Vì thế trong văn học dân gian đã có nhiều các công trình nghiên cứu của các tác giả thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: Công trình nghiên cứu biểu tượng trong thơ ca dân gian người Việt
Trang 1MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU Trang
1. Lí do chọn đề tài 3
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3. Phương pháp nghiên cứu 4
3.1. Phương pháp thống kê, so sánh 4
3.2. Phương pháp phân tích tổng hợp 5
3.3. Phương pháp so sánh, đối chiếu 5
4. Mục đích, ý ngĩa của đề tài 5
5. Cấu trúc niên luận 6
B. PHẦN NỘI DUNG Chương I Điểm tương đồng giữa hình tượng người vợ lẽ trong ca dao và trong tuyện cổ tích 1.1. Hình tượng văn học và hình tượng người vợ lẽ trong văn học dân gian.6 1.1.1. Hình tượng nhân vật trữ tình trong ca dao 7
1.1.2. Hình trượng nhân vật trong truyện cổ tích 9
1.1.3. Bối cảnh lịch sử xã hội 10
1.2. Nội dung biểu hiện 12
1.2.1. Phẫn uất về kiếp chồng chung 12
1.2.2. Sự bần cùng hóa của người nông dân 14
1.2.3. Sự phụ thuộc của cha mẹ, chế độ phong kiến 16
1.3. Than thân 18
1.4. Giá trị của người vợ lẽ tượng trưng cho người phụ nữ cổ xưa 21
Chương II Điểm khác biệt về hình tượng người vợ lẽ giữa ca dao và truyện cổ tích. 2.1 Nội dung 24
2.2 Hình thức nghệ thuật 26
C KẾT LUẬN Phần phụ lục 31
Trang 2Tài liệu tham khảo 35
Trang 3cũng như tâm hồn của nhân dân được hòa vào trong ca dao và biết được những triết lí sâu sắc của nhân dân được gử gắm vào trong tuyện cổ tích Mặt khác, điều
đó còn giúp ta hiểu được những bản sắc của văn hóa Việt Nam, giúp cho việc lựa chọn những giá trị tốt đẹp để xây dựng nhân cách con người Theo nghiên cứu và sưu tầm của cá nhóm tác giả như: Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang
Nhơn với cuốn Văn học dân gian Việt Nam Vũ Ngọc Phan với cuốn tục ngữ ca
dao và quyển 2,tập II tuyển tập văn học dân gian đã nói lên khá đầy đủ các thể loại
của văn học dân gian Trong quá trình tiếp cận đó tôi nhận thấy có một bộ phận sáng tác đề cập đến số phận người vợ lẽ và những nét riêng về số phận của họ trong ca dao và truyện cổ tích Do vậy để mở rộng khảo sát hơn tôi dã mạnh dạn
chọn đây là đối tượng khảo sát chính cho niên luận của mình với đề tài: Số phận
người vợ lẽ trong kho tàng ca dao và truyện cổ tích của người Việt
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ca dao, truyện cổ tích là một thể loại ra đời từ rất sớm, nó trải qua một quá trình lâu dài với những chặng đường hình thành và biến đổi Vì thế trong văn học dân gian đã có nhiều các công trình nghiên cứu của các tác giả thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: Công trình nghiên cứu biểu tượng trong thơ ca dân gian người Việt về con cò, cái bống của Vũ Ngọc Phan, rồi ca dao có mở đầu bằng từ “thân em”, rồi “trách giận” hay tìm hiểu về một lĩnh vực cụ thể nào đó trong truyện cổ tích Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam có nhóm tác giả Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn đã đề cập đến hình ảnh người phụ nữ dưới chế dộ
phong kiến xưa Trong cuốn tục ngữ ca dao của Vũ Ngọc Phan, phương pháp
nghiên cứu dân gian của Chu Xuân Diên và quyển 2, tập II tuyển tập văn học dân gian đã có ít nhiều đề cập đế hình ảnh người phụ nữ.
Trang 4Với chuyên luận Thi pháp ca dao, nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Kính đã
tìm hiểu các vấn đề ngôn ngữ hình tượng, kết cấu, thể thơ, thi pháp diễn xướng, thời gian, không gian nghệ thuật trong ca dao Theo tác giả thì không gian nghệ thuật trong ca dao truyền thống chủ yếu là không gian trần thế, đời thường, bình dị, phiếm chỉ với những nhân vật chưa được cá thể hóa, mang tâm trạng tình cảm chung của nhiều người
Nhưng đối với đề tài số phận người vợ lẽ trong ca dao và truyện cổ tích của
người Việt thì đây cũng là một đề tài mới và chưa có nhiều người nghiên cứu.
Từ những công trình nghiên cứu trên đây, tôi có thể nhận diện rõ hơn về nội dung cũng như nghệ thuật của các bài ca dao và cổ tích khác nhau Từ đó làm nền tảng vững chắc cho tôi thực hiện niên luận này
Vậy qua bài niên Luận này tôi đi tìm hiểu và trình bày về số phận người vợ
lẽ trong ca dao và trong truyện cổ tích để so sánh, làm rõ hơn về số phận cũng như cuộc đời và con người của họ
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1: Phương pháp thống kê, so sánh
Phương pháp thống kê và so sánh là một phương pháp dùng trong khoa học nghiên cứu Nó đòi hỏi sự tỉ mỉ, miệt mài, cần cù và độ chính xác của người nghiên cứu Thông qua phương pháp này ta sẽ khảo sát những bài ca dao, truyện cổ tích đề cập đến hình tượng người vợ lẽ qua đó khái quát được những nội dung, hình thức nghệ thuật mà các tác giả dân gian sáng tạo nên Không những vậy, thông qua phương pháp này chúng ta có thể biết thêm được nhiều các câu ca dao, truyện cổ tích một cách cụ thể và đáng tin cậy
Trang 53.2 Phương pháp phân tích tổng hợp
Qua phương pháp này ta có thể trình bày rõ về từng thể loại cụ thể và đi sâu vào các khía cạnh để cảm nhận cùng với đời sống con người Bên cạnh đó ta có thể thấy được các bước đi của các nhà nghiên cứu trước đó để rồi áp dụng, sáng tạo thêm và tìm ra điểm mới mà các tác giả dân gian muốn truyền đạt tới người đọc thông qua ngôn ngữ
3.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Thông qua ca dao và cổ tích để tiến hành phương pháp này để thấy rõ những đặc điểm và chỉ ra sự kế thừa của các bài, các tác giả khác nhau ở từng thời đại so với xã hội phong kiến xưa
4. Mục đích, ý nghĩa của đề tài
Ca dao là tiếng hát trữ tình phản chiếu đời sống tâm hồn Nó chứa đựng nhiều nội dung khác nhau, phản ánh hiện thực đa dạng những tâm trạng, những tư tưởng
và tình cảm của đời sống con người Nên nhân vật trữ tình trong ca dao nói chung
và số phận người vợ lẽ trong ca dao nói riêng luôn tìm được sự đồng cảm, cảm thông sâu sắc từ phía người đọc Còn truyện cổ tích thường có tinh thần lạc quan phản ánh triết lí sống, đạo lý làm người và ước mơ công lý của nhân dân, phản ánh mặt tốt, thói xấu ở đời, về sinh hoạt, tư tưởng của con người nên luôn nhận được
sự phê phán, lên án từ phía người tiếp nhận Vì thế khi đi vào đề tài này tôi mong muốn có được cách nhìn nhận mới hơn về số phận người vợ lẽ trong một nhóm ca dao, cổ tích có vị trí không nhỏ trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam
Thông qua những bài ca dao, truyện cổ tích đề cập đến số phận người vợ lẽ này chúng ta có thể thấy rõ hơn những đặc trưng thi pháp thể loại của nó và phần nào
Trang 6thấy được những hình ảnh mà trong đó có một phần thế giới họ luôn khát khao vươn tới.
Ngoài ra việc thực hiện đề tài này ta sẽ có cái nhìn khách quan sơ bộ và đánh giá cũng như có cái nhìn mới về mảng đề tài số phận người vợ lẽ để rồi trên cơ sở
đó ta có thể tiếp tục cho các đề tài nghiên cứu khác
5 Cấu trúc niên luận
Ngoài phẩn mở đầu và phần kết luận ra thì niên luận này gồm hai chương và phần phụ lục:
Chương I: Điểm tương đồng giữa hình tượng người vợ lẽ trong ca dao và trong truyện cổ tích
Chương II: Điểm khác biệt về hình tượng người vợ lẽ trong ca dao và trong truyện cổ tích
Phần phụ lục bao gồm: Những bài ca dao, truyện cổ tích nói về số phận người vợ
lẽ do các tác giả dân gian tập hợp, sưu tầm
Cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo
Chương I: Điểm tương đồng giữa hình tượng người vợ lẽ trong ca dao và trong truyện cổ tích.
1.1 Hình tượng văn học và hình tượng người vợ lẽ trong văn học dân gian.
“Văn học dân gian là sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân lao động, ra đời từ thời kì công xã nguyên thủy trải qua các thời kì phát triển lâu dài trong các chế độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại ngày nay”
[1,tr.7]
Trang 7Từ khái niệm trên ta thấy văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật phản ánh sinh động cuộc sống thực tế, chất liệu chủ yếu dùng để sáng tạo nên tác phẩm văn học dân gian là ngôn từ Ngông từ đóng vai trò quan trọng để tạo nên nội dung, ý nghĩa tác phẩm Văn học dân gian là kết quả của quá trình sáng tác tập thể
và tồn tại được dưới hình thức truyền miệng do đó mà nội dung của nó vô cùng phong phú Cho nên bản sắc văn hóa của con gười Việt Nam, đặc biệt là số phận của người phụ nữ đã được in dậm trong văn học dân gian Khác với hình ảnh thực trong xã hội phong kiến, hình ảnh người phụ nữ, đặc biệt hơn là số phận người vợ
lẽ đã được phản ánh trong các thể loại văn học dân gian luôn xuất hiện với giá trị,
vẻ đẹp và thể hiện được khát vọng tự do, khát vọng được đề cao của người phụ nữ
1.1.1 Hình tượng nhân vật trữ tình trong ca dao
Trong kho tàng ca dao người Việt, hình ảnh người vợ lẽ được nói đến với những con người đảm đang, có tính kiên nhẫn và có sức chịu đựng cao:
Lấy chồng làm lẽ khổ thay
Đi cấy đi cày chị chẳng kể công Đến tối chị giữ mất chồng Chị cho manh chiếu nằm không nhà ngoài
Đến sáng chị gọi: Bớ Hai!
Trở dậy nấu cám, thái khoai, băm bèo
Vì chưng bác mẹ tôi nghèo Cho nên tôi phải băm bèo, thái khoai
Trang 8Qua bài ca dao trên ta thấy người làm lẽ ở đây thường làm đủ mọi việc trong cuộc sống từ đi cấy, đi cày rồi nấu cám, thái khoai, băm bèo mà không một lời than thở nào, đến cả đi cấy, đi cày những công việc được cho là của đàn ông nhưng họ vẫn làm mà không kể công mà chỉ nói lý do rằng nhà nghèo nên đã đẩy họ tới việc phải làm các công việc như băm bè, thái khoai Người vợ lẽ trong ca dao mà các tác giả dân gian hay nhắc tới thường có sức chịu đựng cao Nhìn chung trong cuộc sống đời thường của họ từ lúc sinh ra đã mang thân phận nghèo nên phải cam chịu
số phận, điều đó đồng nghĩa với việc tự do yêu đương là điều không thể và việc đảm đang, nhẫn nại và cam chịu cũng là điều đương nhiên
Thân phận của người phụ nữ cũng phải chịu nhiều bất hạnh, dường như họ ý thức được giá trị nhân phẩm của mình nhưng đành cam chịu và không một chút phản kháng để rồi chính họ đã rơi vào một bi kịch của thân phận, của hôn nhân
Ca dao xưa nói về số phận người vợ lẽ cũng khá nhiều Hầu như hình ảnh của
họ hiện lên đều là những con người đảm đang, câu ca dao dưới đây sẽ nói một cách hóm hỉnh về hình ảnh đảm đang của người làm lẽ xưa
-Trên trời có vẩy tê tê Một ông bảy vợ chẳng chê vợ nào một vợ tát nước bờ ao Phải trận mưa rào đứng núp bờ ao
Một vợ thì đi buôn bè Cơn sóng, cơn gió nó đè xuống sông
Một vợ thì đi buôn bông Chẳng may cơn táp nó giông lên trời
Một vợ thì đi buôn vôi Khi vôi phải nước nó sôi ầm ầm
Trang 9Một vợ thì đi buôn mâm Không may mâm thủng lại nằm ăn toi
Một vợ thì đi buôn nồi Không may nồi méo, một nồi hai vung.
Một vợ thì đi buôn hồng Không may hồng bẹp, một đồng ba đôi Than rằng: "Ðất hỡi, trời ơi!
Trời cho bảy vợ như tôi làm gì?
Văn học dân gian không chỉ đem đến cho con người hiểu được số phận người
vợ lẽ trong ca dao Để biết thêm về hình ảnh cũng như con người của họ, ta đi tìm hiểu thêm các nhân trong những câu truyện cổ tích
1.1.2 Hình tượng nhân vật trong truyện cổ tích
Nếu như trong ca dao hội tụ khá đầy đủ những đức tính tốt đẹp của người phụ
nữ làm vợ của người Việt xưa thì đến với truyện cổ tích thì những người làm vợ cũng có nhiều nét đẹp như vậy Nhưng vẻ đẹp đó lại được hội tụ ở người vợ cả, còn
số phận người làm lẽ lại thể hiện ít hơn rất nhiều, thậm chí là không có được những đức tính tốt đẹp này
Trong văn học dân gian, truyện cổ tích là hiện thân của những giấc mơ đẹp của người Việt cổ hướng tới một xã hội công bằng, con người được sống trong no ấm dân chủ, hạnh phúc Các tác giả dân gian đã thể hiện những giấc mơ đó thật rõ ràng qua cái thiện và cái ác Trong truyện cổ tích, tiêu chí của cái thiện nằm ở chính nghĩa Có nghĩa thì sẽ gặp được người tốt giúp đỡ, nhận được những phép màu kỳ diệu còn cái ác, cái phi nghĩa thì nhất định sẽ bị trừng trị thích đáng Bởi thế mà số phận người vợ lẽ trong truyện cổ tích thường có sự phân tuyến rõ ràng theo hướng
“tuyệt đối” tốt hoặc xấu cũng không có nhân vật nào bí ẩn Dường như hình ảnh
Trang 10người vợ lẽ hiện lên trong cổ tích thường đa số là những người xấu người gì ghẻ Còn nhân vật đại diện cho lý tưởng tốt đẹp lại là người vợ cả, những người có số phận bi thảm, là những con người “thấp cổ bé họng”, thậm chí họ phải chết đi sống lại rất nhiều lần nhưng cuối cùng lại được hưởng tự do và hạnh phúc Số phận như
vậy tiêu biểu là Tấm (Tấm Cám) Hình tượng này đại diện cho tính hiền thảo của người phụ nữ Bên cạnh đó còn có nàng Trang Lan (Chàng Tơ Rá Trang Lan), nàng Ủa (Chàng Lú Nàng Ủa)… Cũng như hình tượng người vợ lẽ trong ca dao
thì họ là những người phụ nữ giàu lòng nhân hậu bao dung
Thực tế trong lịch sử dân tộc ta từ bao đời nay cũng xuất hiện rất nhiều những hình ảnh người phụ nữ đại diện cho nhiều cái đẹp với nhiều đức tính gương mẫu
mà không chỉ có những người làm lẽ mới có Khác với hình ảnh người phụ nữ, những người vự lẽ trong ca dao thì ở đây họ là những con người cụ thể Đó là hình tượng Hai Bà Trưng Đây là hình tượng người phụ nữ Việt Nam đầu tiên đứng lên lãnh đạo nhân dân giành độc lập tự do cho dân tộc Về thi văn thì có nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan, nữ sĩ Hồ Xuân Hương… là những cánh hồng tươi thắm trong vườn hoa văn học
1.1.3 Bối cảnh lịch sử xã hội
Văn học dân gian ra đời từ thời kì công xã nguyên thủy nên trải qua suốt bốn nghìn năm lịch sử, văn học dân gian truyền thống đã là một tư liệu quá báu giúp chúng ta dựng lại một cách khái quát những chặng đường lịch sử của dân tộc từ thủa xưa đến bây giờ Nó là một loại hình nghệ thuật mang giá trị thẩm mĩ đặc sắc Điều dó được thể hiện trong cả ca dao và truyện cổ tích
Khi nhắc đến ca dao và truyện cổ tích thì ta thấy khác hẳn với thần thoại hay các thể loại khác của văn học dân gian Truyện cổ tích xuất hiện phần lớn khi công
xã thị tộc tan rã và đuợc thay thế bằng các gia đình riêng lẻ, khi xã hội có phân
Trang 11chia giai cấp Thời kì đó là thời kì phong kiến, lúc đó chính là lúc số phận con người bị ràng buộc bởi những lễ giáo phong kiến, không được tự do lựa chọn và quyết định số phận của mình Đó cũng là lúc tôn giáo phát triển mạnh mẽ Mà tôn giáo là sản phẩm mê muội của loài nguời, khi khả năng và sự hiểu biết của cha ông
ta rất hạn chế Ở nước ta lúc đó Đạo Phật đã dùng phật Thoại và Đạo Thần tiên đã dùng Tiên Thoại để làm cho giáo lí của mình đi sâu vào quần chúng nhân dân
Những câu chuyện kể về các vị thần giúp đỡ như cô Tấm (Tấm cám) đuợc tiên giúp đỡ và đuợc hồi sinh đến bốn lần, vợ của Rồng (Vợ chồng chàng rồng) cũng vì
cá nuốt mà đuợc sống Hơn nữa truyện cổ tích lúc đó chủ yếu phản ánh cuộc đấu tranh xã hội, nội dung của chính lịch sử đó Truyện cổ tích sản sinh trong một giai đoạn lịch sử dài Ở nước ta hơn hai nghìn năm duới chế độ phong kiến kể từ sau khi nước Âu Lạc bị xâm luợc, đó là thời đại của truyện cổ tích Tóm lại, nguồn gối chính
Cùng với truyện cổ tích thì ca dao cũng xuất phát từ hoàn cảnh thực tế xã hội lúc bấy giờ Lúc đó xã hội phong kiến ảnh hưởng mạnh mẽ của tư tưởng nho giáo nên con người, nhất là những số phận phụ nữ, những con người hỏ bé, những người vợ lẽ được cho là thấp kém nhất của xã hội thì không được hưởng một hạnh phúc thực sự Ca dao dân ca phản ánh lịch sử lúc đó Hơn nữa, ca dao còn có mặt ngay trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân lao động, nên có còn là kho tài liệu về phong tục tập quán của nhân dân ta thời kỳ đó Theo phó Giáo sư, Tiến sĩ
Đặng Văn Lung, trưởng ban văn học dân gian phát biểu: “Tất cả các dân tộc trên
thế giới suốt mấy nghìn năm, chỗ nào cũng có ca dao và dân ca” Và “Nó tồn tại
từ rất lâu, từ hàng ngàn năm trước và như các nhà khoa học nghiên cứu trước đây, các học giả đã nói ca dao ra đời khi trong lòng mình có những điều muốn thể hiện
ra, muốn nói lên Những điều đó được gọi là ca dao” [9].
Trang 121.2 Nội dung biểu hiện
1.2.1 Phẫn uất về kiếp chồng chung
Cuộc đời phụ nữ đâu chỉ phải gánh chịu những bất hạnh trong tình yêu, khi
đã tìm được bến đỗ của cuộc đời, cứ ngỡ rằng họ sẽ hạnh phúc, thế nhưng họ cũng phải đối mặt với vô vàn những trái ngang, nghịch cảnh Nổi bật lên trong ca dao xưa là nỗi đau của những thân gái phải chịu kiếp “chồng chung”:
Gió lùa bụi chuối sau hè Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ Gió đưa bụi trúc ngã quỳ Thương cha phải chịu lụy dì, dì ơi!
Nếu như trong văn học trung đại việt Nam ta được biết đến nữ sĩ Hồ Xuân Hương với kiếp “Lấy chồng chung” của “Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng” thì đến với ca dao xưa ta lại thấy cái kiếp chồng chung đó được thể với nội dung trữ tình, phong phú hơn
Ca dao tiếng nói trữ tình ngọt ngào, sự giận giữ, phẫn uất được thốt ra cũng mang đậm tâm tư tình cảm của con người bởi những hiệp vần thơ và thanh điệu cùng những cặp lục bát Còn cổ tích là những câu chuyện có cốt truyện mang nhiều yếu tố li kỳ với những số phận có đường đi muôn ngả Khác với hình ảnh những người vợ lẽ trong ca dao thì người vợ lẽ ở đây được các tác giả dân gian đã thể hiện là những con người độc ác, là những mụ gì ghẻ, những người đi tìm hạnh phúc nhờ sự tranh cướp nhưng chính những tâm địa độc ác đó lại không tìm được bến đỗ của mình Còn hân vật đại diện cho lý tưởng tốt đẹp thì thấp cổ bé họng và
phải chết đi nhiều lần sống lại như cô Tấm trong Tấm cám, như em Lu trong Hai
chị em Vùi và Lu, hay với số phận của cô em trong Chàng rể Cóc Đây đều là
Trang 13những số phận nghiệt ngã khi có một kẻ thứ 3 xen ngang vào giữ cuộc sống hạnh phúc của họ, nhưng chỉ vì thấp bé, chí vì không có tiếng nói trong xã hội nên sự phẫn uất đó phải nhờ những vị thần hay những đấng siêu nhiên giúp đỡ Điều đó cũng tạo nên yếu tố li kỳ trong truyện cổ tích Cũng chính sự quan tâm đến số phận những con người nhỏ bé đó đã thể hiện giá trị nhân đạo của cổ tích, phẩm chất của người phụ nữ chính là đại diện cho phẩm chất cao quý của nhân dân.
Nỗi đau của những người vợ cả có lẽ không được đề cập một cách rõ nét trong ca dao, bởi ít nhất họ cũng có danh phận Ngược lại đối với truyện cổ tích thì lại được nhắc đến nhiều Nhưng trong niềm cảm thương cho những kiếp chồng chung, thấp thoáng đâu đó ta bắt gặp trong ca dao có những nạn nhân của thói “có mới nới cũ” Người đời thường nói: đàn ông yêu bằng mắt Bởi vậy, những người
vợ cả thường là những kẻ yếu thế trong cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa chốn tình trường Nhưng xét cho cùng, sự phai tàn xuân sắc của họ là kết quả của những tháng năm dài hi sinh vì chồng, vì con Ấy vậy mà đáp lại mong ước giản dị của
họ là sự phụ bạc phũ phàng của những ông chồng gió trăng:
-Gió đưa bụi chuối sau hè Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ Con thơ tay ẵm tay bồng Tay dắt mẹ chồng, đầu đội thúng bông.
Hay:
-Sông bao nhiêu nước cũng vừa Trai bao nhiêu vợ cũng chưa bằng lòng.
Như vậy, ca dao và truyện cổ tích đã nói lên được những tâm tư, tình cảm và
sự phẫn uất của con người đặc biệt là những người làm vợ, làm lẽ trong xã hội
Trang 14phong kiến xưa Ở hai thể loại này của văn học dân gian đã cho ta thấy hình ảnh cũng như số phận của họ đều là nạn nhân của nhiều tầng áp bức và là hạng người đau khổ nhất Đời sống của họ đầy rẫy sự chịu đựng Nếu có niềm vui nào thì cũng chỉ là niềm vui hi sinh cho chồng con.
1.2.2 Sự bần cùng hóa của người nông dân
Trong ca dao và cổ tích xưa, đặc biệt là ca dao, cổ tích nói về các mối quan
hệ trong gia đình thì số phận người phụ nữ gần như là chủ đạo Ở trong ca dao thường thì mượn hình ảnh con cò, con tằm… để thể hiện số phận bé mọn của mình, bởi ở đó họ tìm thấy những nét trương đồng của những loài vật thâm thuộc ấy
Mặt khác, số phận của những con người này đi vào cảnh bần cùng hóa chính
là những hình ảnh thực của những người mẹ, người chị mà đặc biệt hơn cả là những người vợ với nhiều số phận cay đắng khác nhau Họ mang trong mình nhiều
vẻ đẹp nhưng dường như họ lại không có tiếng nói trong xã hội, thậm chí không có
sự lựa chọn cho hạnh phúc và cuộc sống tương lai của mình
Nếu như những người phụ nữ nói chung và những người vợ lẽ nói riêng trong cuộc sống hiện đại họ có quyền tự do yêu đương, tìm hiểu, có quyền lụa chọn cho hạnh phúc riêng của chính mình thì số phận người vợ, người phụ nữ hiện lên trong những câu ca dao xưa lại ngược lại Thậm chí họ bị xem như những món hàng, đồ vật để trao đổi hoặc mua được:
Thân em như chổi đầu hè Phòng khi mưa gió đi về chùi chân
Chùi rồi lại vứt ra sân
Trang 15Gọi người hàng xóm có chân thì chùi
Cuộc sống của họ không biết đến ngày mai, không biết rồi tương lai sẽ như thế nào Đặc biệt là những số phận làm lẽ Họ chịu cảnh chung chồng, chịu những
số phận hẩm hiu Nếu như đàn ông cới năm thê bảy thiếp thì ngược lại với gái chính duyên lại chỉ có một chồng Những người như vậy mang tiếng là có chồng nhưng lại phải chịu cảnh chung chồng với người khác, một hạnh phúc được hưởng không trọn vẹn Nhiều đêm quạnh hiu trống vắng trong cô đơn lạnh lẽo Thậm tệ hơn nữa họ còn phải chịu cảnh ghen ghét, lòng đố kỵ, sự tàn ác và ích kỷ của những người vợ cả để rồi đẩy con người đến bước đường cùng của sự sống
Số phận con người bị rơi vào cảnh bần cùng hóa như vậy không chỉ có ở trong ca dao mà còn được các tác giả dân gian thể hiện cả trong những câu chuyện
cổ tích chắc hẳn ai cũng có mật lần được nghe, được học Tiêu biểu nhất vẫn là truyện Tấm Cám Tấm là một người vợ, nhưng là người vợ cả và phải chịu những
số phận chẳng kém gì những người vợ lẽ trong ca dao Nhưng ở đây lại có phần bi thảm hơn Dường như giữa những người vợ họ chịu chung một số phận, rơi vào còn đường ngõ cụt, thậm chí ở trong cổ tích thì những người phụ nữ không có tiếng nói còn phải nhiều lần chết đi rồi sống lại mơi có thể tìm được hạnh phúc chân chính của chính mình Như cô Tấm phải trải qua nhiều kiếp nạn lúc thì hóa thân thành khung cửi, thành con chim sẻ rồi lại quả thị Nhưng cuối cùng cái thiện vẫn thắng cá ác và những số phận như thế lại trở về với cuộc sống nguyên bản của
nó Bên cạnh đó còn có hàng loạt các câu chuyện khác cũng được kể, đặc tả về số
phận cũng như con người của họ như truyện Inh và Ính, Chàng Tơ Rá Trang Lan…
Còn người làm lẽ trong cổ tích lại còn có một kết cục chung nhất, đó là cái ác chết
đi, cái thiện ở lại rồi để lại đó bao bài học về sự sống, số phận cho con người bao
hế hệ
Trang 16Dù ở trên bất cứ phương diện nào đi chăng nữa suy cho cùng thì số phận người phụ nữ xưa đặc biệt là những người vợ lẽ đã cho thấy họ không có quyền lựa chọn cho cuộc sống của họ giữa sự sống, ước mơ và những lý tưởng cao đẹp về một cuộc sống hạnh phúc hơn, họ bị rơi vào cảnh bần cùng hóa bởi lẽ họ còn bị ràng buộc ở một nền gia đình và một chế độ lễ giáo phong kiến lạc hậu xưa.
1.2.3 Sự phụ thuộc của cha mẹ, chế độ phong kiến
Ca dao và cổ tích rất phong phú và đa dạng phản ánh mọi mặt của đời sống con người và xã hội Thông qua ca dao và truyện cổ tích cách tác giả dân gian đã phản ánh một cách chân thực cuộc sống của người nông dân và lên án xã hội thối nát đó
đã đẩy con người vào cảnh khốn cùng Một xã hội đó đãng lẽ ra phải được loại bỏ Dưới chế độ phong kiến xưa, con người bị bóp nghẹt quyền sống, quyền tự do yêu đương và quyền theo đưởi ước mơ, hưởng hạnh phúc chính đáng của mình Văn học dân gian là một bộ môn đã khái quát một cách đầy đủ nhất số phận của con người đặc biệt là hình ảnh người phụ nữ được nhắc đến nhiều
Người xưa có câu “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” quả đúng như vậy Nếu như ở thời hiện đại con cái có quyền tự do yêu đương, tự do lựa chọn và tìm hiểu lẫn nhau thì ngược lại với chế độ xã hội phong kiến bất công đó cha mẹ đặt đâu thì con phải ngồi đó Con cái không có quyền lựa chọn cho hạnh phúc riêng của chính mình, đặc biệt là nữ nhi Thậm chí chính học còn không biết được những người mà mình sắp phải lấy là ai, người như thế nào Sự phụ thuộc đó được thể hiện trong
các câu chuyện cổ tích Trong quyển II, tập 2 tuyển tập văn học dân gian của GS
Chu Xuân Diên có rất nhiều truyện cổ tích được nói đến việc cha mẹ ép gả con cái
đi lấy chồng như truyện Hoàng Tử Rắn là một ví dụ điển hình Vì công cụ làm
ruộng đã bị rắn lấy đi mà người cha đã phải gả đi cô con gái út của mình đi làm vợ rắn để lấy lại vật dụng làm ruộng nuôi sống ca gia đình Tương tự vậy có truyện
Trang 17chàng rồng, chàng rể cóc Các nhân vật người cha định gả trong truyện không hề
biết mặt mũi về người chồng mà cô sắp lấy cho tới khi nhận lời hiếu để cứu cha thì mới biết thân thế của chồng mình, rồi cô ưng thuận và có một hạnh phúc về sau
Về điểm này, không chỉ có trong những câu chuyện cổ tích mà còn trong cả ca dao cũng thể hiện rất rõ sự phụ thuộc, ép đặt của cha mẹ lên hạnh phúc con cái Trong xã hội thối nát đó, cái xã hội mà con người, những số phận nhỏ bé sẽ không
có sự lựa chọn mà chỉ biết chấp nhận sự bất hạnh:
Ở đời nên phải chiều đời Chồng hời như cú, vợ thời như tiên Bởi chưng bố mẹ em tham học, tham tiền Cho nên cú ở với tiên cùn đời Bao giờ mãn kiếp con cú kia ơi Thì tiên với cú mới rời được nhau.