TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TRẦN THỊ THU HƯƠNG NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC PHƯƠNG THỨC LÀM MẠ KHÁC NHAU ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA LÚA KHANG DÂN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN THỊ THU HƯƠNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC PHƯƠNG THỨC LÀM MẠ KHÁC NHAU
ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN
CỦA LÚA KHANG DÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN THỊ THU HƯƠNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC PHƯƠNG THỨC LÀM MẠ KHÁC NHAU
ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN
CỦA LÚA KHANG DÂN
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HOÀNG VĂN PHỤ
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ
nguồn gốc
Tác giả luận văn
Trần Thị Thu Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Phòng đào tạo, các thầy giáo, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp, cơ quan
và gia đình
Trước tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS
TS Hoàng Văn Phụ - người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Đồng thời tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể các thầy, cô giáo trong
Phòng đào tạo, các thầy giáo, cô giáo giảng dạy chuyên ngành, Phòng thí nghiệm trung tâm Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ hoàn
thiện bản luận văn này
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới tất cả bạn
bè, đồng nghiệp, cơ quan, gia đình và người thân đã quan tâm động viên tôi
trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn
Tác giả luận văn
Trần Thị Thu Hương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Yêu cầu của đề tài 2
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.2 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 4
1.3 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam 6
1.4 Những nghiên cứu về ứng dụng hệ thống thâm canh lúa cải tiến SRI trên thế giới 8
1.5 Những nghiên cứu và ứng dụng hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI) ở Việt Nam 17
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng, phạm vi, địa điểm, thời gian nghiên cứu 27
2.2 Nội dung nghiên cứu 27
2.3 Phương pháp nghiên cứu 27
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 27
2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 35
Trang 6Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36 3.1 Điều kiện khí hậu tại Thái Nguyên 36 3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của phương thức làm mạ đến sinh trưởng phát triển của cây mạ giống lúa Khang dân 18 37 3.2.1 Ảnh hưởng của phương thức làm mạ đến đặc điểm cây mạ
vụ mùa 2014 khi mạ được 10 ngày tại Phú Bình, Thái Nguyên 37 3.2.2 Ảnh hưởng của phương thức làm mạ đến sinh trưởng, phát triển của
bộ rễ mạ vụ mùa 2014 khi mạ được 10 ngày tại Phú Bình, Thái Nguyên 40 3.2.3 Ảnh hưởng của phương thức làm mạ đến trọng lượng rễ, thân mạ vụ mùa 2014 khi mạ được 10 ngày tại Phú Bình, Thái Nguyên 42 3.2.4 Ảnh hưởng của phương thức làm mạ đến sức sống của mạ vụ mùa 2014 khi mạ được 10 ngày tại Phú Bình, Thái Nguyên 43 3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của chất lượng cây mạ đến sinh trưởng, phát triển và năng suất lúa Khang dân 18 44 3.3.1 Ảnh hưởng của chất lượng mạ đến thời gian sinh trưởng của giống lúa Khang dân 18 vụ mùa 2014 tại Phú Bình, Thái Nguyên 44 3.3.2 Ảnh hưởng của chất lượng mạ đến chiều cao cây, khả năng đẻ nhánh và tỷ lệ hữu hiệu của giống lúa Khang dân - vụ mùa 2014 tại Phú Bình, Thái Nguyên 46 3.3.3 Ảnh hưởng của chất lượng mạ đến sinh trưởng của bộ rễ lúa Khang Dân tại Phú Bình, Thái Nguyên 48 3.3.4 Ảnh hưởng của chất lượng mạ tới khả năng tích luỹ vật chất khô lá, thân và toàn khóm giống lúa Khang dân tại Phú Bình, Thái Nguyên 54 3.3.5 Ảnh hưởng của chất lượng mạ đến khả năng chống chịu của giống lúa Khang Dân tại Phú Bình, Thái Nguyên 57 3.3.6 Ảnh hưởng của các chất lượng mạ khác nhau đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống lúa Khang Dân 18 tại Phú Bình, Thái Nguyên 57
Trang 7KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 62
1 Kết luận 62
2 Đề nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới trong những năm gần đây 4Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng của các nước có sản lượng lúa
đứng đầu thế giới năm 2013 5
Bảng 1.3 Sản xuất lúa ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2014 7Bảng 3.1 Diễn biến thời tiết khí hậu từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2014 tại
huyện Phú Bình Thái Nguyên 36Bảng 3.2 Ảnh hưởng của phương thức làm mạ đến đặc điểm cây mạ Khang
dân 18 trong vụ mùa 2014 38Bảng 3.3 Ảnh hưởng phương thức làm mạ đến rễ mạ Khang dân 18 trong vụ
mùa 2014 40Bảng 3.4 Ảnh hưởng mật độ, phương thức làm mạ đến trọng lượng rễ, thân
mạ Khang dân trong vụ mùa 2014 42Bảng 3.5 Sức sống của mạ giống lúa Khang dân 18 44Bảng 3.6 Ảnh hưởng của chất lượng mạ đến thời gian sinh trưởng của giống
lúa Khang dân vụ mùa 2014 45Bảng 3.7 Ảnh hưởng của chất lượng mạ đến khả năng đẻ nhánh và tỷ lệ hữu
hiệu của giống lúa Khang dân - vụ mùa 2014 46Bảng 3.8: Ảnh hưởng của chất lượng mạ đến đường kính rễ, chiều dài rễ của giống
lúa Khang Dân tại Phú Bình, Thái Nguyên 48Bảng 3.9 Ảnh hưởng của chất lượng mạ đến trọng lượng khô của bộ rễ 51
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của chất lượng mạ tới khả năng tích luỹ vật chất khô lá,
thân và toàn khóm giống lúa Khang dân vụ mùa 2014 55
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của chất lượng mạ đến khả năng chống chịu bệnh khô
vằn giống lúa Khang dân - vụ mùa 2014 57Bảng 3.12 Ảnh hưởng của các chất lượng mạ khác nhau đến các yếu tố cấu
thành năng suất và năng suất giống lúa Khang Dân - vụ mùa 2014 58Bảng 3.13 Hiệu quả kinh tế của giống lúa Khang dân 18 - vụ mùa 2014 61
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Ảnh hưởng của chất lượng mạ đến đường kính rễ lúa 49 Hình 3.2: Ảnh hưởng của chất lượng mạ đến chiều dài rễ/khóm 50 Hình 3.3: Biểu đồ khả năng tích lũy chất khô rễ/khóm Khang Dân 18 giai
đoạn làm đòng vụ mùa 2014 52
Hình 3.4 Biểu đồ ảnh hưởng của các phương thức làm mạ đến năng suất
thực thu và năng suất lý thuyết của giống lúa Khang dân 18 60
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Trên thế giới, cây lúa nước được 250 triệu nông dân trồng, là lương thực chính của 1,3 tỉ người nghèo nhất trên thế giới, là sinh kế chủ yếu của nông dân Ngoài ra lúa còn là nguồn cung cấp năng lượng lớn nhất cho con người, bình quân 180 - 200 kg gạo/ người/ năm tại các nước châu Á, khoảng 10 kg/ người/ năm tại các nước châu Mỹ [14]
Lúa là cây lương thực quan trọng số một của Việt Nam, tuy nhiên hiện nay Việt Nam đang phải đối mặt với vấn đề thiếu đất cho sản xuất nông nghiệp do chuyển đổi diện tích đất sản xuất nông nghiệp cho các mục đích khác Vì vậy sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng cần phát triển theo hướng thâm canh tăng sản lượng trong điều kiện bị thu hẹp về diện tích Hệ thống canh tác lúa cải tiến (gọi tắt là SRI - System of Rice intensiilcation) đang là một hướng đi mới trong sản xuất lúa Biện pháp này có
kỹ thuật đơn giản, dễ làm, tiết kiệm giống, nước tưới, công và thuốc bảo vệ thực vật, làm tăng năng suất cây trồng, tăng chất lượng và đạt hiệu quả kinh tế Thái Nguyên là một tỉnh thuộc vùng núi và trung du phía Bắc, có tổng diện tích đất trồng lúa nước là 59.831 ha (chiếm 16,92%), tuy nhiên tình hình sản xuất lúa tại tỉnh Thái Nguyên còn gặp nhiều khó khăn, nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện đất đai, khí hậu Khi trồng lúa thì cho năng suất không ổn
định, phụ thuộc rất lớn vào điều kiện khí hậu thời tiết thì việc nghiên cứu các
phương thức làm mạ để thâm canh cây lúa cũng đang là một vấn đề cấp thiết
mà thực tiễn sản xuất đang đặt ra, nhưng việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất còn nhiều hạn chế như các mô hình điểm, mô hình trình diễn còn nhỏ lẻ, manh mún, tâm lý e ngại, sợ thua lỗ của người nông dân khiến cho kỹ thuật mới này chưa phát huy được hết tính ưu việt của nó Mặt khác, trong điều kiện diễn biến thời tiết ngày càng trở nên khó dự đoán thì việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm tăng khả năng chịu đựng của cây trồng là việc làm rất cần thiết
Trang 12Có rất nhiều các nghiên cứu về phân bón, chế độ nước tưới, mật độ… Tuy nhiên trong thực tiễn sản xuất hiện nay vẫn còn tồn tại một số vấn đề về
kỹ thuật canh tác chưa thực sự phù hợp với từng loại giống, từng điều kiện cụ thể vì thế hiệu quả sản xuất lúa của người dân chưa cao Xuất phát từ tình
hình thực tiễn trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng
của các phương thức làm mạ khác nhau đến sinh trưởng, phát triển của lúa Khang dân”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được ảnh hưởng của các phương thức làm mạ đến chất lượng
mạ và sinh trưởng, phát triển, năng suất của lúa Khang dân 18 để tìm ra phương thức gieo mạ phù hợp nhất tại Phú Bình - Thái nguyên
3 Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá được ảnh hưởng của các phương thức gieo mạ tới chất lượng
mạ, và xác định được sự ảnh hưởng của chất lượng mạ tới sinh trưởng phát triển của lúa Khang Dân tại Phú Bình
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
4.1 Ý nghĩa khoa học
- Bước đầu nghiên cứu khả năng áp dụng hệ thống thâm canh lúa cải tiến SRI đặc biệt là phương thức làm mạ phù hợp cho lúa Khang Dân và là cơ sở cho biện pháp kỹ thuật về mặt khoa học
- Kết quả thu được từ thực nghiệm là căn cứ khoa học để bổ sung, hoàn
thiện quy trình kỹ thuật thâm canh lúa cải tiến tại Phú Bình Thái nguyên
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Xác định được phương thức gieo mạ phù hợp
- Đề tài mang tính ứng dụng cao, khi ứng dụng vào thực tiễn sản xuất sẽ thúc đẩy mở rộng diện tích trồng lúa từ đó tăng thu nhập cho người dân
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự nảy mầm, khâu kỹ thuật rất quan trọng trong thâm canh mạ là tạo ra mộng tốt Chất lượng mộng trước hết phụ thuộc vào chất lượng hạt giống Tuy nhiên khi có hạt giống tốt thì đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của sự nảy mầm đồng thời loại bỏ các yếu tố ảnh hưởng xấu sẽ tạo được mộng mạ tốt nhất Các yếu tố ảnh hưởng tới sự nảy mầm của hạt giống gồm:
Độ ẩm, nhiệt độ, chất dự trữ trong hạt, các chất ức chế và không khí
* Độ ẩm: Hạt giống muốn nảy mầm được cần phải có đủ độ ẩm Để nảy
mầm hạt thóc giống phải hút nước bão hòa Lượng nước mà hạt thóc giống hút vào bằng 35 - 40% khối lượng của hạt Hạt thóc khô kỹ, lượng nước ngâm bão hòa giúp hạt thóc hút nước nhanh, nước ngâm đồng đều vào tất cả các hạt, hạt giống sẽ mọc đều Nếu hạt giống sau thời gian bảo quản độ ẩm trong hạt tăng lên cần phơi hạt giống lại trước khi ngâm hạt Trong suốt quá trình nẩy mầm hạt giống luôn cần độ ẩm bão hòa
* Nhiệt độ: Nhiệt độ phù hợp nhất cho hạt thóc nẩy mầm là 30 - 320 C Nhiệt độ cao quá hoặc thấp quá đều không có lợi tới sự nảy mầm của hạt
* Chất dự trữ trong hạt: Chất dự trữ trong hạt là nguồn thức ăn để nuôi
cây mầm Nội nhũ đủ lớn, chứa đủ chất dinh dưỡng thì phôi nhanh chóng chuyển thành cây mầm, cây mầm khỏe mạnh Ngược lại thiếu dinh dưỡng cây mầm nhỏ bé, còi cọc
* Không khí: Không khí cung cấp oxy, là yếu tố thiết yếu để nẩy mầm
bình thường Không có không khí cây mạ không thể nẩy mầm được Tuy nhiên, cây lúa là cây có thể nẩy mầm khi hạt giống ngập trong nước, điều kiện này cho thấy yêu cầu không khí với hạt lúa không cao Khi nẩy mầm hạt giống thiếu không khí sẽ kém, hạt giống có mầm dài nhưng rễ lại ngắn, loại
Trang 14mầm này không đạt yêu cầu Ngược lại thừa không khí rễ phát triển mạnh, còn mầm không phát triển Nên khi ngâm ủ hạt giống cần đảo để lượng giống bên trong và bên ngoài nhân không khí như nhau
1.2 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Lúa gạo là cây lương thực trên thế giới Hiện nay thế giới có trên 100 nước trồng lúa ở hầu hết các châu lục Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo vẫn tập trung chủ yếu ở các nước châu Á nơi chiếm tới 90% diện tích gieo trồng và sản lượng [1]
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
trong những năm gần đây
Trang 15Bảng 1.1 cho thấy: Diện tích canh tác lúa trên thế giới trong vài năm gần đây có xu hướng tăng, so với những năm cuối thế kỷ trước, tuy nhiên diện tích sản xuất lúa tăng rất chậm Từ năm 1999 đến 2013 tăng từ 156,8 - 165,1 triệu ha, trung bình tăng 1,45 triệu ha/năm, những năm tăng nhanh là
2005 tăng 4,48 triệu ha, năm 2008 tăng 2,95 triệu ha, năm 2011 và 2013 đều tăng 2 triệu ha so với năm trước Về năng suất tăng đều qua các năm, qua 10 năm năng suất đã tăng từ 4.035 kg năm 2004 lên 4.485 kg, tăng 450 kg/ha Như vậy trung bình mỗi năm năng suất lúa thế giới tăng 45 kg/ha Do diện tích và năng suất tăng dần nên sản lượng lúa cũng tăng dần qua các năm Trong 10 năm sản lượng lúa đã tăng từ 607 triệu tấn năm 2004 tăng lên 740 triệu tấn năm 2013, tăng 133 triệu tấn trong vòng 10 năm
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng của các nước có
sản lượng lúa đứng đầu thế giới năm 2013
Trang 16Qua Bảng 1.2 cho thấy: Nước có diện tích trồng lúa lớn nhất là Ấn Độ với diện tích 43,9 triệu ha, sản lượng lúa của Ấn Độ là 159,2 triệu tấn Trung Quốc là một nước có dân số đông nhất thế giới, trong vài thập niên gần đây Trung Quốc có nhiều thành tựu trong cải tiến giống lúa, trong đó đặc biệt quan tâm đến sử dụng ưu thế lai ở lúa do đó năng suất bình quân đạt 67,4 tạ/ha, sản lượng đạt 205,9 triệu tấn (đứng đầu về sản lượng lúa trên thế giới) Tuy nhiên trong những năm gần đây diện tích canh tác lúa của Trung Quốc giảm do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tăng nhanh bên cạnh đó nguồn nước ngọt không đủ và phân bố không đều Đây cũng là trở ngại lớn trong việc nâng cao năng suất và sản lượng lúa của Trung Quốc
Việt Nam là nước xuất khẩu gạo thứ hai ở khu vực Đông Nam Á chỉ đứng sau Thái lan Theo dự báo trong những năm tới sẽ chiếm một nửa tổng sản lượng gạo xuất khẩu trên thế giới, điều đó cho thấy việc sử dụng các giống năng suất cao, các biện pháp kỹ thuật tiên tiến vào canh tác đã và đang mang lại những hiệu quả nhất định
1.3 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp với khoảng 80% dân số làm nghề nông, chính vì vậy mà trải qua mấy nghìn năm lịch sử cây lúa luôn gắn liền với sự phát triển của dân tộc
Cụ thể tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam trong những năm gần đây thể hiện qua bảng sau:
Trang 17Bảng 1.3 Sản xuất lúa ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2014
(triệu ha)
Năng suất ( tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
(Nguồn : Theo tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc, 2014)
Diện tích lúa có xu hướng giảm nhưng sản lượng sẽ vẫn duy trì ở mức
ổn định và có thể tăng Trong giai đoạn từ năm 2000 - 2007, tổng diện tích lúa
của cả năm có xu hướng giảm liên tục, trong khi đó sản lượng lại có biến
động tăng đạt mức cao nhất là 36,1 triệu tấn/năm vào năm 2004 Điều này thể
hiện trình độ thâm canh cây lúa của Việt Nam đã có những tiến bộ nhất định Năm 2008, sản xuất lúa đã tăng cả về diện tích và sản lượng Diện tích lúa đã tăng trở lại (gần 7,4 triệu ha), bằng mức của năm 2004 (hơn 7,4 triệu ha) Đây cũng là năm được mùa về lúa gạo của Việt Nam Sự quan tâm của nhà nước
đến ngành nông nghiệp, có các chính sách hỗ trợ giống, thủy lợi… Điều này
cũng góp phần tăng năng suất lúa những năm gần đây
Trang 181.4 Những nghiên cứu về ứng dụng hệ thống thâm canh lúa cải tiến
SRI trên thế giới
Hệ thống thâm canh lúa cải tiến SRI do nhà khoa học người Pháp Fr
Laulaniere giới thiệu tại Madagasca vào những năm 1980, sau đó được tiến sỹ Norman Uphoff thuộc viện quốc tế về lương thực, nông nghiệp và phát triển của trường đại học Cornell (Hoa Kỳ) phổ biến rộng rãi
Kỹ thuật SRI là một hệ thống các biện pháp canh tác bao gồm: Cấy mạ non, cấy 1 dảnh, cấy thưa theo hình ô vuông, sử dụng phân chuồng, làm cỏ bằng tay, tưới nước theo nhu cầu, nhằm khai thác tiềm năng của cây lúa về
sự đẻ nhánh nhiều và sự hoạt động mạnh của bộ rễ, làm cho cây lúa sinh trưởng, phát triển mạnh, đạt năng suất cao
Theo Noman Uphoff (2007) [12], hệ thống thâm canh lúa cải tiến làm giảm chế độ nước tưới cho cây lúa, ảnh hưởng tích cực đến đất và chất dinh dưỡng trong đất, có thể làm tăng năng suất 50 - 100% và có thể nhiều hơn SRI làm giảm lượng giống, phân bón, hóa chất nông nghiệp và thậm chí là lao
động Việc đánh giá và áp dụng các biện pháp SRI đã và đang được mở rộng
nhanh chóng, hiện nay SRI đang được thực hiện ở 40 nước trên thế giới bao gồm cả ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Mỹ la tinh, bởi nó thỏa mãn
được cả 2 mục tiêu là đạt được hiệu quả kinh tế và phát triển nông nghiệp bền
vững Cơ sở kỹ thuật của SRI là thay đổi một số hoạt động canh tác chủ yếu
và thông qua tác dụng tương hỗ của chúng tạo điều kiện cho tiềm năng di truyền của lúa được phát huy và qua đó thúc đẩy quá trình sinh trưởng, phát triển của lúa để tạo năng suất cao
• Những nghiên cứu SRI ở Trung Quốc
SRI bắt đầu được nghiên cứu và đánh giá ở Trung Quốc từ năm 1999 -
2000 tại trường Đại học Nông nghiệp Nam Ninh của tiến sỹ Cao Weixing, và trung tâm nghiên cứu và phát triển lúa lai bởi giáo sư Yuan Longping
Trang 19Chủ nhiệm khoa tài nguyên và môi trường trường đại học nông nghiệp Trung Quốc tại Bắc Kinh đã thử nghiệm kỹ thuật SRI trên cả hai nền đất trũng và đất cao đều đạt kết quả rất tốt Trung tâm hội nhập và phát triển nôn
g nghiệp ở CAU đã làm một đánh giá về tính kinh tế, xã hội và chấp nhận của SRI tại cộng đồng Shichuan Vào năm 2003 chỉ có 7 nông dân ở làng Xinsheng là sử dụng phương pháp của SRI, nhưng đến năm 2004 đã có 398
hộ áp dụng (chiếm 65% tổng số nông dân ở đó) Năm 2003 là một năm mà hạn hán kéo dài, nhưng những ruộng lúa ứng dụng kỹ thuật SRI thì cho năng suất cao hơn hẳn năng suất của vụ năm 2002 với phương pháp canh tác thông thường Trong khi đó với phương thức canh tác theo truyền thống năng suất
bị giảm đi 1/3 Điều này đã giải thích tại sao mà SRI được chấp nhận nhanh
đến vậy Năm 2004, SRI đã làm tăng năng suất lên 35,2%, tiết kiệm nước tưới
tới 43,2% Theo những người nông dân thì nét đặc biệt hấp dẫn của SRI là giảm bớt được sức lao động theo cách cấy thông thường Năng suất bình quân của những ruộng lúa canh tác theo SRI đạt 10 tấn/ha, cao hơn so với phương pháp sản xuất truyền thống (năng suất 6 -7,5 tấn/ha) Thậm chí với mô hình trình diễn ở tỉnh Zhejing, canh tác theo phương thức của SRI đã làm tăng năng suất lên 11,5 tấn/ha, những người nông dân ở đây đã cấy với khoảng cách hàng cách hàng là 50 x 50cm, và họ đã giảm được 30-40% lượng nước tưới, 70% sâu bệnh hại [11]
Học viện khoa học nông nghiệp Trung Quốc cũng đã thử nghiệm về SRI
từ năm 2001, trong năm này đã có hơn 100 địa điểm được tiến hành thử nghiệm và sau khi thu hoạch thì có hơn 60 nơi có năng suất trung bình là 10,5 tấn/ha, so với phương pháp thông thường là 7,5 tấn/ha, tăng hơn 2 tấn/ha Đặc biệt phương thức canh tác theo SRI sử dụng ít nước hơn và giảm công lao
động của người nông dân
Cuộc họp chiến lược về phát triển lúa gạo được tổ chức tại Bắc Kinh, Trung Quốc, tham gia hội nghị có đại Biểu của 12 tỉnh có sản lượng gạo lớn
Trang 20nhất và các đại Biểu của các viện nghiên cứu Sản lượng gạo của Trung quốc trong năm năm trở lại đây là vấn đề được nhấn mạnh tại hội nghị, vấn đề đặt ra
là phải khôi phục lại sản xuất lúa gạo tại Trung Quốc Kỹ thuật SRI đã được đề nghị đẩy mạnh tại 12 tỉnh, và sẽ được mở rộng tới tất cả người nông dân Cho
đến năm 2007 tại tỉnh Tứ Xuyên đã có 120.000 ha trồng lúa áp dụng phương
pháp thâm canh lúa cải tiến SRI, tại tỉnh Chiết Giang là 110.000 ha [10]
• Những nghiên cứu SRI ở Thái Lan, Indonesia và Philippines, Lào, Campuchia
SRI được giới thiệu với Campuchia bởi CEDAC vào năm 2000, lúc đầu chỉ có 28 nông dân tham gia thử nghiệm SRI Trong những năm đầu tiên, nông dân rất khó chấp nhận những nguyên tắc của SRI, đặc biệt là việc cấy
mạ non lần lượt trong một ô vuông thay cho các hàng Nhưng những kết quả
đạt được về sự sinh trưởng, phát triển của cây lúa đã làm cho mọi người dân
chấp nhận các kỹ thuật này Khi những ruộng lúa áp dụng thâm canh theo SRI bắt đầu trỗ và vào chắc, những người nông dân xung quanh rất ngạc nhiên và
tò mò muốn tìm hiểu về SRI Mặc dù nhìn thấy kết quả của các biện pháp SRI, họ vẫn nghĩ rằng những người nông dân làm thí nghiệm đã nhận được những hạt giống đặc biệt, và nhiều nông dân quan tâm đã bắt đầu đặt hàng hạt giống cho mùa tới [7]
Năm 2002, sau hai lượt thí nghiệm, một vào mùa mưa và một vào mùa khô, CEDAC đã giành được sự tin tưởng của nông dân tham gia thí nghiệm
về SRI Họ cũng đã sửa đổi các nguyên tắc canh tác của SRI cho phù hợp với tập quán canh tác của nhiều địa phương khác nhau Một cuốn sách nhỏ bằng tiếng Khmer về SRI, với những hình vẽ minh họa đã được xuất bản để phổ biến tới nhiều nông dân [7]
Sau những thành công ban đầu của SRI, chính phủ Campuchia, đặc biệt
là ngài Bộ trưởng Bộ nông nghiệp Chan Sarun, đã chính thức ủng hộ và thúc
đẩy phát triển SRI trong năm 2005 Kể từ đó SRI đã được đẩy mạnh trong tất
Trang 21cả các tỉnh của Campuchia Theo báo cáo chính thức của MAFF (thư ký SRI), tính đến cuối năm 2008, đã có 104.750 nông dân áp dụng SRI với 58.290 ha diện tích canh tác Năng suất trung bình của SRI là 3,53 tấn/ha, so với năng suất lúa bình quân của cả nước là 2,62 tấn/ha Nông dân đã bắt đầu thay đổi
hệ thống canh tác của họ, khi áp dụng SRI họ có thể tăng năng suất lên gấp
đôi hoặc gấp ba sản lượng Sản lượng lúa tăng từ 1,5-1,8 tấn/ha lên 2,5-4
tấn/ha (tăng từ 50-150%), lượng hạt giống giảm từ 70-80%, phân bón hóa học giảm 50% (từ 150kg/ha xuống còn 75 kg/ha) [9], [13]
Thử nghiệm SRI đã bắt đầu thực hiện ở Myanmar thông qua Quỹ phát triển Metta (Metta Development Foundation) Trong năm 2000, Metta bắt đầu những thử nghiệm SRI tại những cánh đồng thực nghiệm của họ, những thử nghiệm này được dùng cho khoá đào tạo dài hạn để thiết lập một chương trình trường học trên đồng ruộng của nông dân (Farmer Field School - FFS), một chương trình đang được ủng hộ trong nước Thật không may, việc gieo cấy đã làm muộn hơn 1 tháng so với điều kiện tối ưu của vụ đó và gây ra năng suất rất thấp 1,97-2,73 tấn/ha Tuy nhiên, sự đẻ nhánh thì rất tốt, mặc dù thời vụ cấy muộn, có nghĩa là chỉ 1/2 tiềm năng đẻ nhánh đã được thể hiện trong những thử nghiệm này “Mặc dù nghiên cứu này đã cho năng suất rất thấp, nhưng nó đã thu hút được sự chú ý lớn từ hàng ngàn nông dân vùng cao tham quan Vì nước là một hạn chế lớn ở vùng cao, hệ thống canh tác lúa với lượng nước rất giới hạn đã thu hút cao độ những nông dân này Tuy nhiên, những hiệu quả khác thì không xác định được bởi vì vấn đề trồng muộn”
Ở Lào, thử nghiệm đầu tiên về SRI đã được bắt đầu trong mùa khô 2006
- 2007 trên 0,7 ha với 13 hộ gia đình dưới sự hợp tác của NCMI và Trung tâm Khuyến nông Tha Ngone thuộc văn phòng Nông nghiệp và Lâm nghiệp tại Viêng Chăn (Tha Ngone Irrigated Agriculture Extension Center under Agriculture and Forestry Office in Vientiane), một tổ chức phi lợi nhuận của Nhật Bản
Trang 22Năng suất của mô hình trình diễn SRI tại tỉnh Sayaboury đạt 6,50 tấn/ha
trung bình mùa khô ở Lào là 4,5 tấn/ha
Sự tiến bộ của SRI đã được mở rộng và phổ biến trên toàn quốc kể từ khi
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp thông báo về "Tăng cường năng suất lúa gạo thông qua xúc tiến SRI tại các khu vực tưới tiêu", ngày 24 tháng 9 năm 2008
Đến mùa khô 2008-2009, diện tích áp dụng SRI trong khu vực ước tính là hơn
1.277 ha/ 4.168 ha tổng số [13]
Thí nghiệm SRI đầu tiên tại MCC (Multiple Cropping Center) tại đại học Chiangmai bằng việc thử nghiệm hai giống lúa nếp và ba giống lúa tẻ, với đặc
điểm sinh trưởng mẫn cảm với ánh sáng, đã được trồng theo phương pháp
canh tác truyền thống và theo chế độ quản lý của SRI, như cấy mạ non 17 ngày tuổi so với phương pháp canh tác truyền thống là cấy mạ già 34 ngày tuổi Cấy theo khoảng cách rộng 25 x 25 cm và cấy 1 dảnh/khóm Một cuộc hội thảo đầu bờ đã diễn ra ngày 10/5/2001, những người nông dân đã nhìn thấy hiệu quả của việc mạ non và cấy 1 dảnh với năng suất đạt được là 5,11 tấn/ha so với phương pháp truyền thống chỉ đạt 4,3 tấn/ha
Đội ngũ cán bộ nông nghiệp của MCC đã chia sẻ những báo cáo kinh
nghiệm có được về SRI từ Madagasca và Srilanka với các thành viên khác của mạng lưới nông nghiệp bền vững miền bắc Thái Lan (Northern Thai Sustainable Agriculture Network) Đội ngũ này cũng bắt đầu dự thảo một cuốn sách giáo khoa nhỏ bằng tiếng Thái để phổ biến về SRI được dễ dàng Khi kỹ thuật SRI đã trở nên phổ biến thì những người nông dân địa phương
đã quan tâm rất nhiều về các vấn đề như: nguồn cung cấp dinh dưỡng hữu cơ,
sâu bệnh hại, kiểm soát ốc bươu vàng , đặc biệt người dân quan tâm đến chế
độ quản lý nước và diệt trừ cỏ dại [8], [13]
Ở Indonesia, những thử nghiệm đầu tiên về phương pháp SRI đã được
tiến hành tại Agency for Agriculture Research and Development (AARD) ở Sukanamdi và Cianjur từ mùa khô năm 1999 sau chuyến thăm của Giáo sư
Trang 23Uphoff Năng suất với SRI đạt 6,3 - 6,8 tấn/ha trong khi năng suất trên những cánh đồng nông dân kế cận chỉ đạt 4,1 - 5,4 tấn/ha Trong vụ mùa 2000, năng suất của SRI là 7,0 - 7,8 tấn/ha so với 5,9 - 6,9 tấn/ha ở trên đồng ruộng của nông dân Kết quả này đã thuyết phục hoàn toàn các nhà nghiên cứu của AARD để họ bắt đầu kết hợp phương pháp SRI với việc cải tiến kỹ thuật
trồng lúa thông qua biện pháp “Quản lý tổng hợp cây trồng” (Integrated Crop Management - ICM), và họ đã rất thành công khi được kết hợp với “Quản lý
dịch hại tổng hợp” (Integrated Pest Management - IPM [13]
Tại Philippines, Hội hợp tác vì sự phát triển miền nam Mindanao (The Consortium for the Development of Southern Mindanao Cooperatives - CDSMC) đã thực hiện SRI trong mùa khô năm 1999 Năng suất trung bình là 4,96 tấn/ha, cao hơn 2 lần năng suất mà nông dân trước đây thường đạt được
Họ đã chỉ ra sự khác nhau tích cực giữa SRI và phương pháp truyền thống là
sự vượt trội về số nhánh đẻ, số hạt/bông, số hạt chắc/bông và khối lượng hạt
Họ cũng kết luận SRI là một biện pháp canh tác thích hợp, có lợi đối với môi trường và là một trong những hệ thống canh tác thích hợp nhất đối với nông dân nghèo [13]
Iran là một đất nước hồi giáo với 1,25 triệu ha đất trồng trọt, lúa mỳ, lúa gạo và lúa mạch là một trong những loại ngũ cốc quan trọng nhất Sản xuất đủ lương thực là mục tiêu quan trọng của nước này Sản lượng lúa bị ảnh hưởng nặng nề bởi sâu bệnh, kỹ thuật trồng trọt, sự khác nhau về phương thức canh tác và điều kiện kinh tế
Những lý do chính mà SRI được quan tâm ở Iran là:
tích dưới 0,7ha
Trang 24-Nhu cầu của mỗi địa phương là khác nhau, làm giảm sản lượng, và dễ
bị ảnh hưởng bởi sâu bệnh
SRI bắt đầu được nghiên cứu và thực hành ở Iran vào năm 2004 với diện tích thử nghiệm là 2ha, với 3 khoảng cách cấy là 25 x 25cm, 30 x 30cm, 40 x 40cm, sử dụng mạ non tuổi và chỉ cấy 1 dảnh, với 3 phương thức canh tác đó là: Canh tác theo truyền thống của địa phương, theo SRI và phương thức canh tác sử dụng lúa lai Kết quả cho thấy canh tác theo phương pháp truyền thống
đạt sản lượng thấp nhất Đặc biệt việc sử dụng mạ non tuổi, cấy 1 dảnh và
khoảng cách cấy hàng rộng đã làm tăng cường hoạt động của hệ vi sinh vật
đất, làm tăng khả năng thông thoáng của đất, từ đó làm cho bộ rễ cây khỏe,
lan xa và rộng, cây lúa có khả năng chống chịu với sâu bệnh tốt hơn
Những công thức cấy với khoảng các h 25 x 25cm và 30 x 30cm cho năng suất cao nhất, đạt từ 6,95 tấn/ha đến 7,03 tấn/ha Lượng hạt giống đã giảm từ 60-70 kg/ha xuống còn 10 kg/ha [7]
Timbuktu, vùng đất khô cằn giáp sa mạc Sahara này là một trong những khu vực bất ổn lương thực nhất tại Mali Lượng mưa trung bình hang năm chỉ khoảng 150 - 200 mm Vì thế sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào lưu lượng nước của con sông Niger và lượng nước lũ lên theo mùa của các nhánh sông và ao hồ Sản lượng thường rất thấp, chưa đến 1 tấn/ha, tính cả lúa gạo và lúa miến Để tăng sản lượng, diện tích tưới tiêu đã được mở rộng, giúp nông dân tăng năng suất lên 4-6 tấn/ha Việc tăng sản lượng lên tối đa và sử dụng một cách tối ưu nhất đầu vào trong đó có tài nguyên nước trên những cánh
đồng diện tích nhỏ này có vai trò cực kỳ quan trọng trong công tác giảm nghèo
Năm 2007, Chương trình Sáng kiến An ninh Lượng thực Goundam được Africare triển khai với nguồn tài trợ của tổ chức USAID đã lựa chọn 12 thôn tại Dire và Goundam với diện tích canh tác lúa khoảng hơn 1.900 hec-ta, chiếm hơn 10% tổng diện tích trồng lúa ở Timbuktu Nông dân tự nguyện tham gia và tự lựa chọn kích thước thửa ruộng, giống lúa, phân bón và tự lo
Trang 25các nguyên liệu đầu vào Africare cung cấp cho mỗi thôn một dụng cụ làm cỏ (một loại dụng cụ đơn giản mà trước đây chưa được biết đến tại những thôn này) và hỗ trợ kỹ thuật cho họ [1]
Các thửa ruộng gieo mạ SRI và các thửa ruộng đối chứng (trung bình
SRI cấy mạ non 10-12 ngày tuổi, cấy một dảnh Trên các thửa ruộng đối chứng, cấy mạ khoảng 29 ngày tuổi, cấy 2-5 dảnh Tất cả các nông dân áp dụng SRI đã bón phân chuồng và giảm lượng phân urê xuống mức 120 kg/ha
so với 145 kg/ha trên các ruộng đối chứng Năng suất tăng cùng với các lợi ích kinh tế của SRI đã được ghi nhận ở cả 12 thôn 53 nông dân áp dụng SRI
đã thu được năng suất bình quân 9,1 tấn/ha, cao hơn 66% so với năng suất
bình quân thu được trên các ruộng đối chứng (5,5 tấn/ha) Năng suất bình quân trên các ruộng liền kề của các nông dân không áp dụng SRI là 4,86 tấn/ha [1], [11]
Chi phí đầu vào trên mỗi hec-ta khi áp dụng phương pháp SRI có cao hơn một chút Đó là các chi phí cho công làm đất, cấy và làm phân chuồng Nhưng do lợi nhuận thu về của SRI cao gấp 2,1-2,4 lần so với các ruộng đối chứng nên nhìn tổng thể lợi nhuận vẫn cao hơn Tính theo giá thị trường hiện nay, lợi nhuận ròng mà các nông dân thu được từ SRI là 1 triệu CFA/ha (tương đương 2.220 đô la Mỹ) trong khi đó lợi nhuận ròng của các ruộng mẫu
là 490.000 CFA/ha (tương đương 1.089 đô la Mỹ) [11]
Nông dân rất hưởng ứng phương pháp SRI và chỉ ra hàng loạt các lợi ích của phương pháp này như: sản lượng tăng, giảm giống, tiết kiệm thời gian làm cỏ (dùng dụng cụ cào cỏ thủ công), lúa sinh trưởng nhanh hơn, chất lượng tốt hơn Phương pháp SRI chỉ mất 6kg hạt giống/ha trong khi đó các ruộng mẫu mất 40-60 kg hạt giống/ha, giảm 85-90% Việc tăng cường bón phân chuồng giúp giảm 30% lượng phân hóa học và thuỷ lợi giảm 10% (do việc phân bổ nước được xây dựng trước theo kế hoạch tưới tiêu nên việc tiết kiệm nước không thực sự tối ưu) Các thửa ruộng SRI có thể cho thu hoạch
Trang 26sớm hơn từ 10-15 ngày so với các ruộng đối chứng, cho phép nông dân tránh
được ảnh hưởng của mùa đông lạnh giá và chuyển từ các loại giống ngắn
ngày cho sản lượng thấp sang các loại giống dài ngày cho sản lượng cao hơn, như giống BG90-2 [11]
Tính đến năm 2009, trong vòng 3 năm với sự hỗ trợ của tổ chức BUF và AUSAID, Africare đã giúp 300 nông dân t iếp cận với SRI tại Timbuktu Trong năm 2009, tổ chức AUSAID đã tài trợ cho dự án “Các sáng kiến cho tăng trưởng kinh tế ở Mali (IICEM)” để nhân rộng mô hình SRI trên địa bàn 3 tỉnh nữa Quỹ nông nghiệp bền vững Syngenta hiện đang hỗ trợ Viện Kinh tế Nông thôn Mali trong việc đưa mô hình SRI trở thành một vùng trồng lúa chủ
đạo trên cả nước [1]
Ấn Độ là quốc gia có diện tích trồng lúa lớn nhất trên thế giới và đứng
thứ hai về sản lượng lúa gạo sau Trung Quốc Hơn một nửa diện tích trồng lúa nước, cung cấp hơn 75% sản lượng lúa gạo, đã tiêu tốn hết 50-60% nguồn nước ngọt rất hạn chế của đất nước này Dân số Ấn Độ được dự kiến sẽ tăng
từ 1,15 tỷ lên tới 1,6 tỷ vào năm 2050, gây ra những sức ép mạnh mẽ đối với nguồn tài nguyên đất đai và tài nguyên nước
SRI được đưa vào Ấn Độ vào năm 2000 khi các nhà nghiên cứu thuộc trường Đại học Nông nghiệp Tamil Nadu (TNAU) khởi xướng thí nghiệm liên quan đến các nguyên tắc của SRI trong một dự án hợp tác về trồng lúa sử dụng ít nước Năm 2003, một gói các biện pháp SRI đã được hình thành và thử nghiệm tại cánh đồng của 200 nông dân tại lưu vực sông Cauvery vàTamiraparani Kết quả ở hai lưu vực sông cho thấy sản lượng bình quân tăng 1,5 tấn/hecta trong khi giảm chi phí sản xuất, thậm chí nhu cầu lao động giảm 8%/ha Đánh giá này tạo nền tảng cho việc chính thức khuyến cáo áp dụng phương thức thâm canh lúa cải tiến cho nông dân vào năm 2004
Đồng thời, trường đại học nông nghiệp quốc gia tại Andhra Pradesh - Đại học Nông nghiệp Acharya N.G Ranga (ANGRAU), giới thiệu phương
Trang 27pháp SRI trên các ruộng lúa của nông dân trong vụ mùa năm 2003 Thử nghiệm so sánh đã được tiến hành trên các huyện của toàn bang Việc so sánh này đã tạo ra sự quan tâm chú ý trong toàn quốc khi kết quả chỉ ra rằng năng suất trung bình của ruộng lúa SRI tăng 2,5 tấn/hecta - tăng 50% so với ruộng canh tác lúa nước tập quán
Năm 2005 và 2006, SRI tiếp tục được đánh giá tại Viện nghiên cứu về nông nghiệp Ấn Độ Trong tất cả các phương pháp canh tác thì phương thức canh tác theo SRI cho chiều cao cây là 82,5cm, sự tích lũy vật chất khô là 558
vật học là 7,66 tấn/ha Sản lượng của phương thức canh tác theo SRI tăng lên
so với các phương pháp khác là 5,2% Tuy nhiên SRI đã tiết kiệm được 14,5% lượng nước so với phương pháp thông thường [12]
Hiện nay, SRI được biết đến ở tất cả các bang trồng lúa tại Ấn Độ Ước tính, có khoảng 600.000 nông dân đang trồng lúa sử dụng toàn bộ hoặc từng phần các biện pháp SRI trên diện tích khoảng 1 triệu hecta thuộc 300 trong số
564 huyện trồng lúa của Ấn Độ SRI cũng đang được điều chỉnh để áp dụng tại những khu vực canh tác nhờ nước mưa tự nhiên
Đây có lẽ là tiến bộ nông nghiệp được triển khai áp dụng nhanh nhất ở
quốc gia này, điều đó làm cho SRI trở thành một hiện tượng quốc gia rất điển hình với chi phí ít nguồn lực cho việc nhân rộng Hiện nay, WWF đang hướng
đến việc áp dụng SRI trên những loại cây trồng khác đang “khát” nước như
mía và lúa mì
1.5 Những nghiên cứu và ứng dụng hệ thống thâm canh lúa cải tiến
(SRI) ở Việt Nam
các điều kiện tối ưu cho cây lúa phát triển, giúp cây lúa đẻ nhánh tối đa, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, SRI được phát triển trên 5 nguyên tắc Trong đó
nguyên tắc về mạ là cấy mạ non và cấy một dảnh duy nhất trên một khóm,
Trang 28làm giảm sự cạnh tranh và giúp giảm thiểu sự che khuất giữa các lá lúa với nhau Điều này giúp lá duy trì khả năng quang hợp tốt hơn, và hoạt động của
rễ mạnh hơn do tăng cường cung cấp oxy và carbohydrate (Tanaka, 1958; Horie và cộng sự, 2005), cấy một dảnh giúp cho lá lúa trẻ lâu hơn và giúp duy trì hiệu suất quang hợp của cây lúa ở các giai đoạn phát triển sau này Kết quả này đã được xác nhận bởi cấy một dảnh duy nhất trên một khóm có năng suất cao hơn so với ba dảnh trên khóm( San-.Oh và cộng sự, 2006) Mishra (2006)[9] Phương pháp SRI cho năng suất cao nhất khi cây con được cấy ít hơn 15 ngày tuổi và tốt nhất là chỉ có 8 -12 ngày, tức là trước khi bắt đầu hình thành lá thứ tư Điều này giúp cây lúa có khả năng đẻ nhánh tốt nhất, bởi vì
thương đến bộ rễ, cây lúa không phải trải qua giai đoạn bén rễ hồi xanh nên
có thể rút ngắn được thời gian sinh trưởng
Hệ thống canh tác lúa cải tiến (System of Rice Intenfisication - SRI) đã
được nghiên cứu, triển khai thành công ở 40 nước trên thế giới SRI được coi
là một phương pháp tiếp cận theo hướng nông nghiệp sinh thái SRI có nhiều
ưu thế vượt trội so với phương pháp canh tác thông thường như: lượng thóc
giống giảm từ 50 đến 90%, phân đạm giảm 20 đến 25%, tăng năng suất bình quân 13 đến 29% SRI tiết kiệm 40 % nước tưới, 30 % phân bón hóa học, tăng khả năng chống chịu của cây lúa liên quan đến biến đổi khí hậu như chống đổ ngã, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, do đó đã hạn chế dụng thuốc BVTV Việc rút cạn nước ruộng góp phần làm hạn chế khí nhà kính phát thải gây hiệu ứng nhà kính Như vậy SRI đảm bảo được cả 4 lợi ích: kinh
tế, xã hội, môi trường và biến đổi khí hậu
Hiện nay, SRI đã được rất nhiều tổ chức nghiên cứu và chuyển giao như Cục bảo vệ thực vật, Đại học Thái Nguyên, tổ chức Oxfam, tổ chức Phát triển
Hà Lan (SNV), Trung tâm phát triển nông thôn bền vững - SRD, tổ chức Cứu trợ và Phát triển Quốc tế (FIDR), Viện môi trường nông nghiệp (IAE), Viện
Trang 29cây lương thực và thực phẩm (FCRI), Sở NN&PTNT Quảng Nam và các chi cục Bảo vệ thực vật các tỉnh Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Kạn, Hà Nội, Yên Bái, Nghệ An , Hà Tĩnh
Khoảng trên 9 triệu hộ nông dân Việt Nam sở hữu dưới 0,5 ha đất trồng lúa (trong đó 95% sống ở miền Bắc), diện tích này lại thường bị chia ra thành những thửa ruộng nhỏ Các hộ nông dân trồng lúa quy mô nhỏ phải đối mặt với bất ổn giá cả của nguyên liệu đầu vào, thậm chí tiền thu về không đủ bù
lỗ Họ không được hưởng lợi gì từ việc giá lương thực tăng
Việc lạm dụng hoá chất (đặc biệt là phân đạm), thuốc trừ sâu và giống là vấn đề nổi cộm trong hoạt động sản xuất lúa gạo ở Việt Nam nói chung và ở miền Bắc nói riêng Việc lạm dụng đạm và cấy mật độ dày là những nguyên nhân chính làm cho cây lúa dễ bị sâu hại và dịch bệnh, ảnh hưởng đến sản lượng, hiệu quả kinh tế, sức khoẻ cộng đồng và môi trường [3]
Một nửa diện tích trồng lúa của Việt Nam được tưới tiêu và hiện trạng khan hiếm nguồn nước gia tăng đang trở thành một thách thức Theo UNDP, lượng nước bình quân tính theo đầu người hiện nay chỉ bằng 1/3 so với năm
1945 và tình hình cạnh tranh tài nguyên nước đang gia tăng nhanh chóng Tại thời điểm mà các nông dân trồng lúa quy mô nhỏ chịu áp lực từ nhiều phía như chi phí đầu vào tăng (thường là do sử dụng quá mức), cạnh tranh về
đất, biến đổi khí hậu, khan hiếm nước thì SRI thực sự là một cơ hội tốt
Ở Việt Nam vụ xuân năm 2003, Ngô Tiến Dũng - Cục Bảo vệ thực vật
bắt đầu nghiên cứu về kỹ thuật SRI đầu tiên thông qua chương trình IPM tại
Hà Nội, bao gồm mật độ gieo mạ và mật độ cấy đối với giống lúa thuần và lúa lai Kết quả cho thấy ở đất tốt mật độ cấy thưa lúa tốt hơn so với kỹ thuật thông thường Kết quả nghiên cứu năm 2006 cho thấy số nhánh đẻ hữu hiệu tăng trong vụ hè (26,7%) cao hơn so với vụ xuân (25%), năng suất lúa đạt cao nhất là ở tỉnh Hà Tây vụ hè tăng 42% và vụ xuân tăng 41%, mặc dù mật độ
Trang 30Từ kết quả nghiên cứu về SRI trong thời gian 2004 -2006 cho thấy so với kỹ thuật thông thường áp dụng SRI đã làm giảm chi phí trong sản xuất lúa 16-60% lúa giống, giảm hơn 20% lượng phân đạm, giảm 1,5 - 3 lần phun thuốc sâu/vụ, số nhánh đẻ tăng trên 25%, tăng số hạt chắc lên trên 10% và kết quả tăng năng suất lúa từ 9-15% Lãi trên 1ha lúa tăng từ 2-2,2 triệu Giảm chi phí cho 1kg lúa từ 342-520 đồng, tiết kiệm 1/3 lượng nước Kết quả cho thấy SRI có thể góp phần cho phát triển sản xuất lúa bền vững cho lúa nước và cần
được phổ biến áp dụng rộng rãi [3], [4]
Tại Thái Nguyên và Bắc Giang, Hoàng Văn Phụ và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu thí nghiệm SRI từ vụ xuân 2004, nghiên cứu SRI được thực hiện trong hai năm trên cả giống lúa thuần và lúa lai Kết quả cho thấy khi áp dụng
kỹ thuật SRI làm chi phí hạt giống giảm từ 56-76%, tiết kiệm nước 62%, giảm công cấy và thuốc trừ sâu, năng suất tăng 12-17% so với đối chứng giống Khang dân 18 và từ 16 - 23% so với đối chứng giống Nhị ưu 838 [3], [4]
Chương trình tài trợ 3 năm của OXFAM Mỹ: “Vì sự tiến bộ của nông dân sản xuất nhỏ tiểu vùng Sông Mekong” do Oxfam thực hiện tại Campuchia, Việt Nam và Lào bắt đầu thực hiện từ tháng 9 năm 2007
Với việc tăng cường năng lực kỹ thuật cho người nông dân, chương trình đã hỗ trợ mở rộng ứng dụng SRI tại 6 tỉnh điểm là Hà Nội, Yên Bái, Phú Thọ, Thái Nguyên, Nghệ An và Hà Tĩnh
Kết quả về hiệu quả kinh tế, kỹ thuật của vụ hè thu/mùa năm 2008: Chi phí giống giảm từ 50-83%; số hạt chắc/bông tăng từ 13,5-21%; đạm ure giảm 6,2-30,5% (riêng Hà Tây do đã áp dụng tốt kỹ thuật quán lý dinh dưỡng trên phạm vi toàn xã nên không có sự khác biệt giữa SRI và tập quán về phân bón); thuốc BVTV giảm từ 33,3-83% (riêng 2 tỉnh Hà Tây và Nghệ An ở cả ruộng SRI và tập quán đều không dùng thuốc BVTV); thủy lợi phí giảm từ 11 -50%
Do đó, năng suất tăng từ 5,8-14,4% và lợi nhuận tăng từ 21,3-50,8% [3]
Trang 31Chỉ tính riêng việc giảm giống, với 69,185 ha ứng dụng của 6 tỉnh, năm thứ nhất thực hiện Chương trình (năm 2008), đã tiết kiệm được trên 20 tỷ VND, tương đương khoảng 1,3 triệu USD Theo ước tính của chương trình, chỉ với một vụ ứng dụng SRI trên 25% diện tích đất lúa nông dân Việt Nam
có thể tăng thêm thu nhập tới hơn 293 triệu đô la Mỹ tương đương với hơn 5.700 tỷ VND
Chỉ sau hai vụ thực hiện Chương trình, cả 6 tỉnh tham gia đều đã xác
định được tầm quan trọng của SRI trong sản xuất lúa bền vững và đã có
những chủ trương ứng dụng ra diện rộng
Ứng dụng SRI mang lại hiệu quả cao về mọi mặt kinh tế, xã hội và môi
trường, ngoài ra canh tác theo SRI còn thể hiện rất rõ ưu thế đối phó của cây lúa đối với những tác động của biến đổi khí hậu như: tăng khả năng chống đổ của cây, cây lúa khỏe hơn có thể chống chịu tốt hơn trong điều kiện bão gió; Tăng khả năng kháng sâu bệnh giúp cho cây lúa có thể chống chịu được tốt hơn sự tấn công của dịch sâu bệnh, đặc biệt là những loại mới xuất hiện, nông dân chưa có kinh nghiệm đối phó; canh tác theo SRI có thể tiết kiệm được 30% lượng nước tưới, điều này rất hữu ích trong điều kiện khan hiếm nguồn nước tưới Ngoài ra, canh tác theo SRI có thể góp phần hạn chế tác động gây hiệu ứng nhà kính
Vĩnh Phúc là một tỉnh trung du, nền nông nghiệp tương đối phát triển với
đủ các loại cây trồng, rau màu, cây ăn quả nhưng chủ yếu vẫn là cây lúa
Diện tích gieo trồng 2 vụ lúa khoảng 70 nghìn ha đã cho sản lượng lúa từ 330
- 350 nghìn tấn lương thực Vụ mùa năm 2005, Chi cục BVTV Vĩnh Phúc đã triển khai được 8 mô hình trình diễn “3 giảm 3 tăng” mỗi mô hình 1ha với 20
hộ tham gia Kết quả năng suất mô hình đạt 5,71 tấn/ha cao hơn ruộng đối chứng 13% Vụ mùa 2009, Chi cục cho triển khai 3 mô hình SRI Kết quả cho thấy lượng thóc giống giảm 22 - 28 kg/ha, thuốc BVTV giảm 1-2 lần, giảm
Trang 32công lấy nước vào ruộng, năng suất đạt 5,7 - 6,46 tấn/ha trong khi ruộng nông dân năng suất đạt 5,23 - 5,89 tấn/ha
Thấy được lợi ích của việc áp dụng SRI, vụ mùa 2010, Chi cục BVTV tỉnh Vĩnh Phúc đã thực hiện đề tài cấp tỉnh nhằm nhân rộng mô hình SRI trên diện rộng Mô hình đã được triển khai trên toàn tỉnh với diện tích thử nghiệm
là 50ha Qua triển khai đề tài đã thu được một số kết quả như: năng suất lúa tăng 13% và tăng hiệu quả kinh tế 10 - 15%; giảm trên 50% thuốc BVTV; tiết kiệm 40 - 50% nước tưới Như vậy, hiệu quả trung bình của mô hình áp dụng SRI tăng so với canh tác theo tập quán là 3 triệu đồng/ha [1]
Tại Hà Nội năm 2008 đã tổ chức 73 lớp tập huấn nông dân và 103 mô hình ứng dụng SRI trên diện rộng, tổ chức tập huấn cấp huyện cho lãnh đạo
xã, HTX và khuyến nông cơ sở, tổ chức 4 trung tâm đào tạo 120 giảng viên nông dân, in và cấp 20.000 tờ rơi và 360 đĩa hình hướng dẫn về SRI Được sự
hỗ trợ và khuyến khích vụ xuân đã có 33.443 ha ứng dụng SRI, vụ mùa 35.150 ha Khi áp dụng kỹ thuật này lượng hạt giống đã giảm từ 62 kg/ha xuống còn 14,3 kg/ha, giảm gần 48 kg; lượng đạm giảm từ 164 kg/ha xuống
125 kg/ha; giảm 3-4 lần nước tưới/vụ, tương đương với 30 - 40% chi phí tưới Nhờ ruộng thông thoáng, lúa được bón phân cân đối nên sâu bệnh ít, cụ thể bệnh khô vằn giảm 2,8 lần, sâu cuốn lá nhỏ giảm 3,7 lần, rầy nâu giảm 6 lần
Do đó tất cả các diện tích ứng dụng SRI những vụ qua đều không phải sử dụng thuốc BVTV Nỗi lo về ô nhiễm môi trường, độc hại do sử dụng thuốc BVTV cũng được giảm tới mức tối đa Trong khi giảm hẳn những chi phí đầu vào như vậy mà năng suất tăng 7,4 tạ/ha/vụ, chi phí sản xuất giảm 2,1 triệu
đồng/ha/vụ Hiệu quả kinh tế tăng 6,17 triệu đồng/ha/vụ
Nhờ có sự tác động của cơ chế chính sách, sự hỗ trợ của Nhà nước nên chỉ chưa đầy 3 năm đã có trên 40% diện tích gieo trồng của Hà Nội được áp dụng SRI và sẽ tăng mạnh trong những năm tới Theo Chi cục BVTV Hà Nội, nếu thành phố có những chính sách khuyến khích thỏa đáng, từ nay đến năm
Trang 332015, thành phố Hà Nội sẽ cơ bản thay thế được cách thâm canh truyền thống của nông dân Điều đó đồng nghĩa với việc cho dù diện tích cấy lúa của Thủ
đô có bị thu giảm nhưng sản lượng vẫn sẽ bảo đảm
Tại tỉnh Phú Thọ nhằm giúp nông dân giảm chi phí đầu vào trong canh tác sản xuất lúa, tăng năng suất, bảo vệ môi trường sinh thái và sức khỏe con người, năm 2008, được sự giúp đỡ của Trung tâm phát triển nông thôn bền vững (SRD), Chi cục BVTV Phú Thọ đã triển khai xây dựng mô hình áp dụng SRI tại 10 khu của 2 xã Cao Xá và Kinh Kệ của huyện Lâm Thao Diện tích
mô hình gần 3 ha, với 67 hộ tham gia Trên mô hình đã tiến hành theo dõi, lựa chọn các công thức tối ưu áp dụng phù hợp với điều kiện canh tác của từng
địa phương Vụ chiêm xuân 2009, dự án tiếp tục triển khai nhân rộng mô hình
SRI tại 2 xã thuộc vùng dự án lên 112,6 ha với 1.814 hộ tham gia Qua ba vụ
áp dụng SRI, kết quả bước đầu cho thấy, lượng giống giảm 11 kg/ha, giảm 66-80% so với tập quán (trong đó KD18 giảm là 44,5 kg/ha, Bồi tạp sơn thanh giảm là 22 kg/ha); lượng nước tưới giảm 2-3 lần tưới/vụ, tương đương giảm 20-30% chi phí bơm nước; lượng đạm giảm so tập quán nông dân là 33% (tương đương 84 kg/ha), NPK giảm 25% (tương đương 139 kg/ha), tăng lượng kali: 50% (tương đương 55,5 kg/ha) và số lần phun thuốc BVTV giảm 1,6 lần so với làm theo tập quán Từ đó hiệu quả kinh tế cao hơn so với tập quán nông dân từ 377.000 - 1.759.000 đồng/ha; lãi tăng hơn so với tập quán
từ 2.414.000 - 4.971.000 đồng/ha; giá thành sản phẩm giảm từ 317 - 477
đồng/kg thóc
Tỉnh Hà Tĩnh có diện tích gieo cấy lúa hằng năm biến động từ 102 - 108 nghìn ha, năng suất lúa bình quân hàng năm chỉ đạt 46 tạ/ha do trình độ thâm canh của người dân chưa cao Năm 2008 được sự giúp đỡ của Cục BVTV, tổ chức Oxfam Quebec và sự chỉ đạo của Sở NN&PTNT, Chi cục BVTV Hà Tĩnh đã triển khai thực hiện nghiên cứu và ứng dụng SRI tại 3xã của tỉnh Mục đích chính của chương trình là nâng cao năng lực và tính tự quyết cho
Trang 34nông dân, cải tiến dần các biện pháp canh tác lúa theo tập quán, giảm chi phí
đầu vào, tăng năng suất và hiệu quả sản xuất
Sau 2 năm thực hiện, chương trình đã mang lại một số kết quả khả quan nhất định Tại xã Kim Lộc và Quang Lộc khi áp dụng chương trình SRI lượng giống gieo giảm từ 38-40 kg/ha (giống IR1820 và HT1, vụ đông xuân 2008 - 2009); ở vụ hè thu, tiết kiệm được 40 kg/ha với giống lúa Bắc Thơm số 7 và giảm 25-30 kg/ha giống lúa Thuỵ Hương 308; lượng đạm urê giảm 30-40 kg/ha so với ruộng tập quán Đặc biệt khi thâm canh lúa áp dụng chương trình SRI thì hầu hết các ruộng lúa không sử dụng thuốc BVTV (có sử dụng thì nhiều nhất cũng chỉ 1 lần) trong khi đó ruộng tập quán thường phải sử dụng 2-
4 lần phun/vụ Hiệu quả từ SRI rất rõ: vụ hè thu năm 2008, giống Bắc Thơm
số 7 gieo cấy tại Kim Lộc cho năng suất bình quân đạt 5.154 kg/ha (đối chứng
là 4.408 kg/ha), lãi thu được từ ruộng SRI cao hơn ruộng đ/c 72160 đ/ha; tại
xã Quang Lộc trên giống Thuỵ Hương 308 năng suất tăng hơn đối chứng là 1.130 kg/ha (18,4%), lợi nhuận đạt cao hơn sản xuất đại trà 8030 đ/ha Còn vụ
đông xuân 2008-2009, với mật độ cấy thưa 30 khóm/m2
tại Kim Lộc trên giống lúa HT1 năng suất bình quân đạt 5.302 kg/ha, lãi thu được cao hơn ruộng đối chứng 7.914.000 đ/ha Vụ hè thu 2009 các diện tích áp dụng SRI
đều cho năng suất cao hơn từ 20-25 kg/sào, hiệu quả kinh tế tăng từ 12-15%
Việc áp dụng kỹ thuật SRI ngoài tác động đến tập quán và hiệu quả trong sản xuất lúa còn nâng cao năng lực và tư duy của người nông dân, từ đó người nông dân sẽ tự tin hơn, chủ động hơn khi đưa ra quyết định trong sản xuất Từ kết quả trên, 5 xã đã triển khai thử nghiệm phấn đấu đến hết năm 2010 mỗi xã
có 2 đến 5 mô hình ứng dụng tập trung diện rộng từ 15 ha trở lên, khoảng 100 nông dân được tham gia lớp huấn luyện phương pháp mới, hình thành 10 nhóm nông dân nòng cốt, diện tích ứng dụng từng phần 100 ha và khoảng 1.500 nông dân tham gia; đồng thời mở rộng diện tích ra các xã lân cận
Trang 35Tại Bắc Kạn, được sự giúp đỡ của Dự án BUCAP - Cục BVTV, kỹ thuật SRI đã được Chi cục BVTV tỉnh Bắc Kạn (nay là Chi cục trồng trọt và BVTV) đưa vào thử nghiệm từ vụ xuân năm 2008 với diện tích thử nghiệm 0,6 ha Mô hình đã tiến hành các công thức thí nghiệm như: cấy mạ non từ 2,5lá; cấy 1-2 dảnh/khóm, cấy nông tay; mật độ cấy thử nghiệm 42, 30, 25, 16
đoạn sinh trưởng sinh thực; bón phân sớm đầy đủ và cân đối; làm cỏ sớm khi
cỏ chưa mọc kết hợp sục bùn phá váng; quản lý sâu bệnh hại theo IPM Từ thực tế các ruộng thực nghiệm đã làm thay đổi nhận thức của học viên và các
đại Biểu dự hội thảo về mật độ cấy, cách sử dụng phân bón, thuốc BVTV hợp
lý và hiệu quả
Mô hình đã thể hiện tính thích ứng đối với sản xuất và thay đổi một số tập quán lạc hậu của địa phương Đặc biệt mô hình được nông dân và chính quyền địa phương đánh giá cao và hưởng ứng Nhận thấy tầm quan trọng của
kỹ thuật SRI đối với sản xuất lúa, Chi cục Trồng trọt và BVTV tiếp tục đề xuất xây dựng và mở rộng mô hình canh tác lúa cải tiến nhằm khuyến cáo rộng rãi cho người sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh dưới sự giúp đỡ của SRD và
Dự án 3PAD Tính đến vụ mùa 2010, diện tích thử nghiệm và áp dụng từng phần và toàn phần trên toàn tỉnh khoảng 800ha Áp dụng kỹ thuật SRI đã giúp người dân tiết kiệm được lượng thóc giống là 50-70%, giảm sử dụng thuốc BVTV 50-100%, giảm giá thành trên 1kg thóc 7-10%, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh đặc biệt là bệnh khô vằn, tăng khả năng chống đổ, tăng năng suất 15-20%, từ đó tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích 10-25%
Trong hội thảo trao đổi kinh nghiệm về SRI giữa các nước châu Á tại Băng Cốc (Thái Lan) mới đây, nhà nghiên cứu P Kumar cho biết trong số gần 30 nước áp dụng SRI , Ân Độ và Việt Nam là hai nước đạt kết quả khả quan nhất Thực tế ở các quốc gia áp dụng SRI cho thấy SRI không phải là một kỹ thuật tập quán Không mang tính chất áp đặt như một công thức kỹ
Trang 36thuật, SRI có thể được ví như một thực đơn, bao gồm rất nhiều sự lựa chọn nhằm tăng cường tính hiệu quả của đất canh tác, sức lao động, nước, chất dinh dưỡng và vốn Kết quả tối ưu nhất sẽ đạt được nếu tuân thủ tất cả các bước do có hiệu ứng hiệp lực giữa các bước Tuy nhiên, người nông dân có thể lựa chọn tuân thủ tất cả các bước hoặc một số bước mà họ thấy phù hợp
và tùy điều kiện thực tế cho phép Dù triển khai bất kỳ bước nào thì người nông dân cũng sẽ nhận thấy những tiến bộ rõ rệt làm họ phấn khích và khuyến khích các nông dân khác áp dụng Như vậy, những gì được “tăng cường” là kiến thức, kỹ năng và cách thức quản lý, chứ không phải là tăng số lượng nguyên liệu đầu vào trong sản xuất
Như vậy, chúng ta có thể hiểu được vì sao kết quả thu được không giống nhau ở các quốc gia, và thậm chí kết quả không giống nhau ngay trên những cánh đồng liền kề Kết quả tùy thuộc vào đất, khí hậu, những khó khăn của từng địa phương, các bước được áp dụng và chất lượng của công tác quản lý
Điều này giúp lý giải vì sao một số nông dân có thể tăng sản lượng lên gấp ba
lần trong khi một số người khác bước đầu chỉ có thể tăng sản lượng lên 20% Thông thường, nếu người nông dân càng có kỹ năng và tự tin thì hiệu quả mùa vụ càng cao
Đây là một phương pháp trồng lúa hiệu quả và thân thiện với môi
trường, nhưng để nông dân áp dụng và nhân rộng phải làm thay đổi nhận thức của họ, những người đã quá quen thuộc với phương pháp canh tác truyền thống Một khi người nông dân đã chấp nhận thay đổi thì SRI có thể mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho những người trồng lúa, đặc biệt là những người nghèo Điều này đã được minh chứng qua nhiều nước Châu Á khi mà các tổ chức cộng đồng hỗ trợ người dân áp dụng phương thức canh tác này
Trang 37Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, phạm vi, địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Giống lúa Khang Dân 18
- Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu một số phương thức làm mạ lúa theo phương pháp SRI với giống lúa Khang dân 18 tại Phú Bình - Thái Nguyên
- Địa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành tại xã Xuân Phương, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian nghiên cứu: Vụ mùa năm 2014: từ tháng 6 - 12/2014
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của phương thức làm mạ đến chất lượng mạ
- Nghiên cứu ảnh hưởng của chất lượng mạ đến sinh trưởng, phát triển
và năng suất lúa
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 38+ Nhân tố T: Phương thức gieo mạ
T1: Gieo mạ truyền thống( gieo mạ dày, gieo xong từ 3 - 5 ngày mới bón phân)
T2: Lót lá chuối, trộn bùn và phân bón rồi dải lên lá chuối để gieo mạ T3: Xen kẽ giữa một lớp phân với một lớp bùn rồi gieo mạ
Phối hợp 2 nhân tố này ta có 12 công thức thí nghiệm:
xen kẽ giữa một lớp phân với một lớp bùn
truyền thống
lót lá chuối
xen kẽ giữa một lớp phân với một lớp bùn
truyền thống
Trang 398, M3T2: Mật độ gieo mạ 1kg thóc trên 9m2 với phương thức làm
mạ lót lá chuối
xen kẽ giữa một lớp phân với một lớp bùn
truyền thống
lót lá chuối
xen kẽ giữa một lớp phân với một lớp bùn
Trang 40- Giống: Sử dụng lúa giống Khang dân 18
- Thời gian làm thí nghiệm: Vụ mùa 2014 từ tháng 6/2014 - 12/2014
* Các chỉ tiêu theo dõi:
+ Chiều cao cây mạ
+ Đường kính rễ
+ Chiều dài rễ
+ Số lượng rễ trên cây
+ Trọng lượng thân, rễ
+ Chiều ngang của gốc mạ
+ Đánh giá sức sống của mạ (được biểu hiện qua lá mạ)
* Các phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu khi mạ được 10 ngày
- Chiều cao cây mạ: Mỗi ô lấy 5 cây mạ rồi đo từ gốc mạ đến lá cao nhất
- Chiều ngang của gốc mạ: Trên mỗi ô thí nghiệm lấy 10 cây mạ xếp xít nhau, đo cách gốc 1cm rồi chia trung bình, nhắc lại 3 lần trên một ô thí nghiệm
- Chiều dài rễ: Xếp chiều dài rễ mạ dài 20 cm rồi cân được khối lượng a (gam), sau đó đem cân toàn bộ khối lượng rễ của mỗi cây được b (gam) Chiều dài rễ/cây = b/a x 2 (cm)
- Đường kính rễ: Lấy 10 cái rễ ngẫu nhiên xếp xít nhau rồi đem đo được kết quả là a (mm) Đường kính rễ = a/10 (mm) Nhắc lại 3 lần trên mỗi ô thí nghiệm
- Số lượng rễ trên cây: Lấy 5 cây mạ trên mỗi ô thí nghiệm rồi đếm số rễ trên mỗi cây mạ
pháp ngẫu nhiên ở độ sâu 0 - 15 cm, đem rửa sạch bùn đất, cho riêng rễ vào từng túi vải sau đó đem sấy khô đến khối lượng không đổi và đem cân
phương pháp ngẫu nhiên, cắt riêng rễ mạ, lá mạ lấy phần thân mạ đem phơi sấy khô rồi cân