2. Mục đích nghiên cứu của đề tài: Xác định năng lực cần có để trả lời câu hỏi và biện pháp sử dụng câu hỏi để rèn kỹ năng đó cho học sinh qua dạy học phần “sinh học vi sinh vật” góp phần đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. 3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu: 3.1. Đối tượng nghiên cứu. Các biện pháp rèn cho học sinh kỹ năng trả lời câu hỏi thông qua day học phần “sinh học vi sinh vật” – Sinh học 10 – THPT. 3.2. Khách thể nghiên cứu. Học sinh lớp 10 THPT ở một số trường THPT Vĩnh Yên Vĩnh Phúc. 4. Gỉa thuyết khoa học: Xác định tốt cấu trúc kỹ năng trả lời câu hỏi thì sẽ rèn được cho học sinh kỹ năng trả lời câu hỏi thông qua dạy học phần sinh học vi sinh vật – sinh học 10 – THPT. 5. Nhiệm vụ nghiên cứu 5.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc rèn cho học sinh kỹ năng trả lời câu hỏi. 5.2. Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc xây dựng câu hỏi và rèn cho học sinh kỹ năng trả lời câu hỏi. 5.3. Xác định thực trạng của vấn đề trả lời câu hỏi của học sinh hiện nay trong dạy học sinh học 10 – THPT. 5.4. Xác định cấu trúc kỹ năng trả lời câu hỏi cần có và các tiêu chí đánh giá kỹ năng đó ở HS THPT. 5.5. Phân tích mục tiêu, cấu trúc, nội dung phần sinh học vi sinh vật 5.6. Xác định các biện pháp rèn cho học sinh kỹ năng trả lời câu hỏi qua dạy học phần “sinh học vi sinh vật” sinh học 10– THPT 5.7. Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra hiệu quả của các biện pháp sử dụng câu hỏi đã đề xuất.
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
1.1 Xuất phát từ mục tiêu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá với mục tiêuđến năm 2020 Việt Nam sẽ trở thành một nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồngquốc tế Để thực hiện được mục tiêu này Đảng ta đã xác định con người - nguồn nhânlực được phát triển về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nângcao là nhân tố quyết định tới sự thắng lợi của mục tiêu Để phát triển được nhân tố conngười thì trước hết cần được bắt đầu từ GD đặc biệt là GD phổ thông Vì vậy, tháng 06
2012, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt "Chiến lược phát triển giáo dục 2011 2020" với mục tiêu tổng quát đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản
-và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa -và hội nhập
quốc tế, chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện [ 1 ].
1.2 Xuất phát từ những yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.
Muốn thực hiện được chiến lược phát triển GD trên thì phải đổi mới PPDH, màđổi mới PPDH lại được coi là mục tiêu trọng tâm của đổi mới GD phổ thông Chỉ cóđổi mới căn bản PPDH mới có thể tạo được sự đổi mới thật sự trong GD nhằm đào tạođược lớp người năng động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnhnhiều nước trên thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức Tri thức là vô tận, kiếnthức của từng người thì có hạn Với tốc độ gia tăng tri thức như hiện nay: “Tri thức cứ
7 năm lại tăng gấp 2 lần…” [ 2 ] thậm chí gần đây có ý kiến cho rằng, cứ trong vòng 2
- 3 năm, lượng tri thức của nhân loại lại tăng gấp đôi
Vì vậy nội dung DH ở nhà trường phổ thông sẽ không thể trang bị được mọi trithức cần thiết cho mỗi người ở các lĩnh vực hoạt động khác nhau sau này, mà phải coitrọng việc dạy phương pháp, dạy cách đi tới tri thức mà loài người đã tích luỹ được,cách vận dụng và vận dụng sáng tạo tri thức vào giải quyết các tình huống xảy ra trongthực tiễn cuộc sống Khi đứng trước một vấn đề, một câu hỏi, một tình huống ngườihọc cần phải có kỹ năng để giải quyết vấn đề, câu hỏi hay tình huống đó một cách chủđộng, sáng tạo thì mới có thể thích ứng với sự phát triển của xã hội hiện nay
1.3 Xuất phát từ vai trò của việc trả lời câu hỏi trong giai đoạn hiện nay.
Trong đổi mới phương pháp dạy học, GV không đứng trên bục giảng mà “rót”tri thức vào đầu HS, và HS không chỉ “lĩnh hội” tri thức, mà GV cần phải hướng dẫn
HS cách chiếm lĩnh tri thức và HS tự lĩnh hội tri thức, có nghĩa là: GV chỉ trang bị cho
Trang 2HS chiếc “cần câu” tri thức để từ đó HS tự “câu” tri thức Muốn vậy GV cần phải đưa
ra các câu hỏi “mở” để tạo “môi trường” cho HS được “cọ xát” ngay trong tiết dạy.Loại câu hỏi “mở” này sẽ tạo được sự “bùng nổ” ở HS, đòi hỏi HS phải động não, phảitìm tòi, trao đổi và tìm ra phương án trả lời cụ thể Và từ những câu hỏi, câu trả lời cụthể trong tiết học, bài học mà từ đó HS hình thành nên “cách” chiếm lĩnh tri thức vàhình thành nên kỹ năng để trả lời câu hỏi, để giải quyết các tình huống trong thực tiễncuộc sống, đáp ứng được sự phát triển và không ngừng biến đổi của xã hội
Tuy nhiên theo nghiên cứu của nhiều nhà tâm sinh lí, lứa tuổi HS THPT hiệnnay có hiểu biết nhiều hơn, linh hoạt và thực tế hơn so với các thế hệ cùng lứa tuổitrước đây mấy chục năm Ở lứa tuổi này nảy sinh yêu cầu: Lĩnh hội độc lập các tri thức
và phát triển kĩ năng Nhưng các kĩ năng học tập, đặc biệt là kĩ năng trả lời câu hỏi ở
HS nếu muốn được hình thành và phát triển một cách có chủ động thì cần thiết phải cóhướng dẫn của GV
Như vậy việc hướng dẫn HS trả lời câu hỏi là phù hợp với tâm sinh lí, lứa tuổi
HS THPT hiện nay và không chỉ có vai trò giúp HS tự lĩnh hội được tri thức ngay trongbài học, tiết học mà còn định hướng để HS tự học ở những bài tiếp theo, tự học suốtđời Và đặc biệt là hình thành kỹ năng để người học giải quyết các tình huống xảy ratrong thực tiễn cuộc sống
1.4 Xuất phát từ thực trạng dạy học sinh học và vấn đề về kỹ năng trả lời câu hỏi của học sinh ở trường THPT hiện nay
Hiện nay ở hầu hết các trường phổ thông, trong quá trình DH, mà cụ thể là dạyhọc môn sinh học, nhiều GV không có phương pháp hướng dẫn HS trả lời câu hỏi đúngcách nên vừa không hình thành được các kĩ năng cần có cho HS khi trả lời câu hỏi, vừatạo nên thói quen trả lời câu hỏi một cách “tuỳ tiện” Một số GV lại coi SGK là cuốn
“Bách khoa toàn thư”, coi đó là chuẩn mực nên khi DH chỉ sử dụng các CH, BT là cáccâu lệnh có sẵn trong SGK, và HS chỉ cần nhìn vào SGK để đọc lại y nguyên một nộidung nào đó là có thể trả lời được Một số rất ít GV có hướng dẫn HS kỹ năng trả lờicâu hỏi, nhưng các CH đưa ra chưa đạt yêu cầu hoặc chưa được sử dụng đúng cách nênchưa hình thành được ở HS kỹ năng trả lời câu hỏi, do vậy kết quả đạt được còn rất hạnchế
Với HS các em được tiếp xúc với câu hỏi và tự mình trả lời các câu hỏi từ rấtsớm, nhưng đa phần các em đều không quan tâm tới việc hình thành cho mình một kỹnăng trả lời câu hỏi, mà chỉ quan tâm tới kết quả của câu trả lời mà các em đưa ra, dẫnđến khi gặp câu hỏi “tương tự” hoặc có “biến dạng” một chút là các em sử lí không
Trang 3nhanh nhậy và lúng túng khó khăn trong việc đi tới câu trả lời hoặc diễn đạt câu trả lờicủa mình Từ đó khi ra ngoài thực tế cuộc sống các em sẽ kém linh hoạt hơn trong việcqiải quyết các tình huống và đặc biệt là gặp khó khăn trong vấn đề tự học suốt đời củamình.
Từ các lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài:
“Rèn kỹ năng trả lời câu hỏi cho học sinh trong dạy học phần “Sinh học Vi sinh vật” – sinh học 10 THPT”.
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Xác định năng lực cần có để trả lời câu hỏi và biện pháp sử dụng câu hỏi để rèn
kỹ năng đó cho học sinh qua dạy học phần “sinh học vi sinh vật” góp phần đổi mớiphương pháp dạy học hiện nay
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu.
Các biện pháp rèn cho học sinh kỹ năng trả lời câu hỏi thông qua day học phần
“sinh học vi sinh vật” – Sinh học 10 – THPT
3.2 Khách thể nghiên cứu.
Học sinh lớp 10 - THPT ở một số trường THPT - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
4 Gỉa thuyết khoa học:
Xác định tốt cấu trúc kỹ năng trả lời câu hỏi thì sẽ rèn được cho học sinh kỹnăng trả lời câu hỏi thông qua dạy học phần sinh học vi sinh vật – sinh học 10 – THPT
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc rèn cho học sinh kỹ năng trả lời câu hỏi 5.2 Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc xây dựng câu hỏi và rèn cho học sinh kỹ năngtrả lời câu hỏi
5.3 Xác định thực trạng của vấn đề trả lời câu hỏi của học sinh hiện nay trong dạyhọc sinh học 10 – THPT
5.4 Xác định cấu trúc kỹ năng trả lời câu hỏi cần có và các tiêu chí đánh giá kỹnăng đó ở HS THPT
5.5 Phân tích mục tiêu, cấu trúc, nội dung phần sinh học vi sinh vật
5.6 Xác định các biện pháp rèn cho học sinh kỹ năng trả lời câu hỏi qua dạy họcphần “sinh học vi sinh vật”- sinh học 10– THPT
5.7 Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra hiệu quả của các biện pháp sử dụng câu hỏi
đã đề xuất
Trang 4Điều tra và thực nghiệm tại trường THPT Trần Phú - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc.
7 Phương pháp nghiên cứu.
Sử dụng phối hợp các phương phát nghiên cứu sau:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết.
- Nghiên cứu các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo
về đổi mới PPDH
- Nghiên cứu các tài liệu về PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động người học,
đặc biệt là hình thành và phát triển kỹ năng trả lời câu hỏi cho HS
- Nghiên cứu các tài liệu lí luận về xây dựng và sử dụng CH để rèn cho HS kỹ năng
trả lời câu hỏi
- Nghiên cứu cấu trúc và nội dung chương trình Sinh học 10- THPT, đặc biệt làphần “Sinh học vi sinh vật”, kết hợp nghiên cứu các tài liệu chuyên môn khác về VSV
để xác định năng lực cần có và các biện pháp sử dụng CH rèn cho HS kỹ năng trả lờicâu hỏi có hiệu quả
7.2 Phương pháp điều tra, quan sát sư phạm
- Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu tình hình và phương pháp rèn kỹ năng trả lờicâu hỏi cho HS trong DH sinh học nói chung và phần VSV nói riêng của GV THPT
- Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu kỹ năng trả lời câu hỏi của HS trong học tậpmôn sinh học 10 của HS THPT
- Trực tiếp dự giờ, thăm lớp, kiểm tra kết quả việc rèn kỹ năng trả lời câu hỏi choHS
- Quan sát sư phạm để kiểm tra hứng thú, mức độ tích cực học tập của HS
7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
- Mục đích thực nghiệm:
Xác định tính khả thi và kiểm tra hiệu quả của các biện pháp sử dụng CH để rèn
kỹ năng trả lời câu hỏi cho HS qua dạy học phần “ Sinh học Vi sinh vật ” - Sinh học 10THPT
Trang 5* Phân tích, đánh giá định lượng các bài kiểm tra
Chúng tôi đã sử dụng thống kê toán học để xử lí kết quả chấm các bài kiểm tranhằm giúp cho việc đánh giá hiệu quả dạy học của các phương pháp, biện pháp màluận văn đã đề xuất đảm bảo tính khách quan và chính xác
Trình tự được tiến hành như sau:
- Lập bảng thống kê cho cả 2 nhóm lớp ĐC và TN theo mẫu:
Trong đó: n: Số HS (hay số bài kiểm tra) của các lớp ĐC hoặc TN
xi: Điểm số theo thang điểm 10
ni: Số HS (hay số bài kiểm tra) có điểm số là xi
Trang 6- Cv% từ 0-10%: dao động nhỏ, độ tin cậy cao.
- Cv% từ 10-30%: dao động trung bình, độ tin cậy trung bình
- Cv% từ 30-100%: dao động lớn, độ tin cậy nhỏ
Giá trị tới hạn của td là tα tra bảng phân phối Student với α = 0,05 bậc tự do f =
n1 + n2 - 2 Nếu ׀td׀≥ tα thì sự sai khác của các giá trị trung bình TN < ĐC là có ý nghĩa Trong đó:
- S1 , S2: Phương sai thực nghiệm của lớp ĐC và TN
-X X1, 2: Điểm trung bình của lớp ĐC và TN
* Phân tích, đánh giá định tính
Phân tích chất lượng bài kiểm tra của HS để thấy rõ:
+ Về kỹ năng trả lời câu hỏi của HS
+ Về khả năng lưu giữ thông tin (độ bền kiến thức) và mức độ linh hoạt, nhanhnhậy của HS
8 Đóng góp mới của đề tài
- Xác định được cấu trúc kỹ năng trả lời câu hỏi
- Đưa ra các biện pháp để rèn kỹ năng trả lời câu hỏi của học sinh thông qua dạyhọc phần sinh học vi sinh vật – sinh học 10 – THPT
Trang 7PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu.
1.1.1 Trên thế giới
Từ thế kỉ 17 – 18, ở các nước châu Âu, các nhà GD nổi tiếng như Comenski, J.J.Rousseau cũng đã có những quan điểm phải đưa ra những biện pháp DH hướng HS tìmtòi suy nghĩ, khám phá, sáng tạo, tích cực tự đánh giá kiến thức Những quan điểm nàychỉ rõ: không nên cho HS kiến thức có sẵn mà cần phải cho HS tự phát minh ra, tự bồidưỡng tinh thần độc lập trong quan sát, đàm thoại và trong việc ứng dụng vào thựctiễn [13]
Cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20, do nhu cầu đòi hỏi nguồn nhân lực ngày càng cao
để đáp ứng sự phát triển kinh tế, xã hội, nên GD ở các nước châu Âu và Mỹ đã đi đầutrong việc DH phải kích thích được hứng thú, sự độc lập tìm tòi, phát huy sáng tạo của
HS, thầy giáo chỉ là người thiết kế, người cố vấn, HS tự khám phá tri thức.dạy học pháthuy tình tích cực, sáng tạo của người học Ở Hoa Kì, ý tưởng DH cá nhân hoá ra đờitrong những năm 1970 đã được thử nghịêm tại gần 200 trường GV xác định mục tiêu,cung cấp các phiếu hướng dẫn để HS tiến hành công việc độc lập theo nhịp độ phù hợpvới năng lực [36]
Theo tác giả T.A.llina đã xem việ thực hành các kỹ năng như một PPDH tích cựcgiúp HS hiểu sâu bài học và phát huy được tính độc lập sáng tạo của mình Trong tácphẩm này ông đề cập tời nhiều kỹ năng thực hành của HS như: Kỹ năng làm việc vớiSGK, kỹ năng học tập ở phòng thí nghiệm, kỹ năng luyện tập, ôn tập…Và ông nhấn mạnhviệc luyện tập, ôn tập, làm bài bằng sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt chính là một dạng thựchành Đậy cũng là một phần trong kỹ năng trả lời câu hỏi của HS, tuy vậy ông không đisâu vào việc rèn kỹ năng trả lời câu hỏi cho HS [47] Cũng như tác giả T.A llina thì tácgiả H.V.Sanvin đã khẳng định rõ mục đích, ý nghĩa của các hoạt động thực hành trong dạyhọc, nhưng ông không đi sâu vào việc phân loại các dạng thực hành và làm thế nào để rènluyện kỹ năng thực hành cho HS, đặc biệt là kỹ năng trả lời câu hỏi cho HS [46]
Như vậy các nhà GD nước ngoài khi nghiên cứu về vấn đề rèn kỹ năng trả lời câuhỏi cho HS hầu hết họ quan tâm tới hoạt động thực hành nói chung mà chưa chú trọng đisâu vào vai trò, sự cần thiết cũng như các bước để rèn kỹ năng này cho HS
Trang 81.1.2 Trong nước
Từ lâu nay chắc ít nhiều chúng ta cũng nghe nói tới việc rèn kỹ năng giao tiếp,rèn kỹ năng trả lời phỏng vấn, kỹ năng nói, kỹ năng viết, kỹ năng thực hành … tất cả
đó chỉ là một khía cạnh của kỹ năng trả lời câu hỏi Về vấn đề này, trong nước có:
Luận án PTS của tác giả Đinh Quang Báo (1981): “Sử dụng câu hỏi, bài tập trong dạy học sinh học” đã nghiên cứu, xây dựng một cách có hệ thống những cơ sở lí
thuyết về việc sử dụng CH, BT trong DHSH [3]
Luận án tiến sỹ của tác giả Lê Thanh Oai (2003): “Sử dụng câu hỏi, bài tập để tích cực hoá hoạt động của HS trong dạy học sinh thái học 11- THPT” là công trình
nghiên cứu có hệ thống từ cơ sở lí luận đến việc thực hiện đề xuất các nguyên tắc vềqui trình xây dựng và sử dụng CH, BT, từ đó định hướng cho GV về phương pháp, kĩnăng thiết kế CH, BT trong tất cả các khâu của quá trình lên lớp.[33]
PGS TS Lê Đình Trung: chuyên đề: “Câu hỏi, bài tập trong dạy học sinh học”
(Tài liệu dành cho học viên sau đại học) [39]
Ngoài ra còn nhiều tài liệu, luận văn thạc sỹ của nhiều tác giả cũng nghiên cứu
về xây dựng và sử dụng CH, BT để dạy các phần khác nhau của Sinh học phổ thônghoặc nghiên cứu về vấn đề CH, BT nhưng chưa đi sâu vào việc hướng dẫn, rèn luyện
HS kỹ năng trả lời câu hỏi
Gần đây có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về một khía cạnh của kỹ năng trảlời câu hỏi cho HS như:
+ Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thu Vân (2008): “Rèn luyện kỹ năng diễn đạt kiến thức cho HS trong dạy học – Sinh học 11” [40 ]
+ Luận văn thạc sĩ của Ngô Thị Hồng Thuý (2012): “Xây dựng và sử dụng các bài tập rèn luyện kỹ năng diễn đạt nội dung cho HS trong dạy học sinh học vi sinh vật – Sinh học 10 THPT” [42 ]
+ Nguyễn Thị Ngọc Bích, 2012 Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục: Rèn kỹ năng diễn đạt viết cho học sinh Thanh Liêm tỉnh Hà Nam trong dạy học lịch sư thế giới cổ đại và trung đại lớp 10 THPT chương trình chuẩn Đại Học Giáo Dục Hà Nội.
[5]
Trong tất cả các kết quả nghiên cứu của mình, các tác giả đều khẳng định: cầnphải rèn luyện cho HS kỹ năng diễn đạt, đây chỉ là bước cuối trong việc rèn kỹ năng trảlời câu hỏi cho HS Từ các thành công này của các tác giả sẽ được chúng tôi nghiêncứu, kế thừa
Trang 91.2 Cơ sở lý luận của đề tài.
1.2.1 Khái niệm về kỹ năng trả lời câu hỏi
1.2.1.1 Khái niệm về kỹ năng
Kỹ năng là một vấn đề được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và đưa ra cácquan niệm khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu
Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê chủ biên, kỹ năng được khái niệm là:
“Khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế ” [35]
Theo GS Trần Bá Hoành phân tích kỹ năng theo gốc Hán - Việt: “kỹ” là sựkhéo léo, “năng” là khả năng vận dụng những tri thức thu nhận được trong một lĩnhvực nào đó vào thực tiễn Kỹ năng đạt tới mức hết sức thành thạo , khéo léo thì trởthành kỹ xảo [21, tr18]
Theo luận án thầy Nguyễn Văn Hiền: “Kỹ năng là khả năng của chủ thể có được qua đào tạo, rèn luyện để thực hiện một cách linh hoạt các hoạt động với kết quả tốt” [20].
Theo các tài liệu tâm lí học, giáo dục học có nhiều ý kiến khác nhau về kỹ năng
nữa, xong có thể hiểu: “Kỹ năng là khả năng chuyên biệt của một cá nhân về khía cạnh nào đó, được sử dụng để qiải quyết tình huống hay công việc phát sinh trong thực tiễn cuộc sống”
* Các bước để rèn luyện kỹ năng:
Việc hình thành và rèn luyện kỹ năng nói chung và kỹ năng trong dạy học sinhhọc nói riêng đều phải trải qua các bước nhất định tuỳ thuộc và nhóm kỹ năng và đốitượng nghiên cứu Theo tác giả Trần Quốc Thành thì có 3 giai đoạn hình thành kỹnăng, một số tác giả khác lại cho rằng có 5 hoặc 6 giai đoạn hình thành kỹ năng TheoK.K.Platonov, G.G.Golubev có 5 giai đoạn hình thành kỹ năng:
Giai đoạn 1: ý thức được mục đích hành động, biết được cách thức thực hiện hành
động dựa trên vốn hiểu biết đã có
Giai đoạn 2: Biết cách làm nhưng chưa thành thạo, có thể hiểu biết phương thức hành
động, sử dụng được những kỹ năng đã có
Giai đoạn 3: Có hàng loạt kỹ năng nhưng còn mang tính riêng lẻ, chưa kết hợp được
với nhau
Giai đoạn 4: Có kỹ năng phát triển, có sự phối hợp và sử dụng vốn hiểu biết về các kỹ
năng đó Biết lựa chọn kỹ năng phù hợp với mục đích
Trang 10Giai đoạn 5: Tay nghề cao, sử dụng thành thạo, sáng tạo, kết hợp nhuần nhuyễn các
kỹ năng hình thành kỹ xảo
Trong dạy học để hình thành kỹ năng trả lời CH cho HS, chúng tôi thống nhấtcác bước sau:
Bước 1: Giới thiệu cho HS hiểu biết về các bước thực hiện kỹ năng
Bước 2: GV làm mẫu theo các bước như đã nêu ở bước 1.
Bước 3: Cho HS tự trả lời CH dưới sự kèm cặp, giám sát của GV.
Bước 4: Ra các câu hỏi, bài tập nâng dần độ phức tạp của các kỹ năng đó, trong
đó ứng dụng cho HS ở các tình huống khác nhau và nâng cao dần mức độ khó của cáctình huống (đại lượng tăng dần độ khó mhư: Tăng số lượng đối tượng so sánh, hoặc
GV làm hộ một phần rồi đến gợi ý, đến HS tự làm…) để HS thực hành và luyện tập
Bước 5: GV có sự chỉnh lí, đánh giá.
Bước 6: HS tự thực hiện toàn bộ các bước của kỹ năng dưới dạng vận dụng và
vận dụng sáng tạo
Với kỹ năng trả lời câu hỏi của HS cũng phải trải qua các giai đoạn hình thành,
để HS sử dụng thành thạo thành kỹ năng thì cần phải rèn luyện ở các mức độ khácnhau phù hợp với trình độ nhận thức của HS Vấn đề này sẽ được đề cập trong chương2: Rèn kỹ năng trả lời câu hỏi cho HS
1.2.1.2 Khái niệm về câu hỏi và trả lời câu hỏi
* Khái niệm câu hỏi.
Hỏi: Là nêu ra điều mình muốn người khác trả lời về một vấn đề nào đó
CH: Theo Aristotle – người đầu tiên phân tích CH dưới góc độ logic: “CH là một mệnh
đề trong đó chứa đựng cả cái đã biết và cái chưa biết CH đó là những bài làm mà khihoàn thành chúng, HS phải tiến hành hoạt động tái hiện, bất luận là trả lời miệng, trảlời viết hoặc có kèm theo thực hành hoặc xác minh bằng thực nghiệm” [39] [37].Theo GS Trần Bá Hoành: CH kích thích tư duy tích cực là CH đặt ra trước HS mộtnhiệm vụ nhận thức, khích lệ và đòi hỏi họ cố gắng trí tuệ cao nhất, tự lực tìm ra câutrả lời bằng cách vận dụng các thao tác tư duy so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quáthoá qua đó lĩnh hội kiến thức mới và được tập dượt phương pháp nghiên cứu, phươngpháp giải quyết vấn đề có được niềm vui của sự khám phá.[26]
Ngoài ra còn có một vài cách định nghĩa khác:
CH là một dạng cấu trúc ngôn ngữ để diễn đạt một yêu cầu, một mệnh lệnh, một đòihỏi cần giải quyết
Trang 11CH là một hình thức của tư duy, là một sản phẩm của tư duy (tương ứng với mộtkhái niệm, một quy luật, một định lí).
Nhìn chung, các định nghĩa CH nổi bật mấy dấu hiệu chính sau:
+ Dấu hiệu bản chất của CH là đều có hai vế: vế đã cho và vế cần tìm
+ Hạt nhân của câu hỏi là sự xung đột
+ Hình thức ngôn ngữ của CH là một mệnh đề nghi vấn hay được diễn đạt bằng mộtngữ điệu đặc trưng phân biệt nó với những hình thức ngôn ngữ khác
* Câu hỏi rèn kỹ năng trả lời câu hỏi:
Câu hỏi rèn kỹ năng trả lời câu hỏi: Là một dạng câu hỏi, mà nó định hướngphương pháp dạy học cho người dạy nhằm đạt tới kết quả là rèn được kỹ năng trả lờicâu hỏi cho HS
Theo John Dewey: “Biết đặt câu hỏi tốt là điều kiện rất cốt lõi để dạy tốt” vì vậy đểrèn cho HS kỹ năng trả lời câu hỏi thì cần phải xây dựng hệ thống các câu hỏi rèn kỹnăng trả lời câu hỏi cho HS có chất lượng
Để đạt được mục tiêu rèn kỹ năng trả lời câu hỏi cho HS, khi xây dựng câu hỏi phảituân theo các yêu cầu sau:
**Về cấu trúc:
Gồm hai vế: Vế đã biết (đã cho) và vế chưa biết (vế cần tìm)
+ Vế đã cho bao gồm:
- Những thông tin, kiến thức có trong SGK ngay ở bài học hiện tại hoặc bài cũ,
- Các ví dụ, hình vẽ, thí nghiệm, cụm từ cho trước (đều quen thuộc với HS)
+ Vế cần tìm bao gồm:
- Những từ, cụm từ thích hợp điền vào bẳng, chỗ trống, hình vẽ
- Xác định bản chất, dấu hiệu của khái niệm
- Mô tả, ghi chú, phân tích hình vẽ
- Phát biểu quy luật, hiện tượng
- Lập bảng so sánh, lập sơ đồ hoá
- Giải thích hiện tượng, thí nghiệm, mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng
- tóm tắt nội dụng
** Về nguyên tắc khi xây dựng:
Khi xây dựng câu hỏi rèn kỹ năng trả lời câu hỏi cho HS phải quán triệt các nguyêntắc sau:
Trang 12- Quán triệt mục tiêu dạy học: Để có câu hỏi tốt GV luôn phải bám sát mục tiêutổng quát và mục tiêu cụ thể cho vấn đề mà HS phải đạt được, từ mục tiêu ấy GV biết
HS cần học cái gì và ra câu hỏi phù hợp
- Phát huy tính tích cực: Câu hỏi phải vừa sức, phù hợp với tâm sinh lí HS, có tính
kế thừa nhưng phải phát huy được tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của HS.-Tính chính xác, khoa học: Nội dung hỏi, cách diễn đạt câu hỏi phải chính xác, xúctích, khoa học, hỏi đúng cái cần hỏi, giúp HS tìm tòi và phát hiện được nội dung họctập
- Đảm bảo nguyên tắc hệ thống: Các câu hỏi khi đưa vào sử dụng phải được sắpxếp lôgic, hệ thống theo nội dung học tập và theo hoạt động tư duy của HS
- Đảm bảo tính thực tiễn: “học đi đôi với hành”, câu hỏi phải gắn lý thuyêý với thựctiễn để rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức của HS
- Đảm bảo các yêu cầu sư phạm như: Câu hỏi phải chứa đựng mâu thuẫn, phù hợpnội dung bài học, đi từ dễ đến khó, mang tính hệ thống, vừa sức với HS, phát huy tínhtích cực, sáng tạo…
- Chứa đựng cách thức tổ chức họat động tự lực của HS mà khi làm việc trả lời câuhỏi HS hình thành và phát triển kỹ năng trả lời câu hỏi
**Quy trình thiết kế:
Bước 1: Xác định rõ và đúng cái cần hỏi.
Bước 2: Liệt kê những cái cần hỏi và những cái cần biết có thể có
để qiải quyết những cái cần hỏi, theo trình tự phù hợp với các hoạt động học tập
Bước 3: Diễn đạt câu hỏi.
Bước 4: Thử trả lời câu hỏi.
Bước 5: Chỉnh sủa lại nội dung, hình thức câu hỏi để đưa vào sử dụng.
** ý nghĩa của câu hỏi rèn kỹ năng trả lời câu hỏi.
Ngoài ý nghĩa chung của câu hỏi trong dạy học thì câu hỏi rèn kỹ năng trả lời câuhỏi còn có ý nghĩa như:
- Là phương tiện, cách thức “mã hoá” nội dung dạy học, biến hoạt động học thànhhoạt động “giải mã” qua đó hình thành và phát triển kỹ năng đặc biệt là kỹ năng trả lơìcâu hỏi
- Giúp HS phát triển tư duy, tích cực, chủ động trong việc lĩnh hội tri thức mới, là
cơ sở để HS tự học và học tập suôt đời
Trang 13- Giúp GV có phương tiện, phương pháp, biện pháp tổ chức dạy học, kiểm tra đánhgiá kết quả đạt được của mục tiêu dạy học, từ đó điều chỉnh quá trình học nhằm đạt kếtquả tốt nhất.
* Khái niệm về trả lời câu hỏi:
CH là một khái niệm rộng, vì nó đòi hỏi câu trả lời với lượng thông tin khác nhau,tính chất thông tin, thái độ, trạng thái tâm lí của người trả lời đối với thông tin đó cũngkhác nhau: Nó có thể mới, có thể không mới đối với người trả lời nên hoạt động tìmcâu trả lời sẽ khác nhau: Từ hoạt động nhớ lại đến hoạt động tìm tòi sáng tạo Tronggiới hạn đề tài chung tôi đưa ra khái niệm:
Trả lời câu hỏi là: Sử dụng cái đã biết (có thể sử dụng trực tiếp vế đã cho trong câu
hỏi hay phải qua cầu nối trung gian để tìm cái đã cho một cách gián tiếp) để tìm ra điềucần tìm thông qua các thao tác tư duy trong hoạt động tìm tòi
Hay đơn giản hơn, trả lời câu hỏi là: Sự giải quyết các xung đột trong câu hỏi, tìm
và đạt được cái mới, cái cần tìm để thoả mãn nhu cầu hiểu biết về đối tượng, tức là chủthể trả lời có được tri thức về đối tượng đó
1.2.1.3 Kỹ năng trả lời câu hỏi.
* Khái niệm về kỹ năng trả lời câu hỏi.
Nói về kỹ năng hay câu hỏi thì có rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và đưa
ra quan điểm của mình, nhưng kỹ năng trả lời câu hỏi lại có rất ít tác giả quan tâmnghiên cứu hoặc không đi sâu nghiên cứu Vì vậy trong giới hạn của đề tài chúng ta có
thể hiểu kỹ năng trả lời câu hỏi là: “ Khả năng chuyên biệt của mỗi cá nhân bằng cách vận dụng những tri thức, những hiểu biết, những kinh nghiệm của mình vào việc tìm giải đáp cho câu hỏi trong đó chứa đựng tri thức mới đối với người trả lời về một đối tượng nhận thức”.
Trả lời CH thực chất là hoạt động tìm tòi, khám phá cái mới đối với người trảlời ở các mức độ sáng tạo khác nhau Vì vậy trả lời CH ở mức độ nhất định cũng phảicần những hoạt động tương tự hoạt động nhiên cứu khám phá Vì vậy để trả lời được
Trang 14* Các kỹ năng cần có của HS để thực hiện được kỹ năng trả lời câu hỏi.
+ Kỹ năng đọc hiểu câu hỏi:
Kỹ năng đọc hiểu câu hỏi là khả năng vận dụng bản chất của câu hỏi để tách rađược 2 vế trong câu hỏi (vế đã cho và vế cần tìm), hoặc tìm ra “xung đột” trong câu hỏi
từ đó định hướng ra biện pháp giải quyết “xung đột” hoặc vế cần tìm
Việc tìm ra 2 vế của câu hỏi là rất quan trọng trong việc tìm ra phương án trả lờicâu hỏi, điều này đòi hỏi HS không chỉ đọc câu chữ mà phải hiểu từng câu từng chữtrong câu hỏi, tìm ra những câu, những từ “bản chất”, “cốt lõi” của câu hỏi, phân táchcâu hỏi thành hai vế, vế đã cho và vế cần tìm Tuy nhiên vế đã cho có thể thể hiện ngaytrong câu hỏi nhưng cũng có thể không thể hiện trực tiếp trong câu hỏi mà phải qua cầulối trung gian nào đó Với mỗi cá nhân tại mỗi thời điểm khác nhau thì vế đã cho sẽkhông giống nhau, nó phụ thuộc vào vốn kiến thức của mỗi cá nhân HS tại từng thờiđiểm Tương tự như vậy vế cần tìm cũng khác nhau tuỳ từng câu hỏi, tuỳ từng thờiđiểm và tuỳ từng cá nhân mỗi HS Điều này đòi hỏi GV phải ra câu hỏi phù hợp với
HS, hướng dẫn HS hình thành kỹ năng đọc hiểu câu hỏi
Để có kỹ năng đọc hiểu câu hỏi cho HS, GV cần hướng dẫn HS theo các bước sau:
+ Bước 1: Đọc lướt nhanh toàn bộ câu hỏi, dùng bút ghạch chân hoặc đánh dấu vào
những từ, câu “cốt lõi”
+ Bước 2: Phân tách câu hỏi thành 2 vế, vế đã cho (đã biết) và vế cần tìm.
+ Bước 3: Tìm mối quan hệ giữa vế đã cho và vế cần tìm, huy động vốn kiến thức của
cá nhân, định ra các hướng tìm vế cần tìm
+ Kỹ năng huy động vốn kiến thức cá nhân:
Tức là bước thu thập, xử lí nguồn thông tin, dữ liệu cần cho việc giải đáp CH,nguồn thông tin đó có thể lấy từ nhiều nguồn khác nhau như SGK, mạng iternet vànhiều tài liệu khác Đối với HS THPT thì nguồn thông tin chủ yếu từ SGK Và kỹ năngnghiên cứu SGK cũng là chung cho việc khai thác các nguồn tài liệu khác
Kỹ năng nghiên cứu SGK.
Hiện nay HS có nhiều cơ hội để tiếp thu tri thức của nhân loại không chỉ qua SGK mà HS có thể tiếp thu tri thức thông qua nhiều nguồn như: qua báo chí, qua internet… Mặc dù vậy SGK vẫn là nguồn tri thức chính thống, có tính chính xác cao, được cô đọng, đúc kết SGK không còn là quấn “bách khoa toàn thư” nữa nhưng nó vẫn có vai trò định hướng cả quá trình dạy và quá trình học Vì vậy việc hình thành kỹ năng nghiên cứu SGK là rất cần thiết, nó không chỉ giúp HS tự lĩnh hội tri thức của SGK mà còn giúp các em có năng lực để tự học suốt đời
Trang 15Kỹ năng nghiên cứu SGK là khả năng HS biết định hướng, xử lý và chọn lọc rađược những thông tin chính, bản chất từ nội dung kiến thức trình bày trong SGK đểgiải quyết mục tiêu học tập.
Các hoạt động cấu thành kỹ năng nghiên cứu SGK:
- Xác định mục tiêu nghiên cứu SGK:
Hiện tại SGK không trình bày mục tiêu, vì vậy để HS tiết kiệm được thời gianthì trước khi cho HS nghiên cứu SGK, GV cần giúp HS xác định được mục tiêu chungcủa bài và gợi ý để HS tiếp tục xác định các mục tiêu cụ thể thông qua các câu hỏi, cáclệnh trong phiếu học tập, bài tập… không chỉ khi dạy bài mới mà ngay trong phầnchuẩn bị bài mới, từ việc biết được mục tiêu HS sẽ định hướng được mình đọc để làmgì?, để qiải quyết vấn đề gì?
- Đọc, thu nhận và xử lí thông tin:
Khi đã nắm vững mục tiêu bài học, HS tiến hành làm việc với sách bằng việcđọc lướt sau đó đọc kĩ Để chuẩn bị cho bài học mới, GV thường yêu cầu HS đọc trướcbài trong SGK, nhưng rất ít GV quan tâm hướng dẫn khâu này Khi GV yêu cầu HSđọc lướt qua để nắm bắt nội dung chính, tổng quát của bài sau đó mới yêu cầu đọc chitiết thì HS mới hiểu sâu xắc vấn đề và nhìn vấn để toàn diện hơn
Đọc SGK xong HS phải biết ghi nhớ những điểm quan trọng trong thì kiến thứcthu nhận mới có giá trị Muốn làm được điều đó, HS phải có cách thu nhận thông tinđọc được bằng các cách khác nhau như: Đánh dấu vào những chỗ quan trọng trongsách, trích ghi, ghi tóm tắt, lập dàn ý, đề cương… Kĩ năng ghi chép thông tin khi làmviệc với SGK rất quan trọng vì nó giúp người đọc tiết kiệm được rất nhiều thời gian,nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc Kĩ năng ghi chép thông tin thể hiện ở một
số mặt sau: Đánh dấu vào SGK => Lập dàn ý => Đề cương => Trích ghi và ghi tómtắt Trích và ghi tóm tắt là những cách ghi chép thông tin phổ biến và cũng rất quantrọng Ghi tóm tắt và ghi đại ý là một cách ghi tổng hợp mang tính khoa học cao nhất,đòi hỏi các thao tác tư duy của người học như: phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, hệthống hoá…
Sau khi thu nhận nguồn thông tin từ SGK HS cần phải xử lí thông tin ấy Kỹ
năng xử lí thông tin qua kênh hình, kênh chữ từ SGK là: “Khả năng sử dụng các thông
tin thu nhận được vào việc giải quyết các mục tiêu học tập” Căn cứ vào mục tiêu họctập, HS nghiên cứu kĩ lại những chỗ đánh dấu hoặc đã ghi chép được trong những lầnđọc trước Khi nghiên cứu, HS cần phối hợp thu nhận thông tin từ 3 kênh: chữ, số, vàhình và phân loại chúng Đó là sự phân tích thông tin để xác định được các ý chính,
Trang 16phụ, ý trọng tâm, loại bỏ các ý rườm rà ít có giá trị thông tin, xác định mối liên hệ giữacác ý để khu biệt các nhóm ý rồi tổng hợp và khái quát chúng thành các khái niệm, quiluật hay học thuyết, hoặc nội dung cơ bản của phần tài liệu và ghi nhớ chúng trên nềnthông hiểu.
Tất cả các thao tác nói trên đều được diễn ra bằng các thao tác tư duy, ngôn ngữ.Sau khi các tri thức quan trọng nhất đã được chọn lọc nhằm giải quyết mục tiêu bàihọc, các tri thức này cần được sắp xếp theo một logic chặt chẽ nhằm trả lời các CH,BT… Mà GV yêu cầu thông qua cách hiểu của mình, ngôn ngữ của mình chứ khôngphải đọc lại nội dung một phần nào đó trong SGK
- Đưa kiến thức vào hệ thống kiến thức
Đưa kiến thức mới học được vào hệ thống kiến thức cũ sẽ giúp HS hiểu vấn đểmột cách đầy đủ, toàn vẹn, và logic qua đó HS có cơ hội ôn lại kiến thức cũ, làm tiền
đề để tiếp thu các kiến thức tiếp theo
Để thực hiện được kỹ năng nghiên cứu SGK HS cần có các thao tác tư duy như:Phân tích - Tổng hợp, đối chiếu – so sánh, khái quát hoá - trừu tượng hoá,
Mỗi cá nhân HS đều có khả năng tiếp thu tri thức từ rất nhiều nguồn khác nhau,không chỉ qua SGK để tạo cho mình một “kho tàng” tri thức riêng và thay đổi tuỳthuộc vào từng thời điểm, từng giai đoạn Từ “kho tàng” tri thức riêng ấy mỗi HS sẽđược đưa ra để sử dụng, để vận dụng vào qiải quyết các tình huống xảy ra trong cuộcsống Tuỳ từng tình huống, từng câu hỏi đặt ra mà lượng tri thức ra sẽ khác nhau nhưngđều nằm trong “kho tàng” tri thức của mình và đều có liên quan mật thiết tới tìnhhuống, tới câu hỏi cần giải quyết Đây gần như là bước liệt kê các tri thức liên quan tớivấn đề cần giải quyết Để làm được điều này HS cần phải có các thao tác tư duy như:Tái hiện, phân tích, tổng hợp, so sánh
Vậy kỹ năng huy động vốn kiến thức cá nhân là: “Khả năng người học đưa ranhững tri thức trong kho tàng tri thức cá nhân của mình liên quan trực tiếp tới tìnhhuống cần giải quyết nhằm qiải quyết tình huống ấy”
+ Kỹ năng vận dụng kiến thức
Sau khi huy động được nguồn kiến thức liên quan tới vấn đề hay câu hỏi cần
giải quyết thì người học phải biết chọn lọc, móc lối, các kiến thức ấy để đưa ra cáccách thức, các con đường, rồi lựa chọn con đường hay cách thức giải quyết vấn đề hợp
lý nhất, tối ưu nhất từ đó tiếp thu tri thức mới
Có thể hiểu: Kỹ năng vận dụng kiến thức là khả năng sử dụng các kiến thức thu nhậnđược để đưa ra lời giải đáp câu hỏi và thường có giá trị nhận thức, thực tiễn
Trang 17+ Kỹ năng diễn đạt câu trả lời.
Tất cả các vấn đề đặt ra trong học tập cũng như trong hoạt động thực tiễn saukhi qiải quyết xong đều cần được thể hiện hay diễn đạt thành câu trả lời HS có thểdiễn đạt câu trả lời bằng nhiều hình thức khác nhau như: bằng văn nói, văn viết, lậpbảng, biểu so sánh và sơ đồ hoá… nhưng cốt yếu phải là ngôn ngữ chính của HS, diễnđạt theo cách hiểu của HS chứ không phải là chép lại SGK hay của bạn, của nguyênbản các nguồn tin khác
Kỹ năng diễn đạt câu trả lời: Là khả năng thể hiện đúng nội dung theo đúng chủ
đề bằng sơ đồ, hình vẽ, lời mô tả…
Khi hình thành và phát triển diễn đạt câu trả lời sẽ có tác dụng rèn luyện và pháttriển các kĩ năng tư duy, đặc biệt là kĩ năng tự học: biết thu thập, xử lí thông tin, tổnghợp, khái quát hoá, hệ thống hoá lập bảng biểu, vẽ đồ thị, làm việc cá nhân hay làmviệc theo nhóm, làm báo cáo, kĩ năng ngôn ngữ ở mức độ cao, giúp HS lưu giữ thôngtin một cách vững chắc, tạo thuận lợi cho việc trình bày bằng lời trong thảo luận haykhi ôn tập để kiểm tra, thi cử
* Các bước rèn luyện kỹ năng trả lời câu hỏi.
Dựa vào cơ sở là các bước hình thành kỹ năng nói chung chúng tôi đưa ra cácbước mà HS phải thực hiện để trả lời CH và rèn luyện kỹ năng trả lời câu hỏi như sau:
Giai đoạn 1: Giai đoạn lý thuyết.
Bước 1: GV giới thiệu cho HS hiểu biết chung về các bước thực hiện kỹ năng
trả lời câu hỏi cho HS
+ Đọc hiểu câu hỏi
+ Huy động vốn kiến thức cá nhân liên quan tới câu hỏi
+ Vận dụng kiến thức để trả lời câu hỏi
+ Diễn đạt câu trả lời
Bước 2: GV làm mẫu theo các bước như đã nêu ở bước 1.
Giai đoạn 2: Thực hành, rèn luyện kỹ năng.
Bước 1: GV cho HS thực hiện kỹ năng trả lời câu hỏi dưới sự kèm cặp, giám sát
của GV với các câu hỏi, tình huống khó dần và mức độ kèm cặp, giám sát của GVgiảm dần
Bước 2: GV đánh giá, chỉnh lý.
Bước 3: HS tự thực hiện kỹ năng trả lời câu hỏi, tự đánh giá.
Giai đoạn 3: Vận dụng và vận dụng sáng tạo kỹ năng trả lời câu hỏi.
Trang 181.2.1.4 Vai trò của kỹ năng trả lời câu hỏi của HS trong dạy học
Trong GDPT, kỹ năng vừa là một trong ba mục tiêu của giáo dục, vừa là tiêu chí
để đánh giá kết quả của quá trình giáo dục nói chung và quá trình dạy học nói riêng
Để trả lời câu hỏi đòi hỏi HS phải nắm chắc kỹ năng trả lời câu hỏi, thậm chíphát triển kỹ năng này tới kỹ xảo Đó cũng là mục tiêu của việc rèn kỹ năng trả lời câuhỏi cho HS để HS tự tin trong cuộc sống, trong thi cử với kết quả cao
Có thể hiểu, tự trả lời câu hỏi là một phương pháp tự học, tự mình hoạt độnglĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành không có sự hướng dẫn của
GV Việc rèn luyện kỹ năng trả lời câu hỏi cho HS vừa là mục tiêu, nội dung và cũng
là phương pháp dạy học để giáo dục, rèn luyện, phát triển các kỹ năng nhận thức củaHS
Sống trong thời đại hiện nay, người học phải liên tục trả lời những câu hỏi,những thắc mắc từ những người xung quanh hay từ chính bản thân họ, để kịp thích ứngvới sự biến đổi không ngừng của cuộc sống, vì vậy việc trang bị cho họ những kỹnăng, đặc biệt là kỹ năng trả lời câi hỏi là rất cần thiết, từ đó người học khi ra cuộcsống mới có thể thích ứng được Gía trị sư phạm lớn nhất đạt được khi HS biết tự trảlời CH do chính mình đặt ra, vì tự vấn hàm chứa trong đó nhiều kỹ năng nhận thức
Từ năm 2006 tới nay môn Sinh thi đại học và cao đẳng đều thi theo hình thứctrắc nghiệm khách quan, đây cũng là một nguyên nhân khiến cho các em HS yếu dần đimột số kỹ năng trả lời câu hỏi mà vốn chỉ có được khi trả lời CH tự luận, các em chỉquan tâm tới kết quả mà ít hoặc không quan tâm tới việc trình bày vì sao ra kết quả đó,tức là bỏ qua bước diễn đạt câu trả lời, dẫn tới khi ra ngoài cuộc sống rất nhiều em trảlời “cụt ngủn”, không có “đầu”, “đuôi” và kết quả là giao tiếp không tốt Việc rèn kỹnăng trả lời câu hỏi cho HS giúp các em linh hoạt trong xử lý tình huống, linh hoạttrong giao tiếp, từ đó các em tự tin hơn và thành công hơn trong cuộc sống
=> Như vậy việc rèn cho HS kỹ năng trả lời câu hỏi là rất cần thiết
1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài.
1.3.1 Phương pháp xác định thực trạng
Để xác định thực trạng rèn kỹ năng trả lời câu hỏi cho HS trong dạy học sinhhọc nói chung và trong dạy học phần sinh học VSV nói riêng chúng tôi đã sử dụng cácphương pháp sau:
+ Sử dụng phiếu điều tra: Chúng tôi đã sử dụng phiếu điều tra để khảo sát với
50 GV sinh học đã và đang trực tiếp giảng dạy sinh học THPT thuộc 20 trường THPTcủa tỉnh Vĩnh Phúc năm học 2012- 2013
Trang 19Chúng tôi đã sử dụng phiếu điều tra để khảo sát với đối tượng là HS khối 10 củatrường THPT Trần Phú ở TP Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc năm học 2012- 2013
Chúng tôi đã thiết kế và sử dụng 2 phiếu điều tra (Phụ lục 1):
Phiếu số 1: Điều tra về phương pháp rèn kỹ năng trả lời câu hỏi cho HS và tìnhhình sử dụng phương pháp rèn kỹ năng trả lời câu hỏi cho HS trong dạy học sinh họccủa GV THPT (Phiếu dành cho GV)
Phiếu số 2: Điều tra về phương pháp học và kỹ năng trả lời câu hỏi của HS vớimôn sinh học THPT (Phiếu dành cho HS)
+ Dự giờ dạy và dạy thực nghiệm: Chúng tôi đã dự giờ của GV dạy sinh học ở
3 trường thực nghiệm nói trên và dạy thực nghiệm trên các lớp nghiên cứu
Ngoài ra chúng tôi còn tiến hành trao đổi, tham khảo bài soạn với GV bộ môn ở cả 3trường thực nghiệm
Kết quả điều tra được tóm tắt như sau:
1.3.2 Thực trạng của việc rèn kỳ năng trả lời câu hỏi cho HS ở trường THPT hiện nay và nguyên nhân của thực trạng
Qua điều tra việc sử dụng phương pháp dạy theo hướng rèn kỹ năng trả lời câuhỏi cho HS với 50 GV sinh học đã và đang trực tiếp giảng dạy sinh học THPT thuộc 20trường THPT của tỉnh Vĩnh Phúc năm học 2012- 2013, kết quả thu được như sau:
Trang 20Bảng 1.1: Kết quả điều tra về việc sử dụng biện pháp rèn kỹ năng trả lời câu hỏi cho HS và tình hình sử dụng các biện pháp rèn kỹ năng trả lời câu hỏi cho HS
trong dạy học sinh học của GV THPT:
xuyên
Khôngthườngxuyên
Không
sử dụng
1 Khi soạn bài, các thầy cô có chú ý đến mục
tiêu rèn luyện kỹ năng trả lời câu hỏi cho
HS ở mức độ nào?
2
Nếu có thì khi xây dựng các câu hỏi để
hướng dẫn HS rèn kỹ năng trả lời câu hỏi,
thì thầy cô xây dựng loại câu hỏi nào sau
Các câu hỏi về những loại kiến thức nào mà
HS thường chưa có kỹ năng trả lời?
4
Khi HS gặp khó khăn trong việc trả lời câu
hỏi thì các thầy cô hướng dẫn bằng cách
nào?
+ Đưa ra các câu hỏi phụ để gợi ý ra từng
vấn đề nhỏ
+ Giải thích, gợi mở, cung cấp thêm thông
tin liên quan đến CH
+ Dừng lại và trả lời toàn bộ đáp án 5 10 35 70 10 20
Qua kết quả bảng 1.1 cho thấy:
+ Mặc dù vẫn còn một số GV chưa chú trọng đến việc rèn kĩ năng kỹ năng trảlời câu hỏi cho HS nhưng hầu hết các GV khi soạn bài cũng đã thường xuyên chú ýđến mục tiêu rèn kỹ năng trả lời câu hỏi cho HS Điều này chứng tỏ đa số các GV đã
Trang 21nhận thức được việc phải đổi mới phương pháp và đang có những chuyển biến mớitrong cách dạy, hướng tới việc dạy cho học sinh “cách” học, trang bị cho HS các kỹnăng đặc biệt là kỹ năng trả lời câu hỏi.
+ Tuy nhiên khi xây dựng CH để rèn kỹ năng trả lời câu hỏi thì các GV thườngxuyên sử dụng các BT dạng tái hiện, trình bày lại dạng nội dung kiến thức, CH hiểu vàvận dụng không được sử dụng thường xuyên, rất nhiều GV chưa chú ý đến việc xâydựng CH sáng tạo thậm chí có GV chưa bao giờ sử dụng loại CH dạng đó đó chưaphát huy được khả năng tư duy sáng tạo, năng lực tự học của HS
+ Khi giảng dạy trên lớp, các CH, được sử dụng ở tất cả các khâu của quá trìnhdạy học những loại CH về các loại kiến thức cơ chế của quá trình, giải thích hiệntượng, vận dụng thì HS thường khó trả lời còn các kiến thức về khái niệm thì thường làkhông khó đối với HS Điều này dễ giải thích là do các khái niệm thường được in sẵntrong SGK Do đó, các GV thường hướng dẫn HS tự học loại kiến thức về khái niệmnhiều hơn là các kiến thức về cơ chế, hiện tượng, quá trình…
+ Việc hướng dẫn HS trả lời các CH khi học sinh gặp khó khăn thì nhiều GVcũng đã đưa ra các CH phụ để gợi ý ra từng vấn đề nhỏ Tuy nhiên vẫn còn tình trạngcác GV giải thích một phần, thậm chí giải thích toàn bộ luôn đáp án CH, không để HStiếp tục động não, đều này cũng dễ hiểu vì HS chưa có kỹ năng trả lời câu hỏi nên để
“chờ” HS tìm ra câu trả lời sẽ mất nhiều thời gian gây “cháy” giáo án của GV
Thông qua việc trao đổi, dự giờ, rút kinh nghiệm với GV chúng tôi nhận thấy đa
số GV đều đánh giá cao vai trò của việc rèn kỹ năng trả lời câu hỏi cho HS Song doảnh hưởng của lối dạy truyền thống, các GV còn gặp khó khăn trong việc thiết kế các
CH, đặc biệt là loại CH, phát triển tư duy, bồi dưỡng kỹ năng trả lời câu hỏi cho HS
Họ cũng còn lúng túng khi sử dụng CH vào các khâu của quá trình DH Mặt khác do
áp lực về thời lượng của một tiết dạy trên lớp 45 phút, và do phương thức thi cử hiệnnay là thi trắc nghiệm nên thường GV quan niệm rằng: Với thi trắc nghiệm khách quanchỉ cần hướng dẫn thủ thuật, “mẹo” tìm câu đúng, mà không cần quan tâm đến việchướng dẫn HS suy nghĩ, so sánh các phương án để lập luận cho phương án được lựachọn trả lời
Do đó, yêu cầu đặt ra hiện nay là các GV cần nắm vững cơ sở lí luận, cácnguyên tắc và qui trình xây dựng, sử dụng các CH để rèn luyện kỹ năng trả lời câu hỏicho HS
1.3.3 Thực trạng về kỹ năng trả lời câu hỏi của HS ở trường THPT và nguyên nhân của thực trạng.
Trang 22Qua điều tra HS khối 10 tại trường THPT Trần Phú – Vĩnh Phúc, với 11 lớp trên 445
HS, thu được kết quả thể hiện ở bảng 1.2
Bảng 1.2: Kết quả điều tra về phương pháp học và kỹ năng trả lời câu hỏi của học
sinh lớp 10 - THPT Trần Phú với môn Sinh học
STT Các nội dung điều tra Thường
xuyên
Không thườngxuyên
Rất hiếmkhi
Chưa baogiờ
SGK và thầy cô giao cho
theo đúng các bước hướng
dẫn trả lời của thầy cô
+ Xem lại vở ghi và SGK,
trả lời các CH, BT SGK và
thầy cô giao một cách qua
loa gọi là có làm bài
ghi, không trả lời các CH,
BT SGK và thầy cô giao
+ Nghiên cứu bài mới theo
nội dung hướng dẫn của
thầy cô
Trang 23+ Đọc và tự trả lời các
CH-BT ở các lệnh và cuối bài
mới trong SGK
105 23.6 125 28.1 181 40.7 34 7.6
+ Tự đặt câu hỏi và ghi lại
các ý chưa hiểu trong bài
+ Tập trung để tìm lời giải
và xung phong trả lời
+ Viết sơ lược những ý cần
trả lời và tham khảo ý của
+ Không hiểu câu hỏi 163 36.6 133 29.9 83 18.7 66 14.8
+ Hiểu câu hỏi nhưng
không làm được
+Làm được nhưng không
diễn đạt được theo ý hiểu
của mình
4
Khi thầy cô yêu cầu trả
lời câu hỏi, em thường
làm những việc sau ở mức
độ nào?
+ Trả lời câu hỏi bột phát
theo ý hiểu của mình
+ Đọc lại ý liên quan tới
câu hỏi trong SGK
Trang 24+ Tham khảo và trả lời theo
câu trả lời của bạn
+ Trả lời câu hỏi theo các
bước hướng dẫn về kỹ năng
trả lời câu hỏi mà thầy cô
sự hướng dẫn của GV chứ chưa tự mình đặt CH, tìm đọc thêm thông tin ngoài SGK để
bổ sung… theo nhu cầu, hứng thú của mình Lý do là:
+ Các em đa phần đều là HS học lớp khối A, C, D nên theo chủ quan của các emmôn sinh chỉ học để “chống đối”, không thi đại học, 1 số ít em có ý thức rèn luyện kỹnăng trả lời câu hỏi là những em định thi đại học khối B
+ Theo chủ quan của GV khi dạy các em HS ở các lớp trái khối, nên khôngthường xuyên quan tâm nhiều tới việc rèn kỹ năng trả lời câu hỏi cho các em
* Vấn đề học tập và rèn kỹ năng trên lớp.
+ Trong giờ học khi GV đưa ra CH, có tới gần một nửa số HS tập trung tìm câu
trả lời, gần 1 nửa số HS còn lại thì thụ động chờ câu trả lời của bạn hoặc thầy cô, số ítcòn lại thì thờ ơ với các CH thầy cô đưa ra
+ Khi đứng trước CH GV đưa ra CH nhiều HS gặp khó khăn như: Không hiểuyêu cầu của CH, hoặc nếu có hiểu thì lại không diễn đạt được theo ý hiểu của mình.Điều này cho thấy, một mặt do các em chưa có ý thức tìm hiểu kiến thức, chưa có các
kỹ năng để trả lời CH, nhưng mặt khác cũng do chất lượng CH mà GV đưa ra chưacao, do phương pháp sử dụng CH của GV chưa tốt và do phương pháp rèn kỹ năng trảlời CH cho HS cũng chưa đạt yêu cầu Do đó, kỹ năng trả lời CH của các em chưa cóhoặc còn rất thấp
Trang 25+ Khi thầy cô yêu cầu HS trả lời CH thì đa phần các em trả lời bột phát theo ýhiểu của mình mà ít em thực hiện theo logic các bước tìm câu trả lời CH, dẫn đến khigặp những CH tương tự hoặc biến dạng các em sẽ lúng túng, khó khăn.
1.4 Kết luận.
Tóm lại, HS khối 10 – THPT Trần Phú – Vĩnh Phúc hiện nay còn học lệch, chưacoi trọng học môn học mà các em không thi đại học, cao đẳng, các em học một cáchthực dụng Một số em có ý thức học thì chưa biết cách học, chỉ quen học thuộc lòng,thụ động, chưa tích cực sáng tạo trong việc tìm kiến thức mới Điều này do các em ítđầu tư công sức, thời gian vào việc học, học tập chỉ mang tính “đối phó” Với các em
có ý thức tự giác, yêu thích môn Sinh học thì lại không có phương pháp học đúng cách nênđứng trước những câu hỏi đặt ra trong bài học hoặc trong thực tiễn cuộc sống là các emlúng túng, có khi không hiểu câu hỏi hoặc hiểu câu hỏi nhưng không biết trả lời thế nào,thậm chí biết câu trả lời nhưng lại không biết diễn đạt => kỹ năng trả lời câu hỏi còn bịhạn chế => năng lực tự học cũng giảm sút
Cuộc sống của con người là một hành trình đi tìm và trả lời các CH cho bản thânmình, vì vậy việc bồi dưỡng, rèn luyện cho các em các kỹ năng trả lời câu hỏi là rất cầnthiết Để làm được điều này trước hết phải đi từ người Thầy, người Thầy cần tạo hứng thúcho các em bằng việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới cách dạy, cách học của các
em, cụ thể là không chỉ dạy các em tri thức mà cần dạy các em các kỹ năng để chiếm lĩnhtri thức, không chỉ dạy các em trả lời 1 câu hỏi cụ thể nào đó mà dạy các em cách để điđến được câu trả lời ấy, từ đó các em sẽ biết cách học không chỉ riêng trong môn sinh học
mà với tất cả các môn học khác, các em thấy được các môn học tính chất liên môn, các emkhông chỉ chăm chăm vào học môn mình thi đại học, cao đẳng mà “bỏ rơi” các môn khác,như vậy các em sẽ phát triển lệch lạc Để giải quyết được các khó khăn trên chỉ khi các
em được rèn luyện kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng trả lời CH
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi nhận thấy sự cần thiết phải rèn kỹ năng trảlời câu hỏi cho HS để các em phát triển toàn diện, trở thành nguồn nhân lực thúc đẩy
sự phát triển đất nước
Trang 26CHƯƠNG 2: RÈN CHO HS KỸ NĂNG TRẢ LỜI CÂU HỎI TRONG DẠY HỌC
PHẦN “SINH HỌC VI SINH VẬT” SINH HỌC 10 – THPT
2.1 Phân tích cấu trúc, nội dung phần “Sinh học vi sinh vật” – Sinh học 10- THPT theo định hướng để rèn cho HS kỹ năng trả lời câu hỏi.
Phần III Sinh học vi sinh vật – Sinh học 10, gồm 3 chương với 16 bài (sáchnâng cao), 12 bài (sách cơ bản)
+ Chương 1: Chuyển hoá vật chất và năng lượng ở VSV:
Chương này đề cập đến: Khái niệm VSV, các môi trường nuôi cấy VSV, cáckiểu dinh dưỡng và chuyển hoá vật chất rất đa dạng ( Prôtêin, pôlasaccarit, lipit…)ởVSV thông qua các quá trình phân giải và tổng hợp các chất, đồng thời cũng nêu lên
Trang 27vai trò của VSV trong thiên nhiên và những ứng dụng của nó đối với đời sống, sản xuấtcon người, HS làm được 2 ứng dụng phổ biến trong đời sống của VSV là: Lên menlactic và lên men Êtilic.
+ Chương 2: Sinh trưởng và sinh sản của VSV:
Chương này đề cập đến: Khái niệm về sinh trưởng của VSV (theo cấp số mũ),qui luật sinh trưởng của VSV trong nuôi cấy liên tục, nuôi cấy không liên tục, cơ sởcủa công nghệ vi sinh, công nghệ tế bào và công nghệ sinh học, đồng thời nêu đượccác yếu tố ảnh hưởng, các ứng dụng của VSV thông qua các yếu tố ảnh hưởng tới sựsinh trưởng của VSV, và các hình thức sinh sản ở VSV
+ Chương 3: Virut và bệnh truyền nhiễm:
Chương này đề cập tới:Cấu trúc các dạng virut, sự nhân lên của virut trong tếbào chủ và mối quan hệ của nó với các sinh vật khác Đồng thời cũng nói đến cácphương thức truyền bệnh của virut, các ứng dụng của virut trong thực tiễn Cuối cùng
là giới thiệu về bệnh truyền nhiễm và miễn dịch
Cuối phần III có bài ôn tập về các kiến thức VSV Cuối mỗi chương đều có các bàithực hành nhằm minh hoạ, củng cố hay phát triển nhận thức của HS
Cấu trúc nội dung phần III – Sinh học VSV có thể được tóm tắt trong sơ đồ sau:
Cấutrúc
Cấu trúc chung cho
VSV (vi khuẩn, Vi
nấm…trừ Virut) Cấu trúc củaVirut
Các nhân tốảnh hưởng
và ứng dụng
Trong MT
NC khôngliên tụcTrong MT
NC liên tục
Trang 28Theo logíc của chương trình sinh học THPT hiện nay là đi từ cấp độ tế bào =>cấp độ cơ thể => cấp độ trên cơ thể, thi chương trình Sinh học 10, có 3 phần nội dung,trong đó phần III sinh học VSV được trình bày ngay sau phần II Sinh học tế bào, thểhiện sự sắp xếp logic trong cấu trúc nội dung Thực chất Sinh học VSV cũng là Sinhhọc tế bào vì VSV tồn tại chủ yếu ở dạng đơn bào nhưng đồng thời chúng cũng lànhững cơ thể SGK Sinh học 10 đã đề cập đến cấp độ cơ thể nguyên thuỷ là cơ thể đơnbào, vì vậy cần giới thiệu chúng như những cơ thể nhưng khác với phần sinh học cơthể ở lớp 11 là nghiên cứu cấp cơ thể trên đối tượng là những sinh vật có cơ thể đa bào,còn ở đây là nghiên cứu các cơ thể ở cấp đơn bào.
Trong phần II sinh học tế bào cũng đề cập tới các quá trình sinh lí là: Chuyểnhoá vật chất và năng lượng, sinh trưởng, sinh sản của tế bào, tuy nhiên chỉ đi sâu vào
Hoạt
động
sống
Sinh trưởng và sinh sản
Sinh sản của VSV
Sinh trưởng của VSV
Quá trình phângiải các chất vàứng dụng
Chuyển hoávật chất và NL
Virut
Chung cho VSV (vi khuẩn, Vi nấm…trừ Virut)
Sinh học
VSV
Quá trình tổnghợp các chất vàứng dụng
Trang 29cơ chế chuyển hoá vật chất và cơ chế vận chuyển các chất qua màng tế bào, cơ chế sinhsản tế bào Phần III sinh học VSV lại tập trung vào những vấn đề đặc thù của VSVnhư: Chuyển hoá vật chất nội bào và ngoại bào, sự sinh trưởng và sinh sản, trong đósinh trưởng được hiểu là sự tăng số lượng cá thể của quần thể VSV và đề cập đến mộtdạng sống là virut và bệnh truyền nhiễm
VSV chủ yếu là cơ thể đơn bào nên có những kiến thức về chuyển hoá vật chất
và năng lượng tương tự phần II sinh học tế bào như các quá trình quang hợp, hô hấp,…
Phần III - Sinh học vi sinh vật bao gồm các loại kiến thức thể hiện qua bảng 2.1.
Bảng 2.1: Các loại kiến thức cơ bản của phần III- Sinh học VSV 10 THPT
Chương Kiến thức khái niệm Kiến thức cơ chế,
quá trình
Kiến thức ứng dụngthực tiễn
Quá trình chuyểnhoá vật chất vànăng lượng ởVSV, quá trình hôhấp, lên men, lenmen lactic, lênmen etylic, quátrình phân giải,tổng hợp các chất:
lipit, protein,polysaccarit, axitnucleic, …
Nuôi cấy các VSVkhác nhau trong cácmôi trường khác nhau
để tạo ra các sản phẩmphục vụ đời sống conngười như: lên men,sản xuất sinh khối, thuprotein đơn bào bổsung vào thức ăn, thucác chế phẩm sinhhọc…giảm thiểu tácđộng bất lợi của VSV.Chương 2:
ưa nhiệt và VSV ưa siêu nhiệt
v VSV ưa axit, VSV ưa
Quá trình sinhtrưởng của quầnthể VSV, quátrình sinh sản, quátrình phân đôi,quá trình nảychồi, quá trìnhsinh sản bằng bàotử
Sử dụng các nhâ n tốvật lí, hoá học ảnhhưởng tới sinh trưởngcủa VSV: nhiệt độ, độ
ẩm, độ pH, tia bức xạ,các hoá chất…thíchhợp để nuôi cấy VSV
có ích hoặc tạo điềukiện bất lợi về các yếu
tố trên để kím hãm sự
Trang 30kiềm, VSV pH trung tính, VSV hiếu khí bắt buộc, VSV kị khí bắt buộc, VSV kị khí không bắt buộc, VSV nguyên dưỡng,
Chu trình nhânlên của virut Cơchế tác động củamiễn dịch đặchiệu và các loạimiễn dịch khôngđặc hiệu
Sử dụng virut để sảnxuất các sản phẩm phục
vụ đời sống con ngườinhư vacxin, insulin, sửdụng trong công nghệgen…
Nhận biết và biết cáchphòng tránh các bệnhtruyền nhiễm
Mục tiêu chung của phần III Sinh học VSV:
Sau khi học xong phần này HS phải đạt được:
+ Về kĩ năng:
- Hình thành và rèn kỹ năng trả lời câu hỏi cho HS
Ngoài ra còn:
Trang 31Rèn kĩ năng tư duy: HS được tiếp tục phát triển kĩ năng tư duy lí luận (phântích, so sánh, tổng hợp, khái quát hoá ), đặc biệt là kĩ năng giải quyết các vấn đề gặpphải trong học tập và thực tiễn đời sống.
Rèn kĩ năng tự học: HS tiếp tục được phát triển kĩ năng tự học: biết thu thập, xử líthông tin, lập bảng biểu, sơ đồ, đồ thị, làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm …
Rèn kĩ năng thực hành: HS tiếp tục phát triển kĩ năng quan sát, thí nghiệm, biếtlàm tiêu bản, quan sát kính lúp, kính hiển vi, biết bố trí một số thí nghiệm đơn giảnnhư: Qúa trình lên men…
+ Về thái độ:
Sau khi học xong phần sinh học VSV, HS sẽ có niềm tin tưởng vững chắc hơnvào khả năng nhận thức của con người về bản chất của sự sống, có thái độ tích cựctrong bảo vệ thiên nhiên, giữ gìn vốn gen quí, bảo vệ sức khoẻ, phong trào phòngchống các tệ nạn xã hội
* Khả năng rèn cho HS 10 THPT kỹ năng trả lời CH qua DH phần sinh học VSV.
Đặc điểm nội dung SGK như đã phân tích trên cho thấy: Để đạt được mục tiêudạy học phần III – sinh học VSV, có thể ra các CH yêu cầu HS phân tích khái niệm,định nghĩa khái niệm, thiết lập các cơ chế, quá trình sinh học, mối quan hệ cấu tạo -chức năng Đó là những cơ hội tốt cho việc rèn luyện các biện pháp logic vốn là cơ sỏcho hoạt động trả lời CH hay giải quyết vấn đề
+ Các kiến thức SGK được biên soạn theo hệ thống các chương, các bài, cácphần trong bài tương đối hợp lí, bảo đảm nguyên tắc hệ thống, đi từ đơn giản đến phứctạp, từ cái riêng đến cái chung, khái quát giúp HS có một cái nhìn tổng thể Kết hợp vớiphần kiến thức đã học ở phần sinh học tế bào trước đó, HS sẽ dễ dàng hình thành được
kỹ năng trả lời câu hỏi theo hướng hệ thống hoá kiến thức
+ Các tranh, ảnh, hình vẽ được in màu, dễ quan sát, có tính thẩm mĩ cao làmtăng tính hấp dẫn của môn học góp phần giúp HS học tốt hơn
+ Phần chủ yếu của các bài học là các hoạt động đề ra cho HS, nêu nhiệm vụnhận thức hoặc hành động nhưng chưa có lời giải Do đó, có điều kiện để sử dụng các
CH, để tổ chức cho HS hoạt động để các em tìm tòi, phát hiện, khám phá những điềuphải học, theo mục tiêu của bài, trên cơ sở đó rèn luyện kỹ năng trả lời câu hỏi cho cácem
Trang 32Vì thế, phần sinh học VSV là một trong những phần nội dung của chương trìnhmôn sinh học THPT có khả năng sử dụng CH để rèn luyện kỹ năng trả lời câu hỏi cho
HS đòi hỏi mức độ độc lập, sáng tạo khác nhau
2.2 Các biện pháp rèn cho HS 10 THPT kỹ năng trả lời CH.
2.2.1 Các dạng câu hỏi luyện cho HS kỹ năng trả lời câu hỏi.
Dựa vào các bước xây dựng câu hỏi rèn cho HS kỹ năng trả lời câu hỏi, chúngtôi đã xây dựng và phân loại các dạng câu hỏi rèn kỹ năng trả lời câu hỏi theo cáchdiễn đạt của câu trả lời như sau:
2.2.1.1 Câu hỏi rèn kỹ năng trả lời câu hỏi bằng sơ đồ hoá (grap)
* Đặc điểm nội dung cho phép thiết kế câu hỏi rèn kỹ năng trả lời bằng sơ đồ hoá:
- Những bài học, những chương, những mục có nhiều kiến thức và các kiến thức phứctạp
- Nội dung kiến thức có mối quan hệ về nội hàm khái niệm, giữa cái chung và cáiriêng, cơ chế sinh học, quá trình sinh học Đây là những nội dung rèn luyện cho HS kỹnăng trả lời CH trên cơ sở phân tích, thiết lập các quan hệ logic
* Các mức độ câu hỏi rèn kỹ năng trả lời câu hỏi bằng sơ đồ hoá:
- Mức 1: Câu hỏi điền khuyết vào sơ đồ.
- Mức 2: Câu hỏi để HS tự lực thiết lập sơ đồ.
Ví dụ 1: Khi dạy bài 39: “Sinh sản của VSV”, GV có thể thiết kế câu hỏi hướng HS
ltrả lời câu hỏi bằng lập sơ đồ các khái niệm về các hình thức sinh sản ở VSV Câu hỏi
ở
Mức 2: Hãy liệt kê các hình thức sinh sản ở VSV, và sắp xếp các hình thức sinh sản đó
vào một sơ đồ dạng phân nhánh?
Dựa vào câu hỏi HS trả lời bằng sơ đồ 2.1 lập được như sau:
Sinh sản bằng phân đôi
Vsv nhân thực Sinh sản bằng nảy chồi Bào tử vô tínhSinh sản Sinh sản bằng tạo bào tử Bào tử hữu tínhcủa VSV Sinh sản bằng phân đôi
VSV nhân sơ Sinh sản bằng nảy chồi
Sinh sản bằng tạo bào tử
Sơ đồ 2.1: Các hình thức sinh sản ở VSV
Trang 33Ví dụ 2: Khi dạy mục II.2 bài 43: Cấu trúc các loại Virut GV thiết kế câu hỏi
rèn kỹ năng trả lời câu hỏi bằng sơ đồ hoá như sau:
Câu hỏi ở mức 1: Em hãy nghiên cứu mục II.2 trang 145 SGK và hoàn thành sơ đồ về
cấu tạo chung của Virut như sau?
( Vỏ ngoài chỉ có ở một số loại virut) ?
Từ câu hỏi trên HS trả lời bằng việc hoàn thành sơ đồ 2.2 như sau:
Một mạch
Lõi ADN 2 mạch Nuclêocapsit
(Kết cấu cơ bản) ARN Một mạch
2 mạch
Vỏ: Prôtêin (Capsit) Capsôme
Cấu tạo Virut
Vỏ ngoài gồm lớp kép lipit và prôtêin
( Vỏ ngoài chỉ có ở một số loại viru Gai glicôprôtêin
(có ở 1số virut)
Sơ đồ 2.2: Cấu tạo chung của virut
Ví dụ 3: Khi dạy mục II 2 bài 23: Qua trình tổng hợp và phân giải các chất ở VSV -
Sinh học 10 cơ bản
Câu hỏi mức 1: Em hãy nghiên cứu mục II.2 trang 93 SGK và tìm ý điền vào chỗ
đánh số trong sơ đồ sau cho phù hợp?
(2)
Pôlisaccarit ở ….(1) Xenlulôzơ Glucôzơ ở …(3)
Trang 34Nấm (đường hoá) (Glucôzơ) trong tế bào Tinh bột ở ( Môi trường ngoài) Glucôzơ
Trang 35Lên men (lactíc) Nấm men rượu
Sơ đồ 2.3: Phân giải pôlisaccarit và ứng dụng
Ngoài 1 số ví dụ trên thì trong phần 3: VSV còn có nhiều bài, mục có thể thiết
kế câu hỏi hướng dẫn HS trả lời câu hỏi bằng sơ đồ hoá như: Bài 22 mục II.2; Bài 23mục II; Bài 26; Bài 29, bài 30, bài 32 mục II, bài 33 SGK sinh học 10 cơ bản Bài 33mục II; bài 34, 35, 39, bài 43 mục II,III, Bài 44 mục I, bài 46 mục II SGK Sinh học 10nâng cao
2.2.1.2 Câu hỏi rèn kỹ năng trả lời CH bằng lập bảng.
* Đặc điểm nội dung cho phép thiết kế câu hỏi rèn kỹ năng trả lời bằng lập bảng.
Những nội dung kiến thức có đặc điểm cần đối chiếu, thiết lập quan hệ giữa cáctiêu chí, các thành phần cần so sánh, hệ thống hoá theo các quan hệ có tính “toạ độ”hoặc ma trận phức tạp Với những nội dung như vậy sẽ rất thuận lợi cho việc ra các
CH, BT mà quy trình tìm lời giải rèn được ở HS kỹ năng hệ thống hoá, phân tích - tổnghợp, so sánh - đối chiếu, rút ra kết luận
* Các mức độ câu hỏi rèn kỹ năng trả lời câu hỏi bằng bằng lập bảng:
Mức 1: Câu hỏi cho HS điền khuyết vào bảng
Mức 2: Câu hỏi cho các tiêu chí và các đối tượng, HS thiết lập và hoàn thành bảng Mức 3: Câu hỏi cho các đối tượng để HS tự tìm các tiêu chí của các đối tượng, tự trả
lời bằng thiết lập bảng, độ khó của câu hỏi phụ thuộc vào số lượng đối tượng và mức
độ trùng khớp của các đối tượng
* Ví dụ1:
Khi dạy mục III bài 33: Dinh dưỡng, chuyển hoá vật chất và năng lượng ở VSV
Câu hỏi:
Trang 36Mức 1: Em hãy nghiên cứu nội dung mục III.1, 2 trang 114 SGK và hoàn thành bảng
phân biệt các kiểu chuyển hoá vật chất ở VSV sau?
Đặc điểm Có mặt ôxi
phân tử
Chất tham gia Chất nhận
electron cuốicùng
Sản phẩm tạo thànhsau phản ứngLên men Không có
Hô hấp kị khí
Phân tử chất hữu cơ
Hô hấp hiếu
khí
Ôxi phân tử
Mức 2: Em hãy nghiên cứu nội dung mục III.1, 2 trang 114 SGK và phân biệt các quá
trình lên men, hô hấp kị khí và hô hấp hiếu khí theo các tiêu chí:
- Sự có mặt của oxi phân tử
- Chất tham gia
- Chất nhận electron cuối cùng
- Sản phẩn tạo thành?
Mức 3: Em hãy nghiên cứu nội dung mục III.1, 2 trang 114 SGK và phân biệt các quá
trình: Lên men, hô hấp hiếu khí, hô hấp kị khí?
* Ví dụ 2:
Mức 3: Em hãy nghiên cứu mục 1- bài 41- Tr 137- Sinh học 10 và lập bảng hệ thống
các nhóm VSV phân loại theo phạm vi nhiệt độ ưa thích?
Mức 1: Em hãy nghiên cứu mục 1- bài 41- Tr 137- Sinh học 10 và hoàn thành bảng hệ
thống các nhóm VSV phân loại theo phạm vi nhiệt độ ưa thích như sau:
Trang 37Ngoài 1 số ví dụ trên thì trong phần 3: VSV còn có nhiều bài, mục có thể thiết
kế câu hỏi hướng dẫn HS trả lời câu hỏi bằng lập bảng như: Bài 22 mục II,III; bài 23mục II; bài 24, bài 25 mục II, bài 26 mục II,III; bài 27, bài 28, bài 29 mục III, bài 30mục I, bài 31 mục I, bài 33 SGK sinh học 10 cơ bản Bài 33 mục II, III; bài 36, 37, bài
38 mục II, bài 39, bài 40 mục II, bài 41, bài 43 mục II,III, Bài 44 mục I, bài 45, bài 46mục I.2, II.2; bài 47, 48 SGK Sinh học 10 nâng cao
2.2.1.3 Câu hỏi rèn kỹ năng trả lời câu hỏi bằng đồ thị.
* Đặc điểm về nội dung cho phép thiết kế câu hỏi rèn kỹ năng trả lời bằng đồ thị.
- Những nội dung kiến thức có mối quan hệ biến – hàm
- Những nội dung kiến thức đã được lượng hoá
* Các mức độ câu hỏi rèn kỹ năng trả lời câu hỏi bằng đồ thị:
Mức 1: Câu hỏi cho thông tin có tính chất biến - hàm, yêu cầu vẽ đồ thị.
Mức 2: Câu hỏi cho các thông tin biến – hàm, yêu cầu thiết lập đồ thị, tìm các nội
dung khai thác đồ thị
* Ví dụ:
Khi dạy mục II.2 bài 38: Sinh trưởng của VSV
Câu hỏi mức 1: Gỉa sử có 1 quần thể vi khuẩn ban đầu có 200 tế bào, nuôi cấy
trong 8 giờ 40 phút, trong nuôi trường cấy không liên tục (môi trường đóng), thu đượckết quả sau:
- Sau 20 phút đầu nuôi cấy người ta thấy số tế bào vi khuẩn trong quần thể không đổi,
- Trong 4 giờ 20 phút tiếp theo quần thể tăng trưởng theo cấp số mũ, cứ 20 tăng 1 thế
hệ và đạt 1638400 tế bào
- Trong 3 giờ tiếp theo thì số lượng cá thể trong quần thể không đổi
- Trong 1 giờ cuối thì thấy số lượng cá thể của quần thể giảm nhanh chỉ còn 1/3 số cáthể
Dựa vào các thông số trên em hãy thiết lập đồ thị về sự sinh trưởng của quần thể
vi khuẩn này theo thời gian nuôi cấy?
Câu hỏi mức 2: Gỉa sử có 1 quần thể vi khuẩn ban đầu có 200 tế bào, nuôi cấy
trong 8 giờ 40 phút, trong nuôi trường cấy không liên tục (môi trường đóng), thu đượckết quả sau:
- Sau 20 phút đầu nuôi cấy người ta thấy số tế bào vi khuẩn trong quần thể không đổi,
- Trong 4 giờ 20 phút tiếp theo quần thể tăng trưởng theo cấp số mũ, cứ 20 tăng 1 thế
hệ và đạt 1638400 tế bào
Trang 38- Trong 3 giờ tiếp theo thì số lượng cá thể trong quần thể không đổi.
- Trong 1 giờ cuối thì thấy số lượng cá thể của quần thể giảm nhanh chỉ còn 1/3 số cáthể
Dựa vào các thông số trên em hãy vẽ đồ thị về sự sinh trưởng của quần thể vikhuẩn này theo thời gian nuôi cấy? Giải thích vì sao em lại vẽ như vậy?
Giải thích tại sao trong 20 phút đầu nuôi cấy số lượng cá thể vi khuẩn lại khôngtăng, và trong 1 giờ cuối số lượng cá thể vi khuẩn lại giảm nhanh?
2.2.1.4 Câu hỏi rèn kỹ năng trả lời câu hỏi bằng sơ đồ hình.
* Đặc điểm nội dung cho phép thiết kế câu hỏi rèn kỹ năng trả lời bằng sơ đồ hình là:
Các kiến thức liên quan tới nhiều đối tượng và các đối tượng có mối quan hệphức tạp với nhau như: các cơ chế, quá trình, các thí nghiệm, thể hiện quan hệ cấu tạo -
chức năng, hình thái - cấu trúc, trực quan hoá khi thể hiện Với những loại nội dung
này cần tổ chức cho HS tìm hiểu bằng các CH, BT, để rèn luyện kỹ năng trừu tượnghoá, khái quát hoá, cụ thể hoá, thiết lập quan hệ cấu trúc - chức năng
* Các mức độ câu hỏi rèn kỹ năng trả lời câu hỏi bằng sơ đồ hình:
Mức 1: Yêu cầu điền khuyết vào sơ đồ hình.
Mức 2: Câu hỏi cho một số hình ảnh mô phỏng về nội dung kiến thức, yêu cầu tìm mối
quan hệ giưã các hình ảnh đó phù hợp với nội dung kiến thức thông qua thiết lập sơ đồhình
Mức 3: Câu hỏi cho các nội dung kiến thức, yêu cầu thiết lập hình ảnh phù hợp với nội
dung kiến thức bằng sơ đồ hình
Mức 4: Tự thiết kế các tình huống sơ đồ hình.