1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TRÒ CHƠI KĨ THUẬT VÀ VẬN DỤNG TRONG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

96 971 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 7,49 MB
File đính kèm Bìa, phụ lục, bảng ......rar (203 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Lý do chọn đề tài Trong giáo dục nói chung và dạy học nói riêng, nhà trường và các thầy cô giáo luôn chú trọng tới việc tích cực hóa người học, tạo ra những cơ hội và điều kiện học tập thuận lợi cho người học phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo. Đồng thời, để người học phát triển toàn diện, phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động, việc tạo ra những hình thức tổ chức dạy học phong phú, hấp dẫn cũng là một hoạt động giáo dục được nhà trường và các bộ phận quản lí, chỉ đạo quan tâm. Ngày 2 tháng 11 năm 2012, Bộ trưởng Bộ GDĐT đã ban hành thông tư số 382012TT BGDĐT về quy chế Cuộc thi khoa học kĩ thuật (KHKT) dành cho học sinh trung học Vietnam Science and Engineering Fair ViSEF (Sau đây gọi tắt là Cuộc thi KHKT). Cuộc thi KHKT nhằm khuyến khích học sinh trung học nghiên cứu, sáng tạo khoa học, công nghệ, kĩ thuật và vận dụng kiến thức học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn trong cuộc sống. Cuộc thi cũng góp phần thúc đẩy đổi mới hình thức tổ chức và phương pháp dạy học, đổi mới hình thức và phương pháp đánh giá kết quả học tập, phát triển năng lực học sinh (HS), nâng cao chất lượng dạy học. Tạo cơ hội để HS trung học giới thiệu kết quả nghiên cứu KHKT của mình, tăng cường trao đổi, giao lưu văn hóa, giáo dục giữa các địa phương và hội nhập quốc tế. Yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực đã đặt ra những đòi hỏi phải đổi mới mục tiêu, nội dung của quá trình đào tạo ở mọi cấp học, bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân ở nước ta. Các trường trung học phổ thông (THPT) nói chung đã có nhiều cải tiến trong công tác đảm bảo chất lượng đào tạo nhằm phát huy năng lực cho HS. Đã có nhiều hoạt động nhằm đổi mới phương pháp dạy học đã được phát động và triển khai dưới nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều biện pháp dạy học phát huy tính tích cực học tập cho HS vẫn chưa được triển khai, một trong những kĩ thuật dạy học chưa được đông đảo giáo viên quan tâm sử dụng đó là kĩ thuật sử dụng trò chơi trong dạy học. Việc sử dụng trò chơi trong dạy học là một biện pháp dạy học phù hợp với xu hướng đổi mới dạy học. Ở các trường THPT, môn Công nghệ là môn có tính thực tiễn cao, việc sử dụng biện pháp dạy học của GV có ảnh hưởng rất lớn đến việc học tập kinh nghiệm trong giảng dạy và tổ chức hoạt động giáo dục của HS về sau. Trong chương trình dạy học môn Công nghệ, nhiều nội dung nếu được thiết kế để tổ chức theo trò chơi dạy học sẽ phát huy được tính tích cực học tập của HS và mang lại hiệu quả cao trong quá trình dạy học theo xu hướng hiện nay. Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Trò chơi kĩ thuật và vận dụng dạy học môn Công nghệ ở trung học phổ thông”.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Trọng Khanh

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

Lời cám ơn

Tác giả xin tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới :

Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Trung tâm Thông tin - Thư viện và các Thầy, Cô ở khoa Sư phạm kĩ thuật - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã quan tâm, tạo điều kiện để tác giả học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn của mình

Đặc biệt, tác giả xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc PGS.TS Nguyễn Trọng Khanh đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình học tập

và hoàn thành bản luận văn này

Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu và các Thầy, Cô ở trường Trung học phổ thông Thanh Bình, Thanh Hà, Hải Dương đã quan tâm, tạo điều kiện, góp ý cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tài

Xin cảm ơn toàn thể gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm giúp

đỡ, động viên tác giả!

Hà Nội, tháng 10 năm 2015

Tác giả

Đặng Ngọc Ước

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

GD&ĐT Giáo dục và đào tạo

Trang 4

MỤC LỤC

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Phân phối chương trình chung môn Công nghệ 12 33

tại tỉnh Hải Dương 33

Bảng 2.2 Phân phối chương trình chi tiết môn Công nghệ 12 34

tại tỉnh Hải Dương 34

Bảng 3.1 Nhận thức của HS về hình thức và PPDH môn Công nghệ 12 63

Bảng 3.2 Hứng thú của HS với các loại trò chơi dạy học môn Công nghệ 12 64

Bảng 3.3 Mức độ sử dụng trò chơi hợp lý trong giờ học môn Công nghệ 12 .66

Bảng 3.4 Thái độ của HS khi tham gia trò chơi 66

Bảng 3.5 HS ứng xử với trò chơi khi GV tổ chức 67

Bảng 3.6 GV nhận định về tác dụng của việc sử dụng trò chơi 70

Bảng 3.7 Mức độ phân bổ thời gian sử dụng trò chơi trong dạy học 71

môn Công nghệ 12 71

Bảng 3.8 Hiệu quả sử dụng các loại trò chơi trong dạy học môn Công nghệ 12 72

Bảng 3.9 Quan điểm lựa chọn căn cứ xây dựng và sử dụng trò chơi của GV 73

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Cấu trúc của trò chơi 11

Hình 2.1 Ô chữ từ khóa: CHỈNH LƯU 45

Hình 2.2 Sơ đồ mạch tạo xung đa hài đối xứng 47

Hình 2.3.1 Sơ đồ mạch điều khiển quá điện áp 49

Hình 2.3.2 Sơ đồ hoàn chỉnh mạch điều khiển quá điện áp 49

Giáo viên là người tổ chủ trì trong tổ chức, hướng dẫn và điều hành quá trình chơi của học sinh Sau đây là khái quát về nội dung chính của trò chơi tìm chỗ sai trên video (Hình 2.4 Tìm và sửa sai trên hình vẽ) 51

Hình 2.4.1 51

Hình 2.5 Một số hình ảnh về hệ thống điện quốc gia 57

Hình 2.6 Sơ đồ khối về hệ thống điện quốc gia 57

Hình 3.2 Tần số sử dụng trò chơi của GV theo đánh giá của HS 65

Hình 3.3 Độ khó của trò chơi theo ý kiến của HS 67

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong giáo dục nói chung và dạy học nói riêng, nhà trường và các thầy

cô giáo luôn chú trọng tới việc tích cực hóa người học, tạo ra những cơ hội và điều kiện học tập thuận lợi cho người học phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo Đồng thời, để người học phát triển toàn diện, phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động, việc tạo ra những hình thức tổ chức dạy học phong phú, hấp dẫn cũng là một hoạt động giáo dục được nhà trường và các bộ phận quản lí, chỉ đạo quan tâm

Ngày 2 tháng 11 năm 2012, Bộ trưởng Bộ GDĐT đã ban hành thông tư

số 38/2012/TT - BGDĐT về quy chế Cuộc thi khoa học kĩ thuật (KHKT) dành cho học sinh trung học Vietnam Science and Engineering Fair - ViSEF (Sau đây gọi tắt là Cuộc thi KHKT) Cuộc thi KHKT nhằm khuyến khích học sinh trung học nghiên cứu, sáng tạo khoa học, công nghệ, kĩ thuật và vận dụng kiến thức học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn trong cuộc sống Cuộc thi cũng góp phần thúc đẩy đổi mới hình thức tổ chức và phương pháp dạy học, đổi mới hình thức và phương pháp đánh giá kết quả học tập, phát triển năng lực học sinh (HS), nâng cao chất lượng dạy học Tạo cơ hội để HS trung học giới thiệu kết quả nghiên cứu KHKT của mình, tăng cường trao đổi, giao lưu văn hóa, giáo dục giữa các địa phương và hội nhập quốc tế

Yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực đã đặt ra những đòi hỏi phải đổi mới mục tiêu, nội dung của quá trình đào tạo ở mọi cấp học, bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân ở nước ta Các trường trung học phổ thông (THPT) nói chung đã có nhiều cải tiến trong công tác đảm bảo chất lượng đào tạo nhằm phát huy năng lực cho HS Đã có nhiều hoạt động nhằm đổi mới phương pháp dạy học đã được phát động và triển khai dưới nhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên, vẫn còn nhiều biện pháp dạy học phát huy tính tích cực

Trang 8

học tập cho HS vẫn chưa được triển khai, một trong những kĩ thuật dạy học chưa được đông đảo giáo viên quan tâm sử dụng đó là kĩ thuật sử dụng trò chơi trong dạy học.

Việc sử dụng trò chơi trong dạy học là một biện pháp dạy học phù hợp với xu hướng đổi mới dạy học

Ở các trường THPT, môn Công nghệ là môn có tính thực tiễn cao, việc

sử dụng biện pháp dạy học của GV có ảnh hưởng rất lớn đến việc học tập kinh nghiệm trong giảng dạy và tổ chức hoạt động giáo dục của HS về sau Trong chương trình dạy học môn Công nghệ, nhiều nội dung nếu được thiết

kế để tổ chức theo trò chơi dạy học sẽ phát huy được tính tích cực học tập của

HS và mang lại hiệu quả cao trong quá trình dạy học theo xu hướng hiện nay

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Trò chơi kĩ thuật và vận

dụng dạy học môn Công nghệ ở trung học phổ thông”.

2 Mục đích nghiên cứu

Thông qua nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề sử dụng trò chơi dạy học, thiết kế và tổ chức thực hiện một số trò chơi trong dạy học môn Công nghệ 12 nhằm tạo hứng thú học tập, tích cực hóa hoạt động học tập của

HS, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn học ở trường THPT

3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu:

Hoạt động dạy và học môn Công nghệ 12 ở các trường THPT

3.2 Đối tượng nghiên cứu:

Hệ thống các trò chơi dạy học trong dạy học môn Công nghệ ở trường THPT

3.3 Phạm vi nghiên cứu:

Trong khuôn khổ luận văn tác giả tập trung nghiên cứu vấn đề xây dựng

và sử dụng trò chơi kĩ thuật và vận dụng trong dạy học môn Công nghệ 12 ở

Trang 9

trường THPT Thực nghiệm được tổ chức tại trường THPT Thanh Bình - Thanh Hà - Hải Dương.

4 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng và sử dụng một số trò chơi kĩ thuật trong dạy học môn Công nghệ 12 thì sẽ tạo được hứng thú học tập, phát huy tính tích cực học tập cho HS, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy học môn học

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc xây dựng và

sử dụng trò chơi trong dạy học môn Công nghệ

5.2 Khảo sát thực trạng việc xây dựng và sử dụng trò chơi trong dạy học môn Công nghệ 12 ở trường THPT

5.3 Xây dựng hệ thống các trò chơi kĩ thuật trong dạy học môn Công nghệ 12 và nghiên cứu các biện pháp sử dụng hệ thống trò chơi đã xây dựng

5.4 Kiểm nghiệm, đánh giá tính khả thi, hiệu quả của biện pháp đã đề xuất

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận

Quá trình thực hiện đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu lí luận như: phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa,… các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài

6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Quá trình thực hiện đề tài cũng đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu thực tiễn như: phương pháp quan sát, phương pháp chuyên gia, phương pháp điều tra bằng phiếu Anket, phương pháp phỏng vấn, phương pháp thực nghiệm, phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục,… để xây dựng cơ sở thực tiễn và kiểm nghiệm biện pháp đã đề xuất của đề tài

Trang 10

6.3 Phương pháp thống kê toán học

Phương pháp thống kê toán học được sử dụng để xử lí kết quả thu thập được trong khảo sát và kiểm nghiệm, đánh giá

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được cấu trúc gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng trò chơi trong dạy học

Chương 2 Xây dựng và sử dụng trò chơi kĩ thuật trong dạy học môn Công nghệ 12

Chương 3 Kiểm nghiệm và đánh giá

Trang 11

3 - 4 tuổi được giáo dục tại gia đình, trẻ chơi những trò chơi cùng nhau dưới

sự hướng dẫn của phụ nữ Ông khuyên "Đừng ép buộc, cưỡng bức dạy trẻ nhỏ những kiến thức khoa học mà thông qua trò chơi khi ấy anh dễ nhìn thấy trẻ hướng về cái gì"

Quan điểm bản chất xã hội của trò chơi, người đầu tiên đưa ra quan điểm này là nhà triết học người Đức V.Vunt Ông viết: "Trò chơi đó là lao động của trẻ nhỏ, không có một trò chơi nào là không có trong mình một nguyên mẫu, một dạng lao động nghiêm túc" [2]

G.V Plêkhanôv đã khẳng định trò chơi xuất hiện trước lao động và trên

cơ sở của lao động Ông cho rằng trò chơi là một phản ánh, thông qua trò chơi, trẻ có thể lĩnh hội những kĩ năng lao động, thói quen và các nguyên tắc ứng xử của người lớn trong xã hội Từ đó ông đi đến kết luận: "Trò chơi mang bản chất xã hội, nó xuất hiện để đáp ứng với xã hội mà trẻ đang sống và nhu cầu được trở thành thành viên tích cực của xã hội đó" [2]

Trang 12

Người có công lớn đặt nền móng cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu trò chơi là nhà tâm lí học Xô Viết L.X.Vugôtxki Ông cho rằng về trò chơi thì có những vấn đề sau [33]:

- Khẳng định bản chất xã hội và tính hiện thực của trò chơi trẻ em

- Khẳng định vai trò trung tâm của trò chơi trẻ em đối với sự phát triển tâm

lí của trẻ Trò chơi chính là động lực phát triển và tạo ra "vùng phát triển gần"

- Trò chơi trẻ em không nảy sinh một cách tự phát mà do ảnh hưởng có

ý thức và không có ý thức từ phía người lớn xung quanh

- Sự cần thiết phải vận dụng phương pháp phân tích, xác định "cấu trúc đơn vị" của C.Mac vào nghiên cứu các chức năng tâm lí, trong đó có việc nghiên cứu trò chơi

- Không nên dừng lại ở nghiên cứu quan sát mà cần thiết phải tổ chức các nghiên cứu thực nghiệm về trò chơi

Như vậy trên thế giới, vấn đề kĩ năng tổ chức trò chơi đã có từ rất sớm

và ngày càng được nhiều người quan tâm nghiên cứu Hướng mới nhất hiện nay các nhà nghiên cứu đang chú trọng đến là hoàn thiện các kĩ năng tổ chức những trò chơi đa dạng mang tính tích hợp các môn học để tạo hứng thú trong dạy học

1.1.2 Sơ lược sự hình thành và phát triển trò chơi trong trường học ở Việt Nam

Trong đời sống con người, ngoài các hoạt động lao động, học tập, chiến đấu,… còn có hoạt động vui chơi, giải trí Mỗi hoạt động vui chơi, giải trí được tổ chức nhằm một mục đích nhất định, có nội dung nhất định và tuân theo những quy định nào đó Mỗi hoạt động đó được gọi là một trò chơi Cùng với sự phát triển của kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ,… trò chơi nói chung cũng được phát triển không ngừng Trong quá trình phát triển của mình, có những trò chơi mới xuất hiện, có những trò chơi dần mất đi, có

Trang 13

những trò chơi được đổi mới mục đích, đổi mới nội dung, đổi mới quy định, thể lệ v.v…

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, trò chơi dân gian ngày càng phát triển và hầu như không thể vắng trong các cuộc lễ hội Tuy nhiên, tùy theo từng vùng miền, tùy theo từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử mà có thể vẫn tồn tại cả những trò chơi có mặt tốt và mặt xấu của nó

Trong trường học, lớp học, trò chơi cũng là một hoạt động không thể thiếu Ban đầu, trò chơi thường do học trò tự phát, tự tổ chức như “đánh khăng”, “đánh đáo”, “đuổi mắt bắt dê”, “đánh gụ”, “nhảy dây”, “chọi gà” (bằng cỏ gà), “cướp cờ” v.v… Mục đích của trò chơi kiểu này chủ yếu nhằm giải trí đầu óc sau những giờ học căng thẳng, mệt mỏi và phần thưởng cho người thắng cuộc thường cũng chẳng có gì Nội dung của các trò chơi này cũng đơn giản và thể lệ cuộc chơi cũng chỉ một vài quy định đơn giản, dễ nhớ Những trò chơi kiểu này có ưu điểm nổi bật là người chơi được huy động cả trí tuệ và sức lực nên người chơi vừa thoải mái đầu óc, rèn luyện trí tuệ vừa được rèn luyện thể lực

Khi khoa học công nghệ phát triển, đặc biệt là sự phát triển của công nghệ thông tin, các trò chơi game trên máy tính ngày càng phát triển do sự hấp dẫn, tiện lợi của nó Nhìn chung các trò chơi trên máy tính chỉ có thể giúp người chơi giải trí và rèn luyện trí tuệ trong một chừng mực nào đó Các trò chơi này hầu như không giúp người chơi rèn luyện thể lực, thậm chí nếu người chơi quá ham mê sẽ dẫn tới hậu quả xấu cả về trí tuệ và thể lực

Nguyễn Thị Ngọc Chúc với tác phẩm "Hướng dẫn tổ chức học tập vui chơi" đã đề cập đến các loại trò chơi, mức độ các mối quan hệ trong trò chơi

Đó là chơi không có tổ chức, chơi một mình, chơi cạnh tranh nhau, chơi với nhau trong một thời gian ngắn, chơi với nhau lâu trên cơ sở hứng thú với nội

Trang 14

dung chơi Tác giả đã khẳng định kết quả của hai mức độ cuối phụ thuộc vào

kĩ năng hướng dẫn người học chơi của mỗi giáo viên [2]

Việc nghiên cứu kĩ năng tổ chức trò chơi cho học sinh THPT ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, hầu như rất ít giáo viên sử dụng phương pháp này trong dạy học vì: Mất thời gian thiết kế, xây dựng, số lượng học sinh thụ động còn nhiều, bao quát lớp của GV gặp khó khăn, đặc biệt nhất là tổ chức vận dụng trò chơi kĩ thuật trong dạy học môn Công nghệ chưa còn nhiều hạn chế hơn Chính vì vậy mà việc nghiên cứu vấn đề này trở lên cần thiết, nhằm tích cực hóa học tập của học sinh, tạo hứng thú học tập, phát huy tính sáng tạo và phát triển tư duy học sinh góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy và học đối với chương trình dạy học nói chung và môn Công nghệ nói riêng

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.2.1 Trò chơi

1.2.1.1 Chơi và hoạt động chơi

- Chơi là một trong những hoạt động của con người, có mặt trong đời sống con người ở mọi lứa tuổi, mặc dù hình thức chơi thay đổi khi một người lớn lên, già đi Khi chơi, cả người lớn lẫn trẻ em đều say mê, vui vẻ, thoải mái Đối với người lớn, hoạt động chơi chiếm một vị trí nhất định trong cuộc sống của họ Còn đối với trẻ mẫu giáo, hoạt động chơi là nội dung chính của cuộc sống, là hoạt động chủ đạo của trẻ ở lứa tuổi này

Có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “chơi”, có thể điểm qua một vài định nghĩa về “chơi” như:

+ “Chơi là hoạt động chỉ nhằm cho vui mà thôi, không có mục đích

gì khác”

+ “Chơi là hoạt động giải trí hoặc nghỉ ngơi”

+ “Chơi là một hoạt động vô tư, người chơi không chú tâm vào một lợi ích thiết thực nào cả, trong khi chơi các mối quan hệ của con người với tự

Trang 15

nhiên với xã hội được mô phỏng lại, nó mang đến cho người chơi một trạng thái tinh thần vui vẻ, thoải mái, dễ chịu”.

+ “Chơi là kiểu hành vi hoặc hoạt động tự nhiên, tự nguyện, có động cơ thúc đẩy là những yếu tố bên trong quá trình chơi và chủ thể không nhất thiết theo đuổi những mục tiêu và lợi ích thực dụng một cách tự giác trong quá trình đó Bản thân quá trình chơi có sức cuốn hút tự thân và các yếu tố tâm lý của con người trong khi chơi nói chung mang tính chất vui đùa, ngẫu hứng, tự

do, cởi mở, thư giãn, có khuynh hướng thể nghiệm những tâm trạng hoặc tạo

ra sự khuây khỏa cho mình”

Rõ ràng khó có thể đưa ra một khái niệm chung cho một hiện tượng

“chơi” trong toàn bộ phạm vi hoạt động rộng lớn của con người vì hình thức thể hiện của hoạt động chơi vô cùng đa dạng cả về nội dung lẫn hình thức

- Hoạt động chơi là hình thái đặc biệt của sự chơi và chỉ có ở con người Quá trình chơi diễn ra ở 2 cấp độ: cấp độ hành vi và cấp độ hoạt động Với tư cách là hoạt động, sự chơi diễn ra theo nhu cầu của chủ thể, được điều khiển bởi động cơ bên trong quá trình chơi Yếu tố động cơ là căn cứ phân biệt rõ hoạt động chơi với những dạng hoạt động khác Hoạt động chơi là dạng chơi có ý thức, cả nội dung văn hóa xã hội, dựa trên các chức năng tâm

lý cấp cao và chỉ có ở người, không có ở động vật Như vậy “Loại hoạt động

nào có cấu trúc động cơ nằm trong chính quá trình hoạt động, đó chính là hoạt động chơi”.

Tóm lại, hoạt động chơi cả trẻ em và người lớn đều có cùng bản chất tự nhiên, ngây thơ, vô tư vì nó là một trường hợp của chơi nhưng đây là dạng chơi ở người có ý thức, có động cơ xã hội và văn hóa, có nội dung nhận thức, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ

Hoạt động chơi đương nhiên là chơi nhưng không phải mọi hiện tượng chơi nào cũng là hoạt động chơi – có nhiều hiện tượng chơi chỉ là hành vi hay động thái biểu hiện những khả năng và nhu cầu bản năng của cá thể sinh vật hoặc người

Trang 16

1.2.1.2 Trò chơi

Trò: Là hoạt động diễn ra trước mắt người khác để mua vui

Chơi: là hoạt động giải trí hoặc nghỉ ngơi, chỉ nhằm mục đích cho vui

mà thôi

- Trò chơi là một loại hình văn hóa dân gian rất quen thuộc, gần gũi với mọi người và mang tính chất truyền thống Hay là một loại hình sinh hoạt, giao lưu văn hóa của con người, thường được tổ chức vào các dịp lễ, hội, tết thông qua đó giáo dục con người những kinh nghiệm sản xuất, phẩm chất đạo đức, tri thức khoa học

- Trò chơi mang lại cho con người sự vui vẻ, đoàn kết, giúp con người bộc lộ những tình cảm, thể hiện ước mơ, sự phấn đấu

Có rất nhiều định nghĩa về trò chơi như sau:

- Một số nhà tâm lý – giáo dục học theo trường phái sinh học như K.Gross, S.Hall, V.Stern cho rằng, trò chơi là do bản năng quy định, chơi chính là sự giải tỏa năng lượng dư thừa

- Còn G.Piagie cho rằng, trò chơi là hoạt động trí tuệ thuần túy là một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ

- Trên quan điểm macxit, các nhà khoa học Xô Viết đã khẳng định rằng, trò chơi có nguồn gốc từ lao động và mang bản chất xã hội Trò chơi được truyền thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác chủ yếu bằng con đường giáo dục [11]

- Theo tác giả Đặng Thành Hưng thì trò chơi là một thuật ngữ có hai nghĩa khác nhau tương đối xa

+ Một là kiểu loại phổ biến của chơi Nó chính là chơi có luật (tập hợp quy tắc định rõ mục đích, kết quả và yêu cầu hành động) và có tính cạnh tranh hoặc tính thách thức đối với người tham gia

Trang 17

+ Hai là những thứ công việc được tổ chức và tiến hành dưới hình thức chơi, như chơi bằng chơi, chẳng hạn: học bằng chơi, giao tiếp bằng chơi, rèn luyện thân thể dưới hình thức chơi v.v

- Theo từ điển tiếng Việt thì trò chơi là "Hoạt động bày ra để vui chơi,

giải trí" [P1; tr.1001].

Tóm lại, trò chơi chính là sự chơi có luật, những hành vi chơi tùy tiện, bất giác không gọi là trò chơi [19]

Các trò chơi đều có luật lệ, quy tắc, nhiệm vụ, yêu cầu tức là có tổ chức

và thiết kế, nếu không có những thứ đó thì không có trò chơi mà chỉ có sự chơi đơn giản

Qua sự phân tích các quan niệm, ý kiến về trò chơi, qua xem xét nội

dung và mục đích của trò chơi hiện nay, có thể hiểu: Trò chơi là một loại hoạt

động tạo cho người tham gia được vui chơi, giải trí, rèn luyện trí tuệ và sức lực, nó mang một chủ đề, nội dung nhất định, có tổ chức của nhiều người tham gia (Từ hai người trở lên) và có những quy định, những luật lệ buộc người chơi phải tuân theo Đồng thời, trò chơi còn là hoạt động rèn luyện cho người chơi cả về phẩm chất như lòng kiên trì, sự tự tin, sự tương trợ giúp

Trang 18

- Cốt trò: là bộ xương của trò chơi, là cái tạo lên trò chơi, là mục tiêu

mà trò trơi muốn đạt được

- Đề trò: là hình thức thể hiện trò chơi, là bước dẫn dắt trò chơi, là tình

huống nhằm thu hút, lôi cuốn, kích thích cho người chơi tham gia một cách tích cực

- Luật trò: là những quy định, quy tắc mà bất cứ người chơi nào cũng

phải tuân thủ Luật trò phải được phổ biến trước khi chơi để những người chơi nắm được mà thực hiện đúng luật, tránh vi phạm khi chơi

- Thưởng phạt: Trò chơi bao giờ cũng có kẻ thắng, người thua và đi

kèm có thưởng cho người (hoặc nhóm) thắng cuộc và có thể có phạt cho người (hoặc nhóm) thua cuộc Tuy nhiên thưởng, phạt chỉ mang tính tượng trưng đơn giản, vui vẻ, khích lệ

1.2.2 Trò chơi dạy học

1.2.2.1 Khái niệm trò chơi dạy học

Cho đến nay vẫn có những quan niệm khác nhau về trò chơi dạy học

- Trong lý luận dạy học, tất cả những trò chơi gắn với việc dạy học như

là phương pháp, hình thức tổ chức và luyện tập, không tính đến nội dung và tính chất của trò chơi thì đều được gọi là trò chơi dạy học

- Do những lợi thế của trò chơi có luật được quy định rõ ràng (gọi tắt là trò chơi có luật), trò chơi dạy học còn được hiểu là loại trò chơi có luật, có định hướng đối với sự phát triển trí tuệ của người học, thường do giáo viên nghĩ ra và dùng nó vào mục đích giáo dục và dạy học

- Trò chơi dạy học có nguồn gốc trong nền giáo dục dân gian, trong những trò chơi đầu tiên của mẹ với con, trong các trò vui và những bài hát khôi hài làm cho đứa trẻ chú ý đến những vật xung quanh, gọi tên các vật đó

và dùng hình thức đó để dạy con, những trò chơi đó có chứa đựng các yếu tố dạy học [31]

Trang 19

- A.I Xôrôkina đã đưa ra một luận điểm vô cùng quan trọng về đặc thù

của trò chơi dạy học: "Trò chơi học tập là một quá trình phức tạp, nó là hình

thức dạy học và đồng thời nó vẫn là trò chơi Khi các mối quan hệ chơi bị xóa bỏ, ngay lập tức trò chơi biến mất và khi ấy trò chơi biến thành tiết học, đôi khí biến thành sự luyện tập" [28].

- Tác giả Trần Thị Ngọc Trâm cho rằng: "Trò chơi dạy học là một

trong những phương tiện có hiệu quả để phát triển các năng lực trí tuệ, trong

đó có khả năng khái quát hóa là một năng lực đặc thù của khả năng con người".[26].

- Tổng hợp các lý thuyết nghiên cứu về trò chơi dạy học của các nhà nghiên cứu Xô Viết, tác giả Trương Thị Xuân Huệ trong công trình nghiên cứu: “Sử dụng phương pháp trò chơi trong công tác chuẩn bị trí tuệ cho trẻ

em học toán lớp 1”, khẳng định rằng trò chơi dạy học được hiểu là trò chơi có nhiệm vụ giáo dục, trò chơi dạy học là trò chơi có nội dung và luật chơi cho trước do người lớn sáng tác và đưa vào cuộc sống của trẻ [16]

- Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, lịch sử phát triển trò chơi, các nhà tâm lí học Xô viết trước đây đã cho rằng: "Trò chơi là một nghệ thuật xuất hiện sau lao động và một hiện tượng mang tính chất xã hội"

- Còn theo tác giả Đặng Thành Hưng thì những trò chơi giáo dục được lựa chọn và sử dụng trực tiếp để dạy học, tuân theo mục đích, nội dung, các nguyên tắc và phương pháp dạy học, có chức năng tổ chức, hướng dẫn và động viên trẻ hay học sinh tìm kiếm và lĩnh hội tri thức, học tập và rèn luyện

kĩ năng, tích lũy và phát triển các phương thức hoạt động và hành vi ứng xử

xã hội, văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ, pháp luật, khoa học, ngôn ngữ, cải thiện

và phát triển thể chất, tức là tổ chức và hướng dẫn quá trình học tập của học sinh khi họ tham gia trò chơi gọi là trò chơi dạy học

Trang 20

Các nhiệm vụ, quy tắc, luật chơi và các quan hệ trong trò chơi dạy học được tổ chức tương đối chặt chẽ trong khuôn khổ các nhiệm vụ dạy học và được định hướng vào mục tiêu, nội dung học tập.

Trò chơi dạy học được sáng tạo ra và được sử dụng bởi các nhà giáo và người lớn dựa trên những khuyến nghị của lý luận dạy học, đặc biệt là của lý luận dạy học các môn học cụ thể Chúng phản ánh lý thuyết, ý tưởng, mục tiêu của nhà giáo, là một trong những hoạt động giáo dục không tuân theo bài bản cứng nhắc như những giờ học

Cũng cần lưu ý rằng, cách gọi tên trước đây là trò chơi học tập thật ra chưa chính xác, bởi vì học sinh không xây dựng và thiết kế chúng, ý tưởng và mục tiêu của trò chơi không phải do học sinh đề ra, học sinh cũng không tiến hành trò chơi mà là tham gia trò chơi Đó là một loại hoạt động giáo dục do

GV tiến hành để dạy học là một “trò” của GV chứ không phải trò của học sinh [19]

Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về trò chơi dạy học là: : Trò chơi dạy

học là một loại hoạt động mang tính giáo dục, tạo cho người tham gia được vui chơi, giải trí, rèn luyện trí tuệ, sáng tạo và sức lực, nó mang một chủ đề, nội dung nhất định liên quan đến nội dung dạy học, đồng thời rèn luyện cho người chơi cả về phẩm chất như lòng kiên trì, sự tự tin, sự tương trợ giúp đỡ nhau trong học tập v.v…

1.2.2.2 Các loại trò chơi trong trường học

a) Phân loại trò chơi theo cách tiếp cận:

Trong việc phân loại trò chơi cũng có một số quan điểm khác nhau Ở đây, theo tác giả Đặng Thành Hưng, có thể phân loại theo một số cách tiếp cận sau:

Trang 21

* Theo tiếp cận văn hoá, có các loại:

- Những trò chơi nhại lại hay phóng tác (Simulations): Đó là sự trừu tượng hoá và tái tạo một mảng hiện thực dưới hình thức chơi, với những đối tượng, quá trình, quan hệ và tình huống mô phỏng nhưng phản ánh nhu cầu giải quyết vấn đề, nhận thức, đánh giá, tạo dựng cái gì đó thiết thực trong cuộc sống của con người

- Những trò chơi sáng tạo hay kiến tạo (games): Đó là tổ hợp những hoạt động được tiến hành theo những luật, quy tắc, phần thưởng hay phần thắng và mục đích chơi mới được đặt ra một cách chủ động, không phụ thuộc vào những tiền lệ một cách trực tiếp Kiểu trò chơi này có thể gồm một vài yếu tổ đơn lẻ mang tính chất phóng tác, nhưng chúng không giữ vai trò quan trọng trong mục đích, luật và quy tắc chơi

- Những trò chơi nửa phóng tác nửa sáng tạo của (simualated Games):

Đó là những hoạt động và mục đích và phần thưởng hay giải thưởng thường phỏng theo những tiền lệ đã có, tức là phóng tác những thói thường, những các lụật lệ, quy tắc của trò chơi lại là những yếu tổ mới được đặt ra, không dựa vào tiền lệ nào có sẵn Và trường hợp ngược lại, trò chơi này gồm các luật lệ, quy tắc phóng tác và những mục đích, cách đặt giải thưởng có tính rất sáng tạo

* Theo tiếp cận lịch sử, có các loại:

- Những trò chơi dân gian, có tính truyền thống: Đó là những trò chơi thường đi kèm với lễ hội, liên hoan và sinh hoạt cộng đồng truyền thống - múa lân, chơi cầu mây, thi nấu cơm trên thuyền, chơi trốn tìm, thi vật v.v chúng thường có hình thức đặc trưng của văn hoá dân tộc và có nội dung nghiêng về giải trí, tiêu khiển, thư giãn, vui vẻ, bồi dưỡng đời sống tinh thần của con người

Trang 22

- Những trò chơi hiện đại, có tính chất công nghiệp và văn minh phổ biến: Đó là những trò chơi được thiết kế và tổ chức theo phong cách hiện đại,

có sự tham gia của các yếu tổ quan lý, công nghệ, nghệ thuật, sư phạm, tâm lý

và các khoa học khác, với nội dung phản ánh các hoạt động, quan hệ, quá trình và tình huống xã hội hiện đại Ví dụ: Trò chơi xây dựng hay lắp ráp các cấu kiện, mô hình kỹ thuật, trò chơi điện tử như lái xe, bắn súng, các môn thi đấu thể thao mới xuất hiện, Chúng thường phổ biến ở nhiều nền văn hoá khác nhau và có nội dung nghiêng về phản ánh hiện thực đương đại

* Theo tiếp cận tâm lý, có các loại:

- Những trò chơi thi đấu, có tính chất tranh đua để giành thành tích tốt nhất hoặc vượt qua thử thách một cách xuất sắc nhất: Đó là những trò chơi có tập hợp quy tắc, luật lệ chặt chẽ nhằm định rõ mục đích, kết quả, hoặc yêu cầu

về thành tích phải vượt qua, buộc những người tham gia phải nỗ lực ganh đua với nhau để giành thành tích cao nhất

- Những trò chơi không thi đấu, không có tính chất thi thố, tranh đua:

Đó là những trò chơi chỉ có mục đích thắng đối thủ, loại đối thủ khỏi cuộc chơi hoặc thắng chính trò chơi, có tính chất "không nhất thì bét", không thắng thì thua, mà không có quá trình đánh giá, xem xét và xếp hạng thành tích Chẳng hạn các trò đánh cờ vây đôi, đánh cờ với máy tính điện tử, chọi gà, chơi quyền anh, giải các bài toán vui hay lắp ghép các mô hình kĩ thuật, là những trò chơi không thi đấu

* Theo tiếp cận chức năng, có các loại:

- Những trò chơi giải trí, tiêu khiển: Đó là kiểu trò chơi có chức năng cứu rỗi, giải toả bớt những căng thẳng tâm lý do công việc, quan hệ, đời sống lao động và đấu tranh gây ra Chúng có thể có tính chất thi đấu hoặc không thi đấu, có giải thưởng hay không có giải thưởng Nói chung, các trò chơi giải trí không nhằm những mục đích hay lợi ích công việc Ví dụ: Đánh bài, thi

Trang 23

hát đối, chơi cờ, chơi đố chữ, cốt để vui vẻ trong những lúc rỗi rãi, đàn đúm bạn bè, họp mặt, hội hè.

- Những trò chơi công vụ: Gồm những trò chơi nhằm những mục đích công việc nghiêm túc, trong đó các hoạt động của người tham gia tuy có hình thức là chơi song nội dung và nhiệm vụ phải giải quyết lại là những công việc nhất định Trò chơi công vụ, luật chơi chỉ là hình thức và chỉ dẫn công việc phải làm, người tham gia hầu như không thực sự tiến hành hoạt động chơi, mà tiến hành những hoạt động khác

- Những trò chơi dùng sức lực thể chất: Chúng đồng thời có chức năng chủ yếu là cải thiện và phát triển thể chất của người tham gia, về hình thể, sức vóc, sức mạnh cơ thể, khả năng vận động cơ thể, độ khéo léo của chân tay hay

tư thế của thân thể, vận động và chức năng của các giác quan

- Những trò chơi trí tuệ: Có tác động chủ yếu đến các chức năng và quá trình tâm lý của con người, cải thiện các yếu tổ tâm trí đồng thời cũng đòi hỏi người tham gia phải huy động và vận dụng các sức mạnh tâm trí của mình để thực hiện những hoạt động cần thiết trong trò chơi

b) Phân loại trò chơi theo chức năng:

Căn cứ vào chức năng, trò chơi dạy học được chia ra 3 nhóm sau:

* Nhóm 1: Trò chơi phát triển nhận thức

Đó là loại trò chơi đòi hỏi người tham gia phải sử dụng các chức năng nhận thức, nỗ lực hoạt động nhận thức, thực hiện các hành vi và hành động nhận thức để tiến hành các nhiệm vụ chơi, tuân thủ những yêu cầu và mục đích chơi, qua đó cải thiện và phát triển được khả năng, quá trình và kết quả nhận thức của mình Trò chơi phát triển nhận thức lại được phân thành một số nhóm nhỏ:

- Các trò chơi phát triển cảm giác và tri giác: Ví dụ các trò chơi thi xếp hình, ghép hình theo hình dạng, theo màu sắc; trò chơi nhận dạng các đồ vật,

Trang 24

con vật và đối chiếu các sự vật với mẫu, với vật thật, với mô hình, trò chơi phân biệt các sắc thái của màu, phân biệt các bộ phận đồng nhất và khác nhau giữa các sự vật; trò chơi nghe và nhận dạng âm thanh

- Các trò chơi phát triển và rèn luyện trí nhớ: Ví dụ trò chơi kể và tiếp nối các từ đồng nghĩa, các đồ vật, các con vật, các chữ cái: Trò chơi nhắc lại các âm, các nốt nhạc, trò chơi nhận lại các hình sau khi quan sát, nhớ lại dạy

số, nhớ lại số lượng hay kích thức của vật

- Các trò chơi phát triển tưởng tượng và tư duy: Ví dụ các môn cờ khác nhau, các trò chơi xây dựng, lắp ghép mô hình, các trò chơi có vai (phóng tác), phân vai (theo chủ đề) và đóng kịch ; các trò chơi thi giải đố, thi tính toán thi với các thực nghiệm khoa học; các trò chơi thực hiện những thuật toán như xếp đội hình, giải các bài tập theo chương trình; các trò chơi khoa học vui

* Nhóm 2: Trò chơi phát triển các giá trị

Đó là những trò chơi có nội dụng văn hoá, xã hội, trong đó các quan hệ chơi lý tưởng hoá các quan hệ đạo đức, thẩm mỹ, kinh tế, gia đình, xã hội, chính trị, pháp luật, quân sự, hiện thực và các quy luật hay quy tắc chơi được định hướng vào việc kích thích, khai thác các thái độ, tình cảm tích cực, động viên ý chí và nhu cầu xã hội, khuyến khích sự phát triển các phẩm chất

cá nhân của người tham gia Ví dụ: Các trò chơi phân vai theo các chủ đề, các trò chơi đóng kịch, các trò chơi dân gian có tính chất lễ hội,… như: thi nấu cơm, thi kéo co, thi nhảy múa, thi đọc thơ, thi làm thơ; các trò chơi phóng tác những nghề nghiệp hay quan hệ xã hội Chúng là môi trường giao tiếp và chia sẻ kinh nghiệm sống, giúp trẻ học và rèn luyện những kĩ năng xã hội, kỹ năng cộng tác…

Một số trò chơi đòi hỏi khả năng đánh giá sự vật hay hành vi, hành động, tính cách con người, khả năng giải đáp những tình huống khác nhau

Trang 25

* Nhóm thứ 3: Trò chơi phát triển vận động.

Các trò chơi phát triển vận động là loại trò chơi có vi phạm rộng hơn Trò chơi vận động trực tiếp đòi hỏi các vận động phải tuân theo luật hay quy tắc, và nội dung chơi chủ yếu là vận động Nó đương nhiên có chức năng phát triển vận động Còn trò chơi phát triển vận động vừa gồm các trò chơi vận động vừa gồm những trò chơi khác Trò chơi phát triển vận động có hai loại:

- Hầu hết các trò chơi thể thao như chơi bóng, đá cầu, mang vác, leo trèo, chạy nhảy, nhảy dây, đuổi bắt, xếp hình bằng đội ngũ

- Các trò chơi phóng tác có nội dung quân sự, lao động, dịch vụ đòi hỏi phải vận động thể chất và di chuyển cơ thể

Chức năng của cá nhân ngày càng phát triển phân hoá theo sự tăng dần của lứa tuổi và thể hiện cụ thể trong các lĩnh vực hành vi, hoạt động quan hệ thực hiện của con người Dạy học chính là dạy người ta lĩnh hội các phương thức hành vi, hoạt động và quan hệ, hay như chúng ta quen gọi là các mặt giáo dục và phát triển của trẻ em Các lĩnh vực hay các mặt này là tầng phát triển cụ thể hơn tầng chức năng, có nội dung bộ môn hay chuyên biệt, có tính chất ngành Nếu như các hành vi và hoạt động có cơ cấu ngành (lĩnh vực) thì bản thân cơ cấu đó gợi ý cho ta phân loại và xác định các nhóm trò chơi dạy học theo nguyên tắc ngành Điều đó còn có nghĩa nếu cơ cấu ngành thay đổi theo lứa tuổi học sinh, thì hệ thống trò chơi phải thay đổi [19 tr 411 - 415]

1.2.2.3 Chức năng dạy học của trò chơi

- Xây dựng mối quan hệ: Đó là những trò chơi được sử dụng để cải

thiện mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tập thể Các thành viên sẽ họp lại thành nhóm và làm việc theo nhóm

- Cải thiện khả năng giao tiếp: Loại trò chơi này được thiết kế và sử

dụng để người chơi thấy được cái họ cần cải thiện trong khả năng giao tiếp Khi một chương trình về kỹ năng giao tiếp người chơi cần phải đảm bảo tất cả

Trang 26

những gì mình đưa ra là đúng và những bản nhận xét là một phần quan trọng của trò chơi Lời nhận xét phải cụ thể và hướng tới những cách cư xử của từng cá nhân khi giải quyết vấn đề.

- Phát triển kĩ năng thuyết trình: Bao gồm những trò chơi có mục đích

giúp người chơi phát triển khả năng đứng trước đám đông hay kĩ năng thuyết trình Trong khi sử dụng các trò chơi để tăng cường kĩ năng thuyết trình, người chơi cần chớp thời cơ bằng việc thể hiện cá tính của mỗi cá nhân trong nhóm bất cứ khi nào có thể Điều này sẽ phát triển các kĩ năng thuyết trình Điều quan trọng là người thuyết trình phải đảm bảo những cá nhân đó được

để ý và được báo cáo lại bởi các thành viên khác còn lại trong nhóm Bằng cách quan sát đơn giản các thành viên trong đội sẽ nhận ra những điều mà họ cần Người chơi càng nhìn thấy nhiều phong cách thuyết trình càng tốt

- Rèn luyện trí nhớ: Các hoạt động đòi hỏi phải tái hiện trong thời gian

ngắn hoặc dài những kinh nghiệm tri giác, thị giác hoặc thính giác Trí nhớ được trắc định bằng các trò đố, trong đó phải huy động tri thức từ quá khứ để giải đáp những câu hỏi đánh đố Bởi vì trò chơi đố có thể được xây dựng cho tất cả những lĩnh vực học tập trong nhà trường, nên có thể sử dụng chúng như những biện pháp để giúp người chơi tập dượt tri thức đã học trước đây và bằng cách đó nâng cao hiệu suất trí nhớ của họ

- Rèn luyện tính sáng tạo: Hiểu theo nghĩa phát kiến ra một biến thể

mới của hoạt động Rõ ràng là các kiểu trò chơi khác biệt nhau ở mức độ độc đáo mà nó khuyến khích hoặc hạn chế Những phương án khác của trò chơi thích hợp nhất cho việc kích thích tính sáng tạo là giải trí bằng đồ hoạ, vẽ tranh, viết truyện, làm thơ, nghĩ ra các trò đùa, câu đố, mô tả những phát kiến tưởng tượng

- Học những kĩ năng phán đoán: Chỉ một loại năng lực lường trước

những dữ liệu của các hành động có thể xảy ra trong tương lai ở trong một

Trang 27

tình huống, và đánh giá những nhân tố nào quyết định xác suất lớn nhất xảy ra điều gì đó.

- Học kĩ năng “đánh lừa”: Chỉ một loại năng lực đánh lạc hướng người

khác bằng cách tỏ ra dự định một hành động này nhưng thực tế lai thực hiện một hành động khác Năng lực này là sự mở rộng của năng lực dự đoán các

sự kiện, nó đòi hỏi phải ước định được mình có thể dùng những cử chỉ biểu đạt nào để đánh loại được các đối thủ, khiến cho họ phán đoán những sai lầm

về những hoạt động sau đó của mình

- Học và rèn luyện hành vi có luật: Có nghĩa là cá nhân hiểu các luật lệ,

quy tắc chi phối hoạt động, tuân theo luật, tôn trọng những thoả thuận đã nhất trí với nhau để tránh vi phạm luật và làm theo những gì đã nhất trí Mọi trò chơi có thể kích thích những tiến bộ hướng tới những mục tiêu này nhất là trò chơi dạy học

- Học cách làm chủ thái độ đối với thành công và thất bại: Có nghĩa là

cá nhân tán thành những phản ứng được chấp nhận về mặt xã hội trước sự thắng và bại Bất cứ hoạt động nào hễ có mục đích vươn tới hoặc có đối thủ

để chiến thắng, đều tạo ra những cơ hội tốt để bồi dưỡng thái độ này

- Cải thiện kỹ năng tự quản: Thông qua các trò chơi cho phép người

tham gia biết được họ có thể cải thiện kỹ thuật tự đánh giá bản thân ở chỗ nào Ở đây chúng ta chỉ quan tâm đến việc cải thiện khả năng tổ chức của người tham gia [19 ]

1.2.2.4 Vai trò của trò chơi dạy học

Trò chơi là một hoạt động trực tiếp với tính hấp dẫn tự thân của mình,

có một tiềm năng lớn để trở thành một phương tiện dạy học hiệu quả, kích thích sự hứng thú nhận thức và niềm say mê học tập của người học Học tập thông qua trò chơi sẽ giúp người học ghi nhớ dễ dàng và bền vững hơn

Trang 28

Trò chơi học tập khác với các trò chơi khác là ở chỗ, nhiệm vụ nhận thức và luật chơi trong trò chơi đòi hỏi người chơi phải huy động trí óc làm việc thực sự nhưng chúng ta lại được thực hiên dưới hình thức chơi vui vẻ, thú vị (Chơi là phương tiện, học là mục đích) Học trong quá trình chơi là quá trình lĩnh hội tri thức nhẹ nhàng, tự nhiên không gò bó, khơi dậy hứng thú tự nguyện và giảm thiểu sự căng thẳng cho người học.

Rất nhiều công trình nghiên cức đã cho rằng, nếu được tổ chức chơi đúng đắn, hợp lí thì trò chơi là phương tiện rất tốt để giáo dục toàn diện người học

Trò chơi dạy học giúp người học nắm chắc, nhanh, sâu nội dung bài học Thông qua trò chơi học tập giúp người học phát triển thể chất, trí tuệ, hoàn thiện tri giác, chú ý, ghi nhớ, tưởng tượng và sáng tạo

Như vậy cùng với học, chơi là nhu cầu không thể thiếu được của người học, đặc biệt là với lứa tuổi học sinh Dù không còn là hoạt động chủ đạo, song vui chơi vẫn giữ một vai trò rất quan trọng trong hoạt động của người học, vẫn giữ một ý nghĩa lớn lao đối với người học

Sử dụng trò chơi trong dạy học Công nghệ có ý nghĩa rất quan trọng, giúp học sinh hình thành một cách đầy đủ, chính xác, sinh động nội dung kiến thức bài học có tác dụng hình thành, rèn luyện các kĩ năng học tập cho các em

Trò chơi còn mang hứng thú học tập cho học sinh, phát huy được trí thông minh, sáng tạo, tinh thần tập thể cho học sinh, khơi dậy ở học sinh trí tò

mò, lòng ham hiểu biết, lòng say mê môn học

1.2.2.5 Một số hạn chế khi sử dụng trò chơi dạy học

Để vận dụng được một các thích hợp các trò chơi dạy học đòi hỏi người giáo viên phải có sự chuẩn bị và đầu tư cho từng trò chơi Đây là điều hạn chế bởi hàng loạt những yếu tố như năng lực của giáo viên, thời gian

Trang 29

dành cho soạn bài, các phương tiện đồ dùng dạy học, sự đầu tư kinh phí cho giờ học vô tình như những vật cản sự nhiệt tình của giáo viên.

- Tổ chức các trò chơi dạy học dễ làm mất thời gian và lớp học thường

ồn ào dẫn đến học sinh mất trật tự, làm ảnh hưởng ít nhiều đến lớp khác

1.2.3 Trò chơi kĩ thuật

1.2.3.1 Khái niệm

* Khái niệm về kĩ thuật

Kĩ thuật (tiếng Anh: engineering), có khi còn gọi là ngành kĩ sư, là việc

ứng dụng kiến thức khoa học, kinh tế, xã hội, và thực tiễn để thiết kế, xây dựng, và duy trì các cấu trúc, máy móc, thiết bị, hệ thống, vật liệu, và quá trình Kĩ thuật có thể bao gồm việc sử dụng sự hiểu biết sâu sắc để tìm ra, tạo

mô hình, và thay đổi quy mô một giải pháp hợp lý cho một vấn đề hay một mục tiêu Ngành kĩ thuật vô cùng rộng, nó bao gồm một loạt các lĩnh vực kĩ thuật đặc thù hơn, mỗi lĩnh vực nhấn mạnh đến những lĩnh vực công nghệ và những kiểu ứng dụng riêng

Như vậy, có thể coi kĩ thuật là toàn bộ các thiết bị, phương tiện, máy móc và công cụ vật chất nằm trong tư liệu sản xuất để quản lý, khai thác, bảo quản và chế tạo các sản phẩm dùng cho sản xuất và thỏa mãn các nhu cầu của đời sống xã hội

Trang 30

* Khái niệm về trò chơi kĩ thuật

Bất cứ một trò chơi nào cũng có quy định về cách chơi và phương pháp

để thực hiện trò chơi, còn gọi là kĩ thuật chơi Ở đây đề cập tới “trò chơi kĩ thuật” không nhằm để chỉ trò chơi cần có kĩ thuật chơi mà là các trò chơi trong lĩnh vực kĩ thuật, có nội dung liên quan đến khoa học công nghệ, khoa học kĩ thuật

Với nội dung và mục đích của trò chơi kĩ thuật hiện nay, có thể hiểu:

Trò chơi kĩ thuật là một loại hoạt động mang tính khoa học, kĩ thuật tạo cho người tham gia được vui chơi, giải trí, rèn luyện trí tuệ, sáng tạo và sức lực,

nó mang một chủ đề, nội dung nhất định liên quan đến kĩ thuật, đồng thời, trò chơi kĩ thuật còn là hoạt động rèn luyện cho người chơi cả về phẩm chất như lòng kiên trì, sự tự tin, sự tương trợ giúp đỡ cộng đồng v.v…

1.2.3.2 Đặc điểm của trò chơi kĩ thuật

Ngoài các đặc điểm của trò chơi nói chung như có tính hấp dẫn, dễ phổ biến, thể lệ có tính quy ước tạm thời, trò chơi kĩ thuật còn có một số đặc điểm sau:

- Có tính logic chặt chẽ theo đúng yêu cầu của kĩ thuật:

Các nội dung của trò chơi khi thiết kế phải có sự gắn kết với nhau về mặt kĩ thuật, mỗi trò chơi với mỗi nội dung phải mang tính kĩ thuật tuy nhiên

các yêu cầu sử dụng cùng hệ thống ngôn ngữ và thuật ngữ cho các khái niệm

- Người chơi phải có kiến thức, kĩ năng nhất định về kĩ thuật:

Người tham gia trò chơi phải có lượng hiểu biết cơ bản về nội dung kĩ thuật, phù hợp với mục tiêu đặt ra trong chương trình giáo dục

- Phải mang tính tự nguyện - sáng tạo và tinh thần tự lập cao trong kĩ thuật:Người tham gia trò chơi phải có tinh thần tự giác, có ý thức và khả năng nhanh nhạy trong quá trình chơi Phải có tính chất xây dựng, tinh thần làm việc độc lập hoặc tập thể

Trang 31

- Trò chơi phải phải có nội dung kĩ thuật phù hợp với người chơi:

Khi thiết kế và tổ chức trò chơi không được quá khó so với mức độ nhận thức của người tham gia trò chơi, mô tả ngắn gọn và dễ hiểu, trong khi vẫn truyền đạt được nội dung kiến thức cốt yếu và phù hợp với tư duy của người chơi

1.3 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC KĨ THUẬT

1.3.1 Xây dựng trò chơi kĩ thuật dùng trong dạy học

1.3.1.1 Cơ sở xây dựng trò chơi kĩ thuật dùng trong dạy học

Để xây dựng trò chơi kĩ thuật phục vụ cho việc dạy học phải căn cứ vào các tiêu chí sau:

- Căn cứ vào mục tiêu, nội dung dạy học

- Căn cứ vào cơ sở vật chất, thiết bị dạy học

- Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lí của học sinh

- Căn cứ vào tình hình thực tiễn của địa phương

1.3.1.2 Các nguyên tắc xây dựng trò chơi kĩ thuật dùng trong dạy học

Khi thiết kế trò chơi cho chủ đề này, cần tuân thủ các nguyên tắc thiết

kế sau:

* Nguyên tắc 1: Trò chơi phải đảm bảo tính giáo dục, phù hợp với chủ

đề giáo dục đạo đức cho học sinh:

Bất kì phương pháp dạy học nào ngoài truyền đạt kiến thức đê từ đó hình thành kĩ năng, kĩ xảo, khả năng sáng tạo cho học sinh thì tính thẩm mĩ, giáo dục đạo đức cũng phải được đặt ra hàng đầu Chất lượng giáo dục có đi lên hay không nó phụ thuộc hoàn toàn vào hai mặt giáo dục trong suốt một quá trình

Trang 32

* Nguyên tắc 2: Nội dung trò chơi phải gắn với nội dung dạy học:

Nội dung của mỗi trò chơi phải luôn gắn với nội dung của từng bài dạy

cụ thể, để cho học sinh biết được cần làm những gì, nhằm mang tính sinh động và tạo sự hứng thú cho người học

* Nguyên tắc 3: Trò chơi phải nhằm góp phần thực hiện mục tiêu

dạy học:

Mục tiêu của trò chơi là tạo hứng thú, phát huy tính tích cực học tập và sáng tạo của HS Vì vậy nhiệm vụ chơi, luật chơi và hành động của trò chơi đòi hỏi HS phải sử dụng các giác quan, các thao tác trí tuệ, đặc biệt là thao tác

tư duy như: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, để lĩnh hội kiến thức của bài học, môn học

* Nguyên tắc 4: Không gây ảnh hưởng xấu tới thời lượng dạy học của

lớp và môi trường xung quanh:

Không nên tổ chức một trò chơi quá dài mà căn cứ vào yêu cầu giáo dục của từng chủ điểm, căn cứ vào đặc tính tâm sinh lý của học sinh để lựa chọn trò chơi thích hợp, để có thể luân phiên nhau giúp học sinh chuyển hướng chú ý và hứng thú một cách hợp lí Ví dụ: khi dạy bài "Điện trở - Tụ điện - Cuộn cảm" phần củng cố cho học sinh chơi trò chơi học tập khoảng 3

đến 5 phút: Kể tên linh kiện nhằm mục đích để kiểm tra lượng kiến thức của

học sinh, củng cố khắc sâu kiến thức cho học sinh Đồng thời trong quá trình

tổ chức trò chơi không ảnh hưởng tới các lớp học bên cạnh

* Nguyên tắc 5: Trò chơi phải tạo hứng thú học tập, xây dựng khối

đoàn kết tập thể học sinh:

Mỗi trò chơi học tập phải là trò chơi đích thực, thực sự hấp dẫn, kích thích tính tích cực, tự lập, sáng tạo của HS Những trò chơi nhằm tích cực hóa hoạt động học tập cho HS phải tạo cơ hội cho các em hứng thú, tự nguyện tham gia vào trò chơi, tích cực vận dụng vốn hiểu biết và năng lực trí tuệ của

Trang 33

mình để giải quyết nhiệm vụ học tập trong những hoàn cảnh chơi sinh động Nhờ vậy luôn kích thích được tính tích cực phấn đấu của mỗi học sinh và thành tích bản thân, vì thành tích đồng đội mà mình là một thành viên.Từ đó vun đắp cho các em ý thức đoàn kết thân ái tình bạn bè.

1.3.1.3 Quy trình xây dựng trò chơi kỹ thuật dùng trong dạy học

- Bước 1: Phác thảo mục đích, nội dung trò chơi:

Đây là nhiệm vụ quan trọng nhất có tính chất quyết định, bởi trò chơi được thiết kế phải đạt được các mục tiêu dạy học Mục đích của trò chơi phải thể hiện mục tiêu của bài học hoặc một phần của chương trình

- Bước 2: Xây dựng thể lệ, quy định của trò chơi: Nghiên cứu kĩ cách thức chơi và cách tổ chức trò chơi, xác định tiến trình của trò chơi, hình thức

tổ chức và những điều kiện, phương tiện cần thiết để thực hiện trò chơi

- Bước 3: Đặt tên trò chơi, hoàn thiện và soạn thảo văn bản về trò chơi: Đặt tên trò chơi phải hấp dẫn gây sự chú ý của học sinh ngay từ đầu, phải thể hiện được nội dung trò chơi, tên không được quá dài

1.3.2 Sử dụng trò chơi kĩ thuật trong dạy học

1.3.2.1 Chuẩn bị

- Bước 1: Lựa chọn trò chơi: Phải phù hợp đáp ứng được các mục tiêu dạy học đã đề ra

- Bước 2: Chuẩn bị cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ trò chơi (nếu cần và

có thể): Tùy thuộc vào từng loại trò chơi mà có thể chuẩn bị (Giấy khổ lớn, máy chiếu, bo mạch, )

- Bước 3: Soạn giáo án có sử dụng trò chơi

Xây dựng giáo án

+ Tên trò chơi

+ Mục đích giáo dục của trò chơi: Qua trò chơi cần đạt được những yêu cầu giáo dục gì về tri thức, thái độ và hành vi

Trang 34

+ Các phương tiện phục vụ cho việc tổ chức trò chơi (tùy thuộc vào trò chơi) nêu lên những phương tiện vật chất.

+ Các giải thưởng (nếu có)

+ Nội dung trò chơi, các hoạt động cụ thể với cách tiến hành cụ thể.+ Chuẩn và thang đánh giá (nếu cần)

Chuẩn bị thực hiện giáo án

+ Chuẩn bị đầy đủ các phương tiện dạy học

+ Dự kiến những tình huống có thể xảy ra và cách xử lí

1.3.2.2 Tổ chức trò chơi

- Bước 1: Thông báo về trò chơi, các thể lệ, quy định của trò chơi

+ Nêu tên trò chơi và giải thích qua ý nghĩa của trò chơi

+ Nêu yêu cầu của trò chơi

+ Nêu rõ cách chơi, hiệu lệnh, phần việc và cách thức làm việc

+ Nêu rõ cách cho điểm, đánh giá

+ Công bố trọng tài (có thể là giáo viên cùng với HS trong lớp)

- Bước 2: Lựa chọn người chơi tham gia trò chơi (nếu tổ chức cho cả lớp cùng chơi thì không cần thực hiện bước này)

- Bước 3: Tổ chức cho các HS tham gia trò chơi, dẫn dắt các hoạt động chơi, giám sát và thực hiện theo luật chơi

- Bước 4: Tổng kết, nhận xét, đánh giá

+ Tổ chức cho HS tự rút ra những vấn đề chính thông qua trò chơi như

ý nghĩ của trò chơi, nội dung liên quan đến trò chơi, cách thực hiện chơi như thế nào để đạt hiệu quả …

+ Xem các hoạt động dạy và học đã đạt được những kết quả, hiệu quả

và tác động như thế nào đối với HS

Trang 35

+ Sử dụng kết quả đánh giá nhằm: cải tiến phương pháp dạy học, xác định nhu cầu học tập mới, cổ vũ, động viên HS tích cực tham gia các hoạt động tiếp theo.

1.4 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TRÒ CHƠI KĨ THUẬT TRONG DẠY HỌC CÔNG NGHỆ Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.4.1 Đặc điểm dạy học ở trung học phổ thông hiện nay

Hoạt động giảng dạy của các trường THPT ở nước ta đã có nhiều chuyển biến tích cực Tại các đơn vị, GV đều có sự đồng thuận trong các hoạt động đổi mới dạy học và thu được nhiều kết tương đối khả quan

Tuy nhiên hoạt động giảng dạy vẫn còn dựa vào kinh nghiệm truyền thống, bỏ qua xây dựng kế hoạch Vì thế, GV đã phải vướng mắc không ít những khó khăn trong điều kiện các hoạt động dạy và học đang được đổi mới mạnh mẽ Các hoạt động đổi mới PPDH và KTĐG chưa có sự gắn kết; ứng dụng CNTT trong soạn giảng vẫn mang nặng tính biểu diễn hơn là tính hiệu quả, điều này dẫn đến chất lượng và hiệu quả trong các hoạt động đổi mới dạy học không được như mong muốn Trình độ của GV tại các trường THPT không đồng bộ Trong những năm qua, số lượng trường lớp tăng, dẫn đến việc số lượng GV ở các trường cũng tăng lên Đội ngũ GV trẻ chiếm khá đông nhưng lại thiếu kinh nghiệm nghề nghiệp Nhiều giáo viên không mạnh dạn thay đổi phương pháp dạy học mới lạ nhằm giảm sự căng thẳng trong mỗi giờ học giữa thầy và trò đồng thời hình thành phát triển năng lực cho học sinh

Hiện nay việc sử dụng trò chơi trong dạy học ở THPT còn rất hạn chế và nghèo nàn, giáo viên chủ yếu sử dụng các trò chơi ô chữ ở phần củng cố bài học; trò chơi nhanh tay nhanh mắt, trò chơi nhìn hình ảnh đoán chữ ở phần khởi động Chính vì những điều đó khi giáo viên mới áp dụng thì học sinh rất hứng thú tham gia nhưng vì GV chỉ sử dụng một trò chơi cho nhiều tiết dạy và chủ yếu sử dụng trong các giờ thao giảng là chủ yếu, quá trình tổ chức trò chơi

Trang 36

với các điều lệ và luật chơi chưa rõ ràng dẫn đến học sinh nhàm chán, không tích cực tham gia trò chơi học tập Dạy học bằng phương pháp trò chơi học tập không nhất thiết chỉ sử dụng vào mục đích củng cố kiên thức, rèn kĩ năng mà

có thể thông qua trò chơi để hình thành kiến thức mới cho học sinh

1.4.2 Thực trạng việc sử dụng trò chơi trong dạy học môn Công nghệ ở trung học phổ thông hiện nay

Đối với môn Công nghệ ở THPT, để thấy mục đích học không chỉ là lĩnh hội, nắm kiến thức mà còn hình thành và phát triển ở học sinh biết cách

tự lực tìm ra con đường chiếm lĩnh kiến thức và biết cách sử dụng kiến thức, vận dụng kiến thức vào thực tế Qua quá trình nghiên cứu có thể thấy hoạt động đổi mới phương pháp dạy học ở môn Công nghệ chưa mang lại hiệu quả cao Truyền thụ tri thức một chiều vẫn là phương pháp dạy học chủ đạo của nhiều giáo viên Số giáo viên thường xuyên chủ động, sáng tạo trong việc phối hợp các phương pháp dạy học cũng như sử dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh còn chưa nhiều Dạy học vẫn nặng nề truyền thụ kiến thức lí thuyết, kĩ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho học sinh thông qua khả năng vận dụng tri thức tổng hợp chưa thực sự được quan tâm Chính vì những điều đó kết hợp với môn học không phải là môn chính cho nên môn Công nghệ dần dần đánh mất vị thế trong quá trình dạy và học

Việc sử dụng phương pháp trò chơi kĩ thuật để dạy học sinh gặp rất nhiều khó khăn Đa phần giáo viên không và rất ít sử dụng phương pháp này

Vì thứ nhất là thời lượng môn học ít; thứ hai là môn Công nghệ chỉ là môn phụ, thứ ba là nhiều giáo viên còn hạn chế về thiết kế và sử dụng trò chơi dạy học Đối với môn Công nghệ có tính thực tiễn rất cao, do đó giáo viên cần tìm tòi và tạo ra sân chơi học tập bổ ích, để học sinh hòa mình vào trong các tiết dạy, các nội dung bài học và HS không cảm thấy đây là môn phụ mà chính là kiến thức góp phần vào cuộc sống hàng ngày và trong công nghiệp hóa

Trang 37

Kết luận chương 1

Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn về việc xây dựng và sử dụng trò chơi

kĩ thuật trong dạy học môn Công nghệ, có thể rút ra một số kết luận như sau:

1 Dạy học tích cực hóa có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo nói chung và chất lượng dạy học môn Công nghệ nói riêng Vấn đề tích cực hóa học tập của HS trong dạy học môn Công nghệ có tầm quan trọng đặc biệt Việc làm này có tác dụng thúc đẩy sự phát triển trí tuệ cho HS, kích thích tư duy của các em, nâng cao hứng thú học tập môn Công nghệ Trên cơ sở bồi dưỡng những phẩm chất trí tuệ, hình thành và phát triển năng lực trí tuệ, tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của tư duy mà rèn luyện cho HS những nét toàn diện nhân cách của lớp trẻ tương lai

2 Trong số những biện pháp tích cực hóa, sử dụng trò chơi dạy học được xem là một trong những kĩ thuật dạy học hiệu quả nhằm tạo ra một quá trình tương tác, thu hút động viên HS tham gia và hợp tác để nâng cao tính chủ thể và tự giác tạo cơ hội cho các em thực hành vận dụng những kinh nghiệm, những tri thức đã học vào trong thực tiễn …góp phần nâng cao chất lượng đào tạo

3 Việc phân tích những đặc điểm tiềm năng của môn Công nghệ và của HS phổ thông cũng là căn cứ lý thuyết cần thiết để định hướng cho việc khảo sát thực trạng dạy học môn này và việc xây dựng hệ thống trò chơi

Những căn cứ lý thuyết trên chỉ là một trong những phương án được lựa chọn để định hướng nghiên cứu cụ thể trong đề tài này chứ không phải là duy nhất đúng Nhiều vấn đề lý luận về trò chơi và sử dụng trò chơi dạy học cần được tiếp tục giải đáp chuyên biệt hơn bằng những nghiên cứu khác nhau

ở các cấp học, các lĩnh vực học tập

Trang 38

Chương 2 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG TRÒ CHƠI KĨ THUẬT

TRONG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ 12

2.1 MÔN CÔNG NGHỆ 12 TRONG CHƯƠNG TRÌNH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2.1.1 Mục tiêu của môn Công nghệ 12

Môn Công nghệ 12 trong chương trình Công nghệ ở THPT có nội dung

về phần công nghiệp Do vậy, mục tiêu của môn học như sau:

- Về kiến thức: Học sinh cần hiểu được những kiến thức cơ bản, cần

thiết trong các lĩnh vực kĩ thuật điện tử, kĩ thuật điện, từ đó hình thành và phát triển tư duy kĩ thuật và năng lực sáng tạo trong môn học

- Về kĩ năng: Học sinh tiếp tục hình thành và phát triển một số kĩ năng

thực hành kĩ thuật cơ bản, cần thiết cho cuộc sống và hướng nghiệp thuộc các lĩnh vực điện và điện tử, trên cơ sở những kĩ năng đã được hình thành và những kiến thức đã học

- Về thái độ: Học sinh phát triển hứng thú và khả năng sáng tạo kĩ

thuật, hình thành thói quen lao động theo kế hoạch và tuân thủ quy trình công nghệ; rèn luyện và hình thành tác phong công nghiệp trong cuộc sống; có ý thức bảo vệ môi trường và định hướng nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp THPT

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu của môn Công nghệ 12

Khoa học và công nghệ phát triển mạnh khiến cho đối tượng nghiên cứu của công nghệ tăng cả về chất lượng và quy mô Tuy nhiên căn cứ vào mục tiêu của giáo dục phổ thông, đặc điểm tâm sinh lí của học sinh phổ thông

và dựa vào điều kiện dạy học ở phổ thông, nên đối tượng nghiên cứu của môn Công nghệ 12 trong chương trình THPT được giới hạn trong một số lĩnh vực sau:

Trang 39

- Một số khái niệm cơ bản về điôt bán dẫn, tranzito, mạch điện tử, mạch điện tử điều khiển, hệ thống thông tin và viễn thông, về một số thiết bị điện tử dân dụng, hệ thống điện quốc gia, mạch điện xoay chiều ba pha, máy điện xoay chiều ba pha,

- Một số phương tiện kĩ thuật, sản phẩm kĩ thuật thông dụng như: Các linh kiện điện tử, mạch nguồn một chiều, mạch bảo vệ quá áp, mạch tạo xung, mạch điều khiển tốc độ của động cơ, máy tăng âm, máy thu thanh, máy thu hình, mạch điện xoay chiều ba pha, máy biến áp, động cơ điện,

- Một số quá trình công nghệ như lắp ráp mạch điện tử, đấu dây mạch điện ba pha, bảo dưỡng động cơ, máy biến áp ba pha,

Có thể thấy đối tượng nghiên cứu của Công nghệ 12 khá đa dạng ở các lĩnh vực kĩ thuật điện tử và kĩ thuật điện

2.1.3 Phân phối chương trình môn Công nghệ 12 ở tỉnh Hải Dương

Theo phân phối chương trình của Vụ Giáo dục trung học – Bộ GDĐT, nội dung môn Công nghệ 12, với tổng số tiết là 35 tiết/năm, Sở GD&ĐT tỉnh Hải Dương phân phối chương trình môn Công nghệ 12 như sau (bảng 2.1; 2.2):

Bảng 2.1 Phân phối chương trình chung môn Công nghệ 12

tại tỉnh Hải Dương

Cả năm 1 tiết/tuần x 35 tuần = 35 tiết (làm tròn)

Học kì I 1 tiết/tuần x 18 tuần = 18 tiết

Học kì II 1 tiết/tuần x 17 tuần = 17 tiết

Trang 40

Bảng 2.2 Phân phối chương trình chi tiết môn Công nghệ 12

tại tỉnh Hải Dương

Chương 1: Linh kiện điện tử

1 Bài 2: Ðiện trở - Tụ điện – Cuộn cảm

2 Bài 3: TH: Ðiện trở - Tụ điện – Cuộn cảm

Bài 4: Linh kiện bán dẫn và IC

2 Nguyên lí làm việc của tirixto

IV; Triac và điac

V; Quang điện tử

VI; Vi mạch tổ hợp

5 Bài 5: TH: Ðiốt – tirixto – triac

6 Bài 6: TH: tranzito

Chương 2: Một số mạch điện tử cơ bản

7 Bài 7: Khái niệm về mạch điện tử - Chỉnh lưu – Nguồn một chiều

8 Bài 8: Mạch khuếch đại - Mạch tạo xung

9 Bài 9: Thiết kế mạch điện tử đơn giản

10 Bài 10: TH: Mạch nguồn một chiều

11 Bài 12: TH: Ðiều chỉnh các thông số của mạch tạo xung đa hài

dùng tranzito

12 Kiểm tra 45 phút

Chương 3: một số mạch điện tử điều khiển đơn giản

13 Bài 13: Khái niệm về mạch điện tử điều khiển

14 Bài 14: Mạch điều khiển tín hiệu

15 Bài 15: Mạch điều khiển tốc độ động cơ xoay chiều 1 pha

16 Bài 16: TH mạch điều khiển tốc độ động cơ xoay chiều một pha

- Chuẩn bị: + dụng cụ, vật liệu

+ kiến thức liên quan

Ngày đăng: 12/04/2016, 16:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát huy tính tích cực tự học của học sinh trong quá trình dạy học, Bộ GD&ĐT, Vụ GV, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực tự học của học sinh trongquá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Năm: 1995
2. Lê Khánh Bằng (1993), Một số vấn đề nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học đại học, Cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, ĐHSP 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học đại học, Cao đẳng và trung học chuyên nghiệp
Tác giả: Lê Khánh Bằng
Năm: 1993
3. Ngô Thu Cúc (1996), Một số phương hướng và biện pháp nâng cao tính tích cực học tập của học sinh trong quá trình dạy học tiểu học, Luận án phó tiến sĩ khoa học sư phạm tâm lí- Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phương hướng và biện pháp nâng cao tính tích cực học tập của học sinh trong quá trình dạy học tiểu học
Tác giả: Ngô Thu Cúc
Năm: 1996
4. Hồ Ngọc Đại (1999), Giải pháp giáo dục, NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp giáo dục
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1999
5. Vũ Cao Đàm (2003), Phương pháp nghiên cứu khoa học, NXB khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB khoa học kỹ thuật
Năm: 2003
6. S.B. Enconhin (Thanh Hà dịch) 1998, Tâm lý học trò chơi, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trò chơi
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
7. Robert Fisher (2003), Dạy trẻ học, Dự án Việt- Bỉ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy trẻ học
Tác giả: Robert Fisher
Năm: 2003
8. Nguyễn Thị Hòa (2007), Phát huy tính tích cực nhận thức của trẻ MG 5- 6 tuổi trong trò chơi học tập, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực nhận thức của trẻ MG 5-6 tuổi trong trò chơi học tập
Tác giả: Nguyễn Thị Hòa
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2007
9. Đặng Vũ Hoạt, Lý luận dạy học đại học (dùng cho học viên cao học) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học đại học
10. Vũ Minh Hồng (1980), Trò chơi học tập, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi học tập
Tác giả: Vũ Minh Hồng
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1980
11. Trương Thị Xuân Huệ (2004), Xây dựng và sử dụng trò chơi phát triển nhằm hình thành biểu tượng toán ban đầu cho trẻ 5-6 tuổi, Luận án tiến sĩ giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và sử dụng trò chơi phát triển nhằm hình thành biểu tượng toán ban đầu cho trẻ 5-6 tuổi
Tác giả: Trương Thị Xuân Huệ
Năm: 2004
12. Đặng Tiến Huy (1997), 50 trò chơi vui- khỏe thông minh, NXB văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 trò chơi vui- khỏe thông minh
Tác giả: Đặng Tiến Huy
Nhà XB: NXB văn hóa thông tin
Năm: 1997
13. Đặng Thành Hưng (1994), Các biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức của giáo sinh trong giờ lên lớp, Trung tâm giáo dục, Viện KHGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp phát huy tính tích cực nhận thứccủa giáo sinh trong giờ lên lớp
Tác giả: Đặng Thành Hưng
Năm: 1994
14. Đặng Thành Hưng (2002), Dạy học hiện đại-Lý luận, biện pháp, kỹ thuật, NXB ĐH Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học hiện đại-Lý luận, biện pháp, kỹ thuật
Tác giả: Đặng Thành Hưng
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia
Năm: 2002
15. Nguyễn Văn Khải (1998), Vận dụng những phương pháp và hình thức tổ chức dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức khi dạy một phần ở ĐHSP, Tạp chí NCGD số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng những phương pháp và hình thức tổ chức dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức khi dạy một phần ở ĐHSP
Tác giả: Nguyễn Văn Khải
Năm: 1998
16. Nguyễn Văn Khôi (2007), Sách giáo khoa công nghệ 12. Nhà xuất bản Giáo dục - Bộ Giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa công nghệ 12
Tác giả: Nguyễn Văn Khôi
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục - Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2007
17. Nguyễn Kỳ (1996), Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học, Tạp chí DH& GDCN số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học
Tác giả: Nguyễn Kỳ
Năm: 1996
18. I.F. Khar Lamop (1978), Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào
Tác giả: I.F. Khar Lamop
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1978
19. Trần Đồng Lâm, Đinh Mạnh Cường (2005), Trò chơi vận động, Dự án đào tạo GV THCS Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi vận động
Tác giả: Trần Đồng Lâm, Đinh Mạnh Cường
Năm: 2005
20. A.N. Leonchiep (1980), Sự phát triển tâm lý của trẻ em , Trường CĐSP MG TW3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển tâm lý của trẻ em
Tác giả: A.N. Leonchiep
Năm: 1980

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Cấu trúc của trò chơi - TRÒ CHƠI KĨ THUẬT VÀ VẬN DỤNG  TRONG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ  Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Hình 1.1. Cấu trúc của trò chơi (Trang 17)
Bảng 2.2. Phân phối chương trình chi tiết môn Công nghệ 12 - TRÒ CHƠI KĨ THUẬT VÀ VẬN DỤNG  TRONG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ  Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Bảng 2.2. Phân phối chương trình chi tiết môn Công nghệ 12 (Trang 40)
Hình 2.2. Sơ đồ mạch tạo xung đa hài đối xứng - TRÒ CHƠI KĨ THUẬT VÀ VẬN DỤNG  TRONG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ  Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Hình 2.2. Sơ đồ mạch tạo xung đa hài đối xứng (Trang 53)
Hình 2.5. Một số hình ảnh về hệ thống điện quốc gia - TRÒ CHƠI KĨ THUẬT VÀ VẬN DỤNG  TRONG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ  Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Hình 2.5. Một số hình ảnh về hệ thống điện quốc gia (Trang 63)
Hình 2.6. Sơ đồ khối về hệ thống điện quốc gia - TRÒ CHƠI KĨ THUẬT VÀ VẬN DỤNG  TRONG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ  Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Hình 2.6. Sơ đồ khối về hệ thống điện quốc gia (Trang 63)
Bảng 3.1. Nhận thức của HS về hình thức và PPDH môn Công nghệ 12 - TRÒ CHƠI KĨ THUẬT VÀ VẬN DỤNG  TRONG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ  Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Bảng 3.1. Nhận thức của HS về hình thức và PPDH môn Công nghệ 12 (Trang 69)
Hình 3.2. Tần số sử dụng trò chơi của GV theo đánh giá của HS - TRÒ CHƠI KĨ THUẬT VÀ VẬN DỤNG  TRONG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ  Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Hình 3.2. Tần số sử dụng trò chơi của GV theo đánh giá của HS (Trang 71)
Bảng 3.3. Mức độ sử dụng trò chơi hợp lý trong giờ học môn Công nghệ 12 - TRÒ CHƠI KĨ THUẬT VÀ VẬN DỤNG  TRONG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ  Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Bảng 3.3. Mức độ sử dụng trò chơi hợp lý trong giờ học môn Công nghệ 12 (Trang 72)
Bảng 3.5. HS ứng xử với trò chơi khi GV tổ chức - TRÒ CHƠI KĨ THUẬT VÀ VẬN DỤNG  TRONG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ  Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Bảng 3.5. HS ứng xử với trò chơi khi GV tổ chức (Trang 73)
Bảng 3.6. GV nhận định về tác dụng của việc sử dụng trò chơi - TRÒ CHƠI KĨ THUẬT VÀ VẬN DỤNG  TRONG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ  Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Bảng 3.6. GV nhận định về tác dụng của việc sử dụng trò chơi (Trang 76)
Bảng 3.8. Hiệu quả sử dụng các loại trò chơi trong dạy học môn Công - TRÒ CHƠI KĨ THUẬT VÀ VẬN DỤNG  TRONG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ  Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Bảng 3.8. Hiệu quả sử dụng các loại trò chơi trong dạy học môn Công (Trang 78)
Hình thành không khí vui vẻ, hứng khởi tronghọc tập 5 4 3 2 1 Học sinh hiểu và nắm kiến thức sâu hơn 5 4 3 2 1 Hình thành xúc cảm, động cơ, hứng thú học tập đối - TRÒ CHƠI KĨ THUẬT VÀ VẬN DỤNG  TRONG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ  Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Hình th ành không khí vui vẻ, hứng khởi tronghọc tập 5 4 3 2 1 Học sinh hiểu và nắm kiến thức sâu hơn 5 4 3 2 1 Hình thành xúc cảm, động cơ, hứng thú học tập đối (Trang 87)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w