1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cảm thức thân phận trong thơ Nguyễn Bính và Vũ Hoàng Chương trước năm 1945

108 456 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 612,5 KB
File đính kèm Bìa, phụ lục, bảng ......rar (54 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2. Lịch sử vấn đề 2.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu về thơ của Nguyễn Bính và Vũ Hoàng Chương 2.1.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính Là một trong những nhà thơ xuất sắc với những bài thơ mang phong vị ca dao cổ tích rất “có duyên” của phong trào Thơ mới, song sự xuất hiện của Nguyễn Bính trên thi đàn không hề ồn ã như nhiều hiện tượng cùng thời. Tuy nhiên, thơ ông vẫn chiếm được cảm tình của số đông độc giả cho đến tận hôm nay. Đó là bởi một đất nước có đến tám chín mươi phần trăm dân số là nông dân ở nông thôn, nên “nàng nhà quê của Nguyễn Bính” có một sức sống phi thường Cùng với thời gian, thơ Nguyễn Bính ngày càng “làm tổ” vững chắc trong tâm hồn “người nhà quê vẫn còn ẩn náu trong lòng ta”. Nhìn một cách khái quát, quá trình nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính có thể chia làm ba giai đoạn: trước Cách mạng tháng 81945; sau Cách mạng tháng 81945 đến 1975; và từ sau 1975. Trước Cách mạng 81945 Phần lớn những sáng tác THƠ có giá trị của Nguyễn Bính được ra đời trong giai đoạn này, và đương thời ông đã nhận được sự mến mộ của đông đảo người đọc. Tuy nhiên, sự quan tâm của giới nghiên cứu đến với thơ ông chưa nhiều. Điều này đã được Hoài Thanh lý giải trong “Thi nhân Việt Nam” như sau: “…Cái đẹp kín đáo của những vần thơ Nguyễn Bính, tuy cảm được một số đông công chúng mộc mạc, khó lọt vào con mắt các nhà thông thái thời nay. Tình cờ có đọc thơ Nguyễn Bính họ sẽ bảo: “Thơ như thế này thì có gì ?”. Họ có ngờ đâu họ đã bỏ rơi một điều mà người ta không thể hiểu được bằng lý trí, một điều quý vô ngần “hồn xưa của đất nước”. Và nhất là ở câu nhận định này: “Cái đặc sắc của Nguyễn Bính, chỗ Nguyễn Bính hơn các nhà thơ khác, ít được người ta nhìn thấy”.56 Với “con mắt xanh” của một nhà nghiên cứu tài hoa, Hoài Thanh đã phát hiện ra nét đẹp đậm đà, kín đáo, trong hồn thơ Nguyễn Bính. Hơn thế, đó còn là vẻ đẹp rất riêng, không thể lẫn với những nhà thơ khác cũng viết về làng quê như Bàng Bá Lân và Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ... Cùng thời với Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan – tác giả của cuốn sách “Nhà văn hiện đại” – một trong hai công trình phê bình văn học lớn nhất thời ấy, cũng phát hiện ra “thứ tình quê phác thực” được toát lên từ những câu thơ mang dáng vẻ “thực thà”, “hai lần hai là bốn” của Nguyễn Bính tr70144. Giai đoạn này, việc nghiên cứu về tác giả Nguyễn Bính chỉ mới dừng lại ở những nhận định mở đầu mang tính khái quát. Giữa thời đại Thơ mới đang trăm hoa đua sắc, phải là những người có con mắt cảm thụ nghệ thuật tinh đời như các tác giả “Thi nhân Việt Nam” mới có thể nhận diện được một hồn thơ độc đáo, đặc sắc như hồn thơ Nguyễn Bính. Sau Cách mạng 8 1945 đến 1975 Sau cách mạng tháng 81945, đất nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Do yêu cầu và hoàn cảnh của cuộc kháng chiến, của tình hình chính trị đất nước mà suốt trong những năm từ 1945 – 1954, thơ Nguyễn Bính ít được quan tâm. Đó cũng là tình trạng chung đối với các tác giả trong phong trào Thơ mới. Từ sau 1954, thơ Nguyễn Bính có được nhắc tới nhưng không nhiều, tập trung chủ yếu vào mảng thơ sáng tác thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Sau biến động của vụ báo Trăm Hoa, Nguyễn Bính dường như càng im hơi bặt tiếng trên văn đàn. Ở miền Bắc, trong một số công trình viết về Thơ mới vào những năm 60 của thế kỷ trước, thơ Nguyễn Bính chỉ được điểm qua và sự khẳng định của người viết còn hết sức dè dặt. Giới nghiên cứu tuy vẫn nhớ tới ông, nhưng vì nhiều lý do “nhạy cảm” người ta đành bỏ quên ông trên trang viết. Ở miền Nam, Nguyễn Bính được nhắc tới nhiều hơn trên các báo, tạp chí. Trong tập san Văn, Sài Gòn số 60 – số đặc biệt kỷ niệm Nguyễn Bính đã đăng hàng loạt bài viết về ông của các tác giả Vũ Bằng, Nguyễn Phan, Sơn Nam, Thái Bạch… Nguyễn Bính còn xuất hiện trong một số cuốn sách như: “Việt Nam thi nhân tiền chiến” của Nguyễn Tấn Long, Nguyễn Hữu Trọng (Quyển thượng, 1968); “Việt Nam văn học sử giản ước tân biên” của Phạm Thế Ngũ (1965), “Lược sử văn nghệ Việt Nam” của Thế Phong (1974). Tuy nhiên, để nói tới một công trình nghiên cứu xứng tầm với Nguyễn Bính thì chưa có. Viết về Nguyễn Bính, tác giả Nguyễn Tấn Long nhận xét: “Khác với Xuân Diệu, Huy Cận hay Hồ Dzếnh bộc lộ tâm tình quá tự nhiên như người Tây Phương, ca tụng, mời mọc yêu đương, cổ võ sự khao khát ái tình, đề cao yêu thương thèm muốn, lãng mạn đến cao độ. Nguyễn Bính cũng không giống một Lưu Trọng Lư mơ tình trong cõi mộng, huy hoàng, diễm ảo thì có, nhưng nó trống vắng, mông lung, tình yêu chập chờn hư hư thực thực. Ngược lại, Nguyễn Bính đã dành hết tâm tình mình cho những cõi lòng của những cô gái mộc mạc trong nếp sống cổ xưa, bối rối, bâng khuâng trước tình yêu tha thiết mà không dám cưỡng mệnh mẹ cha, hoặc phá vỡ nề nếp cũ, rẹt dè, e ngại trước bức tường đạo lý nghìn đời để rồi tình duyên lỡ làng, chỉ còn biết khóc than, rên rỉ.” tr27916. Từ 1975 đến nay Kể từ khi Nguyễn Bính qua đời năm 1966 tại Thành Nam và trong vòng 20 năm sau đó, những sáng tác của ông dường như vẫn bị giới nghiên cứu, phê bình văn học buông lơi. Cho đến tận sau đổi mới 1986, chính sách mở của văn nghệ đã tạo điều kiện cho giới nghiên cứu được tung cây bút trong bầu khí quyển tự do thực sự. Lúc này, người ta tìm đến Nguyễn Bính, háo hức như đi đào xới một kho tàng chưa phát lộ. Thơ Nguyễn Bính được nghiên cứu rất rầm rộ và đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Những sáng tác thơ của ông dần được hồi sinh và chứng tỏ sức sống mạnh mẽ của nó. Đã hơn 25 năm nữa trôi qua, kể từ sau đổi mới, người ta vẫn viết về ông, nhắc đến ông như một tài năng thi ca đích thực. Đầu tiên là sự xuất hiện liên tục của những sưu tập, tuyển tập thơ Nguyễn Bính. Ngoài những công trình in chung thì hàng chục tập thơ riêng của ông được lần lượt xuất bản, tái bản nhiều lần. Điều đó cho thấy cái nhìn của giới nghiên cứu đối với Nguyễn Bính và thơ ông đã “thông thoáng” hơn Tiếp đó, khi giới nghiên cứu vào cuộc đông đảo, những cuốn sách viết về cuộc đời, con người và đặc sắc sáng tạo của nhà thơ cũng tiếp tục ra đời. Khá nhiều đoạn đời Nguyễn Bính được dựng lại, dù có khi chỉ thông qua những giai thoại. Ngoài một số công trình sưu tầm, tuyển chọn những bài viết đặc sắc của nhiều tác giả như: Nguyễn Bính thi sĩ của thương yêu : Chuyên đề Sưu tầm và biên soạn: Hoài Việt. Nxb. Hội nhà văn, 1990. Nguyễn Bính thơ và đời Hoàng Xuân tuyển chọn. Nxb Văn học, 1998. Nguyễn Bính – Nhà thơ chân quê Thảo Linh tuyển chọn và biên soạn Nxb Văn hoá Thông tin, 2000. Nguyễn Bính về tác gia và tác phẩm Hà Minh Đức, Đoàn Đức Phương tuyển chọn và giới thiệu. Nxb Giáo dục, 2001. Nét độc đáo trong thơ Nguyễn Bính Hoàng Xuân tuyển chọn. Nxb Văn hoá Thông tin, 2008. Còn có những công trình nghiên cứu rất công phu, khai thác được nhiều vấn đề trong sáng tác của Nguyễn Bính. Có thể kể đến như: Nguyễn Bính thi sĩ của đồng quê Hà Minh Đức. Nxb Giáo dục, 1995. Ba đỉnh cao thơ mới Xuân Diệu Nguyễn Bính Hàn Mặc Tử Chu Văn Sơn. Nxb Giáo dục, 2000. Nguyễn Bính hành trình sáng tạo thi ca Đoàn Đức Phương. Nxb Giáo dục, 2005. Theo thống kê số liệu tại thư viện Quốc gia Việt Nam, những công trình viết riêng về Nguyễn Bính đến nay phải lên tới con số trên dưới 40 đầu sách. Đó là chưa kể những cuốn được tái bản lại nhiều lần. Chứng tỏ rằng, không chỉ có giới nghiên cứu quan tâm đến Nguyễn Bính mà lượng độc giả yêu mến thơ ông cũng là một con số không nhỏ. Hiếm có nhà thơ nào lại dành được những tình cảm ưu ái lớn như vậy từ người đọc trong suốt một thời gian dài như Nguyễn Bính. Trong các bài giới thiệu, nghiên cứu, các chuyên luận về văn chương, đặc biệt là các công trình viết về Thơ mới, sự góp mặt của Nguyễn Bính là không thể thiếu, giống như một thành viên quan trọng và chủ yếu của giai đoạn thơ này. Rất nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học như Tô Hoài, Hà Minh Đức, Chu Văn Sơn, Lại Nguyên Ân, Đỗ Lai Thúy, Tôn Phương Lan, Nguyễn Đăng Điệp, Lê Quang Hưng…đã viết về Nguyễn Bính với tình cảm yêu mến, trân trọng và cảm phục. Trên báo chí, các trang mạng điện tử, những bài viết về Nguyễn Bính liên tục được đăng tải, không chỉ có độc giả cả nước mà còn thu hút sự quan tâm của bạn đọc nước ngoài. Ông vinh dự giữ một vị trí xứng đáng trong “Từ điển văn học”. Tác phẩm của Nguyễn Bính được đưa vào giảng dạy ở chương trình phổ thông, Đại học, trở thành đề tài nghiên cứu của nhiều sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh. Cho đến nay, không còn ai thấy băn khoăn về những điều chê khen đối với thơ Nguyễn Bính. Vị trí của ông trên thi đàn đã được khẳng định vững chắc. Các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng, giá trị của thơ Nguyễn Bính chính là ở những câu thơ đậm chất “chân quê”, “hồn quê”, “tình quê”, đậm đã bản sắc dân tộc, mà vẫn rất “Thơ mới”. Với bề dày lịch sử nghiên cứu như trên, thơ Nguyễn Bính đã được khai thác khá sâu sắc trên nhiều phương diện, cả về nội dung tư tưởng đến phong cách nghệ thuật, nhưng không hẳn là không còn những khoảng trống.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vào những năm 30 của thế kỉ trước, cùng với những biến động lớn về kinh

tế, chính trị, xã hội…trên thi đàn văn học Việt Nam đã diễn ra một cuộc “cáchmạng” đánh dấu những bước cách tân vượt bậc của cả một nền thơ Đó là cuộc

“cách mạng thi ca” của phong trào Thơ mới Kể từ khi ra đời cho đến nay, trải quabao cuộc thăng trầm trong sự nhìn nhận, đánh giá, Thơ mới đã tự khẳng định vị thếcủa mình trên tiến trình lịch sử văn học dân tộc Với sức hút kì diệu, Thơ mới đã vàđang trở thành mối quan tâm của nhiều thế hệ người đọc và thế hệ các nhà nghiêncứu – phê bình

Giữa bầu trời thi ca Việt Nam những năm 1932 - 1945, người ta không chỉthấy vằng vặc những ngôi sao sáng chói như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu,Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử…mà còn xuất hiện tên tuổi một thi nhânmang hồn thơ của “hương đồng gió nội”, thi sỹ Nguyễn Bính – ngôi sao mang thứánh sáng dịu dàng của một hồn thơ quê mùa, mộc mạc Người ta cũng thấy một thứánh sáng lạ lẫm, mờ ảo, lãng du từ những vần thơ của chàng trai mang dáng vẻ

“phong trần” nơi thành thị Vũ Hoàng Chương Mỗi người một vẻ, độc đáo và khác

lạ, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương xứng đáng có một vị trí vinh dự trong tên tuổicủa những thi nhân xuất sắc nhất của nền thơ Việt Nam nói chung và phong tràoThơ mới nói riêng

Đọc thơ Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương, chúng ta dễ nhận thấy có mộtđiểm chung đối với hai “thi nhân” này là trong sự đa dạng về nội dung cảm xúc,một nội dung thể hiện nổi bật, có tính chất bao trùm là “cảm thức về thân phận”trong hồn thơ của họ Ở nhiều thi phẩm, cảm thức ấy được bộc lộ phong phú vớinhững cung bậc khác nhau, có khi trực diện da diết, xót xa, có khi bàng bạc, xa xôi

mà không kém phần sâu sắc

Cảm thức về thân phận không chỉ xuất hiện trong thơ Nguyễn Bính, Vũ HoàngChương, mà dường là tâm trạng chung của cả một thế hệ thanh niên trí thức tiểu tư sảncủa phong trào Thơ mới những năm 1932 – 1945 Không chỉ trong thơ mà ở cả văn xuôi,

cảm thức ấy cũng được thể hiện hết sức sâu sắc Đó là tiếng nói của những con người luôn day dứt về thân phận, đau đớn về thời thế, về tài năng uổng phí, về công danh lỡ

dở Họ tìm đến thi ca và mang vào đó tâm trạng buồn nản, chán chường, bế tắc Cảm

thức về thân phận trong thời đại bấy giờ là một biểu hiện của ý thức cá nhân, ý thức khao

Trang 2

khát sống và cống hiến của cả một thế hệ Cho nên, tìm hiểu về cảm thức thân phận làthấy được một phần giá trị nhân đạo, nhân văn của phong trào Thơ mới.

Ở mỗi một tác giả, cảm thức về thân phận lại được thể hiện với đa dạng sắcthái khác nhau Ấy vậy mà trong sâu thẳm tâm hồn của hai thi sỹ Nguyễn Bính, VũHoàng Chương, người đọc lại nhận thấy những nét đồng điệu Có lẽ sinh ra cùngtrang lứa trên quê hương Thành Nam, sống cùng một thời đại, lại là những thi nhântài năng nhưng cuộc đời phiêu bạt, gặp nhiều đau khổ…nên cả Nguyễn Bính và VũHoàng Chương đều mang những nét chung trong cảm thức về thân phận Mặc dùkhác nhau khá xa về phong cách nghệ thuật, nhưng qua thi phẩm của họ, người đọcđều có chung một cảm nhận về một “cái tôi” tha hương, lạc loài, giang hồ, cô đơn

và đau khổ… Chính điều đó là một trong những lý do thu hút người đọc muốnkhám phá, tìm hiểu về tâm trạng và hồn thơ của hai thi sỹ này

Cũng giống như đường đời lắm nỗi chuân chuyên, số phận thơ của NguyễnBính và Vũ Hoàng Chương cũng nhiều phen lên thác, xuống ghềnh Ngày nay, khi

có điều kiện nhìn nhận một cách khách quan, công bằng hơn về mỗi một hiện tượngvăn học, thơ Vũ Hoàng Chương và nhất là thơ Nguyễn Bính, ngày càng khẳng định

được giá trị và vị trí đích thực của mình Đến với đề tài “Cảm thức thân phận trong thơ Nguyễn Bính và Vũ Hoàng Chương trước năm 1945”, người viết

mong muốn làm sáng tỏ giá trị nhân văn tỏa ra từ tâm hồn của hai thi sỹ Từ đó,luận văn muốn góp thêm tiếng nói khẳng định hồn thơ độc đáo của hai tài năng thi

ca trong phong trào Thơ mới 1932 -1945

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu về thơ của Nguyễn Bính và Vũ Hoàng Chương

2.1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính

Là một trong những nhà thơ xuất sắc với những bài thơ mang phong vị cadao cổ tích rất “có duyên” của phong trào Thơ mới, song sự xuất hiện của NguyễnBính trên thi đàn không hề ồn ã như nhiều hiện tượng cùng thời Tuy nhiên, thơ ôngvẫn chiếm được cảm tình của số đông độc giả cho đến tận hôm nay Đó là bởi mộtđất nước có đến tám chín mươi phần trăm dân số là nông dân ở nông thôn, nên

“nàng nhà quê của Nguyễn Bính” có một sức sống phi thường! Cùng với thời gian,thơ Nguyễn Bính ngày càng “làm tổ” vững chắc trong tâm hồn “người nhà quê vẫncòn ẩn náu trong lòng ta”

Trang 3

Nhìn một cách khái quát, quá trình nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính có thểchia làm ba giai đoạn: trước Cách mạng tháng 8/1945; sau Cách mạng tháng 8/1945đến 1975; và từ sau 1975.

Trước Cách mạng 8/1945

Phần lớn những sáng tác THƠ có giá trị của Nguyễn Bính được ra đời trong giaiđoạn này, và đương thời ông đã nhận được sự mến mộ của đông đảo người đọc Tuynhiên, sự quan tâm của giới nghiên cứu đến với thơ ông chưa nhiều Điều này đã được

Hoài Thanh lý giải trong “Thi nhân Việt Nam” như sau: “…Cái đẹp kín đáo của những

vần thơ Nguyễn Bính, tuy cảm được một số đông công chúng mộc mạc, khó lọt vàocon mắt các nhà thông thái thời nay Tình cờ có đọc thơ Nguyễn Bính họ sẽ bảo: “Thơnhư thế này thì có gì ?” Họ có ngờ đâu họ đã bỏ rơi một điều mà người ta không thểhiểu được bằng lý trí, một điều quý vô ngần “hồn xưa của đất nước” Và nhất là ở câunhận định này: “Cái đặc sắc của Nguyễn Bính, chỗ Nguyễn Bính hơn các nhà thơ khác,

ít được người ta nhìn thấy”.[56] Với “con mắt xanh” của một nhà nghiên cứu tài hoa,Hoài Thanh đã phát hiện ra nét đẹp đậm đà, kín đáo, trong hồn thơ Nguyễn Bính Hơnthế, đó còn là vẻ đẹp rất riêng, không thể lẫn với những nhà thơ khác cũng viết về làngquê như Bàng Bá Lân và Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ

Cùng thời với Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan – tác giả của cuốn sách “Nhà văn hiện đại” – một trong hai công trình phê bình văn học lớn nhất thời ấy, cũng phát

hiện ra “thứ tình quê phác thực” được toát lên từ những câu thơ mang dáng vẻ “thựcthà”, “hai lần hai là bốn” của Nguyễn Bính [tr701/44]

Giai đoạn này, việc nghiên cứu về tác giả Nguyễn Bính chỉ mới dừng lại ởnhững nhận định mở đầu mang tính khái quát Giữa thời đại Thơ mới đang trăm hoađua sắc, phải là những người có con mắt cảm thụ nghệ thuật tinh đời như các tác giả

“Thi nhân Việt Nam” mới có thể nhận diện được một hồn thơ độc đáo, đặc sắc như

hồn thơ Nguyễn Bính

Sau Cách mạng 8/ 1945 đến 1975

Sau cách mạng tháng 8/1945, đất nước bước vào cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp Do yêu cầu và hoàn cảnh của cuộc kháng chiến, của tình hình chính trị đấtnước mà suốt trong những năm từ 1945 – 1954, thơ Nguyễn Bính ít được quan tâm Đócũng là tình trạng chung đối với các tác giả trong phong trào Thơ mới Từ sau 1954,thơ Nguyễn Bính có được nhắc tới nhưng không nhiều, tập trung chủ yếu vào mảng

thơ sáng tác thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp Sau biến động của vụ báo Trăm Hoa, Nguyễn Bính dường như càng im hơi bặt tiếng trên văn đàn.

Trang 4

Ở miền Bắc, trong một số công trình viết về Thơ mới vào những năm 60 củathế kỷ trước, thơ Nguyễn Bính chỉ được điểm qua và sự khẳng định của người viếtcòn hết sức dè dặt Giới nghiên cứu tuy vẫn nhớ tới ông, nhưng vì nhiều lý do “nhạycảm” người ta đành bỏ quên ông trên trang viết.

Ở miền Nam, Nguyễn Bính được nhắc tới nhiều hơn trên các báo, tạp chí.Trong tập san Văn, Sài Gòn số 60 – số đặc biệt kỷ niệm Nguyễn Bính đã đăng hàngloạt bài viết về ông của các tác giả Vũ Bằng, Nguyễn Phan, Sơn Nam, Thái Bạch…

Nguyễn Bính còn xuất hiện trong một số cuốn sách như: “Việt Nam thi nhân tiền chiến” của Nguyễn Tấn Long, Nguyễn Hữu Trọng (Quyển thượng, 1968); “Việt Nam văn học sử giản ước tân biên” của Phạm Thế Ngũ (1965), “Lược sử văn nghệ Việt Nam” của Thế Phong (1974) Tuy nhiên, để nói tới một công trình nghiên cứu

xứng tầm với Nguyễn Bính thì chưa có

Viết về Nguyễn Bính, tác giả Nguyễn Tấn Long nhận xét: “Khác với XuânDiệu, Huy Cận hay Hồ Dzếnh bộc lộ tâm tình quá tự nhiên như người Tây Phương,

ca tụng, mời mọc yêu đương, cổ võ sự khao khát ái tình, đề cao yêu thương thèmmuốn, lãng mạn đến cao độ Nguyễn Bính cũng không giống một Lưu Trọng Lư mơtình trong cõi mộng, huy hoàng, diễm ảo thì có, nhưng nó trống vắng, mông lung,tình yêu chập chờn hư hư thực thực Ngược lại, Nguyễn Bính đã dành hết tâm tìnhmình cho những cõi lòng của những cô gái mộc mạc trong nếp sống cổ xưa, bốirối, bâng khuâng trước tình yêu tha thiết mà không dám cưỡng mệnh mẹ cha, hoặcphá vỡ nề nếp cũ, rẹt dè, e ngại trước bức tường đạo lý nghìn đời để rồi tình duyên

lỡ làng, chỉ còn biết khóc than, rên rỉ.” [tr279/16].

Từ 1975 đến nay

Kể từ khi Nguyễn Bính qua đời năm 1966 tại Thành Nam và trong vòng 20năm sau đó, những sáng tác của ông dường như vẫn bị giới nghiên cứu, phê bìnhvăn học buông lơi Cho đến tận sau đổi mới 1986, chính sách mở của văn nghệ đãtạo điều kiện cho giới nghiên cứu được tung cây bút trong bầu khí quyển tự do thực

sự Lúc này, người ta tìm đến Nguyễn Bính, háo hức như đi đào xới một kho tàngchưa phát lộ Thơ Nguyễn Bính được nghiên cứu rất rầm rộ và đạt được nhiều thànhtựu đáng kể Những sáng tác thơ của ông dần được hồi sinh và chứng tỏ sức sốngmạnh mẽ của nó Đã hơn 25 năm nữa trôi qua, kể từ sau đổi mới, người ta vẫn viết

về ông, nhắc đến ông như một tài năng thi ca đích thực

Đầu tiên là sự xuất hiện liên tục của những sưu tập, tuyển tập thơ NguyễnBính Ngoài những công trình in chung thì hàng chục tập thơ riêng của ông được

Trang 5

lần lượt xuất bản, tái bản nhiều lần Điều đó cho thấy cái nhìn của giới nghiên cứuđối với Nguyễn Bính và thơ ông đã “thông thoáng” hơn! Tiếp đó, khi giới nghiêncứu vào cuộc đông đảo, những cuốn sách viết về cuộc đời, con người và đặc sắcsáng tạo của nhà thơ cũng tiếp tục ra đời Khá nhiều đoạn đời Nguyễn Bính đượcdựng lại, dù có khi chỉ thông qua những giai thoại Ngoài một số công trình sưutầm, tuyển chọn những bài viết đặc sắc của nhiều tác giả như:

Nguyễn Bính - thi sĩ của thương yêu : Chuyên đề / Sưu tầm và biên soạn:

Hoài Việt Nxb Hội nhà văn, 1990

Nguyễn Bính thơ và đời / Hoàng Xuân tuyển chọn Nxb Văn học, 1998 Nguyễn Bính – Nhà thơ chân quê/ Thảo Linh tuyển chọn và biên soạn Nxb

Văn hoá Thông tin, 2000

Nguyễn Bính - về tác gia và tác phẩm/ Hà Minh Đức, Đoàn Đức Phương

tuyển chọn và giới thiệu Nxb Giáo dục, 2001

Nét độc đáo trong thơ Nguyễn Bính / Hoàng Xuân tuyển chọn Nxb Văn hoá

Thông tin, 2008

Còn có những công trình nghiên cứu rất công phu, khai thác được nhiều vấn

đề trong sáng tác của Nguyễn Bính Có thể kể đến như:

Nguyễn Bính - thi sĩ của đồng quê / Hà Minh Đức Nxb Giáo dục, 1995.

Ba đỉnh cao thơ mới Xuân Diệu - Nguyễn Bính - Hàn Mặc Tử / Chu Văn

Sơn Nxb Giáo dục, 2000

Nguyễn Bính - hành trình sáng tạo thi ca / Đoàn Đức Phương Nxb Giáo dục, 2005.

Theo thống kê số liệu tại thư viện Quốc gia Việt Nam, những công trình viếtriêng về Nguyễn Bính đến nay phải lên tới con số trên dưới 40 đầu sách Đó là chưa

kể những cuốn được tái bản lại nhiều lần Chứng tỏ rằng, không chỉ có giới nghiêncứu quan tâm đến Nguyễn Bính mà lượng độc giả yêu mến thơ ông cũng là một con

số không nhỏ Hiếm có nhà thơ nào lại dành được những tình cảm ưu ái lớn như vậy

từ người đọc trong suốt một thời gian dài như Nguyễn Bính Trong các bài giớithiệu, nghiên cứu, các chuyên luận về văn chương, đặc biệt là các công trình viết vềThơ mới, sự góp mặt của Nguyễn Bính là không thể thiếu, giống như một thànhviên quan trọng và chủ yếu của giai đoạn thơ này Rất nhiều nhà nghiên cứu phêbình văn học như Tô Hoài, Hà Minh Đức, Chu Văn Sơn, Lại Nguyên Ân, Đỗ LaiThúy, Tôn Phương Lan, Nguyễn Đăng Điệp, Lê Quang Hưng…đã viết về NguyễnBính với tình cảm yêu mến, trân trọng và cảm phục Trên báo chí, các trang mạngđiện tử, những bài viết về Nguyễn Bính liên tục được đăng tải, không chỉ có độc giả

Trang 6

cả nước mà còn thu hút sự quan tâm của bạn đọc nước ngoài Ông vinh dự giữ một

vị trí xứng đáng trong “Từ điển văn học” Tác phẩm của Nguyễn Bính được đưa vào

giảng dạy ở chương trình phổ thông, Đại học, trở thành đề tài nghiên cứu của nhiềusinh viên, học viên, nghiên cứu sinh

Cho đến nay, không còn ai thấy băn khoăn về những điều chê khen đối vớithơ Nguyễn Bính Vị trí của ông trên thi đàn đã được khẳng định vững chắc Cácnhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng, giá trị của thơ Nguyễn Bính chính là ởnhững câu thơ đậm chất “chân quê”, “hồn quê”, “tình quê”, đậm đã bản sắc dân tộc,

mà vẫn rất “Thơ mới” Với bề dày lịch sử nghiên cứu như trên, thơ Nguyễn Bính đãđược khai thác khá sâu sắc trên nhiều phương diện, cả về nội dung tư tưởng đếnphong cách nghệ thuật, nhưng không hẳn là không còn những khoảng trống

2.2.2 Khái quát lịch sử nghiên cứu về thơ Vũ Hoàng Chương

Vũ Hoàng Chương được đánh giá là một hiện tượng thơ khá phức tạp, cả về lýlịch, cuộc đời cũng như những sáng tác của ông Mặc dù được sánh ngang với nhữngthi nhân nổi tiếng của phong trào thơ mới như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên,Hàn Mặc Tử… nhưng cho đến nay, số lượng những bài nghiên cứu về thơ Vũ HoàngChương còn rất ít ỏi, rải rác, chưa mang tính chuyên sâu Xuất hiện khi Thơ mới đãbước sang buổi xế chiều, lại thêm những vấn đề chính trị mang tính thời cuộc đối vớivăn học thời trước cách mạng, thơ Vũ Hoàng Chương bởi thế ít được chú ý, thậm chí

có giai đoạn bị lên án, tới mức thơ ông đã im tiếng trong một thời gian khá dài Tronggiới hạn tư liệu hiện có, điểm lại những công trình lớn nhỏ có đề cập đến thơ VũHoàng Chương, có thể thấy rằng đến nay, tuy tình hình nghiên cứu đang có những khởisắc, hứa hẹn mới, nhưng chưa đạt đến độ toàn diện, sâu sắc cần thiết

Trước Cách mạng 8/1945

Giai đoạn này những sáng tác của Vũ Hoàng Chương chưa được chú ý

nhiều “Thi nhân Việt Nam” của tác giả Hoài Thanh và “Nhà văn hiện đại” của Vũ

Ngọc Phan là những cuốn sách đầu tiên có ý kiến đánh giá về thơ Vũ HoàngChương Trong những nhận định mang tính khái quát về Vũ Hoàng Chương, giữahai nhà nghiên cứu đã thể hiện những quan điểm đánh giá không đồng nhất

Trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh viết: “Ý giả Vũ Hoàng Chương

định nối cái nghiệp những thi hào xưa của Đông Á: cái nghiệp say Người say đủthứ: say rượu, say đàn, say ca, say tình đong đưa Người lại còn “hơn” cổ nhânnhững thứ say mới nhập cảng: say thuốc phiện, say nhảy đầm Bấy nhiêu say sưađều nuôi bằng một say sưa lớn hơn mọi say sưa khác: say thơ…kể, cái say sưa của

Trang 7

Vũ Hoàng Chương là một thức say sưa có chừng mực, say sưa mà không hẳn là trụylạc, mặc dầu từ say sưa đến trụy lạc đường chẳng dài chi.”[56]

Bài viết về Vũ Hoàng Chương trong “Nhà văn hiện đại” của Vũ Ngọc Phan

có đoạn:

“… Vũ Hoàng Chương rất chú trọng đến sự gọt rũa lời thơ, nên thơ ông làthơ của một thanh niên mà nhiều lúc giọng già cóc cách… Đọc thơ ông người tathấy ít cảm động… người ta có cái cảm tưởng đó chỉ là những lời nhớ hão, thươnghờ… Thơ của Vũ Hoàng Chương không có tư tưởng gì đặc biệt, chỉ nhờ vào âmđiệu và sự lựa chữ rất nhiều, một khi âm điệu kém và cẩu thả trong sự dùng chữ, bàithơ của ông không còn chất say nữa và cũng không còn làm ai say được… Cùng vớiLưu Trọng Lư, ông thuộc vào những thi sĩ nửa cũ nửa mới và có thể tiêu biểu chohạng thanh niên có những tư tưởng lông bông, chán nản, tuy cuộc sống còn dài mà

đã thấy cuộc đời mình già cỗi và buồn tênh.[44]

“…Trong tập Thơ say, Mây của Vũ Hoàng Chương, ta đã thấy xuất hiện xu

hướng trau chuốt, đẽo gọt hình thức chủ nghĩa Có lúc Vũ Hoàng Chương ru người

đọc bằng âm thanh nhịp điệu hơn là bằng những rung cảm chân thành (Say đi em)

….“Một số bài thơ của Vũ Hoàng Chương chính là loại thơ “trơ trẽn”, “lõa lồ” mà

Xuân Diệu và Huy Cận đã phê phán… Con đường trụy lạc, con đường tìm cảm giácnồng cháy, mới lạ chính là con đường tự hủy hoại, chết chóc… Từ con đường cangợi trụy lạc, ca ngợi xác thịt của Vũ Hoàng Chương đến con đường quay lưng lạivới cách mạng cũng không phải là xa lắm!” (tr93/8)

Ở miền Nam, tình hình nghiên cứu Vũ Hoàng Chương sôi nổi hơn Tên tuổi

và các sáng tác của ông xuất hiện nhiều trên báo, tạp chí Năm 1964, Báo Văn Hóa

Trang 8

Nguyệt san, Sài Gòn có đăng bài “Đọc lại thơ Vũ Hoàng Chương” của tác giả ĐoànThêm Năm 1969, Tạp chí Văn Học, Sài Gòn, số 97, có bài của Vũ Bằng, Bàng BáLân, Dương Thiệu Mục Tạp chí Văn, Sài Gòn, số 150, tháng 3/1970 với bài viếtcủa tác giả Nguyễn Mạnh Côn đã cung cấp khá đầy đủ về tiểu sử Vũ Hoàng

Chương Giai phẩm Văn, Sài Gòn, 20/8/1974, đăng bài “Vũ Hoàng Chương qua Thơ Say” của Lê Lưu Oanh.

Ngoài ra, thơ Vũ Hoàng Chương còn được nhắc đến trong một số công trình

nghiên cứu của các tác giả như “Việt Nam thi nhân tiền chiến” của Nguyễn Tấn Long, Nguyễn Hữu Trọng (Quyển thượng, 1968); Uyên Thao (Thơ Việt Nam Hiện Đại (1900-1960), NXB Đại Nam, Sài Gòn 1969), Tạ Tỵ (Mười gương mặt văn nghệ, NXB Kim Lai, 1970) Đây là những tác giả có sự đánh giá cao đối với các sáng tác của họ Vũ Trong “Mười Gương mặt văn nghệ”, Tạ Tỵ viết:

“Thơ Vũ là tiếng thở dài của phương Đông trầm mặc tiếng thở dài đó cất lêngiữa vòm trời rất đỗi buồn thương, ray rứt trong mỗi vần điệu Sau những cố gắng đitìm cho chính mình luồng sinh khí mới, nếp suy cảm mới, rốt cuộc, tiếng nói của Vũvẫn nguyên vẹn là niềm u uất, mệt mỏi, chán chường! Vũ muốn dìm chết dĩ vãng trongTrời – Quên – Lửa - Khói, nhưng sau mỗi cơn say tự dưới đáy vực, Vũ cảm thấy tâmhồn mình càng lún sâu xuống Địa – Ngục – quá – Khứ Nó quật ngã Vũ lúc nào nómuốn Nó là định mệnh Nó bám riết lấy Vũ với dằn vặt trường miên, với hờn thương

vô độ Nó nhập vào thơ Vũ Nó chứng minh sự phai tàn của một thế hệ…”[67]

Từ 1975 đến nay

Sau 1975, đặc biệt từ sau đổi mới đến nay, khi cái nhìn đối với Thơ mới trởnên cởi mở, khách quan, thì thơ Vũ Hoàng Chương cũng được nhắc đến nhiều hơntrên văn đàn Thi phẩm của ông nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu.Hàng loạt những cuốn sách viết về Thơ mới được xuất bản sau năm 1986, và đâychính là giai đoạn người ta đánh giá về Thơ mới phong phú, thích đáng hơn cả VũHoàng Chương cũng không nằm ngoại lệ, quan trọng hơn là việc đánh giá thơ ông

đã có nhiều chiều hướng tích cực

Năm 1992, Đỗ Lai Thúy cho ra mắt độc giả cuốn “Con mắt thơ” (Phê bình phong cách Thơ mới) Dù xung quanh sự ra đời của tập sách có nhiều dư luận, nhưng

có thể nói, đây là công trình đầu tiên có một bài viết công phu, tỉ mỉ về Vũ Hoàng

Chương và thơ ông Qua hai tập thơ “Thơ say”, “Mây” tác giả đã khái quát cuộc hành

trình sáng tạo của thi sỹ đi từ Say đến Tỉnh (Mùa – yêu – cưới – lỡ làng) và Lại say

(Mây), từ đó lý giải thế giới tâm hồn phức tạp, đầy bí hiểm của Vũ Hoàng Chương

Trang 9

Năm 1997, cuốn Một thời đại trong thi ca (về phong trào Thơ mới 1932 -1945) được xuất bản Trong đó, tác giả của cuốn sách đã dành một phần dung lượng để viết riêng về “Thơ tình Vũ Hoàng Chương” Tuy số lượng trang không

nhiều, nhưng đây được coi là công trình đầu tiên đánh giá về thơ Vũ trên một khíacạnh cụ thể Về thơ tình Vũ Hoàng Chương, tác giả Hà Minh Đức đã nhận định:

“Có một Vũ Hoàng Chương trong thơ với mạch thơ tình cảm hiền hòa, lưu luyếnđến ngây thơ và cũng có một Vũ Hoàng Chương từng trải, đắm say trong tình cảmlứa đôi để rồi chán chường, tuyệt vọng”… “Thơ tình Vũ Hoàng Chương cũng đượcviết ra với ngòi bút tài hoa và điêu luyện Vũ Hoàng Chương có một thi pháp sángtạo khá độc đáo… Điệu thơ trôi chảy, vần gieo nhẹ nhàng mà âm vang gợi cảm,ngôn từ lả lướt trôi đi theo mạch thơ…”[15]

Năm 1998, trong cuốn “Tinh hoa Thơ mới, thẩm bình và suy ngẫm”, tác giả

Lê Quang Hưng đã có một bài viết rất hay về “Say” – thi phẩm được đánh giá làxuất sắc nhất trong sáng tác của thi sỹ họVũ Trong bài viết, tác giả có nhận định:

“Vũ Hoàng Chương lại thường say vì sầu, vì ngao ngán, say đến điên rồ để “khôngcòn biết chi đời”… Ở chặng cuối con đường của cái Tôi cá nhân Thơ mới, VũHoàng Chương đã đào sâu vào tận cùng bản thể để thấm thía nỗi cô đơn, trống lạnh.Khi ấy, cái Tôi cá nhân càng phải gấp gáp tìm các cách trốn mình, trốn đời Và VũHoàng Chương đã chọn lối “đưa hồn say về tận cuối trời Quên” trên đôi cánh củanàng Men, nàng tiên Nâu, bằng đê mê trong những khoái lạc của trần tục.” [18]

Trong những năm gần đây, trên các trang mạng văn học trong và ngoài nước,hàng loạt các bài viết về Vũ Hoàng Chương được đăng tải Số lượng tương đốinhiều, song chưa đạt được những thành tựu đáng kể

Nhìn lại lịch sử nghiên cứu về tác giả Vũ Hoàng Chương qua những chặngđường, có thể thấy thơ ông ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu.Tuy nhiên, cho đến thời điểm này vẫn chưa có công trình nào viết về Vũ Hoàng Chương,một cách công phu, đầy đủ, hệ thống, sâu sắc, và đó là một thiếu sót, một khoảng trốnglớn cho những người nghiên cứu văn học nói chung và yêu thơ Vũ nói riêng

2.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề “cảm thức thân phận trong thơ Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương trước 1945”.

Vấn đề “cảm thức thân phận trong thơ Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương” đãđược đề cập xa gần trong một số công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước.Trong giới hạn tài liệu hiện có và sự nắm bắt của bản thân, người viết xin dẫn rađây một số ý kiến tiêu biểu nhất

Trang 10

2.2.1 Trong “Mười gương mặt văn nghệ”, tác giả Tạ Tỵ đã có những lời

đánh giá về cả Nguyễn Bính và Vũ Hoàng Chương:

“Sinh ra trong một hoàn cảnh khốn khó không đủ phương tiện ăn học, lớnlên Tình Yêu làm thui chột ước mơ, ở lãnh vực Thi Ca Bính cũng không làm saothoát ra khỏi khuôn thước tầm thường của nhân thế Nhưng đó không phải là cái dở

mà chính là sự may mắn cuối cùng mà Thượng Đế dành cho Bính, tuy rằng sự may

mắn đó Bính phải trả bằng nước mắt với muôn vạn nhục nhằn Sự lỡ dở do Tình Yêu, do cuộc đời, do bạn hữu, do bản thân tạo nên, tất cả như tan vào nhau để làm

cho tiếng thơ buồn của Bính vút lên rồi toả ra những làn ánh sáng kỳ diệu giữa trờithơ nước Việt hôm qua, hôm nay và mãi mãi.” [67]

“ Sự “đầu thai lầm thế kỷ” mà Vũ đã viết ra, hét to lên trong cơn mê loạn củathể xác, trong nỗi vò xé của tâm linh trước cuộc sống nghẽn lối, trước cơn bi phẫncủa con chim bị trúng tên rã cánh, nhìn trời cao mà không vút lên được, nhìn tráingọt mà không vừa an hưởng, nhìn thân phận trôi đi, trôi đi như ảo ảnh để nuối tiếcgiấc mơ thành bướm thuở nào.”[67]

2.2.2 Nhà phê bình Thanh Việt trong bài viết “Tình yêu trong thơ Nguyễn

Bính” có đoạn ghi:

“Thơ Nguyễn Bính là tiếng lòng buồn bã, lỡ làng của trái tim đang thổn thức yêuđương và đến với người đọc như một cô gái quê kín đáo, duyên dáng Thơ tình NguyễnBính được nhiều bạn đọc yêu mến ở cả nông thôn và thành thị, miền Bắc và miền Namcũng bởi tính chất mộc mạc, sâu sắc, tế nhị, hợp với phong cách Á Đông.”[tr162/31]

Cũng trong bài viết này, tác giả Thanh Việt đã có đoạn so sánh giữa thế giớitình yêu trong thơ Nguyễn Bính với thế giới tình yêu trong thơ Vũ Hoàng Chương:

Thế giới quan chi phối sáng tác của nhà thơ Vũ Hoàng Chương trốn vào tìnhyêu nhưng tình yêu ấy xen nhiều nhục thể và không có chỗ bám víu nào vững chắc,

đi ra ngoài cuộc đời Nguyễn Bính không ở trong tình cảnh thoát ly, nhà thơ vẫngắn bó với cuộc đời Sự tưởng tượng trong thơ tạo nên một thế giới ảo gần gũi vớicuộc đời thật và có mối liên hệ với cuộc đời thực.[31]

2.2.3 Trong cuốn “Một thời đại trong thi ca” của tác giả Hà Minh Đức có

đoạn viết:

“Vũ Hoàng Chương không tìm được sự hòa hợp với cuộc đời chung cho dù

là một khoảnh khắc và một mảnh đất riêng tư nào Chuyện thành bại trực tiếp là ởtác giả song cũng có nguyên nhân sâu xa trong đời Thời cuộc lúc này như vây hãmmọi người trong vòng tù túng, tước bỏ những khả năng và uốc mơ sáng tạo Chính

Trang 11

Xuân Diệu cũng phải thốt lên “Chúng ta nay trong cuộc thế ao tù” và Huy Cận cũngcầu mong sự giải thoát ở Thượng đế Tù hãm, bơ vơ, chốn trần thế này chẳng cònhứa hẹn một điều gì Vũ Hoàng Chương đã nói lên cảm giác lạc loài của một kẻkhông tìm thấy những mối liên hệ với cộng đồng và rơi vào tình trạng mất phươnghướng, buông xuôi như con thuyền mặc cho đời vỗ sóng.” [tr219/15]

2.2.4 “Ba đỉnh cao thơ mới” của nhà phê bình Chu Văn Sơn là một công

trình nghiên cứu khá đầy đủ về Nguyễn Bính, tác giả cuốn sách đã có những lờiđánh giá rất sâu sắc về thơ ông:

“Nguyễn Bính là tiếng lòng bất an của anh chàng tiểu nông, là tiếng lòng bất ancủa thời đại Đứt rễ khỏi đất cũ, chưa bén rễ vào đất mới, lòng thời héo hon, lá thời héo

úa Nguyễn Bính là tiếng lòng héo hắt của cuộc biên thiên kia [tr131/69]…Cái tôiNguyễn Bính từ bỏ quê để luôn khắc khoải nhớ quê, tìm vào đô thị để chán chường đôthị, tìm kiếm công danh chỉ gặp dở dang, theo đuổi tình duyên chỉ gặp lỡ làng; dứt bỏbồn phận để chạy theo khát vọng: bổn phận không tròn, khát vọng ta vỡ Cái gì của ó

cũng lỡ dở Cho nên Nguyễn Bính là cái tôi lỡ dở của thời đại ấy Tôi cho rằng chính

Nguyễn Bính chứ không phải ai khác, mới là nhà thơ mang đầy đủ tấn bi kịch của thờiđại mình – một tâm trạng bất đắc trí mênh mông dằng dặc.”[tr144/69]

2.2.5 Tác giả Đoàn Đức Phương trong công trình “Nguyễn Bính hành trình sáng tạo thi ca” có đoạn viết về Nguyễn Bính như sau:

“Thật đúng khi có ý kiến cho rằng Nguyễn Bính là người lái đò qua lại giữahai bờ nông thôn và thành thị trên khúc sông của buổi giao thời: “Bỏ lại vườn cam

bỏ mái gianh/ Tôi đi dan díu với kinh thành” (Hoa với rượu) Nguyễn Bính thường

coi hành động bỏ lại vườn cam để ra sống ở kinh thành của mình là chuyện lỡ bước sang ngang và bản thân ông là chim kìa đàn Với một thôn dân như ông, khuôn mặt thành thị hiện ra thật xa lạ, nó mang nghĩa đối lập với nông thôn (phồn hoa đối thanh đạm, xứ người đối quê mình), nó gắn liền với những gì dễ đổi thay, bất an,

tha hóa… Tất cả những điều đó tạo cho con người cảm giác lạc loài, bơ vơ và lo âu

mà Nguyễn Bính định danh đó là sầu đô thị.”[49]

Nhìn lại khái quát lịch sử nghiên cứu về hai tác giả Nguyễn Bính, Vũ HoàngChương, có thể thấy: Riêng về Nguyễn Bính, tuy được giới nghiên cứu hết sức quantâm, nhưng vấn đề “cảm thức thân phận” hiện nay chưa có công trình nào nghiêncứu một cách đầy đủ Đã có nhiều cuốn sách, bài báo, khóa luận xa gần nói đến vấn

đề này nhưng chỉ dừng lại ở một khía cạnh nào đó Đối với Vũ Hoàng Chương,như trên đã thấy, lịch sử nghiên cứu về thi nhân chưa nhiều, và chủ yếu mới tập

Trang 12

trung vào mảng đề tài “tình yêu”, “thú say”, hoặc thẩm bình một số bài thơ tiêu biểucủa tác giả Tính đến thời điểm này, vấn đề “cảm thức thân phận” trong thơ trước

1945 của hai thi sỹ vẫn đang bỏ ngỏ và là đề tài đáng được quan tâm Đặc biệt, việcnghiên cứu một cách sóng đôi cảm thức thân phận của cả hai thi sỹ (vốn rất khácnhau về phong cách) thực sự là một đề tài mới mẻ và hấp dẫn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn hướng tới đối tượng nghiên cứu là các tập thơ của hai tác giả NguyễnBính và Vũ Hoàng Chương sáng tác trong thời kì Thơ mới Đó là các tập thơ:

4 Nhiệm vụ của đề tài

Với đề tài “Cảm thức thân phận trong thơ Nguyễn Bính và Vũ HoàngChương trước Cách mạng tháng Tám”, chúng tôi xác định những nhiệm vụ chủ yếucủa luận văn như sau:

4.1 Xác định khái niệm cảm thức thân phận và phân tích cơ sở hình thành

nên cảm thức ấy trong thơ Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương

4.2 Phân tích những biểu hiện của cảm thức thân phận trong thơ NguyễnBính, Vũ Hoàng Chương

4.3 Tìm hiểu phương thức thể hiện cảm thức thân phận của hai nhà thơ Sosánh những nét độc đáo về phương thức thể hiện cảm thức thân phận giữa hai nhàthơ và với các thi sỹ khác của phong trào thơ mới

Trang 13

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thống kê, phân loại

Chúng tôi sử dụng phương pháp này trong việc khảo sát, thống kê và phânloại những tác phẩm có nội dung biểu hiện về cảm thức thân phận của hai nhà thơ

5.2 Phương pháp so sánh – đối chiếu

Chúng tôi sử dụng phương pháp này trong trường hợp so sánh những néttương đồng và khác biệt về cảm thức thân phận và phương thức thể hiện của hai thinhân, đồng thời chúng tôi cũng sử dụng phương pháp này trong khi so sánh với cácthi nhân khác của phong trào Thơ mới

5.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Được sử dụng trong việc trình bày và phân tích các luận điểm, luận chứng cụthể, từ đó đưa ra những đánh giá có tính chất tổng hợp, khái quát chung cho từngphần, từng chương và toàn bộ luận văn; giúp cho việc nghiên cứu đề tài có tínhthuyết phục cao

5.4 Phương pháp lịch sử

Xem xét, phân tích cảm thức thân phận của hai thi sỹ Nguyễn Bính, Vũ HoàngChương trong bối cảnh xã hội, tình hình văn hóa, tư tưởng của thời đại những nămtrước cách mạng, đồng thời đặt nó trong bối cảnh chung của phong trào Thơ mới Từ

đó, có được cái nhìn, cách lý giải, đánh giá vấn đề sâu sắc, thấu đáo hơn

5.5 Phương pháp hệ thống

Vấn đề cảm thức thân phận trong thơ Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương đượcnhìn nhận một cách có hệ thống với những nội dung biểu hiện phong phú, được đặttrong nhiều cảm xúc khác của phong trào Thơ mới 1932- 1945

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tư liệu tham khảo, Phần nội dung của luậnvăn bao gồm ba chương chính như sau:

Chương I: Khái niệm cảm thức thân phận Những nhân tố tạo nên cảm thức thân phận trong thơ Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương

Chương II: Những biểu hiện của cảm thức thân phận trong thơ Nguyễn Bính,

Vũ Hoàng Chương

Chương III: Cảm thức thân phận trong thơ Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương nhìn về mặt phương thức biểu hiện

Trang 14

CHƯƠNG I KHÁI NIỆM CẢM THỨC THÂN PHẬN NHỮNG NHÂN TỐ TẠO NÊN CẢM THỨC THÂN PHẬN TRONG THƠ

NGUYỄN BÍNH, VŨ HOÀNG CHƯƠNG

1 Khái niệm “Cảm thức” và “Cảm thức thân phận”

1.1 Khái niệm cảm thức

Theo Từ điển Tiếng Việt của NXB Đà Nẵng năm 2006 do tác giả Hoàng

Phê chủ biên, khái niệm “cảm thức” được định nghĩa như sau:

“Cảm thức là điều nhận thức được bằng cảm quan; nhận thức cảm giác.”Theo ý kiến của PGS TS Lê Quang Hưng:

Cảm: là cảm xúc, cảm giác

Thức: là nhận thức

“Cảm thức là sự tổng hòa hữu cơ giữa nhận thức bằng lý trí tỉnh táo với cảm giác

tự nhiên, từ trong vô thức Hay có thể nói theo cách khác, cảm tức là sự nhận thức củacon người một cách đầy đủ, bao gồm cả nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính.”

1.2 Khái niệm “Cảm thức thân phận”

Để hiểu được khái niệm “Cảm thức thân phận”, trước hết chúng ta cần hiểukhái niệm “thân phận” được định nghĩa như thế nào

“Thân”: Là phần cá nhân, riêng tư của mỗi người

“Phận”: Dùng để chỉ cương vị, địa vị của con người trong xã hội

“Thân phận”: Vị trí, địa vị của cá nhân trong xã hội

Từ đó, “Cảm thức thân phận” được hiểu là sự nhận thức và cảm xúc của cánhân về vị trí, giá trị bản thân mình trong đời sống Cảm thức thân phận bởi thế làmột biểu hiện tiêu biểu của “cái tôi” cá nhân

Cùng với sự hình thành của ý thức cá nhân, cảm thức thân phận thường xuấthiện khi con người bị đẩy vào hoàn cảnh khó khăn, bất lợi Khi đó, họ nhìn nhận lạichính bản thân mình, ngẫm nghĩ về cuộc đời, và thể hiện thái độ với nó Ý thức cánhân càng phát triển thì cảm thức thân phận càng phong phú, sâu sắc, thậm chíchạm tới cả phần vô thức trong con người Ở những cá nhân có tài năng, có lýtưởng, nhưng bị rơi vào hoàn cảnh bất lợi, thì cảm thức thân phận trở nên rõ ràng,

đa dạng và càng sâu sắc hơn rất nhiều

Những người nghệ sỹ, nhất là những văn sỹ, thi sỹ thì có lẽ ý thức cá nhânlại luôn thường trực trong tâm hồn của họ Chính vì thế mà cảm thức thân phận

Trang 15

dường như cũng song hành với suy nghĩ và tình cảm của người nghệ sỹ Cảm thứcthân phận là một thứ “ăng-ten” vô cùng nhạy cảm đối với các nhà văn, nhà thơtrong xã hội xưa Bởi vì, hỏi có thi sỹ, văn sỹ nào trong nào trong lịch sử văn họccủa dân tộc trước đây mà không đói nghèo và đau đớn về tâm hồn, và có biết bao bikịch trong cuộc đời ? Từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ XuânHương, đến Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát hay Tú Xương, Tản Đà, cùng các thinhân của “Phong trào thơ mới 1932-1945” mỗi người đều đem theo những nỗiniềm tâm sự riêng, mà có người còn nghĩ đến “bất tri tam bách dư niên hậu, thiên hạ

hà nhân ” có ai là người hiểu thấu cho tâm sự, nỗi buồn hay “thân phận” của mìnhkhông?

2 Cơ sở hình thành cảm thức thân phận trong thơ Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương

2.1 Cảm thức thân phận trong văn học Việt Nam trước thời kỳ Thơ mới

Ở mỗi giai đoạn lịch sử, giai đoạn văn học, do sự chi phối của những yếu tố vănhóa tư tưởng, trình độ tri thức, lý tưởng thẩm mỹ và nhu cầu sống của mỗi con người màcảm thức thân phận được bộc lộ với nhiều diện mạo và những cung bậc khác nhau

2.1.1 Trong văn học, cảm thức thân phận đã xuất hiện khởi nguồn từ dòngvăn học dân gian Tất nhiên, cảm thức thân phận thể hiện trong mọi thể tài của vănhọc dân gian, nhưng biểu hiện tập trung hơn cả, ta thấy xuất hiện nhiều ở mảng cadao than thân, nhất là chủ đề tình duyên và hạnh phúc lứa đôi

Ca dao là những sáng tác truyền miệng, thường được làm theo thể thơ lụcbát, là tiếng nói trữ tình đằm thắm của nhân dân lao động Nội dung của của ca daorất phong phú và chân thực Tuy nhiên, việc biểu hiện cảm thức thân phận trong cadao thường chủ yếu tập trung ở hai chủ đề là tình yêu, hôn nhân và cuộc sống laođộng sản xuất của người bình dân Bởi đó là những vấn đề gắn bó trực tiếp và liênquan đến tâm tư nguyện vọng của họ

Người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa kia là những người vốn phải chịunhiều đau khổ, bất hạnh Với quan niệm trọng nam kinh nữ của Nho giáo, ngườiphụ nữ không làm chủ được cuộc sống hôn nhân và tình duyên của mình, khôngđược thể hiện quyền sống, quyền làm người của cá nhân Tiếng lòng xót xa, cayđắng, nhiều khi uất nghẹn vì những chuyện tình duyên lỡ làng, vì thân phận làm lẽ,làm dâu với bao nhiêu thiệt thòi, uất ức cất lên trong những bài ca dao xưa kiachính là một biểu hiện rõ nét nhất về cảm thức thân phận của họ

Trang 16

Có biết bao “khúc đoạn trường” trong trái tim của các cô gái ngày xưa khibước chân vào ngưỡng cửa của tình duyên Xinh đẹp, tài hoa mà đâu có đượchưởng hạnh phúc! Nhiều khi cay đắng, bất hạnh lại nảy sinh từ chính vẻ đẹp và sựtài hoa ấy:

Thân em như ớt chính cây Càng đỏ ngoài vỏ, càng cay trong lòng

hoặc có khi là những tình duyên ngang trái do muôn vàn sợi tơ của lễ giáophong kiến trói buộc mà tình duyên chân chính của họ nhiều khi phải chôn vùitrong sâu thẳm trái tim:

Em như con hạc đầu đình Muốn bay chẳng cất nổi mình mà bay!

Những giá trị về nhân phẩm của họ nhiều khi cũng bị vùi lấp bởi thước đo làđồng tiền, phân bạc hoặc ao cá, nhà

Em như cây quế trong rừng Thơm cay ai biết, ngát lừng ai hay!

Cảm thức về thân phận của người phụ nữ xưa đôi khi bắt nguồn từ sự tự ti,

sự chịu đựng vốn là bản chất của người phụ nữ trong xã hội truyền thống:

Chàng ơi phụ thiếp làm chi Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng!

Tủi hận và buồn tái tê cho những cuộc tình duyên ngang trái là cảm hứngchủ đạo trong những bài ca dao bộc lộ cảm thức thân phận của người phụ nữ trong

xã hội phong kiến xưa kia

Nhưng không chỉ có thế! Người nông dân lao động xưa như con kiến, con còsống quẩn quanh trong lũy tre làng chịu biết bao nhiêu tai trời, ách đất và cả nhữngthống khổ do sự chà đạp của giai cấp thống trị, mà quay về hướng nào cũng bế tắc!

Họ ý thức được thân phận của mình:

Con kiến mà leo cành đa Leo phải cành cộc leo ra leo vào Con kiến mà leo cành đào Leo phải cành cộc leo vào leo ra

Khổ thì khổ vậy, cực thì cực vậy, nhưng cảm thức về nhân sinh “chết tronghơn sống đục” vẫn là nét đẹp trong ý thức về thân phận của người nông dân xưa.Bài ca dao “Con cò mà đi ăn đêm” cho thấy lóe lên cái ý thức về nhân phẩm của họ,

dù có rơi vào cảnh ngộ nào thì họ cũng như giấy rách cố giữ lấy cái lề để cho thế hệ

sau bớt đi nỗi xót đau:

Trang 17

Có sáo thì sáo nước trong Chớ sáo nước đục đau lòng cò con

Tựu trung lại, cảm thức thân phận thể hiện khá rõ nét và dường như xuyênsuốt trong nhiều bài ca dao mang chủ đề tình yêu, hôn nhân và hạnh phúc cùng vớinhững bài ca dao về thân phận, cuộc đời của người dân lao động trong xã hội phongkiến xưa kia Đó phần nhiều là tiếng lòng đau khổ, là nỗi uất ức, nghẹn ngào củanhững con người bất hạnh, sống khổ đau trong một xã hội thiếu tự do, công bằng vàdân chủ

2.1.2 Văn học viết trung đại tiến trình khởi đầu từ thế kỷ thứ X với phươngtiện văn tự Hán, đến thế kỷ XIII trở đi thì có thêm văn tự Nôm

Các tác gia văn học trung đại phần nhiều là những trí thức Hán học khoa bảngtài hoa, có người xuất sỹ làm quan to, có người trở thành văn nhân, tài tử Ấy vậy màphần nhiều họ lại đều có chung thân phận, cảnh ngộ bi kịch, trớ trêu, sóng to, gió cảtrong cuộc đời! Thông qua nhiều tác phẩm văn chương của các tác gia tiêu biểu, tacũng có thể thấy được cảm thức thân phận của tầng lớp trí thức phong kiến xưa

Thấm nhuần đạo lý cửa Khổng sân Trình, những nhân, nghĩa, lễ trí, tín và tam cương, trung, hiếu được xem là nền tảng tư tưởng và đạo đức của Nho sỹ Mọi

ứng xử và mọi mối quan hệ trong xã hội phong kiến đều dựa trên nền tảng tư tưởng

cơ bản này Cảm thức thân phận, bi kịch cá nhân đối với các tác gia trung đạithường nằm trong sự mâu thuẫn của các mối quan hệ đó!

Nguyễn Trãi (1380-1442), con người đã từng viết nên “áng thiên cổ hùng văn”

(Vũ Khâm Lân) là Bình Ngô đại cáo mà trong “Quốc âm thi tập” lại chứa đựng cả một

nỗi niềm xót xa, một “tiếng thơ kêu xé lòng” Cảm thức về thân phận của nhà thơ lànỗi niềm khắc khoải, âu lo với những nợ “quân thần”, lòng “nhân nghĩa”, tình “thândân” và cả những tâm sự chua xót khi phải đối mặt với biết bao cay đắng, lọc lừa ở

chốn quan trường Trong bài thơ Tự thuật (IX), Nguyễn Trãi viết:

Ở thế nhiều phen thấy khóc cười Năm nay tuổi đã ngoại tư mươi Lòng người một sự yêm chưng một Đèn khách mười thu lạnh hết mười?

Phượng những tiếc cao, diều hãy lượn Hoa thì hay héo cỏ thường tươi,

Ai ai đều có hai con mắt, Xanh, bạc dầu chưng mất chúng người.

Trang 18

(Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập II, VH, 1976, tr 320)

Xưa nay, những người tài hoa, trung thực thường vẫn phải đối mặt với biếtbao tai họa, còn kẻ bất tài, gian trá, xu nịnh lại dễ được hưởng vinh hoa, phú quý,

đúng như cảm thức về thân phận của nhà thơ: Hoa thì hay héo cỏ thường tươi Bi

kịch của Nguyễn Trãi là bi kịch của xung đột giữa lý tưởng và hiện thực Ông cảm

nhận một điều: Khi bão mới hay là cỏ cứng/ Thuở nghèo mới biết có tôi lành, và: Non cao non thấp mây thuộc/ Cây cứng cây mềm gió hay? Ngoài chưng mọi chốn đều thông hết/ Bui một lòng người cực hiểm thay! (Mạn thuật, số 4) Chua xót biết

chừng nào!

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) là người đỗ đại khoa, làm quan đã đến tộtđỉnh vinh hoa (Trạng nguyên, Trình quốc công), vậy mà lòng Cụ đâu có được thanhthản, thảnh thơi! Sống vắt qua hai thế kỷ (XV-XVI), với 94 tuổi đời, nhưng chỉ có 8năm làm quan, còn lại là hơn 40 năm ở ẩn tại quê nhà Nhà thơ trải nghiệm cuộc đờivới biết bao sự ngang trái, phức tạp, trớ trêu mà thời đại bấy giờ đã diễn ra ỞNguyễn Bỉnh Khiêm cảm thức thân phận gắn liền với triết lý nhân sinh Nhữngdòng thơ của Cụ về thân phận, cuộc đời dường như được đúc ra từ những kinhnghiệm sống thực tế và những tri thức mà thời đại đã truyền cho Cụ, đồng thời còn

là sự kết tinh của tài năng và cảnh ngộ cá nhân:

Áng công danh sá cắp tay Nhiều phen đã khỏi tiếng tai bay.

Hoa mai bạc, vì trăng tỏ Bóng trúc thưa, bởi gió lay.

Ưu ái chẳng quên niềm trước Thị phi biếng nói sự nay.

Đã từng trải sơn hà hết Đường thế nhiều nơi hiểm hóc thay!

(Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập II, VH, 1976, tr 639)

Đến giai đoạn giữa thế kỷ XVII-XIX, khi dòng văn học nhân đạo chủ nghĩa

ra đời với tên tuổi của những tác gia Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều, Hồ XuânHương và đặc biệt là Nguyễn Du cảm thức thân phận của các tác gia dường nhưđược biểu hiện đồng nhất với nhân vật trữ tình, và lồng vào trong tình cảm của nhânvật trữ tình Một người chinh phụ đằng đẵng chờ chồng với nỗi sầu tê tái và niềmkhát khao hạnh phúc lứa đôi đâu chỉ là tình cảm riêng tư của nàng, mà đó còn làkhát vọng chung của biết bao “thân phận” những người phụ nữ khác có chồng đang

Trang 19

ở nơi chiến trận Cảm thức về thân phận bất hạnh, thiệt thòi trong hạnh phúc lứa đôicủa mình, người chinh phụ không ngại ngần so sánh khát vọng của lòng mình với

sự ân ái lứa đôi của loài vật trong thế giới tự nhiên:

Chàng chẳng thấy chim uyên ở nội, Cũng dập dìu chẳng vội phân trương.

Chẳng xem chim én trên rường, Bạc đầu không nỡ đôi đường rẽ nhau.

Kìa loài sâu đôi đầu cùng sánh,

Nọ loài chim chắp cánh cùng bay Liễu sen là thức cỏ cây,

Đôi hoa cùng sánh đôi dây cùng liền.

Ấy loài vật tình duyên còn thế, Sao kiếp người nỡ để đấy đây?

(Chinh phụ ngâm diễn ca, VH, 2007, tr 126)

Người cung nữ trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều còn cảm

nhận được cuộc sống khô héo, buồn tủi và bất hạnh nơi cung cấm của nàng chẳngkhác nào một nấm mồ trên dương thế:

Trăm năm còn có gì đâu Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì!

hoặc:

Thảo nào khi mới chôn ra

Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra!

Nàng nhận thức được rằng, trong cuộc đời, người ta giết nhau đâu có cần đếngươm dao, mà có khi chỉ là bằng sự thờ ơ, ghẻ lạnh phũ phàng:

Giết nhau chẳng cái lưu cầu Giết nhau bằng cái u sầu, độc chưa?

(Nguyễn Gia Thiều, Cung oán ngâm khúc, VH, 2007)Đối với nữ sỹ Hồ Xuân Hương, cuộc đời chìm nổi, đắng cay đã “quệt vôi”vào những dòng thơ đầy uất ức, nghẹn ngào của bà Nếu quan niệm “Cảm thức là sựcảm nhận, nhận thức về một vấn đề nào đó”, thì thơ Xuân Hương có thể xem là sự

“nhận thức” sắc sảo về cuộc đời của những người phụ nữ trong xã hội phong kiếnphi nhân tính Nho giáo là bức tường dày ngăn cách tình yêu tự do và hạnh phúc lứađôi của người phụ nữ trong xã hội xưa Một tình duyên chân chính của đôi lứa yêu

Trang 20

nhau chưa chắc đã được xã hội cho phép, lại bị cấm ngăn Tình duyên chân thực vànồng nàn mãi chỉ là khát khao của biết bao nhiêu người con gái xưa:

Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh như lá, bạc như vôi!

(Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập III, VH, 1978, tr 396)

Những thân phận phụ nữ “làm lẽ” để phục vụ cho một xã hội đa thê lại đượcthừa nhận Còn gì đắng cay và tủi hờn hơn hôn nhân, hạnh phúc trong cảnh “kẻ đắpchăn bông, kẻ lạnh lùng”, “Năm thì mười họa hay chăng chớ/ Một tháng đôi lần cócũng không”! Phải là người trải nghiệm, người trong cuộc cùng cảnh ngộ với nhữngngười phụ nữ duyên hẩm hôi, Xuân Hương mới có “sự cảm nhận, nhận thức” mộtcách rõ ràng và đau đớn đến như thế!

Khác với cuộc đời của Xuân Hương, Nguyễn Du xuất thân trong một giađình danh gia vọng tộc, phú quý vinh hoa Nhưng rồi trong cơn “dâu bể” của thế kỷXIX, thế kỷ của nông dân khởi nghĩa, cái gia đình đại quý tộc ấy cũng bị nát tan.Nhà thi sỹ tuyệt vời tài hoa ấy, đã cảm nhận sâu sắc về cuộc đời kinh qua sau mấynăm “gió bụi” và cả những vinh hoa mà sau này trong thời kỳ làm quan to ông đượchưởng Cuộc đời con người ta nhiều khi không phải chỉ một lần bi kịch, mà là mộtchuỗi dài những bi kịch nối tiếp nhau!

Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng!

(Nguyễn Du - Truyện Kiều) Bản thân cuộc đời nhà thơ là một cuộc trải nghiệm rõ ràng nhất về những điều trông thấy này!

Xưa sao phong gấm rủ là, Giờ sao tan tác như hoa giữa đường!

Mặt sao dầy gió dạn sương Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!

Cảm thức về thân phận “tài tử” gắn với nghiệp văn chương, gặp cảnh “giainhân” chứa đầy niềm xót xa bất hạnh, nhà thi sỹ của “nỗi đau nhân tình” đã day dứtvới những “nỗi hờn kim cổ” mà bật lên tiếng kêu than Tài tử với giai nhân xưa nayđều cùng chung mệnh bạc mà!

Son phấn có thần chôn vẫn hận, Văn chương không mệnh đốt còn vương.

Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi, Cái án phong lưu khách tự mang.

Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,

Trang 21

Người đời ai khóc Tố Như chăng?

(Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập III, VH, 1978, tr 445)

Ta còn có thể nghĩ đến cảm nhận của Nguyễn Công Trứ (1778-1858) vềcuộc đời Vì để thỏa khát vọng của “chí nam nhi” mà sau bao năm lận đận trên conđường khoa cử, mãi đến năm 41 tuổi mới đỗ giải nguyên, làm quan đến Thượngtướng rồi, mà kết cục ông cũng tự ý thức về tình người, tình đời rằng:

Đéo mẹ nhân tình đã biết rồi, Nhạt như nước ốc bạc như vôi Tiền tài hai chữ son khuyên ngược Nhân nghĩa đôi đường nước chảy xuôi.

(Nhân tình bạc bẽo, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập III, VH, 1978, tr 659)

Cái chí nam nhi thời tuổi trẻ ông đã từng ca vang về nó, thì sau này, với biếtbao gềnh thác của cuộc đời “lên voi, xuống chó”, ông đã cảm nhận ra rằng:

Chen chúc lợi danh đà chán ngắt Cúc tùng phong nguyệt mới vui sao!

Đám phồn hoa trót bước chân vào Sực nghĩ lại giật mình bao kể xiết.

Mượn hình ảnh “cây thông” biểu tượng cho người quan tử trong xã hộiphong kiến xưa, Nguyễn Công Trứ ngậm ngùi, vì đời thật trớ trêu:

Ngồi buồn mà trách ông xanh Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười.

Kiếp sau xin chớ làm người, Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

(Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập III, VH, 1978, tr 660)

Không chỉ có Nguyễn Công Trứ, một nhà nho “ngông” nếm chịu nhiều caydắng thất bại, con người tài hoa như Cao Bá Quát với bao bi kịch đường đời, cũngnhìn đời bằng đôi mắt bi hài:

Ba vạn sáu nghìn ngày là mấy Cảnh phù du trong thấy cũng nực cười.

(Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập III, VH, 1978, tr 722)

Và sau cùng, Tú Xương - nhà thi sỹ của đất Thành Nam văn hiến, “xuất khẩuthành chương”, đã từng “lăm le bia đá bảng vàng cho vang mặt vợ”, thế mà baophen cũng đã ngậm đắng nuốt cay về đường công danh, lận đận “tám khoa không

Trang 22

khỏi phạm trường quy” Cuộc sống “phong lưu” “nhờ lương vợ”, để rồi sau cùngông Tú cũng cảm nhận ra cái cảnh:

Van nợ lắm khi trào nước mắt, Chạy ăn từng bữa mướt mồ hôi!

(Tú Xương – Than nghèo, Hội văn học - Nghệ thuật HNN, 1986, tr176)

Sống trong lòng xã hội thực dân nửa phong kiến đã hình thành hồi đầu thế kỷ

XX, dấn thân vào con đường văn chương và dám lấy sự nghiệp sáng tác văn chươnglàm kế sinh nhai, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu “là người của hai thế kỷ”, đã “dạonhững bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ đang sắp sửa” (Hoài Thanh –

Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam), tiền thân của cuộc sinh thành phong trào Thơ mới,

lại là người rất nhiều phen lao đao vì chuyện áo cơm!

Mười mấy năm trời ngọn bút lông Xác xơ chẳng bợn chút hơi đồng.

Bây giờ anh đổi lông ra sắt, Cách kiếm ăn đời có nhọn không!

(Thơ Tản Đà, Nhuận bút, VH, 1982, tr 73)

Thi sỹ nhìn “sự đời” cũng bạc bẽo giống như các nhà thơ thở trước:

Thối om sọt phẩn, nhiều cô gánh Tanh ngắt hơi đồng, lắm cậu yêu!

(Thơ Tản Đà, Hầu trời, VH, 1982, tr 122)

Nhà thơ đã cảm nhận cái khó nhọc, vất vả trong chuyện sáng tạo văn chương

“bao nhiêu củi nước mới thành văn”, ấy vậy mà “được bán văn ra chết mấy lần”!

Thế rồi chuyện ái tình của nhà thơ trong cái xã hội bạc tiền ấy cũng chẳng thành,chẳng đâu vào đâu cả Thi trượt, duyên tình cũng mất theo! Những ngày giang hồ lànhững ngày nhà thi sỹ muốn quên đi những buồn đau của “vết thương lòng”:

Trang 23

Vì ái cho tớ phải lênh đênh Nặng lắm! ai ơi, một gánh tình!

(Thơ Tản Đà, Chơi Hòa Bình, VH, 1982, tr 97)

Thân phận, cuộc đời người thi sỹ trong xã hội thực dân nửa phong kiến quacảm thức Tản Đà mang tính điển hình cho những cảm thức thân phận của người tríthức tiểu tư sản những năm đầu thế kỷ XX Nhà thi sỹ tài hoa ấy đã trút hơi thở cuốicùng trong căn gác thuê trọ ở số nhà 71, Ngã Tư Sở ngày 7 tháng 6 năm 1939

Cảm thức thân phận xuyên suốt tiến trình mấy trăm năm của văn học viếttrước ngưỡng cửa của cuộc “cách mệnh thi ca” 1932 – 1945, là ý thức về một “cáitôi” chứa đầy bi kịch của con người trước hoàn cảnh, là mâu thuẫn gay gắt giữa lýtưởng với hiện thực Từ Tản Đà đến các thi nhân của Phong trào Thơ mới, khoảngcách chẳng còn mấy bao xa! Những bất lực, đau khổ, những thương mình thươngngười, những thở than về thân phận đắng cay luôn là cảm hứng xuyên suốt chiềudài của tâm thức người cầm bút!

Rồi đây, tiếp nối dòng chảy cảm thức thân phận của văn chương nước nhà,những thi sỹ của phong trào Thơ mới lãng mạn (1932 – 1945), sống trong hoàncảnh của một xã hội đầy bụi bặm gió sương, bao nhiêu tâm sự, cảm nhận và ý thứccủa họ sẽ bộc lộ một cách rõ nét hơn, đớn đau hơn và cũng chua chát hơn so vớinhững nhà thơ thuở trước

2.2 Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương trong cuộc đời chung của những thi nhân Thơ mới

Đầu thế kỷ XX đến những năm ba mươi của thế kỷ này, sau cuộc chiến bằngsúng đạn để bình định nước ta, thực dân Pháp tiếp tục bảo hộ toàn diện Việt Namtrên mọi mặt trận chính trị, kinh tế, văn hóa và văn học Chúng lần lượt ra sắc lệnhchấm dứt các kỳ thi Hán học trên khắp ba miền Bắc Trung Nam, để thay vào đó lốigiáo dục khoa cử của Pháp Xã hội Việt Nam chuyển mình một cách đau đớn vànhục nhã sang xã hội thực dân nửa phong kiến, chìm ngập trong bầu không khíhoang mang, u uất sau cuộc chiến Tình hình chính trị u ám đã gây ra không khí lo

sợ, bi quan, hoảng loạn trong toàn xã hội, đặc biệt đối với tầng lớp sỹ phu, nhà nho

và cả lớp trí thức tiểu tư sản đang trong tình trạng mất phương hướng, bế tắc

Thôi Thánh hiền! Thôi Tiên Phật!

Thôi hào kiệt! Thôi anh hùng!

Ngàn năm sự nghiệp nước về Đông

(Võ Liêm Sơn)

Trang 24

Nạn khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 từ Pháp tràn về Đông Dươngnhư một thiên tai khiến đời sống xã hội càng trở nên khó khăn.

Đối với tầng lớp trí thức, văn nghệ sỹ, đời sống vật chất ngày càng trở nênbấp bênh, không ổn định Ngân quỹ nhà nước bảo hộ thất thoát lớn không đủ khảnăng tuyển dụng công chức, thất nghiệp là mối lo âu chung của những thanh niên tríthức Tây học Bộ phận nhà văn, nhà thơ vốn mang tâm hồn nghệ sỹ, không thểthích nghi với xã hội kim tiền ô trọc, sa vào cảnh túng quẫn Họ sống hoàn toànbằng ngòi bút của mình và thường rơi vào tình cảnh nợ nần, thiếu thốn Đời sốngvất và của giới trí thức đương thời được phản ánh rất chân thực trong các sáng tácvăn học Cảm thức về thân phận, cuộc đời rõ nét nhất có lẽ vẫn ở nơi tâm hồn củacác thi nhân Bởi thi nhân là những người vốn đa đoan, nhạy cảm, dễ buồn, dễ vui,cũng rất dễ tổn thương tình cảm Trong Thơ mới lãng mạn giai đoạn 1932-1945,những thi sỹ của chúng ta cũng không thể chạy trốn khỏi hiện thực mà bỏ qua nỗi locơm áo gạo tiền Đối với nhiều thi nhân, cảnh đói đã kề cận bên ngưỡng cửa:

“Đã có lần khói bếp không lên,

Vợ ngược con xuôi túi hết tiền.

Chồng gục cả mình trên giấy mực, Bên ngoài mặt đất tối như đêm.”

Đời sống kinh tế khó khăn, văn chương bởi thế trở thành món hàng ế ẩm.Đời sống giới văn nghệ sỹ ngày càng chật vật, đặc biệt vào những năm 1940 trở đi.Nhà thơ Nguyễn Vỹ chẳng cần đến sỹ diện để giấu giếm, che đậy cái thân phận củavăn sỹ nước Nam qua những dòng thơ nói thẳng, nói thật như thế này:

Bây giờ thời thế vẫn thấy khó, Nhà văn An Nam khổ như chó!

Mỗi lần cầm bút viết văn chương Nhìn đàn chó đói ngậm trơ xương Rồi nhìn chúng mình hì hục viết Suốt mấy năm trời kiết vẫn kiết!

Đến như Xuân Diệu, nhà thi sỹ của mùa xuân và tình yêu, tưởng tâm hồn chỉbiết “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” mà có lúc cũng đã phải kêu lên:

Nỗi đời cay cực đang giơ vuốt Cơm áo không đùa với khách thơ

Trang 25

Hay như Hàn Mặc Tử, trong những ngày đau ốm, tật bệnh, thiếu tiền chạychữa thuốc men đã phải cất lời than vãn:

Trời hỡi ! Làm sao cho khỏi đói?

Gió trăng có sẵn, làm sao ăn!

Cuộc sống khó khăn, mối quan hệ giữa người với người trong thời kinh tế suykiệt càng trở nên xấu đi, người ta bon chen, vật chất hóa tất cả Những giá trị văn hóaxưa cũ đã sụp đổ nhưng những giá trị văn hóa mới chưa kịp hình thành, tất yếu đẩy conngười vào tình trạng bơ vơ, mất phương hướng Họ nhìn đâu xung quanh mình cũng chỉthấy một màu u ám, mịt mờ Họ vấp phải bi kịch của những con người không tìm thấy lýtưởng Nhìn về quá khứ, bản hùng ca “oanh liệt” xưa đã lùi dần vào dĩ vãng, giờ đây cáicòn lại chỉ là nỗi uất hận, nghẹn ngào Cảm thức thân phận của Thế Lữ cũng là cảm thứcthân phận chung của những người dân nô lệ, mất nước thấp thoáng sau cảnh ngộ, tâmtrạng của một con hổ nơi vườn bách thú “nhớ rừng”:

Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt,

Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua,

để nhớ về quá khứ huy hoàng mà “ôm niềm uất hận ngàn thâu”:

- Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

Hình ảnh “con nai bị chiều đánh lưới/ Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối” trong thơ Xuân Diệu, cùng với hình ảnh “Con nai vàng ngơ ngác/ Đạp trên lá vàng

khô” (Tiếng thu) trong thơ Lưu Trong Lư cũng là những hình ảnh tiêu biểu cho lớp

thanh niên trí thức tiểu tư sản mất phương hướng, không tìm được đường đi trong

xã hội thời ấy Ta còn kinh ngạc nghe tiếng kêu trời của một “thi nhân” tuổi mườisáu, đang còn là một học sinh trung học, mà đã cảm nhận xót xa như thế này đây:

Trời hỡi trời! Hôm nay ta chán hết Những sắc màu hình ảnh của Trần Gian!

Trong ánh mắt thi nhân tất cả chỉ một màu úa tàn, ảm đạm, u ám và hủy diệt:

Với tôi, tất cả như vô nghĩa/ Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau! Cuộc sống thực

tại đối với Chế Lan Viên là “nỗi sầu tư nhuần thấm cõi Hư Vô”, nên anh ao ước,anh nguyện cầu, anh phải tìm đến một “thiên đường” khác:

Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh, Một vì sao trơ trọi cuối trời xa!

Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo!

Trang 26

Thi nhân giống như “một cánh chim thu lạc cuối ngàn”, mình không biết cómình trong thế giới thực tại này không?

Ai bảo giùm: Ta có có Ta không?

Cùng chung cảnh ngộ của những người thanh niên trí thức “đầu lòng của thế

kỷ XX”, hai thi sỹ Nguyễn Bính và Vũ Hoàng Chương hơn thế, còn thể hiện mộtcảm thức, một tâm trạng bế tắc, lạc lõng và cô đơn đến vô cùng! Cuộc đời giang hồnhư “con đò không bến đợi” của Nguyễn Bính đã mang theo tất cả những “khúc

đoạn trường” đau khổ như đã thấm sâu vào thịt vào da Trong bức Thư gửi thày mẹ,

nhà thi sỹ “chân quê” ấy viết:

Thầy đừng nhớ, mẹ đừng thương Cầm như đồng kẽm ngang đường bỏ rơi!

Còn như thi sỹ Vũ Hoàng Chương lúc nào cũng đắm chìm trong khói thuốc

“nàng tiên nâu”, với điệu nhạc quay cuồng, trong vòng tay vũ nữ, khi tỉnh ra, cũngkhông khỏi ngậm ngùi, mình chỉ là lũ người “đầu thai nhầm thế kỷ”, để cho dòngđời xô đẩy, mặc cho thân phận “xô về đông hay dạt tới phương đoài”:

Lũ chúng ta lạc loài, dăm bảy đứa

Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh

(Phương xa)

Trong nỗi buồn chung của thời đại, Nguyễn Bính và Vũ Hoàng Chươngmang những nét cảm thức thân phận giống nhau Đó là tâm lý của những con ngườiluôn hướng về giá trị xưa cũ, tâm lý của con người cá nhân lỗi thời

Có thể thấy rằng, chính sự xuất hiện của chủ nghĩa lãng mạn đã trở thànhcứu cánh, nơi trú ngụ cho những tâm hồn nghệ sỹ lúc đó Theo quan điểm của chủnghĩa lãng mạn, tác phẩm là tiếng lòng được thể hiện toàn vẹn, triệt để và vô hạnbằng sự tưởng tượng và xúc động không che dấu, không bị trói buộc bởi những ước

lệ, luân lý xã hội Với tinh thần đó, nó đã nhanh chóng tìm được chỗ đứng trong sựtiếp nhận của tầng lớp trí thức đương thời Họ đã tìm thấy sự đồng điệu, tìm thấythế giới để được sống thật với những xúc cảm của mình, được mộng mơ để cứucánh cho bao nỗi bế tắc, chán chường trước thời cuộc Chủ nghĩa lãng mạn vốn lấycái sầu buồn làm lý tưởng nghệ thuật, nay gặp hoàn cảnh xã hội Việt Nam, cùngnhững đòi hỏi bức thiết phải đổi mới văn học, đã có cơ hội chắp cánh và trưởngthành rất mạnh mẽ Phong trào Thơ mới lãng mạn ra đời đã kịp thời đáp ứng nhucầu đổi mới thi ca và đòi hỏi giải phóng tinh thần cho lớp thi sỹ đương thời Chưabao giờ trong văn học, cái tôi cá nhân được khai thác sâu sắc, tinh tế, nhiều màu sắc

Trang 27

như trong Thơ mới Bộc lộ ý thức cá nhân đã trở thành một nhu cầu, một xu thế, mà

biểu hiện rõ nét nhất của nó chính là “cảm thức về thân phận” Họ cảm nhận, nhận

thức về giá trị của bản thân mình trong các mối quan hệ tình bạn, tình yêu, tình cảmgia đình, tình cảm với quê hương đất nước, bày tỏ một cách tự nhiên những cảmxúc thiết tha nhất của tâm hồn… Tư tưởng tự do cá nhân lên ngôi, giữa hoàn cảnh

xã hội đầy u uất, đau thương, đã khiến cái tôi mang đậm tâm trạng thời đại: cô đơn,buồn nản, bế tắc, chán chường… Tâm trạng ấy là kết quả của cuộc hành trình ýthức sâu sắc về giá trị con người cá nhân trước thực tại đời sống Phong trào Thơmới bởi vậy mang một ý nghĩa nhân văn sâu sắc

2.3 Dòng đời không phẳng lặng của hai thi sĩ tài năng: Nguyễn Bính và

Vũ Hoàng Chương

2.3.1 Nguyễn Bính trong tình cảnh côi cút bơ vơ và nỗi lận đận đường tình

a Tình cảnh côi cút bơ vơ

Không chỉ mang nỗi buồn trong cuộc đời chung như bao thanh niên trí thức tiểu

tư sản ngày ấy, trong cuộc đời riêng của mỗi thi nhân cũng có những chuyện đau buồn.Nhưng có lẽ hiếm ai lại sớm mang một nỗi bất hạnh lớn như Nguyễn Bính

Sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo vào buổi cuối mùa, Nguyễn Bính

đã từng viết về gia cảnh mình “Cơm ăn đủ bữa, áo lành đủ thay” Cảnh nhà tuy

chẳng giàu sang nhưng êm ấm Cha Nguyễn Bính là ông đồ Nguyễn Đạo Bình, vốn

là một nhà nho có cốt cách, thường dạy các con điều nhân đức, lẽ phải ở đời MẹNguyễn Bính là bà Bùi Thị Miện, một người phụ nữ nết na, xinh đẹp, con gái mộtgia đình khá giả, có truyền thống yêu nước Bà sinh hạ được ba người con trai:Nguyễn Mạnh Phác (Trúc Đường), Nguyễn Ngọc Thụ và Nguyễn Trọng Bính Saunày khi bước vào làng thơ, Nguyễn Bính bỏ chữ đệm “Trọng”, chỉ lấy bút danh làNguyễn Bính cho bình dân

Một buổi tối, bà Miện xuống ao rửa chân bất ngờ bị rắn độc cắn, mất năm 24tuổi, để lại ba con thơ dại: Trúc Đường sáu tuổi, Thụ ba tuổi, và Nguyễn Bính mớiđược ba tháng Rời vòng tay mẹ từ khi quá nhỏ là nỗi bất hạnh lớn nhất trong đời

Nguyễn Bính, hay như Hoài Việt đã nói: “Từ lúc bắt đầu mở lóa mắt ra trước ánh sáng của vũ trụ cho đến lúc nhắm mắt vĩnh viễn rơi vào cõi hư huyền đen kịt, anh chưa một lần được cất tiếng gọi mẹ Đối với sinh vật , không có nỗi bất hạnh nào lớn hơn thế” Theo lời kể của bà Nguyễn Thị Kim Liên (em gái nhà thơ), sau khi bà

Miện mất, gia đình phải bế Nguyễn Bính đến những phụ nữ đang nuôi con nhỏtrong làng để cho bú, và Nguyễn Bính đã lớn lên nhờ nguồn sữa của rất nhiều bà

Trang 28

mẹ Ám ảnh bơ vơ vì mất mẹ không chỉ đi theo tuổi thơ Nguyễn Bính, mà sau này,khi đã trưởng thành, bàn chân đã đi nhiều nơi, gặp không biết bao nhiêu nỗi buồnkhổ, Nguyễn Bính mới càng thấm thía nỗi đau thiếu mẹ Không bộc lộ một cáchtrực diện, nhưng nỗi bất hạnh từ thuở ấu thơ đã ảnh hưởng rất lớn đến những sángtác của ông, một cách vô thức, từ sâu trong những ẩn ức đau khổ của một tâm hồnhết sức nhạy cảm như Nguyễn Bính.

Mẹ mất sớm, vì cảnh nhà neo người, mấy năm sau cụ ông cưới bà Phạm ThịDuyên làm kế mẫu Cảnh nhà đông con, xót thương các cháu, bà cả Giần (chị gái

bà Miện, là người giàu có) cùng em trai là Bùi Trình Khiêm đón anh em NguyễnBính về nuôi dạy ở thôn Vân quê ngoại Ông Khiêm là một nhà nho yêu nước, cóhọc vấn, văn thơ hay lại có tài ứng đối Ông đã từng tham gia phong trào ĐôngKinh nghĩa thục, rồi bị mật thám bắt về quê quản thúc, sau Cách mạng tháng Tám,ông là một trong những đại biểu quốc hội đầu tiên của nước ta Ba anh em NguyễnBính đã được cậu dạy dỗ chu đáo, được học cả chữ Hán và chữ quốc ngữ NguyễnBính là người được cậu truyền dạy nhiều hơn cả Năm 1932, người anh cả TrúcĐường đỗ bâc thành chung loại giỏi, được nhận dạy học tại một trường tư thục ở HàĐông Năm ấy Nguyễn Bính mới mười bốn tuổi, đã rời thôn Vân theo anh lên HàNội kiếm sống, được anh dạy thêm tiếng Pháp và truyền đạt văn học Pháp Kể từ

đó, hai anh em bắt đầu cuộc sống tự lập xa quê

Những năm đầu rời quê lên Hà Nội, Trúc Đường vẫn thường xuyên đưaNguyễn Bính về thăm nhà, không chỉ là về với những người thân trong gia đình, màmột mặt còn muốn nuôi dưỡng mạch thơ dung dị, hồn hậu của em trai Thôn Vânchính là nơi chứa đựng những tình cảm gia đình ấm áp, nơi nuôi dưỡng hồn thơNguyễn Bính ngay từ thuở ấu thơ Nhưng quê hương ấy, sau này cũng không còn làchốn đi về, bởi đất nước bị thực dân đô hộ đã khiến gia đình Nguyễn Bính rơi vàotình cảnh ly tán như bao gia đình khác Ở quê, cánh hào lý sách nhiễu, tranh giànhthứ bậc, thuế ruộng, thuế thân xiết nặng đến nghẹt thở… cánh vô học theo Tây làmtay sai, càng giàu có càng trở nên nghênh ngạo, coi thường những gia đình nhà Nhonghèo túng Gia đình Nguyễn Bính bởi thế không thể tiếp tục ở lại quê hương sinhsống, đã phải bán nốt số ruộng vườn còn lại và rời lên Hà Nội Ông Bùi TrìnhKhiêm tiếp tục bị Tây quản thúc Bà cả Giần (chị gái bà Miện) gặp thời thế khókhăn, buôn bán thua lỗ, gia sản kiệt quệ, phải bán ruộng vườn nuôi con ăn học Họhàng Nguyễn Bính người thân thích không còn lại bao nhiêu, mỗi người ly tán mộtnơi, kẻ Nam, người Bắc, làm đủ thứ nghề để sinh nhai Quê hương – nơi duy nhất

Trang 29

bù đắp tình cảm cho Nguyễn Bính nay không còn nữa, nỗi buồn ấy đã ám ảnh hồnthơ ông, đặc biệt trong những năm tháng nhà thơ phiêu bạt giang hồ:

“Ơi thôn Vân, hỡi thôn Vân!

Anh em li tán lâu dần thành ra Không còn ai ở quê nhà Hỏi còn ai nữa ? Để hoa đầy vườn Trăng đầy ngõ, gió đầy thôn Giờ về quê cũ có buồn không anh?”

Quê hương vẫn còn đó, nhưng những người thân thích đã mỗi người mộtphương, Nguyễn Bính mang tâm trạng cô đơn của kẻ tha hương trên ngay chínhmảnh đất quê hương mình

b Nỗi lận đận đường tình

Nguyễn Bính biết rung động, biết nhớ nhung từ khi còn rất trẻ, ấy vẫnthường là cái máu của nghệ sỹ, nhất là đối với Nguyễn Bính – một tâm hồn nhạycảm luôn khát khao tình yêu thương Và có lẽ chính nỗi ám ảnh thiếu thốn tình cảm

từ nhỏ đã phần nào tạo nên tính cách ấy trong nhà thơ

Là một thi sĩ tài hoa, đa tình, Nguyễn Bính đã từng yêu rất nhiều người, vàcũng rất nhiều người phụ nữ đem lòng yêu Nguyễn Bính, nhưng tình yêu khôngthuận buồm xuôi gió đi tới bến bờ của hạnh phúc Phần lớn những cuộc tình ấy đềutrở thành dang dở, dù người ta yêu Bính, hay mình Bính đơn phương, hoặc có khi

đó là cuộc tính đầy mộng đẹp của cả hai người, thì cuối cũng chỉ là kỷ niệm, những

kỷ niệm đẹp mà buồn Nguyễn Bính đến với tình yêu lần nào cũng đầy rung động

và rạo rực, như mỗi tình buổi đầu biết yêu, thế nên mỗi sự đổ vỡ đều để lại trongnhà thơ nỗi đau khổ, day dứt Bao nhiêu nỗi niềm ấy đã đi vào trong thơ, và tìnhyêu đã song hành với rất nhiều sáng tác của Nguyễn Bính

Người đầu tiên Nguyễn Bính yêu, yêu bằng thứ tình cảm không còn là nhữngxao xuyến trẻ thơ tuổi mới lớn mười ba, mười bốn, như với cô bé Nhi trong lễ hộiPhủ Giày năm nào Người con gái ấy chính là Đinh Thục Oanh – một cô gái xinhđẹp, con nhà gia thế ở thị xã Hà Đông, nơi ông về cư trú tại nhà người anh ruột TrúcĐường, những năm 1938 “Nàng Oanh, là một nữ sinh mà Bính say mê đến nỗi đêmđêm dù trời đã trọng đông với mưa phùn gió bấc, với giá lạnh cắt buốt thịt da, Bínhvẫn kiên nhẫn đứng bên lề đường, dưới gốc cây hay dưới mái hiên nào đó nhìn lêncăn gác đóng kín, chỉ còn những tia đèn mong manh lọt qua khe cửa, để vọng tưởngngười yêu” [67] Mối tình giữa Bính và Oanh thực chất chỉ là tình cảm thương thầm

Trang 30

nhớ trộm, đơn phương từ phía Nguyễn Bính, Thục Oanh chưa bao giờ để ý đếnNguyễn Bính bởi vị thế của hai người rất khác nhau Trong khi Thục Oanh là congái là phú quý, lá ngọc cành vàng, lại mặn mà nhan sắc, thì Nguyễn Bính chỉ là anhchàng nhà quê, có tài làm thơ nhưng tiền không dính túi, cuộc sống phiêu du nayđây mai đó Bính không đủ điều kiện sánh ngang cùng Thục Oanh, và càng không

có cơ hội, khi bên cạnh nàng rất nhiều chàng trai tài giỏi, con nhà quyền quý ngỏ lờisánh duyên Nhiều lần Nguyễn Bính muốn nấn ná gần gũi, có ý tỏ tình cùng ĐinhThục Oanh, nhưng đều bị nàng lạnh lùng lảng tránh, thậm chí hắt hủi, xa lánh.Chàng thi sĩ chỉ còn biết thầm yêu trộm nhớ, tương tư, đau khổ, và trách cứ, xót xacho thân phận mình

“Tâm hồn tôi là một bình rượu nhỏ Rót lần lần giọt mãi xuống nàng Oanh Không xua tay nàng vẫn cứ vô tình Hắt ly rượu hồn tôi qua cửa sổ”.

Tuyệt vọng về mối tình đơn phương, Nguyễn Bính rời Hà Đông, nhưng tronglòng vẫn mang một hi vọng ảo tưởng, rằng một ngày nàng Oanh sẽ hối hận vì đã coithường tình cảm của “một thiên tài lừng danh thiên hạ”, nhưng khi ấy cơ hội không còndành cho nàng nữa Ảo tưởng của Nguyễn Bính thực chất chỉ nhằm xoa dịu trái tim bịtổn thương của chính mình, và là cách để nhà thơ khẳng định lại giá trị bản thân

Mối tình đẹp đẽ nhất mà cũng nhiều đau khổ nhất với Nguyễn Bính có lẽchính là cuộc tình với nữ sỹ Anh Thơ Nhà văn Hoàng Tấn – một người bạn rất thâncủa Nguyễn Bính từng nhận xét: “Đây có lẽ là mối tình đau khổ nhất của Bính, cáikhổ đau nó kéo dài suốt cả đời người, vì không khi nào viết văn làm thơ có dịp làNguyễn Bính không nhắc đến Hương cố nhân “Hương cố nhân” chính là tập thơ rađời sau cuộc tình đổ vỡ của Nguyễn Bính với Anh Thơ

“Xây bao nhiêu mộng thế mà Đến nay phải gọi người là cố nhân!”

Anh Thơ là một nữ thi sỹ viết về đề tài nông thôn Năm 1939, cả NguyễnBính và Anh Thơ đều nhận được giải thưởng khuyến khích về thơ của Tự Lục VănĐoàn Và đó chính là cơ duyên để hai con người ấy gặp gỡ nhau Họ nhận ra sựđồng cảm trong đời sống, trong tâm hồn, và cả trong thơ Nguyễn Bính - Anh Thơ

đã yêu nhau rất tha thiết, những chuyến hẹn hò gặp gỡ cũng nhiều, mà thư tình nồngcháy nhớ nhung không ít Mối tình đẹp với nhiều kỷ niệm đó vẫn được nhắc lạitrong những câu chuyện làng văn nghệ và trong những bài viết về đời Nguyễn Bính

Trang 31

Có giai thoại kể lại rằng, có lần Bính không rửa mặt nhiều ngày vì sợ phai mất vếtson môi của người yêu để lại Chừng ấy thôi, biết rằng họ đã yêu nhau tha thiết đếnngây ngô, vụng dại Vậy nhưng, cái kết của cuộc tình đẹp đẽ đó không kém phầnchua chát Anh Thơ bỏ Nguyễn Bính đi lấy chồng, một quyết định làm tan nát contim Nguyễn Bính Một lần nữa chàng thi sỹ nghèo ngậm ngùi cho số kiếp mình:

“Em là con gái nhà giời Tôi là con gái nhà người thường dân

Yêu em có vạn có ngàn Nhưng cha không chứng cho bàn tay không!”

Nguyễn Bính đau khổ, tuyệt vọng, thậm chí hận thù tình yêu ấy, nhưng aicũng hiểu, yêu thương lắm lại căm hận nhiều Dù đã có lúc nhà thơ viết cho ngườitình cũ những dòng thơ chát chúa, cay độc, nhưng sâu thẳm trong lòng vẫn cònnhiều thương nhớ và đã để lại vết thương rất lớn Mà có lẽ đến mãi sau này, NguyễnBính không lần nào có thể yêu một lần đủ đầy như thế !

Kết thúc cuộc tình với Anh Thơ, tưởng chừng như những bất hạnh đã quatrong tình yêu, trái tim Nguyễn Bính không đủ lành để đón nhận nó thêm lần nữa

Nhưng “cái anh thi sỹ này là chúa đa tình”, Bính lại đến với tình yêu và thêm một lần kẻ si tình ấy “sa lầy trong yêu” Lần này, người làm cho Nguyễn Bính say mê

chính là nàng Tú Uyên Có người cho rằng, Tú Uyên có thể chỉ là một cái tên, làngười tình trong mộng tưởng của Nguyễn Bính Nhưng theo lời của nhà văn BùiHạnh Cẩn - anh họ nhà thơ, thì Tú Uyên là một người con gái có thực Tên nàng làTuyên, em gái nhà thơ Nguyễn Đình Lạp, nhà ở đầu phố Bạch Mai, giáp phố Huế,

Hà Nội Tú Uyên là cách chơi chữ Bính đặt cho tên cho người mình yêu Và cái tên

ấy đã xuất hiện rất nhiều trong thơ ông, là nguồn cảm hứng để thi sỹ cho ra đời tậpthơ “Người con gái ở lầu hoa” Cuộc tình với Tú Uyên không được người ta kể lạinhiều thành giai thoại, thực chất đó cũng chỉ là mối tình đơn phương từ phíaNguyễn Bính Yêu tha thiết mà không thể ngỏ, nhớ nhung mà không được gần gụi,gặp gỡ, Nguyễn Bính đã dệt lên câu chuyện yêu đương đầy lãng mạn, thấm đẫmnước mắt giữa hai con người yêu nhau tha thiết nhưng không đến được với nhau:Bính đau khổ vì mất người yêu, Tú Uyên thì bất hạnh đến với người đàn ông mìnhkhông có tình cảm Chuyện tình yêu đôi bên thì không có thực, nhưng tình cảm vànhững rung động trong lòng Nguyễn Bính thì không thể phủ nhận Nhà thơ đã tựphân thân mình, đưa mình vào ảo tưởng để tự an ủi, tự xoa dịu nỗi buồn của một kẻtình si không được đáp trả Cái tên Tú Uyên cũng để lại lưu luyến trong lòng tác giả

Trang 32

một thời gian không ngắn Đến tận cuối năm 1943, tên nàng vẫn được Nguyễn Bínhnhắc tới Và dù có lúc nhà thơ tự dặn lòng mình phải quên nàng, thì nỗi nhớ nhiềukhi vẫn không chiến thắng được lý trí :

“Tôi tưởng rồi tôi quên được người Nhưng mà nản lắm Tú Uyên ơi ! Tôi vào sâu quá và xa quá, Đường lụt sương mờ lụt lá rơi…”

Sau Tú Uyên, Nguyễn Bính còn đến với nhiều người con gái khác, cũng yêu,cũng rung động, cũng nhớ nhung nhiều lắm Nhưng dường như, tình yêu đến với thinhân ngày một dễ dàng hơn, ngày một tự do, buông tuồng hơn, và cũng ngày mộtngắn ngủi hơn

Cuối năm 1943, Nguyễn Bính “hành phương Nam” Nơi đất khách quêngười này, trái tim kẻ đa tình lại rung lên, thổn thức bởi “đôi mắt nhung” Đó là Tôn

Nữ Hoàng Trân – một cô gái mang gốc gác hoàng tộc Nàng cũng biết làm thơ, saumột thời gian quen biết nhau, người ta thấy xuất hiện nhiều bài thơ đối đáp giữaNguyễn Bính và Tôn Nữ Hoàng Trân, in trên tờ báo Đàn Bà của Thụy An (xuất bảntại Hà Nội) Nhưng cuộc tình ấy cũng ngắn ngủi, không để lại dư âm sâu sắc

Đầu mùa hạ năm 1944, Nguyễn Bính ghé Hà Tiên, thăm gặp tri kỷ Đông Hồ,Mộng Tuyết Ở chơi nhà bạn mấy tháng, nhà thơ cũng để lại một cuộc tình Đó làmối tình với nàng Tú Ngọc – cháu gái của nữ sỹ Mộng Tuyết Hai người đã có thờigian rất vui vẻ bên nhau, với nhiều kỷ niệm đẹp, đã có lúc Nguyễn Bính ao ước dệtmộng chung đôi cùng người yêu Nhưng rồi, cái con người đã trải qua biết bao đaukhổ, thất bại của tình yêu, thì không còn biết đến mối ràng buộc của nó nữa Máugiang hồ nổi lên trong Nguyễn Bính, và cả những giận hờn, tự ái với Tú Ngọc vềchuyện gì đó, đã đấy thi nhân lên đường Đã từng yêu đơn phương, từng bị phụ tình,

và giờ Nguyễn Bính lại phụ tình một người con gái Dù thế nào thì cũng là đau khổ

Có người cho rằng, Nguyễn Bính đến với tình yêu dễ dàng quá, chóng vánhquá, nỗi đau cũng vội nguôi ngoai, trách rằng Nguyễn Bính quá đa tình, không sâu sắc

Sự thật là Bính đa tình, rất dễ rung động trước một bóng hồng, lại thêm cái tính cáchđơn giản, tự do, sống theo tình cảm nhiều hơn lý trí nên yêu nhiều cũng là điều dễ hiểu.Nhưng nhìn vào đời Nguyễn Bính, những cuộc tình mà thi sỹ đã đi qua, những bấthạnh mà ông gặp phải, thấy rằng con người ấy cũng nhiều khi muốn sống có cái đích.Nhưng thất bại, đau khổ, bất hạnh trong đường tình cứ đẩy ông đi xa mãi cái đích ấy,

và nhà thơ chỉ còn biết yêu trong ngày hôm nay để xoa dịu cái đau khổ ngày hôm qua

Trang 33

Có cái tình sau để làm lành bao vết thương có trước Thi sỹ đưa bước chân làm kẻgiang hồ, tìm nguồn vui cho số kiếp mình trên nẻo những đường mới Thi nhân đinhiều, và yêu nhiều, cũng đau khổ không ít, sâu thẳm trong trái tim ông vẫn là nỗi côđơn trống lạnh khi tình yêu không một lần được trọn vẹn Đó cũng là một bất hạnhtrong nhiều nỗi bất hạnh của đời Nguyễn Bính, và làm nên thơ ông.

2.3.2 Vũ Hoàng Chương – nỗi bất hạnh của chàng thi sỹ chung tình

Về phần gia cảnh, Vũ Hoàng Chương có nhiều may mắn hơn Nguyễn Bính.Ông sinh ra trong một gia đình khoa bảng giàu có, thân phụ là ông Vũ Thiện Thuật,làm quan tri huyện, có vốn Nho học uyên thâm, sành về văn học Thân mẫu họ Hoàng -một tiểu thư vốn dòng khuê các, hay chữ, giỏi đàn tranh, buôn bán gạo tại bến thócNam Định, kinh tế gia đình chủ yếu dựa vào tài buôn bán giỏi giang của bà

Tuy nhiên, nỗi lận đận tình duyên đã khiến Vũ Hoàng Chương cũng khôngkém phần đau khổ - nỗi đau khổ đã đeo bám đời sống và cả một đời thơ ông Khácvới Nguyễn Bính – chàng thi sỹ đa tình, yêu nhiều và thất bại nhiều, Vũ HoàngChương lại ôm mối sầu muộn bởi sự chung tình

Năm 1935, là lúc Vũ Hoàng Chương vừa tròn 19 tuổi, đang theo học ban TúTài Pháp tại Trường Trung Học tại Albert Saraut, Hà Nội Một buổi chiều chủ nhậtrảnh rỗi, Dương Tuệ (bạn học của Vũ) rủ chàng tới thăm nhà bà Tư – là dì của Tuệ

Ở đây, Vũ đã gặp Tố Uyên, con gái lớn của bà Tư, năm ấy mới 14 tuổi Với khôngkhí cởi mở, thân thiện của gia đình, sau nhiều lần qua lại, Vũ Hoàng Chương đã trởnên thân thiết và thường lui tới kèm cặp cho Tố Uyên học hành trong những nămđầu bậc thành chung Thế rồi, tình cảm quyến luyến giữa hai người nảy nở lúc nàokhông hay, chỉ âm thầm cảm nhận niềm hạnh phúc giản dị những lúc được ở gầnnhau Đối với Vũ Hoàng Chương, tình yêu trong tim ngày một lớn, nhưng khi tìnhcảm càng mãnh liệt thì nỗi mặc cảm không thể mang lại hạnh phúc cho Tố Uyêncàng làm chàng day dứt Lẽ bởi đâu mà Vũ Hoàng Chương lại mang tâm sự ấy?

Là một thanh niên con nhà khá giả, lại thông minh, học rộng (chàng vừa theohọc bằng Tú tài Pháp, Ban Toán Trường Trung Học Albert Sarraut, rồi lại tiếp tụctheo học trường Luật), Vũ không hề có mặc cảm về thân phận thấp kém Nhưng từmấy năm nay, Vũ đã mang tâm sự sầu muộn, lạc lõng giữa cuộc đời Đất nước đangtrong vòng nô lệ chưa tìm được lối thoát; ngoài xã hội người ta ganh đua, kèn cựa,giành giật nhau công danh, địa vị; chốn quan trường của chế độ phong kiến ngàycàng nhiễu nhương, không còn uy thế… Trót mang tâm hồn đa sầu đa cảm của kẻthi sỹ, Vũ Hoàng Chương không tìm được lối đi cho cuộc đời mình Chính bản thân

Trang 34

còn đang bế tắc, chất chứa biết bao nỗi phiền muộn làm sao chàng có thể tự tin locho người mình yêu một cuộc sống sung sướng, hạnh phúc Về phần gia đình, VũHoàng Chương và cha đã mang mỗi bất hòa từ lâu về chuyện hôn nhân của chàng.Ông Vũ Thiện Thuận là một nhà Nho nghiêm khắc và cũng rất bảo thủ Ông đã dựđịnh sau khi Vũ Hoàng Chương học xong sẽ đi hỏi con gái quan bố chánh – bạnthân thiết của ông cho con trai Là một thanh niên trí thức Tây học, những tư tưởnglãng mạn, tự do yêu đương đã nhuốm đượm tâm hồn chàng thi sỹ, Vũ HoàngChương sao có thể đồng ý.

Năm 1939, Tố Uyên đỗ bằng trung học, lúc này nàng đã trở thành một thiếu

nữ hết sức xinh đẹp, có giá ở đất Hà Thành ngày ấy Đã nhiều đám đưa trầu caudạm hỏi nhưng gia đình bà Tư chưa đồng ý Biết gia đình bà Tư có ý tạo cơ hội chomình, Vũ Hoàng Chương về thưa cha mẹ mang trầu cau đến hỏi Tố làm vợ Ông bàtri phủ lập tức gạt phắt ngay ý định, chê Tố là con gái tân thời, mang tư tưởng tự donhăng nhít Đã thế, một trận sóng gió lại nổi lên giữa hai cha con, bởi Vũ khôngchịu đi hỏi con gái quan Bố Chánh như sự sắp đặt của gia đình Chán nản, bế tắc,một mặt cảm thấy xấu hổ với gia đình Tố, Vũ Hoàng Chương bỏ học trường luật,vào tận Nghệ An, làm phó kiểm soát viên sở Hỏa Xa Đông Dương Thế là trước sựtrống rỗng của một cuộc đời không lý tưởng, trước sự chán chường của hoàn cảnh

cá nhân và gia đình, Vũ Hoàng Chương trở thành một con người mang tâm trạngbất mãn, cô đơn như một kẻ bị lưu đầy, lạc lõng giữa cuộc đời:

Riêng tôi sống cuộc đời vô vị Khắc nỗi buồn u uẩn từ lâu

Ôm khối hận gia đình trĩu nặng Tôi căm hờn thù ghét hôn nhân.

Về phía gia đình bà Tư sau khi biết tin qua một người bạn đã rất tự ái, nhưng

vì mối cảm mến Vũ Hoàng Chương nên cũng bỏ qua Đã có lần bà Tư gọi Vũ đếnnói chuyện, bà đồng ý gả Tố cho chàng với điều kiện cha mẹ Vũ phải mang trầu cauđến hỏi đàng hoàng Nhưng một năm, rồi hai năm trôi qua, Tố Uyên cũng đã bướcsang tuổi 20 (thời ấy cũng đã là già), không thấy tin tức gì từ bên gia đình ông bà trihuyện, nàng vâng lời mẹ, nhận trầu cau của người ta Nhưng sự đời lại oái oăm, mộttháng sau, bà tri huyện cùng cô em chồng đến chơi nhà bà Tư, có ý hỏi nàng Tố cho

Vũ, nhưng đến lúc này đã quá muộn màng Biết tin người yêu trót nhận lễ vật củangười khác, bao nhiêu hi vọng trong Vũ sụp đổ hoàn toàn Tình yêu với Tố là điểm

Trang 35

tựa duy nhất, niềm hi vọng lớn nhất có thể kéo Vũ ra khỏi những chán chường, bếtắc của cuộc sống thì giờ đây lại đẩy Vũ vào nỗi tuyệt vọng đến cực độ Và bao

nhiêu đau khổ từ mối tình ấy đã hóa vào thơ Cả hai tập thơ “Say” (1940) và “Mây”

(1943) đều ra đời sau những biến cố tình yêu của Vũ

Sau này khi đã kết hôn cùng Đinh Thục Oanh – chị gái nhà thơ Đinh Hùng,thì hình ảnh của Tố Uyên cùng những kỷ niệm cũ vẫn khơi nguồn cảm hứng chonhiều sáng tác của Vũ Hoàng Chương Có thể nói, tình Yêu đối với nàng Tố cùngnhững đau khổ trong cuộc tình ấy đã ám ảnh thi sỹ của chúng ta trong một chặngđường thơ khá dài Sau này, tình yêu với Đinh Thục Oanh đã dần làm lành vếtthương trong tim nhà thơ, ông đã viết tặng người vợ của mình bài thơ “Thiên đườnglại mở” – một trong số ít những bài thơ hạnh phúc của thi sỹ, dường như cánh chimgiang hồ vừa tìm thấy chốn bình yên hạ cánh nghỉ ngơi

2.3.3 Đôi cuộc đời phiêu bạt

Những năm trước cách mạng, bầu không khí ngột ngạt của xã hội cộng với

sự bế tắc trên con đường đi tìm lý tưởng sống, đã cho ra đời một thế hệ nhà vănthèm đi Phải đi đâu đó, phải giải phóng mình khỏi cuộc sống thực tại tù túng, tốităm, chật hẹp, mà như Vũ Hoàng Chương từng nói:

“Đời buồn trong ngõ hẹp Gió lùa căn gác xép”

Thèm đi và xê dịch đã trở thành niềm hứng khởi với cả một thế hệ văn nhânthi sỹ thời ấy như Nguyễn Tuân, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Thâm Tâm… và hai anhchàng Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương cũng mắc cái bệnh thông thường đó: căn

bệnh giang hồ Họ ra đi với nhiều lý do, đi để thay đổi cuộc đời “tẻ nhạt như tàu không đổi chuyến” (Huy Cận) hay nói như Hàn mặc Tử là ra đi để “Tìm cái phi thường, cái ước mơ”, đi để tìm cảm hứng mới, để thực hiện lý tưởng đời mình, mà cũng có những chuyến “đi chỉ để mà đi” – những cuộc di dời không định hướng…

Mang trên mình hành trang tư tưởng và niềm hi vọng vào những hứa hẹntrên mảnh đất mới, cảm hứng lên đường trong Nguyễn Bính có khi đầy hứng khởi,thôi thúc:

“Sống là sống để mà đi Con tàu bạn hữu, chuyến xe nhân tình”

Tâm trạng ấy ta cũng từng gặp ở Vũ hoàng Chương:

“Nhổ neo rồi, thuyền ơi!

Xin mặc sóng,

Trang 36

Xô về đông hay dạt tới phương đoài.

Xa mặt đất, giữa vô cùng cao rộng, Lòng cô đơn, cay đắng họa dần vơi.

Lấy việc ra đi làm lý tưởng sống, Nguyễn Bính hay Vũ Hoàng Chương đềumang trong mình những niềm tin tốt đẹp, rằng giữa trời đất cao rộng kia sẽ có nơi

“dung hồn giản dị” để nỗi cô đơn, bế tắc giữa cuộc đời sẽ dần vơi lại Nhưng chính

cái thời thế đầy biến động, đổi thay, và số phận riêng của mỗi con người khiếnnhững chuyến đi ấy không trở thành con đường giảỉ phóng cho họ Niềm vui ngắnngủi thoảng qua chốc lát, để nỗi buồn sâu sắc cùng sự bế tắc càng thêm nặng nề

Sinh năm Mậu Ngọ, cái số kiếp rong ruổi, giang hồ dường như đã trở thành

số phận Nguyễn Bính Với con người sớm mang số kiếp bất hạnh ấy, thì chính bướcchân giang hồ đã xô đẩy cuộc đời thi sỹ bước vào đường lưu lạc Là chàng trai thôndân mộc mạc, cái chất nhà quê đã ăn đượm cả ngoại hình lẫn tâm can, càng điNguyễn Bính càng thấy mình trở lên lạc lõng, càng cô đơn giữa chốn thị thành phồnhoa đô hội Và con người ấy lại khôn nguôi nhớ về quê cũ, càng khao khát hơnnhững cảnh sống bình dị, những thuần phong mĩ tục đã bao đời Nhưng càng thèmmuốn thì nỗi lòng thi sỹ càng chất chồng bao nỗi muộn phiền, càng cảm thấy bơ vơ,đơn lẻ giữa dòng đời Mặc cảm tha hương lớn dần trong Nguyễn Bính, có nhữngkhi nhớ quê, nhớ cha mẹ, nhà thơ viết những vần thơ đầy xót xa, cay đắng, nhớthương:

“Chao ơi ! Tết đến em không được Nhìn thấy quê hương thật não nùng !”

Cuộc sống thị thành còn dạy cho Nguyễn Bính cái đen bạc của tình người,cảm nhận sâu sắc hơn thân phận của người thi sỹ trong cuộc đời cũ Nhà thơ đãsống bằng tất cả cái đẹp của lòng mình, nhưng thời thế xã hội đảo điên, lật lọng,man trá đã sinh ra những con người khác Nguyễn Bính, để rồi bao hi vọng, ảotưởng của nhà thơ đều sụp đổ:

“Chả nhiễu điều nào phủ giá gương!

Tay trắng bạn bè đều lánh mặt

Sa cơ, thân thích cũng coi thường.”

Sự lên ngôi của đồng tiền càng không phù hợp với một chàng thi sỹ nghèokiết xác Bao tháng ngày phiêu bạt, là chừng ấy thời gian Nguyễn Bính sống trongthiếu thốn, cơ cực, thậm chí rơi vào cảnh nghèo đói, túng quẫn Nhà thơ Vũ Bằng

đã từng kể về thời gian phiêu bạt ở Rạch Gía của Nguyễn Bính: “Đây là cái đoạn

Trang 37

đơi cực khổ nhất của Bính; anh phải ra ở đình Nguyễn Trung Trực , ngủ ở sàn gạch,không có một cái sơ mi lành lặn để mặc, mặc quần cụt, đi dép lê ở Rạch Gía, điếuthuốc không có mà hút, chén cơm nhiều khi không có mà ăn Tất cả gia tài của Bínhthu vào mấy cuốn sách và một hai cái áo gói vào một tấm giấy nhật trình Cả thángkhông tắm, Bính mỗi buổi sáng thức dậy lại ra một cái cầu tre ở trước đình NguyễnTrung Trực vục tay xuống sông rửa mặt và lấy năm đầu ngón tay làm lược chảiđầu” [tr276/16] Cái con người nghèo túng và cùng cực đến thế thì mong gì có đượctình yêu của một người con gái Chính cái nghèo đã cướp đi hạnh phúc lứa đôi củaBính hết lần này đến lần khác Đó là lúc Bính càng nhận thấy rõ cái bạc của nghềlàm thơ Bạc bởi cái tài năng kia không được coi trọng, giống như cánh hoa chỉ đẹp

nơi đồng nội trong lành, nó không được chào đón chốn thị thành hoa lệ: “Kinh đô cát bụi bay nhiều/ Tìm đâu thấy một người yêu hoa hồng” Bạc nữa là cái nghề thơ

nghèo quá, có lẽ không ai nói đến cái nghèo của nghề thơ nhiều như Nguyễn Bính,cái sự “giời đày” ấy được ông nhắc đến đầy đắng cay, chua xót, nhiều khi chán nản:

“Ai bảo mắc vào duyên bút mực Sòng đời mang lấy số long đong ! Người ta đi kiếm giàu sang cả Mình chỉ mơ toàn chuyện viển vông.”

Ước vọng lên đường xây mộng công danh, đi tìm lý tưởng của Nguyễn Bính sụp

đổ Bao nhiêu mơ ước, hăm hở mà thi sỹ dựng lên giờ chỉ còn lại một thực tế phũ phàng.Càng đi, nhà thơ càng rơi vào bế tắc, lạc lõng giữa cuộc đời vội vàng trôi chảy, khôngtìm thấy chỗ dựa, thấy hướng đi cho đời mình, đi mà không biết mình đi đâu, đi để làm

gì cho ngày mai, cuộc sống trở nên chán chường, vô định Một chàng trai tràn đầy nhiệthuyết đã trở thành con người mệt nhoài, buông tuồng, hờ hững Và những chuyến đi đầyhứa hẹn đã trở thành những chuyến đi đày khốn khổ:

“Cúi mặt soi gương chén rượu đầy Bốn mắt nhuộm chung màu lữ thứ…

Không hiểu vì đâu hai đứa lại Chung lưng làm một chuyến đi đầy ?”

Nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn cho rằng, Nguyễn Bính đã “không tìm thấy chất thơ thông thường của tiêu dao tang bồng, không thấy cái thú siêu thoát lãng mạn của ngao du sơn thủy, trái lại mỗi bước lênh đênh là mỗi bước long đong”

[tr74, 68]

Trang 38

Với Vũ Hoàng Chương, căn bệnh giang hồ cũng sớm nảy sinh Đang là mộtsinh viên trường Luật, vì chán cảnh đời tù túng, không lý tưởng, đau khổ vớichuyện tình duyên trắc trở, Vũ đã bỏ học, xin làm phụ tá kiểm soát viên cho công ty

xe lửa Đông Dương Sau hai năm, theo thông lệ, ông được làm kiểm soát viên chínhthức, nhưng lúc này Vũ lại bỏ nghề Bởi thực chất Vũ Hoàng Chương chỉ muốntheo tàu đi thực hiện những chuyến giang hồ Hai năm phiêu bạt, là quãng thời gian

Vũ Hoàng Chương đắm mình trong rượu, thuốc phiện, trong vòng tay của kháchlàng chơi Chàng trai thư sinh của mấy năm về trước, bây giờ biết đến đủ thứ,những thứ khiến cơ thể vốn dĩ gầy gò càng thêm tiều tụy Và hơn cả, là quảng thờigian ấy, cùng những cuộc phiêu du, không dẫn lối cho Vũ Hoàng Chương tìm thấyánh sáng lý tưởng, chỉ càng chìm dài trong say sưa và đau khổ

Chàng muốn đời mình tìm được quên lãng, quên đi mối tình đầy đau khổ,day dứt, nhưng giữa chốn quê người xa lạ, nỗi nhớ vẫn tràn về lay động, muốn quên

mà không thể quên Cuộc ra đi này, Vũ vẫn viết rất nhiều về nàng Tố, khơi gợi lạinhững kỉ niệm đẹp đẽ Nhưng tình càng đẹp, càng lưu luyến lại khiến Vũ nhiều khinhung nhớ đến không còn sức lực để chịu đựng thêm đau khổ nữa:

Trên nẻo ấy sẽ từ muôn đáy huyệt,

Ái ân xưa vùng dậy níu chân anh.

Không, em ạ, không còn can đảm nữa, Không ! Nguồn yêu, suối lệ cũng khô rồi,

Tình yêu bất hạnh, nghĩ lại về sự nghiệp đời mình, nhà thơ cũng có lúc ngán

ngẩm như Nguyễn Bính – buồn chán cho kiếp đời thi sỹ Tự trách thân mình “Ôi tài mọn ! Si lang buồn lắm nhỉ ?”, đã có khi tự giận với chính mình:

Bẻ cho nát phím đàn quăng cán bút,

Xé cho tan, nào giấy lụa, nào tơ.

Nhưng con người đâu dễ gì tránh khỏi cơ duyên, Nguyễn Bính hay VũHoàng Chương vẫn gắn bó với nghiệp thơ cho đến khi nhắm mắt Và chính thơ lại

là người tình thủy chung, nơi gửi gắm tâm hồn lớn nhất của tác giả

Mong ước tìm thấy niềm lạc quan trong mỗi bước giang hồ, nhưng càng đi, VũHoàng Chương cũng như nhiều thi nhân thời bấy giờ, càng cảm nhận rõ hơn con đườngphía trước mịt mờ Con thuyền lý tưởng đi tìm ánh sáng ngày càng chất đầy thêm nỗi côđơn, lạc lõng, đẩy nhà thơ vào trạng thái vô định, mất hướng đi của đời mình:

Mênh mông đâu đó ngoài vô tận

Trang 39

Một cánh thuyền say lạc hướng đêm.

Hai chàng thi sỹ giang hồ, với bao mộng đẹp và hứng khởi, đã kết thúcchuyến đi của đời mình với nỗi buồn dằng dặc Đó âu cũng là tình cảnh chung củathế hệ văn nghệ sỹ ngày ấy, muốn đi tìm một không gian mới với cuộc sống mới,muốn thay đổi hiện tại nhưng cuối cùng họ vấp phải bi kịch vỡ mộng Ở NguyễnBính và Vũ Hoàng Chương, có lẽ điều này rõ hơn cả, bởi họ khao khát đi và cũng đinhiều hơn cả Họ không chỉ đi bằng mộng tưởng, bằng lời thơ, mà đi bằng đôi chân

thực, lang thang giữa cuộc đời thực Nguyễn Bính trở thành “cánh chim lìa đàn”, còn Vũ Hoàng Chương đành tìm khoảng trời “quên” trong những cơn “say”.

TIỂU KẾT

“Cảm thức thân phận” được hiểu là sự nhận thức và cảm xúc của cá nhân về

vị trí, giá trị bản thân mình trong đời sống Cảm thức thân phận bởi thế là một biểuhiện tiêu biểu của “cái tôi” cá nhân

Cùng với sự hình thành và phát triển của ý thức cá nhân, cảm thức thân phậntrong văn học xuất hiện từ rất sớm Ngay trong những bài ca dao, cảm thức thânphận đã được bộc lộ phong phú trong các mảng đề tài về tình yêu lứa đôi, về cuộcsống của người dân lao động trong xã hội phong kiến Đến văn học trung đại, tuy bịchị phối bởi tư tưởng Nho giáo đề cao cái ta, thì cảm thức thân phận vẫn bộc lộ mộtcách kín đáo, gián tiếp trong những sáng tác của nhiều tác giả như Nguyễn Trãi,Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ XuânHương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Tú Xương Đến phong trào Thơ mới,cùng với sự lên ngôi của cái tôi cá nhân trong thời đại biến động đầy đau thươngcủa xã hội, thì cảm thức thân phận được thể hiện hết sức phong phú, sâu sắc Đó làtâm trạng cô đơn, lạc loài, đau khổ của những thanh niên trí thức luôn khát khaođược sống có ý nghĩa nhưng mất hướng đi trong cuộc đời

Ngoài nỗi đau thời thế, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương còn mang nhữngnối bất hạnh riêng của đời mình Với Nguyễn Bính là tình cảnh côi cút bơ của đứa

bé mất mẹ từ khi mới lọt lòng, là sự đau khổ của kẻ si tình, đa tình mang trái timnồng cháy yêu đương nhưng nhiều lần thất bại Vũ Hoàng Chương lại mang trái timquặn thắt những đau thương của một chàng thi sỹ chung tình mà không được đềnđáp Trước cuộc đời vô nghĩa, đôi chàng thi sỹ dấn bước giang hồ, nhưng conđường ấy không phải là lối thoát, nó càng nhấn họ chìm sâu hơn vào những ki kịch

và bất hạnh

Trang 40

CHƯƠNG II NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA CẢM THỨC THÂN PHẬN

TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH, VŨ HOÀNG CHƯƠNG

1 Cảm thức cô đơn, lạc loài

Sống trong thời đại đầy những biến động đau thương của đời sống xã hội, thế

hệ thanh niên trí thức tiểu tư sản Việt Nam đấu thế kỷ XX vấp phải bi kịch đổ vỡ lýtưởng, mất phương hướng trước cuộc đời Sự ra đời và lên ngôi của chủ nghĩa cánhân càng dần đẩy sâu con người chìm vào những bế tắc, chán chường Khi cá nhâncàng ý thức sâu sắc về giá trị tồn tại của mình, nó càng trở nên xa lạ, tách biệt vớimôi trường sống, nó khao khát được hòa hợp nhưng không thể, nó vấp phải bi kịchcủa kẻ lạc loài, cô độc Quan niệm cá nhân xuất hiện được coi như một bước độtphá trong văn học, song chính bước đột phá táo bạo ấy lại đẩy Thơ mới vào tìnhtrạng lạc lõng, không lối thoát Nhu cầu về tự do và phát huy bản ngã của các nhàThơ mới khiến họ trở nên xa lạ, tách biệt với cuộc đời

Ngay từ khi mới xuất hiện, trong những vần thơ của Tản Đà, Thế Lữ, LưuTrọng Lư… đã nhuốm màu tâm trạng ấy Đến những sáng tác của Xuân Diệu, HuyCận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương, chủnghĩa cá nhân đã đi được một chặng đường khá dài, cái tôi trữ tình rơi vào trạngthái cô đơn, lạc loài đến tận cùng Trong cảm thức của mỗi thi nhân, tâm trạngchung đó lại được biểu hiện với nhiều sắc thái, cung bậc khác nhau, khởi nguồn từđời sống, khát vọng và cá tính riêng của mỗi người Thế Lữ mang tâm trạng lạclõng, đơn độc của một kẻ bộ hành ngơ ngác đứng giữa ngã ba đường hoang vắng,không tìm thấy hướng đi khi bóng chiều tàn đang dần đổ xuống:

“Như một kẻ bộ hành ngơ ngác Lạc vào nơi đồng đất hoang vu Tôi mang theo một mối hoài u Tìm chẳng thấy nhẽ uyên thâm trong tạo vật.”

(Trước cảnh cao rộng)

Với Huy Cận, cô đơn, lạc loài dường như là số phận tiền kiếp của con người

“Nhưng cô độc đã thầm ghi trên trán/ Lòng lạc loài ngay từ thuở sơ sinh Nhà thơ

khao khát được giao hòa, kết nối với thế giới để né tránh nỗi buồn dài dằng dặc,nhưng càng muốn hòa hợp thì nhân vật trữ tình càng thấy mình nhỏ bé, tách biệt

Ngày đăng: 12/04/2016, 18:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Bảo (1992) Thơ lãng mạn Việt Nam, NXB Hội nhà văn, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ lãng mạn Việt Nam
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
2. Huy Cận- Hà Minh Đức (1995), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca,NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi"ca
Tác giả: Huy Cận- Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
3. Nguyễn Bính (1995), Tâm hồn tôi, Lỡ bước sang ngang, Mười hai bến nước, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm hồn tôi, Lỡ bước sang ngang, Mười hai bến"nước
Tác giả: Nguyễn Bính
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 1995
4. Nguyễn Bính, Hồng Cầu (2008), Nguyễn Bính toàn tập (Tập 1), NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính toàn tập
Tác giả: Nguyễn Bính, Hồng Cầu
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2008
5. Nam Chi (1991), Thế Lữ cuộc đời và tác phẩm, NXB Văn học, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế Lữ cuộc đời và tác phẩm
Tác giả: Nam Chi
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1991
6. Tản Đà (1982), Thơ Tản Đà, NXB Văn Học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Tản Đà
Tác giả: Tản Đà
Nhà XB: NXB Văn Học
Năm: 1982
7. Phan Cự Đệ (1966), Phong trào Thơ mới, NXB Khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào Thơ mới
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Khoa học
Năm: 1966
8. Phan Cự Đệ (1999), Văn học lãng mạn Việt Nam (1930 - 1945), NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học lãng mạn Việt Nam (1930 - 1945)
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXBGiáo Dục
Năm: 1999
9. Vũ Hoàng Chương (1995), Thơ Say, Mây, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Thơ Say, Mây
Tác giả: Vũ Hoàng Chương
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 1995
10. Đoàn Thị Điểm (2007), Chinh phụ ngâm diễn ca, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chinh phụ ngâm diễn ca
Tác giả: Đoàn Thị Điểm
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2007
11. Nguyễn Đăng Điệp (1994), Khối tình lỡ của người chân quê, Tạp chí Văn học số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khối tình lỡ của người chân quê
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 1994
12. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2002
13. Hà Minh Đức – Huy Cận (chủ biên) (1993), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca, NXB Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại một cuộc cách"mạng trong thi ca
Tác giả: Hà Minh Đức – Huy Cận (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
14. Hà Minh Đức (1994), Nguyễn Bính thi sỹ của đồng quê. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính thi sỹ của đồng quê
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
15. Hà Minh Đức (1997), Một thời đại trong thi ca (về phong trào Thơ mới 1932 – 1945), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Một thời đại trong thi ca (về phong trào Thơ mới"1932 – 1945)
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1997
16. Hà Minh Đức – Đoàn Đức Phương (Tuyển chọn và giới thiệu) (2003), Nguyễn Bính về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức – Đoàn Đức Phương (Tuyển chọn và giới thiệu)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
17. Văn Giá (2002), Mười chín chân dung nhà văn cùng thời, NXB Đại học quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mười chín chân dung nhà văn cùng thời
Tác giả: Văn Giá
Nhà XB: NXB Đại họcquốc gia
Năm: 2002
18. Lê Bá Hán – Lê Quang Hưng – Chu Văn Sơn (1999), Tinh hoa Thơ mới, thẩm bình và suy ngẫm, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa Thơ"mới, thẩm bình và suy ngẫm
Tác giả: Lê Bá Hán – Lê Quang Hưng – Chu Văn Sơn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
19. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
20. Tô Hoài (1984), Một nét thơ Nguyễn Bính, Văn nghệ Hà Nam Ninh, số 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một nét thơ Nguyễn Bính
Tác giả: Tô Hoài
Năm: 1984

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w