2. Lịch sử vấn đề 2.1. Những nghiên cứu về Phật học, Thiền học thời Trần Phật giáo nói chung và Thiền học nói riêng có bề dày lịch sử nghiên cứu. Một số tác phẩm thời trung đại nghiên cứu các tông phái Thiền học cũng như hành trạng các Thiền sư: Thiền uyển tập anh ngữ lục, Tam Tổ thực lục… Các tác phẩm: Việt Nam Phật giáo sử luận (Nguyễn Lang), Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Lê Mạnh Thát),… tổng kết quá trình hình thành và phát triển của Phật giáo Việt Nam. Thiền uyển tập anh ngữ lục là một tác phẩm văn xuôi viết bằng chữ Hán ghi lại tương đối hệ thống các tông phái Thiền học và sự tích các vị Thiền sư nổi tiếng vào cuối thời Bắc thuộc cho đến thời Đinh, Lê, Lý và một số ít vị lớp sau còn sống đến đầu triều Trần; tức từ cuối thế kỷ VI đến thế kỷ XIII. Ðây là tài liệu lịch sử cổ nhất của Phật giáo Việt Nam hiện có. Tam Tổ thực lục là tập sách trình bày hành trạng của ba vị Tổ sư thuộc dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử (Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang). Ban Phật giáo Việt Nam thuộc Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam giới thiệu, Hòa thượng Thích Phước Sơn dịch và chú giải. Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang gồm 40 chương là một tác phẩm nghiên cứu vào loại quy mô về Phật giáo Việt Nam. Tác phẩm trình bày toàn bộ diễn tiến của Phật giáo từ thời Luy Lâu tới giữa thế kỉ XX ở Việt Nam. Trong đó, tác giả đã dành 7 chương để giới thiệu về Phật giáo đời Trần và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Lê Mạnh Thát, Nguyễn Tài Thư, Nguyễn Duy Hinh cũng đã có những công trình nghiên cứu quy mô, quan trọng về lịch sử du nhập, phát triển của Phật giáo Việt Nam. Các tác phẩm phải kể đến là: Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Lê Mạnh Thát), Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Nguyễn Tài Thư chủ biên), Triết học Phật giáo Việt nam (Nguyễn Duy Hinh). Đặc biệt là Lê Mạnh Thát, người được coi là học giả viết sách về văn học và lịch sử Phật giáo nhiều nhất Việt Nam. Ông là tác giả của: Tổng tập Văn học Phật giáo Việt Nam gồm 3 tập, Toàn tập Trần Thái Tông, Toàn tập Trần Nhân Tông. Nguyễn Hùng Hậu là một tác giả có nhiều công trình nghiên cứu về tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nói chung và Trần Nhân Tông nói riêng: Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học Phật giáo Trần Thái Tông (1996), Lược khảo tư tưởng Thiền Trúc Lâm Việt Nam (1997), Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỉ XIV (2002). Nhiều luận án nghiên cứu tư tưởng triết học của các nhân vật Thiền Trúc Lâm. Trương Văn Chung bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ đề tài “Tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần” năm 1996. Luận án Tiến sĩ Triết học “Tư tưởng triết học của Tuệ Trung Thượng sĩ” của Nguyễn Đức Diện, luận án Tiến sĩ triết học năm 2011 của Bùi Huy Du với đề tài “Tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông” đã hệ thống hóa những quan niệm về bản thể luận, nhận thức luận và nhân sinh quan của Tuệ Trung Thượng sĩ và Trần Nhân Tông những nhân vật chủ chốt của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Tất cả các công trình này đều đi vào phân tích, tổng kết tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm qua việc khảo sát hành trạng và tác phẩm của từng nhân vật trong Thiền phái như: Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ, Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang. Ngoài ra, chúng ta cũng phải kể đến quá trình sưu tập, biên dịch và bình chú các kinh sách Phật giáo như: Bát Nhã, Viên Giác, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa,… của các thế hệ học giả Phật tử Việt Nam.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Có thể nói, trong suốt chiều dài lịch sử, Phật giáo và văn hóa Phậtgiáo đã đồng hành cùng dân tộc, trở thành một phần cốt yếu, quan trọngcủa văn hóa Việt Nam; đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ đất nước; nuôi dưỡng tâm hồn và sức sống Việt Nam; xây dựng lối ứng
xử văn hóa trong quan hệ với đồng loại và với thế giới tự nhiên cho các thế
hệ, tạo nên vẻ đẹp và bản sắc dân tộc
Lý - Trần là thời đại vàng son của lịch sử Việt Nam Đây là thời đạidân tộc được hồi sinh sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc Thời này, Phậtgiáo thịnh trị, tư tưởng triết lý Phật giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sốngtâm linh con người và đời sống văn học Văn học Phật giáo nói chung, thơThiền nói riêng là một bộ phận quan trọng của văn học Lý - Trần, là di sảnquý báu của một thời đại đáng tự hào của dân tộc ta Tìm hiểu giá trị đíchthực của thơ Thiền là việc làm rất cần thiết cho nền văn hóa nước nhà, nhất
là trong thời đại mở cửa hội nhập hôm nay
Ra đời trong bối cảnh “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã / Sơn hà thiên
cổ điện kim âu”(Xã tắc hai phen chồn ngựa đá / Non sông nghìn thuở vững
âu vàng) của thời đại Đông A, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là kết tinh củatinh thần Phật giáo Đại Việt trên cơ sở kế thừa truyền thống và tiếp thu tinhhoa ngoại quốc Trước tác của Thiền Trúc Lâm để lại cho hậu thế thực sự
là những viên ngọc quý, phản chiếu con người tinh thần của một thời đạianh hùng Trong xu thế nhìn lại quá khứ với niềm tự hào sâu sắc, Thiềnphái Trúc Lâm Yên Tử và các sáng tác của những Thiền sư dòng Thiền nàyngày càng được quan tâm một cách thỏa đáng từ giới nghiên cứu trong vàngoài nước cũng như bạn đọc gần xa Đặc biệt, cuộc đời và sự nghiệp củaTrần Nhân Tông - vị Tổ sáng lập Thiền phái được các học giả quốc tế chú
ý và đánh giá cao không chỉ bởi những cống hiến xuất sắc của ông cho lịch
Trang 2sử dân tộc mà trên tất cả là những tư tưởng triết học thâm viễn mang tầmnhân loại của hoàng đế “nhiều trong một” này.
Là một dòng Thiền dân tộc lấy chủ thuyết “Cư trần lạc đạo” làm tônchỉ hoạt động, Thiền Trúc Lâm đã có nhiều đóng góp đối với sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như công cuộc chấn hưng nền văn hóa ĐạiViệt Trên cả hai bình diện đạo và đời, dù ở phương diện lịch sử hay vănhóa, tư tưởng “Cư trần lạc đạo” cũng làm rạng danh dân tộc Việt Nam mộtthời oanh liệt Tìm hiểu tư tưởng “Cư trần lạc đạo” không những giúpchúng ta hiểu hơn về các thế hệ tiền nhân người Việt mà còn bồi đắp niềm
tự hào đối với di sản văn hóa của cha anh đi trước để lại
Mặt khác, tìm hiểu tư tưởng “Cư trần lạc đạo” trong sáng tác củaThiền phái Trúc Lâm Yên Tử là một cách thể hiện niềm tri ân sâu sắc đốivới các giá trị truyền thống, đồng thời phát huy giá trị các di sản của tiền
nhân trong thời đại hội nhập với tinh thần “Ôn cố tri tân”
Cho đến nay, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu mộtcách tổng hợp về nguồn gốc hình thành, quá trình phát triển và những đónggóp của tư tưởng “Cư trần lạc đạo” trong trước tác của Thiền Trúc Lâm
Tóm lại, đây là vấn đề mang tính khoa học mới mẻ và giá trị thực
tiễn sâu sắc
Chính vì vậy, trong khuôn khổ công trình này, chúng tôi lựa chọn và
triển khai đề tài: “Sự vận động của tư tưởng “Cư trần lạc đạo” trong văn
chương Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử” với hi vọng sẽ góp sức vào việc
nhìn nhận Thiền Trúc Lâm như một hiện tượng phi thường trong tiến trìnhphát triển của lịch sử dân tộc
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Những nghiên cứu về Phật học, Thiền học thời Trần
Phật giáo nói chung và Thiền học nói riêng có bề dày lịch sử nghiêncứu Một số tác phẩm thời trung đại nghiên cứu các tông phái Thiền học
Trang 3cũng như hành trạng các Thiền sư: Thiền uyển tập anh ngữ lục, Tam Tổ thực lục… Các tác phẩm: Việt Nam Phật giáo sử luận (Nguyễn Lang), Lịch
sử Phật giáo Việt Nam (Lê Mạnh Thát),… tổng kết quá trình hình thành và
phát triển của Phật giáo Việt Nam
Thiền uyển tập anh ngữ lục là một tác phẩm văn xuôi viết bằng chữ
Hán ghi lại tương đối hệ thống các tông phái Thiền học và sự tích các vịThiền sư nổi tiếng vào cuối thời Bắc thuộc cho đến thời Đinh, Lê, Lý vàmột số ít vị lớp sau còn sống đến đầu triều Trần; tức từ cuối thế kỷ
VI đến thế kỷ XIII Ðây là tài liệu lịch sử cổ nhất của Phật giáo ViệtNam hiện có
Tam Tổ thực lục là tập sách trình bày hành trạng của ba vị Tổ sư
thuộc dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử (Trần Nhân Tông, Pháp Loa, HuyềnQuang) Ban Phật giáo Việt Nam thuộc Viện Nghiên cứu Phật học ViệtNam giới thiệu, Hòa thượng Thích Phước Sơn dịch và chú giải
Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang gồm 40 chương là
một tác phẩm nghiên cứu vào loại quy mô về Phật giáo Việt Nam Tácphẩm trình bày toàn bộ diễn tiến của Phật giáo từ thời Luy Lâu tới giữa thế
kỉ XX ở Việt Nam Trong đó, tác giả đã dành 7 chương để giới thiệu vềPhật giáo đời Trần và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Lê Mạnh Thát, Nguyễn Tài Thư, Nguyễn Duy Hinh cũng đã cónhững công trình nghiên cứu quy mô, quan trọng về lịch sử du nhập,
phát triển của Phật giáo Việt Nam Các tác phẩm phải kể đến là: Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Lê Mạnh Thát), Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Nguyễn Tài Thư chủ biên), Triết học Phật giáo Việt nam (Nguyễn Duy
Hinh) Đặc biệt là Lê Mạnh Thát, người được coi là học giả viết sách vềvăn học và lịch sử Phật giáo nhiều nhất Việt Nam Ông là tác giả của:
Tổng tập Văn học Phật giáo Việt Nam gồm 3 tập, Toàn tập Trần Thái Tông, Toàn tập Trần Nhân Tông
Trang 4Nguyễn Hùng Hậu là một tác giả có nhiều công trình nghiên cứu
về tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nói chung và
Trần Nhân Tông nói riêng: Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học Phật giáo Trần Thái Tông (1996), Lược khảo tư tưởng Thiền Trúc Lâm Việt Nam (1997), Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỉ XIV (2002)
Nhiều luận án nghiên cứu tư tưởng triết học của các nhân vật ThiềnTrúc Lâm Trương Văn Chung bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ đề tài
“Tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần” năm 1996 Luận
án Tiến sĩ Triết học “Tư tưởng triết học của Tuệ Trung Thượng sĩ” của
Nguyễn Đức Diện, luận án Tiến sĩ triết học năm 2011 của Bùi Huy Du với
đề tài “Tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông” đã hệ thống hóa những
quan niệm về bản thể luận, nhận thức luận và nhân sinh quan của TuệTrung Thượng sĩ và Trần Nhân Tông - những nhân vật chủ chốt của Thiềnphái Trúc Lâm Yên Tử Tất cả các công trình này đều đi vào phân tích,tổng kết tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm qua việc khảo sát hànhtrạng và tác phẩm của từng nhân vật trong Thiền phái như: Trần Thái Tông,Tuệ Trung Thượng sĩ, Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang
Ngoài ra, chúng ta cũng phải kể đến quá trình sưu tập, biên dịch và
bình chú các kinh sách Phật giáo như: Bát Nhã, Viên Giác, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa,… của các thế hệ học giả Phật tử Việt Nam.
2.2 Những nghiên cứu về thơ Thiền thời Lý - Trần và cảm hứng “Cư trần lạc đạo”
Những bộ khảo cứu, sưu tầm về văn học thời Lý - Trần đầu tiên phải
kể tới Tinh tuyển chư gia luật thi (Dương Đức Nhan), Trích diễm thi tập
(Hoàng Đức Lương) Tiếp đó, được sưu tầm và giới thiệu trong sách vở lưu
hành từ thế kỷ XIV - XVIII như Khóa hư lục (Trần Thái Tông), Thượng sĩ ngữ lục của Tuệ Trung Thượng sĩ, Thiền uyển tập anh ngữ lục (khuyết danh), Tam Tổ thực lục, Thánh đăng lục,…
Trang 5Đến thế kỷ XX, những tác phẩm thơ ca thời Lý - Trần đã được tập
hợp và sưu tầm, ghi chép lại trong cuốn Thơ văn Lý - Trần (3 tập) do nhóm
tác giả Viện Văn học thực hiện Tác giả Nguyễn Huệ Chi phân tích nhữngkết quả nghiên cứu những năm đầu thế kỷ XX trên các phương diện: thơchữ Hán, thơ chữ Nôm, các bài phú Nôm, các giả thiết xung quanh một vàicuốn truyện thơ lục bát Từ những văn bản đó, tác giả đã giới thuyết lạidiện mạo văn học Lý - Trần từ nội dung đến thể loại văn học Đến năm
2004, thơ văn Lý - Trần được tuyển chọn và sưu tầm lại trong cuốn Tinh tuyển văn học Việt Nam, tập 3 do PGS.TS Nguyễn Đăng Na chủ biên.
Nghiên cứu về thơ văn Lý - Trần đã có một quá trình lâu dài vớinhiều bài viết giá trị, đặc biệt từ những năm 40 của thế kỷ XX qua các công
trình như Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm (1941), Việt Nam cổ văn học sử của Nguyễn Đổng Chi (1942), Văn học đời Lý và đời Trần của Ngô Tất Tố (1942) Gần đây, văn học Lý - Trần đã được nhiều tác
giả như Nguyễn Huệ Chi, Trần Thị Băng Thanh, Kiều Thu Hoạch, NguyễnHữu Sơn, Đoàn Thị Thu Vân, Trần Nho Thìn, Nguyễn Phạm Hùng,Nguyễn Công Lý,… đề cập tới Mỗi tác giả có những cách tiếp cận và đánh
giá của riêng mình Với Văn học trung đại Việt Nam, dưới góc nhìn văn hóa, Trần Nho Thìn chọn cách tiếp cận từ phương diện văn hóa để tìm hiểu
thơ trung đại Bên cạnh đó là việc đặt những tác phẩm thơ ca trung đại vàotọa độ không gian và thời gian để tìm con đường giải mã từng tác phẩm
như nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na trong cuốn Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam đã thực hiện Hoặc tìm hiểu những tác phẩm thơ ca
nói chung và văn học trung đại Việt Nam nói riêng dưới góc độ thi pháphọc, từ quan niệm nghệ thuật về con người đến không gian, thời gian, ngôn
ngữ nghệ thuật,… như việc mà Trần Đình Sử đã làm trong cuốn Thi pháp văn học trung đại Đó còn là cái nhìn từ góc độ loại hình tác giả văn học
Trang 6trung đại như một số bài nghiên cứu của Trần Ngọc Vương, Đỗ Thu Hiền,Nguyễn Tuấn Anh, Đỗ Lai Thúy,… Mỗi tác giả, với những góc nhìnkhác nhau đã có những đóng góp nhất định cho việc phát hiện vẻ đẹptiềm ẩn của những tác phẩm thơ ca trung đại nói chung và thơ ca Lý -Trần nói riêng
Thơ Thiền thời Lý - Trần cũng trở thành đối tượng nghiên cứu củanhiều luận văn, luận án Đáng chú ý là các luận án của Đoàn Thị Thu Vân
và Nguyễn Công Lý Đoàn Thị Thu Vân với đề tài “Khảo sát một số đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam thế kỷ XI - thế kỷ XIV”, luận án
phó Tiến sĩ năm 1995, đi sâu khảo sát và tìm hiểu những đặc sắc của thơ
Thiền Việt Nam; Nguyễn Công Lý với đề tài “Văn học Phật giáo Lý Trần: diện mạo và đặc điểm”, luận án tiến sĩ năm 2000, đã trình bày về
-diện mạo và đặc điểm cụ thể của văn học Phật giáo thời Lý - Trần Trong
đó, tác giả dành chương 4 (trong tổng số 4 chương) trình bày về năm đặcđiểm cơ bản nhất của văn học Phật giáo thời Lý - Trần
Từ những năm cuối thế kỷ XX, trên các tạp chí khoa học chuyên
ngành như Tạp chí Văn học (sau đây xin viết tắt là: TCVH) , Tạp chí văn hóa dân gian, Tạp chí nghiên cứu Phật học… có nhiều bài viết nghiên cứu
về thơ Thiền thời Lý - Trần Ngay từ năm 1982, Nguyễn Phương Chi có bài
nghiên cứu xuất sắc về thơ ca và con người Huyền Quang (Huyền Quang, nhà sư thi sĩ, TCVH, số 3, năm 1982) Tiếp theo, Nguyễn Phạm Hùng trên
TCVH số 4 công phu tìm hiểu về sự vận động của mảng thơ trữ tình đời
Trần với bài “Về diễn tiến của thơ trữ tình đời Trần” Đến năm 1986, Phạm Ngọc Lan với bài viết “Chất trữ tình trong thơ Thiền đời Lý” đi sâu
tìm hiểu chất trữ tình và vẻ đẹp nhân văn của thơ Thiền đời Lý Năm 1992,
Nguyễn Phạm Hùng trong bài “Thơ Thiền và việc lĩnh hội thơ Thiền đời Lý” đăng trên TCVH số 4 đã đi sâu tìm hiểu xu hướng vận động của thơ
Trang 7Thiền đời Lý: là sự kết hợp của cảm quan tôn giáo và cảm quan thế tục chủ
yếu trên bình diện con người Phạm Ngọc Lan có bài “Trần Nhân Tông, cảm hứng Thiền trong thơ” đăng trên TCVH, số 4 năm 1992,…
Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, nhiều Hội thảo khoa học cấpquốc gia và quốc tế đã được tổ chức nhằm trao đổi một số vấn đề học thuậtliên quan tới những nhân vật quan trọng của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tửnhư Tuệ Trung Thượng sĩ và Trần Nhân Tông
Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Tuệ Trung Thượng sĩ với Thiền tông Việt Nam” năm 2000 đã tập hợp những những bài nghiên cứu về vai trò
của Tuệ Trung Thượng sĩ với lịch sử phát triển của Thiền tông Việt Nam
Hội thảo: “Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông, cuộc đời và sự nghiệp” diễn ra vào tháng 11 năm 2008 tại Quảng Ninh được tổ chức trong
khuôn khổ Đại lễ tưởng niệm 700 năm ngày mất của Phật hoàng Trần NhânTông Kỷ yếu Hội thảo khoa học gồm 90 tham luận của các nhà nghiêncứu, học giả đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, lãnh thổ Đài Loan,Thái Lan và Việt Nam
Kỷ yếu Hội thảo khoa học nhân Đại lễ tưởng niệm 705 năm ngày
nhập Niết bàn và khánh thành tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông: “Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử và công tác quy hoạch, bảo tồn và phát huy những giá trị của khu di tích Yên Tử hiện nay” tập hợp gần 50 bài viết của các học
giả trong nước cùng đông đảo Phật tử thuần thành
Tư tưởng “Cư trần lạc đạo” trong các sáng tác của Thiền phái TrúcLâm Yên Tử cũng được đề cập trong các luận án tiến sĩ triết học lấy đề tài
tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông (như đã nói ở trên) và qua một sốbài viết tản mạn của PGS TS Nguyễn Kim Sơn, Hòa thượng Thích PhướcĐạt,… Có thể tìm thấy những bài viết này trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học
về Trần Nhân Tông
Trang 83 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
Những sáng tác của Trúc Lâm Sơ tổ Trần Nhân Tông: khoảng 20 bài
thơ chữ Hán (Xuân vãn, Xuân cảnh, Sơn phòng mạn hứng, Đăng Bảo Đài sơn, Thiên Trường vãn vọng, Vũ Lâm thu vãn, Xuân hiểu, Khuê oán, Nguyệt,…); 2 bài phú Nôm (Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca); văn xuôi (Thượng sĩ hành trạng); bài giảng (1 bài trong Thánh đăng lục)
Thơ văn của Đệ tam tổ Huyền Quang: 1 bài phú Nôm (Vịnh Hoa Yên
tự phú), khoảng 23 bài thơ chữ Hán (Tảo thu, Yên Tử sơn am cư, Chu trung, Phiếm chu, Đề Đạm Thủy tự, Ai phù lỗ, Địa lô tức sự, Ngọ thụy, Sơn
vũ, Trú miên, Cúc hoa (6 bài), Nhân sự đề Cứu Lan tự, Mai hoa, Tặng sĩ
đồ đệ tử, Thứ Bảo Khánh tự bích gian đề,…) được tập hợp trong tác phẩm Ngọc tiên tập (Chiếc roi ngọc) của vị Thiền sư - thi sĩ xuất sắc này
Các sáng tác của Tuệ Trung Thượng sĩ Trần Tung - người truyền
“tâm ấn” cho Trần Nhân Tông (Phàm thánh bất dị, Phật tâm ca, Phóng cuồng ngâm, Vật bất năng dung, Trì giới kiêm nhẫn nhục, Giang hồ tự thích, Dưỡng chân, Sinh tử nhàn di dĩ, Thị chúng, Ngẫu tác,…)
Ngoài ra, luận văn còn dành một thời lượng nhất định cho các tư
tưởng của Thiền sư Thường Chiếu (kệ thị tịch) và Trần Thái Tông (Khóa
hư lục, Thiền tông chỉ nam tự).
Đối tượng nghiên cứu tập trung vào tư tưởng “Cư trần lạc đạo”,
những biểu hiện cùng quá trình vận động từ cội nguồn đến khi phát triển tớiđỉnh cao gắn với các sáng tác kể trên
4 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm giải quyết một vấn đề khoa học, từ đó rút ra nhữngbài học thực tiễn:
Trang 9Trước hết, nhận diện được những biểu hiện cùng quá trình vận động
của tư tưởng “Cư trần lạc đạo” trong văn chương Thiền phái Trúc Lâm YênTử: từ cội nguồn sinh thành đến khi phát triển tới đỉnh cao và đi vào thế tụcdẫn tới quá trình điển phạm hóa loại hình văn học nhà Nho
Hơn nữa, lý giải và đánh giá cội nguồn hình thành, sự vận động,
những đóng góp của tư tưởng “Cư trần lạc đạo” đối với lịch sử và văn hóadân tộc từ góc độ lịch sử, văn hóa, tư tưởng
Từ đó, rút ra những bài học thực tiễn đối với công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống và xây dựng chủ trương sống “tốt đời đẹp đạo”.
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: xuất phát từ đối tượng nghiên
cứu của luận văn là tư tưởng “Cư trần lạc đạo” và sự vận động của nó trongvăn chương của một Thiền phái nên phương pháp nghiên cứu chủ đạo được
sử dụng trong luận văn này là phương pháp liên ngành Nghiên cứu liênngành là nghiên cứu liên khoa học, là sự kết hợp các môn học, các ngànhhọc khác nhau Liên ngành là sử dụng lối tư duy tổng hợp để xem xét mộtđối tượng mang tính nguyên hợp Trong luận văn này, chúng tôi sẽ nghiêncứu đối tượng trên các bình diện văn học, triết học, sử học
- Phương pháp nghiên cứu loại hình: xuất phát từ phạm vi nghiên
cứu, trong luận văn này chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu loạihình tác giả Thiền sư - thi sĩ và loại hình tác phẩm văn học Phật giáo (kinh
kệ, thơ Thiền, ngữ lục)
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu giữa những tác phẩm, các tác giả
để nhận biết trục tâm tư tưởng và những sáng tạo của mỗi cá nhân, qua đóthấy được sự vận động của tư tưởng “Cư trần lạc đạo” trong văn chươngThiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Trang 10- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đây là phương pháp thường
được sử dụng để khai thác dẫn chứng Đối tượng phân tích, tổng hợp ở đây
là những văn bản tác phẩm của các nhân vật thuộc Thiền phái Trúc Lâm(có cả chữ Hán, phiên âm, dịch thơ và chữ Nôm), đòi hỏi người viết sựphân tích logic, tránh áp đặt tùy tiện
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung của luận văn gồm 3
Trang 11NỘI DUNGCHƯƠNG 1:
CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG “CƯ TRẦN LẠC ĐẠO”
“Cư trần lạc đạo” nghĩa là “Ở đời mà vui đạo” “Cư trần lạc đạo” cónghĩa là giác ngộ ngay giữa cuộc đời, giác ngộ không phải là xa lánh cuộcđời hay quên đời Quan điểm này đã trở thành một triết lý điển hình choPhật giáo Đại Việt, do Trần Nhân Tông đã tổng hợp, khái quát từ chínhcuộc đời của ông (Thái Tông), của cha (Thánh Tông), của sư phụ (TuệTrung Thượng sĩ) và của chính mình như một đức vua - Phật hoàng đatrách nhiệm với dòng tộc, với triều đình, với cả quốc gia dân tộc; vừa nhưmột vị vua có trách nhiệm với sự tồn vong, hưng thịnh của đất nước, vừanhư một vị lãnh tụ dẫn dắt tinh thần và tâm linh của trăm dân, vừa như một
vị quốc sư tài ba tập hợp nên khối đoàn kết toàn dân tộc, vừa là một lãnh tụtôn giáo xây dựng tăng đoàn Phật giáo Đại Việt thống nhất Ta thấy ý nghĩachân giáo của Thiền - cuộc sống qua cụm từ “Cư trần lạc đạo” đã diễn đạtrất đắt tinh thần “tự tại”, “tự nhiên”, “vô trụ”, “vô chấp”, “Phật tại tâm” củaThiền tông Việt Nam
Tính khuynh hướng của một trường phái triết học, một giáo phái haycách ứng xử của một cá nhân, một nhóm xã hội bị quy định bởi rất nhiềunhân tố Nó thường là một tổng thể phức tạp, đan xen hữu cơ Tách bạchmột vài nhân tố và coi đó là nguyên nhân của các khuynh hướng thực khó
có thể lột tả được đầy đủ và chính xác Tuy nhiên nó vẫn là việc không thểkhông làm Theo kết quả nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Kim Sơn, tinhthần nhập thế của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử cần được nhìn nhận từ hai
phương diện, một là những căn cội triết học và hai là cơ sở thực tiễn,
Trang 12những lý do thực tiễn [46; tr 41] Người viết căn cứ vào đó mà đi tìm cơ
sở hình thành và phát triển của tư tưởng “Cư trần lạc đạo”
1.1 Sự dung thông Tam giáo – Cơ sở triết học của tư tưởng “Cư trần lạc đạo”
Thái Tông, vị vua đầu tiên của vương triều Trần, từng phát biểu tôn
chỉ cuộc đời mình trong bài tựa sách Thiền tông chỉ nam: “Phương tiện dẫn dụ đám người mê muội, con đường tắt sáng tỏ lẽ tử sinh, ấy là đại giáo của Đức Phật Đặt mực thước cho hậu thế, làm khuôn mẫu cho tương lai,
ấy là trách nhiệm của bậc tiên thánh Cho nên Lục tổ có nói: “Bậc đại thánh và đại sư đời trước người khác gì nhau” Như thế đủ biết đại giáo của Đức Phật, ta phải nhờ tiên thánh mà truyền lại cho đời.” [70; tr 88]
Có thể nhìn một cách tổng quan về căn cội triết học của tinh thầnnhập thế, nói theo cách của Trần Nhân Tông, là “cư trần lạc đạo”, đó là một
hệ thống với Phật tính luận, phương pháp tu luyện, con đường giác ngộ của
Thiền tông, đặc biệt là Thiền Huệ Năng làm trục tâm Trên cơ sở đó, nó kết
hợp với tư tưởng Hòa quang đồng trần trong triết học Lão tử, tư tưởng Vô
sở đãi và Tùy tục trong tư tưởng Trang tử, và đương nhiên không thể thiếu
tư tưởng Lạc đạo của Nho gia Xét về cơ cấu, nó là sự hội nhập triết học và
phương pháp tu dưỡng, cảnh giới tinh thần của cả Tam giáo, lấy Thiền làm
cơ sở để tiến hành hội nhập
1.1.1 Phật tính luận – trục tâm của tư tưởng
Nhìn lại tư tưởng của Tuệ Trung Thượng sĩ và Trần Nhân Tông, tathấy những biểu thị rất sinh động của tinh thần hướng nội vào bản tâm đểtruy cầu sự giải thoát Đó là sự thể ngộ trong thực tế tu hành phương pháp
chứng ngộ “bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật”
(không lập văn tự, hướng thẳng đến nhân tâm, thấy được tính thành Phật)
do Bồ Đề Đạt Ma, Tổ sư của Thiền tông đúc kết “Báu vật trong nhà” mà
Trang 13Trần Nhân Tông kiên trì tìm kiếm và đã thấy, đã an lạc trong đó không gì
khác chính là Phật tính Phật tính có trong tâm của tất cả mọi người Phật tính trong Phật giáo Ấn Độ là một bản thể trừu tượng, siêu việt Trong quá
trình tiếp biến với văn hóa và mô thức tư duy của Trung Quốc, bản thể Phật
tính dung hợp với nhân tính, tâm tính và định hướng tu dưỡng “cầu chư kỷ
vô cầu chư ngoại” [37; tr 12] (truy cầu ở nơi bản thân mình, không truy cầu ở nơi ngoài mình) theo quan niệm của Nho gia Nó vẫn là bản thể Phật tính, nhưng trong cách cảm nhận và tư duy của người Trung Quốc, Phật tính chuyển dần từ bản thể trừu tượng, siêu việt sang vừa là bản thể siêu
việt lại vừa là thực thể tinh thần nội tại Nó được diễn đạt và cảm nhận theo
cách của Nho gia Nó hình thành nên con đường hướng nội kiến tính, trực chỉ nhân tâm
Trong Pháp bảo đàn kinh, Huệ Năng đưa ra mệnh đề rất quan trọng
“tức tâm tức Phật” (Tâm đấy chính là Phật đấy) Ông chỉ rõ nhất thiết
chúng sinh và chư Phật đều quy kết ở một điểm chung, đó là “Tự tâm”:
"Tự tâm chính là Phật, sao lại còn hồ nghi, ngoài tâm ra thì không có vật nào kiến lập cả, bản tâm sinh vạn pháp Cho nên mới nói: Tâm sinh vạn pháp sinh, Tâm diệt vạn pháp diệt.
Nay ta dạy các ngươi, biết tự tâm chúng sinh, thấy tự tâm Phật tính Các ngươi nay nên tin rằng, thấy biết Phật, chỉ là tự tâm, ngoài ra không có Phật nào khác… Ta cũng khuyên tất thảy mọi người, tự trong tâm mình thường khai mở tri kiến Phật Cho nên, biết về vạn pháp, tất thảy đều
ở tự tâm" [41; tr 46]
“Tâm” mà Huệ Năng nói tới là “Tâm” của con người sống động và
cụ thể Phật tính tồn tại tự trong “Tâm”, “tức tâm tức Phật” Ngoài “Tâm”
ra không có Phật nào hết Ông lại nói:
Trang 14"Bồ đề chính chỉ hướng giác ngộ ở nơi tâm, sao lại nhọc nhằn đi cầu điều huyền hư ở bên ngoài? Dựa theo điều này mà tu hành, Tây phương ở ngay trước mắt Cho nên cần biết, vạn pháp tất thảy đều ở trong tự thân ta, sao chẳng quay về tự tâm đốn hiện chân như bản tính? Phật chính là tự tính, chớ hướng ra ngoài thân mà truy cầu Tự quay về quy y Phật nơi mình, không nói quy y Phật nào khác Tự tính không quy, sẽ không có chỗ nào mà dựa hết" [41; tr 62]
Huệ Năng đã chuyển từ sùng bái Phật ngoại tại sang sùng bái chính
bản tâm của mình Phật tính cũng là Nhân tính, Nhân tính cũng là Phật tính, do đó kiến tính, tri tính, minh tâm kiến tính (thấy tính, biết tính, làm
sáng lòng để thấy tính) chính là con đường giải thoát, con đường giác ngộthành Phật Điều này có thể giải thích được nguồn cội sâu xa của tinh thần
tự tín, tự lập, tự cường mạnh mẽ ở Tuệ Trung Thượng sĩ cũng như ở TrầnNhân Tông
Từ quan niệm về Phật tính như trên, Thiền Huệ Năng đã mở ra một
đường hướng tu hành, đường hướng giác ngộ cho số đông Những người cóthể biết chữ, có thể không biết chữ, có thể xuất gia, có thể không xuất gia,
ai có thể quay về với bản tâm tự tại thanh tĩnh của mình, có thể diệt vọng
niệm, loại thi phi… là có thể kiến tính thành Phật Cái tâm đã không còn
thị phi, danh lợi, cái tâm tịch mịch đó chính là cơ sở để an lạc giữa cõi trần
Mọi công việc đời thường và công việc tu hành không phân biệt “Bổ củi, gánh nước đều là diệu đạo” [41; tr 53] Và cũng do nhân tính và Phật tính hợp làm một, nên Phật tính cũng không tách rời nhận thức cảm tính bình thường Quan niệm về Phật tính và phương pháp tu hành minh tâm kiến tính là hai vấn đề không thể tách rời Phật tính luận là tiều đề triết học, cơ
sở triết học, còn minh tâm kiến tính là phương pháp tu dưỡng
Trang 15Rõ ràng chính Phật tính luận và phương pháp tu Thiền theo cách minh tâm kiến tính, đốn ngộ thành Phật là cơ sở triết học quan trọng nhất của tư tưởng “Cư trần lạc đạo”, tinh thần nhập thế của Thiền học Trúc Lâm.
1.1.2 “Vô sở đãi” và “tùy tục” – một cách “nói hộ” tư tưởng Thiền
Như trên đã trình bày, thái độ nhập thế, “cư trần lạc đạo” cần đượcnhìn nhận như một thể phức hợp tư tưởng, có yếu tố trục tâm và cácphương quy chiếu khác Triết học nhân sinh của Đạo gia có mặt một cáchkhá đậm nét và là một cách “nói hộ” cho nhiều tư tưởng Thiền
Trong Thượng sĩ hành trạng, Trần Nhân Tông viết về người thầy của mình: “Hỗn tục hòa quang, dữ vật vị thường xúc ngỗ, cố năng thiệu long pháp chủng…” (Thượng sĩ hòa ánh sáng cùng đời, chưa từng trái vật, cho
nên đã hoằng dương Phật pháp) Tuệ Trung Thượng sĩ từng đắc pháp với
Thiền sư Tiêu Dao (một pháp danh khiến người ta nghĩ tới Trang tử hơn là mạch truyền thừa của Thiền Tông), lại “nhật dĩ Thiền duyệt vi lạc” (ngày
ngày lấy đạo Thiền làm vui) Có thể diễn đạt lại những thông tin mà Trần
Nhân Tông nói ở trên về sự nghiệp tu hành của Thượng sĩ là: hòa quang đồng trần, tiêu dao tề vật, không phân biệt “ta” và “vật”, ngày ngày tràn
ngập lạc thú trong việc tu Thiền, và cũng chính bằng cách đó ông phù trì
mở mang được Phật pháp Một vài tinh thần quan trọng của Đạo gia đượcvận dụng, vừa là sự bổ sung tư tưởng, vừa là một cách nói cho Thiền
“Hòa kỳ quang, đồng kỳ trần” [35; tr 15] là một đặc sắc tư tưởng
của Lão tử Lão tử nêu quan điểm “hòa quang đồng trần” để giải thích về lẽ
Huyền đồng Vương Bật chú là: “Không có chỗ nào đặc biệt vinh hiển, thì vật không có chỗ nào tranh nhau; Không có chỗ nào đặc biệt ty tiện, thì vật không có chỗ nào thẹn” Ngô Trừng chú là: “Hòa, cũng là Bình vậy, biểu thị ý nén mà giấu đi; Đồng, là để nói bình đẳng mà không có chỗ nào khác Gương vì bụi mà không sáng, phàm đã sáng thì tất có mờ tối, cho
Trang 16nên trước hãy tự giấu ánh sáng đi để hoà cùng với bụi kia, không muốn thể hiện cái sáng của mình, như vậy thì trước sau không bao giờ bị mờ tối”.
Người đời sau dùng “hòa quang đồng trần” để chỉ triết lý sống nổi chìmcùng thế tục, tùy tục tùy thời hành xử, không để lộ ra một sự khác biệt hayđặc biệt nào
Như trên đã trình bày, trong sự tu tâm để giác ngộ kiến tính, “Dồi cho vặc vặc tính gương; Nào có nhuốm căn trần huyên náo”, “Tâm” đã
sáng như gương, “căn trần huyên náo” không thể vướng bận Giữ “Tâm”sáng thì không gì làm mờ được Vậy mới có thể giữa cõi trần mà vui đạo.Nhưng muốn giữ cho gương luôn sáng thì giấu cái sáng đi để hòa cùng bụikia cũng là thêm một cách Nó là “Phật - Đạo hỗ bổ” (Phật Đạo bổ sungcho nhau) Tinh thần “hòa quang đồng trần” vừa giải thích rõ thêm phươngpháp “minh tâm”, nhưng cũng là gợi ý về con đường nhập thế, cách sống
nổi chìm cùng thế gian Cư trần lạc đạo phú có những đoạn đầy ắp tinh
thần Đạo gia:
Say đạo đức, dời thân tâm, định nên thánh trí Mày ngang mũi dọc, tướng tuy lạ xem ắt bằng nhau (Hội thứ mười)
Đây chính là nhắc tới tinh thần tâm trai để đạt tới “tề vật, vô sở đãi” của Trang tử Các thiên Tiêu dao du và Tề vật luận trong sách Trang tử tập
trung thảo luận về vấn đề căn cội khiến con người không mất tự do Conngười sở dĩ bị trói buộc tinh thần chính do thái độ phân biệt tốt xấu, thiện
ác, bỉ thử, nhân ngã, giàu nghèo, tâm vật…tức là: Đãi Muốn đạt tới tự do tiêu dao tuyệt đối, người ta cần loại bỏ chấp đãi, đạt tới Vô sở đãi Nhân cách lý tưởng của Trang tử là : “Chí nhân vô kỷ, thần nhân vô công, thánh nhân vô danh”, cả ba cái vô đó thực chất là vô sở đãi, là bất nhị, không phân biệt.
Trang 17Trang tử hướng tới cái tự do tiêu dao tuyệt đối, sống hòa làm một với đạo,sống thuận tự nhiên, sống tùy tục, không cố gắng làm trái lẽ tự nhiên.
Trần Nhân Tông nói “Cư trần lạc đạo thả tùy duyên; Cơ tắc xan hề khốn tắc miên” Về chữ nghĩa, “tùy duyên” là chữ nhà Phật, nhưng sống
tùy duyên, đói ăn, mệt ngủ mà tìm lạc thú trong chính cái tùy duyên đó làtinh thần tiêu dao của Lão - Trang Đó chính là đem tư tưởng “tùy tục”,
“an thời xử thuận” của Trang tử để diễn tả triết lý “nhậm vận tùy duyên”
Chính tư tưởng “hòa quang đồng trần”, “vô đãi”, “bất nhị”, tiêu dao
“tùy tục”, an nhiên tự đắc của tư tưởng Lão - Trang đã góp phần tạo nêncăn cơ triết học cho tư tưởng “phàm thánh bất dị”, “nhậm vận tùy duyên”,
“cư trần lạc đạo” của cả dòng Thiền đời Trần nói chung và Thiền học củaTrần Nhân Tông nói riêng
1.1.3 Tư tưởng “lạc đạo” của Nho gia với phương pháp tu dưỡng của Thiền tông
Sự dung hợp tư tưởng Nho - Phật đã diễn ra mạnh mẽ trong giai
đoạn hình thành Thiền tông Trung Hoa Phật tính luận theo kiến giải của Huệ Năng là sự dung hợp quan niệm bản thể Phật tính với Nhân tính, Tâm tính luận của Nho gia Không phải chỉ dung hợp về nội hàm của các khái
niệm, phạm trù, sự dung hợp đó còn thể hiện ở cả tính khuynh hướng vàphương pháp tu dưỡng
Nho gia là học thuyết nhập thế Tâm tính học của Nho gia chủ trương
tu tâm dưỡng tính ngay trong các quan hệ nhân tình thế tục cha con, anh
em chồng vợ Phương pháp tu dưỡng của Nho gia là hướng vào nội tâm, tựphản tỉnh, tự điều tiết Nhà nho rất ráo riết trong phương diện truy cầu nội
tâm và tự ngã tu dưỡng Khổng tử nói: “Vi nhân do kỷ diệc vi nhân hồ tai” (làm người là do mình, nào phải do người) [37; tr 15]; “Cầu chư kỷ vô cầu chư ngoại” (cầu nơi mình, không cầu bên ngoài) [37; tr 12],…
Trang 18Quan niệm về Nhân tính là cơ sở triết học của thuyết tu dưỡng Tu
dưỡng theo Nho gia, là nhằm đạt tới sự hoàn thiện của nhân cách, trong tudưỡng có lạc thú của sự rèn luyện Nho gia không hướng tới thế giới siêuviệt, không có cõi giải thoát chung cục, nhưng lại cũng có một thế giới tinhthần “tự lạc” phong phú đủ làm thỏa mãn tinh thần con người Lạc thú củaNho gia là lạc thú trong chính sự tu dưỡng, trong việc xử lý các quan hệ.Lạc thú của Nho gia là lạc thú trong cõi hiện thế, cõi đời thực Họ cảm thấy
vui thú khi học được điều gì áp dụng vào thực tiễn tu thân của mình “học nhi thời tập chi, bất diệc lạc hồ” (học mà có thể thực hành, chẳng phải vui sao), hay cảm giác “tự lạc” xuất hiện khi phản tỉnh nội tâm thấy không có điều gì lầm lỗi “nội tỉnh bất cứu tắc hà ưu hà hoạn” (xoi xét mình thấy
không lầm lỗi thì chẳng phải âu lo, phiền muộn)… Sự siêu việt của Nho giachính là một loại siêu việt đặc biệt - siêu việt nội tại, siêu việt trong chínhtâm tính
Không thể phủ nhận được, trong Phật tính luận và phép minh tâm kiến tính, truy tìm nơi mình, không tìm bên ngoài của Thiền phương Nam
có sự hiện hữu của Nho gia Nho gia đã góp phần đáng kể vào việc hìnhthành quan niệm sự giác ngộ không tách rời con người
Trần Nhân Tông còn tiến thêm một bước so với các vị tiền bối củaThiền tông, ông cho rằng nhân nghĩa đạo đức cũng chính là Phật, so với giữ
giới hạnh, bỏ tham sân si cũng không có gì khác:
Tích nhân nghì, tu đạo đức,
Ai hay này chẳng Thích Ca.
Cầm giới hạnh, đoạn xan tham, Chỉn thực ấy là Di Lặc.
(Cư trần lạc đạo phú, hội thứ tư)
Trang 19Cái đích của tu hành là giải thoát, thành Phật, nhưng thành Phậtbằng cả con đường “tích nhân nghĩa, tu đạo đức” thì rất độc đáo, độc đáotheo con mắt dung hợp Nho - Phật của Trần Nhân Tông Ông đặt cácphạm trù, các hình mẫu của Nho gia thành các cặp song hành đối đẳng,
hỗ bổ với Phật:
Sạch giới lòng, dồi giới tướng, Nội ngoại nên Bồ tát trang nghiêm.
Ngay thờ chúa, thảo thờ cha,
Đi đỗ mới trượng phu trung hiếu.
(Cư trần lạc đạo phú, hội thứ sáu)
Tinh thần khoan dung của Thiền tông chính là không phủ nhận các
phạm trù đạo đức của con người thế tục, đặt các phạm trù trung hiếu vào ngay chính con đường tu dưỡng để minh tâm kiến tính, ngộ đạo giải thoát.
Nó dễ được cộng đồng cư sĩ tu tại gia chấp thuận và cả Phật tử bình dânkhông xuất gia khác cũng thấy gần gũi, dễ tu
Cư trần lạc đạo phú, dù là tác phẩm văn học Phật giáo nhưng nó cũng có dáng dấp một bài thánh huấn của Nho gia, dạy dỗ đệ tử, giáo
hóa chúng dân Trần Nhân Tông khuyên đệ tử, đồng thời cũng là tựkhuyên mình:
Vâng ơn thánh, xót mẹ cha, thờ thầy học đạo.
Mến đức cồ, kiêng bùi ngọt, cầm giới ăn chay.
(Cư trần lạc đạo phú, hội thứ bẩy)
Như vậy, người thực hiện đạo quân thần phụ tử, thờ chúa thờ changay thảo, là một thực tiễn đạo đức, thực tiễn tu dưỡng Nó là việc của đờisống thế tục, nhưng tận đạo ấy, tâm tính cũng an nhiên tự lạc Cái “tự lạc”
đó đồng nhất với việc “kiến tính thành Phật” Nó là sự triển khai của tinh
Trang 20thần nhập thế, là hiện thực hóa của “cư trần lạc đạo” Nói cách khác nó lại
cũng chính là tùy duyên tự lạc Với nhân nghĩa đạo đức ấy, lại thêm chay lòng lắng dục, “thể tính an nhàn”, “muôn nghiệp đều lặng”, con người ấy
có thể tùy tục:
Áo miễn chăn đầm ấm qua mùa, hoặc chằm hoặc xể;
Cơm cùng cháo đói no đòi bữa, dầu bạc dầu thoa.
(Cư trần lạc đạo phú, hội thứ năm)
Thực chẳng khác gì nhà Nho ẩn dật, “an bần lạc đạo” với giỏ cơm,bầu nước, gối lên khuỷu tay mà nhìn phú quý tựa chiêm bao, tận hưởngthân tâm nhàn dật
Những vấn đề của Nho gia được nói tới trong các trước tác của TrầnNhân Tông hoặc là những vấn đề của thực tiễn đạo đức rất gần gũi, thườngnhật mà không phải là những vấn đề lý luận cao siêu Nó thành lời khuyênnhủ ân cần giản dị, và đương nhiên gắn kết rất chặt chẽ với thực tiễn tuThiền
Có một vài chỗ Trần Nhân Tông đã dùng ngôn từ và cách nói củaNho gia để chuyển tải nội dung tư tưởng của Thiền, chẳng hạn trong bài
Tán Tuệ Trung Thượng sĩ: Vọng chi dĩ cao / Toản chi dĩ kiên / Hốt yên tại hậu / Chiêm chi tại tiền / Phù thị chi vị / Thượng sĩ chi Thiền (Càng ngẩng
nhìn càng thấy cao / Càng đục thấy càng cứng / Thoắt ở đằng trước / Bỗnglại phía sau / Cái đó gọi là / Bậc Thượng sĩ Thiền)
Nguyên văn của những câu chữ này trong sách Luận ngữ Nó vốn là
lời của Nhan Hồi ca ngợi Khổng tử và đạo của ông Nó đã được Trần NhânTông vận dụng để ca ngợi thầy của mình (Tuệ Trung Thượng sĩ) Điều đócũng thuyết minh thêm về sự gần gũi và sự vận dụng tư tưởng Nho gia để
hỗ trợ cho tư tưởng Thiền
Trang 211.2 Tinh thần thời đại – Cơ sở thực tiễn của tư tưởng “Cư trần lạc đạo”
1.2.1 Thời đại anh hùng với “hào khí Đông A” bất diệt
Thời Trần (1225 - 1400) được xem là một thời đại huy hoàng trong
lịch sử dân tộc Sử gia đời sau đánh giá: “Triều Lý nhân ái, triều Trần anh hùng” Trong gần hai trăm năm trị vì với 12 đời vua, triều Trần đã tạo nên
những chiến công hiển hách trong kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệđất nước cũng như trong xây dựng và phát triển quốc gia phong kiến độclập, tự chủ Lịch sử và văn chương mãi mãi ghi nhận vương triều Trần nhưmột triều đại hào hùng bậc nhất trong các triều đại phong kiến Việt Nam
Năm 938, Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng,chấm dứt thảm cảnh nghìn năm nô lệ giặc Tàu Các triều Ngô, Đinh, Tiền
Lê tuy ngắn ngủi nhưng đã đặt được những nền móng đầu tiên cho việc xâydựng nhà nước phong kiến Đại Việt độc lập so với Trung Hoa Đặc biệt,trải qua hơn 200 năm xây dựng và phát triển dưới triều Lý (1009 - 1225),đến triều Trần, nước Đại Việt đã trở thành một quốc gia cường thịnh Mộtmặt, phát huy những truyền thống vốn có từ nghìn năm dựng nước và giữnước, mặt khác kiến tạo thêm những giá trị mới mang hơi thở thời đại, triềuTrần đã đưa dân tộc bước vào giai đoạn trùng hưng với khí thế hồ hởi chưatừng có Tiềm năng của dân tộc được hồi sinh mạnh mẽ, nội lực dân tộcđược phát huy hết chiều kích tạo nên những thành tựu nổi bật về nhiềuphương diện
Thời Trần, với sự lãnh đạo của những vị vua “anh minh thần võ” nhưTrần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông; với tài năng của cáctướng lĩnh như Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật vàđặc biệt là với sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, muôn người như một hừnghực chung một “hào khí Đông A”, dân tộc ta đã tạo nên những kỳ tích
Trang 22trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc Cả ba lần xua quân sang xâm lược, cả balần quân Nguyên Mông - đạo quân xâm lược khét tiếng hung hãn từng tunghoành từ Á sang Âu thời đó - phải chịu thất bại một cách nhục nhã Chiếnthắng ấy vĩ đại đến mức nhà Nguyên phải tỏ ra kiêng dè, khiếp sợ Sứ thầnnhà Nguyên là Trần Phu, sau khi sang sứ nước ta trở về đã phải thừa nhận
trong bài Giao châu sứ hoàn cảm sự (Đi sứ Giao châu về, cảm tác):
Dĩ hạnh quy lai thân kiện tại, Mộng hồi do giác chướng hồn kinh.
(Đã may mà được trở về, tấm thân khỏe mạnh còn đây,Sau giấc ngủ, tỉnh dậy còn thấy thần hồn kinh sợ)Giai cấp phong kiến thời Trần là một lực lượng tiến bộ, trở thành đạibiểu của nhân dân Với chủ trương “thân dân”, “trọng dân”, nhà Trần quy
tụ được sức mạnh toàn dân tộc trong kháng chiến chống ngoại xâm cũngnhư trong xây dựng và phát triển đất nước Lúc này, khoảng cách giữa triềuđình phong kiến và quần chúng gần gũi, hòa nhã đến mức các vua Trầnđích thân xuống ruộng cày những luống cày tịch điền để khuyến khíchnông nghiệp, vua quan cùng nhân dân cầm tay nhau nhảy múa trong nhữnghội hè, đình đám cổ truyền Chính không khí cởi mở, đầm ấm ấy đã tạo nên
một đời sống thanh bình, an vui “Muôn dân ca hát vui thời thịnh trị” (Triệu tính âu ca lạc thịnh thì - Trần Nguyên Đán) Giáo sư Đặng Thai Mai nhận xét: “Từ cung điện nhà vua qua dinh thự các quan đến làng mạc người dân chưa có những đường hào ngăn cách một cách quá nghiêm khắc như sau này Chưa có một bệ rồng xa thẳm và lộng lẫy, chưa có những thành quách cao dày, những hào lũy sâu thẳm, chưa có những kiến trúc nguy nga, những luật lệ gang sắt con người biết sống một đời sống tích cực, vui vẻ”
[71; tr 36]
Trang 23Với những mặt tích cực ấy, triều Trần đã lãnh đạo đất nước pháttriển một cách toàn diện, đưa nước Đại Việt trở thành một quốc gia phồnthịnh Về quân sự, ba lần đánh tan quân Nguyên Mông để “non sông nghìnthuở vững âu vàng” Về chính trị, tạo ra vị thế bình đẳng với Trung Hoa,khiến các nước lân bang phải vị nể Về văn hóa, tạo dựng được một nềnvăn hóa phong phú, giàu bản sắc với tầm vóc khiến cả người Trung Hoacũng phải ngợi ca Nguyên sứ Trương Hiển Khanh một lần sang sứ ĐạiViệt đã phải trầm trồ thán phục:
An Nam tuy tiểu văn chương tại
Vị khả khinh đàm tỉnh để oa.
(Nước An Nam tuy nhỏ nhưng có văn chương Không thể nói một cách nông cạn họ là ếch ngồi đáy giếng)Văn học thời Trần cũng có những bước phát triển mới so với văn họcthời Lý, đưa thơ từ chỗ trừu tượng, cao siêu đến chỗ gần gũi, bình dị vàgiàu ý vị trữ tình
Từ thực tế trên, có thể nói thời Trần là một thời đại anh hùng Chỉ
có thời ấy mới tạo ra được con người ấy - những con người mang trongmình vẻ đẹp nhân văn sâu sắc Lê Quý Đôn, học giả uyên bác thế kỷ
XVIII, đã nhận xét về con người thời Trần trong phần Tài phẩm, sách Kiến văn tiểu lục như sau:“Đấy là những người trong trẻo, cứng rắn, cao thượng, thanh liêm, có phong độ như sĩ quân tử thời Tây Hán, thật không phải người tầm thường có thể theo kịp được Bởi vì nhà Trần đãi ngộ sĩ phu rộng rãi mà không bó buộc, hòa nhã mà có lễ độ, cho nên nhân vật trong thời ấy có chí khí tự lập, hào hiệp, cao siêu, vững vàng vượt ra ngoài thói thường, làm rạng rỡ sử sách, trên không hổ với trời, dưới không thẹn với đất”.[16; tr.17]
Trang 24Nhận xét trên của Lê Quý Đôn đã thâu tóm được một cách sâu sắcbản lĩnh và khí tiết của con người thời Trần “Hào khí Đông A” cùng vớikhí thế hồ hởi của thời đại đã góp phần tạo nên hình ảnh những con ngườimang vẻ đẹp đặc biệt Đó là những con người đã sống một cuộc đời oanhliệt và hoành tráng Các bô lão muôn người như một hô vang “quyết đánh”rung chuyển cả điện Diên Hồng Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản vì nhỏ tuổikhông được dự hội nghị tướng lĩnh ở Bình Than, phẫn uất đến mức bóp nátquả cam lúc nào không biết Trần Bình Trọng khi rơi vào tay kẻ thù vẫn
giữ tròn khí tiết của bậc làm tướng “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc” Đó còn là những con người có hành động rất lạ,
chỉ xuất hiện trong thời này mà hầu như không thấy xuất hiện trong bất cứmột thời đại nào khác Trần Thái Tông sẵn sàng bao dung, tha tội choHoàng Cự Đà khi ông này ức vì không được ăn xoài mà không cứu giá, bởi
lẽ vua hiểu sâu sắc tâm lý con người và biết cái lỗi trước hết là do mình.Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông dám dùng Hưng Đạo vương Trần QuốcTuấn vào chức Quốc công Tiết chế thống lĩnh toàn quân đội mặc dù biếtông là con dòng trưởng và cha ông - An Sinh vương Trần Liễu từng cóhiềm khích rất lớn với Thái Tông Trần Thái Tông xem ngôi vua nhẹ như
chẳng có, có thể lìa bỏ dễ dàng như “trút bỏ một chiếc giày rách” [50; tr
23] Trần Minh Tông là vua mà thức suốt đêm trường, dằn vặt, trăn trở vìmột lỗi lầm mắc phải 30 năm về trước Trần Quốc Tuấn khi nắm quyền uytột đỉnh vẫn một mực trung thành, cúc cung tận tụy, không vì thù riêng củagia đình mà truất phế ngôi vua theo lời trăn trối của cha Trần Quang Khải
và Trần Quốc Tuấn khi vận nước lâm nguy đã sẵn sàng gác sang một bênhiềm khích riêng để cùng lo việc nước Còn biết bao con người như thếnữa trong vạn con người thời Trần đã mạnh mẽ, tự tin góp sức mình tạonên tinh thần thời đại Hình ảnh những con người ấy đã in đậm dấu ấntrong văn học làm cho văn học thời Trần lấp lánh tinh thần nhân văn, độcđáo và hấp dẫn
Trang 251.2.2 Thời đại Phật giáo thịnh trị, ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ đời sống tinh thần xã hội
Nhà Trần, một trong những vương triều được đánh giá là phát triểnrực rỡ nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam còn được biết đến là mộtgiai đoạn mà đạo Phật thật sự hoà nhập vào lòng dân tộc, từ hình thức đếnnội dung
Phật giáo từ Ấn Độ truyền sang các nước Đông Á theo hai đường:phía bắc sang Tây Tạng, Mông Cổ, Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên; phíađông sang Miến Điện, Thái Lan và miền nam Đông Dương Phật giáo Đạithừa được truyền sang nước ta khoảng đầu công nguyên và phát triển mạnhtrong các thế kỷ VII, VIII, IX Bấy giờ đã có những cao tăng người Việtxuất thân từ tầng lớp hào trưởng Từ khi nhà nước giành độc lập, Phật giáotiếp tục phát triển và được coi là Quốc giáo
Đinh Tiên Hoàng lên ngôi, định phẩm hàm cho nhà sư và cấp tự điền
cho nhà chùa Thời Tiền Lê, sư tăng ngày càng có vai trò quan trọng trongtriều đình, được đặc biệt ưu đãi, thường giữ việc đi sứ hoặc tiếp sứ Thời
Lý, Phật giáo trải qua giai đoạn hưng thịnh nhất Bước sang thời Trần, chi
phối xã hội mạnh mẽ nhất lúc này là Phật giáo Bấy giờ, chùa chiền được
dựng lên ở khắp nơi, từ kinh đô Thăng Long cho đến mọi miền của đấtnước; số người xuất gia tu hành rất đông, nói như nhà Nho Lê Quát đời
Trần:“phân nửa thiên hạ đi tu” Trong số đó có cả những người trong
hoàng tộc, thậm chí là cả hoàng đế Họ thường thỉnh các bậc cao tăng về tưdinh để được nghe giảng đạo Ba vị vua đầu tiên của vương triều là TháiTông, Thánh Tông, Nhân Tông không chỉ là các vị vua Phật tử mà còn lànhững người có kiến thức Phật học ở trình độ cao, và hơn hết đều là nhữngThiền giả đã chứng ngộ Các vua Anh Tông, Minh Tông kế tiếp đều là Phật
Trang 26tử nhiệt thành, hết lòng bảo trợ Phật giáo Triều đình có viện Tả Nhai là nơinhà vua cùng với các bậc cao tăng bàn luận về Phật học
Phật giáo trong dân chúng phát triển, dân tự động đóng góp công củaxây dựng chùa làng, cúng ruộng đất nuôi tăng Đạo Phật bước vào thời kỳphát triển rực rỡ trong lịch sử Phật giáo đồ Việt Nam và có ảnh hưởng đếnmọi lĩnh vực của đời sống, văn hóa, tư tưởng, hòa đồng với hầu hết cáchình thức tín ngưỡng, tập tục sơ khai Cũng không biết tự bao giờ, nhữngngôi chùa đã mọc lên như một bộ phận hữu cơ, gắn bó thân thiết với cộng
đồng xã hội “đất vua, chùa làng, cảnh Bụt” Đất thì của vua, nhưng coi sóc
phần hồn, phần đời sống tình cảm, lại là các vị sư trong chùa Đó cũngchính là những trí thức đầu tiên của làng, những người có uy tín và đượctrọng vọng, đã góp phần động viên quần chúng trong nhiều cuộc khángchiến chống kẻ xâm lăng phương Bắc của dân tộc ta
Phật giáo đời Trần đã có những đóng góp lớn lao Ưu điểm lớn nhấtcủa Phật giáo là tinh thần khoan dung và tự do Phật giáo không chống đối
và chỉ trích Nho giáo cũng như Đạo giáo Chính những Phật tử thuần thànhnhư Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông đã mở rộng Nho giáo Năm 1253,Trần Thái Tông lập Quốc học viện ở kinh sư và tạc tượng Chu Công,Khổng Tử, Mạnh Tử, cùng vẽ tranh 72 vị tiên hiền để thờ cúng TrầnThánh Tông đã cho hoàng đệ là Trần Ích Tắc mở trường dạy Nho học Nhà
Trần đãi kẻ sĩ một cách khoan dung, hoà vị mà có lễ phép, cho nên “nhân
sĩ thời ấy ai cũng biết tự lập, anh hào tuấn vĩ vượt ra ngoài lưu tục, làm cho quang vinh cả sử sách, không thẹn với trời đất” [50; tr 26].
Bấy giờ, cùng chung thời thịnh với Phật giáo là Đạo giáo Đền miếuđược dựng lên ở khắp nơi Số lượng đạo sĩ cũng khá đông đảo Trên vũ đàichính trị và tư tưởng của nước nhà, nhất là trong thời hùng mạnh của triều
Trang 27giáo Tuy nhiên, gắn liền với sự phát triển của Phật giáo và Đạo giáo đếnthế kỷ XIV, Nho giáo vươn lên lấn át ưu thế của Phật giáo
Ở các thế kỷ X - XIV, Phật giáo ở Việt Nam đã phát triển cực thịnh.Trong khi Nho giáo chưa trở thành ý thức hệ chính thống của nhà nướcquân chủ trung ương tập quyền, thì Phật giáo đã có tác dụng thống nhấtnhân tâm tạo điều kiện cần thiết để củng cố và phát triển nhà nước quânchủ Do vậy, Phật giáo ở các thế kỷ này có ảnh sâu sắc đến toàn bộ sinhhoạt văn hoá đương thời và in dấu rõ nét trong văn học, nghệ thuật
Chính nếp sống và tư duy theo tinh thần khoan dung Phật giáo củacác vua thời ấy đã tạo nên một xã hội khai phóng, khiến cho mọi tôn giáo,mọi hệ tư tưởng được cùng nhau phát triển, phát huy tối đa tinh hoa thờiđại, tạo cho xã hội một đời sống tinh thần phong phú, góp một phần khôngnhỏ tạo nên sức mạnh dân tộc khiến Đại Việt có thể đoàn kết ba lần chiếnthắng quân xâm lược Nguyên - Mông
Việc nhà Trần thay ngôi nhà Lý là vâng theo mệnh trời, vì vua TrầnThái Tông là người nhân từ, trí đức song toàn có thể lãnh đạo nhân dân giảiquyết các vấn đề mâu thuẫn nảy sinh trong nước, cũng như đối phó với cácthế lực ngoại bang xâm lấn và tập trung xây dựng, phát triển đất nước.Ngoài việc thâu giang sơn về một mối, thống nhất từ ý chí đến hành độngcủa toàn dân và xây dựng đất nước thịnh vượng, vua Trần Thái Tông cònđặt nền móng thống nhất các Thiền phái hiện có như Tỳ-ni-đa-lưu-chi, VôNgôn Thông, Thảo Đường, tiến đến sáp nhập và hình thành dòng ThiềnTrúc Lâm Yên Tử duy nhất đời Trần
Có thể nói chính xác và cụ thể, người có công đặt nền móng choThiền phái Trúc Lâm Yên Tử phát triển và truyền thừa từ mô hình tổ chứcđến nội dung hành trì, thể hiện bản sắc dân tộc là Trần Thái Tông, nhưngngười khai sáng và làm rạng danh Thiền phái là vua Trần Nhân Tông, là Đệ
Trang 28nhất tổ Thiền phái Trúc Lâm có ba Thiền sư kiệt xuất là Nhân Tông (TrúcLâm Đầu Đà), Pháp Loa và Huyền Quang Thiền phái này được xem là tiếpnối của dòng Yên Tử, dòng Yên Tử lại là sự hợp nhất của ba dòng ThiềnViệt Nam của thế kỉ thứ XII - đó là dòng Thảo Đường, Vô Ngôn Thông vàTỳ-ni-đa-lưu-chi.
Nhà Trần trong buổi đầu mới thành lập, về mặt văn hóa, việc xâydựng một ý thức hệ độc lập thống nhất trở thành nhu cầu vô cùng cấpbách Thoát khỏi sự lệ thuộc chặt chẽ về ý thức hệ với nước ngoài, thốngnhất ý thức dân tộc về mặt chính trị, làm công cụ thống nhất quyền lựcvào chính quyền trung ương (họ Trần) và làm phương tiện giải quyết cácmâu thuẫn nội bộ dân tộc chủ yếu là giai cấp lãnh đạo và đông đảo quầnchúng nhân dân nhằm duy trì một trật tự xã hội cũng tức là duy trì ngaivàng của dòng họ
Về mặt tôn giáo, nhà Trần phải lựa chọn Thiền tông làm ý thức hệtiêu biểu, nhưng cần thay đổi nội dung của các Thiền phái trước đây để đápứng yêu cầu của đất nước Vì thế, nhà Trần chủ trương lập ra một Thiềnphái có nội dung tư tưởng độc lập; thể hiện đúng tinh thần bản sắc dân tộc,không lệ thuộc Thiền tông Trung Quốc; vượt lên trên sự khác biệt của tất
cả các tông phái Phật giáo cũng như các tín ngưỡng phi Phật giáo nhằmthống nhất ý thức hệ; không chịu trách nhiệm về sự khác biệt và đụng độ đãxảy ra trong lịch sử giữa các phái Thiền tông với nhau cũng như Thiền tôngvới các tín ngưỡng khác Do đó thu hút các tín ngưỡng khác Bên cạnh đó,Thiền phái này cũng tự khoác cho mình chiếc áo một tôn giáo mới - tuyrằng thực tế chỉ là một phái, với đầy đủ các yếu tố để thu phục quần chúng
Sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử không những mang ýnghĩa rất lớn về tính tự chủ của dân tộc ta từ kinh tế, chính trị, văn hóa màđến cả tôn giáo cũng không bị lệ thuộc vào các dòng Thiền trước ảnh
Trang 29hưởng từ Trung Hoa Từ mô hình tổ chức đến nội dung tu tập, hành trì thểhiện bản sắc dân tộc Đại Việt lúc bấy giờ.
Đặc sắc của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử là tính nhập thế tích cực
“Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác” (Phật pháp tại thế gian,
không xa rời thế gian) Đạo không tách rời đời và đời cũng không thiếuvắng đạo, cả hai đã trở thành một hợp thể linh động, sáng tạo và diệu dụngtrong mọi hoàn cảnh Có thể nói rằng các vị vua, các Thiền sư thời Trần đã
sử dụng đúng tiềm năng của đạo Phật, khiến Phật giáo trở thành một thếlực hùng mạnh yểm trợ cho công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước củatriều đình
Với tất cả những yếu tố đó, Phật giáo thời Trần đã trở thành một bộphận của văn hóa dân tộc, có ảnh hưởng và tác động đến nhiều mặt của đờisống xã hội, làm nên những vẻ vang trong lịch sử của nhà Trần
Tiểu kết: Khởi nguyên từ sự dung hợp những triết lý của Nho - Phật
- Lão trong buổi “Tam giáo đồng nguyên” (Phật tính luận của Thiền học,
tư tưởng “Vô sở đãi”, “Tùy duyên, tùy tục” của Lão - Trang, triết lý “Lạcđạo” của Nho gia), tư tưởng “Cư trần lạc đạo” được ươm mầm từ chínhnhững đòi hỏi cấp bách của lịch sử dân tộc, một thời đại mà tất cả cácthành phần từ vương hầu, khanh tướng tới muôn dân trăm họ đều ra cônggóp sức vào sự nghiệp xây dựng đất nước và chống kẻ giặc hung bạo đanglăm le xâm lược bờ cõi Đại Việt Đó là thời đại mà triết lý “lấy chính thânmình làm người dẫn đạo cho thiên hạ” đã trở thành tôn chỉ sống và hànhđộng của các vị vua thời Trần Đó là thời đại của “hào khí Đông A” anhhùng với những chiến công đánh giặc vệ quốc hiển hách, đáng tự hào dựatrên mối đoàn kết toàn dân “vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nướcgóp sức” lưu mãi sử xanh Lý giải cội nguồn của tư tưởng “Cư trần lạc
Trang 30đạo” từ trong hệ thống tư tưởng Tam giáo hoàn toàn không phải là mộtcách nhìn “sùng ngoại”, “vong bản” Trái lại, nhìn nhận tư tưởng ấy có gốc
rễ từ sự dung hòa Nho - Phật - Đạo trên cơ sở tiếp biến văn hóa, đồng thờiđáp ứng nhu cầu cấp bách của thực tiễn lịch sử và phù hợp với thực tế ĐạiViệt, là một cái nhìn khách quan mang tinh thần khoa học, nói theo ngônngữ nhà Phật, là thấu thị những cơ duyên Thiền Trúc Lâm và chủ thuyết
“Cư trần lạc đạo” của nó, vì thế, về bản chất vẫn là một sản phẩm tinh thầnđáng tự hào của người Việt
Trang 31CHƯƠNG 2:
TƯ TƯỞNG “CƯ TRẦN LẠC ĐẠO” – TỪ THƯỜNG CHIẾU, TRẦN THÁI TÔNG QUA TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ
ĐẾN TRẦN NHÂN TÔNG VÀ HUYỀN QUANG
Theo Đoàn Thị Thu Vân trong bài Tuệ Trung Thượng sĩ và Thiền phong đời Trần [69; tr 24] thì tư tưởng “Cư trần lạc đạo” là tôn chỉ của Sơ
tổ và là tư tưởng nhất quán của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, được thể
hiện quan bốn điểm: 1 Hãy nên sống hòa mình với đời, không câu chấp; 2 Hành động tùy duyên, tức là làm việc cần làm, đúng lúc phải làm và không trái quy luật tự nhiên; 3 Tự tin vào mình, trở về khơi dậy tiềm lực của chính mình, không tìm cầu tha lực; 4 Không nô lệ vào bất cứ cái gì, dù Thiền hay Phật Để được như vậy, các nhà tư tưởng Thiền phái đã có cả
quá trình hoạt động và đúc kết từ thực tiễn trong tiến trình hình thành tưtưởng “Cư trần lạc đạo” đi từ “tùy tục” của Thường Chiếu, đến “biện tâm”của Trần Thái Tông, chuyển qua “hòa quang đồng trần” của Tuệ TrungThượng sĩ, “tùy duyên lạc đạo” của Trần Nhân Tông và sau cùng là cảmhứng thế tục của Đệ tam tổ Huyền Quang
2.1 Chủ trương “tùy tục” của Thường Chiếu và tư tưởng “biện tâm” của Trần Thái Tông
2.1.1 Chủ trương “tùy tục” của Thường Chiếu - dấu gạch nối giữa ba tông phái Thiền đời Lý với dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử
Thường Chiếu (? - 1203), là một thiền sư đời Lý, thuộc thế hệ thứ
12 của Thiền phái Vô Ngôn Thông trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.Thường Chiếu người làng Phù Ninh, họ Phạm Hồi chưa xuất gia, ông đãtừng làm quan dưới triều vua Lý Cao Tông Sau đó, ông bỏ quan tước để đixuất gia dưới sự hướng dẫn của Thiền sư Quảng Nghiêm, chùa Tịnh Quả
Trang 32Ðược tâm truyền của thiền sư Quảng Nghiêm, ông ở lại chùa Tịnh Quảthêm vài ba năm để hầu thầy, rồi lui về một ngôi chùa cổ ở làng Ông Mạc
để dạy học trò Sau đó không lâu, thiền sư Thường Chiếu dời sang chùaLục Tổ, vốn là một tổ đình rất xưa của phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi Ngoài côngxiển dương và truyền dạy giáo lý Phật pháp cho tăng chúng, Thiền sư còn
có công thống nhất ba Thiền phái lúc bấy giờ
Ở đời Lý, lối sống “Cư trần lạc đạo” với chủ trương “tùy tục” đãhình thành và đi vào đời sống thực tiễn Các nhà sư ở giai đoạn này khôngchỉ đóng khung trong những hoạt động nhà chùa, họ kết hợp với các Phật
tử tham gia công tác xã hội như: chữa bệnh, đắp đường,… Thiền sư Trường
Nguyên chủ trương “Tại quang tại trần, thường ly quang trần” (Ở chỗ ánh
sáng bụi trần, thường lìa ánh sáng bụi trần) Thường Chiếu, người làm gạchnối giữa Phật giáo “ba tông phái” đời Lý và Phật giáo “một tông phái” đời
Trần, cũng nói đến chữ “tùy” Trong Việt Nam Phật giáo sử luận, Nguyễn Lang có dẫn câu chuyện từ sách Thiền uyển tập anh:
Trước khi Thường Chiếu viên tịch, đệ tử của ông là Thần Nghi hỏi:
“Những nhân vật như sư phụ khi thời tiết đến cũng phải tùy tục chết như người thường sao?” Thường Chiếu hỏi: “Người thấy được ai là kẻ không tùy tục nào?” Thần Nghi đáp: “Bồ Đề Đạt Ma là một Ông ta không chết
mà chỉ lướt biển trở về Ấn Độ” Thường Chiếu lại nói: “Đó chẳng qua chỉ
là chó sủa bóng thôi” Thần Nghi hỏi: “Vậy hòa thượng có tùy tục không?” Thường Chiếu nói: “Ta cũng tùy tục” Thần Nghi lại hỏi: “Tại sao lại như thế?” Thường Chiếu trả lời: “Để cho giống với kẻ khác” [34;
tr 125]
Qua câu chuyện, Thường Chiếu đã truyền dạy cho học trò của mìnhnguyên tắc “tùy tục”, nghĩa là làm giống cuộc đời Tuy nhiên, ông chủ yếunhấn mạnh chữ “tùy” với ý nghĩa “tùy tục” về lẽ sống chết chứ chưa hẳn là
Trang 33sự “tùy nghi”, “tùy duyên” Khi người học trò hỏi về “pháp thân”, ThườngChiếu đã trả lời bằng bài kệ:
Tại thế vi nhân thân, Tâm vi Như Lai tạng.
Chiếu diệu thả vô phương, Tầm chi cánh tuyệt khoáng.
(Ở thế là nhân thânTâm là Như Lai tạngChiếu dọi khắp muôn phương,Nếu tìm không thấy bóng)
“Pháp thân” hay “tự tính giác ngộ” được Thường Chiếu gọi là “NhưLai tạng” thì tồn tại khắp nơi Có điều con người tồn tại qua xác thân ngũuẩn Vậy “Pháp thân” cũng có nghĩa là “nhân thân” Quan điểm này có
được là do Thường Chiếu đã biết y cứ vào tư tưởng “Một là tất cả, tất cả là một” của kinh Hoa Nghiêm để làm cơ sở lý luận “Pháp thân” chính là
“Phật thân”, là thân sinh diệt của con người Xác thân hiện hữu có vai trò
rõ nét trong quá trình đi tìm sự giác ngộ Chân lý chỉ hiện khởi cho bất cứ
ai tìm thấy trong đời sống thực, chứ không ở đâu xa cả Và như thế, dù tănghay tục, dẫu ở trong chùa hay ngoài xã hội, đều có thể ngộ đạo Quan điểmnày rất gần gũi với tư tưởng của các nhà Thiền học phái Trúc Lâm sau này
Đó là biểu hiện của tinh thần tự tín, tự lập đã được soi chiếu trong phươngpháp tu tập, rèn luyện của Thiền Nam Trung Hoa, mà Lục tổ Huệ Năng làngười có công lớn nhất
Tư tưởng “tùy tục” của Thường Chiếu, nói một cách dễ hiểu là làmgiống như cuộc đời, không phân biệt với cuộc đời Chính vì không phânbiệt với cuộc đời như thế mà Thiền sư có thể ung dung đón nhận tất cả, kể
cả cái chết một cách bình thản Bài kệ ông đọc trước lúc lâm chung biểu lộ
Trang 34phong thái của người đã giải thoát, tìm thấy rằng thực hữu trànđầy kia không nơi đâu và không lúc nào không phải là quê hương mình:
Ðạo bản vô nhan sắc Tân tiên nhật nhật khoa Ðại thiên sa giới ngoại
Hà xứ bất vi gia?
Dịch thơ:
Ðạo vốn không nhan sắc
Mà ngày càng gấm hoaTrong ba ngàn cõi ấyÐâu chẳng phải là nhà?
Chủ trương “tùy tục” của Thường Chiếu đã đặt “những viên gạch”đầu tiên cho sự hợp nhất tư tưởng của Thiền “tam tông” thời Lý (Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường), gợi mở đường hướng cho sự ra đờicủa Thiền phái duy nhất đời Trần Tư tưởng “tùy tục” của ông, về sau đượcTuệ Trung Thượng sĩ vận dụng linh hoạt với một tinh thần khai phóng “vôtiền khoáng hậu”, trở thành nếp sống đạo trộn lẫn cùng thế tục (“hòa quangđồng trần”) mang cốt cách và bản lĩnh Thiền tông Đại Việt
2.1.2 Trần Thái Tông, người đặt nền móng tư tưởng cho Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử với triết lý “biện tâm”
Thái Tông Hoàng đế, “họ Trần, tên húy là Cảnh, trước tên húy là
Bồ, làm Chi hậu chính triều Lý, được Chiêu Hoàng nhường ngôi, ở ngôi 33 năm (1226 - 1258), nhường ngôi 19 năm, thọ 60 tuổi (1218 – 1277), băng
ở cung Vạn Thọ, táng ở Chiêu Lăng Vua khoan nhân đại độ, có lượng đế vương, cho nên có thể sáng nghiệp truyền dòng, lập dựng kỉ cương chế độ nhà Trần thực to lớn vậy” [36; tr 37].
Trang 35Toàn bộ các quan điểm triết học của Trần Thái Tông được biểu hiện
tập trung trong các tác phẩm Thiền tông chỉ nam và Khóa hư lục Đây là tác phẩm được viết như “máu chảy đầu ngọn bút, nước mắt thấm từng trang giấy” sau bao khát khao tìm tòi chân lý với nỗi đau thế thái nhân tình, để
rồi đạt đến chỗ sở đắc “chân tâm”
Xu hướng hướng nội để tìm cầu chân lý tối hậu, có thể nói là rất sáng
tỏ trong đời sống Phật giáo đời Trần, nó mở đầu bằng một câu nói củaQuốc Sư Phù Vân (Viên Chứng) khuyên vua Trần Thái Tông, khi lánh lên
núi Yên Tử để cầu Phật: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng, lòng lặng mà hiểu, đó chính là chân Phật Nay nếu bệ hạ giác ngộ tâm đó thì lập tức thành Phật, không nhọc tìm kiếm bên ngoài”.
Muốn được giác ngộ và giải thoát, Trần Thái Tông khuyên mọingười, không kể tăng hay tục, hãy “biện tâm” “Biện tâm” là thế nào?
“Biện tâm” có phải là “điều phục tâm”, như trong Kinh Pháp Cú nói: “Khó nắm giữ khinh động, theo các dục quay cuồng Lành thay điều phục tâm, tâm điều an lạc đến.” [18; tr 15]; có phải là “phòng hộ tâm”, như trong câu kệ:“Người trí phòng hộ tâm, Tâm hộ an lạc đến” [18; tr 15]; có phải là “an trú tâm”, như trong câu kệ:“Ai tâm không an trú, không biết chân diệu pháp” [18; tr 15].
Nói tóm lại, theo Kinh Pháp Cú, “biện tâm” là uốn nắn cho tâm
thẳng, như thợ làm tên uốn nắn cho tên thẳng, là “điều phục tâm”, “phòng
hộ tâm”, “an trú tâm”, khiến cho tâm không còn tham lam, sân hận, siêuviệt lên trên thiện ác, giữ vững tâm như giữ thành trì
Qua những lời tâm huyết mà Trần Thái Tông viết trong Niệm Phật luận, chúng ta có thể hình dung công phu “biện tâm” mà ông nói là như thế nào: “Giữ cho tâm không một niệm nào bật khởi lên trong tâm thức, bởi vì niệm là ngoại trần, là hư giả không thật Khiến cho cả trần và niệm bình lặng, không khởi lên nữa, thời sẽ đạt tới cảnh như như bất động” [20; tr 134].
Trang 36Trần Thái Tông ở một đoạn sau của bài Niệm Phật luận cũng trở lại
ý tứ đó: “Hạng trí tuệ trung bình, chỉ còn lại thiện niệm, lấy (thiện) niệm
để đối trị ác niệm, diệt bất cứ niệm nào mống lên Và khi mọi niệm diệt hết, thì tức là ngộ đạo” [20; tr 145]
Vì sao Trần Thái Tông nói là phải diệt hết mọi niệm? Phải chăng,theo ông, mọi niệm thiện, ác cũng đều là tạo nghiệp không phải là giảithoát, chỉ khi đạt tới cảnh “như như bất động” mới là “chân giải thoát” Thếnhưng, “như như bất động” là cảnh giới thế nào? Tất nhiên, “bất động” ởđây không phải là thân không động “Bất động”, nên hiểu là không độngniệm, không thủ chấp, không vướng mắc Như vậy, đó là tâm thức sángsuốt biết mình đã giải thoát Chúng ta nhớ câu của Quốc sư Phù Vân nói
với Trần Thái Tông, khi vua lên núi Yên Tử: “Lòng lặng mà hiểu, đó chính
là chân Phật.”
Khi trả lời câu hỏi đạo của nhà sư Trung Quốc là Tống Đức Thành,vua nói “tâm vô” chưa phải là giác ngộ Ý vua nói, dù đạt tới cảnh giới “vôniệm” rồi cũng chưa phải là giác ngộ:
“Đừng nói tâm vô tức là đạo, vô tâm còn cách đạo đến hai cửa ải nữa ”.
Đức Thành lại hỏi:“Tâm đã rỗng không rồi, lại còn phải đi qua hai cửa ải sao?”
Vua trả lời:“Nước chảy xuống núi không có ý thức gì, Mây trắng ra khỏi hang núi cũng là vô tâm”[20; tr 68]
Ý vua nói “lặng” không chưa đủ, “vô niệm” mà thôi thì chưa đủ, màtrí tuệ phải chiếu sáng thì mới giác ngộ được
Trong bài Tọa thiền luận, Trần Thái Tông có viết: “Người học đạo chỉ cốt thấy được bản tính Tuy chịu tất cả mọi tịnh giới mà không ngồi thiền thì định lực không sinh Định lực không sinh thì ý nghĩ sai lầm không
Trang 37diệt được” [20; tr 36] Ông cho rằng những ai đã lĩnh hội được Phật tính
nơi mình rồi thì người đó không còn tạo nghiệp nữa Bởi lẽ chính cái tâm
“vô minh”, vọng động là nguyên nhân tạo tác của nghiệp, nhưng khi conngười đã tìm lại được chân tâm, bản tính của mình, đã biến tâm mình thànhtâm Phật rồi thì không còn tham, sân, si; tâm trở nên thanh tịnh, trong sángbản nhiên, nên nghiệp tự khắc không còn Do vậy, họ cũng không còn táisinh trong vòng luân hồi sinh tử Thực chất của “kiến tính”, đó là một sựtrở về, trở về với “quê hương” bản tâm nguyên sơ, tĩnh lặng mà thuần khiếtcủa mỗi chúng sinh Và giải thoát theo triết lý Thiền ở đây chẳng khác gìhơn là sự tỉnh thức tuyệt đối, cao độ, vượt lên trên mọi chấp trước và lầmkiến, để sống sinh động và trọn vẹn trong cái hữu hạn của cuộc đời và cái
vô hạn của bản nguyên tuyệt đối thanh tịnh
Trong Phổ khuyến phát Bồ đề tâm (Khoá hư lục), Trần Thái Tông viết “Khởi thức Bồ đề giác tính cá cá viên thành, tranh tri Bát Nhã thiện căn nhàn nhàn cụ túc” [20; tr 89] (Hay đâu Bồ đề tính giác, ai nấy đều có
đầy đủ, sao biết căn lành Bát Nhã, người người đều tròn đầy) Ý muốn nói,
sự giác ngộ đã có sẵn trong mọi người, trí tuệ Bát Nhã cũng có đầy đủtrong mọi người, chẳng cần tìm đâu xa cả mà hãy tìm ở thân mình, tức phải
“biện tâm” thì sẽ thấy được tính, giác ngộ mà thành Phật Do đó, cầu Phật,cầu chân lý không thể hướng ngoại mà phải hướng nội Nói như Quốc sưPhù Vân, Phật chỉ có ở trong tâm và ai cũng có sẵn trong mình Phật tính, vì
vậy mà “chẳng cứ đại ẩn, tiểu ẩn, chẳng kể tại gia, xuất gia; hỏi chi tăng, tục chỉ cốt rõ tâm Nếu biết chiếu rọi ánh sáng (của trí tuệ) trở lại, sẽ thấy tính mà thành Phật” [20; tr 45] Cho nên suốt cuộc đời, Trần Thái Tông rất
tích cực trong việc trị nước an dân và đặc biệt, ông đã trực tiếp cầm quân,chỉ huy cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ năm 1258 thắng lợi Nhân
sinh quan của Trần Thái Tông là “nhìn thẳng vào thực tại con người và
Trang 38cuộc đời để tự phản tỉnh, bước nhanh trên con đường trở về cội nguồn quê hương cao đẹp” Nhân sinh quan đó được trình bày rõ qua bài Tứ sơn kệ [20; tr 13] trong Khoá hư lục:
Tứ sơn tiễu bích vạn thanh tùng Ngộ liễu đô vô vạn vật không
Hỉ đắc lư nhi tam cước tại Mịch kỵ đả sấn thướng cao phong
(Chanh vanh bốn núi vạn cây tùng Liễu ngộ đều không vạn vật không
Ba cẳng lừa kia mừng vướng đó Cưỡi lên thẳng tới đỉnh non bồng)
Trở về với bản thể thanh tịnh tự nhiên vốn có của tâm thức tức là
“Phật tính” Cái nhìn này vốn là tư tưởng đặc trưng của đông phương, nhất
là Phật giáo Đức Phật từng tuyên bố: “Tất cả chúng sinh đều có Phật tính”, “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành” Bằng cái nhìn phóng khoáng, viên dung “tất cả là một, một là tất cả” như vậy, đạo Phật
đã phá tan mọi bức tường ngăn cách, vén lên bức màn đen tối đã bao trùmlên tâm thức của chúng ta Thái Tông có cái nhìn rất thoáng:
Trong hang quỉ vẫn là lâu đài Di Lặc, Dưới hắc sơn chẳng khác cảnh giới Phổ Hiền.
Đó là đạo Phật của mọi người, một đạo Phật hướng nội và “biệntâm” giúp mọi người trở về với thực tại của mình, không phải đi tu vàochùa, cạo đầu, mặc cà sa mới giác ngộ; xem mọi người đều là Phật, lànhững vị “Phật sống” mà không tự biết Trong bài luận về niệm Phật ông
viết: “Phật thân tức ngã thân thị, vô hữu nhị tướng, tướng tướng vô nhị,
Trang 39tịch nhiên thường tồn, tồn nhi bất tri, thị vi hoạt Phật”[20; tr 120] (thân ta
tức là thân Phật, không có hai tướng, tướng Phật và tướng ta không phảihai, lặng vậy thường tồn tại, tồn tại mà không biết, đó là Phật sống vậy).Người là Phật, nhưng người lại không tự biết, cho nên Trần Thái Tông gọingười là “Phật sống”
Triết lý “biện tâm” của Trần Thái Tông đã đặt nền móng tư tưởngcho Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử về sau Tựa hồ nó như một giọt nướccam lộ tắm mát chúng sinh, giúp cho người tu đạo tìm thấy Phật trong tâm
mà không phải vất vả tìm kiếm bên ngoài Phật giáo “biện tâm” là Phậtgiáo của mọi người, nó không hạn chế trong tăng sĩ cũng không hạn chếtrong chùa chiền Ai cũng “biện tâm” được, không kể là xuất gia hay tạigia, ở giữa trần tục vẫn có thể vui với đạo Tư tưởng đó làm cho đạo Phậtmặc dù có giáo lý cao siêu, thâm diệu nhưng vẫn có nền tảng quần chúngrộng rãi
2.2 Bản lĩnh “hòa quang đồng trần” trong sáng tác của Tuệ Trung Thượng sĩ
Tuệ Trung Thượng sĩ (1230 - 1291) tên thật là Trần Tung, con đầucủa Anh Sinh vương Trần Liễu, anh cả Nguyên Thánh Thiên Cảm HoàngThái hậu và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn Ông là một trong nhữngnhà Thiền học xuất sắc của nước ta trong triều đại nhà Trần, được coi là
“ngọn đèn tổ của Phật hoàng, lấy tâm truyền tâm… làm phấn phát ngọn gió lành nhà Phật” [34; tr 235] Tuệ Trung Thượng sĩ tu Phật nhưng
không khép mình vào “tam quy ngũ giới” Ông là nhà Thiền học thông tuệ,sắc sảo trong suy nghĩ và hành động
2.2.1 Tư tưởng “tùy duyên”
Kế tục lối sống “tùy tục” của Thường Chiếu và các vị Thiền sư đitrước, Tuệ Trung Thượng sĩ đã sáng tạo nên một triết lý ở đời sống đạo vô
Trang 40cùng độc đáo Điều này có thể thấy rõ qua lời nhận xét của Trần Nhân
Tông trong Thượng sĩ hành trạng: “Thượng sĩ trộn lẫn cùng thế tục, hòa cùng ánh sáng chứ không trái hẳn với người đời Nhờ đó mà tiếp nối theo được hạt giống pháp và dìu dắt được kẻ sơ cơ Người nào tìm đến hỏi han, người cũng chỉ bảo cho điều cương yếu, khiến họ trụ được cái tâm, mặc tính ngang tàng, không rơi và danh hay thực” Đó chính là thái độ sống, lối
sống “tùy duyên” của Thiền tông Nếu các vị Bồ tát trong kinh Phật luôn đềcao sự dấn thân và hòa mình vào cuộc đời để phụng sự chúng sinh thì vớiTuệ Trung, Thiền tông cũng không còn là triết lý xa lạ Qua thơ văn củamình, Thượng sĩ đã thể hiện một triết lý Thiền gần gũi với cuộc đời, ở ngay
trong đời sống hằng ngày Với ông “đi cũng Thiền, ngồi cũng Thiền, trong lửa lò hồng một đóa sen” Triết lý Thiền của Tuệ Trung là sự ung dung,
khoan thai trong mọi hành động, khi tâm tĩnh thì hành động luyện tính tấtthành
Thượng sĩ quan niệm sống ở đời là phải biết “tùy nghi”, không nênkhư khư chấp vào quy tắc cứng nhắc:
Khỏa quốc hân nhiên tiện thoát y,
Lễ phi vô dã, tục tùy nghi
được cái tinh túy của Thiền, Tuệ Trung đã tạo nên một cách sống đẹp hòa