Khảo sát thực tiễn việc thực hành quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án hình sự về ma túy từ năm 2005 đến nay ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa.. Tính cấp thiết của đề tài
Trang 1Quyền công tố trong các vụ án hình sự về ma tuý quan thực tiễn tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá Prosecutors in criminal cases on drug-related practices in the People's Procuracy of Thanh
Hoa province NXB H : Khoa Luật, 2012 Số trang 89 tr +
Lữ Thị Phương Quý
Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Khoa Luật Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật; Mã số: 60 38 01
Người hướng dẫn: GS TS Nguyễn Đăng Dung
Năm bảo vệ: 2012
Abstract Nghiên cứu lịch sử hình thành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân theo các bản
Hiến pháp Nghiên cứu việc tổ chức thực hành quyền công tố ở một số nước trên thế giới Nghiên cứu thực trạng tổ chức thực hành quyền công tố ở Việt Nam Khảo sát thực tiễn việc thực hành quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án hình sự về ma túy từ năm 2005 đến nay
ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về nội dung và hình thức để qua đó nâng cao chức năng thực hành quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án hình sự về ma tuý ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Thanh Hóa nói riêng
Keywords: Viện kiểm sát nhân dân; Quyền công tố; Pháp luật Việt Nam; Luật hình sự; Thanh
Hóa
Content
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đề tài luận văn thạc sĩ Luật học: "Quyền công tố trong các vụ án hình sự về ma túy (qua thực tiễn
Viện kiểm sát tỉnh Thanh Hóa)" được nghiên cứu bởi những lý do cấp thiết sau:
Thứ nhất: Yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay đòi hỏi phải nâng cao
chất lượng hoạt động của các cơ quan bảo về pháp luật trong đó có việc tăng cường chất lượng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân nhằm chống bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội và bảo về pháp chế xã hội chủ nghĩa Đây là một trong những nội dung quan trọng được thể hiện trong nhiều nghị quyết của Đảng như Nghị quyết số 08/NQ/2002 ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một
số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới
Trang 2Việc thực hành quyền công tố ở Việt Nam do Viện kiểm sát nhân dân thực hiện trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tích trong việc trừng trị tội phạm và bảo vệ quyền tự do dân chủ của nhân dân Tuy nhiên so với yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm còn nhiều hạn chế về cả nhận thức và thực tiễn
Thứ hai, vấn nạn về ma túy đang là một vấn đề nhức nhối ảnh hưởng lớn đến cuộc sống, sinh hoạt
của toàn nhân loại Ma túy đã gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, ảnh hưởng đến sự trường tồn của toàn dân tộc Toàn thế giới hiện nay có khoảng 100 triệu người nghiện ma túy, ở Việt Nam trong 5 năm qua có 783.339 người nghiện ma túy Đáng lo ngại là ma túy đã tràn lan vào cả các trường học từ cấp tiểu học trở lên Theo thống kê 63/63 tỉnh thành đều có học sinh, sinh viên sử dụng ma túy Đối với tỉnh Thanh Hóa là một tỉnh rộng, địa hình phức tạp, đường biên giới với nước bạn Lào dài Dân số đông dẫn đến số người nghiện ma túy cũng nhiều Do vậy tình hình tội phạm về ma túy đang là một trong những vấn đề nhức nhối Hàng năm cơ quan chức năng đã phát hiện bắt giữ, xử lý hàng chục nghìn vụ vi phạm và tội phạm về ma túy, triệt phá nhiều đường dây ma túy lớn hoạt động nhiều năm, xóa nhiều tụ điểm ma túy phức tạp làm thay đổi tình hình ở một số địa bàn; các cơ quan tiến hành tố tụng đã đưa ra xét xử nghiêm minh một số lượng rất lớn các vụ án ma túy, đưa một số lượng lớn các đối tượng nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện Thông qua đó góp phần nâng cao nhận thức của nhân dân đối với cuộc đấu tranh về tội phạm này
Trước sự gia tăng đến mức lo ngại của tội phạm ma túy, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm chỉ đạo kiên quyết đấu tranh nhằm từng bước ngăn chặn và đẩy lùi, tiến tới loại trừ loại tội phạm nguy hiểm này
ra khỏi đời sống xã hội, tuy nhiên việc giải quyết các vụ án ma túy đang còn gặp nhiều khó khăn cả về lý luận và thực tiễn bởi tội phạm về ma túy diễn biến phức tạp, quá trình giải quyết án chia thành nhiều giai đoạn khác nhau do vậy việc điều tra, truy tố, xét xử gặp nhiều khó khăn Việc quản lý chỉ đạo điều hành đối với công tác này còn có những thiếu sót nhất định
Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu này Trên cơ sở đó làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận
và thực tiễn, đề ra những giải pháp cơ bản giúp cho việc thực hành quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án hình sự về ma túy ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có chất lượng, đáp ứng yêu cầu về cải cách tư pháp và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm ở tỉnh Thanh Hóa
2 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích:
- Làm rõ cơ sở lý luận về chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong chính thể nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Trên cơ sở lý luận về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân liên hệ việc thực hành quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án hình sự về ma túy ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa Qua đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố dưới góc độ hoàn thiện pháp luật và thực tiễn áp dụng
Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu lịch sử hình thành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân theo các bản Hiến pháp
- Việc tổ chức thực hành quyền công tố ở một số nước trên thế giới
Trang 3- Nghiên cứu thực trạng tổ chức thực hành quyền công tố ở Việt Nam
- Khảo sát thực tiễn việc thực hành quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án hình sự về ma túy từ năm 2005 đến nay ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa
- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về nội dung và hình thức để qua đó nâng cao chức năng thực hành quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án hình sự về ma tuý ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Thanh Hóa nói riêng
3 Phương pháp tiếp cận vấn đề
Cơ sở lý luận của luận văn dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước nói chung, tổ chức
và hoạt động của các cơ quan tư pháp nói riêng; quan điểm về đấu tranh phòng chống tội phạm của Đảng
và Nhà nước ta Các học thuyết chính trị, pháp lý về tổ chức hoạt động của cơ quan tư pháp trong nhà nước xã hội chủ nghĩa Lý luận chung về nhà nước pháp luật, chủ nghĩa Hiến pháp và các khoa học pháp
lý liên quan Bên cạnh đó luận văn còn nghiên cứu dựa trên những quy định của pháp luật hình sự và luật
tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta từ khi thành lập đến nay
Từ những cơ sở lý luận trên, luận văn tiếp cận vấn đề trên cơ sở phương pháp luận của duy vật lịch
sử và các phương pháp khác so sánh, phân tích, tổng hợp và khảo sát thực tiễn nhằm làm rõ các nội dung cần nghiên cứu
4 Ý nghĩa của luận văn
Những nội dung nghiên cứu của luận văn là một đóng góp nhỏ trong việc nhìn nhận và đánh giá hoạt động của cơ quan Viện kiểm sát trong đó có chức năng thực hành quyền công tố Qua đó có cái nhìn đúng đắn về hoạt động này trong thực tiễn để thấy rõ được vai trò của Viện kiểm sát trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm hình sự nói chung và tội phạm về ma túy nói riêng
Ngoài ra luận văn còn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án hình sự về ma túy trong tiến trình cải cách tư pháp theo tinh thần của Nghị quyết
số 08-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tư liệu tham khảo trong việc nghiên cứu lý luận cũng như áp dụng vào thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự về ma túy
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân
Chương 2: Tình hình tội phạm và thực trạng quyền công tố trong các vụ án hình sự về ma túy qua
thực tiễn ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa hiện nay
Trang 4Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1 Những vấn đề lý luận chung cơ quan tư pháp và quyền công tố
1.1.1 Cơ quan tư pháp trong chính thể nhà nước
Ở nước ta, quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp Do đó, quyền tư pháp được hiểu là hoạt động xét xử của tòa án và những hoạt động của các cơ quan nhà nước hoặc các tổ chức khác trực tiếp liên quan đến hoạt động xét xử của tòa án, nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, pháp chế, trật tự pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của Nhà nước và xã hội Vì vậy, cơ quan
tư pháp bao gồm: Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan điều tra và các cơ quan, tổ chức
tư pháp bổ trợ như: Luật sư, Công chứng, Giám định, Tư vấn pháp luật
Thực tiễn xây dựng bộ máy nhà nước cho thấy, hệ thống tư pháp hiện nay ở nước ta chưa đảm đương được đầy đủ vị trí, vai trò nói trên Trong nhiều trường hợp, quyền lực nhà nước bị biến dạng qua hoạt động
cụ thể của Tòa án và Viện kiểm sát Uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật giảm sút trong dư luận của quần chúng Vì vậy, tiếp tục đổi mới, cải cách hệ thống các cơ quan tư pháp theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, đòi hỏi phải nâng cao năng lực áp dụng pháp luật và năng lực đề xuất, kiến nghị sáng kiến đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật vì con người, cho con người đối với đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán
1.1.2 Sự ra đời và phát triển của quyền công tố
Quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với bản chất của Nhà nước, là một bộ phận cấu thành và không thể tách rời khỏi công quyền Quyền công tố có trong tất cả các kiểu Nhà nước; nó ra đời, tồn tại và mất đi cùng với Nhà nước và pháp luật
Tại Việt Nam, khoa học Luật tố tụng hình sự nói riêng cũng như khoa học pháp lý nói chung, chế định "quyền công tố" chưa được nghiên cứu một cách toàn diện; chính vì vậy, chưa có khái niệm chính thống về quyền công tố Mặc dù vậy, quyền công tố là một quyền năng quan trọng đã được Viện công
tố thực hiện ở nước ta từ năm 1945; từ 1960 đến nay do Viện kiểm sát nhân dân thực hiện Tuy nhiên, hiểu thế nào là "công tố", "quyền công tố", bản chất và nội dung của nó là gì, thì hiện nay vẫn chưa có nhận thức, quan điểm thống nhất chung
Thuật ngữ "quyền công tố" lần đầu tiên được ghi nhận tại Hiến pháp năm 1980; sau đó tại Hiến pháp năm 1992, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1998, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Pháp lệnh kiểm sát viên năm 2002
Quan điểm thứ nhất đồng nhất khái niệm quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân Quan điểm này cho rằng công tố không phải là một chức năng độc lập
Trang 5của Viện kiểm sát, mà chỉ là một quyền năng, một hình thức hoạt động chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật Đây là quan điểm khá phổ biến, đặc biệt là trong ngành Kiểm sát nhân dân từ năm 1960
Quan điểm thứ hai cho rằng quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa (thực hành quyền công tố) Quan điểm này cho rằng việc thực hiện quyền công tố chỉ diễn ra trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự
Quan điểm thứ ba cho rằng quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật, được thể hiện đầu tiên trong tố tụng hình sự; cùng với sự phát triển của xã hội và của các ngành luật, quyền công tố được mở rộng sang các lĩnh vực dân sự, kinh tế, lao động Theo đó quyền công tố là tổng hợp các biện pháp pháp lý đặc trưng theo luật định mà Viện kiểm sát có trách nhiệm thực hiện trong hoạt động tố tụng
tư pháp
Cùng với thời gian, quyền công tố đã dần dần được hình thành một cách riêng biệt và đến hôm nay
nó là một chế định pháp lý độc lập được thừa nhận chung trong luật tố tụng hình sự của các Nhà nước pháp quyền
Tuy vậy, đứng dưới góc độ của pháp luật nói chung và pháp luật về hình sự nói riêng có thể khái quát được định nghĩa của khái niệm quyền công tố như sau: Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện các chức năng do luật tố tụng hình sự quy định để kiểm sát tính hợp pháp của việc điều tra tội phạm, truy
tố và buộc tội người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm trước Tòa án nhằm góp phần ra được các bản án có căn cứ, công minh và đúng pháp luật, đồng thời bảo vệ các quyền tự do của công dân, cũng như các lợi ích hợp pháp của xã hội và của Nhà nước trong hoạt động tư pháp hình sự
1.2 Lịch sử hình thành và mô hình hoạt động của Viện kiểm sát ở thế giới và Việt Nam
1.2.1 Mô hình hoạt động của cơ quan công tố trên thế giới
1.2.1.1 Một số mô hình hoạt động của cơ quan công tố (Viện kiểm sát) theo hệ thống luật pháp Châu
Âu - lục địa và Luật Anh - Mỹ
Mô hình Nhà nước quân chủ Anh quốc, được coi là xuất phát điểm của mọi mô hình tổ chức nhà nước
hiện nay Hệ thống công tố hoàng gia Anh là cơ quan truy tố được phân chia theo khu vực địa lý Mỗi khu vực do một Công tố viên trưởng Hoàng gia đứng đầu và ông này có quyền bổ nhiệm Công tố viên qua thi
cử Các Công tố viên thực thi nhiệm vụ công tố dưới sự chỉ đạo của Viện trưởng
Hoa Kỳ, là đất nước mà tổ chức bộ máy nhà nước được thực hiện theo thuyết tam quyền phân lập một
cách triệt để bao gồm ba hệ thống cơ quan là Lập pháp - Hành pháp - Tư pháp, hoạt động theo cơ chế kìm chế và đối trọng Viện công tố được tổ chức làm hai cấp là liên bang và bang và trực thuộc sự quản lý điều hành của Bộ tư pháp Đứng đầu Viện công tố liên bang là Tổng công tố do Tổng thống Mỹ bổ nhiệm theo nhiệm kỳ của Tổng thống dưới viện công tố liên bang là Viện công tố bang Tùy thuộc vào pháp luật của từng bang quy định mà Tổng công tố bang có thể do Thống đốc bang bổ nhiệm hoặc do cử tri bang bầu ra theo nhiệm kỳ vài năm một Trong hoạt động tố tụng hình sự, Công tố viên của Mỹ có vị trí vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ công lý
Trang 6Viện kiểm sát Liên bang Nga, là một cơ quan có vị trí độc lập với cơ quan hành pháp và cơ quan tư
pháp, được xây dựng theo nguyên tắc tập trung thống nhất Viện kiểm sát chỉ phục tùng một người lãnh đạo duy nhất là Tổng kiểm sát trưởng Liên bang; Tổng kiểm sát trưởng do Hội đồng Liên bang bổ nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Tổng thống Liên bang Nga Dưới quyền Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga
có các Kiểm sát viên các nước cộng hòa, các vùng, khu vực, thành phố trực thuộc Liên bang, các vùng tự trị, các khu vực tự trị, các thành phố quận, huyện và cấp tương đương do Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga bổ nhiệm và bãi nhiệm Mỗi Kiểm sát viên đều có một bộ máy những người dưới quyền…
1.2.1.2 Một số mô hình hoạt động của cơ quan công tố (Viện kiểm sát) ở châu Á
Nhật Bản, là một nước quân chủ lập hiến với lưỡng viện Quốc hội được bầu cử dân chủ Các viện
công tố nằm dưới sự quản lý của Viện Công tố quốc gia Tư tố không tồn tại Viện Công tố quốc gia
có trách nhiệm toàn bộ đối với quyết định có truy tố hay không Về quan hệ nội bộ, quyết định truy tố phải được sự thông qua của hai hoặc ba cán bộ lãnh đạo trực tiếp công tố viên Sự giám sát, mang tính không bắt buộc, đối với các quyết định không truy tố có thể được thực hiện bởi một trong các Hội đồng giám sát công tố của Nhật Bản, mỗi Hội đồng này gồm 11 công dân
Ngoài nhiệm vụ truy tố tội phạm, các công tố viên Nhật Bản được chỉ đạo các hoạt động điều tra ban đầu; hoạt động điều tra độc lập và phối hợp hoạt động với cảnh sát Các công tố viên còn chỉ đạo trực tiếp cảnh sát trong hoạt động điều tra của họ Các Công tố viên có quyền kháng nghị hình phạt và sự tha bổng, mặc dù họ hiếm khi sử dụng quyền này
Trung Quốc, là một nước xã hội chủ nghĩa, Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức từ trung ương đến
địa phương Viện kiểm sát được tổ chức thành 4 cấp, tương ứng với tổ chức của Tòa án Viện kiểm sát nhân dân tối cao (SPP) là cơ quan cao nhất và chỉ đạo tất cả các Viện kiểm sát địa phương SPP có trách nhiệm báo cáo Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội Đứng đầu Viện kiểm sát nhân dân tối cao là Viện trưởng do Đại hội đại biểu nhân dân bổ nhiệm Các Viện kiểm sát địa phương có trách nhiệm báo cáo Hội đồng nhân dân cấp tương đương và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp
Ngoài ra, luận văn còn trình bày sơ lược mô hình hoạt động của cơ quan công tố (Viện kiểm sát) của
Cămpuchia và Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
1.2.2 Sự ra đời và phát triển của chế định Viện kiểm sát trong bộ máy nhà nước Việt Nam
Thiết chế tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta có tuổi đời cùng với Nhà nước cách ma ̣ng và trải qua nhiều giai đoa ̣n phát triển từ năm 1945 đến nay
Giai đoa ̣n từ 1945 đến 1958, trước khi cải tổ la ̣i hê ̣ thống Viê ̣n công tố, mô hình tổ chức cơ quan công tố hoàn toàn giống như mô hình cơ quan công tố của Pháp
Mô hình tổ chức này của Viê ̣n Công tố ở nước ta tồn tại rất ngắn (1958 - 1959) và có thể nói chỉ tồn ta ̣i trên pháp lý như mô ̣t bước quá đô ̣ về tổ chức theo hướng ta ̣o thành mô ̣t hê ̣ thống riêng, đô ̣c lâ ̣p trong bô ̣ máy Nhà nước Viê ̣t Nam
Hệ thống Viện công tố gồm có Viện công tố Trung ương, Viện công tố địa phương các cấp, Viện công tố quân sự các cấp
Trang 7Bắt đầu từ Hiến pháp 1959, kế đó là Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 của nước ta , trong hơn 50 năm qua, đã duy trì mô ̣t hê ̣ thống thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự ta ̣o thành một hệ thống; theo đó, Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên, các Viện kiểm sát nhân dân đi ̣a phương và Viện kiểm sát quân sự chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viê ̣n trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Viê ̣n trưởng, các Phó Viê ̣n trưởng và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân đi ̣a phương và Viện kiểm sát Quân sự các quân khu và khu vực do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiê ̣m, miễn nhiê ̣m, cách chức Viê ̣n trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chi ̣u trách nhiê ̣m và báo cáo công tác trước Quốc hô ̣i Nhiê ̣m kỳ của Viện trưởng Vi ện kiểm sát nhân dân tối cao theo nhiê ̣m kỳ của Quốc hô ̣i Viện kiểm sát nhân dân là hê ̣ thống tổ chức đô ̣c lâ ̣p , thống nhất, nhưng với hai chức năng kiểm sát các hoa ̣t đô ̣ng tư pháp và thực hành quyền công tố , Viện kiểm sát nhân dân thiên về tính chất của một cơ quan tư pháp
Phát huy những thành tựu đã đạt được trong các thời kỳ trước, bước vào thời kỳ đổi mới, trước yêu cầu nhiệm vụ của đất nước và công cuộc cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vì dân, ngành kiểm sát nhân dân đã từng bước đổi mới tổ chức bộ máy
và thực hiện chức năng nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu của đất nước và thời đại
Chương 2
TÌNH HÌNH TỘI PHẠM VÀ THỰC TRẠNG QUYỀN CÔNG TỐ TRING CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
VỀ MA TÚY QUA THỰC TIỄN
Ở VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY
2.1 Tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội
Tỉnh Thanh Hóa thuộc vùng Bắc Trung Bộ, cách Thủ đô Hà Nội 153 km về phía Nam theo quốc
lộ 1A, có tọa độ địa lý từ 19018 - 20000 vĩ độ Bắc và 1040
22 - 106004 kinh độ Đông; phía Bắc giáp các tỉnh Sơn La, Hòa Bình và Ninh Bình; phía Nam giáp tỉnh Nghệ An; phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; phía Đông là Vịnh Bắc Bộ Tỉnh Thanh Hóa có 27 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố, 02 thị xã và 24 huyện, với tổng diện tích tự nhiên 11.134,73 km2, dân số trung bình năm 2007 khoảng 3,7 triệu người, chiếm 3,4% diện tích và 4,3% dân số cả nước
Năm 2010 dân số trung bình của tỉnh là 3,7 triệu người (lớn thứ 2 trong cả nước, sau Thành phố Hồ Chí Minh), chiếm xấp xỉ 34,6% dân số vùng Bắc Trung Bộ và 4,4% dân số cả nước Mật độ dân số bình quân gần 332 người/km2
, gấp 1,6 lần mật độ dân số trung bình của vùng (207 người/km2) và 1,3 lần mật
độ dân số trung bình cả nước (255 người/km2
)
Trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa hiện có 7 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ cao nhất, khoảng 84,75%, tiếp đến là dân tộc Mường chiếm 8,7%, dân tộc Thái chiếm 6%, còn lại là các dân tộc
Trang 8khác như H’Mông, Dao, Hoa chiếm một tỷ trọng nhỏ Các dân tộc ở Thanh Hóa có những nét văn hóa đặc trưng của vùng Bắc Trung Bộ
Trong hơn 20 năm đổi mới, cùng với xu thế phát triển chung của cả nước, kinh tế của tỉnh Thanh Hóa đã từng bước ổn định và đang trên đà phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Tốc độ tăng trưởng bình quân 2001-2005 là 9,1%/năm và 11,5% giai đoạn 2006-2010; trong đó nông lâm nghiệp
và thủy sản tăng 4,2%/năm, công nghiệp - xây dựng tăng 15,8%/năm và dịch vụ tăng 12,2%/năm
2.1.2 Tội phạm hình sự và ma túy
Trong những năm gần đây, tình hình an ninh - quốc phòng, trật tự trị an trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa được giữ vững ổn định, tuy nhiên tình hình tội phạm vẫn diễn biến ngày càng phức tạp Các loại tội phạm
về tệ nạn xã hội như tổ chức đánh bạc, đánh bạc… xảy ra với qui mô lớn hơn, thủ đoạn phạm tội tinh vi hơn
- Các tội xâm phạm an ninh quốc gia: Từ năm 2005 đến nay đã phát hiện và khởi tố 1vụ, 15 bị can về tội
trốn đi nước ngoài nhằm chống chính quyền (vụ án này được phát hiện và khởi tố năm 2007, các năm trước không xảy ra vụ án nào thuộc nhóm tội này).01 vụ, 2 bị can về tội tổ chức cho người khác ở lại nước ngoài trái phép (vụ án này được phát hiện khởi tố năm 2011)
- Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tham nhũng và xâm phạm sở hữu: Từ năm 2005 đến năm
2011 đã phát hiện và khởi tố 2750 vụ, 4287 bị can
- Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng và tính mạng sức khỏe của con người: Tội phạm trong
lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội không giảm và vẫn diễn biến phức tạp, nhiều vụ xảy ra đặc biệt nghiêm trọng Từ năm 2005 đến năm 2011 đã phát hiện và khởi tố 2809 vụ, 3958 bị can
- Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp: Từ năm 2003 đến năm 2007 đã phát hiện và khởi tố 45 vụ,
48 bị can, đều là tội trốn khỏi nơi giam giữ
- Các tội xâm phạm về ma túy: Các tội phạm về ma túy vẫn diễn biến khá phức tạp, số lượng án ma
túy ngày càng tăng cả về số lượng và tính chất, thủ đoạn phạm tội Công tác kiểm soát, đấu tranh, ngăn chặn và xử lý việc vận chuyển, tàng trữ, mua bán và tổ chức sử dụng trái phép ma túy vẫn gặp nhiều khó khăn Từ năm 2005 đến năm 2011 đã phát hiện và khởi tố 1170 vụ, 1990 bị can
2.2 Quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án ma túy tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa
2.2.1 Quyền công tố trong tố tụng hình sự
Quyền công tố xuất hiện đồng thời với việc xuất hiện tội phạm và kết thúc khi tội phạm ấy đã
bị xử lý bởi Tòa án; trong khi đó, hoạt động thực hành quyền công tố thì chỉ xuất hiện khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi tội phạm ấy đã bị xử lý bởi Tòa án hoặc được đình chỉ theo quy định của pháp luật
Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi Viện kiểm sát quyết định việc truy tố hoặc không truy tố người phạm tội ra Tòa, hoặc khi
vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Mục đích của hoạt động công tố ở giai
Trang 9đoạn điều tra là nhằm chứng minh tội phạm và người phạm tội, cũng như các hành vi phạm tội của họ Giai đoạn này Viện kiểm sát giữ vai trò chủ đạo: Có trách nhiệm áp dụng các biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định nhằm đảm bảo cho việc điều tra, truy tố được kịp thời, nhanh chóng, hiệu quả, không để lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội, bảo đảm cho hoạt động điều tra được tiến hành đúng quy định của pháp luật
Ở nước ta, Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất thay mặt nhà nước thực hiện chức năng buộc tội, có trách nhiệm và có quyền đưa ra lời cáo buộc đối với người phạm tội và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa, nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời, việc xét xử phải đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội
2.2.2 Thực trạng pháp luật về quyền công tố trong điều tra, truy tố, xét xử các vụ án ma túy qua thực tiễn tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa
2.2.2.1 Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa
Căn cứ vào quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, cơ cấu Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh hóa được tổ chức theo hai cấp:
Ở cấp tỉnh gồm: Văn phòng tổng hợp, phòng tổ chức cán bộ, phòng thống kê tội phạm và 9 phòng nghiệp
vụ Trong đó có 3 phòng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự, bao gồm: Phòng án kinh tế và chức vụ với biên chế 9 cán bộ, kiểm sát viên; Phòng án trật tự xã hội có 14 cán bộ, kiểm sát viên; Phòng án ma túy có 7 cán bộ, kiểm sát viên Ở 27 huyện, thị xã, thành phố đều có bộ phận thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự Tổng biên chế toàn ngành kiểm sát Thanh Hóa hiện có 340 cán bộ, kiểm sát viên Số cán bộ, kiểm sát viên trong toàn ngành kiểm sát Thanh Hóa có trình độ đại học chiếm 100%, trong đó có 12 cán bộ, kiểm sát viên có trình độ thạc sỹ
và 07 cán bộ, kiểm sát viên đang theo học sau đại học, trình độ cao đẳng là 16 cán bộ
2.2.2.2 Thực hành quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án hình sự về ma túy ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa
Thanh Hóa là một tỉnh rộng mà địa bàn tương đối phức tạp do vậy các loại tội phạm về ma túy như tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy diễn biến khá phức tạp, năm sau cao hơn năm trước Hành vi, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn, tội phạm xảy ra tập trung chủ yếu ở khu vực miền núi
có đường biên giới giáp với nước bạn Lào và khu vực đông dân cứ như thị xã, Thành phố Trong năm năm từ 2005 - 2010 đã khởi tố điều tra 2113 vụ, 2202 bị can, truy tố, xét xử đạt 98%, không có vụ án nào Tòa án tuyên không phạm tội hoặc phải đình chỉ vụ án vì không chứng minh được tội phạm
- Giai đoạn điều tra: do làm tốt công tác phân loại xử lý tin báo tố giác tội phạm ngay từ đầu nên các
vụ án khởi tố đều có căn cứ và đúng pháp luật Qua công tác thực hành quyền công tố phát hiện và yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố thêm hàng chục bị can trong các vụ án đồng thời mở rộng điều tra ra nhiều địa bàn khác ngoài tỉnh
Trang 10Đa số các vụ án ma túy đều là phạm tội bị bắt quả tang, hoặc cơ quan điều tra phải sử dụng đặc tình trong một thời gian dài để trinh sát mới phát hiện ra đối tượng Do đó thời gian điều tra bao giờ cũng dài
kể từ khi nhận được tin báo tố giác tội phạm cho đến khi vụ án được khởi tố
Về nguyên tắc việc khởi tố bị can chỉ sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự, việc ra quyết định khởi tố bị can của cơ quan Cảnh sát điều tra với mục đích là nhằm xác định về mặt pháp lý một con người
cụ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm và quyết định khởi tố bị can đó
sẽ trực tiếp hạn chế một số quyền và lợi ích hợp pháp thuộc về nhân thân của người bị khởi tố Tuy nhiên trên thực tế ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh hóa đang còn gặp khó khăn trong vấn đề này Bộ luật
tố tụng hình sự quy định, khi khởi tố bị can phải có lý lịch bị can rõ ràng, xác định hành vi phạm tội
cụ thể để khởi tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Đối với các vụ án ma túy, giám định xác định định lượng và thành phần chất ma túy là căn cứ chính để có thể khởi tố vụ án, khởi tố bị can hay không Chính vì vậy kể từ khi bắt tạm giữ đối tượng phạm tội cho đến khi khởi tố bị can thường phải kéo dài để chờ kết luận giám định và xác minh lý lịch bị can Mặc dù đối tượng bị bắt quả tang nhưng có những
vụ án phải gia hạn tạm giữ đến lần hai mới khởi tố bị can được
Hiện tại ở Thanh Hóa, tội phạm về ma túy mang tính chất nhỏ lẻ xảy ra liên tục và có chiều hướng gia tăng do các đối tượng đã xa vào con đường nghiện ngập chưa được quản lý chặt chẽ đưa vào trung tâm cai nghiện bắt buộc Song nhiều nơi nhất là ở cơ sở từ thôn bản, đến khối phố còn buông lỏng quản lý đối với những người nghiện, thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý nên gây khó khăn rất nhiều trong công tác điều tra, bởi những đối tượng nghiện có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương nhưng thường xuyên vắng mặt hoặc ở nơi khác không đăng ký tạm trú sau đó phạm tội, đây là lý do dẫn đến cơ quan điều tra phải đi nhiều nơi để xác minh nhân thân bị can, bị cáo cho phù hợp
Giai đoạn xét xử: những năm trước đây đa số các kiểm sát viên đều có chung nhận thức là việc xét hỏi tại phiên tòa thuộc trách nhiệm của Hội đồng xét xử chứ không thuộc trách nhiệm của kiểm sát viên, nên không chú ý tới việc chuẩn bị đề cương xét hỏi để tham gia xét hỏi tại phiên tòa Với nhận thức như vậy, tại phiên tòa thường là các kiểm sát viên không tham gia xét hỏi hoặc có xét hỏi thì ở trạng thái bị động, do vậy việc xét hỏi không tập trung vào những vấn đề mấu chốt của vụ án hoặc xét hỏi trùng lặp với những vấn đề Hội đồng xét xử đã hỏi nên chất lượng xét hỏi không cao Nhưng trong những năm qua, nhận thức này của kiểm sát viên đã được khắc phục, các kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa kiểm sát xét xử án hình sự đã thực hiện các thao tác nghiệp vụ về tham gia xét hỏi Trước khi tham gia phiên tòa, các Kiểm sát viên đã xây dựng đề cương tham gia xét nội dung đề cương được chuẩn bị sát với tình tiết của vụ án Đặc biệt lưu ý những trường hợp bị can, bị cáo quanh co chối tội; những vấn đề mà bị cáo khai báo chưa rõ ràng hoặc có mâu thuẫn với nhau, mâu thuẫn với lời khai của các bị cáo khác hoặc với những người tham gia tố tụng khác; những vấn đề mà quá trình nghiên cứu hồ sơ kiểm sát viên thấy còn vướng mắc, phân vân để chủ động tham gia xét hỏi khi tham gia phiên tòa, tham gia xét hỏi bổ sung những vấn đề mà Hội đồng xét xử chưa hỏi tới hoặc những vấn đề mà bị cáo, người tham gia tố tụng khai