1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mấy vấn đề về tiếp nhận văn học và việc tiếp nhận văn học trung đại Việt Nam của học sinh THPT hiện nay

74 520 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 358 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2. Lịch sử vấn đề 2.1. Lý thuyết tiếp nhận ra đời đã đem đến một diện mạo mới cho lý luận và nghiên cứu văn học, phá vỡ sự độc quyền quá lâu của lối xem xét văn học chỉ quan tâm đến mối quan hệ tác giả tác phẩm bằng cách bổ sung, lưu ý đến mối quan hệ tác phẩm – người đọc. Hoạt động văn học từ xưa đến nay đều vận hành qua các khâu hiện thực nhà văn tác phẩm bạn đọc. Cho nên, cũng như các mối quan hệ giữa tác phẩm với hiện thực, tác phẩm với nhà văn…từ rất lâu, người ta ít hoặc nhiều, trực tiếp hoặc gián tiếp, toàn diện hoặc một vài khía cạnh, đã chú ý đến mối quan hệ giữa tác phẩm với bạn đọc, tức là sự tiếp nhận tác phẩm văn học của bạn đọc rồi. Có mầm mống từ rất lâu (những năm 10 – 20 của thế kỷ XX) nhưng phải đến những năm 60 của thế kỷ XX với trường phái Konstanz ở CHLB Đức, mỹ học tiếp nhận mới chính thức được công nhận. Đại diện tiêu biểu của trường phái này là H.R. Jauss. Ông đề cao vai trò của người tiếp nhận trong nghiên cứu văn học. Theo ông, tác phẩm văn học chính là sự kết hợp giữa văn bản và sự tiếp nhận của người đọc. Lịch sử văn học chính là lịch sử của mối quan hệ giữa tác phẩm và người tiếp nhận. Ông gắn quá trình lý giải tác phẩm không phải với sự tùy tiện tuyệt đối mà với những khả năng khách quan của độc giả, được quy định bởi kinh nghiệm thẩm mỹ và tầm đón đợi của họ. Tuy nhiên, Jauss cực đoan khi đề cao quá mức vai trò của người tiếp nhận. Bởi nếu chưa có sáng tác thì không thể có tiếp nhận, còn nếu không hoặc chưa có tiếp nhận vẫn có sáng tác dù chưa phát huy được tác dụng. Manfred Nauman – đại diện cho các nhà nghiên cứu macxit cũng xem quan hệ tác phẩm – người đọc là một vấn đề cơ bản có ý nghĩa then chốt. Tuy nhiên, họ cho rằng tác phẩm là một đề án tiếp nhận (Rezeptionvorgabe), là nhân tố hàng đầu, tính năng động của người đọc là một yếu tố cũng hết sức thiết yếu. N¨m 1985, lÇn ®Çu tiªn lý thuyÕt “mü häc tiÕp nhËn” cña tr­êng ph¸i Konstanz (§øc) mµ ®øng ®Çu lµ Hans Robert Jauss ®­îc giíi thiÖu kh¸ kü l­ìng cho b¹n ®äc ViÖt Nam trªn t¹p chÝ “Th«ng tin KHXH”. §©y lµ mét lý thuyÕt ®• biÕt tiÕp thu thµnh tùu cña c¸c c«ng tr×nh nghiªn cøu vÒ thÞ hiÕu vµ ®éc gi¶ cña c¸c t¸c gi¶ tr­íc nh­ Levin Schucking (§øc), Harald Weinrich (§øc)…tõ ®Êy x©y dùng cho m×nh mét c¬ së khoa häc chÆt chÏ vµ cã hiÖu qu¶ ®Ó nghiªn cøu sù tiÕp nhËn v¨n häc. Trong hai mươi năm trở lại đây, các nhà nghiên cứu n­íc ta cũng ®• rất quan tâm đến vÊn ®Ò tiếp nhận văn học. Trần Đình Sử, Phương Lựu Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Văn Dân, Huỳnh Văn Vân, … đều có bài viết về vấn đề này. Tiêu biểu là các công trình như: Tiếp nhận văn học của Phương Lựu (NXB Giáo dục, 1997), Tiếp nhận – bình diện mới của lý luận văn học của Trần Đình Sử (V¨n häc nghÖ thuËt vµ sù tiÕp nhËn, ViÖn th«ng tin khoa häc x• héi, HN, 1991), Tiếp nhận văn học của Nguyễn Văn Dân (NXB khoa học kỹ thuật – 1991), Đọc và tiếp nhận văn chương của Nguyễn Thanh Hùng…. N¨m 1986 gi¸o s­ Hoµng Trinh ®• ®Ò cËp ®Õn ph¹m trï c«ng chóng mét ph¹m trï c¬ b¶n cña lý thuyÕt tiÕp nhËn. Gi¸o s­ xuÊt ph¸t tõ quan ®iÓm ph¸t huy tinh thÇn lµm chñ tËp thÓ cña nh©n d©n trong s¸ng t¸c vµ phª b×nh v¨n häc ®Ó t×m hiÓu sù t¸c ®éng cña ng­êi ®äc ®èi víi v¨n häc. Hay gÇn ®©y, cã rÊt nhiÒu bµi b¸o bµn vÒ vÊn ®Ò tiÕp nhËn. Nhµ nghiªn cøu NguyÔn Lai nhÊn m¹nh ®Õn “phÈm chÊt n¨ng ®éng chñ quan cña chñ thÓ tiÕp nhËn”, NguyÔn Thanh Hïng nhÊn m¹nh ®Õn qu¸ tr×nh biÕn ®æi chñ thÓ tiÕp nhËn thµnh chñ thÓ v¨n häc, Tõ S¬n nhÊn m¹nh ®Õn viÖc ph¶i quan t©m ®Çy ®ñ tíi c¸c nhu cÇu tiÕp nhËn v¨n häc cña c«ng chóng, trong ®ã cã nh­ cÇu th«ng tin vµ nhu cÇu gi¶i trÝ. Trần Đình Sử cho rằng tiếp nhận văn học là một lĩnh vực rộng lớn của lý luận văn học còn đang để ngỏ. Nó vô cùng quan trọng bởi tiếp nhận văn học có thể làm sáng tỏ những vấn đề then chốt, đặc trưng, chức năng, cấu trúc, giá trị của văn học mà lý luận từ phía sáng tác không giải thích được. Theo ông, có hai quan niệm vÒ tiếp nhận v¨n häc trong truyÒn thèng là tri âm và ký thác. Quan niệm tri âm đòi hỏi người đọc tiếp nhận hết, hiểu hết những điều tác giả muốn nói trong tác phẩm bằng hình tượng. Nhưng yêu cầu này trong thực tế là quá khó, không thực hiện được. Lưu Hiệp, nhà lý luận phê bình nổi tiếng thời cổ đại của Trung Quốc đã phải nói: “Tri âm khó vậy thay. Cái âm thực khó biết, người biết thực khó gặp. Gặp được người tri âm, nghìn năm mới có một lần” (Văn tâm điêu long). Còn trong quan niệm ký thác, người đọc có thể xem tác phẩm như phương tiện thể hiện nỗi lòng. Ở đó người đọc có thể phát huy trí tưởng tượng, sự sáng tạo của mình để đem đến cho tác phẩm một ý nghĩa mới. Trong thực tế cách đọc này khá phổ biến. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã thấy được tầm quan trọng của lý thuyết tiếp nhận trong nghiên cứu văn học. Hä ®• thÊy ®­îc c¸i cèt lâi cña vÊn ®Ò lý luËn tiÕp nhËn. Nh÷ng ý kiÕn cña hä ®• gãp phÇn kh¼ng ®Þnh vÞ trÝ cña lý luËn tiÕp nhËn ë n­íc ta. 2.2. Thời gian đã trôi qua rất lâu kể từ ngày đặt dấu chấm kết thúc cho một giai đoạn phát triển của lịch sử văn học nước nhà, thời kỳ văn học trung đại. Khoảng thời gian đó đủ để những gì thuộc về nó bước lên ngai vàng của giá trị cổ điển. Thế nhưng càng ngày chúng ta càng nhận ra rằng giá trị của văn học trung đại như suối ngàn dào dạt khơi mãi không bao giờ cạn. Văn học trung đại là giai đoạn văn học phát triển cực thịnh và có nhiều thành tựu mẫu mực nhất của gần 10 thế kỷ văn học. Nó đã được sàng lọc kỹ càng qua thời gian, là kết tinh những tinh hoa văn hóa, tư tưởng, văn học dân tộc. Đó là giai đoạn hoàng kim với những tác gia tên tuổi tài danh như: Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm…với những tác phẩm có sức sống lâu bền. Chính vì vậy, văn học giai đoạn này luôn là mảnh đất màu mỡ để các nhà nghiên cứu tìm tòi và khám phá. Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu về văn học trung đại chúng tôi nhận thấy mỗi tác giả tự tìm cho mình những hứng thú khác nhau khi nghiên cứu về văn học giai đoạn này. Ví dụ trong Thi pháp văn học trung đại (Trần Đình Sử), tác giả trình bày quan niệm về con người trong thơ trung đại; nhận xét về các tác giả lớn với tư cách là con người trong thơ; đề cập tới vấn đề thi pháp của văn học trung đại. Hay trong Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam thế kỷ X – XIX (Bùi Duy Tân chủ biên), đã phác thảo nhưng nét cơ bản về diện mạo văn học Việt Nam trong 10 thế kỷ, thâu tóm các tác phẩm đặc sắc của các tác giả tiêu biểu, đi sâu tìm hiểu giai đoạn văn học thế kỷ X – XIV…Hoặc những công trình của một số tác giả khác như: Văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX của Hoàng Hữu Yên,Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa cuối thế kỷ XIX của Đặng Thanh Lê, Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam (nhóm nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn, Trần Đình Sử, Huyền Giang, Trần Ngọc Vương, Trần Nho Thìn, Đoàn Thị Thu Vân…). Như vậy, việc nghiên cứu về văn học trung đại trên diễn đàn văn học diễn ra vô cùng phong phú và đa dạng với những khía cạnh, những hướng tiếp cận khác nhau. 2.3. Trong x• héi c«ng nghiÖp ph¸t triÓn kinh tÕ thÞ tr­êng, con người ngày càng bị cuốn vào dòng chảy xô bồ của cuộc sống nhưng cũng có những lúc họ cần một chút để nhìn lại bản thân, lắng lòng mình một chút để cảm nhận sự trôi chảy của thời gian, một chút để nhìn về quá khứ mà phấn đấu cho hiện tại và tương lai…Và văn học là nơi đem đến cho con người một chút như thế. Đó là nơi chúng ta thả mình trong những cảm xúc để “phiêu” cùng chủ thể trữ tình với những vần thơ lãng mạn bay bổng, hoặc đó là nơi để bày tỏ suy nghĩ về những vấn đề của hiện thực được đề cập tới trong tác phẩm…Tiếp xúc với văn học phải chăng là một quá trình gián tiếp để hoàn thiện bản thân? Văn thơ trung đại là bộ phận văn chương có khả năng trực tiếp bồi dưỡng cho thế hệ trẻ những phẩm chất truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Tuy vậy, việc tiếp nhận tác phẩm văn học trung đại đối với học sinh vẫn còn gây nhiều phiền toái cho cả người dạy lẫn người học làm cho kho tàng quý báu của cha ông để lại lại thành ra “kính nhi viễn chi”. Vấn đề có nhiều nguyên nhân mà nguyên nhân chủ yếu là do rào cản ngôn ngữ. Từ cổ, từ Hán Việt, thuật ngữ là hố ngăn cách học sinh ngày nay khi tiếp xúc với thơ văn cổ. Thêm vào đó là người tiếp nhận văn bản dù muốn hay không cũng phải có một kiến thức nền khả dĩ, ít nhiều phải hiểu rõ môi trường văn hóa trung đại, tư tưởng ý thức hệ chính thống, điển cố, điển tích, thể loại văn học…Hơn nữa, học sinh ngày nay là thế hệ trẻ lớn lên trong chế độ xã hội chủ nghĩa, hàng ngày tiếp xúc với lối sống hiện đại. Tâm lý chung của họ là nhạy cảm với cái mới, cái cổ truyền mặc dù có giá trị cũng xa lạ đối với họ. Nếu không được hướng dẫn nhận thức và cảm thụ có khi họ còn phê phán cái cổ là lỗi thời, lạc hậu. Rất nhiều tác phẩm thuộc giai đoạn văn học trung đại được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông. Nhưng không phải ai cũng cảm nhận được hết cái tinh hoa cùng vẻ đẹp văn chương của các bậc thi nhân tiền bối đã gửi gắm trong từng câu chữ. Đặc biệt đối với bạn đọc – học sinh, họ thường mắc phải nhiều sai lầm khi đánh giá tác giả và tác phẩm thuộc giai đoạn văn học này. Để nâng cao hiệu quả tiếp nhận văn học trung đại Việt Nam nói chung và tiếp nhận văn học trung đại trong nhà trường của học sinh THPT đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu khác nhau: Giảng dạy văn học ở nhà trường phổ thông (Phương Lựu), Phương pháp dạy hoc ngữ văn THPT – những vấn đề cập nhật (Nguyễn Thanh Hùng – Lê Thị Diệu Hoa), Mấy vấn đề về phương pháp dạy thơ văn cổ Việt Nam (Nguyễn Sĩ Cẩn)…Hầu hết, họ đều tập trung vào việc đưa ra những phương pháp để tiếp cận tác phẩm văn học một cách hiệu quả nhất. Đặc biệt Nguyễn Sĩ Cẩn với công trình của mình đã chỉ ra cụ thể những thuận lợi và khó khăn khi tiếp xúc với thơ văn cổ, đồng thời, ông cũng trình bày một số vấn đề để nâng cao chất lượng giảng dạy thơ văn cổ Việt Nam. Như vậy, tìm hiểu về vấn đề tiếp nhận văn học hay văn học trung đại Việt Nam đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu khác nhau nhưng nghiên cứu cụ thể về việc tiếp nhận văn học trung đại của học sinh THPT lại khá mới mẻ. Đây chính là lối đi còn rộng mở để chúng tôi tiếp tục khám phá về lĩnh vực này. Trên cơ sở tham khảo, tiếp thu những gợi ý, những định nghĩa quý báu của các công trình nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu vấn đề với một giai đoạn văn học cụ thể, một đối tượng cụ thể mà những công trình trước chưa đề cập tới.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lớ do chọn đề tài

1.1.Văn học trung đại Việt Nam bao gồm toàn bộ thơ văn cỏc loại từthế kỷ X đến thế kỷ XIX Đõy là một giai đoạn văn học cú nhiều thành tựuphong phỳ, nhiều tỏc giả, tỏc phẩm ưu tỳ Đú là Nguyễn Du với cõu chuyệnbuồn về cuộc đời trầm luõn của nàng Kiều; đú là tiếng khúc than ai oỏn củangười cung nữ qua cỏi nhỡn đầy thương cảm của Nguyễn Gia Thiều trong

Cung oỏn ngõm khỳc; hay đú là tiếng lũng vị tha của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn qua Hịch tướng sĩ…Cú thể núi, một số lượng lớn tỏc phẩm

đó ra đời trong suốt 10 thế kỷ này Nú đó vượt qua mọi khụng gian và thờigian để khẳng định vị thế của mỡnh trong lũng độc giả và trở thành tài sản quýcủa nền văn học nước nhà Nhiều cụng trỡnh nghiờn cứu về văn học giai đoạnnày đó ra đời nhưng vấn đề tiếp nhận văn học trung đại lại cha đợc quan tâm

đúng mức Đặc biệt là việc tiếp nhận văn học trung đại đối với học sinh trung

học phổ thụng (THPT) trong nhà trường hiện nay

1.2 Tiếp nhận văn học được hiểu như là giai đoạn hoàn tất quỏ trỡnhsỏng tỏc Nú được xem như là cơ chế cảm xỳc thẩm mỹ của độc giả diễn ratrong quỏ trỡnh chiếm lĩnh nghệ thuật Đú là cơ chế cảm xỳc thẩm mỹ tronglĩnh hội văn chương của độc giả xem tiếp nhận văn học là một quỏ trỡnh đồngsỏng tạo để chuyển nội dung văn bản nghệ thuật thành một thế giới tinh thần,biến tỏc phẩm thành đời sống ý thức xó hội

Nghiờn cứu về vấn đề tiếp nhận cú ý nghĩa vụ cựng to lớn bởi tỏc phẩmvăn chương chỉ thực sự trở thành tỏc phẩm khi bắt đầu dũng đời của nú xuấtphỏt từ tỏc giả đến khi người đọc tiếp nhận tác phẩm Hoạt động tiếp nhận làhoạt động tương tỏc giữa người đọc với tỏc phẩm và người đọc với tỏc giả

Nú vốn phong phỳ đa chiều do bản chất của văn học là một tỏc phẩm nghệthuật; do mỗi người tựy vào tỡnh cảm, tri thức, kinh nghiệm, vốn sống của bảnthõn mà tiếp nhận khỏc nhau Tiếp nhận văn học đề cao vai trũ của người tiếpnhận, chớnh người tiếp nhận quyết định số phận tỏc phẩm Và việc dạy học

Trang 2

văn trong nhà trường là một hoạt động tiếp nhận khỏ đặc biệt Vỡ với lứa tuổicũn trẻ người, ớt vốn sống, ớt kinh nghiệm thỡ việc tiếp nhận tỏc phẩm phụthuộc vào nhiều yếu tố nhất định Đặc biệt đối với một giai đoạn văn học tồntại nhiều khoảng cỏch đối với họ như: thời gian lịch sử, quan điểm thẩm mỹ,ngụn ngữ văn chương, phương phỏp nghệ thuật…Vỡ vậy, trờn cơ sở tiếp thu

những thành tựu của lý thuyết tiếp nhận, chỳng tụi chọn đề tài Mấy vấn đề về tiếp nhận văn học và việc tiếp nhận văn học trung đại Việt Nam của học

sinh THPT hiện nay với mong muốn gúp phần dựng nờn bức tranh toàn cảnh

về sự tiếp nhận văn học trung đại Mặt khỏc, đõy cũng là cỏch chỳng tụi bày tỏ

sự quan tõm và yờu thớch của bản thõn đối với một di sản quý bỏu của cha ụng

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lý thuyết tiếp nhận ra đời đó đem đến một diện mạo mới cho lýluận và nghiờn cứu văn học, phỏ vỡ sự độc quyền quỏ lõu của lối xem xột vănhọc chỉ quan tõm đến mối quan hệ tỏc giả - tỏc phẩm bằng cỏch bổ sung, lưu ýđến mối quan hệ tỏc phẩm – người đọc Hoạt động văn học từ xưa đến nayđều vận hành qua cỏc khõu hiện thực - nhà văn - tỏc phẩm - bạn đọc Cho nờn,cũng như cỏc mối quan hệ giữa tỏc phẩm với hiện thực, tỏc phẩm với nhàvăn…từ rất lõu, người ta ớt hoặc nhiều, trực tiếp hoặc giỏn tiếp, toàn diện hoặcmột vài khớa cạnh, đó chỳ ý đến mối quan hệ giữa tỏc phẩm với bạn đọc, tức

là sự tiếp nhận tỏc phẩm văn học của bạn đọc rồi Cú mầm mống từ rất lõu(những năm 10 – 20 của thế kỷ XX) nhưng phải đến những năm 60 của thế kỷ

XX với trường phỏi Konstanz ở CHLB Đức, mỹ học tiếp nhận mới chớnh thứcđược cụng nhận

Đại diện tiờu biểu của trường phỏi này là H.R Jauss ễng đề cao vai trũcủa người tiếp nhận trong nghiờn cứu văn học Theo ụng, tỏc phẩm văn họcchớnh là sự kết hợp giữa văn bản và sự tiếp nhận của người đọc Lịch sử vănhọc chớnh là lịch sử của mối quan hệ giữa tỏc phẩm và người tiếp nhận ễnggắn quỏ trỡnh lý giải tỏc phẩm khụng phải với sự tựy tiện tuyệt đối mà vớinhững khả năng khỏch quan của độc giả, được quy định bởi kinh nghiệm

Trang 3

thẩm mỹ và tầm đún đợi của họ Tuy nhiờn, Jauss cực đoan khi đề cao quỏmức vai trũ của người tiếp nhận Bởi nếu chưa cú sỏng tỏc thỡ khụng thể cútiếp nhận, cũn nếu khụng hoặc chưa cú tiếp nhận vẫn cú sỏng tỏc dự chưa phỏthuy được tỏc dụng.

Manfred Nauman – đại diện cho cỏc nhà nghiờn cứu macxit cũng xemquan hệ tỏc phẩm – người đọc là một vấn đề cơ bản cú ý nghĩa then chốt Tuynhiờn, họ cho rằng tỏc phẩm là một đề ỏn tiếp nhận (Rezeptionvorgabe), lànhõn tố hàng đầu, tớnh năng động của người đọc là một yếu tố cũng hết sứcthiết yếu

Năm 1985, lần đầu tiên lý thuyết “mỹ học tiếp nhận” của trờng pháiKonstanz (Đức) mà đứng đầu là Hans Robert Jauss đợc giới thiệu khá kỹ lỡng

cho bạn đọc Việt Nam trên tạp chí “Thông tin KHXH” Đây là một lý thuyết

đã biết tiếp thu thành tựu của các công trình nghiên cứu về thị hiếu và độc giảcủa các tác giả trớc nh Levin Schucking (Đức), Harald Weinrich (Đức)…từtừ

đấy xây dựng cho mình một cơ sở khoa học chặt chẽ và có hiệu quả để nghiêncứu sự tiếp nhận văn học

Trong hai mươi năm trở lại đõy, cỏc nhà nghiờn cứu nớc ta cũng đã rấtquan tõm đến vấn đề tiếp nhận văn học Trần Đỡnh Sử, Phương Lựu NguyễnVăn Hạnh, Nguyễn Văn Dõn, Huỳnh Văn Võn, … đều cú bài viết về vấn đề

này Tiờu biểu là cỏc cụng trỡnh như: Tiếp nhận văn học của Phương Lựu (NXB Giỏo dục, 1997), Tiếp nhận – bỡnh diện mới của lý luận văn học của

Trần Đỡnh Sử (Văn học nghệ thuật và sự tiếp nhận, Viện thông tin khoa học

xã hội, HN, 1991), Tiếp nhận văn học của Nguyễn Văn Dõn (NXB khoa học

kỹ thuật – 1991), Đọc và tiếp nhận văn chương của Nguyễn Thanh Hựng….

Năm 1986 giáo s Hoàng Trinh đã đề cập đến phạm trù công chúng - mộtphạm trù cơ bản của lý thuyết tiếp nhận Giáo s xuất phát từ quan điểm pháthuy tinh thần làm chủ tập thể của nhân dân trong sáng tác và phê bình văn học

để tìm hiểu sự tác động của ngời đọc đối với văn học Hay gần đây, có rấtnhiều bài báo bàn về vấn đề tiếp nhận Nhà nghiên cứu Nguyễn Lai nhấnmạnh đến “phẩm chất năng động chủ quan của chủ thể tiếp nhận”, NguyễnThanh Hùng nhấn mạnh đến quá trình biến đổi chủ thể tiếp nhận thành chủthể văn học, Từ Sơn nhấn mạnh đến việc phải quan tâm đầy đủ tới các nhu cầu

Trang 4

tiếp nhận văn học của công chúng, trong đó có nh cầu thông tin và nhu cầugiải trí Trần Đỡnh Sử cho rằng tiếp nhận văn học là một lĩnh vực rộng lớn của

lý luận văn học cũn đang để ngỏ Nú vụ cựng quan trọng bởi tiếp nhận vănhọc cú thể làm sỏng tỏ những vấn đề then chốt, đặc trưng, chức năng, cấutrỳc, giỏ trị của văn học mà lý luận từ phớa sỏng tỏc khụng giải thớch được.Theo ụng, cú hai quan niệm về tiếp nhận văn học trong truyền thống là tri õm

và ký thỏc Quan niệm tri õm đũi hỏi người đọc tiếp nhận hết, hiểu hết nhữngđiều tỏc giả muốn núi trong tỏc phẩm bằng hỡnh tượng Nhưng yờu cầu nàytrong thực tế là quỏ khú, khụng thực hiện được Lưu Hiệp, nhà lý luận phờbỡnh nổi tiếng thời cổ đại của Trung Quốc đó phải núi: “Tri õm khú vậy thay.Cỏi õm thực khú biết, người biết thực khú gặp Gặp được người tri õm, nghỡn

năm mới cú một lần” (Văn tõm điờu long) Cũn trong quan niệm ký thỏc,

người đọc cú thể xem tỏc phẩm như phương tiện thể hiện nỗi lũng Ở đúngười đọc cú thể phỏt huy trớ tưởng tượng, sự sỏng tạo của mỡnh để đem đếncho tỏc phẩm một ý nghĩa mới Trong thực tế cỏch đọc này khỏ phổ biến.Nhỡn chung, cỏc nhà nghiờn cứu Việt Nam đó thấy được tầm quan trọng của

lý thuyết tiếp nhận trong nghiờn cứu văn học Họ đã thấy đợc cái cốt lõi củavấn đề lý luận tiếp nhận Những ý kiến của họ đã góp phần khẳng định vị trícủa lý luận tiếp nhận ở nớc ta

2.2 Thời gian đó trụi qua rất lõu kể từ ngày đặt dấu chấm kết thỳc chomột giai đoạn phỏt triển của lịch sử văn học nước nhà, thời kỳ văn học trungđại Khoảng thời gian đú đủ để những gỡ thuộc về nú bước lờn ngai vàng củagiỏ trị cổ điển Thế nhưng càng ngày chỳng ta càng nhận ra rằng giỏ trị củavăn học trung đại như suối ngàn dào dạt khơi mói khụng bao giờ cạn

Văn học trung đại là giai đoạn văn học phỏt triển cực thịnh và cú nhiềuthành tựu mẫu mực nhất của gần 10 thế kỷ văn học Nú đó được sàng lọc kỹcàng qua thời gian, là kết tinh những tinh hoa văn húa, tư tưởng, văn học dõntộc Đú là giai đoạn hoàng kim với những tỏc gia tờn tuổi tài danh như:

Trang 5

Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Đoàn Thị Điểm, NguyễnTrãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm…với những tác phẩm có sức sống lâu bền.

Chính vì vậy, văn học giai đoạn này luôn là mảnh đất màu mỡ để cácnhà nghiên cứu tìm tòi và khám phá Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu

về văn học trung đại chúng tôi nhận thấy mỗi tác giả tự tìm cho mình những

hứng thú khác nhau khi nghiên cứu về văn học giai đoạn này Ví dụ trong Thi pháp văn học trung đại (Trần Đình Sử), tác giả trình bày quan niệm về con

người trong thơ trung đại; nhận xét về các tác giả lớn với tư cách là con người

trong thơ; đề cập tới vấn đề thi pháp của văn học trung đại Hay trong Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam thế kỷ X – XIX (Bùi Duy Tân chủ biên), đã

phác thảo nhưng nét cơ bản về diện mạo văn học Việt Nam trong 10 thế kỷ,thâu tóm các tác phẩm đặc sắc của các tác giả tiêu biểu, đi sâu tìm hiểu giaiđoạn văn học thế kỷ X – XIV…Hoặc những công trình của một số tác giả

khác như: Văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX của Hoàng Hữu Yên,Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa cuối thế kỷ XIX của Đặng Thanh Lê, Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam

(nhóm nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn, Trần Đình Sử, Huyền Giang, Trần NgọcVương, Trần Nho Thìn, Đoàn Thị Thu Vân…) Như vậy, việc nghiên cứu vềvăn học trung đại trên diễn đàn văn học diễn ra vô cùng phong phú và đa dạngvới những khía cạnh, những hướng tiếp cận khác nhau

2.3 Trong x· héi c«ng nghiÖp ph¸t triÓn kinh tÕ thÞ trêng, con ngườingày càng bị cuốn vào dòng chảy xô bồ của cuộc sống nhưng cũng có nhữnglúc họ cần một chút để nhìn lại bản thân, lắng lòng mình một chút để cảmnhận sự trôi chảy của thời gian, một chút để nhìn về quá khứ mà phấn đấu chohiện tại và tương lai…Và văn học là nơi đem đến cho con người một chút nhưthế Đó là nơi chúng ta thả mình trong những cảm xúc để “phiêu” cùng chủthể trữ tình với những vần thơ lãng mạn bay bổng, hoặc đó là nơi để bày tỏsuy nghĩ về những vấn đề của hiện thực được đề cập tới trong tác phẩm…

Trang 6

Tiếp xúc với văn học phải chăng là một quá trình gián tiếp để hoàn thiện bảnthân?

Văn thơ trung đại là bộ phận văn chương có khả năng trực tiếp bồidưỡng cho thế hệ trẻ những phẩm chất truyền thống tốt đẹp của dân tộc Tuyvậy, việc tiếp nhận tác phẩm văn học trung đại đối với học sinh vẫn còn gâynhiều phiền toái cho cả người dạy lẫn người học làm cho kho tàng quý báucủa cha ông để lại lại thành ra “kính nhi viễn chi” Vấn đề có nhiều nguyênnhân mà nguyên nhân chủ yếu là do rào cản ngôn ngữ Từ cổ, từ Hán Việt,thuật ngữ là hố ngăn cách học sinh ngày nay khi tiếp xúc với thơ văn cổ.Thêm vào đó là người tiếp nhận văn bản dù muốn hay không cũng phải cómột kiến thức nền khả dĩ, ít nhiều phải hiểu rõ môi trường văn hóa trung đại,

tư tưởng ý thức hệ chính thống, điển cố, điển tích, thể loại văn học…Hơnnữa, học sinh ngày nay là thế hệ trẻ lớn lên trong chế độ xã hội chủ nghĩa,hàng ngày tiếp xúc với lối sống hiện đại Tâm lý chung của họ là nhạycảm với cái mới, cái cổ truyền mặc dù có giá trị cũng xa lạ đối với họ.Nếu không được hướng dẫn nhận thức và cảm thụ có khi họ còn phê pháncái cổ là lỗi thời, lạc hậu

Rất nhiều tác phẩm thuộc giai đoạn văn học trung đại được đưa vàogiảng dạy trong nhà trường phổ thông Nhưng không phải ai cũng cảm nhậnđược hết cái tinh hoa cùng vẻ đẹp văn chương của các bậc thi nhân tiền bối đãgửi gắm trong từng câu chữ Đặc biệt đối với bạn đọc – học sinh, họ thườngmắc phải nhiều sai lầm khi đánh giá tác giả và tác phẩm thuộc giai đoạn vănhọc này Để nâng cao hiệu quả tiếp nhận văn học trung đại Việt Nam nóichung và tiếp nhận văn học trung đại trong nhà trường của học sinh THPT đã

có rất nhiều những công trình nghiên cứu khác nhau: Giảng dạy văn học ở nhà trường phổ thông (Phương Lựu), Phương pháp dạy hoc ngữ văn THPT – những vấn đề cập nhật (Nguyễn Thanh Hùng – Lê Thị Diệu Hoa), Mấy vấn

đề về phương pháp dạy thơ văn cổ Việt Nam (Nguyễn Sĩ Cẩn)…Hầu hết, họ

đều tập trung vào việc đưa ra những phương pháp để tiếp cận tác phẩm văn

Trang 7

học một cỏch hiệu quả nhất Đặc biệt Nguyễn Sĩ Cẩn với cụng trỡnh của mỡnh

đó chỉ ra cụ thể những thuận lợi và khú khăn khi tiếp xỳc với thơ văn cổ,đồng thời, ụng cũng trỡnh bày một số vấn đề để nõng cao chất lượng giảngdạy thơ văn cổ Việt Nam

Như vậy, tỡm hiểu về vấn đề tiếp nhận văn học hay văn học trung đạiViệt Nam đó cú rất nhiều những cụng trỡnh nghiờn cứu khỏc nhau nhưngnghiờn cứu cụ thể về việc tiếp nhận văn học trung đại của học sinh THPT lạikhỏ mới mẻ Đõy chớnh là lối đi cũn rộng mở để chỳng tụi tiếp tục khỏm phỏ

về lĩnh vực này Trờn cơ sở tham khảo, tiếp thu những gợi ý, những địnhnghĩa quý bỏu của cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu của những người đi trước, chỳngtụi tiếp tục đi sõu nghiờn cứu vấn đề với một giai đoạn văn học cụ thể, mộtđối tượng cụ thể mà những cụng trỡnh trước chưa đề cập tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiờn cứu

3.1 Đối tượng nghiờn cứu

Luận văn tập trung nghiờn cứu những vấn đề về lý thuyết tiếp nhận vàhoạt động tiếp nhận văn học trung đại của học sinh THPT hiện nay

3.2 Phạm vi nghiờn cứu

Luận văn tập trung nghiờn các vấn đề lý luận về tiếp nhận văn học vàkhảo sát sự tiếp nhận văn học trung đại Việt Nam của học sinh một số trườngTHPT thuộc huyện Ứng Hũa và huyện Mỹ Đức, Hà Nội

4 Phương phỏp nghiờn cứu

Thực hiện đề tài này, chỳng tụi vận dụng chủ yếu cỏc phương phỏpnghiên cứu sau:

4.1 Phương phỏp so sỏnh, đối chiếu

Trong quỏ trỡnh khảo sỏt và phõn tớch việc tiếp nhận văn học của học sinh,chỳng tụi cú so sỏnh đối chiếu việc tiếp nhận của học sinh ở cỏc trường khỏcnhau về cỏc mặt: trỡnh độ, giới tớnh…; so sỏnh việc tiếp nhận văn học trung đạicủa học sinh ở các khối lớp khác nhau: chuyên ban, không chuyên ban

4.2 Phương phỏp điều tra, khảo sát

Trang 8

Chỳng tụi đó tiến hành điều tra qua hệ thống cõu hỏi trắc nghiệm khỏchquan và tự luận, qua cỏc bài làm văn của học sinh cú liờn quan tới kiến thức

về văn học trung đại đang được giảng dạy trong nhà trường

4.3 Phơng pháp thống kê

Đợc sử dụng dể xử lý các số liệu thu thập đợc trong quá trình khảo sátnhằm đạt đến những kết luận chính xác, khách quan

5 Đúng gúp của luận văn

“Trong văn học cổ nước ta cú nhiều hạt ngọc bị che phủ bởi lớp bụithời gian mà bổn phận chỳng ta là phải tỡm tũi, nhận xột,lượm lặt, khụng bỏsút một hạt nào” (Trường Chinh).Vỡ thế, với đề tài này, chỳng tụi mong muốncung cấp một cỏi nhỡn hoàn chỉnh hơn về văn học trung đại Việt Nam núichung và văn học trung đại Việt Nam trong nhà trường núi riờng

Qua điều tra khảo sát xã hội học một cỏch khách quan, nghiêm túc,luận văn sẽ gúp phần phản ỏnh thực trạng việc tiếp nhận văn học trung đại củahọc sinh THPT hiện nay

Vai trũ của người tiếp nhận đó được nghiờn cứu nhiều trong những nămgần đõy Tuy nhiờn, vấn đề kết hợp, cộng hưởng giữa lý thuyết tiếp nhận vớimột giai đoạn văn học, và một đối tượng cụ thể thỡ chưa cú một cụng trỡnhnghiờn cứu nào cụ thể, chuyờn sõu Trong giới hạn cú thể, luận văn cung cấpmột cỏi nhỡn chi tiết hơn về việc tiếp nhận văn học trung đại của học sinhTHPT hiện nay nhằm gúp phần đẩy mạnh việc nghiên cứu văn học trung đại

và đổi mới dạy và học tỏc phẩm văn học trong nhà trường

6 Cấu trỳc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của luận văn baogồm 3 chơng:

Chương 1: Mấy vấn đề về tiếp nhận văn học

Chương 2: Tiếp nhận văn học trung đại của học sinh THPT hiện nayChương 3: Tiếp nhận văn học trung đại Việt Nam của học sinh THPThiện nay - những vấn đề lý luận và thực tiễn

NộI DUNGChơng 1: Mấy vấn đề về tiếp nhận văn học

Trang 9

ông lại là ngời có một quan niệm phản tiếp nhận khi cho rằng khoái cảm thẩm

mỹ chỉ làm tâm hồn con ngời rối loạn, gây tác hại đến lí trí Ông đã từngtuyên bố: khoái cảm là kẻ bịp bợm tồi tệ nhất Phải chăng vì thế cho nên mãi

đến nửa cuối thế kỷ XX này, khi có sự ra đời của trờng phái “mỹ học tiếpnhận” ở Konstanz (Đức) vào những năm 60, 70 thì lý luận tiếp nhận văn họcmới thực sự đợc hình thành? Tất nhiên đây mới chỉ là một cách nói, thật rahơn hai nghìn năm qua không phải là không có ai nói tới vấn đề này Song đóchỉ là những ý kiến đơn lẻ, không đủ mức độ để làm thành lý huyết hoànchỉnh Thậm chí có những quan niệm còn tiêu cực hơn cả Platon về một sốlĩnh vực của vấn đề (ví dụ: quan điểm về thị hiếu do các nhà triết học kinhviện thời trung đại đa ra với câu nói đã trở thành một giáo điều nổi tiếng:không thể bàn cãi về thị hiếu” )

Lấy việc nghiên cứu sự tiếp nhận của ngời đọc làm nhiệm vụ trung tâm,

lý thuyết tiếp nhận ra đời vào giữa thế kỷ XX là một bớc tiến quan trọng củanền lý luận văn học Tuy nhiên, trớc khi lý thuyết tiếp nhận ra đời, nhân loại

đã có những tiếp cận nhất định đối với vấn đề này Thời cổ đại, Arixtot đãtừng đề cập tới khái niệm “cathasis” trong cảm xúc thẩm mỹ của đối tợng Khi

ông định nghĩa bi kịch nh sự thanh lọc tình cảm thông qua xót thơng và sợ hãithì cũng có nghĩa là ông đã động chạm đến nhân tố ngời đọc Sau Arixtot,Kant cũng đề cấp đến khái niệm “thị hiếu” trong các tác phẩm của mình ĐếnHeghen vấn đề tiếp nhận đã đợc đề cập một cách khá cụ thể Ông cho rằng

“tác phẩm nghệ thuật tồn tại để…từcho công chúng, những ngời muôn nhìn thấytrong đối tợng miêu tả bản thân mình cùng với những tín ngỡng, tình cảm vàtrí tởng tợng của mình, và để cho công chúng có khả năng trở thành đồngvọng với vật thể đợc miêu tả” (Heghen, Mỹ học, tập 1)

Nhà phê bình lý luận Nga Biêlinxki cũng nhiều lần nhắc đến nhân tốngời đọc Ông cho rằng văn học không thể thiếu công chúng, cũng nh côngchúng không thể thiếu văn học Khi bàn về Puskin, ông nhấn mạnh đến sự luchuyển, sự biến đổi, những quan niệm của độc giả về các hiện tợng văn học:Puskin thuộc về những hiện tợng sống động và chuyển biến không ngừng,

Trang 10

những hiện tợng không chấm hết tại thời điểm cái chết của nhà văn mà vẫntiếp tục phát triển trong ý thức xã hội ở đây, Beiêlinxki đã nhìn thấy nhữngkhả năng bất tận của các tác phẩm Puskin trong mối liên hệ với ngời đọc, tácphẩm của Puskin sẽ không đứng yên mà luôn luôn biến đổi theo sự tiếp nhậncủa ngời đọc.

Nh vậy, trong quá khứ lý thuyết tiếp nhận đã đợc đề cập ở những góc độnhất định Tuy nhiên, để nói đến tiền đề vững chắc cho sự ra đời của lý thuyếttiếp nhận phải nhắc đến vai trò của chủ nghĩa cấu trúc trờng phái Prague vàhàng loạt những trờng phái khác nh: giải thích học, chủ nghĩa hình thức Nga,xã hội học văn học…từTiếp nhận văn học bắt đầu hình thành lý thuyết với một

số khái niệm quan trọng của nó nh: tác phẩm, ngời đọc, việc đọc, sự đồng nhấtthẩm mỹ, đề án tiếp nhận, kết cấu vẫy gọi…từ

Chủ nghĩa cấu trúc ra đời trên cơ sở phát triển những thành tựu của chủnghĩa hình thức Nga Khái niệm “lạ hoá” của Skhlopxki lần đầu tiên đã nhấnmạnh đến vai trò của ngời đọc Xuất phát từ nhân tố ngời đọc, ông đã đề xuấtcách miêu tả làm cho sự vật trở nên mới lạ, hấp dẫn đối với ngời đọc

Chủ nghĩa cấu trúc tiếp tục nhấn mạnh vai trò của ngời đọc Họ chorằng, khi ngời đọc tiếp xúc với một tác phẩm, không phải là đang đối diện vớimột văn bản mang hàm nghĩa nào đó, mà chỉ là một văn bản đợc đan dệt mộtcách có nghệ thuật những lời văn, và bạn đọc, do đó, mỗi ngời sẽ có một cách

lý giải khác nhau đối với tác phẩm

Đến chủ nghĩa hậu cấu trúc, Jacques Derrida một lần nữa tạo tiền đềcho sự ra đời của lý thuyết tiếp nhận khi cho rằng “cái đợc biểu đạt” có thể trởthành “cái biểu đạt”, tức là “cái biểu đạt” sẽ tạo ra hàng loạt những “cái đợcbiểu đạt” tuỳ theo sự tiếp nhận của ngời đọc

Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu thuộc trờng phái hiện tợng luận(Roman Ingarden) và giải thích học (Hans Georg Gadama) cũng nhấn mạnh

đến vai trò của ngời đọc Những nhận định của họ đã góp phần tạo tiền đề cho

sự ra đời của mỹ học tiếp nhận

Đến những năm 50 của thế kỷ XX, mô hình mỹ học tiếp nhận tơng đốihoàn chỉnh đã ra đời với chủ soái là Robert Jauss Ông có một cái nhìn độc

đáo về “tính lịch sử của văn học” Theo ông, sự thật của tác phẩm phải baogồm sự thể hiện ý đồ sáng tạo của nhà văn và sự tiếp nhận thực tế của ngời

đọc Jauss khẳng định: tính lịch sử của văn học không phải ở chỗ chỉnh lý, sắpxếp những sự thực văn học mà ở những trải nghiệm vốn có của bạn đọc đốivới tác phẩm văn học (Lịch sử văn học nh là sự thách thức đối với khoa họcvăn học) Tác phẩm văn học đợc ông quan niệm: tác phẩm văn học = văn học+ sự tiếp nhận của công chúng Theo Jauss, mỹ học tiếp nhận, khác với chủ

Trang 11

nghĩa hình thức thẩm mỹ, nó không chỉ cho phép nắm bắt ý nghĩa và hìnhthức của tác phẩm trong quá trình tiến triển lịch sử của nó, mà còn đặt mỗimột tác phẩm vào trong chuỗi văn học của nó nhằm xác định vị trí lịch sử, vaitrò và tầm quan trọng của nó trong bối cảnh văn học chung Nh vậy, việc tiếpnhận văn học không còn là sự tiếp nhận thụ động của độc giả, mà là một sựtiếp nhận tích cực, tác động trở lại tác giả để tạo ra một tác phẩm mới

Với những khái niệm trọng tâm nh: tầm đón nhận, khoảng cách thẩm

mỹ…từJauss và cả trờng phái Konstanz đã tạo lập nên một định thức biểu thị sựhoàn tất quá trình sáng tạo của nhà văn, nhà thơ từ sáng tác đến tiếp nhận

Ngay từ khi mới ra đời, “mỹ học tiếp nhận” đã có ảnh hởng mạnh mẽtrên thế giới Xuất phát từ Cộng hoà Liên bang Đức, lý luận này lan truyềnrộng rãi sang nhiều nớc Nó đã giúp cho các nhà nghiên cứu giải quyết đợcmột số vấn đề trong lĩnh vực nghiên cứu công chúng

Nh vậy, những thành tựu về lý thuyết tiếp nhận văn học cho ta thấy tácphẩm văn học nh một máy thu có nhiều dải sóng mà ngời nhanh là kẻ chỉnhsóng để bắt đợc đúng chơng trình mà mình mong đợi Lý thuyết tiếp nhận baogồm toàn bộ quá trình biến văn bản thành tác phẩm nghệ thuật; quá trình thựchiện sự tồn tại xã hội của tác phẩm, sự tác động và làm phong phú lẫn nhaugiữa ngời đọc và tác phẩm Cũng theo lý thuyết này, tác phẩm văn học nh một

đối tợng tiếp nhận, nó là một quá trình tồn tại qua nhiều giai đoạn: ý đồ, t ởngtợng, văn bản, sự khách thể hoá ý đồ trong một cấu trúc có tính ký hiệu, sựcảm thụ của ngời thởng thức Do đó, tác phẩm không phải là hiện thực đợc

“vật chất hoá” hoàn bị và đông cứng trong tính trọn vẹn của nó Trái lại, bất

h-Tiếp nhận văn học là quá trình ngời đọc thể nghiệm chính mình, đồngthời tìm tòi, phát hiện sự sáng tạo của nhà văn biểu hiện vừa hữu hình, vừa tồntại ở dạng tiềm năng trong văn bản Bởi “mọi tác phẩm văn học đều dang dở,luôn đòi hỏi sự bổ sung mà không bao giờ ta đạt tới giới hạn cuối cùng bằngvăn bản” (Roman Ingarden) Mỗi ngời đọc, khi tiếp nhận tác phẩm đợcxem nh một phơng án, phản ánh những mức độ khác nhau của khả năngtiếp nhận Tuy nhiên, cách tiếp nhận của mỗi cá nhân, ở mỗi thời đại lại

có những khác biệt nên lịch sử tiếp nhận là quá trình không ngừng khám

Trang 12

phá những ý nghĩa mới mẻ của tác phẩm trên cơ sở khả năng hấp dẫnkhông cùng từ văn bản.

Mặt khác, nói đến quá trình tiếp nhận văn học, ta nghĩ ngay đến “sảnphẩm” đợc làm ra Tác phẩm, sản phẩm ấy cha qua tay ngời tiêu dùng, tức làcha có sự tác động ngợc lại của một chủ thể tiếp nhận thì tác phẩm ấy chỉ tồntại trong dạng tiềm năng Vì thế, theo Gơt, muốn đợc gọi là một tác phẩmhoàn chỉnh thì những con chữ, những từ, những dòng, những trang của tácphẩm ấy phải chịu sự phản ứng qua những xúc động, tình thơng và ý nghĩacủa một chủ thể tiếp nhận

Nh vậy, ngời đọc có vai trò quan trọng đối với vấn đề tiếp nhận Họ có

ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại sinh mệnh nghệ thuật của một tác phẩm vănhọc Có ý kiến cho rằng: tác phẩm nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng

là cả một bí mật mà để mở bí mật đó, độc giả phải sử dụng chìa khoá trong óctởng tợng của mình Ngời đọc là một “mắt xích” quan trọng trong sơ đồ vòng

đời tác phẩm, bởi đó chính là cái đích mà sự sáng tạo hớng tới, nhằm thoảmãn nhu cầu nhận thức và cải tạo đời sống “Văn học sẽ không có tác dụng gìnếu nó đợc viết ra mà không đợc ngời đọc tiếp nhận” (Huỳnh Vân) Ngời đọcgiúp tác phẩm đi hết vận số của mình, và với chức năng này, họ thành nhân tốkhông thể thiếu đợc của quá trình văn học.Văn hào Gorki từng nhấnmạnh“chính do chỗ hoà hợp, trùng hợp những kinh nghiệm cua nhà văn văn

và kinh nghiệm của bạn đọc mà ta có chân lý nghệ thuật – cái sức thuyếtphục đặc biệt của văn học vốn là cội nguồn ảnh hởng của nó đối với con ng-ời” Chân lý nghệ thuật mà Gorki muốn nói chính là vai trò tích cực của ng ờitiếp thu nghệ thuật

Bất cứ tác phẩm nào cha công bố, thậm chí cha phát hành thì đã cókhông ít ngời đọc rồi, đó là những ngời biên tập của nhà xuất bản Thậm chíbản thảo tác phẩm cha in cũng có ít nhất một ngời đọc - đó chính là tác giả.Nhng “Tác phẩm nghệ thuật mà mọi sản phẩm cũng thể có thể tạo ra côngchúng sính nghệ thuật, biết thởng thức cái đẹp Cho nên, sản xuất khôngnhững sản xuất ra đối tợng cho chủ thể, mà còn sản xuất ra chủ thể cho đối t-ợng” Vì vậy, nếu không có ngời đọc tiếp nhận thì văn bản và nhà văn cũngmất lý do tồn tại

Ngay khi nhà văn thái nghén và trong suốt quá trình hình thành tácphẩm, vai trò của ngời đọc thật ra đã không hề vắng bóng Với nhu cầu, thịhiếu, động cơ, tâm thế, điều kiện và hoàn cảnh thởng thức của mình, ngời đọc

đã chi phối rất lớn tới quá trình sáng tạo của nhà văn Nhng khác với ngời tiêu

Trang 13

thụ sản phẩm thông thờng, ngời đọc văn học đã làm phong phú thêm cho tácphẩm bằng những cảm thụ và đánh giá riêng của mình Trong khi tiếp nhậntác phẩm, họ đã lấp đầy những “khoảng trống” mà nhà văn có ý thức hoặc vôtình tạo nên Ngời đọc bằng hoạt động liên tởng, tởng tợng của mình làm phát

lộ những ẩn ý tiềm tại trong mạch lạc của nó, làm dậy lên tiếng nói của nhữngkhoảng lặng Chính tính tích cực, sáng tạo của ngời đọc giúp cảm nhận hình t-ợng một cách toàn vẹn Là con đẻ của nhà văn nhng khi ra đời tác phẩm lại đ-

ợc nuôi dỡng bởi bàn tay của ngời đọc Nó có thể chết khi nhà văn còn sống

và ngợc lại, nó có thể sống và trở thành bất tử cả khi nhà văn không còn nữa.Biết bao văn sĩ đã biến mất khỏi ký ức của nhân loại vì tác phẩm của họ cha

đủ lu dấu với thời gian Bởi tác phẩm nghệ thuật có giá trị phải là “sự thoảmãn nhu cầu cả về phía ngời sáng tạo lẫn chủ thể tiếp nhận” (Nguyễn NgọcThiện)

ở cấp độ cao hơn, ngời đọc phát hiện ra những ý nghĩa mới của tácphẩm cùng những mối liên hệ chỉnh thể tơng ứng với chúng Đây chính là yếu

tố then chốt tạo nên sức sống trờng cửu của tác phẩm Có những tác phẩmsống mãi với thời gian và đi vào lich sử văn học dân tộc nhng cũng có nhữngtác phẩm khi mới ra đời đã hoàn toàn bị quên lãng

Ngời đọc không những làm phong phú, lấp đầy khoảng trống mà họ còn

là ngời sàng lọc và bảo tồn tác phẩm văn học về mặt chất lợng Ngời đọc tiếpnhận tác phẩm luôn luôn song hành với loại bỏ Tuy việc sàng lọc là khôngxuôi chiều, có những tác phẩm mới ra đời bị lạnh nhạt nhng càng về sau mới

đợc khẳng định là kiệt tác, hoặc vốn cũng đợc chào đón ngay từ đầu nhng đợc

đánh giá rất khác nhau của ngời đọc qua các thời đại nhng nhờ sàng lọc mànhững tác phẩm thật sự có giá trị sẽ còn lại với thời gian Nh vậy, tác phẩmlừng lẫy ít hay nhiều, đứt quãng hay liên tục…từphải qua sự sàng lọc của ngời

đọc Chỉ có công chúng bạn đọc mới thực sự chuyển hoá những giá trị tinhthần trong tác phẩm trở thành những động lực tình cảm trong tiến trình lịch sử

Do đó, nghiên cứu và tiếp nhận văn chơng phải lắng nghe và tôn trọng tiếngnói của độc giả Họ có thể giải mã những thông điệp nghệ thuật mà nhà văn

đã nhập mã vào tác phẩm hoặc tạo ra một kiểu giải mã gần đúng với mã củatác phẩm cũng có khi dùng một mã hoàn toàn trái ngợc với mã của tác giả

Trong khi tiếp nhận, ngời tiếp nhận luôn đòi hỏi sự đồng cảm, họ giao

động và sự chủ ý (của tác giả) cũng giao động bấp bênh trong suốt quá trìnhtiếp nhận văn bản Từ sự tiếp nhận này đến sự tiếp nhận khác không có quátrình giống nhau Lúc tiếp nhận, bên cạnh sự cố ý còn có vai trò của sự không

Trang 14

cố ý Ngời tiếp nhận không chỉ cảm nhận tác phẩm nh là kí hiệu, mà còn nh là

sự việc, sự vật, hiện thực, cái hiện thực dâng sẵn bên ngời đọc, ngời đọc coi nó

là hiện thực Do đó, tác phẩm văn học chỉ tồn tại trong sự tác động qua lạigiữa tác phẩm và ngời tiếp nhận

Tác phẩm văn chơng là thành quả sáng tạo của con ngời Tuy nhiên, đểhiểu và cảm thụ nó không phải chuyện dễ Tình yêu đối với cái đẹp, sự say mê

đối với văn chơng nghệ thuật sẽ giúp ngời đọc nghe đợc tiếng nói của nhà văn

Đồng thời, đến lợt mình ngời đọc cảm thấy trở nên phong phú, sâu sắc và tinh

tế hơn từ sự cảm thụ cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chơng

1.2 Một số phạm trù của tiếp nhận văn học

1.2.1 Tầm đón nhận

Lý luận tiếp nhận văn học xem mối quan hệ giữa tác phẩm và ngời đọc

là vấn đề trung tâm nghiên cứu của mình Trong đó, tác phẩm là một quátrình, tồn tại qua nhiều giai đoạn: ý đồ, tởng tợng, văn bản, sự khách thể hoá ý

đồ trong một cấu trúc có tính ký hiệu, sự cảm thụ của ngời thởng thức Cònngời đọc, với t cách là chủ thể của sự tiếp nhận, trong quá trình tiếp nhận

“bằng tiềm năng đọc của mình và những kinh nghiệm xã hội và nghệ thuậtcủa mình xây dung lại thế giới nghệ thuật mà nhà văn đã xây dung nên bằnghình tợng, t tởng và cấu trúc ngôn ngữ, giải mã những điều mà nhà văn đã mãhoá trong tác phẩm, tạo lại cái mà tác giả đã đa vào cấu trúc nghệ thuật củamình, biến một văn bản “tự nó” thành một tác phẩm “cho mình”, biến tácphẩm ở dạng khả năng thành ra hiện thực

Tính năng động, sáng tạo của ngời đọc có vai trò nh thế nào trong quátrình tiếp nhân? Vấn đề này liên quan đến khái niệm “tầm đón nhận” củaH.R.Jauss - đó là tiền đề tiếp nhận tác phẩm ở ngời đọc

1.2.1.1 Quan niệm về tầm đón nhận

Khởi nguồn từ cộng hoà liên bang Đức với trờng phái Konstanz, lýthuyết tiếp nhận hiện đại đã đợc nhiều nớc trên thế giới tiếp thu và phát triển.Cống hiến của lý thuyết tiếp nhận là khẳng định vai trò không thể thiếu củangời đọc trong đời sống tác phẩm Lý luận tiếp nhận đợc bắt đầu từ sự ý thức

về đối tợng thẩm mỹ Tiếp nhận thẩm mỹ không phải là sự tái hiện đơn giản

mà là quá trình phức tạp: quá trình tham dự và đồng sáng tạo của ngời tiếpnhận ở đó, quyết định số phận của mỗi thời đại là “tầm đón nhận”(Erwrtungshorizont) của ngời đọc

Tác phẩm văn học mang đặc trng riêng của cấu trúc nghệ thuật ngôn từ

Đó là một chỉnh thể bao gồm các thành tố nhà văn – văn bản – ngời đọc

t-ơng tác với nhau Nội dung thẩm mỹ của tác phẩm văn học gắn liền với tầm

Trang 15

đón nhận của ngời đọc Thuật ngữ này đợc Jauss mợn của nhà triết học, xã hội

học K Mannheim vận dụng vào văn học, chỉ khả năng, giới hạn và nhu cầutiếp nhận văn học cụ thể (thống nhất với khát vọng đạo đức, lý tởng thẩm

mỹ…từ) ở từng cá nhân, thế hệ, loại hình ngời đọc Nó đợc hình thành, xâydung trong cả quá trình dài – quá trình ngời đọc tiếp xúc, làm quen, đốingoại với nghệ thuật để đạt đợc sự chủ động nhất định trong quan hệ đối với

nó Tầm đón nhận không đứng yên mà có sự vận động, thay đổi, dới sự tác

động ngợc trở lại của những sáng tác mang nhiều tính cách tân

Theo Jauss “tầm đón nhận” là hệ quy chiếu của kinh nghiệm văn họccủa ngời tiếp thụ văn học, nó là tầm hiểu biết về văn học của ngời tiếp thụ và

nó sẽ luôn luôn thay đổi theo lịch sử và tuỳ thuộc vào tác phẩm đợc tiếp nhận

Nó là một tập hợp các quy chuẩn thẩm mỹ có thể tái lập đợc của một côngchúng văn học xác định, nó có thể và cần phải điều chỉnh đợc về mặt xã hộihọc tuỳ theo những khuynh hớng đặc thù của các tập đoàn, tầng lớp hoặc giaicấp khác nhau, và có thể đối chiếu đợc với những quyền lợi và nhu cầu củatình trạng lịch sử, kinh tế chi phối chúng Hệ quy chiếu gồm ba yếu tố cơ bản:

1 Kinh nghiệm có trớc của ngời đọc về thể loại tác phẩm; 2 Hình thức và hệ

đề tài của tác phẩm trớc nó yêu cầu phải tìm hiểu; 3 Sự đối lập giữa ngôn ngữthi ca và ngôn ngữ thực tế, giữa thế giới tởng tợng và thực tế hàng ngày Điềunày có nghĩa là mỗi độc giả có tầm hiểu biết về văn học và tầm hiểu biết này

sẽ thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử

Theo Trần Đình Sử, tầm đón nhận chính là sự hiện diện của một côngchúng, nó đợc khách quan hoá vào ba nhân tố sau: 1 Những hình thức đã biếthay là thi pháp nội tại của thể loại; 2 Mối liên hệ tiềm tàng với các tác phẩm

đã biết của môi trờng lịch sử văn học; 3 Sự đối lập của tởng tợng và thực tại,của các chức năng thực tế và chức năng nghệ thuật của ngôn ngữ

Theo Nguyễn Thị Thanh Hơng, tầm đón nhận là mức độ hiểu biết vềvăn học nghệ thuật, kinh nghiệm sống hiện có, khả năng phân tích, lý giải cácvấn đề xã hội, văn hoá, chính trị…từvà khả năng, mức độ tiếp nhận cái mớitrong văn học dựa trên vốn hiểu biết sẵn có của học sinh nói riêng và của bạn

đọc nói chung Vì vậy, sự tiếp nhận không thể diễn ra nếu vấn đề tiếp nhận vợtquá tầm đón nhận của độc giả

Có thể thay đổi hoặc tái lập tầm đón nhận đối với một tác phẩm, nó phụthuộc vào tính chất, mức độ, tác động của văn bản văn học đối với công chúng

và phụ thuộc vào các quy chiếu thẩm mỹ của một lớp bạn đọc nhất định Sự

Trang 16

thay đổi hoặc tái lập tầm đón nhận phụ thuộc vào điều kiện xã hội, chính trị,kinh tế cụ thể và do yêu cầu giáo dục của nhà trờng đặt ra.

Cần phân biệt giữa tầm đón nhận cá nhân với tầm đón nhận tập thể Cáisau tiêu biểu cho một lớp ngời, một thế hệ, một lực lợng xã hội Nó phản ánh

và tập hợp những nét chung nhất tầm đón nhận của những cá thể trong tongphạm vi ấy Nó cũng có thể biểu hiện tập trung ở tầm đón nhận của các nhàphê bình kiệt xuất, thái độ công minh, chính trực, kiên quyết, uyên bác, nănglực thẩm văn sâu sắc và tinh tế

2 Tầm đón nhận đời sống là kinh nghiệm sống hiện có, trình độ lý giảicác vấn đề xã hội, lịch sử, đạo đức, chính trị

Theo giáo s Phơng Lựu tầm đón nhận đợc biểu hiện cụ thể ở các mặtsau:

1 Tầm đón chờ ý nghĩa: Bất cứ bạn đọc nào đối với bất kỳ tác phẩmvăn học nào, cũng mong muốn nó vừa biểu hiện vừa củng cố và nâng caonhững t tởng, tình cảm, những hứng thú và sở thích phù hợp với lý tởng củamình Cũng có thể đó là sự khẳng định trực tiếp những cái chính diện, cũng cóthể là gián tiếp qua sự phủ định những cái ngợc lại

2 Tầm đón chờ ý tợng: Khi tiếp xúc với một hình ảnh trong văn bản tácphẩm, ngời đọc bao giờ cũng liên tởng từ những kinh nghiệm và thể nghiệmvốn có của mình, để định hớng sự lý giải nội dung bên trong của nó Đọcnhững hình ảnh trong thơ cổ nh “ thanh tùng, hàn mai…từ” ngời đọc có thể liêntởng đến những nhân cách thanh tao, cơng nghị…từMột nét hình ảnh củaMaxlova đã đợc L Tônxtôi miêu tả nh sau: “ Nàng chít khăn lên đầu và rõràng là cố ý để lộ một vài mớ tóc mỏng xoà trên trán…từĐôi mắt đen, hơi mọnglên, nhng vẫn lấp lánh sáng”(Sống lại) Lớt qua mấy dòng này, với mộtkinh nghiệm đời thế nào đó, rất có thể một số ng ời đọc sẽ liên tởng đếnmột ngời phụ nữ với cuộc đời bi đát, nhng không chịu khuất phục trớc sốphận…từ

Trang 17

3 Tầm đón nhận văn loại: Dựa vào kinh nghiệm thởng thức thể loại vốn

có, đứng trớc một quyển tiểu thuyết, bạn đọc rất có thể liên tởng đến một cốttruyện với nhiều tình tiết phong phú và hấp dẫn, một hệ thống nhân vật vớinhững tính cách phức tạp mà sống động Và khi mới tiếp xúc với một bài thơtrữ tình, ngời đọc liền chuẩn bị đợc thởng thức những sắc thái trữ tình nồngthắm, cách sử dụng giàu hình ảnh và nhạc điệu…từ (30, 350-351)

Tầm đón nhận, dựa trên kinh nghiệm và thể nghiệm vốn có này, cònbiểu hiện ở nhiều lĩnh vực cụ thể nh về một phong cách, một bút danh, mộtlời đề từ, thậm chí cả việc trang hoàng ngoài bìa…từ Tất cả những thứ vô hìnhhay hữu dạng này, có khi rất bâng quơ, nhng ít nhiều vẫn góp phần làm nêncuộc “đối thoại” giữa những suy tởng ban đầu của bạn đọc với nội dung đợctriển khai theo hình tuyến của văn bản tác phẩm

1.2.2 Tâm thế tiếp nhận

Sống trên đời hàng ngày, hàng giờ con ngời thờng trải qua những tâmtrạng khác nhau, lúc vui, lúc buồn, khi hào hứng, khi lo âu, sảng khoái…từChỉnói riêng trong trờng hợp đọc tác phẩm văn học, tâm trạng ấy cũng muôn màumuôn vẻ Không phải chỉ lúc phấn khởi mới tiếp xúc với văn học, mà ngợc lại,khi thấy cuộc đời quá chán ngời ta lại tìm về với văn học Tâm thế đọc, do đórất phức tạp

Nếu nh trong quá trình sáng tác, nhà văn “đọc” bản chất các hiện tợng

tự nhiên, xã hội bằng sức cảm thụ và thanh lọc chất liệu đời sống, bằng hồi ức,liên tởng và tởng tợng…từđể kết tinh và h cấu nghệ thuật, mã hoá những “dấuvết của hng phấn thần kinh” thành chất liệu xây dựng hình tợng nghệ thuật thìtrong tiếp nhận, ngời đọc phải bằng tâm thế và khả năng tái hiện đời sống đợcmã hoá trong chất liệu để đọc đợc bức thông điệp tâm hồn mà nhà văn gửigắm

Tâm thế là tâm trạng, trạng thái tâm lý tình cảm của ngời đọc khi tiếpxúc với tác phẩm Là trạng thái cảm xúc chung bao trùm lên toàn bộ các rung

động và làm nền cho hành động của con ngời

Tâm thế tiếp nhận là điểm tiếp xúc trực tiếp của độc giả với tác phẩm, là

sự chú ý, khả năng huy động những kiến thức, kinh nghiệm của ngời đọc đểtiếp nhận tác phẩm

Tâm thế, tâm trạng của con ngời do một tập hợp nguyên nhân từ xã hội,thiên nhiên và cả thân nhân, không phải chỉ là biểu hiện của t tởng và đạo đức

Đúng là xã hội có công bằng, sự nghiệp có thành đạt, gia đình có hoà thuậnhay không đều quyết định rát lớn đến tâm trạng sống của con ngời Nhngthiên nhiên khắc nghiệt, hay ma thuận gió hoà, ngày xuân ấm áp hay những

Trang 18

tháng đông buốt giá…từđều ảnh hởng đến tâm thế con ngời Và chính con ngời,già yếu hay trẻ khoẻ, mệt mỏi hay khoẻ mạnh cờng tráng…từdù đã qua sự điềuchỉnh của ý chí, vẫn không thể không tác động đến tâm trạng.

Động cơ là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy ngời ta suy nghĩ và hành

động Đứng trớc bất cứ một tác phẩm nào con ngời cũng đều có những suynghĩ, cảm xúc khác nhau Có khi đó là cảm giác sung sớng, thoả mãn khinhân vật mình yêu thích có một kết thúc đẹp; có khi đó là những trăn trở, suy

t về vấn đề đặt ra trong tác phẩm; cũng có khi đó là niềm hạnh phúc khi đợchiểu thêm nhiều vấn đề về cuộc sống, nhìn thấy những góc khuất trong tâmhồn của con ngời mà bấy lâu còn là một bí ẩn…từNh vậy, động cơ tiếp nhậnchính là mục đích mà chủ thể tiếp nhận hớng tới, mong muốn đạt đợc khi tiếpxúc với tác phẩm

1.2.4 Quá trình tiếp nhận

1.2.4.1 Quan niệm về quá trình tiếp nhận

Tác phẩm văn học không phải là một vật thể đã xong xuôi, không thểxem nó là vật hoàn toàn lý tởng thuộc về ý niệm Nó không tĩnh mà động,không phải sản phẩm cố định mà là một quá trình Tác phẩm văn học là một

bộ phận của một quá trình đặc biệt, mà cái quyết định sự tồn tại và chất lợng của

nó phụ thuộc ở nhiều yếu tố ngoài nó Khi cha đọc, tác phẩm văn học chỉ là mộtvật thể hiện hữu, cần nắm mà cha có đời sống thực Sự tồn tại đích thực và những

đặc trng của tác phẩm chỉ có đợc nhờ chủ ý của ngời đọc và tác giả

Nh vậy, khi ngời đọc biến văn bản văn học thành tác phẩm văn học, tức

đã xảy ra quá trình tiếp nhận văn học Theo Jauss, tác phẩm vặc học không chỉ

là văn bản của nhà văn mà văn bản ấy phải đợc ngời đọc đọc Ngời đọc bớc

đầu trên bình diện hình thức đi từ bộ phận đến toàn thể, đọc văn bản nh đọcmột bản nhạc Lúc này, ngời đọc nhận ra hình thức toàn vẹn của tác phẩm, nh-

ng nghĩa và ý nghĩa của nó thì cha Sau đó, trong hoạt động đọc và lý giải, trênbình diện ý nghĩa, ngời đọc đi từ toàn thể đến bộ phận, và từ các nghĩa, ngời

đọc cụ thể hoá điều cơ bản nhất cho bản thân, biến văn bản thành tác phẩmriêng của họ

Theo nhà nghiên cứu Mỹ Noman Holan, quá trình tiếp nhận là “quátrình cái tôi đem nội dung vô thức chuyển thành nội dung ý thức” và nh vậy

Trang 19

tác phẩm đợc xem nh là sự biểu hiện và ghi nhận về sự sống, cá tính của ngời

đọc Giải thích là chức năng của cá tính, nghĩa là khi đọc, tất cả chúng ta đềulấy tác phẩm văn học để tợng trng, cuối cùng là dùng nó để phục chế lại bảnthân chúng ta Nội dung đích thực của văn học theo ông là biểu hiện cái bảnnăng, cái xung đột và ảo giác nguyên thuỷ của con ngời, và thanh lọc nó bằng

ý thức, tính ngời, lý tính và đạo đức Cội nguồn của hoạt động tiếp nhận, theo

M Khrapchenco là “tơng quan giữa các thuộc tính bên trong, các khái quátnghệ thuật của tác phẩm với sự vận động của đời sống, với các khuynh hớngphát triển của đời sống, tơng quan với hiện thực, với kinh nghiệm tinh thầnkhông chỉ là của thời đại khi nghệ sĩ sáng tác, mà còn là của các thời đại sau”

Và trong quá trình tồn tại lịch sử của tác phẩm cái cục bộ, cái cá biệt lu mờdần đi, nhờng chỗ cho các thuộc tính tâm lý của con ngời, là những cái sốngmột thời gian dài, và cho các yếu tố toàn nhân loại

Theo Giáo s Phơng Lựu, quá trình tiếp nhận chính là quá trình bạn đọcthực tế chuyển hoá văn bản thứ nhất của tác giả thành văn bản thứ hai củachính mình Tác phẩm văn học đã từ “vật tự nó” biến thành “vật của ta”

Quá trình tiếp nhận còn đợc hiểu là quá trình cụ thể hoá tác phẩm trong trítởng tợng, là đối thoại liên tục với tác giả trên mọi lĩnh vực Nh Roman Ingardentừng nói: “Tiếp nhận văn học là một quá trình cụ thể hoá tác phẩm nh nó vốncó”.Theo ông, đời sống của tác phẩm diễn ra trong sự cụ thể hoá Mọi tác phẩmvăn học đều trải qua giai đoạn ngời ta mới bắt đầu hiểu, tiếp theo là thời kỳ cónhiều sự cụ thể hoá, sau đó là thời kỳ ít có sự cụ thể hoá

Hay theo Nguyễn Thị Thanh Hơng, đó là quá trình tri giác tác phẩm, cụthể hoá, khái quát hoá nghệ thuật để hiểu giá trị đích thực của tác phẩm Đốivới bạn đọc-học sinh, đó là quá trình các em phát huy những năng lực củamình để tiếp nhận tác phẩm, tích cực tham gia vào quá trình tiếp nhận dới sựdẫn dắt và định hớng của giáo viên, biến mình thành một chủ thể tiếp nhậnmột cách sáng tạo, tự giác tham gia vào quá trình đồng sáng tạo với tác giả.Nói một cách khái quát, đó chính là quá trình thoả thuận giữa văn chơng và sựtái sáng tạo bản sắc riêng của ngời đọc

Có ý kiến khác cho rằng, quá trình tiếp nhận văn học là quá trình đingợc lại hành trình sáng tác của nhà văn mà hình tợng tác phẩm là điểmgặp gỡ và tạo nên mối đồng cảm thẩm mỹ giữa ngời sáng tác với ngời th-ởng thức

Quá trình tiếp nhận là một quá trình diễn ra theo một hoạt động nổi bật

là hoạt động đọc Nhà văn là ngời sáng tạo ra tác phẩm.Tuy nhiên, số phận

Trang 20

lịch sử của tác phẩm văn học lại đợc quyết định bởi quá trình đọc Đọc cónghĩa là tháo gỡ các mã kí hiệu văn chơng trong văn bản, tìm hiểu ý nghĩa củatác phẩm thông qua cấu trúc của văn bản Đọc có nghĩa là phân tích, đánh giá,

đối chiếu, tổng hợp…từNgời đọc nhập cuộc, hoá thân với những cảm xúc riêngcủa mình, chuyển đổi tác phẩm nghệ thuật thành thế giới cảm xúc, hình tợngriêng của ngời đọc Mỗi cách đọc giúp phát hiện ở tác phẩm những nét riêng

ở đó, “mỗi sự lý giải có giá trị bao giờ cũng là sự phát hiện ra một thuộc tính,một phơng diện vốn có trong tác phẩm, đồng thời là cách đọc phù hợp và tiêubiểu hơn của thời đại mình” (1, 223)

1.2.4.2 Cấu trúc của quá trình tiếp nhận

Tác phẩm văn chơng thờng truyền đạt niềm vui, nỗi buồn, tri thức vàquan điểm sống cho bạn đọc Tác phẩm có thể trở thành một sự kiện có ýnghĩa trong cuộc sống của một đời ngời và trở thành sức mạnh phát triển xãhội Ngời đọc tác phẩm văn chơng đợc trải nghiệm và nhận thức những gì

họ cần tiếp thu và lĩnh hội Một tác phẩm có chất l ợng t tởng và nghệ thuậtbao giờ cũng tác động mạnh mẽ đến ngời đọc Nhng tác phẩm có trở thành

đối tợng hấp dẫn sâu sắc đối với ngời đọc trong quá trình lĩnh hội haykhông lại tuỳ thuộc vào trình độ và năng lực tiếp nhận văn học sáng tạo,tích cực của chủ thể Tác phẩm cần độc giả, vì nhờ sự tiếp nhận, tác phẩmvăn chơng mới phát huy bản chất xã hội thẩm mỹ và đạt đợc sự tác động

cụ thể của nó

Tác phẩm văn chơng-đối tợng tiếp nhận của học sinh vốn dĩ đã không

đơn giản nên quá trình tiếp nhận văn học ở các em càng diễn ra rất phức tạpsong bao giờ cũng là một quá trình đi từ những kí hiệu ngôn ngữ, từ lớp âmthanh nhịp điệu, từ vựng, đề tài, chủ đề và t tởng, cảm xúc

Nắm vững chức năng tạo nghĩa đợc cấu tạo đặc biệt của ngôn từ trongvăn bản nghệ thuật là con đờng tất yếu để giải mã tác phẩm Thông qua ngônngữ văn học sống động, luôn sinh sôi nảy nở, gợi mở và có sức biểu hiện vạnnăng độc giả có thể lĩnh hội đợc dụng ý của tác giả Song không chỉ dừng lại ở

đó, việc tiếp nhận hình tợng văn học trong quá trình tiếp nhận là một khâu vôcùng quan trọng Hình tợng xuất hiện trớc mắt bạn đọc rất phong phú về quan

hệ xã hội và tâm lý trong môi trờng giao tiếp riêng Khi độc giả tái tạo mộtbức tranh nghệ thuật cho mình, họ có thể tô đậm đặc điểm của quá trình giaotiếp đợc diễn tả trong tác phẩm nhng cũng có thể làm lu mờ che lấp chúng.Bởi thực chất của hành động giao tiếp văn học là sự gặp gỡ, tiếp xúc giữa ngời

Trang 21

đọc và hình tợng văn học Tuy nhiên, lĩnh hội hình tợng phải thấy đợc nộidung phản ánh thông qua hình thức biểu hiện đó.

Tóm lại, một tác phẩm văn học thực sự đến với bạn đọc là một tác phẩm

đã đợc nhận thức một cách rõ ràng cụ thể nhng tuỳ vào kinh nghiệm riêng củamỗi ngời mà cách thâm nhập một tác phẩm không hoàn toàn giống nhau.Theo Giáo s Phơng Lựu, diễn biến của quá trình tiếp nhận văn học trải qua cácbớc chuyển dịch nh sau:

Trang 22

- Lấp chỗ trống, đối thoại

Nhà mỹ học tiếp nhận Đức Iser cho rằng văn bản tác phẩm là một “kếtcấu vẫy gọi”, nó gợi mở cho bạn đọc trong phạm vi có thể phát huy dồi dàonăng lực sáng tạo của mình Gadamer lại nhấn mạnh ý nghĩa của tác phẩm vănhọc không chỉ nằm trong một lần mà trong vô số cuộc “đối thoại” mãi mãi

“Văn bản thứ nhất” thì chỉ có một nhng có vô số “văn bản thứ hai” xuất hiệnvô tận trong lịch sử Tác phẩm nghệ thuật, do đó, là một hệ thống mở NgờiTrung Quốc cũng thờng nói “ ý tại ngôn ngoại”, “ngôn hữu tận, nhi ý vôcùng”…từTất cả những ý kiến này đều liên quan đến sáng tác của nhà văn nhngcũng không tách rời với sự thởng thức của ngời đọc

Umberto Eco từng nói: “Tất cả mọi tác phẩm, dù đợc sáng tạo theo thipháp tất yếu nào, cũng mở theo các kiểu đọc, mỗi kiểu đọc mang tới cho tácphẩm một đời sống mới từ một triển vọng nào đó theo thị hiếu cá nhân của ng-

ời đọc” (10, 23) Thật vậy, tính chất mở là điều kiện của mọi sự thởng thứcthẩm mỹ, và tất cả mọi hình thức thởng thức, nếu mang giá trị thẩm mỹ đều

mở Tác phẩm văn học nh một mê cung của mọi sự liên kết, tạo nghĩa khôngngừng Cái tởng nh đã hoàn toàn và khép kín ấy luôn tạo ra khả năng để có thể

lý giải hàng ngàn cách khác nhau mà tính độc đáo, không lặp lại của nó vẫnkhông thay đổi

- Tái hiện để mà tái tạo

Văn học là nghệ thuật của ngôn từ, chất liệu của nó chỉ là kí hiệu vậtchất, cho nên hình ảnh của nó là gián tiếp Nh thế, muốn thởng thức tác phẩmvăn học, ngời đọc tất yếu phải trải qua khâu “tái hiện” Không những thế, các

kí hiệu ngôn từ trong tác phẩm văn học không phải “đồng hiện” mà đợc triểnkhai theo hình tuyến từ đầu đến cuối văn bản, nh thế sự tái hiện ở đây là liêntục Chính trong quá trình tái hiện liên tục này, độc giả mới nghe thấy dầnhình tợng mà nhà văn mô tả Văn học mang tính hình tợng gián tiếp là nh vậy.Nghĩa là nó phải kinh qua sự tởng tợng của ngời đọc ngay giây phút đầu tiêncủa quá trình thởng thức tiếp nhận Sự tái hiên này mang tính chất sáng tạohay sự tái tạo trong việc đọc văn theo các mặt sau:

+ Tái tạo hình tợng: Trong khi đọc tác phẩm văn học, độc giả vữa bámvào sự mô tả trong văn bản, vừa liên tởng tới loại ngời tơng tự ngoài đời, đồngthời cũng đa vào cảm nghĩ và lý giải của mình mà hình dung, tởng tợng vềnhân vật đó Kết quả là mỗi ngời mỗi khác, nh ngời phơng Tây thờng nói “mộtnghìn bạn đọc, thì có một nghìn Hamlet” Hình dung của mỗi ngời mỗi khác,không giống sự hình dung với chính tác giả

Trang 23

+ Thay đổi lại theo tình cảm khác: Tác phẩm văn học thành công nàocũng chan chứa tình cảm, đủ các sắc thái vui, buồn, giận, thơng…từtất nhiêntrong đó sẽ nổi lên một trạng thái tình cảm chủ đạo Nhng ngời đọc chỉ thích

và nhớ nhất những trạng thái tình cảm nào phù hợp với sự xúc động thờngngày của bản thân

+ Giải thích lại theo quan niệm khác: Khi một bạn đọc, nhất là các nhàkhoa học đã có một quan niệm riêng về con ngời và thế giới, thậm chí đã hìnhthành một chủ thuyết, thì tất nhiên họ thờng giải thích lại mọi việc đời, nhất là

đối với những kiệt tác văn học nghệ thuật, vì đây là “những bức tranh nhânsinh thu gọn”

Thật ra, sự tái tạo hay thay đổi còn diễn ra trên vô số cấp độ và bìnhdiện khác Sự thay đổi đó, thậm chí còn diễn ra ở một con ngời đọc một tácphẩm xác định nhng trong những lúc khác nhau

+ Lý giải và ngộ nhận: Sự tiếp nhận của bạn đọc vừa có khả năng lý giải

đúng, nhng cũng vừa có khả năng ngộ nhận ý đồ của tác giả Tuy nhiên,không phải tất cả những “ngộ nhận” đều sai Cần phân biệt “chính ngộ” và

“phản ngộ” Chính ngộ tuy không phù hợp với ý đồ của tác giả nh ng vẫn

có căn cứ trong tác phẩm Phản ngộ là sự tiếp nhận tuỳ tiện, cắt xén,xuyên tác, không có căn cứ trong tác phẩm Nếu biểu hiện của chính ngộ

là muôn màu muôn vẻ thì nguyên nhân của sự phản ngộ cũng rất phức tạp

Đó có thể là do động cơ, tâm thế, hoặc “tầm đón” kỳ quặc, hoặc quá caosiêu hoặc dới mức tầm thờng

-Trạng thái thông thờng mà tốt đẹp trong mối quan hệ giữa sáng tác vàtiếp nhận: “Thông thờng” tức là không nói tới hai cực Những sáng tác qua xoàng xĩnh, những công chúng hoàn toàn “mù văn” thì bàn làm gì? Haynhững đại kiệt tác, những phê bình xuất chúng thì lại rất hiếm Tất cả ở đâychỉ đợc xét ở mức trung bình lý tởng, nghĩa là ở trong trạng thái thông thờngphổ biến, nhng không bao giờ tự thoả mãn, mà luôn biết vơn lên cái tốt đẹphơp Cũng không bàn sáng tác và tiếp nhận một cách cô lập mà trong sự t ơngtác lẫn nhau

Sáng tác phải đợc hành chức nh một lời tâm sự, một thông điệp thẩm

mỹ, nó phải đợc công chúng tiếp nhận, mới trở thành một sản phẩm xã hội.Sáng tác phải “xuất nhân chi ý ngoại giả, nhng tu lại nhân chi ý trung” (cái nói

ra phải hơi bất ngờ với ngời khác, nhng rồi vẫn nằm trong ý của họ) Tácphẩm phải nói những gì buộc công chúng phải ngẫm nghĩ mới hiểu rồi cảmthấy mở mang, thú vị Đó không phải là những thứ khó hiểu đến mức không

Trang 24

thể nào hiểu đợc, hoặc cố hiểu ra rồi chỉ thấy cầu kỳ, rỗng tếuch Hấp dẫn

nh-ng hiểu đợc Hiểu đợc nhnh-ng phải hấp dẫn

Tơng ứng với phẩm chất nói trên, trong sáng tác, công chúng phải làmsao cho động cơ, tâm thế có một tầm đón tổng hợp trong từng trờng hợp cụthể, có thể không rơi vào tình trạng “phản ngộ”, hoặc thậm chí “vô cảm”

Tóm lại, diễn biến thông thờng mà tốt đẹp của sự tiếp nhận những tácphẩm đích thực là văn học, bao giờ cũng đợc mở đầu bằng một tầm đón khôngchứa đựng mầm mống của sự “phản ngộ” và kết thúc bằng sự mở rộng vànâng cao của chính tầm đón ấy

* * *Với ý nghĩa phơng pháp luận, tiếp nhận văn học đã mở thêm một lối đinữa cho việc khảo sát văn chơng Với quan điểm tiếp nhận, lịch sử văn họckhông chỉ nh lịch sử của nhà văn, nhà thoe mà còn là lịch sử của việc cảmnhận và phê bình tác phẩm Đối với hoạt động sáng tạo của nhà văn cũng vậy.Sáng tác không chỉ là sự tự bộc lộ và tìm kiếm những phơng tiện nghệ thuật đểdiễn đạt cảm xúc, suy nghĩ của tác giả mà còn là lời kêu gọi, nhắn nhủ, là hoạt

động đi tìm những tâm hồn đồng điệu

Chơng 2: Tiếp nhận văn học trung đại Việt Nam

của học sinh THPT hiện nay 2.1 Về văn học trung đại Việt Nam

2.1.1 Một vài đặc điểm của văn học trung đại Việt Nam

Nền văn học trung đại Việt Nam gắn bó máu thịt với vận mệnh đất nớc,

số phận những con ngời Việt Nam ngay từ khi mới ra đời Tinh thần yêu nớc,tinh thần nhân đạo là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ tiến trình phát triển của 10thế kỷ văn học trung đại

Buổi đầu dựng nớc văn học tập trung khẳng định sự trờng tồn, tất thắng

của dân tộc Văn học Lý-Trần với những Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh, Kiều Phú tràn đầy niềm tự hào dân tộc; với Dự chu tì tớng hịch văn của Trần

Hng Đạo, thơ Trần Nhân Tông…từrực ngời hào khí Đông A Giặc Minh đến

xâm lợc có văn học Lam Sơn và khép lại bằng áng thiên cổ hùng văn Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi Hơn 300 trăm năm sau cuộc chiến tranh vệ

quốc vĩ đại chống quân Thanh xâm lợc ở phơng Bắc, quân Xiêm ở phia Nam

đã đợc văn học Tây Sơn phản ánh khá đầy đủ Kẻ thù truyền thống phơng Bắcvừa rút khỏi một kẻ thù mới– thực dân Pháp kéo vào và văn học yêu nớcchống Pháp với những tên tuổi lớn nh Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông…từ

Trang 25

đã toát lên tinh thần bất khuất của ngời Việt trong một thời kỳ lịch sử “khổ

nhục nhng vĩ đại” Đó là những Thiên Nam liệt truyện, Nam triều công nghiệp diễn trí…

Văn học trung đại không chỉ quan tâm đến những vấn đề của vận mệnh

đất nớc mà còn thể hiện tình yêu đối với thiên nhiên, những suy nghĩ day dứt

về cuộc đời, về số phận con ngời, đặc biệt là những con ngời bé nhỏ Thế kỷ

XVI, Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ đã cho ngời đọc hiểu đợc số phận bi

kịch của ngời phụ nữ Đồng thời, những khát vọng chân chính của con ngời:quyền đợc sống, đợc yêu, đợc mu cầu hạnh phúc mà tác phấm nhen lên đã đợccác tác giả thế kỷ XVIII kế thừa, phát triển tới đỉnh cao, tô đậm truyền thốngnhân văn của văn học trung đại

Văn học trung đại là kết tinh, là hiện thân của con ngời, đất nớc ViệtNam trong suốt quá trình phát triển của lịch sử với tất cả những niềm vui,hạnh phúc và cả những giọt nớc mắt đau thơng

Văn học dân gian của các dân tộc bao giờ cũng là cơ sở cho văn họcviết nảy sinh và phát triển Đặc biệt, đối với Việt Nam thì điều này lại càng vôcùng quan trọng Trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc, bọn xâm lợc đã phá hoạitàn nhẫn truyền thống văn hiến Việt Nhng linh hồn Việt vẫn trờng tồn và quậtkhởi để cuối cùng giành lại đợc độc lập vào giữa thế kỷ X Có đợc sức mạnh

lỳ diệu ấy là do dân tộc ta có truyền thống văn hiến lâu đời mà văn học dângian chính là nền tảng

Do đó, nền văn học Việt Nam ngay khi mới ra đời đã hớng ngay vềnguồn cội, lấy văn học dân gian làm cơ sở cho văn học viết Văn học dângian chính là nguồn cung cấp dồi dào về nội dung cũng nh nghệ thuật chovăn học viết trung đại Việt Nam trong suốt 10 thế kỷ hình thành và pháttriển Ta thấy rất rõ điều này quan một số tác phẩm tiêu biểu của văn học

trung đai qua các giai đoạn nh: Lĩnh Nam chích quái thời Lý-Trần, Quốc

âm thi tập thời Lê-Mạc, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, Truyện Kiều, Hồ Xuân Hơng…từ

Văn học trung đại Việt Nam phát triển theo quy luật vừa tiếp thu vừadân tộc hoá tinh hoa văn học nớc ngoài, chủ yếu là văn học Trung Quốc

Trớc khi bị đế quốc phong kiến phơng Bắc thống trị, nớc ta cha có chữviết Vì vậy, sau khi giành đợc độc lập, ngời Việt đã ding chữ Hán nh một ph-

ơng tiện văn hoá trong sáng tác văn học Tuy nhiên, ta ding chữ Hán theo cáchriêng của mình Trên cơ sở chữ Hán và bộ chữ Hán đọc theo âm Hán Việt ta

đã sáng chế ra loại văn tự dân tộc chủ yếu dùng để ghi VII, chữ Nôm đợc

Trang 26

dùng để sáng tác văn học Từ đó, văn học trung đạiViệt Nam song song tồn tạihai mảng sáng tác bằng hai loại văn tự: chữ Hán và chữ Nôm Cuối thế kỷXVIII do giao lu với phơng Tây, một loại hình văn tự ghi âm tiếng Việt bằngmẫu tự Latinh ra đời Loại văn tự này dần dần thay thế văn tự Hán và Nômtrong giao tiếp xã hội và sáng tác văn học Từ đó, văn học dân tộc có thêmmảng sáng tác bằng chữ quốc ngữ hiện đại.

Cùng với tiếp thu và sáng tạo ngôn ngữ văn tự là tiếp thu và sáng tạocác giá trị văn học tự nội dung cho đến hình thức Về nội dung, ta tiếp thunhiều các tích truyện, cốt truyện và các thi liệu văn học nớc ngoài, đặc biệt là

Trung Quốc (Truyện Kiều – Nguyễn Du, Tuồng - Đào Tấn…từ) Về hình thức,thời kỳ đầu từ thế kỷ X tới thế kỷ XIII ta tiếp thu hầu hết các thể văn và thểloại văn học Trung Hoa: chiếu, cáo, hịch, tấu, văn tế, câu đối, tiểu thuyết ch-

ơng hồi, truyền kỳ…từVẫn là tiếp thu trên tinh thần sáng tạo, ngời Việt đã việthoá khá thành công một số thể văn: phú, thơ đờng luật (Hồ Xuân Hơng) Từthể thất ngôn Trung Quốc kết hợp với thơ ca dân gian, ta đã sáng tạo ra thểsong thất lục bát Từ thế kỷ XVII, do đợc thừa hởng những kinh nghiệmtruyền thống và do tiếp thu tinh hoa văn hoá nớc ngoài, nền văn học trung đạiViệt Nam đã sản sinh ra ba thể loại lớn: thơ trữ tình ngâm khúc, truyện Nôm,thơ ca trù - hát nói Đây là thời điểm đánh dấu sự phát triển vợt bậc của vănhọc trung đại bởi “thể loại chứ không phải phơng pháp hay trờng phái sáng tácmới là nhân vật số một của kịch lịch sử văn học” (M.Bakhtin)

Cùng với việc tiếp nhận văn học Trung Hoa, ta còn tiếp thu nền văn hoá

ấn Độ, đặc biệt là hệ t tởng Phật giáo Ngoài ra, ta còn tiếp thu cái hay, cái

đẹp của các nền văn học khác nhau trên thế giới để làm giàu cho kho tàng vănhọc nớc nhà

Giống nh văn học trung đại của nhiều nớc khác trên thế giới, mời thế kỷphát triển của văn học trung đại Việt Nam đều chịu sự tác động của các quytắc sáng tác trung đại Trớc hết, các tác giả trung đại Việt Nam thờng vay mợn

đề tài có sẵn trong văn học dân gian hoặc văn học viết quá khứ tái tạo lại

thành các tác phẩm mới để phản ánh thời đại mình (Truyền kỳ mạn lục, Truyền kỳ tân phả … Ngoài ra, các tác giả còn thờng xuyên sử dụng các thi )

liệu, văn liệu cổ, điển tích xa để sáng tác Thói quen này tạo nên một trongnhững bút pháp đặc trng của văn học trung đại, đó là bút pháp “tập cổ” Tuynhiên, bắt chớc ngời xa nhng phải có sáng tạo cá nhân thì mới có giá trịbởi văn chơng không có con đờng mòn Đọc văn chơng trung đại ta thấymột bút pháp quan trọng nữa là bút pháp ớc lệ tợng trng Mặt khác, thể

Trang 27

loại văn học trung đại có những quy định rất chặt chẽ buộc ng ời cầm bútphải tuân thủ.

Mặc dù vay mợn đề tài, diễn tả theo những bút pháp truyền thống nhngvăn học trung đại không hề khô cứng và ngng trệ Các tác giả văn học trung

đại trên con đờng sáng tạo văn chơng luôn tự đổi mới mình theo khuynh hớngdân tộc và bám sát hiện thực Tác giả trung đại xem nghệ thuật là hoạt độngsáng tạo hình thức Họ sáng tạo các hình thức thơ nh trò chơi: liên hoàn, liênngâm, tập cú Họ ra những điều kiện khó khăn để thử ngời làm: dùng điển,hạn vận, câu nôm câu chữ xen nhau Nhng nếu hiểu tác giả trung đại nh ngờilàm nghề thủ công thì hoàn toàn sai lầm Họ bao giờ cũng xem thờng họccông để vơn lên tầm hoá công, sáng tạo ra những câu chữ nh có thần Nhữ Bá

Sĩ từng viết:

Có tấc dạ ớc thành cây bút lớn Nên hạ bút vẫn chờ mong có thần Muốn đợc bông hoa của ngàn cây Hơng thơm ngào ngạt đi vào giấc mộng

Về nội dung, các tác giả không ngừng gắn bó với vận mệnh đất nớc và

số phận con ngời Việt Nam nên thờng xuyên biến đổi cách viết cho phù hợpvới việc phản ánh hiện thực Khi nội dung của thời đại phong phú, phức tạphơn thì những hình thức thể hiện cũng phải thay đổi cho phù hợp với nó

Tựu trung trong suốt mời thế kỷ tồn tại và phát triển, văn học trung đạiViệt Nam đã vận động không ngừng Nó luôn luôn lấy việc phản ánh vậnmệnh dân tộc và số phận con ngời làm mục đích cứu cánh Đầu thế kỷ XX vănhọc trung đại đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình để nhờng bớc cho vănhọc Việt Nam cận - hiện đại Tuy nhiên, những giá trị chói ngời và nhữngkinh nghiệm nghệ thuật bất hủ của nó sẽ còn tồn tại mãi mãi

2.1.2 Văn học trung đại Việt Nam trong chơng trình phổ thông hiện nay

1 Vận mệnh của tiếng Việt và nền quốc văn gắn liền với vận mệnh dântộc Với sự thiết lập chế độ mới, dới sự lãnh đạo của Đảng, nhà trờng cáchmạng đã ra đời cùng với những đổi mới cơ bản về quan điểm giáo dục và nộidung đào tạo Vị trí của bộ môn văn nói chung và phần văn học trung đại nóiriêng với những nội dung phong phú về văn hoá và chứa đựng tinh thần tâmhồn của dân tộc đã giành đợc vị trí xứng đáng trong nhà trờng phổ thông hiệnnay

Văn học là xơng sống của nền văn hoá dân tộc Nó là tấm gơng phảnchiếu trung thực và đẩy đủ cuộc sống về mọi khía cạnh, ớc mơ, là hơi thở và

Trang 28

nhịp đập của trái tim, ít nhất là của một thế hệ Chính nó, cùng với các ngànhnghệ thuật khác là bằng chứng hùng hồn của sức sống ấy Vì vậy, trách nhiệmcủa nó với xã hội là vun xới, bồi đắp, toả hơng vị và thanh sắc của sức sống

ấy Dĩ nhiên, không phải một tác phẩm văn học, một giai đoạn văn học có thể

đảm đơng hết những nhiệm vụ kể trên, hoặc giải đáp hết đợc những câu hỏi docuộc sống đặt ra

Mặc dù bị giới hạn bởi không gian, thời gian song cũng nh văn học cácgiai đoạn khác đều hớng tới các giá trị nghìn đời: Chân-Thiện-Mỹ, giúp conngời sống tốt, nhân ái, bao dung và độ lợng hơn Đó cũng chính là cái đích,mục tiêu mà văn học nhà trờng nói chung và văn học trung đại nói riêng hớngtới Có thể nói, tinh hoa của văn học trung đại là di sản tinh thần quý giá củacha ông, của dân tộc, là bộ phận không thể thiếu trong hành trang của họcsinh trong nhà trờng phổ thông

Văn học là chiếc cầu nối giúp con ngời hiểu và thông cảm nhau hơn.Chơng trình văn học trung đại trong nhà trờng chính là tiền đề để đa các emhọc sinh về với quá khứ, hiểu rõ về cội nguồn, truyền thống hào hùng của dântộc mà nếu chỉ riêng văn học hiện đại thì có lẽ sẽ còn khiếm khuyết, khôngtoàn diện

Mặt khác, mỗi giai đoạn văn học đều có cái nhìn khác nhau trong cáchquan niệm về con ngời, về cuộc sống Với ý ngĩa đó, tìm hiểu văn học trung

đại để học sinh khám phá những giá trị, những tinh hoa mà ở thời đại củamình các em cha hề đợc trải nghiệm, đồng thời, từ đó tìm ra những điểm tơng

đồng hoặc dị biệt, sự tiếp thu ảnh hởng hoặc sáng tạo của thế hệ ngày nay sovới cha ông

Mục đích của học văn là để học sinh cảm thụ đợc cái hay, cái đẹp trêncơ sở đó mà tích hợp những giá trị của nhân cách Dù đợc sáng tác trong giai

đoạn văn học nào, một công trình sáng tác văn học thất sự có giá trị khi nóphát ra đợc một bức tranh làm rung động tâm hồn, truyền cho ngời tiếp nhận

sự thông cảm đối với cái đáng kính, sự phẫn nộ đối với những điều bất công,ngang trái Hoài Thanh đã nói: văn chơng gây cho ta những tình cảm ta không

có, luyện những tình cảm ta có sẵn Chẳng hạn, khi học sinh học Truyện Kiều

của–Nguyễn Du sẽ giáo dục các em sự cảm thông, cái nhìn nhân đạo đối với

số phận bất hạnh của ngời phụ nữ, sự căm phẫn đối với những thế lực tàn bạo

đã nhẫn tâm chà đạp lên số phận con ngời Hay đọc thơ của Hồ Xuân Hơng,

Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều các em nh cảm nhận đợc nỗi

đau nhức nhối trớc những cảnh ngộ, cảnh đời nghiệt ngã, những bất hạnh,

Trang 29

khổ đau của những số phận “hồng nhan bạc mệnh”, “tài hoa đa truân”…từVăn chơng có tác dụng thanh lọc tâm hồn, nâng đỡ con ngời là thế.

Nh vậy, mục đích cuối cùng của văn học vẫn là vì con ngời, con ngời làvấn đề trung tâm của văn học Là một bộ phận hợp thành của nền văn học dântộc, văn học trung đại không đi khỏi quỹ đạo chung ấy Nó là thanh âm làmphong phú thêm bản nhạc đa điệu của cây đàn dân tộc Việt

2 Nội dung, thời lợng văn học trung đại trong sách giáo khoa ở trờngphổ thông hiện nay

a/ Lớp 10: 19 bài (trong đú chớnh khoỏ 14 bài; đọc thờm 05 bài)

Bài 1: Tỏ lũng (Thuật hoài) – Phạm Ngũ Lóo

Bài 2: Cảnh ngày hố (Bảo kớnh cảnh giới- 43) – Nguyễn Trói

Bài 3: Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiờm

Bài 4: Đọc Tiểu Thanh ký (Độc Tiểu Thanh ký) – Nguyễn Du

Bài 5: Vận nước (Quốc tộ) – Phỏp Thuận (Đọc thờm)

Bài 6: Cú bệnh, bảo mọi người (Cỏo tật thị chỳng) – Món Giỏc (đọc thờm)Bài 7: Phỳ sụng Bạch Đằng (Bạch Đằng giang phỳ) – Trương Hỏn Siờu.Bài 8: Đại cỏo bỡnh Ngụ (Bỡnh Ngụ đại cỏo) – Nguyễn Trói

Bài 9: Tựa " Trớch diễm thi tập" – Hoàng Đức Lương

Bài 10: Hiền tài là nguyờn khớ của quốc gia ( Trớch Bài ký đề danh tiến sĩkhoa Nhõm Tuất, niờn hiệu Đại Bảo thứ ba) – Thõn Nhõn Trung(Đọc thờm)

Bài 11: Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (Trớch Đại Việt sử kýtoàn thư) – Ngụ Sỹ Liờn

Bài 12: Thỏi sư Trần Thủ Độ ( Trớch Đại Việt sử ký toàn thư) –Ngụ Sỹ Liờn (Đọc thờm)

Bài 13: Chuyện chức phỏn sự đền Tản Viờn (Tản Viờn từ phỏn sựlục – Trớch Truyền kỳ mạn lục) – Nguyễn Dữ

Bài 14: Tỡnh cảnh lẻ loi của người chinh phụ ( Trớch Chinh phụngõm) - Đặng Trần Cụn - Đoàn Thị Điểm

Bài 15: Truyện Kiều - Nguyễn Du

Trang 30

Bài 16: Trao duyờn ( Trớch Truyện Kiều) – Nguyễn Du.

Bài 17: Nỗi thương mỡnh (Trớch Truyện Kiều) – Nguyễn Du

Bài 18: Chớ khớ anh hựng (Trớch Truyện Kiều) – Nguyễn Du

Bài 19: Thề nguyền (Trớch Truyện Kiều) – Nguyễn Du (Đọc thờm)

b/ Lớp 11: 14 bài (trong đú học chớnh khoỏ 10 bài; đọc thờm 04 bài)

Bài 1: Vào phủ chỳa Trịnh (Trớch Thượng kinh ký sự ) – Lờ Hữu Trỏc.Bài 2: Tự tỡnh (Bài II ) – Hồ Xuõn Hương

Bài 3: Cõu cỏ mựa thu (Thu điếu) – Nguyễn Khuyến

Bài 4: Thương vợ – Trần Tế Xương

Bài 5: Khúc Dương Khuờ – Nguyễn Khuyến (Đọc thờm)

Bài 6: Vịnh khoa thi Hương – Trần Tế Xương ( Đọc thờm)

Bài 7: Bài ca ngất ngưởng – Nguyễn Cụng Trứ

Bài 8: Bài ca ngắn đi trờn bói cỏt ( Sa hành đoản ca) – Cao Bỏ Quỏt.Bài 9: Lẽ ghột thương (trớch Truyện Lục Võn Tiờn) – Nguyễn Đỡnh Chiểu)Bài 10: Chạy giặc – Nguyễn Đỡnh Chiểu (Đọc thờm)

Bài 11: Bài ca phong cảnh Hương Sơn (Hương Sơn phong cảnh ca) – ChuMạnh Trinh (Đọc thờm)

Bài 12: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – Nguyễn Đỡnh Chiểu

Bài 13: Chiếu cầu hiền (Cầu hiền chiếu) – Ngụ Thỡ Nhậm

Bài 14: Xin lập khoa luật (trớch Tế cấp bỏt điều) – Nguyễn Trường Tộ

- Tổng số tiết văn học Việt Nam: 138

- Tổng số tiết văn học trung đại: 39 (28,3%)

Nhìn chung, cấu trúc, thời lợng, nội dung chơng trình văn học trung đại

đợc giảng dạy trong trờng phổ thông khá phong phú, có sự đổi mới, điều chỉnhphù hợp với từng cấp học Nội dung những tác phẩm văn học trung đai đợc sắpxếp một cách khoa học theo tiến trình văn học sử Việc sắp xếp nh vậy, họcsinh vừa có cơ hội mở rộng tầm hiểu biết, vừa có điều kiện đối chiếu với vănhọc thuộc các giai đoạn khác

Với tinh thần kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hoá củacha ông, văn học trung đại đợc giảng dạy ở trờng THPT chiếm một vị trí quantrọng và phù hợp với chơng trình

Trang 31

2.2 Tiếp nhận văn học trung đại Việt Nam của học sinh THPT hiện nay

2.2.1 Về tầm đón nhận

Với t cách là chủ thể tiếp nhận đối với bất cứ loại tác phẩm văn học nào,ngời đọc không bao giờ là một tờ giấy trắng thụ động trớc bất kỳ sự khắc hoạnào, mà họ vốn có một “tầm đón nhận” đợc hình thành một cách tổng hợp bởinhiều yếu tố Dới đây là những yếu tố quan trọng nhất trong tầm đón nhận

2.2.1.1 Hứng thú học văn của học sinh trung học phổ thông

Hứng thú trong nhận thức khoa học cũng nh trong hoạt động thực tiễn

là động lực thúc đẩy ý chí vơn lên của mỗi cá nhân trong đời sống Trong nhàtrờng hay khi đi vào cuộc sống, hứng thú là một động lực thức đẩy học sinh v-

ơn lên làm chủ kiến thức, bồi dỡng hiểu biết cho mình, nhất là hiện nay lợngthông tin khoa học-kỹ thuật-văn hoá của thời đại không ngừng tăng lên mộtcách nhanh chóng

Lớp học sinh mới hiện nay thông minh, nhạy bén Cái tôi của các emsớm phát triển, có nhu cầu, đòi hỏi riêng Mặt khác, do đợc tiếp xúc nhiều vớicác phơng tiện thông tin văn hoá, các em đợc phát triển thị hiếu, nhu cầu đợctìm thấy trong nghệ thuật cái đáp ứng cho niềm khao khát chân thành về cái

đẹp, về chân lý Do đó, tác phẩm văn học càng có chiều sâu tâm lý càng cósức hút đặc biệt với các em Bên cạnh đó, về phía gia đình và nhà trờng luôntạo điều kiện thuận lợi để các em giải trí và học tập Tất cả những điều kiện đótạo thành một tiền đề khái quát để học sinh trở thành bạn đọc thực thụ trongviệc tiếp nhận văn học

Văn học vừa là một bộ môn công cụ, vừa là một bộ môn có sức mạnhsâu sắc và toàn diện về nhiều mặt trong việc hình thành nhân cách xã hội chohọc sinh Tuy nhiên, trong những năm gần đây, chiều hớng giảm sút chất lợngvăn hoá trong nhà trờng trung học, vấn đề hứng thú đối với bộ môn văn cũng

đợc đặt ra Thái độ của học sinh đối với bộ môn Văn cũng nh đối với các bộmôn khoa học khác là một trong những vấn đề mà chúng ta phải đặc biệt quantâm

Theo kết quả điều tra bằng hình thức khảo sát trắc nghiệm về hứng thúhọc văn của học sinh ở một số trờng, chúng tôi nhận đợc kết quả nh sau: trờngTHPT ứng Hoà A, 175 phiếu, có 60 phiếu (tơng ứng với 60 học sinh) thật sựhứng thú với việc học văn; trờng THPT Trần Đăng Ninh 105 phiếu, có 42 họcsinh hứng thú với bộ môn này; trờng THPT dân lập Nguyễn Thợng Hiền, 100phiếu chỉ có 25 học sinh quan tâm thật sự đến môn học Nh vậy, tỉ lệ giữathích và không thích rất biến động Phần lớn những học sinh không thích

Trang 32

học văn là do các em cha nhận thức đúng đắn đợc vai trò của môn học Em

Lê Thị Thuý trờng THPT ứng Hoà A cho rằng: “Em không thích học vănvì không phù hợp với thực tế Vì nếu có học văn sau này ra tr ờng cũng khóxin việc” Có học sinh lại cho rằng văn học không có tác dụng gì thiếtthực, chỉ học để giải trí…từ Đó là những nhận thức quá thiển cận và phiếndiện Bên cạnh đó, có những học sinh rất yêu thích văn ch ơng nhng lạingại với việc học văn Điều này có thể xuất phát từ nhiều nhân tố chủ quan

và khách quan: giáo viên, sách giáo khoa, phơng pháp giảng dạy, tâm lýxã hội…từ

Chất lợng học tập của học sinh liên quan chặt chẽ với động cơ, thinhthần, thái độ học tập bộ môn Hứng thú là một biểu hiện tâm lý nhân thức củayếu tố học tập Riêng về phơng diện cảm thụ văn học, hứng thú là biểu hiệntâm lý của hoạt động cảm thụ, là tiền đề cho quá trình hình thành những nănglực cảm thụ và phát triển văn học ở học sinh, liên quan trực tiếp đến việc hìnhthành nhân cách của các em Nó là một trong những yếu tố quan trọng đầutiên để mở ra tầm đón nhận đối với tác phẩm Do đó, tạo đợc hứng thú học tập

bộ môn văn đối với học sinh là một vấn đề đáng đợc quan tâm, nhất là trongmột xã hội chủ nghĩa đang phát triển thì vấn đề văn học nghệ thuật lại càng cómột tầm quan trọng đặc biệt

2.2.1.2 Tầm đón chờ ý nghĩa

Tầm đón chờ ý nghĩa chính là năng lực phân tích, cắt nghĩa, lý giải ýnghĩa từ ngữ, hình ảnh để nắm bắt đợc ý nghĩa của văn bản văn học

Theo khảo sát, trớc những văn bản văn học trung đại ít sử dụng các từ

Hán Việt hoặc điển tích, điển cố nh: Thơng Vợ – Tú Xơng, Tự tình - Hồ Xuân Hơng, Khóc Dơng Khuê - Nguyễn Khuyến…từđại đa số học sinh đều cóthể tìm ra đợc ý nghĩa cơ bản của những từ ngữ, hình ảnh đợc sử dụng trongtác phẩm Tuy nhiên, trớc những văn bản có sử dụng quá nhiều từ Hán Việthay điển tích, bút pháp ớc lệ, tợng trng…từlại gây cho học sinh khá nhiều sự

lúng túng khi tiếp nhận (Ví dụ với các tác phẩm: Phú sông Bạch Đằng Nguyễn Trãi, Vào phủ chúa Trịnh - Lê Hữu Trác, Đọc Tiểu Thanh ký -

-Nguyễn Du…từ)

Với một số biểu tợng quen thuộc học sinh đã chỉ ra đợc ý nghĩa khá rõràng Chẳng hạn tùng, cúc, trúc, mai thờng là tợng trng cho hình ảnh nhữngngời quân tử, đấng nam nhi đại trợng phu, những con ngời có ý chí, quyết tâm,nghị lực phi thờng Hay hình ảnh hoàng hôn xuất hiện trong văn bản thờng làtợng trng cho nỗi buồn, sự chia ly, xa cách Tuy nhiên, trớc những hình ảnh ớc

lệ tợng trng xa lạ (kim ô để chỉ mặt trời, tuyết rơi chỉ mùa đông, lá vàng rụngchỉ mùa thu…từ, những từ cổ, từ Hán Việt hoặc thuật ngữ mà ngày nay ít sử

Trang 33

dụng, thậm chí không tồn tại (tua-nên; thìn-giữ gìn; cốc-biết…từ) lại khiến chohọc sinh rất khó tiếp nhận.

Đối với học sinh ở các lớp chuyên ban thờng các em lý giải các hình

ảnh, từ ngữ một cách thấu đáo, sâu sắc hơn so với các lớp không chuyên.Chẳng hạn trớc cùng một câu hỏi: Em hiểu nh thế nào về hình ảnh cây tùngtrong tác phẩm Tùng của Nguyễn Trãi, một bạn trả lời rằng “Nguyễn Trãigiống tùng bởi vì cây tùng cũng dãi nắng dầm ma nh Nguyễn Trãi lúc đi đánhquân Minh nhng không hi sinh Diệu Huyền lớp 10a6 trờng THPT Trần ĐăngNinh tỏ ra khá sắc sảo khi hiểu: hình ảnh cây tùng là tợng trng cho phẩm chất,khí phách của ngời quân tử Nguyễn Trãi, trải qua bao gian nan, sóng gió conngời vẫn giữ đợc bản lĩnh, cốt cách hiên ngang Chính điều đó đã giúp ông vợtqua bao nghịch cảnh để giữ mãi ngọn lửa của một niềm tin không bao giờ tắt”

Hay trớc hình ảnh “tam quân tì hổ khí thôn ngu” trong Tỏ lòng – Phạm Ngũ

Lão, một số học sinh chỉ hiểu đơn thuần ba quân sức mạnh nh hổ báo có thểnuốt trôi trâu, em Cao Khánh Huyền lại có cách hiểu giàu yếu tố thẩm mỹhơn: sức mạnh ba quân nh hổ báo, sức mạnh ấy xung thiên lấn át cả sao Ngu

Đặc biệt, đối với những văn bản có sử dụng điển tích, điển cố việc tiếpnhận quả không dễ dàng nếu học sinh không đợc hiểu về điển tích, điển cố đó

Giờng kia treo cũng hững hờ

Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn

(Khóc Dơng Khuê-Nguyễn Khuyến)

Chỉ với hai câu thơ nhng hai điển cố đã đợc sử dụng Nếu các em khôngnắm rõ nguồn gốc của điển cố thì việc hiểu cặn kẽ ý nghĩa của văn bản là điều

không thể Giờng kia: Trần Phồn thời Hậu Hán có ngời bạn thân là Từ Trĩ.

Phồn dành riêng cho bạn một cái giờng, khi bạn đến chơi thì mời ngồi, lúc bạn

về lại treo giờng lên Đàn kia: Tơng truyền Bá Nha và Chung Tử Kỳ là hai

ng-ời bạn tri âm Bá Nha là ngng-ời chơi đàn giỏi, Từ Kỳ có tài nghe tiếng đàn màhiểu đợc Bá Nha đang nghĩ gì Sau khi Tử Kỳ chết, Bá Nha đập bỏ đàn vì chorằng không ai có thể hiểu đợc tiếng đàn của mình nữa Sau đó, Bá Nha treo

đàn không gảy nữa Chỉ khi nắm đợc rõ nghĩa của điển cố thì học sinh mới cóthể hiểu sâu sắc đợc tình cảm giữa Nguyễn Khuyễn và Dơng Khuê

2.2.1.3 Tầm đón chờ ý tởng

Tầm đón chờ ý tởng chính là năng lực liên tởng, tởng tợng trong tiếpnhận văn học Những năng lực này có vai trò đặc biệt quan trọng trong quátrình tiếp nhận văn học của bạn đọc - học sinh Liên tởng là đầu mối củanhững rung động thẩm mỹ, giúp mở rộng và đào sâu sự sống chứa đựng tronghình tợng Tởng tợng là cầu nối gữa ngời đọc và ngời viết Nó kết nối các sự

Trang 34

vật ở xa nhau hay hoán chuyển vị trí của chung theo những hớng bất ngờ, xoá

mờ những đờng viền xác định để tất cả trở nên mơ hồ, đa nghĩa Nếu thiếunăng lực tởng tợng, khi đứng trớc một tác phẩm, ngời đọc sẽ thấy đó là một

mớ khái niệm khô khan, đáng chán, nó không làm ta mảy may xúc động, cũngkhông có khả năng đa đến niềm thích thú cho trí tuệ

Theo Giáo s Phơng Lựu, trong quá trình thâm nhập một bài văn ngoàiviệc tri giác hình tợng ngôn ngữ thì việc đọc với sức mạnh của liên tởng, tởngtợng có vai trò vô cùng quan trọng giúp ngời đọc bắt nhận thêm đợc nhữngtầng ý nghĩa ngầm của văn bản, có đôi mắt để nhìn hình tợng một cách sâusắc, đậm nét hơn Trong thực tế, khi tiếp nhận tác phẩm, độc giả thờng thôngqua khả năng liên tởng và tởng tợng để bổ sung những yếu tố chủ quan vàobức tranh của nhà văn những hình tợng, khung cảnh đời sống hay những tínhcách nhân vật…từtrên cơ sở vốn kinh nghiệm, ấn tợng và kiến thức của bảnthân

Giảng văn trong nhà trờng là phơng thức tiếp nhận lấy tác phẩm nghệthuật ngôn từ làm đối tợng; vì thế đối tợng của liên tởng, tởng tợng sáng tạotrong bài học tác phẩm văn chơng chính là hình tợng đời sống kết tinh trongvăn bản ngôn từ - đó là một ngôn từ xác định, ngôn từ trong một hệ thống cấutrúc hình tợng chặt chẽ thể hiện tính sinh động nghệ thuật, tính cá biệt khônglặp lại

Liên tởng, tởng tợng chính là một trong những khâu quan trọng để đánhgiá tầm đón nhận văn học của học sinh Tuy nhiên, khả năng liên tởng và tởngtợng lại không hề giống nhau ở các khối lớp Học sinh các lớp chuyên ban, lớpchọn thờng có những liên tởng, tởng tợng sâu sắc hơn so với các khối lớp đạitrà, các trờng bán công

Đối với khả năng liên tởng, học sinh đã thể hiện đợc nhng xu hớng liêntởng khá linh hoạt Khi phân tích quan niệm về chí làm trai trong hai câu thơ

cuối của bài Tỏ lòng: “Công danh nam tử còn vơng nợ/ Luống thẹn tai nghe

chuyện Vũ Hầu”, rất nhiều học sinh đã liên tởng tới quan niệm về chi làm traicủa Nguyễn Công Trứ.: “ Làm trai đứng ở trong trời đất/ Phải có danh gì vớinúi sông” hoặc một số em còn liên tởng đến câu ca dao sau: “ Làm trai cho

đáng nên trai/ Xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài yên”

Em Phạm Thị Nguyệt, lớp 10a2 trờng THPT ứng Hoà A viết: Tronghuyết quản Phạm Ngũ Lão luôn sục sôi khát vọng công danh của trang namnhi thời loạn Ông muốn đợc chiến đấu, cống hiến đời mình cho vua, cho nớc

Nh bao kẻ sĩ cùng thời, Phạm Ngũ Lão luôn tôn thờ lý tởng trung quân ái quốc

Trang 35

và quan niệm nh Nguyễn Công Trứ đã từng nói: “Làm trai đứng ở trong trời đất/Phải có danh gì với núi sông” Có một số học sinh khác lại liên tởng đến ảnh hởngquan niệm về chí làm trai của Phạm Ngũ Lão đối với thanh niên thời đại ngày nay.

Em Lê Thị Hơng lớp 10a1 trờng THPT Lu Hoàng viết: Nếu nh trong hoàn cảnhlịch sử thời Phạm Ngũ Lão, chí làm trai đã trở thành lý tởng tích cực có tác dụng tolớn đối với con ngời và xã hội thì trong thời đại ngày nay quan niệm đó vẫn cònnguyên giá trị Nó có tác dụng cổ vũ con ngời, đặc biệt là tầng lớp thanh niêntrong đó có học sinh chúng ta từ bỏ lối sống tầm thờng, ích kỷ để sống nhiều hơnvì cái ta, vì cộng đồng

Một hớng khác, khi liên tởng lại chú trọng vào nỗi thẹn của Phạm NgũLão đợc đề cập tới trong văn bản Vì thế, các em lại liên tởng đến hai câu sau

trong Thu Vịnh của Nguyễn Khuyến “Nhân hứng cũng vừa toan cất bút/ Nghĩ

ra lại thẹn với ông Đào” Em Vơng Thị Thuỳ Linh, lớp 10a6 trờng THPT Mỹ

Đức A viết: Vẻ đẹp từ cái tâm của ngời anh hùng thể hiện qua nỗi thẹn Tácgiả thẹn vì cha có tài mu lợc nh Vũ Hầu để trừ giặc cứu nớc Đó là nỗi thẹnvới non sông, đất nớc của con ngời có nhân cách Nguyễn Khuyến trong bài

Thu Vịnh cũng có nỗi thẹn vơn cao đến thiên tài thơ Đào Tiềm Đó cũng là nỗi

thẹn có giá trị nhân cách

Về khả năng tởng tợng, học sinh đã thể hiện đợc trí tởng tợng rất phongphú và đa dạng Trớc câu hỏi: Em hãy tởng tợng diễn biến tâm trạng nhân vật

trữ tình trong Đọc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du hầu hết học sinh đều tởng

t-ợng đợc khá chi tiết Em Vơng Quốc Anh lớp 10a1 trờng THPT Trần ĐăngNinh viết: Đọc những bài thơ còn sót lại của Tiểu Thanh, lòng Nguyễn Du dạtdào cảm xúc trớc số phận của ngời con gái tài hoa mà mệnh bạc Đồng thời,

ông cũng bày tỏ nỗi day dứt, băn khoăn trớc số phận bất hạnh của bao con

ng-ời tài hoa trong xã hội cũ Từ khóc thơng Tiểu Thanh, tác giả khóc thơng chochính mình-kẻ cùng hội cùng thuyền trong giới phong vận Mở đầu bài thơ làthơng ngời, kết thúc bài thơ là thơng thân Tiểu Thanh và Nguyễn Du đã hoàlàm một – một số kiếp tài hoa mà đau thơng trong muôn vàn số kiếp đau th-

ơng khác trong xã hội cũ

Việc tái hiện các chi tiết tiêu biểu hoặc điển hình thờng bắt đầu từ tình

huống hoặc hoàn cảnh có vấn đề nảy sinh trong văn bản Thái s Trần Thủ Độ

là một văn bản có nhiều tình huống đặc biệt giàu kịch tính Nhiều học sinh đã

đặt mình vào địa vị của nhân vật và thật lòng khâm phục nhân cách của Thủ

Độ Có em thật thà nhận rằng “tởng tợng nếu là Trần Thủ Độ em cũng sẽkhông hành xử đợc một cách công minh chính trực, chí công vô t nh vậy” (Em

Trang 36

Võ Tuấn Hà lớp 10a11 trờng THPT ứng Hoà a) Có tởng tợng đợc nh thế, họcsinh mới có thể hiểu đợc rõ hơn về tính cách của nhân vật Hay đối với văn

bản Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, ngoài kết thúc nh trong chuyện,

nhiều học sinh lại tởng tợng ra một cái kết khác mà theo các em là có hậu hơncho nhân vật của mà mình yêu thích: “Vẫn nhận chức phán sự nhng Tử Văn sẽchỉ xuống cõi âm vào lúc sáng sớm và đêm, còn ban ngày chàng lo giải quyết

và làm nhiều việc thiện cho mọi ngời ở hạ giới” (Em Trần Kim Thanh lớp10a9 trờng THPT Trần Đăng Ninh)

Do vốn sống, kinh nghiệm riêng rất khác nhau nên khả năng liên tởng

và tởng tợng ở mỗi ngời cũng khác nhau Khi một tín hiệu, một từ ngữ, mộthình ảnh do nhà văn dựng lên thờng gợi lên ở bạn đọc những suy nghĩ nhiềukhi rất bất ngờ với bản thân nhà văn Đó là hiện tợng tản mạn, phi văn bản,ngoài văn bản Vì thế, nếu không có địn hớng liên tởng, tởng tợng thì sự cảmthụ tác phẩm sẽ tuỳ tiện, chủ quan, có khi suy diễn sai lệch ở bạn đọc-họcsinh cũng tồn tại hiện tợng này Bên cạnh những học sinh có khả năng liên t-ởng và tởng tợng khá nhạy bén, phong phú có không ít những học sinh có liêntởng, tởng tợng hời hợt, sai lệch hoặc không hiểu gì về hình tợng trong vănbản Khi đợc hỏi “em hiểu nh thế nào về hình tợng nhân vật khách trong tác

phẩm Phú sông Bạch Đằng rất nhiều học sinh đã không có câu trả lời.

Liên tởng, tởng tợng trong ngời đọc thờng bắt nguồn từ những chi tiếtrất cụ thể, nó thờng là những “điểm sáng thẩm mỹ”, những chi tiêt tiêu biểu

có tính điển hình, những chi tiết có giá trị khái quát, những chi tiết hàm chứa

sự khác biệt Nh vậy, muốn sử dụng đợc năng lực liên tởng, tởng tợng đòi hỏihọc sinh phải có cảm xúc cá nhân mạnh mẽ trớc tác phẩm, phải có một vốnsống, vốn hiểu biết nhất định, bằng những liên tởng, so sánh hay sáng tạo đểbồi đắp cho nét tởng tợng của mình thêm phong phú

2.2.1.4 Tầm đón nhận văn loại

Mỗi một tác phẩm đều thuộc về một thể loại nhất định nào đó Vì thế,nếu không phân biệt đợc các thể loại ngời đọc sẽ dễ lạc hớng, việc lĩnh hội tácphẩm sẽ không đạt đợc kết quả nh mong muốn Cho nên, ngoài những nănglực chung cần thiết khi đi vào từng loại thể phải có năng lực nhận diện loại thể

và khả năng vận dụng thi pháp từng loại thể vào việc chiếm lĩnh tác phẩm vănhọc

Thể loại là một phạm trù đặc biệt quan trọng của văn học trung đại Nhàvăn chọn một thể loại nào đó để sáng tác là xuất phát từ ý đồ nghệ thuật củaanh ta, cái goi là “cá tính sáng tạo” của ngời nghệ sĩ cũng đợc thể hiện ngay

Trang 37

trong sự lựa chọn đó Nó không chỉ đợc thể hiện trong cách thờng xuyên nêubật lên ở ngay tác phẩm mà còn chi phối nghiêm ngặt và toàn diện ngời cầmbút trong quá trình sáng tác dù anh ta có tự giác hay không tự giác ý thức về

điều ấy Vì thế, nghiên cứu văn học trung đại thực chất là nghiên cứu đặc trngloại thể của tác phẩm, từ đó có thể hiểu đợc ý đồ nghệ thuật của nhà văn, tạo

điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận chân giá trị của tác phẩm ở cả hai mặt nộidung và hình thức Đáng tiếc vấn đề này đợc rất ít học sinh nhận thức đúng,hơn 50% không nhận diện đúng bản chất thể loại của tác phẩm

Văn học trung đại Việt Nam, ngoài việc tiếp thu những thể loại của vănhọc truyền thống đã Việt hoá khá thành công một số thể loại của văn họcTrung Hoa: thơ Đờng luật (Hồ Xuân Hơng), thể song thất lục bát Ngoài ra, ta

đã sáng tạo đợc ba thể loại văn học lớn: thơ trữ tình ngâm khúc, truyện Nôm,thơ ca trù-hát nói Thông thờng mở đầu mỗi tác phẩm, phần tiểu dẫn đã giớithiệu về thể loại của văn bản nhng khi đợc hỏi chính xác thể loại của tác phẩm

nhiều học sinh tỏ ra khá lúng túng Bài ca ngất ngởng của Nguyễn Công Trứ

thuộc thể loại gì? Hầu hết các em đều chỉ dừng lại ở mức nhận diện đợc đó làtác phẩm thơ, chỉ một vài học sinh nhận biết đợc đó là thơ ca trù-hát nói Hay

với trờng hợp Cáo tật thị chúng, học sinh đều cho rằng đó là thơ mà không

nhận biết đợc chính xác đó là một bài kệ…từ

Mỗi giai đoạn văn học đều có những nét riêng để khu biệt với các giai

đoạn văn học khác Văn học trung đai Việt Nam qua 10 thế kỷ tồn tại đã trảiqua nhiều chặng đờng phát triển Nó có những đặc điểm và phơng thức sángtác riêng của mình Là một giai đoạn văn học mang nội dung xã hội, lịch sửnhất định, văn học trung đại có một hệ thống thi pháp riêng mà ngời tiếp nhậnphải nắm vững khi tìm hiểu tác phẩm cụ thể Khi khảo sát câu hỏi “Em hiểu gì

về văn học trung đại”, tôi nhận đợc rất nhiều câu trả lời khác nhau Nhìnchung, số học sinh trả lời đợc đầy đủ, chính xác chiếm một số lợng rất nhỏ(12/215 học sinh đợc khảo sát) Điều đáng lu ý là so với nghệ thuật, mặt nộidung dờng nh các em dễ tiếp cận hơn Em Nguyễn Thuỳ Trang lớp 11a6 trờngTHPT ứng Hoà A tỏ ra khá am hiểu giai đoạn văn học này khi viết: “Văn họctrung đại là giai đoạn văn học bắt đầu từ thế kỷ X-thế kỷ XIX Nó có một hệthống thi pháp đặc trng riêng Về mặt nghệ thuật văn học trung đại a sử dụngnhiều điển tích, điển cố, các hình ảnh ớc lệ, tợng trng, có tính quy phạm rấtchặt chẽ (về sau ta Việt hoá và có rất nhiều sự sáng tạo); do khởi đầu đợc viếtbằng chữ Hán-ngôn ngữ của trí thức cao cấp, của tầng lớp có học nên văn họctrung đại có tính bác học, trang nhã Về mặt nội dung, tinh thần yêu nớc, chủ

Ngày đăng: 12/04/2016, 14:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1992), Từ điển Hán-Việt, NXB Khoa học xã hội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán-Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1992
2. Antoine Compagon (2006), Bản mệnh của lý thuyết, NXB Đại học S phạm, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản mệnh của lý thuyết
Tác giả: Antoine Compagon
Nhà XB: NXB Đại học S phạm
Năm: 2006
3. Lại Nguyễn Ân (1984), Văn học và phê bình, NXB tác phẩm mới, hội nhà văn Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyễn Ân
Nhà XB: NXB tác phẩm mới
Năm: 1984
4. Nguyễn Sĩ Cẩn (1984), Mấy vấn đề về phơng pháp giảng dạy thơ văn cổ, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về phơng pháp giảng dạy thơ văn cổ
Tác giả: Nguyễn Sĩ Cẩn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1984
5. Nguyễn Huệ Chi (1982), Vấn đề thơ cổ cho các em, Tạp chí văn học, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề thơ cổ cho các em
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Năm: 1982
6. Nguyễn Viết Chữ (2010), Phơng pháp dạy học tác phẩm văn chơng trong nhà trờng, NXB Giáo dục Việt Nam, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng pháp dạy học tác phẩm văn chơng trongnhà trờng
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
7. Nguyễn Văn Dân (1986), Nghiên cứu sự tiếp nhận văn chơng trên quanđiểm liên ngành, Tạp chí văn học, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự tiếp nhận văn chơng trên quan"điểm liên ngành
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 1986
8. Xuân Diệu (1987), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, NXB Văn học, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà thơ cổ điển Việt Nam
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1987
9. Phạm Văn Đồng (1973), Dạy văn là một quá trình rền luyện toàn diện, Tạp chí nghiên cứu giáo dục, số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy văn là một quá trình rền luyện toàn diện
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Năm: 1973
10. Trơng Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, NXB Khoa học xã hội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn bản đến tác phẩm văn học
Tác giả: Trơng Đăng Dung
Nhà XB: NXB Khoahọc xã hội
Năm: 1998
11. Trơng Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học nh là quá trình, NXB Khoa học xã hội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học nh là quá trình
Tác giả: Trơng Đăng Dung
Nhà XB: NXB Khoahọc xã hội
Năm: 2004
12. Nguyễn Trọng Hoàn (2002), Tiếp cận văn học, NXB Khoa học xã hội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận văn học
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2002
13. Nguyễn Thanh Hùng (2005), Hiểu văn, dạy văn, NXB giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiểu văn, dạy văn
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2005
14. Nguyễn Thanh Hùng (2002), Đọc và tiếp nhận văn chơng, NXB giáo dôc, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc và tiếp nhận văn chơng
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: NXB giáodôc
Năm: 2002
15. Nguyễn Thanh Hùng – Lê Thị Diệu Hoa (2007), Phơng pháp dạy học ngữ văn THPT những vấn đề cập nhật, NXB Đại học S phạm, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng pháp dạy họcngữ văn THPT những vấn đề cập nhật
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng – Lê Thị Diệu Hoa
Nhà XB: NXB Đại học S phạm
Năm: 2007
16. Nguyễn Thanh Hùng (1990), Trao đổi thêm về tiếp nhận văn học, Văn nghệ, số 42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trao đổi thêm về tiếp nhận văn học
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Năm: 1990
17. Nguyễn Thị Thanh Hơng (1998), Phơng pháp tiếp nhận tác phẩm văn học ở trờng PTTH, NXB giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng pháp tiếp nhận tác phẩm vănhọc ở trờng PTTH
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hơng
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 1998
18. Nguyễn Thị Thanh Hơng (2001), Dạy văn ở trờng phổ thông, NXB Đại học Quốc gia HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy văn ở trờng phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hơng
Nhà XB: NXB Đạihọc Quốc gia HN
Năm: 2001
19. Nguyễn Thị Thanh Hơng (1998), Về mối quan hệ giữa tác động của văn chơng và sự tiếp nhận của độc giả, Tạp chí văn học, số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về mối quan hệ giữa tác động của vănchơng và sự tiếp nhận của độc giả
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hơng
Năm: 1998
20. Đinh Gia Khánh (Chủ biên) (1998), Văn học Việt Nam thế kỷ X đến nửađầu thế kỷ XVIII, NXB giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ X đến nửa"đầu thế kỷ XVIII
Tác giả: Đinh Gia Khánh (Chủ biên)
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w