3.2 Khảo sát hiệu quả đối kháng của các chủng Trichoderma đối với các chủng nấm bệnh trên môi trường PGA .... DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT A : số bào tử bình quân trong một ô lớn ALG : tốc
Trang 1TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG
***000***
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 12/2009
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG KHÁNG NẤM VÀ
TẠO CHẾ PHẨM SINH HỌC TỪ TRICHODERMA
Giáo viên hướng dẫn: ThS NGUYỄN NHƯ NHỨT
Trang 2
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ viii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT x
CHƯƠNG MỞ ĐẦU 12
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 14
1.1 Sơ lược Trichoderma 14
1.1.1 Hệ gen của Trichoderma 14
1.1.2 Môi trường sống 15
1.1.3 Đặc điểm hình thái 16
1.1.4 Đặc điểm sinh lý, sinh hóa 16
1.1.5 Khả năng đối kháng của nấm Trichoderma 17
1.1.6 Một số sản phẩm trao đổi của nấm Trichoderma 18
1.1.7 Một số ứng dụng của nấm Trichoderma 19
1.1.7.1 Bảo vệ thực vật[4] 19
1.1.7.2 Cải thiện năng suất cây trồng 21
1.1.7.3 Trong lĩnh vực xử lý môi trường 22
1.1.7.4 Trong lĩnh vực khác 23
1.2 Sơ lược về một số nấm gây bệnh thực vật 23
CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 28
2.1 Vật liệu 28
2.1.1 Chủng giống nghiên cứu 28
2.1.2 Vật liệu sử dụng 28
2.2 Dụng cụ, thiết bị 28
2.3 Các môi trường nuôi cấy 29
2.3.1 Môi trường PGA 29
2.3.2 Môi trường tăng sinh nấm mốc 29
2.4 Phương pháp 29
2.4.1 Phương pháp bảo quản giống trên thạch nghiêng 29
Trang 32.4.2 Phương pháp xác định tốc độ tăng trưởng sợi nấm 29
2.4.3 Phương pháp khảo sát tính đối kháng của Trichoderma đối với nấm bệnh trên môi trường PGA 30
2.4.3.1 Nguyên tắc 30
2.4.3.2 Cách tiến hành 30
2.4.3.3 Chỉ tiêu theo dõi 30
2.4.3.4 Cách xác định hiệu quả đối kháng của các chủng Trichoderma đối với nấm bệnh 30
2.4.4 Phương pháp xác định số lượng bào tử nấm mốc bằng phương pháp đo OD660 nm và đếm trực tiếp trên buồng đếm hồng cầu 31
2.4.4.1 Xác định số lượng bào tử nấm mốc bằng buồng đếm hồng cầu 31
2.4.4.2 Phương pháp đo OD660 n 32
2.4.5 Phương pháp nuôi cấy bán rắn để thu nhận bào tử 32
2.5 Các phương pháp nghiên cứu 33
2.5.1 Phương pháp chọn chủng Trichoderma có khả năng đối kháng tốt với các nấm bệnh 33
2.5.2 Phương pháp khảo sát ảnh hưởng của một số điều kiện lên quá trình tăng sinh cấp một nấm Trichoderma trên môi trường bán rắn 33
2.5.2.1 Ảnh hưởng của từng loại cơ chất riêng lẻ 33
2.5.2.2 Ảnh hưởng của sự kết hợp các loại cơ chất 33
2.5.2.3 Ảnh hưởng của độ ẩm 33
2.5.2.4 Ảnh hưởng của tỷ lệ các thành phần cơ chất trong môi trường nuôi cấy 33
2.5.2.5 Ảnh hưởng của sự bổ sung các dung dịch khoáng vi lượng 34
2.5.3 Phương pháp tăng sinh thu bào tử cấp hai nấm Trichoderma trên môi trường bán rắn 34
2.5.4 Phương pháp xác định tỷ lệ sử dụng của chế phẩm bào tử cấp hai trong phòng thí nghiệm 34
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ - BIỆN LUẬN 36
3.1 Tốc độ tăng trưởng trên môi trường PGA của các chủng Trichoderma và các chủng nấm bệnh 36
3.1.1 Tốc độ tăng trưởng trên môi trường PGA của các chủng Trichoderma 36
3.1.2 Tốc độ tăng trưởng trên môi trường PGA của các chủng nấm bệnh 37
Trang 43.2 Khảo sát hiệu quả đối kháng của các chủng Trichoderma đối với các chủng nấm
bệnh trên môi trường PGA 37
3.2.1 Khả năng đối kháng của các chủng Trichoderma với chủng NB01 38
3.2.2 Khả năng đối kháng của các chủng Trichoderma với NB02 40
3.2.3 Khả năng đối kháng của các chủng Trichoderma với NB03 42
3.3 Khảo sát ảnh hưởng thành phần môi trường và chọn lọc các điều kiện thích hợp cho sự sản xuất bào tử cấp một của nấm Trichoderma 44
3.3.1 Khảo sát ảnh hưởng của thành phần môi trường đến khả năng tạo bào tử cấp một của Trichoderma 44
3.3.1.1 Khảo sát ảnh hưởng của từng loại cơ chất riêng lẻ lên sự sản xuất của nấm Trichoderma 44
3.3.1.2 Khảo sát sự ảnh hưởng của sự kết hợp các loại cơ chất 45
3.3.2 Ảnh hưởng của lượng nước bổ sung vào môi trường nuôi cấy 48
3.3.3 Ảnh hưởng của tỷ lệ các thành phần cơ chất trong môi trường nuôi cấy 49
3.3.4 Ảnh hưởng của khoáng vi lượng 51
3.4 Nuôi cấy thu nhận chế phẩm canh trường bào tử cấp hai của các chủng Trichoderma chọn lọc 53
3.4.1 Xác định lượng bào tử có trong chế phẩm canh trường bào tử cấp hai các chủng Trichoderma 53
3.5 Khảo sát liều dùng ở mức độ phòng thí nghiệm của các chế phẩm 55
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59
4.1 Kết luận 59
4.1.1 Khả năng đối kháng của các chủng Trichoderma đối với các chủng nấm bệnh 59
4.1.2 Thành phần môi trường nuôi cấy thích hợp để thu nhận bào tử các chủng Trichoderma chọn lọc 59
4.1.3 Thu nhận chế phẩm bào tử cấp hai các chủng Trichoderma và đánh giá hiệu quả của chế phẩm 60
4.2 Đề nghị 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC 27
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Một số đặc điểm về nguồn nấm bệnh và bệnh do Sclerotium solfsii[12] 24
Bảng 1.2: Một số đặc điểm về nguồn nấm bệnh và bệnh do Rhizoctonia[12] 24
Bảng 1.3: Một số đặc điểm về nguồn nấm bệnh và bệnh do Phytophthora[12] 25
Bảng 1.4: Một số bệnh trên Hồ tiêu ở Việt Nam do nấm có trong đất gây ra[30] 26
Tên bệnh 26
Triệu chứng 26
Tác nhân 26
Bảng 1.5: Một số bệnh trên lúa ở Việt Nam do nấm có trong đất gây ra[30] 26
Bảng 1.6: Một số bệnh trên ngô ở Việt Nam do nấm có trong đất gây ra[30] 27
Bảng 2.1: Các giống Trichoderma và giống nấm bệnh dùng trong nghiên cứu 28
Bảng 3.1: Tốc độ tăng trưởng của các chủng Trichoderma trên môi trường PGA 36
Bảng 3.2: Tốc độ tăng trưởng của các chủng nấm bệnh trên môi trường PGA 37
Bảng 3.3: Kết quả đối kháng với NB01 Sclerotium rolfsii 38
Bảng 3.4: Kết quả đối kháng với NB02 Rhizoctonia solani 40
Bảng 3.5: Kết quả đối kháng với NB03 Phytophthora capsici 42
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của từng loại cơ chất riêng lẻ lên sự tạo thành bào tử của các chủng Trichoderma chọn lọc 44
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của sự kết hợp các loại cơ chất lên sự tạo thành bào tử của chủng T12 47
Bảng 3.9: Sự tạo thành bào tử của các chủng Trichoderma trên môi trường có lượng nước bổ sung 48
Bảng 3.10: Lượng bào tử Trichoderma thu được sau khi nuôi cấy trên môi trường có tỷ lệ các nguồn cơ chất khác nhau 50
Bảng 3.11: Lượng bào tử thu được khi nuôi cấy các chủng Trichoderma trên môi trường có bổ sung các dung dịch khoáng khác nhau 52
Bảng 3.12: Lượng bào tử cấp 2 của các chủng Trichoderma thu được trong chế phẩm canh trường 53
Trang 6Bảng 3.14: Hiệu quả đối kháng nấm bệnh của các chế phẩm canh trường bào tử cấp
hai Trichoderma đối với các nấm bệnh chọn lọc tương ứng (thời gian xác định: 4
ngày) 57
Bảng 4.1: Thành phần môi trường thích hợp để nuôi cấy nuôi cấy chủng Trichoderma
59
Trang 7Biểu đồ 3.7: Sự tạo thành bào tử của các chủng Trichoderma trên môi trường có lượng
nước bổ sung khác nhau 49
Biểu đồ 3.8: Lượng bào tử Trichoderma thu được sau khi nuôi cấy trên môi trường có
tỷ lệ các nguồn cơ chất khác nhau 50
Biểu đồ 3.9: Lượng bào tử Trichoderma thu được khi nuôi cấy trên môi trường có
những thành phần khoáng khác nhau 52 Biểu đồ 3.11: Hiệu quả đối kháng của chủng T27 đối với 3 chủng nấm bệnh 55 Biểu đồ 3.12: Hiệu quả đối kháng tương ứng với liều lượng sử dụng của các chủng T02, T12 và T21 đối kháng với nấm bệnh tương ứng 57
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Trang
Hình 1.1: Cấu trúc cơ quan sinh bào tử (A) và sợi tơ (B) của Trichoderma[27], [31]
Error! Bookmark not defined
Hình 1.2: Khuẩn lạc của một số chủng Trichoderma trên môi trường Potato Glucose Agar (PGA) A: T parceromosum; B: T viride; C: T hamatum và D: T resei sau 4
ngày nuôi cấy ở nhiệt độ phòng (Nguyễn Xuân Ánh Nguyệt và cộng sự, 2009) Error! Bookmark not defined
Hình 1.3: Chu trình sống của Trichoderma[32] Error! Bookmark not defined
Hình 1.4: Khuẩn lạc của một số chủng Trichoderma trên môi trường Potato Glucose Agar (PGA) A: T longibrachiatum; B: T harzianum; C: T aureoviride sau 3 ngày nuôi cấy và D: T longibrachiatum sau 4 ngày nuôi cấy ở nhiệt độ phòng (Nguyễn
Xuân Ánh Nguyệt và cộng sự, 2009) Error! Bookmark not defined
Hình 1.5: Các cơ chế kiểm soát sinh học của Trichoderma[28] 17
Hình 1.6: Các hoạt động điều hòa tăng trưởng thực vật của Trichoderma:[17] Error! Bookmark not defined
Hình 1.9: Tỷ phần các loài Trichoderma có khả năng kiểm soát sinh học [22] 19
Hình 1.11: Thử nghiệm ứng dụng Trichoderma để phòng trị bệnh do nấm R solani
trong quy trình trồng rau Diếp sạch[24] Error! Bookmark not defined
Hình 1.12: Mầm lúa được và không được xử lý với Trichoderma T-22[14] Error! Bookmark not defined
Hình 1.13: Chu trình sống của Sclerotium Error! Bookmark not defined Hình 1.14: Chu trình sống và gây bệnh của Rhizoctonia Error! Bookmark not
defined
Hình 1.15: Chu trình gây bệnh thối rễ và chồi do Phytophthora sp Error! Bookmark
not defined
Hình 1.16: Khuẩn lạc Sclerotium rolfsii và hạch nấm trên môi trường PGA sau 9 ngày
nuôi cấy (Nguyễn Xuân Ánh Nguyệt và cộng sự, 2009) Error! Bookmark not defined
Trang 9Hình 1.17: Khuẩn lạc Rhizoctonia solani và hạch nấm trên môi trường PGA sau 9
ngày nuôi cấy (Nguyễn Xuân Ánh Nguyệt và cộng sự, 2009) Error! Bookmark not defined
Hình 1.18: Khuẩn lạc Phytophthora capsici trên môi trường PGA sau 7 ngày nuôi cấy
(Nguyễn Xuân Ánh Nguyệt và cộng sự, 2009) Error! Bookmark not defined
Hình 2.1: Hình minh họa vị trí cấy Trichoderma và nấm bệnh 30
Hình 2.2: Hình minh họa cho quy ước hiệu quả đối kháng 31
Hình 2.3: Sơ đồ tóm tắt các bước nghiên cứu 35
Hình 3.1: Môi trường BKM-R trước và sau khi nuôi cấy chủng T12 46
Hình 3.2: Khả năng kiểm soát sinh học đối với nấm bệnh NB03 của chế phẩm canh trường bào tử cấp hai của chủng T21 56
Trang 11DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
A : số bào tử bình quân trong một ô lớn
ALG : tốc độ tăng trưởng đường kính trung bình
AOX : các hợp chất halogen thấm nước
BCA : nhân tố kiểm soát sinh học
D : đường kính khuẩn lạc nấm bệnh trung bình trên đĩa đối kháng
Ddc : đường kính khuẩn lạc nấm bệnh trung bình trên đĩa đối chứng ĐVT : đơn vị tính
F1 : đường kính khuẩn lạc trung bình sau 1 ngày nuôi cấy
F3 : đường kính khuẩn lạc trung bình sau 3 ngày nuôi cấy
H : hiệu quả đối kháng
L : số lần pha loãng dịch huyền phù bào tử
Trang 13CHƯƠNG MỞ ĐẦU
Bệnh hại cây trồng đã và đang tiếp tục gây thiệt hại nghiêm trọng đến mùa màng ở Việt Nam và các nước trong khu vực Đông Nam Á Bệnh dịch vàng lùn và lùn xoắn lá trên lúa ở Việt Nam gần đây cho thấy những tác động đáng kể của bệnh cây đối với kinh tế - xã hội cấp quốc gia Sự bùng phát dịch bệnh trên các cây trồng có giá trị kinh tế có thể tác động lớn đến từng hộ nông dân tại những địa phương có ít cây trồng thay thế phù hợp
Nhiều bệnh do nấm trong đất gây ra sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến cây trồng, làm giảm năng suất và chất lượng nông sản dẫn đến thu nhập của người nông dân bị giảm sút đáng kể.[11] Hơn thế nửa, chi phí cho các biện pháp phòng trừ nấm sẽ càng làm giảm hơn nữa thu nhập của họ Trong năm 2006, dịch vàng lùn và lùn xoắn lá do nấm bệnh gây ra đã gây thiệt hại lớn trên lúa ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, ảnh hưởng đến một triệu hecta lúa thuộc 22 tỉnh thành Đây là một ví dụ điển hình và cần được phòng tránh triệt để
Ở nước ta, công tác phòng trừ bệnh hại cây trồng hiện nay áp dụng bằng nhiều biện pháp, trong đó, biện pháp hóa học vẫn được xem là hữu hiệu nhất Nhưng các loại thuốc hóa học thường có tác dụng không giới hạn lên các sinh vật không phải mục tiêu (sinh vật có ích) Bên cạnh đó, việc lạm dụng các loại thuốc diệt nấm hóa học đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân, làm cho mầm bệnh trở nên kháng thuốc và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước và đất đai.[18], [19], [26]
Chính vì thế, xu hướng hiện nay là sử dụng các tác nhân sinh học như các vi sinh vật, côn trùng có ích hoặc các hợp chất có hoạt tính sinh học có nguồn gốc tự nhiên để kiểm soát dịch bệnh trên cây trồng Ưu thế của việc sử dụng các sản phẩm sinh học là tránh được việc gây ô nhiễm môi trường như các loại thuốc hóa học đã gây
ra, không ảnh hưởng xấu đến năng xuất cây trồng cũng như sức khỏe của người sử dụng, bên cạnh đó, việc tận dụng các phế phụ liệu công nông nghiệp để sản xuất các chế phẩm sản phẩm này là điều đang được các nhà nghiên cứu quan tâm sâu sắc.[19]
Ứng dụng của chế phẩm sinh học từ nấm Trichoderma hiện nay vào nông
nghiệp có thể nói bước đầu đã đáp ứng được căn bản các yêu cầu trên Số liệu thống
kê cho thấy trong số các chế phẩm sinh học đang lưu hành trên thế giới hiện nay có
Trang 14đến 60% được sản xuất từ các loài nấm Trichoderma.[17] Hiện có nhiều quốc gia ứng
dụng Trichoderma phổ biến trong nông nghiệp như Mỹ, Bỉ, Thụy Điển, Ấn Độ, Israel,
Tây Ban Nha, New Zealand, Đan Mạch…[13] Các sản phẩm này có khả năng kháng nấm bệnh gây hại cây trồng rất tốt bằng những cơ chế như: tiết ra chất kháng sinh và các enzyme phân hủy vách sợi nấm bệnh, ký sinh trên nấm bệnh và cạnh tranh dinh dưỡng, không gian với chúng Tuy nhiên, việc ứng dụng các sản phẩm vào nông nghiệp vẫn còn hạn chế do nhiều nguyên nhân như thiếu nguồn cung cấp chế phẩm, chế phẩm không đa dạng, chi phí đầu tư ban đầu cao cũng như thói quen sử dụng các sản phẩm hóa học của người nông dân
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng kháng nấm và tạo chế phẩm sinh học từ Trichoderma” với mục tiêu sản xuất chế phẩm bào tử Trichoderma có khả năng kiểm soát nấm gây bệnh thực vật và gồm các
nội dung nghiên cứu sau:
Đánh giá khả năng đối kháng của một số chủng Trichoderma đối với một vài
nấm bệnh tiêu biểu
Chọn lọc và nghiên cứu điều kiện thích hợp để sản xuất chế phẩm bào tử
Trichoderma có khả năng kiểm soát nấm bệnh
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Sơ lược Trichoderma
1.1.1 Hệ gen của Trichoderma[12]
Trichoderma là nhóm những loài nấm sợi tăng trưởng nhanh (Samuels, 1996)
và phân bố rộng khắp trên thế giới (Domsch và cộng sự, 1980; Gams và Bissett, 1998; Klein và Eveleigh, 1998) Chúng có mặt trong hầu hết các loại đất và thường chiếm ưu thế trong quần thể vi sinh vật đất (Killham, 1994) Trong những loài vi nấm sợi,
Trichoderma được phân vào có nhóm bào tử trần (Domsch và Gams, 1972)
Persoon là người đầu tiên đã giới thiệu về hệ gen của Trichoderma vào năm
1794 (Rifai, 1969) Tuy nhiên, sự phân loại các loài Trichoderma vẫn còn mù mịt và
gây nhiều tranh cãi mãi cho đến năm 1969 khi mà Rifai đã nổ lực để tìm ra một hệ
thống phân loại khả thi cho hệ gen Trichoderma Hệ thống phân loại này dựa trên hình
thái của các loài và dựa trên khái niệm “tập hợp loài” (Rifai, 1969) Đến năm 1991,
Bissett đã đề xuất một hệ thống phân loại Trichoderma có chỉnh sửa dựa trên các đặc tính về hình thái và bốn phân chi (Trichoderma, Pachybasium, Longibrachiatum và Hypocreanum) (Bissett, 1991) Mặc dù vậy hệ thống phân loại của Bissett vẫn chỉ là
xác định các đặc điểm một cách đơn giản
Trong những năm gần đây, các phương pháp phân tử đã giúp cho chúng ta cải
thiện đáng kể những hiểu biết về hệ gen Trichoderma đến cấp độ loài Hiện nay, đã có khoảng 75 loài Trichoderma đã được xác định Trong số đó, có nhiều loài là những nhân tố kiểm soát sinh học (BCA) như T hamatum, T harzianum, T koningii Oud., T polysporum (Link ex Pers.) Rifai, T virens (Harman và cộng sự, 2004; Metcalf, 2004
và Samuels, 1996)
Hệ gen Trichoderma có các đặc tính hình thái đặc trưng được dùng để phân biệt
và phân loại chúng Trichoderma là nhóm nấm có vách ngăn Chúng hình thành nên
rất nhiều nhánh mang những cuống bào tử đính tạo thành dạng có hình chóp hoặc hình nón (Rifai, 1969) Trên đỉnh của cuống bào tử đính có mang những cấu trúc dạng cổ chai Các bào tử dạng chuỗi, còn được gọi là bào tử đính, được hình thành ở đầu mút của cấu trúc cổ chai và chúng tạo thành chóp bào tử đính (Gams và Bissett, 1998)
Trang 16Như những loài khác trong nhóm nấm sợi, các loài Trichoderma chỉ có thể sinh
sản vô tính thông qua quá trình sinh bào tử mạnh mẽ hoặc chúng có thể tăng trưởng vô
tính từ những đoạn sợi (Gams và Bissett, 1998) Tuy nhiên, các loài Trichoderma cũng
có một giai đoạn hữu tính như Hypocrea (Samuels, 1996) Theo đó, giai đoạn sinh sản hữu tính của Trichoderma cũng có các đặc tính quan trọng của giai đoạn sinh sản vô
tính Trong giai đoạn này, chúng tạo thành các nang bào tử
Trichoderma là loài có đặc tính khuẩn lạc mọc thành dạng khóm (búi) với nhiều
màu sắc khác nhau như trắng, vàng, xanh… Trước đây, những đặc điểm này của
Trichoderma được sử dụng để phân loại chúng (Rifai, 1969) Ngày nay, việc sử dụng các đặc điểm hình thái để phân loại các loài Trichoderma đang dần được thay thế bằng
các phương pháp sinh học phân tử có tính chính xác, đáng tin cậy và thiết thực hơn (Lieckfeldt và cộng sự, 1998)
1.1.2 Môi trường sống
Trichoderma là những loài nấm phổ biến trong đất (Waksman, 1952) Chúng
hiện diện trong một dãy rộng các loại cấu trúc đất khác nhau từ vùng có nhiệt độ mát lạnh đến nơi có khí hậu nhiệt đới bao gồm các vùng đất nông nghiệp, đất rừng, đất cây
ăn quả, bãi cỏ hay sa mạc (Domsch và cộng sự, 1980; Hagn và cộng sự, 2003 và Roiger và cộng sự, 1991)
Nhóm nấm này gồm những nấm hoại sinh nên chúng thường phân bố trên tầng đất mặt Tại đây, hiện diện sợi nấm với số lượng lớn Tầng đất này có chứa nhiều lá rụng, rơm… và ẩm ướt nên chúng có thể sinh sản (Danielson và Davey, 1973 và Widden và Abitbol, 1980)
Một số loài nấm Trichoderma có tính năng động cao thông qua việc chúng có
thể phát triển trên các vùng sinh thái khắc nghiệt như đầm lầy muối, rừng Đước hay bùn cửa sông (Borut và Johnson, 1962; Domsch và cộng sự, 1980 và Lee và Baker, 1972) Ở những vùng sinh thái này, thông thường các loài vi nấm khó có thể tồn tại do các điều kiện áp suất thẩm thấu cao bất lợi cho sự phát triển của chúng Ở những nơi
có điều kiện như vậy, người ta thường tìm thấy loại T viride Pers.Ex Gray, đây là một loài phân bố rộng rãi nhất trong số các loài Trichoderma (Domsch và cộng sự, 1980)
Trang 17Một số loài Trichoderma khác như T harzianum được tìm thấy nhiều ở bầu rễ
các cây như lúa mì, khoai tây và thuốc lá (Pakinson va cộng sự, 1963) Chúng có thể được phân lập từ rễ của những cây lâu năm như cây liễu (Gochenaur và Backus,
1967) Qua đó cho thấy hệ gen của Trichoderma ít bị giới hạn bởi các điều kiện môi
trường sống Nhiều môi trường gần như chỉ hiện diện hệ gen này Sự giới hạn về môi trường sống chỉ có thể xảy ra trong quá trình phát tán hoặc tăng sinh của chúng.[12]
1.1.3 Đặc điểm hình thái[2]
Trichoderma là một loài nấm bất toàn, sinh sản vô tính bằng đính bào tử từ khuẩn
ty (Bertrand và cộng sự, 1998) Khuẩn ty của vi nấm không màu, cuống sinh bào tử phân nhánh nhiều, ở cuối nhánh phát triển thành một khối tròn mang các bào tử trần không có vách ngăn, liên kết với nhau thành chùm nhỏ ở đầu cành nhờ chất nhầy Bào
tử hình cầu, hình elip hoặc hình thuôn Khuẩn lạc nấm có màu lục trắng hoặc từ lục
trắng đến lục, vàng xanh màu lục xỉn đến lục đậm Các chủng của Trichoderma có tốc
độ phát triển nhanh, chúng có thể đạt đường kính khuẩn lạc từ 2 – 9 cm sau 4 ngày nuôi cấy ở 20oC
1.1.4 Đặc điểm sinh lý, sinh hóa[6]
Nấm Trichoderma spp hiện diện gần như trong tất cả các loại đất và trong một
số môi trường sống khác Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của Trichoderma là từ
30 – 35ºC Chúng là loài nấm được nuôi cấy thông dụng nhất Hầu hết chúng là những sinh vật hoại sinh, chúng cũng có khả năng tấn công các loại nấm khác
Trichoderma phát triển tốt ở pH nhỏ hơn 7 và có thể phát triển tốt ở đất kiềm
nếu như ở đó có sự tập trung một lượng CO2 và bicarbonate (Papavizas, 1985) Chúng
có thể phát triển trên nhiều loại cơ chất khác nhau như sáp, gỗ, thép không gỉ…
Trichoderma thuộc loại nấm có khả năng đối kháng, nhóm nấm này thuộc hệ vi
sinh vật đất (Pomsch và cộng sự 1920), chúng thường tiết ra các men, kháng sinh gây độc cho nấm gây bệnh hoặc nấm mà chúng kháng, cạnh tranh điều kiện sống với nấm gây bệnh Sự phân bố của các loài nấm đối kháng này phụ thuộc vào vùng địa lý, loại đất, điều kiện khí hậu và thảm thực vật ở từng khu vực
Trichoderma là vi nấm ưa ẩm, chúng đặc biệt chiếm ưu thế ở những nơi ẩm ướt, những khu rừng khác nhau Trichoderma hamatum và Trichoderma
Trang 18pseudokoningii có thể chịu điều kiện có độ ẩm cao hơn so với những loài khác Tuy nhiên, Trichoderma spp thường không chịu được độ ẩm thấp và điều này được cho là một yếu tố góp phần làm cho số lượng Trichoderma giảm rõ rệt trong những nơi có độ
ẩm thấp, song các loài Trichoderma spp khác nhau thì yêu cầu về nhiệt độ và độ ẩm
cũng khác nhau (I Grondona và cộng sự, 1997)
1.1.5 Khả năng đối kháng của nấm Trichoderma[15], [16], [27]
Nấm đối kháng có thể kìm hãm sự sinh trưởng, phát triển của nấm gây bệnh,
giúp cây hồi phục, sinh trưởng và phát triển Nấm Trichoderma có khả năng ức chế một số nấm gây bệnh khác như: Sclerotium rolfsii, Phytophthora, Fusarium, Pythium, Rhizoctonia Những loài này gây bệnh trên nhiều loài cây trồng: cây họ đậu, cây ăn
trái, hòa thảo, cây công nghiệp và cây hoa kiểng…
Sự đối kháng của nấm Trichoderma thông qua nhiều cơ chế Trong đó chủ yếu
là cơ chế phòng trừ nấm bệnh của nấm đối kháng Trichoderma là tại những điểm tiếp xúc trực tiếp của Trichoderma với nấm bệnh sẽ làm cho nấm bệnh teo đi và chết, đây
là hiện tượng ký sinh của nấm Trichoderma Ngoài ra, nấm Trichoderma còn có khả
năng sinh các chất kháng sinh nên dù không tiếp xúc trực tiếp nấm bệnh vẫn chết
Hình 1.5: Các cơ chế kiểm soát sinh học của Trichoderma[28]
Vào năm 1932, Weindling đã mô tả hiện tượng nấm Trichoderma ký sinh nấm
gây bệnh và đặt tên cho hiện tượng đó là “Giao thoa sợi nấm” (Cnyder, 1976) Hiện tượng giao thoa gồm ba giai đoạn như sau:
(1) Sợi nấm Trichoderma vây quanh sợi nấm gây bệnh
Sự ký sinh trên nấm bệnh
Sự cạnh tranh dinh dưỡng và vị trí nhiễm
Sự cản trở các yếu tố gây bệnh
Sự cảm ứng
hệ thống phòng thủ
Sự ức chế nấm bệnh tăng trưởng, sự tiêu diệt sợi và bào tử và làm giảm sự phát triển của bệnh
Trang 19(2) Sau khi vây quanh, sợi nấm Trichoderma thắt chặt lấy các sợi nấm gây bệnh
cây
(3) Cuối cùng, sợi nấm Trichoderma đâm xuyên làm thủng lớp tế bào của nấm gây
bệnh, dẫn đến sự gây bệnh làm cho chất nguyên sinh trong nấm gây bệnh bị phân hủy và dẫn đến nấm bệnh chết
Sau đó, quan sát dưới kính hiển vi, hiện tượng ký sinh của nấm Trichoderma được mô tả như sau: tại những điểm nấm Trichoderma tiếp xúc với nấm gây bệnh đã
làm cho nấm gây bệnh teo lại và chết (Dubey, 1995; Rousscu và cộng sự, 1996) Tuy
nhiên, ở những điểm không có sự tiếp xúc của nấm Trichoderma, nấm gây bệnh vẫn
chết thì các nhà nghiên cứu cho là tác động của chất kháng sinh tiết ra từ nấm
Trichoderma sinh ra gây độc cho nấm gây bệnh (Agrowcal và cộng sự, 1979;
Michrina và cộng sự 1996)
Theo L.L Burpee (1990), khả năng đối kháng của Trichoderma trong môi
trường đất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố vô sinh như pH, nhiệt độ, độ ẩm, loại đất, thành phần của không khí trong đất, các thành phần vô cơ và hữu cơ trong đất cũng như hàm lượng thuốc diệt nấm hiện diện trong đó.[16] Điều này chứng tỏ rằng các yếu
tố trong môi trường này cũng ảnh hưởng lên sự phát triển của Trichoderma Sự phụ
thuộc của sự phát triển cũng như hiệu quả đối kháng này vào môi trường là một trong
những khó khăn để đưa vào ứng dụng các chế phẩm Trichoderma
1.1.6 Một số sản phẩm trao đổi của nấm Trichoderma[4]
Trichoderma là một trong số những nhóm vi sinh vật có khả năng tổng hợp
nhiều loại kháng sinh khác nhau Weindling là tác giả đầu tiên công bố được sản phẩm
trao đổi của Trichoderma Weindling và Emerson đã và kết tinh được chất trao đổi hữu
cơ rất độc với liều lượng nhỏ Chất này có tên thông thường là Gliotoxin Chất độc thứ
2 do Brian và Mc Growan công bố là Viridian được sản xuất từ Trichoderma viride
Trước đó Webster và Lomas ghi nhận là hai chất kháng sinh này đều hiện diện trên
dịch lọc từ canh trường nuôi cấy của Trichoderma viride sau đó Weindling cô lập ra
sản phẩm Gliotoxin, Brian và Mc Growan cô lập Viridian Dennis và Webster ghi
nhận Trichoderma spp có sản phẩm kháng khác với Gliotoxin và Viridian, sản phẩm
đó là chất kháng sinh
Trang 20Ngoài chất độc là chất trao đổi và kháng sinh ra, Trichoderma còn có thể tiết ra
nhiều enzyme khác như exo và endoglucanase, cellulase và chitinase có khả năng phân hủy thành tế bào của nấm gây bệnh Trong quá trình ký sinh trên nấm bệnh,
Trichoderma có thể tiết ra các loại enzyme để phân hủy thành tế bào của nấm gây
bệnh…
Nấm Trichoderma giống như một số nấm mốc khác như Gliocladium, Calvatia
cho lượng enzyme chitinase cao Chitinase có nhiều chức năng, một trong những chức năng chính là khả năng phân hủy chitin, là thành phần chính cấu tạo vách tế bào nấm, yếu tố rất quan trọng trong hoạt động ký sinh nhằm đối kháng lại các loài nấm gây bệnh thực vật
1.1.7 Một số ứng dụng của nấm Trichoderma
1.1.7.1 Bảo vệ thực vật[4]
Một trong những nghiên cứu về ứng dụng của Trichoderma spp được quan tâm
nhiều nhất đó là khả năng kiểm soát sinh học cũng như khả năng đối kháng một số
nấm bệnh ở thực vật Các nhà nghiên cứu đã sử dụng nhiều loài Trichoderma spp
khác nhau để kiểm soát nhiều loại nấm bệnh khác nhau
Hình 1.9: Tỷ phần các loài Trichoderma có khả năng kiểm soát sinh học [22]
Hiện nay các chủng Trichoderma spp đã được sử dụng rộng rãi trong các chế phẩm sinh học thương mại như: chế phẩm sinh học BIMA (có chứa Trichoderma) của
Trung Tâm Công nghệ Sinh học TP Hồ Chí Minh, chế phẩm Vi – ĐK của Công ty thuốc sát trùng Việt Nam… đang được nông dân TP Hồ Chí Minh, khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long và Đông Nam Bộ sử dụng trong việc ủ phân chuồng để bón cho
Trang 21cây trồng Việc sử dụng chế phẩm này đã đẩy nhanh tốc độ ủ hoai phân chuồng từ 2 –
3 lần so với phương pháp thông thường, giảm thiểu ô nhiễm môi trường do mùi hôi thối của phân chuồng mà người nông dân còn tận dụng được nguồn phân tại chỗ, vừa đáp ứng được nhu cầu ứng dụng tăng khả năng kháng bệnh cho cây trồng do tác dụng
của nấm đối kháng Trichoderma có chứa trong phân Chế phẩm Trichodex với Trichoderma harzianum là thành phần chính được sử dụng để chống lại sự thối rữa của
táo sau thu hoạch Ở Mỹ, người ta rắc bột bào tử hay phủ gel bào tử lên các hạt giống
để tăng tính kháng bệnh của cây trồng hay phun bào tử lên khắp cánh đồng trước khi trồng trọt
Ứng dụng chế phẩm sinh học vào sản xuất nông nghiệp là xu hướng đang phát
triển mạnh hiện nay Trong đó, chế phẩm nuôi cấy nấm Trichoderma là một trong các
ứng dụng được xem là phổ biến vì giá thành thấp, cách sử dụng đơn giản và nhất là hiệu quả đem lại rất thuyết phục
Hình 1.10: Số liệu thống kê về thị trường các sản phẩm BCA Các BCA khác gồm vi
khuẩn, virus và giun tròn.[17]
Những người nông dân đã sử dụng nấm Trichoderma trong quy trình trồng dưa
hấu ở Tân Trụ đều có chung nhận định là các ruộng dưa giảm đáng kể tỷ lệ dưa gặp các bệnh chết cây con, chạy dây và cháy lá so với trước đó Một số khảo sát thực địa
đã cho thấy rằng: việc sử dụng nấm Trichoderma trên cây dưa hấu có thể giúp giảm 60-90% tình trạng dưa chết cây con, giảm 15-30% bệnh chạy dây do Fusarium và 10- 15% bệnh cháy lá do Phytophthora Với các vườn chanh ở Bến Lức thì ghi nhận việc
sử dụng Trichoderma có thể giúp giảm đến 80% chanh bị thối rễ, chết cành
Tuy nhiên, để có thể phát huy tác dụng của nấm Trichoderma một cách tốt nhất
thì yêu cầu người nông dân cần thực hiện đúng và đầy đủ các hướng dẫn sử dụng;
Trang 22trong đó, do Trichoderma là vi sinh vật sống nên phải có thời gian cách ly với vôi và
các loại thuốc bảo vệ thực vật trừ nấm từ 7-10 ngày; đồng thời, nấm cần có nguồn phân hữu cơ như nguồn dinh dưỡng để các bào tử nấm phát triển mạnh Cụ thể như khi trồng dưa hấu, sau khi làm đất và xử lý vôi thì tốt nhất là 10 ngày sau mới đưa nấm
Trichoderma đã được ủ với phân hữu cơ rãi đều trên các luống trồng, rồi sau đó cho
tưới, đặt màng phủ nông nghiệp và gieo hạt giống trực tiếp hoặc đặt cây con đã bầu
sẳn Tương tự, với cây chanh, Trichoderma được đưa vào đất khi lên mô và bổ sung
vào các lần bón phân thúc
Thông qua tác dụng phòng ngừa một số bệnh hại nên nấm Trichoderma giúp
giảm một phần thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), giảm ô nhiễm môi trường, giúp cây trồng sinh trưởng khỏe, giúp đất tơi xốp, giữ độ phì đất lâu dài và cho sản phẩm sạch,
an toàn Vì thế có thể khẳng định chế phẩm Trichoderma sẽ được ứng dụng rất rộng
rãi trên nhiều loại cây trồng trong thời gian tới
1.1.7.2 Cải thiện năng suất cây trồng[2], [4], [6]
Cũng như thuốc trừ sâu, việc sử dụng phân bón hóa học lâu ngày sẽ làm cho đất canh tác bị thoái hóa, chai sạn, các loại giun đất không phát triển được làm hạn chế độ xốp, đồng thời độ thông khí cần thiết cho rễ cây cũng thiếu hụt Vì vậy, xu hướng hiện nay trên thế giới là sử dụng các phân bón hữu cơ sinh học thế hệ mới – thực chất là một sự kết hợp giữa phân bón vi sinh và thuốc trừ sâu sinh học, dựa trên cơ sở đấu tranh sinh học Các loại phân bón hữu cơ vi sinh này có tác dụng:
1) Phòng ngừa các nấm gây bệnh thối mốc, bệnh héo rũ, bệnh nấm sương mai
và hạn chế các tác hại nguy hiểm do các nấm gây mục gỗ nhờ khả năng bất hoạt enzyme của các nấm gây bệnh, đồng thời bảo vệ cây trồng khỏi các côn trùng đục phá thân
2) Tạo điều kiện tốt cho vi sinh vật cố định đạm phát triển trong đất, kích thích
sự tăng trưởng và phục hồi bộ rễ, đồng thời có khả năng phân giải các chất xơ, chitin, ligin, pectin… trong các phế thải hữu cơ thành các đơn chất dinh dưỡng, tạo điều kiện cho cây trồng hấp thu dễ dàng
3) Hiện nay, một giống nấm Trichoderma đã được phát hiện là chúng có khả
năng gia tăng số lượng rễ mọc sâu (sâu hơn 1 m dưới mặt đất) Những rễ sâu này giúp các loài cây như bắp hay cây cảnh có khả năng chịu được hạn hán Một khả năng có lẽ
Trang 23đáng chú ý nhất là những cây bắp có sự hiện diện của nấm Trichoderma dòng T-22 ở
rễ có nhu cầu về đạm thấp hơn đến 40% so với những cây không có sự hiện diện của loài nấm này ở rễ
4) Sử dụng chế phẩm kết hợp với phân hữu cơ có tác dụng cải tạo làm cho đất tơi xốp hơn, tăng hàm lượng chất mùn và mật độ côn trùng có ích, giữ được độ phì của đất
Ngoài những chế phẩm đã kể trên, ở nước ta, các sản phẩm phân hữu cơ sinh học có ứng dụng kết quả nghiên cứu mới này hiện có trên thị trường như loại phân Cugasa của Công ty Anh Việt (TP Hồ Chí Minh); phân VK của Công ty Viễn Khang (Đồng Nai)… đã được nông dân các vùng trồng rau, cây ăn trái, cây tiêu, cây điều và cây rau hoan nghênh và ứng dụng hiệu quả
1.1.7.3 Trong lĩnh vực xử lý môi trường[4]
Trichoderma harzianum có khả năng phân hủy các chất gây ô nhiễm trong đất
rừng Sự tồn tại của các hợp chất chloroguaiacols và các hợp chất AOX (các hợp chất halogen thấm nước) trong chất thải của các nhà máy sản xuất bột giấy ở hồ Bonney,
Đông Nam nước Úc và các sản phẩm phân giải của Trichoderma harzianum đã được
nhà khoa học Van Leeuwen cùng các cộng sự nghiên cứu Chất tẩy trắng chlor của các nhà máy sử dụng sulfite hóa bột giấy được tháo ra hồ một cách gián đoạn đã làm xuất hiện các hợp chất chlorophenol trong nước và cặn bẩn Hợp chất chlorophenol này rất
độc Trichoderma harzianum có khả năng làm giảm bớt sự tập trung của các hợp chất
tự do 2,4,6–trichlorophenol; 4,5–dichloroguaiacol và cả AOX trong môi trường có chứa muối khoáng Loài nấm này cũng có khả năng dehalogen hóa tetrachloroguaiaacol tự do trong môi trường khoáng mặn
Trichoderma harzianum đã chứng tỏ khả năng phân giải hiệu quả của chúng
trên ciliatin, glycophosphat và amino methylphosphonic acid (3–methoxyphenyl)
Một công trình nghiên cứu khác sử dụng chủng nấm mốc Trichoderma reesei
RUT – 30 để xử lý chất thải sinh hoạt đô thị, hứa hẹn một nguồn sản xuất enzyme được đánh giá là tốt hơn và kinh tế hơn so với enzyme cellulase được lấy từ các nguồn
cơ chất cellulose tinh chế
Trang 241.1.7.4 Trong lĩnh vực khác[29]
Lương thực và ngành dệt
Trichoderma spp là những nhà máy sản xuất nhiều enzyme ngoại bào rất có
hiệu quả Chúng được thương mại hóa trong việc sản xuất các cellulase và các enzyme khác phân hủy các polysaccharide phức tạp Nhờ vậy chúng thường được sử dụng trong thực phẩm và ngành dệt cho các mục đích tương ứng
Nguồn gen để sử dụng trong chuyển gen
Nhiều vi sinh vật kiểm soát sinh học đều có chứa một số lượng lớn gen mã hóa các sản phẩm có hoạt tính cần thiết sử dụng trong kiểm soát sinh học Nhiều gen có
nguồn gốc từ Trichoderma đã được tạo dòng và có tiềm năng ứng dụng rất lớn trong
chuyển gen để tạo ra cây có khả năng kháng được nhiều bệnh
L.Grange và cộng sự đã nghiên cứu biểu hiện gen – xylanase (XYN2) của
Trichoderma reesei ở Saccharomyces cerevisiae để bổ sung vào thức ăn của gia cầm,
tăng khả năng tiêu hóa hemicellulose trong lúa mạch và các cây lương thực khác 1.2 Sơ lược về một số nấm gây bệnh thực vật
Bệnh hại cây trồng gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho thu nhập của nhiều nông dân Việt Nam qua việc làm giảm năng suất và chất lượng nông sản Chi phí cho các biện pháp phòng trừ như thuốc trừ nấm càng làm giảm hơn nữa thu nhập của người dân
Đôi khi bệnh bùng phát thành dịch tàn phá các cây trồng chính Những dịch bệnh như vậy có thể tác động nghiêm trọng đến kinh tế và xã hội của toàn thể một vùng hoặc quốc gia Chẳng hạn như trong năm 2006, dịch vàng lùn và lùn xoắn lá đã gây thiệt hại lớn trên lúa ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, ảnh hưởng đến một triệu hecta lúa thuộc 22 tỉnh thành Bệnh dịch này trực tiếp ảnh hưởng đến hàng triệu gia đình nông dân
Một trong những tác nhân chính gây ra các bệnh cây trồng là nấm, điển hình là
các loài: Phytophthora, Fusarium, Rhizoctonia, Pythium, Sclerotium… Chúng gây ra
một số bệnh như: gỉ sắt, thối rễ, thối thân, héo rũ…
Tính chất trồng trọt quanh năm tại các vùng châu thổ Việt Nam, sự lan truyền của các tác nhân gây bệnh trong nước tưới, thoát nước kém, cây giống không sạch
Trang 25bệnh và khí hậu nhiệt đới là những yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các bệnh này
Bảng 1.1: Một số đặc điểm về nguồn nấm bệnh và bệnh do Sclerotium solfsii[12]
Triệu chứng Gây thối ở gốc thân, cây bệnh héo và chết
Các dấu hiệu
chuẩn đoán
Các sợi nấm màu trắng và các hạch nấm nhỏ màu nâu, tròn, dạng hạt cải, được hình thành trên bề mặt gốc thân bị bệnh Các sợi nấm trắng, phát triển mạnh khi bệnh lan từ cây bệnh sang cây khỏe
Phổ ký chủ Bao gồm cà chua, ớt, bầu bí, đậu cô ve, cà rốt và hành… Nấm bệnh
thường xâm nhiễm vào các cây trồng đã bị ảnh hưởng bởi các tác nhân gây bệnh khác (bệnh cơ hội)
Thời tiết Bệnh trầm trọng nhất trong điều kiện thời tiết ấm trở nên nóng, mưa
hoặc môi trường ẩm ướt
Bảo tồn Tồn tại dưới dạng hạch nấm trong đất qua thời gian dài
Xâm nhiễm Sợi nấm phát triển từ hạch nấm xâm nhiễm vào cây qua gốc, thân
Sự xâm nhiễm sẽ nhanh và mạnh hơn ở những nơi có tàn dư cây bệnh sót lại trên bề mặt đất Các sợi nấm có thể mọc lan đến vài cm trên mặt đất từ cây hoặc mô bệnh để xâm nhiễm những cây gần đó
Bảng 1.2: Một số đặc điểm về nguồn nấm bệnh và bệnh do Rhizoctonia[12]
Các triệu
chứng chính
Phụ thuộc vào loài, chủng nấm và cây ký chủ, bao gồm lở cổ rễ cây
con, héo, chết cây con Rhizoctonia gây ra những vết thối đen trên
lá ở bắp cải Bệnh khô vằn lúa và khô vằn ngô sẽ thấy xuất hiện các vết bệnh màu vàng và các vết mất màu bất thường xen kẽ
Các dấu hiệu
chuẩn đoán
Việc chuẩn đoán thường phụ thuộc vào quá trình phân lập và giám định nấm thuần trên môi trường nhân tạo Các hạch nấm điển hình màu nâu, hình dạng bất định được hình thành ở một số loài trên các
mô ký chủ bệnh
Phổ ký chủ Đa dạng, tùy thuộc vào chủng nấm
Trang 26Thời tiết Điều kiện thời tiết mưa ướt, ấm tới nóng tạo điều kiện thuận lợi cho
sự phát triển của các bệnh ở lá và thân cây Các bệnh ở cây con và thối rễ lại gây hại nặng hơn trên cây trồng ảnh hưởng bởi những điều kiện thời tiết không thuận lợi Ví dụ, cây con đậu cô ve dễ mẫn cảm với bệnh lở cổ rễ khi trời lạnh vì nhiệt độ thấp làm chậm việc nảy mầm và nhú chồi
Bảo tồn Tồn tại trong đất dưới dạng hạch nấm hoặc sợi nấm trong tàn dư
cây ký chủ
Xâm nhiễm Các sợi nấm Rhizoctonia trong tàn dư cây bệnh xâm nhiễm trực
tiếp vào mô cây và một số tạo các cấu trúc xâm nhiễm đặc biệt Hạch nấm nảy mầm tạo ra sợi nấm xâm nhiễm vào cây
Bảng 1.3: Một số đặc điểm về nguồn nấm bệnh và bệnh do Phytophthora[12]
Các triệu
chứng chính
Cây bị bệnh chết dần từ ngọn cây và có thể có triệu chứng thối rễ
và nứt ở phần thân gần mặt đất Các cây rau bị thối rễ như ớt trở nên còi cọc và héo Cây thường chết nhanh sau khi các triệu chứng héo trầm trọng xảy ra
Các dấu hiệu
chuẩn đoán
Việc chuẩn đoán đòi hỏi quá trình phân lập và giám định tác nhân gây bệnh Triệu chứng héo cũng có thể do các tác nhân khác làm thối rễ và thân
Phổ ký chủ Phổ ký chủ của Phytophthora tùy thuộc vào từng loài cụ thể Một
số loài như Phythophora palmivora có phổ ký chủ rộng, trong khi các loài khác như Phythophora infestans có phổ ký chủ hẹp
Thời tiết Các bệnh do Phytophthora thích hợp với điều kiện ẩm ướt Lượng
mưa cao tại các vùng nhiệt đới thúc đẩy quá trình lan truyền của du động bào tử và các mầm bệnh khác theo nước mưa tạt Du động bào tử cũng di chuyển theo nước trong các lạch và kênh tưới tiêu
Nhiều loài Phytophthora ưa điều kiện nóng ẩm trong khi đó một số loài như Phythophora infestans gây bệnh mốc sương, lại ưa điều
kiện ẩm ướt và mát
Trang 27Bảo tồn Các tác nhân gây bệnh bảo tồn dưới dạng bào tử trứng và/hoặc bào
tử hậu trong đất, có thể được phát tán theo vật liệu nhân giống, đất hoặc nông cụ có chứa nấm bệnh
Xâm nhiễm Cách thức xâm nhiễm tùy từng loài và ký chủ Tuy nhiên, quá trình
xâm nhiễm vào các bộ phận khác nhau của cây sẽ được thực hiện bởi bào tử trứng, bọc bào tử động và du động bào tử Mưa tạt hoặc côn trùng làm phân tán bào tử lên bộ lá của cây Vì vậy, quá trình xâm nhiễm có thể bắt đầu từ thân, lá và quả
Hiện nay, bệnh hại cây trồng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long rất phong phú Có gần 30 dạng bệnh hại cây trồng do nấm ở vùng này
Bảng 1.4: Một số bệnh trên Hồ tiêu ở Việt Nam do nấm có trong đất gây ra[30]
Bệnh rụng lóng
(tiêu cùi)
Các lóng rụng dần từ đọt xuống hoặc rụng đồng loạt nhiều long
Rhizoctonia solani, Phitophthora sp
Bệnh thối cổ rễ Dây tiêu có màu vàng và héo từ đọt xuống
Cổ rễ có vết bệnh ẩm ướt, thối, làm vỏ cổ
rễ bong ra Dưới vết bệnh mọc ra chồi mới
Phytophthora parasitica var
piperina
Bệnh héo rũ Các lá dưới bị vàng héo dần lên các lá trên
Dây héo đột ngột, trong dây tiêu có màu đen, rễ cũng có màu đen
Fusarium sp
Bệnh héo dây Dây héo dần dần, lá vàng, vết bệnh màu
nâu xuất hiện ở phần thân cách mặt đất khoảng 1-2 dm Bệnh nặng, nhu mô nơi vết bệnh bong ra
Sclerotium sp
Bảng 1.5: Một số bệnh trên lúa ở Việt Nam do nấm có trong đất gây ra[30]
Bệnh đốm vằn Xuất hiện ở bẹ lá các đốm có hình bầu dục
dài 1-3 cm Nhóm đốm liên kết làm cho vùng bệnh có dạng vằn Bệnh có khả năng lây lan rất nhanh
Rhizoctonia solani
Bệnh đốm vòng Trên vỏ hạt nhiễm có đốm nâu nhạt hay
trắng bạc, bìa vết có màu nâu đậm, tâm vết
có đốm đen nhỏ Nấm có thể xâm nhập vào hạt gạo bên trong làm biến màu hạt gây giòn và dễ vỡ
Alternaria padwickii
Trang 28Bệnh than lá Trên cả 2 mặt lá có các đốm nhỏ như sọc
ngắn, hình chữ nhật hay elip có góc cạnh 0.5-1.5 mm x 0.5-5 mm, màu đen chì
Entiloma oryzae
Bệnh gạch nâu Trên lá xuất hiện những vết gạch màu nâu,
ngang 1mm, dài 2-10mm
Cercospora oryzae
Bệnh lúa von Bệnh có thể thấy trong nương mạ hay trong
ruộng cấy, cây con bị nhiễm bệnh sẽ cao hơn, ốm yếu và hơi vàng Sau 1 thời gian cây sẽ chết
Fusarium moniliforme
Bảng 1.6: Một số bệnh trên ngô ở Việt Nam do nấm có trong đất gây ra[30]
Bệnh đốm vằn Xuất hiện ở bẹ lá các đốm hình bầu dục dài
1-3 cm Nhóm đốm liên kết làm cho vùng bệnh có dạng vằn Lây lan rất nhanh
Rhizoctonia solani
Bệnh đốm vòng Trên vỏ hạt nhiễm có đốm nâu nhạt hay
trắng bạc, bìa vết có màu nâu đậm, tâm vết
có đốm đen nhỏ Nấm có thể xâm nhập vào hạt gạo bên trong làm biến màu hạt gây giòn và dễ vỡ
Alternaria padwickii
Bệnh than lá Trên cả 2 mặt lá có các đốm nhỏ như sọc
ngắn, hình chữ nhật hay elip có góc cạnh 0,5-1,5 mm x 0,5-5 mm, màu đen chì
Entiloma oryzae
Bệnh gạch nâu Trên lá xuất hiện những vết gạch màu nâu,
ngang 1mm, dài 2-10 mm
Cercospora oryzae
Bệnh lúa von Bệnh có thể thấy trong nương mạ hay trong
ruộng cấy, cây con bị nhiễm bệnh sẽ cao hơn, ốm yếu và hơi vàng Sau 1 thời gian cây sẽ chết
Fusarium moniliforme
Trang 29CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Vật liệu
2.1.1 Chủng giống nghiên cứu
Giống Trichoderma và nấm bệnh do phòng thí nghiệm Chi nhánh công ty
TNHH Gia Tường cung cấp
Bảng 2.1: Các giống Trichoderma và giống nấm bệnh dùng trong nghiên cứu
TM1 Trichoderma hamatum NB01 Sclerotium rolfsii
T02 Trichoderma hamatum NB02 Rhizoctonia solani
T11 Trichoderma harzianum NB03 Phytophthora capsici
Trang 302.3 Các môi trường nuôi cấy
2.3.1 Môi trường PGA[6]
Khoai tây 200g
Glucose 20g
Agar 24g
H2O 1000ml
2.3.2 Môi trường tăng sinh nấm mốc[21]
Các loại môi trường bán rắn là sự kết hợp của các thành phần lấy từ 2 nhóm (xem mục 2.1.2) theo các tỷ lệ khác nhau với độ ẩm (lượng nước bổ sung) chiếm khoảng 55% tổng khối lượng môi trường (phụ lục 1) Sau khi trộn đều các thành phần với nhau, môi trường được hấp khử trùng ở 1atm trong 40 phút
2.4 Phương pháp
2.4.1 Phương pháp bảo quản giống trên thạch nghiêng[5]
Giống vi sinh vật được bảo quản trên thạch nghiêng ở nhiệt độ lạnh Trong điều kiện lạnh, hệ enzyme bị ức chế, quá trình trao đổi chất giảm, nhờ đó duy trì sự ổn định mật độ bào tử của vi sinh vật trong thời gian dài Phương pháp này đơn giản, áp dụng cho nhiều loài vi sinh vật
Các chủng giống nghiên cứu được cấy chuyền trên các ống thạch nghiêng chứa
môi trường PGA và ủ 5 ngày (đối với các chủng Trichoderma) và 10 ngày (đối với các
chủng nấm bệnh) Sau đó giống được giữ trong điều kiện lạnh
2.4.2 Phương pháp xác định tốc độ tăng trưởng sợi nấm[28]
Nuôi cấy trên đĩa petri chứa môi trường PGA
Xác định tốc độ tăng trưởng đường kính trung bình (ALG, average linear growth) theo công thức:
ALG = (F3_ F1)/T (mm/ngày)
Trong đó:
F1: Đường kính khuẩn lạc trung bình sau 1 ngày nuôi cấy (mm)
F3: Đường kính khuẩn lạc trung bình sau 3 ngày nuôi cấy (mm)
Trang 31T: Khoảng thời gian khác nhau giữa hai lần xác định đường kính (ngày), = 2 ngày
2.4.3 Phương pháp khảo sát tính đối kháng của Trichoderma đối với nấm bệnh trên môi trường PGA[7], [26]
2.4.3.1 Nguyên tắc
Chủng Trichoderma có khả năng đối kháng với nấm bệnh khi chúng có thể ức
chế sự phát triển của khuẩn lạc nấm bệnh trên đĩa petri có chứa môi trường PGA Khuẩn lạc nấm bệnh thí nghiệm bị ức chế sẽ có đường kính nhỏ hơn đường kính
khuẩn lạc trên đĩa đối chứng (không có sự hiện diện của Trichoderma)
2.4.3.2 Cách tiến hành
Môi trường PGA được hấp khử trùng và rót vào các đĩa Petri đã vô trùng, mỗi đĩa khoảng 20ml môi trường
Cấy Trichoderma và nấm bệnh trên 2 điểm đối xứng nhau qua tâm đĩa petri;
Các điểm cấy cách mép đĩa 1,5cm.[13]
Hình 2.1: Hình minh họa vị trí cấy Trichoderma và nấm bệnh
Đĩa đối chứng là đĩa chỉ được cấy riêng nấm bệnh mà thôi
Ủ trong tối ở nhiệt độ phòng
2.4.3.3 Chỉ tiêu theo dõi
Chỉ tiêu xác định: Đường kính khuẩn lạc nấm bệnh tại thời gian thời gian khuẩn lạc nấm bệnh trên đĩa đối chứng phát triển đến mép đối diện của đĩa
2.4.3.4 Cách xác định hiệu quả đối kháng của các chủng Trichoderma đối với nấm
Sau khi tiến hành thử đối kháng, theo dõi các đĩa đã cấy cho đến khi hai vòng
tròn đối kháng của Trichoderma và nấm bệnh tiếp xúc nhau
Công thức tính hiệu quả ức chế theo Soytong (1988):
Trang 32H = (Ddc – D)/Ddc*100 (%)
Trong đó:
H : Hiệu quả ức chế (%) D: Đường kính khuẩn lạc nấm bệnh trung bình trên đĩa đối kháng (cm)
Ddc: Đường kính khuẩn lạc nấm bệnh trung bình trên đĩa đối chứng (cm) Quy ước hiệu quả đối kháng như sau:
[_]: Không đối kháng [+]: Đối kháng kém (H < 50%) [++]: Đối kháng trung bình (H = 51-60%) [+++]: Đối kháng tốt (H = 61-75%)
[++++]: Đối kháng cực tốt (H > 75%)
Hình 2.2: Hình minh họa cho quy ước hiệu quả đối kháng 2.4.4 Phương pháp xác định số lượng bào tử nấm mốc bằng phương pháp đo
2.4.4.1 Xác định số lượng bào tử nấm mốc bằng buồng đếm hồng cầu[5]
Bào tử nấm mốc có kính thước tương đối lớn nên có thể quan sát trực tiếp dưới
kính hiển vi quang học (vật kính 10) Buồng đếm hồng cầu (gọi là buồng đếm
Neubauer) có 25 ô lớn, mỗi ô lớn có 16 ô nhỏ Thể tích mỗi ô nhỏ là 1/20 x 1/20 x 1/10 = 1/4000 mm3 Dịch bào tử được pha loãng trong nước muối sinh lý (0,85%), vortex đều rồi cho vào mao dẫn vào buồng đếm, quan sát dưới kính hiển vi ta có được
lượng bào tử trong từng ô lớn Ta chỉ đếm 5 ô lớn (4 ô ở góc và 1 ô ở giữa)
Cách tính mật độ bào tử: mỗi ô nhỏ có thể tích là 1/4000 mm3 và 1 ô lớn có thể tích là 1/25 mm3 hay 1/25 x 10-3 cm3 = 4 x 10-6 ml Từ đó ta suy ra công thức tính mật
độ bào tử:
Trang 33S = 0,25*a*L*106 (bào tử/ml) Trong đó:
a: số bào tử bình quân trong 1 ô lớn S: lượng bào tử trong dịch huyền phù bào tử
L: số lần pha loãng dịch huyền phù bào tử 2.4.4.2 Phương pháp đo OD 660 nm[5]
Thực hiện pha loãng huyền phù bào tử nấm mốc bằng dung dịch NaCl 0,85% sao cho thu được các huyền phù có OD660 nm là: 0,1; 0,2; 0,3; 0,4 và 0,5 Dùng buồng đếm hồng cầu để xác định mật độ bào tử tương ứng với các huyền phù khác nhau (bào tử/ml) Vẽ đường cong tuyến tính giữa OD660 nm và lg của mật độ bào tử
Xác định mật độ bào tử có trong huyền phù (huyền phù X) Nếu trị số OD660nm nhận được nằm ngoài vùng tuyến tính giữa mật độ bào tử (bào tử/ml) và OD660nm , tiến hành pha loãng huyền phù này để có giá trị OD660nm nằm trong vùng tuyến tính Từ đó, suy ra được mật độ bào tử cần tìm Trong trường hợp có pha loãng thì mật độ bào tử cần tìm là mật độ bào tử suy ra từ đồ thị nhân với số lần pha loãng
2.4.5 Phương pháp nuôi cấy bán rắn để thu nhận bào tử[9]
Lấy 10ml dung dịch nước muối sinh lý 0,85% vô trùng để huyền phù bào tử trong ống giống được giữ trên môi trường thạch nghiêng Pha loãng huyền phù bào tử sao cho đạt được 105 bào tử/ml
Cấy 2ml huyền phù bào tử trên vào các erlen chứa 20g môi trường bán rắn (đã được hấp khử trùng) rồi đảo đều
Ủ ở nhiệt độ phòng trong 5 ngày Sau khi ủ, dùng NaCl 0,85% để chiết lấy bào
tử khỏi canh trường Lọc và pha loãng dịch bào tử cho phù hợp để đo OD đo được ở bước sóng 660nm nằm trong vùng từ 0,1 0,5 Dựa vào đường chuẩn ở mục 2.4.4 ta xác định được lượng bào tử có trong mỗi erlen (N)
Trang 342.5 Các phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp chọn chủng Trichoderma có khả năng đối kháng tốt với các
nấm bệnh
Tiến hành xác định hiệu quả đối kháng của 8 chủng Trichoderma với 3 loài
nấm bệnh theo mục 2.4.4 Dựa vào hiệu quả đối kháng, chọn được các chủng
Trichoderma có khả năng đối kháng tốt với các nấm bệnh
2.5.2 Phương pháp khảo sát ảnh hưởng của một số điều kiện lên quá trình tăng
sinh cấp một nấm Trichoderma trên môi trường bán rắn
2.5.2.1 Ảnh hưởng của từng loại cơ chất riêng lẻ
Nuôi cấy bán rắn riêng lẻ từng chủng Trichoderma chọn lọc trên nhiều môi
trường chứa các loại cơ chất khác nhau ở mục 2.3.2 và phụ lục 1 Sau khi nuôi cấy 5 ngày và xác định được số lượng bào tử trong mỗi erlen, từ đó chọn được loại cơ chất
tốt nhất cho sự tăng sinh của nấm Trichoderma chọn lọc
2.5.2.2 Ảnh hưởng của sự kết hợp các loại cơ chất[9]
Tiến hành nuôi cấy riêng lẻ từng chủng Trichoderma chọn lọc trong môi trường
có loại cơ chất thích hợp đã chọn ở mục 2.5.2.1 có bổ sung thêm các cơ chất khác nhóm (mục 2.1.2) Xác định lượng bào tử trong mỗi erlen sau khi nuôi cấy 5 ngày để chọn môi trường có chứa các thành phần kết hợp thích hợp
2.5.2.3 Ảnh hưởng của độ ẩm[9], [20]
Nuôi cấy riêng lẻ các chủng Trichoderma trên môi trường có các nguồn cơ chất
phối hợp thích hợp (mục 2.5.2.2) với độ ẩm môi trường thay đổi từ 45% đến 65% Độ
ẩm thích hợp được xác định là hàm lượng nước bổ sung (%) cho vào erlen mà ở đó lượng bào tử tạo thành nhiều nhất
2.5.2.4 Ảnh hưởng của tỷ lệ các thành phần cơ chất trong môi trường nuôi cấy
Tiến hành nuôi cấy riêng lẻ từng chủng Trichoderma chọn lọc trên môi trường
có các thành phần thích hợp đã chọn được ở (mục 2.5.2.3) với tỷ lệ các thành phần khác nhau Dựa vào lượng bào tử đã được xác định trong mỗi erlen sau khi nuôi cấy 5 ngày, xác định tỷ lệ các thành phần cơ chất trong môi trường nuôi cấy thích hợp để tiếp tục nghiên cứu
Trang 352.5.2.5 Ảnh hưởng của sự bổ sung các dung dịch khoáng vi lượng[10], [18], [26]
Sau khi đã chọn lọc được môi trường thích hợp ở mục 2.5.2.4, tiến hành khảo sát ảnh hưởng của các dung dịch khoáng vi lượng bổ sung vào môi trường nuôi cấy
Có 4 loại dung dịch khoáng: MS1, MS2, MS3 và MS4 (xem phụ lục 2) Loại dung dịch khoáng nào cho kết quả thu được lượng bào tử cao nhất sẽ được chọn để tiếp tục nghiên cứu
2.5.3 Phương pháp tăng sinh thu bào tử cấp hai nấm Trichoderma trên môi trường bán rắn[9]
Nuôi cấy tăng sinh cấp hai riêng lẻ từng chủng Trichoderma chọn lọc ở các
điều kiện đã được xác định (mục 2.5.2) Canh trường sau khi ủ được đem đi xác định
số lượng bào tử và so sánh hiệu quả đối kháng của bào tử trong chế phẩm với bào tử
Trichoderma từ thạch nghiêng và bào tử cấp 1 Trichoderma
2.5.4 Phương pháp xác định tỷ lệ sử dụng của chế phẩm bào tử cấp hai trong phòng thí nghiệm[8], [20]
Xác định tỷ lệ sử dụng của các chế phẩm canh trường bào tử cấp hai của các
chủng Trichodema bằng cách cấy vào đĩa Petri chứa môi trường PGA sao cho mật độ bào tử Trichoderma đạt 1, 10, 102, 103, 104, 105, 106 và 107 bào tử/ml môi trường Sau
đó cấy chủng nấm bệnh đã xác định tương ứng (mục 2.5.1) vào giữ đĩa Petri Ủ các đĩa
ở nhiệt độ phòng cho đến khi khuẩn lạc nấm bệnh trên đĩa đối chứng (đĩa không có
hiện diện của bào tử Trichoderma) phủ đầy khắp đĩa Petri Xác định đường kính khuẩn
lạc của nấm bệnh sau khi ủ và tính hiệu quả đối kháng của các chế phẩm ở những tỷ lệ
sử dụng trên theo mục 2.4.3