậu cắn nhẹ cái vành tai bị sứt của Xu, rất nhanh Lưỡi cậu thoáng chạm vào làn da ngậm nắng kia” [62;141].

Trong lý thuyết phân tâm học của S.Freud có khái niệm liên quan đến

vở bi kịch “Ơ đíp làm vua” của Sophocle nói về một đứa trẻ “giết bố lấy mẹ” Đó chính là khái niệm mang tên“mặc cảm Ơđíp” Trong “Sông”,

Nguyễn Ngọc Tư đã mạnh dạn khai thác đề tài này Nhân vật đầu tiên chịhướng tới là San Từ nhỏ, San mang trong mình tình cảm đặc biệt với anh trai

Nó không giống tình cảm anh em ruột thịt, có thể nó là tình yêu đôi lứa.Chính vì vậy, San luôn muốn độc chiếm anh trai mình và chị chỉ cảm thấyhạnh phúc khi được ở bên cạnh anh Ngày anh Sáu Thế cưới, San như mất đimột thứ rất quan trọng mà chị hằng nâng niu, ấp ủ bấy lâu nay Cảm giác

ghen tuông dâng trào thành nước mắt, chị chỉ còn biết “lấp ló sau rèm khóc khi anh trai trao nhẫn cho cô dâu” [62;205].

Ở chương hai, tác giả viết về cái chết của người đàn bà xóm Cồn.Nguyên nhân dẫn đến cái chết thảm thương đó chính là mối tình vụng trộmcủa người chồng với cô con dâu Người chồng đã giết vợ bằng hạt sắn độc đểkhông phải lẩn trốn mỗi lần tự tình với con dâu nữa Khi người ta chôn bà thì

phát hiện “ông chồng để quên cái áo vắt trên bụi ô rô Người ta thấy còn sót mấy hột sắn gồ lên ở góc túi áo” [62;17] Thằng nhỏ gọi ông là ông nội thực

chất là con ruột của ông với người con dâu Ông cố tỏ vẻ lạnh lùng, caynghiệt với thằng bé để người ta nghĩ rằng ông không thương nó thì không

Trang 38

phải cha nó Thế nhưng thực chất ai cũng biết, bởi vì “con trai ổng không ở nhà, nó đi biển Cưới vợ về rồi theo ghe đi bạn suốt” [62;17].

Chương năm là câu chuyện về tình yêu của Út Hết dành cho chị gái.Với ông chị Ba luôn giữ vị trí độc tôn Ông không ngần ngại nói với người

phụ nữ đã được đính ước với mình từ nhỏ rằng “chừng nào mày đẹp như chị tao thì tao cưới” Ông lạnh lùng, vô cảm với tất cả những người phụ nữ khác,

ngày đêm ông chỉ thương nhớ chị gái của mình Ước mơ của ông là được lấy

chị Ba làm vợ “không ai cưới chị thì em cưới chị” Sau cái chết của chị Ba, ông đã đẽo cánh tay bằng gỗ cho chị với mơ ước “chị có một vòng tay tròn khi về trong những giấc chiêm bao”, để ôm ông “chặt đến nghẹt thở” [62;49] “Mặc cảm Ơ đíp” còn được biểu hiện qua cuộc loạn luân nhằm duy

trì nòi giống của hai cha con ở Trấn Biên Người ta phát hiện khi chết Son

đang mang thai đứa con của cha mình “Cô gái đang mang thai…đó là nỗ lực cuối cùng của lão Sật, tránh cho tộc họ khỏi bị diệt vong” [62;147].

Qua việc tìm hiểu những xung động bản năng được thể hiện trong tácphẩm, ta thấy Nguyễn Ngọc Tư có ý thức miêu tả đa dạng và chân thật các trạngthái tình cảm và tâm sinh lý của con người hiện đại để trình bày phần hiển minhcũng như phần khuất lấp trong bản năng của họ Chính vì vậy, hiện thực mànhân vật đang sống được bộc lộ ở chiều sâu, trong tính đa chiều của chúng

Bản năng chết là bản năng hướng tới sự phá bỏ, tiêu diệt cuộc sống như: gây gổ, hành hung, bạo lực, tự tử…

Máu là hình tượng trở đi trở lại trong tác phẩm Có thể nói, tác phẩmngập trong màu đỏ của máu: máu từ khe đùi của Son, máu tươi với mùi tanhtưởi đổ xuống trong chiến tranh, máu và những mảng thịt nhầy phun ra từcánh tay và khuỷu chân của hai gã chủ trường gà, máu từ vành tai bị cắn của

Xu, máu tứa ra trên khuôn mặt của thằng bé bị chủ nhà tát bằng miếng vỏ sầu

Trang 39

riêng, máu ở ngón tay của San… Với Xu, máu có một ma lực đặc biệt, lôi

cuốn và tạo khoái cảm trong anh Cuộc sống của anh song hành với máu “tôi chơi với máu lâu rồi, thuộc lòng mùi, vị, màu sắc nó” [62;20] Bởi thế, Xu là

người nhạy cảm với máu người, thậm chí anh luôn tỏ ra thích thú khi nhìn

thấy máu Anh nói về máu bằng “vẻ mặt ngà say…như một đứa trẻ con say sưa nói về kẹo mút kẹo que kẹo sôcôla” [62;20] Bản năng bạo lực nảy sinh ở

Xu do ám ảnh về cuộc sống của anh thời niên thiếu Sinh ra là đứa trẻ vô thừanhận, anh lớn lên trong trại trẻ mồ côi với bao hình phạt hà khắc Khi trưởngthành anh phải sống lang thang ngoài xã hội, đối mặt với những cuộc sát phạttranh giành tình ái, địa phận Dấu vết để lại trên cơ thể anh là những vết sẹo

dọc cơ thể “sẹo lồi, một vết trên bắp tay phải, một đường may vụng về từ cằm lẹm xuống cổ Vành tai trái của anh cũng bị xén mất một nửa” [62;11].

Bên cạnh việc hành hung, bạo lực, bản năng chết còn được biểu hiện

qua việc tiêu hủy cuộc sống bằng cách tự tử Trong “Sông”, những con người

chủ động tìm đến cái chết xuất hiện với tần số cao Đó là hành động tự tửbằng hoa của San tự tử để chìm vào giấc ngủ mãi mãi; Son và người đàn bàbắt Sùng Trứng gieo mình xuống núi tự tử; những cặp tình nhân cùng nhau tự

tử ở ngã Chín sông Di; chị gái Út Hết treo cổ tự tử trong trại giam… Họ tìmđến cái chết do bản năng thúc đẩy Nó như một cứu cánh cuối cùng để giảithoát mình khỏi những éo le, ngang trái trong cuộc đời Qua đó, tác giả đã táihiện mảng hiện thực đen tối, ngột ngạt mà con người đang phải sống

Viết về bản năng trong vô thức của con người, Nguyễn Ngọc Tư muốnhướng đến tính hai mặt của nó Một mặt nó là cội nguồn đem lại ý chí sinhtồn, khơi dậy cho con người khát khao sống, giúp con người vượt qua nhữngcăng thẳng, mệt mỏi do áp lực cuộc sống mang lại Mặt khác, đây cũng làcách nhà văn phản ánh một thực trạng bế tắc, xô bồ của đời sống, cho ta thấy

Trang 40

những kiểu hiện sinh vô nghĩa, những mặt trái của xã hội vẫn đang tồn tạithường ngày mà ta có thể bắt gặp ở bất cứ đâu.

Giấc mơ là ngôn ngữ của vô thức

Giấc mơ là một phần của đời sống, nó ẩn sâu trong cõi vô thức của mỗingười, góp phần làm thăng hoa những ham muốn đời thường đồng thời cũngghi lại những trăn trở, lo âu, phiền muộn của con người khi đối mặt với cuộc

sống Theo S.Freud, giấc mơ chính là “con đường hoàng kim” để tìm hiểu vô thức Ông cho rằng, giấc mơ là một hình thức bị che đậy của việc thỏa mãn

những ham muốn bị chèn ép Trong hầu hết tiểu thuyết đương đại, giấc mơ làcánh cửa đưa nhà văn khám phá những bí ẩn sâu kín nhất của tâm hồn nhân

vật: “Những giấc mơ, những cơn mộng mị, mê sảng…trở thành một chiếc

cầu nối lạ lùng đưa ta vào cõi hoang vu nhất, sâu kín nhất của tâm hồn nhân

vật Đó là những mơ ước thầm kín, những nỗi sợ hãi dày vò, những bí mật đen tối, hay những niềm hy vọng và tuyệt vọng không thể giãi bày, những vùng ký ức không thể nguôi ngoai”…[12;5].

Trong giấc mơ, con người tìm về cõi vô thức với bao ẩn ức được giấukín Khi mơ, con người hoàn toàn rơi vào trạng thái mất ý thức, họ buôngmình theo tiếng gọi của cõi vô thức mờ xa, qua vô thức họ nhận ra lẽ sống củađời mình Ở tiểu thuyết của Bảo Ninh, Châu Diên, Nguyễn Bình Phương, hầuhết các nhân vật đều đắm chìm trong giấc mơ, thậm chí nhân vật rơi vào tình

trạng mơ triền miên không dứt như Kiên trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến

tranh” (Bảo Ninh) Nhân vật xuất hiện trong “Sông” thường có một cuộc

sống đa đoan, trắc trở Họ mang trong mình những vết thương tinh thầnkhông dễ gì xóa bỏ Những áp lực cuộc sống không chỉ khiến con người mệtmỏi trong thực tại mà còn theo cả vào trong giấc mơ - nơi vẫn được coi làchốn nghỉ ngơi của tâm hồn Nguyễn Ngọc Tư đã phát huy triệt để vai trò củanhững giấc mơ trong việc thể hiện trạng thái bất an của con người Thế giới

Ngày đăng: 12/04/2016, 18:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w