1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự tri nhận ngôn ngữ biểu hiện thân thể con người trong văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XX và văn xuôi cuối thế kỉ XX

97 572 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 518 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.1. Lịch sử lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận và quá trình ứng dụng lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trong nghiên cứu ngôn ngữ 2.1.1. Trên thế giới Thời điểm ra đời chính thức của ngôn ngữ học tri nhận thường được tính là năm 1989, năm mà tại Duiburg (Đức) các nhà khoa học tham dự hội thảo đã thông qua và quyết định thành lập hội ngôn ngữ học tri nhận và sau đó bắt đầu ra tạp chí Cognitive Linguistics 23;15. Nhưng trong thực tế, ngôn ngữ học tri nhận đã manh nha từ thập niên 60 của thế kỉ XX. Hai tiền đề cơ bản và trực tiếp thúc đẩy ngôn ngữ học tri nhận hình thành là Ngữ pháp tạo sinh (Generative gramar) cuả nhà toán học, ngôn ngữ học Chomsky và những thành tựu của khoa học tri nhận (Cognitive Science) thế hệ 2 George Lakoff và một số vấn đề về lí luận ngôn ngữ học tri nhận – tạp chí ngôn ngữ 52007;6971. Vấn đề trọng tâm của ngôn ngữ học tri nhận xoay quanh thuật ngữ tri nhận (cognition). Nó chứa đựng hai nghĩa của những từ Latin kết hợp lại: cognitio có nghĩa là nhận thức và cogitatio có nghĩa là tư duy, suy nghĩ. Đó là tất cả những quá trình trong đó các dữ liệu cảm tính được cải biến khi truyền vào trong não dưới dạng những biểu tượng tinh thần để có thể lưu lại trong trí nhớ con người. Khoảng những năm 60 – 70 và đầu 80 thế kỉ trước, ban đầu các nghiên cứu chính tập trung ở nhóm học giả vùng ven biển phía tây nước Mĩ (Đại học California phân hiệu Berkely) chủ yếu khảo sát trên ngữ liệu Tiếng Anh. Bởi vậy, cho đến nay vẫn tồn tại cách hiểu ngôn ngữ học tri nhận theo nghĩa hẹp là ngữ nghĩa học tri nhận Mĩ của Lakoff và Johnson và ngữ pháp học tri nhận Mĩ (Langacker) và một số nghiên cứu khác của các học giả Châu Âu như Rudzka – Ostyn, Taylor, Geeraerts, Haiman… Tuy nhiên, càng ngày, ngôn ngữ học tri nhận càng mở rộng phạm vi và thu hút được sự quan tâm quả các nhà ngôn ngữ trên thế giới. Do đó, phạm vi ngữ liệu chuyển từ tiếng Anh sang ngữ liệu của các ngôn ngữ khác trên thế giới (trong đó có tiếng Việt) để cùng so sánh và đối chiếu. Điều đó làm cho ngôn ngữ học tri nhận được hiểu rộng hơn và số lượng công trình nghiên cứu cùng kết quả thu được phong phú hơn. Ngôn ngữ học tri nhận có hai hướng nghiên cứu chính, đó là: Ngữ nghĩa học tri nhận với các tác giả tiêu biểu như Lakoff, Johnson, Rosch, Fillmore, Fauconnier, Turner… và Ngữ pháp học tri nhận của nhóm tên tuổi như : Talmy, Langacker, Goldberg…

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Hàng ngàn năm qua, mối liên hệ mật thiết giữa bộ ba ngôn ngữ văn hóa - tư duy đã thu hút được sự quan tâm rất lớn không chỉ của nhữngchuyên gia trong lĩnh vực ngôn ngữ mà còn ở rất nhiều lĩnh vực khác Humbolt

-đã khẳng định rằng: “Ngôn ngữ là linh hồn của dân tộc, linh hồn của dân tộc làngôn ngữ” Còn F Saussure cho rằng ngôn ngữ là công cụ và vỏ bọc tư duy vàSapir và Whorf đồng thuận nghiên cứu ngôn ngữ là một bộ phận không thểtách rời của việc nghiên cứu tâm lí các dân tộc trên thế giới… ngôn ngữ là mộtđịa hạt thuận lợi nhất để nghiên cứu các biểu tượng đạo lí Ngôn ngữ là quátrình con người tri nhận thế giới và biểu đạt ra bằng vỏ ngôn từ của mình Cùngtrong một nền văn học nhưng do quan niệm về giá trị của ngôn ngữ ở mỗi thờikhác nhau và do ảnh hưởng văn hóa xã hội mỗi giai đoạn mà sự biểu hiện ngôn

từ về cùng một đối tượng có sự khác nhau giữa các thời kì của một nền vănhọc Với sự lựa chọn đề tài “ Sự tri nhận ngôn ngữ biểu hiện thân thể con ngườitrong văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XX và văn xuôi cuối thế kỉ XX” , luận vănmuốn tìm hiểu sâu sắc hơn về mối quan hệ mật thiết giữa bộ ba Ngôn ngữ - vănhóa – tư duy

1.2 Trong xu thế phát triển chung của ngành nghiên cứu ngôn ngữ,

hiện nay Ngôn ngữ học tri nhận được coi là một trào lưu có sự phát triển

mạnh mẽ và thu được nhiều thành tựu đáng chú ý, thậm chí nó xứng đángđược coi là “nét đặc trưng của ngôn ngữ học thế giới trong giai đoạn hiệnnay” (Frumkina 1995) Vì thế, việc vận dụng lí thuyết ngôn ngữ học tri nhậnvào nghiên cứu các vấn đề tiếng Việt không chỉ giúp ngôn ngữ học tri nhậnthể hiện được nét đặc trưng của mình trong xu hướng nghiên cứu mà nó sẽcho ta những cách nhìn mới về những vấn đề tưởng chừng đã quá quen thuộctrong đời sống

Trang 2

1.3 Văn học là sự phản ánh nhận thức của con người về thế giới xungquanh, và về chính bản thân mình Trong đời sống sinh hoạt của con ngườithường ngày từ cổ xưa đến nay, con người nhận thức về bản thân và các bộphận trên cơ thể mình đầu tiên rồi mới tiến tới nhận thức các sự vật, hiện tượngxung quanh Như ý kiến của các nhà triết học phương Đông và phương Tây từxưa đến nay đều nhận định con người là trung tâm lấy mình để nhận thức thếgiới (chủ nghĩa “Dĩ nhân vi trung”) Người viết chọn khảo sát các bộ phận cơthể con người diện kiến được vì bộ phận cơ thể người rất quan trọng và đóngvai trò to lớn trong quá trình con người hình thành nhận biết về thế giới và màisắc tư duy ngôn ngữ Trong phạm vi luận văn, người viết xin khảo sát ba bộphận cơ thể diện kiến xuất hiện nhiều nhất, là cách con người sử dụng nhiềunhất để nhận biết và tác động tới thế giới, đó là “ Mắt”, “tay”, “chân”.

Từ những lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “ Sự tri nhận ngôn ngữ biểu hiện thân thể con người trong văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XX và văn xuôi cuối thế kỉ XX” để thực hiện nghiên cứu cho luận văn của mình.

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận và quá trình ứng dụng

lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trong nghiên cứu ngôn ngữ

2.1.1 Trên thế giới

Thời điểm ra đời chính thức của ngôn ngữ học tri nhận thường đượctính là năm 1989, năm mà tại Duiburg (Đức) các nhà khoa học tham dự hộithảo đã thông qua và quyết định thành lập hội ngôn ngữ học tri nhận và sau

đó bắt đầu ra tạp chí Cognitive Linguistics [23;15] Nhưng trong thực tế, ngônngữ học tri nhận đã manh nha từ thập niên 60 của thế kỉ XX Hai tiền đề cơbản và trực tiếp thúc đẩy ngôn ngữ học tri nhận hình thành là Ngữ pháp tạosinh (Generative gramar) cuả nhà toán học, ngôn ngữ học Chomsky và những

thành tựu của khoa học tri nhận (Cognitive Science) thế hệ 2 [George Lakoff

và một số vấn đề về lí luận ngôn ngữ học tri nhận – tạp chí ngôn ngữ

5/2007;69-71]

Trang 3

Vấn đề trọng tâm của ngôn ngữ học tri nhận xoay quanh thuật ngữ trinhận (cognition) Nó chứa đựng hai nghĩa của những từ Latin kết hợp lại:

cognitio có nghĩa là nhận thức và cogitatio có nghĩa là tư duy, suy nghĩ Đó là

tất cả những quá trình trong đó các dữ liệu cảm tính được cải biến khi truyềnvào trong não dưới dạng những biểu tượng tinh thần để có thể lưu lại trong trínhớ con người

Khoảng những năm 60 – 70 và đầu 80 thế kỉ trước, ban đầu các nghiêncứu chính tập trung ở nhóm học giả vùng ven biển phía tây nước Mĩ (Đại họcCalifornia phân hiệu Berkely) chủ yếu khảo sát trên ngữ liệu Tiếng Anh Bởivậy, cho đến nay vẫn tồn tại cách hiểu ngôn ngữ học tri nhận theo nghĩa hẹp

là ngữ nghĩa học tri nhận Mĩ của Lakoff và Johnson và ngữ pháp học tri nhận

Mĩ (Langacker) và một số nghiên cứu khác của các học giả Châu Âu nhưRudzka – Ostyn, Taylor, Geeraerts, Haiman… Tuy nhiên, càng ngày, ngônngữ học tri nhận càng mở rộng phạm vi và thu hút được sự quan tâm quả cácnhà ngôn ngữ trên thế giới Do đó, phạm vi ngữ liệu chuyển từ tiếng Anh sangngữ liệu của các ngôn ngữ khác trên thế giới (trong đó có tiếng Việt) để cùng

so sánh và đối chiếu Điều đó làm cho ngôn ngữ học tri nhận được hiểu rộnghơn và số lượng công trình nghiên cứu cùng kết quả thu được phong phú hơn

Ngôn ngữ học tri nhận có hai hướng nghiên cứu chính, đó là: Ngữnghĩa học tri nhận với các tác giả tiêu biểu như Lakoff, Johnson, Rosch,Fillmore, Fauconnier, Turner… và Ngữ pháp học tri nhận của nhóm tên tuổinhư : Talmy, Langacker, Goldberg…

2.1.2 Ở Việt Nam

Ngôn ngữ học tri nhận đã được giới thiệu ở Việt Nam trong những nămgần đây nhờ cống hiến lớn của các tác giả: Lý Toàn Thắng, Trần Văn Cơ,Nguyễn Văn Hiệp, Lê Quang Thiêm…

Tác giả Lý Toàn Thắng là một trong những tác giả đi tiên phong và trởthành chuyên gia của Việt Nam về ngôn ngữ học tri nhận với công trình Ngôn

Trang 4

ngữ học tri nhận – Từ lí thuyết đến thực tiễn tiếng Việt Trong cuốn sách này,ông đã giới thiệu và trình bày về sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ họctri nhận cũng như những hệ thống luận điểm về những nguyên lí cơ bản nhấtcủa trường phái này như : Phạm trù hóa, ý niệm hóa, điển mẫu, ẩn dụ ýniệm… Cho đến nay, công trình nghiên cứu của ông vẫn được coi là nguồntài liệu có tính hệ thống, khoa học, và đáng tin cậy hàng đầu về ngôn ngữ họctri nhận ở Việt Nam Đặc biệt, tác giả đã ứng dụng lí thuyết ngôn ngữ học trinhận vào thực tiễn tiếng Việt thông qua nghiên cứu công phu về đặc điểm trinhận không gian của người Việt.

Cũng năm 2006, tác giả Nguyễn Văn Hiệp đã dịch hoàn chỉnh cuốn

Ngữ nghĩa học dẫn luận (Semantic – An introduction) của John Lyons, trong

đó có một số đoạn trình bày về điển mẫu ngữ nghĩa và một số vấn đề khác củatri nhận được đặt trong quan hệ với ngữ nghĩa

Tác giả Lê Quang Thiêm góp phần truyền bá lí thuyết ngôn ngữ học trinhận qua các bài giảng về ngữ nghĩa học và được tập hợp thành sách Ngữ nghĩahọc xuất bản 2005 Trong đó, bài số 5: Ngữ nghĩa học tri nhận đã cho thấy, ông

đã giới hạn cách hiểu về ngôn ngữ học tri nhận là ngữ nghĩa học tri nhận

Trần Văn Cơ với hai cuốn sách Ngôn ngữ học tri nhận (ghi chép và suy nghĩ) và Khảo luận ẩn dụ tri nhận đã cung cấp những hiểu biết cơ bản

nhất về vấn đề trọng tâm của ngữ nghĩa học: Ẩn dụ ý niệm Đặc biệt, tác giả

còn trích dịch và giới thiệu công trình Ẩn dụ mà chúng ta đang sống (Metaphor we live by) của Lakoff và chia sẻ những cảm nhận, gợi ý của chính

tác giả để tiếp cận lí thuyết dễ dàng hơn

Những công trình, những đề tài nghiên cứu đã và đang trong quá trìnhthực hiện đã tiếp cận lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận ở những góc độ khác nhau

và có những kiến giải phù hợp để lí thuyết có thể ứng dụng hiệu quả vào thựctiễn Tiếng Việt Trong những năm gần đây, số lượng những công trình nghiêncứu về lĩnh vực ngôn ngữ học tri nhận vào ngữ liệu tiếng Việt ngày càng nhiều

Trang 5

và thu được kết quả khá phong phú Có hai xu hướng vận dụng lí thuyết đểnghiên cứu đó là: xu hướng vận dụng ngôn ngữ tri nhận vào vào bình diện ngữnghĩa và xu hướng vận dụng lí thuyết nghiên cứu bình diện ngữ pháp.

Hướng nghiên cứu vận dụng lí thuyết trên bình diện ngữ pháp có

các công trình: Câu điều kiện trong tiếng Việt (LATS, 2008) của Nguyễn Khánh Hà, Bước đầu áp dụng lí thuyết điển mẫu vào nghiên cứu thành phần chủ ngữ của câu tiếng Việt của Đỗ Hồng Dương…

Ở xu hướng vận dụng lí thuyết nghiên cứu lí thuyết trên bình diện

ngữ nghĩa gồm có các công trình: Ẩn dụ tri nhận trong ca dao (LVThS, 2008) của Bùi Thị Dung, Bước đầu tìm hiểu cách thức tri nhận thế giới của người Việt (trên ngữ liệu câu đố) (LVThS, 2008) của Nguyễn Thanh Huyền, Đặc điểm tri nhận của người Việt qua trường từ vựng chim chóc (LVThS, 2009) của Lê Thị Thanh Huyền, (LVThS, 2010), Ý niệm hương thơm và đặc trưng tư duy văn hóa của người Việt của Nguyễn Thị Hà (LVThS, 2011), Ẩn dụ ý niệm trong tiếng Việt (LATS, 2009) của Phan

Sự phát triển ý nghĩa của hệ biểu tượng trang phục trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam (2005) của Nguyễn Thị Ngân Hoa…

Mới đây có một số công trình nghiên cứu ngôn ngữ biểu hiện thân

thể con người như Thành ngữ tiếng Anh và thành ngữ tiếng Việt có yếu

tố chỉ bộ phận cơ thể người dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận (LATS, 2008) của Nguyễn Ngọc Vũ, Nghiên cứu so sánh đối chiếu ẩn dụ trong tiếng Hán và Tiếng Việt dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận trên tư

Trang 6

liệu gọi tên bộ phận cơ thể người của Trịnh Thị Thanh Huệ (LATS, 2012)

cùng nhiều bài báo, tạp chí Các công trình này tập trung chủ yếu vàomột số ẩn dụ ý niệm gắn với các phạm trù cơ bản: phạm trù tình cảm, cảmxúc; phạm trù không gian; phạm trù thực vật; phạm trù động vật (phạm trùchim); phạm trù bộ phận cơ thể người trên cơ sở đối chiếu ngôn ngữ tiếngViệt với các thứ tiếng khác Nhưng chưa đề tài nào đề cập sâu sắc tới hệthống biểu tượng thân thể con người trong văn xuôi Việt Nam

Sơ lược về quá trình nghiên cứu lí thuyết Ngôn ngữ học tri nhận vàviệc vận dụng lí thuyết vào thực tiễn Tiếng Việt, chúng tôi nhận thấy kết quả

từ các công trình khá phong phú và khẳng định đây là một địa hạt giàu tiềmnăng để có thể khám phá mối quan hệ giữa ngôn ngữ - văn hóa – tư duy củangười Việt

Với những hiểu biết về lí thuyết sự tri nhận ngôn ngữ về con người soichiếu trong các tác phẩm văn học hiện đại, người viết mạnh dạn triển khai đề

tài “ Sự tri nhận ngôn ngữ biểu hiện thân thể con người trong văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XX và văn xuôi cuối thế kỉ XX”.

2.2 Lịch sử nghiên cứu trường từ vựng và trường từ vựng bộ phận thân thể người trong Tiếng Việt

2.2.1 Về trường từ vựng

Trường từ vựng là lĩnh vực được nghiên cứu từ lâu trên thế giới cũng

như ở Việt Nam

Trên thế giới, vào khoảng những năm 20 - 30 của thế kỉ XX, Jos Trier

là người đầu tiên nêu ra khái niệm trường dựa vào lý thuyết ngôn ngữ của F

de Saussure Sau đó, Porzig và Ipsen cùng nhiều tác giả đã đưa ra các quanniệm khác nhau về vấn đề này Lý thuyết trường từ vựng dần được hình thành

và nhanh chóng thu hút sự tìm hiểu của giới nghiên cứu ngôn ngữ học

Ở Việt Nam, nhiều nhà ngôn ngữ học cũng quan tâm và trình bày vềtrường từ vựng trong các công trình của mình Có thể kể đến một số công trình

Trang 7

có vai trò nền tảng quan trọng như: Từ và vốn tiếng Việt hiện đại (1976) của Nguyễn Văn Tu, Từ vựng tiếng Việt (1978) của Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt (1981) của Đỗ Hữu Châu, Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng (1986) của Đỗ Hữu Châu, Nhập môn ngôn ngữ học (2007) của Mai Ngọc

Chừ, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán

Trong những công trình trên, các tác giả đã đưa ra những vấn đề cơ bảncủa trường từ vựng như: khái niệm, tiêu chí xác lập, phân loại các trường từvựng… Đây là những nội dung lý thuyết rất cần thiết, có chức năng địnhhướng cho việc tìm hiểu về trường từ vựng

Bên cạnh đó phải kể đến số lượng không nhỏ các công trình luận ántiến sĩ, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp vận dụng lý thuyết trường từvựng vào các trường nghĩa cụ thể Một số tác giả đã triển khai theo hướngnghiên cứu ngôn ngữ tự nhiên, với nguồn ngữ liệu là các đơn vị, các biểu thứcngôn ngữ đang được sử dụng trong đời sống sinh hoạt của người Việt như:

Nguyễn Thúy Khanh (Đặc điểm trường từ vựng ngữ nghĩa tên gọi động vật (trên tư liệu đối chiếu tiếng Việt với tiếng Nga), LAPTS, 1996), Phạm Thị Hòa (Hiện tượng nhiều nghĩa trong trường từ vựng chỉ người, LATS, 2000), Lê Thị Lệ Thanh (Trường từ vựng ngữ nghĩa các từ ngữ biểu thị thời gian của tiếng Việt trong sự so sánh với tiếng Đức, LATS, 2001), Nguyễn Thị Yến (Hiện tượng chuyển trường từ vựng trong các bài báo viết

về bóng đá (Khảo sát trên báo Bóng đá và báo Thể thao và Văn hóa, LVThS, 2008), Hoàng Ái Vân (Trường nghĩa mùi vị và các hình thức biểu hiện trong tiếng Việt, LVThS, 2008)…

Nhiều tác giả lại vận dụng lí thuyết trường từ vựng vào nghiên cứungôn ngữ nghệ thuật với ngữ liệu là các tác phẩm của các nhà thơ, nhà vănnổi tiếng để giải mã về nội dung – nghệ thuật của văn bản cũng như phong

cách tác giả Có thể kể tới: Nguyễn Chí Trung (Trường từ vựng chỉ người trong thơ Chế Lan Viên, LVThS, 2004), Phạm Thị Lệ Mỹ (Trường nghĩa và

Trang 8

việc phân tích tác phẩm văn học (qua tác phẩm " Thân phận tình yêu" - Bảo Ninh), LVThS, 2008), Phùng Thị Cảnh Trang (Khảo sát một số tín hiệu thẩm mĩ tiêu biểu thuộc trường nghĩa thiên nhiên trong thơ Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử trước cách mạng, LVThS, 2008), Nguyễn Thị Thu Trang (Trường nghĩa hiện tượng khí tượng trong “Truyện Kiều”, LVThS, 2009),

Hà Thị Mai Thanh (Trường từ vựng ngữ nghĩa thực vật với hai Thu-Đông trong thơ Nôm Đường luật (thế kỉ XV - XVII), LVThS, 2010)…

Với số lượng những công trình nghiên cứu phong phú, trường từ vựng

là một đối tượng nghiên cứu có sức hấp dẫn, lôi cuốn được nhiều người thamgia tìm hiểu Nó trở thành cơ sở để nghiên cứu nhiều vấn đề ngôn ngữ khác

và là một con đường quan trọng đến với thế giới nhận thức, tư duy, văn hoácủa một dân tộc

2.2.2 Trường từ vựng về bộ phận thân thể con người.

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam từ lâu đã rất chú trọng đến việcnghiên cứu hình ảnh con người Có rất nhiều công trình nghiên cứu trên thếgiới về ý nghĩa ngôn ngữ cơ thể được gọi là lĩnh vực phi ngôn ngữ vô cùngthú vị Cuốn sách gần đây nhất đã được dịch ra Tiếng Việt là Allan &Barbana

Pease (2010), Cuốn sách hoàn hảo về ngôn ngữ cơ thể, NXB tổng hợp TP

Hồ Chí Minh và một số cuốn sách tâm lý nghiên cứu về các dấu hiệu cơ thể.Nhưng nghiên cứu về bộ phận cơ thể người dưới góc độ từ vựng Tiếng Việtchủ yếu đều là đối chiếu ngôn ngữ Tiếng Việt với các thứ tiếng Anh, Pháp,Nga, tiếng Hán Có thể kể tới công trình nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Vũ

(2008), Thành ngữ Tiếng Anh và thành ngữ Tiếng Việt có yếu tố chỉ bộ phận

cơ thể con người dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận (luận án tiến sĩ), Trịnh Thị Thanh Huệ (2012), Nghiên cứu, đối chiếu, so sánh ẩn dụ trong ngôn ngữ Tiếng Việt và tiếng Hán dưới góc độ các bộ phận cơ thể người (Luận văn tiến sĩ), và một số bài báo như Nguyễn Đức Tồn (2008), Ngữ nghĩa các từ chỉ bộ phận cơ thể người trong Tiếng Việt và tiếng Nga, TC

Ngôn ngữ số 4 Các công trình này bước đầu đã xác lập một số trường nghĩa

Trang 9

chung về các bộ phận cơ thể người trong Tiếng Việt nói chung Đây là cơ sở

để người viết đi sâu nghiên cứu sự tri nhận ngôn ngữ cơ thể trong văn xuôihai giai đoạn văn học thế kỉ XX

- Đối chiếu các lớp nghĩa của ẩn dụ tri nhận bộ phận cơ thể ngườitrong hai giai đoạn văn học để tìm nét đồng nhất và khác biệt ở hai thời kìvăn học

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

4.1 Phạm vi nghiên cứu:

Trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận, chúng tôi chỉ khảo sát vănxuôi hiện thực với truyện ngắn và tiểu thuyết

+ Truyện vừa và Truyện dài của Hồ Biểu Chánh, Hoàng Ngọc Phách,

“ tiểu thuyết “Nửa chừng xuân” của Khái Hưng, tiểu thuyết “Hồn bướm mơtiên” của Nhất Linh (tiêu biểu của văn học giao thời đầu thế kỉ XX)

+ Tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, tập truyện ngắn “Bóng đè”của Đỗ Hoàng Diệu, tiểu thuyết “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư,truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ… (những tác phẩm gây sóng gió nhiềunhất trong văn học Việt Nam cuối thế kỉ XX)

4.2 Đối tượng nghiên cứu:

Bộ phận thân thể con người bao gồm nhiều bộ phận Trong phạm vinghiên cứu của luận văn, người viết chỉ tập trung vào nghiên cứu, đôi sánh sựvận động, phát triển của các đơn vị từ ngữ chỉ bộ phận mắt, bộ phận bàn tay

và bộ phận bàn chân à ba bộ phận diện kiến quan trọng giúp con người trinhận vạn vật xung quanh

Trang 10

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp phân tích – thống kê: Thống kê có định hướng, phân

loại các đơn vị từ vựng khảo sát

Trên cơ sở khảo sát các yếu tố ngôn ngữ, chúng tôi phân loại thống kêđược các yếu tố chỉ miêu tả biểu tượng mắt, tay, chân của con người đểnghiên cứu

Từ đó tổng hợp các dữ liệu khái quát nên những nét đặc trưng của biểutượng mắt, tay, chân của con người trong mỗi giai đoạn văn học

5.2 Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: Phân tích từ ngữ gắn ngữ

cảnh, chú ý mối quan hệ bình diện hệ thống cấu trúc với bình diện hoạt độngcủa ngôn ngữ, chỉ ra nghĩa bản thể, nghĩa biểu trưng, nghĩa liên hội…

5.3 Phương pháp phân tích lượng – tính : Dựa trên các đặc điểm định

lượng và định tính của các biến thể trong từng thời kì văn học để tìm hiểu quyluật biến đổi ngữ nghĩa của hệ biểu tượng cơ thể con người trong văn xuôihiện thực Việt Nam thế kỉ XX

5.4 Phương pháp tiếp cận kí hiệu học: Phân tích mối quan hệ giữa cái

biểu trưng và cái được biểu trưng, các cấp độ của cái được biểu trưng

5.5 Phương pháp so sánh văn hóa – văn học: So sánh các hướng

nghĩa và giá trị thẩm mĩ của hệ biểu tượng thân thể con người trong văn hóa

và văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX với một số tác giả tiêu biểu để thấy được sự

mở rộng hay giữ nguyên, thu hẹp ý nghĩa biểu tượng So sánh để thấy đượctính kế thừa và tính sáng tạo, phát triển của các giai đoạn văn học

6 Đóng góp của luận văn

Nghiên cứu đề tài này, người viết dự kiến có những đóng góp sau:

- Hệ thống hóa lại các khái niệm chung nhất về ẩn dụ tri nhận

- Từ kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp chúng ta có thể phần nào đónhận diện thế giới ngôn ngữ thân thể con người trong văn xuôi

- Thấy được sự vận động, phát triển của ngôn ngữ thân thể trong quátrình phát triển của văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX

Trang 11

7 Dự kiến nghiên cứu

Qua việc khảo sát và giải mã hệ thống biểu tượng ta có thể rút ra sơkhai một số nhận xét sau:

- Sự chuyển hóa các biến thể văn hóa về thân thể con người vào vănhọc nghệ thuật nói chung và văn xuôi nói riêng có một độ chênh, độ khúc xạ

rõ rệt Tỉ lệ giữa các biến thể cho ta thấy một số đặc trưng trong quan niệmthẩm mĩ cũng như trong ý thức xã hội của từng thời kì văn học

- Sự tri nhận ngôn ngữ thân thể con người trong văn xuôi hiện đại có

sự kế thừa các tầng lớp ý nghĩa của biểu tượng văn hóa Nhưng con ngườibuổi giao thời đầu thế kỉ XX vẫn là con người đạo đức phong kiến Yếu tốchuẩn mực chi phối mọi hành vi, cử chỉ, trạng thái cũng như cách miêu tả,cách hiện diện của con người Tuy nhiên ở giai đoạn chịu ảnh hưởng của vănhóa phương Tây này, hình ảnh con người bắt đầu có những bước bứt phá mới,con người bắt đầu trở về đời thường với một chút âu yếm, tình tứ

- Sang đến giai đoạn văn xuôi hậu hiện đại cuối thế kỉ XX, hệ thốngbiểu tượng về con người đa dạng hơn, phong phú hơn và sự xuất hiện trựctiếp một cách đậm đặc những bộ phận phía dưới của con người và hành vi cửchỉ thể hiện ham muốn bản năng Con người được miêu tả trần tục như đờisống thực, không chút che đậy Thậm chí trong hệ ngôn ngữ thân thể conngười văn học giai đoạn này còn xuất hiện những biểu tượng về bộ phận kín

mà trước đây, văn học các giai đoạn trước đều e dè né tránh

8.Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, và tài liệu tham khảo, luận văn triển khaitheo ba chương nội dung chính:

Trang 12

NỘI DUNGCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT

Trong phần cơ sở lí thuyết, chúng tôi trình bày khái quát những nộidung lí thuyết cơ bản sẽ được áp dụng để giải quyết vấn đề mà luận văn đặtra: tìm hiểu đặc điểm tri nhận của người Việt thông qua trường từ vựng về bộphận cơ thể người trong văn xuôi đầu và cuối thế kỉ XX Với định hướng triểnkhai đề tài dựa trên mối quan hệ giữa ngôn ngữ - văn hóa - tư duy, chúng tôilựa chọn hai cơ sở lí luận là cơ sở ngôn ngữ học và cơ sở văn hóa học

1.1 Cơ sở ngôn ngữ học

1.1.1 Nghĩa của từ và trường từ vựng ngữ nghĩa

1.1.1.1 Nghĩa của từ

a Khái niệm

Nghĩa của từ là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học từ rất sớm Đó

là toàn bộ những nội dung tinh thần có khi tiếp xúc với vỏ âm thanh của từ.Hay như giáo sư Đỗ Hữu Châu đã nhận định: “Nghĩa của từ là một thực thểtinh thần có quan hệ ổn định với hình thức từ”, cùng với hình thức từ lậpthành một thể thống nhất gọi là từ Nghĩa của từ là một hợp điểm, là kết quảcủa tác động giữa những nhân tố trong ngôn ngữ (toàn bộ hệ thống ngôn ngữ)

và ngoài ngôn ngữ (sự vật hiện tượng của thế giới bên ngoài và những hiểubiết về sự vật hiện tượng đó) (Tam giác ngữ nghĩa của Rechard và Ogden,

Zvenghinsen, Đỗ Hữu Châu được trình bày trong sách Nhập môn ngôn ngữ học và Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng).

b Các thành phần nghĩa của từ

Từ vừa mang ý nghĩa cấu trúc (là những ý nghĩa được cố định hóa, cótính bền vững trong hệ thống và được ghi chép giải nghĩa trong từ điển), lạivừa mang ý nghĩa lâm thời, ý nghĩa liên hội (ý nghĩa không cố định, biến đổi,nảy sinh trong hoạt động hành chức của ngôn ngữ và chưa được ghi chép giải

Trang 13

nghĩa trong từ điển) Trong ý nghĩa cấu trúc của từ bao gồm hai loại ý nghĩalớn là ý nghĩa ngữ pháp và ý nghĩa từ vựng Nếu ý nghĩa ngữ pháp mang tínhđồng loạt, chung cho nhiều từ thì ý nghĩa từ vựng là ý nghĩa riêng của từng từ.Luận văn sẽ tập trung chú ý tới ý nghĩa từ vựng của từ với ba thành phầnnghĩa: ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm và ý nghĩa biểu thái.

“Ý nghĩa biểu vật là phần nghĩa của từ liên quan đến sự vật hoặc phạm

vi sự vật trong thế giới mà từ gợi ra khi ta tiếp xúc với nó” Khi nhận thứcđược ý nghĩa biểu vật cũng là lúc trong ngôn ngữ học có sự khu biệt giữa haikhái niệm bức tranh ngôn ngữ về thế giới và bức tranh hiện thực thế giới Haikhái niệm này không bao giờ trùng khớp với nhau, và ở mỗi cộng đồng dântộc thì bức tranh ngôn ngữ cũng có sự khác nhau Ý nghĩa biểu vật của từchính là chính là phương tiện quan trọng để chúng tôi xác lập cụ thể số lượngcác đơn vị trong trường từ vựng hương thơm tiếng Việt cũng nhưu tái hiệnbức tranh ngôn ngữ về hương thơm của người Việt

“Ý nghĩa biểu niệm là phần nghĩa của từ liên quan đến hiểu biết về ý

nghĩa biểu vật của từ” tức là phản ánh hiểu biết về cách sử dụng từ Ý nghĩabiểu niệm là một cấu trúc bao gồm một số thành tố được sắp xếp theo một trật

tự nhất định, ví dụ, từ ngón trong ngón tay, ngón chân có cấu trúc biểu niệm:

- Ngón 1: Phần cử động được của bàn tay, bàn chân

Ngón 2: Tài nghệ, sở trường ( Ngón võ, ngón đàn, ngón nghề )

Ngón 3: Mánh khóe, thủ đoạn riêng ( Giở ngón bịp bợm )

Để tìm hiểu cấu trúc các nét nghĩa của từ, trong ngôn ngữ học có phươngpháp phân tích thành tố nghĩa Ứng với mỗi từ loại khác nhau (danh từ, động từ,tính từ, hư từ) các thao tác ngữ nghĩa sẽ được điều chỉnh cho phù hợp

“Ý nghĩa biểu thái là phần ý nghĩa của từ liên quan đến thái độ, cảm

xúc, cách đánh giá” Nó có vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn cách dùng

từ Hiểu biết về ý nghĩa biểu thái giúp chúng ta lựa chọn từ một cách chínhxác trong hàng loạt những từ gần nghĩa, đồng nghĩa khi sử dụng Trong luận

Trang 14

văn này, sắc thái của các từ thuộc trường từ vựng bộ phận cơ thể người, nhất

là những từ chỉ ý nghĩa tượng trưng được đặc biệt quan tâm bởi chúng chobiết thái độ, tâm lí, cảm quan cá nhân của người nói đối với đối tượng đượcnói tới Từ đó, chúng ta có thể tìm ra một số đặc điểm tâm lí cũng như quanniệm của người Việt về các vấn đề trong cuộc sống

Thành phần ý nghĩa liên hội được các nhà nghiên cứu xác lập để tạo thếcân bằng với ý nghĩa cấu trúc Sự có mặt của thành phần nghĩa này được kiểmchứng khi từ được sử dụng trong hoạt động hành chức, tức là khi nó đượcchuyển từ trạng thái tĩnh sang trạng thái động Ngoài những ý nghĩa đã được

cố định trong từ điển, những ý nghĩa có khả năng nảy sinh trong tâm trí người

sử dụng những liên tưởng, đánh giá, ấn tượng mang đậm dấu ấn cá nhân Thóiquen sử dụng những ý nghĩa phát sinh này sẽ phản ánh nhận thức của cá nhân,của cộng đồng Điều đó, nó giúp cho người sử dụng ngôn ngữ nhuần nhuyễn,

tự tin và tránh phạm húy trong tập quán, văn hóa của người bản ngữ Có thểnói, ý nghĩa liên hội phần nào chứa đựng những lớp tư duy của cộng đồngcũng như những cảm nhận cá nhân, khám phá những thói quen mang tính chấtphong tục trong thế ứng xử của con người đối với thế giới tự nhiên và xã hội

Vì thế, trong luận văn này, chúng tôi đi vào nghiên cứu ý nghĩa liên hội củanhững từ chỉ bộ phận thân thể diện kiến của con người để tìm hiểu một số đặcđiểm tâm lí của người Việt hiện đại đối với vấn đề này

c Hiện tượng nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ

Từ xa xưa, ngôn ngữ học đã quan tâm lí giải hiện tượng tính đa trị ởmột tín hiệu ngôn ngữ: một hình thức tín hiệu có thể mang nhiều nội dung,khi nghiên cứu về nghĩa của từ và sự chuyển biến ý nghĩa của từ trong sửdụng Nhưng hiện tượng này bao gồm hai nhóm khác nhau đó là hiện tượngđồng âm và hiện tượng nhiều nghĩa, và để phân biệt hai hiện tượng này ngônngữ học lấy tiêu chuẩn ngữ nghĩa để soi chiếu Kết quả cho thấy hiện tượngnhiều nghĩa là sự chuyển biến ý nghĩa trong nội bộ một từ, còn từ đồng âm lại

Trang 15

là hiện tượng các từ khác nhau nhưng có sự trùng nhau về hình thức âmthanh Khi có sự phân biệt như vậy, luận văn sẽ chỉ chú ý tới hiện tượng

chuyển biến ý nghĩa mà thực chất là quá trình di chuyển từ ý niệm bộ phận

con người sang các ý niệm khác của người Việt.

Hiện tượng nhiều nghĩa có thể xuất hiện ở cả ý nghĩa biểu vật, ý nghĩabiểu niệm và ý nghĩa biểu thái Có thể thấy có nhiều nghĩa biểu vật như sau:

- Vai 1: Phần cơ thể nối liền hai cánh tay và thân

Vai 2: Biểu trư ng cho thứ bậc trên dưới trong quan hệ gia đình, làng

xóm, xã hội (vai vế, vai anh, vai chị )

Vai 3: Biểu trưng cho sức lực ( Chung vai gánh vác, Sức dài vai rộng,

vai u thịt bắp )

Vai 4: Bộ phận của áo, che hai vai (vai áo)

Vai 5: Bộ phận của một số vật giống cái vai, có chức năng gánh, đỡ

(vai cày, vai lọ )

Vai 6: Nhân vật trong kịch bản được diễn viên thể hiện (Vai chính, vai hề )

Hiện tượng nhiều nghĩa của ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm cómối quan hệ mật thiết với nhau, và thường chia thành nhóm, xoay quanh mộtmột cấu trúc nghĩa biểu niệm nào đó Do đó, hệ quả dẫn đến một từ có thể cóthể thuộc nhiều trường từ vựng khác nhau

1.1.1.2 Trường từ vựng ngữ nghĩa

a Khái niệm trường từ vựng ngữ nghĩa

Về khái niệm, trường từ vựng ngữ nghĩa còn được được gọi là trường

từ vựng, trường nghĩa Hiểu theo một cách ngắn gọn, khái niệm trường từvựng được được hiểu là “các đơn vị từ vựng đồng nhất với nhau về nghĩa”.Việc tập hợp những từ ngữ để tạo lập nên những diễn ngôn chính xác là quátrình xác lập trường từ vựng

Trong tiếng Việt, học giả Đỗ Hữu Châu xác định có các trường từ vựngnhư: trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm, trường nghĩa tuyến tính,

Trang 16

trường nghĩa liên tưởng… Trong luận văn này, chúng tôi sẽ đề cập tới cáckiểu trường từ vựng để đưa ra cách lí giải hợp lí về sự tri nhận của người Việtqua trường từ vựng mắt, tay và chân của con người.

b Các loại trường từ vựng ngữ nghĩa

Từ những đặc điểm chung của tập hợp từ, Đỗ Hữu Châu đã trình bàynhững quan niệm của mình về các kiểu trường nghĩa và tiêu chí xác lậptrương nghĩa: Trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm, trường nghĩaliên tưởng, trường nghĩa tuyến tính

Trường nghĩa biểu vật “là một tập hợp các từ ngữ đồng nhất với nhau

về nghĩa biểu vật (về phạm vi biểu vật)” Để xác lập trường nghĩa biểu vật

người ta chọn một danh từ biểu thị sự vật làm gốc, danh từ này phải có ýnghĩa khái quát cao Từ điểm xuất phát đó, ta có thể xác lập được một tập hợpnhững từ ngữ có ý nghĩa xoay quanh từ trung tâm Khi tìm hiểu trường nghĩabiểu vật cần lưu ý những điểm sau:

- Về số lượng đơn vị và tổ chức: các trường nghĩa có sự khác nhau về

số lượng cũng như tổ chức và nếu có chung tên gọi thì trường nghĩa ở cácngôn ngữ khác nhau thì có sự khác nhau

- Về vị trí: một từ có thể nằm trong nhiều trường biểu vật khác nhau haytrong nhiều trường nhỏ khác nhau tùy theo số lượng các ý nghĩa biểu vật của nó

- Về mối quan hệ: các trường biểu vật có thể “thẩm thấu”, “giao thoa”với nhau Bên trong các trường nghĩa, các từ ngữ quan hệ với trường biểu vật

có thể chặt chẽ hoặc lỏng lẻo

Một điểm rất đáng chú ý là trường nghĩa biểu vật không phải chỉ códanh từ tức là những từ dùng để gọi tên sự vật, hiện tượng Trường nghĩa biểuvật có thể bao gồm động từ, tính từ, trạng từ… Các từ này có thể biểu hiệncác phương diện khác nhau (mang các nét nghĩa khác nhau) nhưng đều liênquan đến phạm vi sự vật, thuộc về trường biểu vật đó

Trang 17

Trường biểu niệm “là tập hợp các từ có chung một cấu trúc nghĩa biểu

niệm’ Để xác lập trường biểu niệm ta chọn một cấu trúc biểu niệm làm gốc,rồi trên cơ sở đó thu thập các từ ngữ có chung cấu trúc biểu niệm Các trườngbiểu niệm lớn có thể phân chia thành các trường nhỏ và cũng có những miềnvới mật độ khác nhau

Còn trường nghĩa tuyến tính được xác lập căn cứ vào mối quan hệ trên trục ngữ đoạn của các đơn vị ngôn ngữ Để tạo lập trường nghĩa tuyến

tính, thao tác đầu tiên là chọn một từ làm gốc, sau đó tìm tất cả những từ cóthể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhậnđược trong ngôn ngữ Vì vậy các từ trong một trường tuyến tính là những từthường xuất hiện với từ trung tâm trong các loại ngôn bản Phân tích ý nghĩacủa chúng có thể phát hiện ra những nội dung ngữ nghĩa của các quan hệ cúpháp và tính chất của các quan hệ đó

Cùng với các trường nghĩa dọc, trường nghĩa biểu vật và trường nghĩabiểu niệm, các trường nghĩa tuyến tính góp phần làm sáng tỏ những quan hệ

và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện những đặc điểm nội tại và nhữngđặc điểm hoạt động của từ

Trường nghĩa liên tưởng “là tập hợp các từ biểu thị các sự vật, hiện

tượng, hoạt động, tính chất,… có quan hệ liên tưởng với nhau” Theo nhà ngônngữ học người Pháp Ch Bally, tác giả đầu tiên của khái niệm trường nghĩa liêntưởng, mỗi từ có thể là trung tâm của một trường liên tưởng Nghiên cứu vềtrường liên tưởng cần nắm được ý nghĩa liên hội – ý nghĩa được hình thành doliên tưởng trong quá trình sử dụng, có tính lâm thời, chưa đi vào hệ thống cấutrúc của từng đơn vị ngôn ngữ

Các từ trong một trường liên tưởng là sự hiện thực hóa, sự cố định bằng

từ các ý nghĩa liên hội có thể có của từ trung tâm Trường liên tưởng tập hợpcác từ cùng nằm trong một trường biểu vật, trường biểu niệm và trường tuyếntính Ngoài ra, trường liên tưởng còn chấp nhận những từ khác được liên

Trang 18

tưởng tới do xuất hiện với từ trung tâm trong những ngữ cảnh có chủ đề tươngđối đồng nhất, thường xuyên lặp đi lặp lại Chính vì thế, các trường liên tưởng

“có tính dân tộc, tính thời đại và tính cá nhân”

c Hiện tượng chuyển trường

Tại mục 1.1.1.1 Nghĩa của từ, khi trình bày về “hiện tượng nhiều nghĩa

của từ”, một từ có thể có một hoặc nhiều nghĩa biểu vật, biểu niệm và biểu thái.Hiện tượng này không tồn tại ngay khi từ vừa xuất hiện mà hình thành donhững cải biến của con người trong quá trình sử dụng: “Từ (đơn hoặc phức) lúcmới xuất hiện đều chỉ có một nghĩa biểu vật Sau một thời gian được sử dụng,

nó có thể có thêm những nghĩa biểu vật mới Các nghĩa biểu vật mới xuất hiệnngày càng nhiều thì nghĩa biểu niệm của nó càng có khả năng biến đổi” Sựchuyển nghĩa của từ chính là cơ sở dẫn đến sự chuyển trường

Những biến đổi về nghĩa của từ diễn ra tùy theo từng hoàn cảnh giaotiếp cụ thể Các nghĩa mới nảy sinh có thể chỉ mang tính chất nhất thời, dễdàng bị tiêu biến song cũng có những nghĩa được sử dụng rộng rãi trong cộngđồng ngôn ngữ, trở nên ổn định và được ghi vào từ điển Điểm chung của sựbiến đổi ngữ nghĩa là chúng luôn diễn ra theo những cách thức và quy tắcchung Ngữ nghĩa học truyền thống quan niệm hai phương thức chuyển nghĩa

cơ bản là ẩn dụ và hoán dụ “Ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi

tên y (để biểu thị y), nếu như x và y giống nhau Còn hoán dụ là phương thứclấy tên gọi A của x để gọi y nếu x và y đi đôi với nhau trong thực tế”

Khi có hiện tượng chuyển nghĩa, một từ sẽ có thêm ý nghĩa mới Hầuhết các đơn vị ngôn ngữ, khi chuyển sang một nghĩa khác thì đồng thời nócũng chuyển sang một trường nghĩa mới Xem xét các ví dụ dưới đây:

Bàn tay mỏng tanh, diệu kỳ, không trọng lượng (Đỗ Hoàng Diệu)

Giao hết tiền bạc trong nhà về tay nó thảy (Hồ Biểu Chánh)

Tay viết văn có tiếng (Hồ Biểu Chánh)

Trang 19

Các đơn vị ngôn ngữ: tay thuộc trường nghĩa bộ phận cơ thể người đã

được chuyển sang trường nghĩa chỉ sự sở hữu, hoặc sự giỏi giang, thông thạo

Như vậy, khi từ chuyển trường, chúng mang theo nghĩa của trường cũsang trường mới Sự cộng hưởng ngữ nghĩa của cả trường cũ và trường mới

sẽ tạo cho nghĩa của từ được chuyển trường

Sự chuyển nghĩa thường mang tính đồng loạt giữa các từ trong cùng mộtnhóm từ - tức là giữa các đơn vị thuộc cùng một trường nghĩa - “các từ có ýnghĩa biểu vật cùng thuộc một phạm vi hoặc có ý nghĩa biểu niệm cùng mộtcấu trúc thì chuyển biến ý nghĩa theo cùng một hướng giống nhau”, do đó, sựchuyển trường cũng thường diễn ra đồng loạt, theo cùng hướng Tuy “tínhđồng hướng” này không phải là “tuyệt đối” song nó là một căn cứ quan trọng

để tìm hiểu hoạt động của các đơn vị ngôn ngữ: khi nghiên cứu sự chuyểntrường của một nhóm từ ngữ, cần xem xét sự chuyển trường của từng thànhviên trong nhóm cũng như xu hướng biến đổi chung của chúng

là một sự trang trí cho lời nói đến ẩn dụ là một thuộc tính của tư duy Và Líthuyết về ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor) gắn liền với tên tuổi George

Lakoff qua các công trình Ẩn dụ mà chúng ta đang sống (Metaphor we live

by, 1980) viết chung với nhà triết học Mark Johnson; Phụ nữ, lửa và những vật nguy hiểm (Women, fire and Dangerous things, 1987); Lí thuyết hiện đại về ẩn dụ (The contemporary theory of metaphor, 1992)… Đây được coi

là những đóng góp quan trọng nhất của ngôn ngữ học tri nhận và tạo nên một

Trang 20

cuộc cách mạng nhận thức cho nhân loại Bản chất của ẩn dụ chính là “hiểu

và trải nghiệm một vấn đề trong thuật ngữ của một loại vấn đề khác”, “ẩn dụ

là một thao tác tinh thân cơ bản của con người, theo các đó chúng ta hiểu biết về thế giới” Hay nói cách khác, thao tác tinh thần được hiểu cụ thể chính

là quá trình đồ họa hoặc chuyển di của tư duy tâm trí, tâm lí, nhận thức củacon người từ lĩnh vực/ miền nguồn tới lĩnh vực/ miền đích còn chưa biết

Trong Metaphor we live by, Lakoff có đưa ra một số ví dụ:

- Anh đừng tốn/ lãng phí thời gian (waste time) vào việc đó nữa

- Tôi đã học được cách tiết kiệm thời gian (save time) khi làm việc tạingân hàng

- Chị ta luôn dành thời gian (spend time) cho việc đọc sách

Theo quan điểm truyền thống, gần như ẩn dụ không xuất hiện trong cácphát ngôn trên Các động từ được gạch chân được dùng đúng với nghĩa từđiển Tuy nhiên, dưới sự phân tích của Lakoff, ẩn sau những phát ngôn hết

sức đời thường lại hàm chứa một quá trình tư duy của con người: dùng những

từ ngữ gắn với lĩnh vực tiền bạc để nói đến lĩnh vực khác là thời gian Và

những hành động của con người tác động đối với thời gian không khác gì sựtác động của con người đối với tiền bạc Cách nói như vậy được chấp nhận làbởi trong tâm trí của cả người nói và người nghe đều tự động thực hiện quátrình chuyển di ý niệm từ lĩnh vực tiền bạc (miền nguồn) sang lĩnh vực thờigian (miền đích) Sự di chuyển ý niệm được gọi là ánh xạ Vì thế, Lakoff đãkhái quát thành công thức: Thời gian là tiền bạc và coi đó là một một ẩn dụ trinhận/ ẩn dụ ý niệm

Một số ẩn dụ ý niệm được Lakoff đưa ra như: Tình yêu là hành trình, Tranh luận là chiến tranh, Hạnh phúc hướng lên trên, Buồn hướng xuống dưới… Ngoài ra, ở Việt Nam, đặc điểm của ẩn dụ ý niệm được Phan Thế

Hưng khái quát trong luận án tiến sĩ của mình như sau:

(1) ẩn dụ là hiện tượng ý niệm, không chỉ là hiện tượng ngôn từ;

Trang 21

(2) chức năng của ẩn dụ là nhằm giúp con người hiểu rõ hơn các ýniệm, không chỉ là biện pháp tu từ;

(3) ẩn dụ không chỉ căn cứ vào sự giống nhau;

(4) ẩn dụ được sử dụng tự nhiên trong đời sống hàng ngày từ nhữngcon người bình thường, chứ không chỉ từ những người có khả năng đặc biệt;

(5) ẩn dụ không chỉ là phương thức tu từ của ngôn ngữ, mà còn là quytrình tự nhiên của nhận thức và tư duy

b Cấu trúc của ẩn dụ

Cấu trúc của ẩn dụ bao gồm ba thành tố: miền nguồn, miền đích và ánh

xạ Trong đó, ánh xạ là yếu tố quan trọng nhất làm nên ẩn dụ tri nhận, là quan

hệ quy chiếu liên vùng, là sự chuyển di từ miền nguồn sang miền đích có sựtương ứng giữa các điểm của của hai miền Sự phóng chiếu này tuân thủnguyên tắc bất biến: các miền nguồn được phóng chiếu vào miền đích theomột phương thức nhất quán và cố định với cấu trúc có sẵn của miền nguồn.Chẳng hạn, với ẩn dụ ý niệm: Tranh luận là tay, về sơ bộ chúng ta có thể thấymột số điểm tương ứng ở miền nguồn với các điểm ở miền đích như sau:

- Bộ phận tay của các hình tượng con người trong văn học

-Bộ phận có hình dạng, chức năng, vị trí giống tay trong các đồ vật

- Một số ý nghĩa tương đồng khác: vị trí trong một tập thể, đoàn thể, tổ chức

Để hiểu và nhận biết được những nội dung như trên, người phát ngôn

và người tiếp nhận dựa vào kinh nghiệm, nhận thức, hiểu biết về thế giớikhách quan để ý niệm hóa các phạm trù ở miền nguồn cụ thế hướng tới miềnđích với các phạm trù trừu tượng

1.1.2.2 Ý niệm

a Khái niệm

Thuật ngữ Ý niệm cũng được các nhà ngôn ngữ học tri nhận quan tâm

và cắt nghĩa Tuy có chung thuật ngữ tiếng Anh là Concept nhưng các nhà

Trang 22

ngôn ngữ học có sự phân biệt khá rõ ràng về Khái niệm và Ý niệm Khái niệm

là đơn vị nhỏ nhất của quá trình nhận thức với hai giai đoạn cảm tính (cảmgiác và tri giác) và lí tính (biểu tượng và khái niệm) Khác hẳn với quá trìnhnhận thức, quá trình tri thức không chia thành những giai đoạn rạch ròi mà là

sự tổng hợp những kết quả thu nhận được bắt đầu từ tri giác cảm tính thông

qua năm giác quan của con người để rồi cuối cùng tạo nên những Ý niệm – đơn vị nhỏ nhất của quá trình tri nhận Yu.X.Stepanov cho rằng Khái niệm là thuật ngữ của logic học và triết học, còn Ý niệm thuộc về toán học và văn hóa học Và ông đưa ra định nghĩa: Ý niệm tựa như một khối kết đông của nền văn

hóa trong ý thức của con người; dưới dạng của nó nền văn hóa đi vào thế giới ý thức (tư duy) của con người, và mặt khác, ý niệm là cái mà nhờ đó con người – con người bình thường, không phải con người sáng tạo ra những giá trị văn hóa – chính con người đó đi vào văn hóa, và trong một số trường hợp nhất định, nó tác động đến văn hóa [9 ;26] G.G Slyshkin cũng nghiên cứu

các quan điểm về Ý niệm và bản thân ông coi đó là một khâu không trung gian

không thể thiếu trong việc nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa ngôn ngữ và

văn hóa Slyshkin cho rằng: Ý niệm là đơn vị của tư duy, là yếu tố của ý thức Bàn về thuật ngữ Ý niệm, tác giả Trần Trương Mĩ Dung đã tổng hợp và phân tích những điểm phân biệt giữa hai thuật ngữ Khái niệm và Ý niệm và nhấn mạnh: Ý niệm tạo ra một lớp văn hóa trung gian giữa con người và thế giới…

Nó được cấu thành từ tri thức tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo lí, luật pháp, phong tục tập quán và một số thói quen mà con người tiếp thu được với tư cách là thành viên của xã hội Như vậy, Ý niệm chứa ba thành tố: thành tố khái niệm, thành tố cảm xúc - hình tượng và thành tố văn hóa Trong đó, hai thành tố sau mang tính dân tộc sâu sắc.

b Cấu trúc của ý niệm

Xét về cấu trúc, Ý niệm có cấu trúc nội tại bao gồm hai thành tố, đó là:

nội dung thông tin về thế giới hiện thực và thế giới tưởng tượng, mang những

Khái niệm

VH

VH nhóm

xã hội

Văn hóa dân tộcVăn hóa

các tộc người

Ý

Trang 23

nét phổ quát và tất cả những gì làm nó trở thành sự kiện của văn hóa, nghĩa là

nó chứa đựng những nét đặc trưng văn hóa dân tộc Cở sở của Ý niệm chính là

những kinh nghiệm cảm tính trực tiếp mà con người thu nhận được thông quaquá trình tri giác thế giới bằng các cơ quan cảm giác, thông qua hoạt động tư

duy và hoạt động giao tiếp dưới hình thức ngôn ngữ Ý niệm có cấu trúc trường – chức năng được tổ chức theo mô hình trung tâm (hạt nhân) và ngoại

vi Trong cấu trúc đó, hạt nhân là khái niệm mang tính phổ quát toàn nhân

loại và ngoại vi bao gồm các nét đặc thù văn hóa dân tộc mà yếu tố hàng đầu

là yếu tố giá trị (nói đến văn hóa là nói đến những giá trị văn hóa tinh thần và

vật chất) Mô hình cấu trúc Ý niệm được thể hiện như sau:

Như vậy, mô hình Cấu trúc ý niệm đã cho thấy: Ý niệm là cái chứa

đựng sự hiểu biết của con người về thế giới, được hình thành trong ý thức,

trong quá trình tri nhận và hiện thân trong ngôn ngữ Trong Ý niệm có cái phổ

quát (Khái niệm) và cái đặc thù (văn hóa thể hiện ở nhiều dạng khác nhau)

Vì gắn với đời sống và văn hóa giao tiếp nên các ý niệm trong sự trinhận của con người khi có sự chuyển di ý niệm giữa các phạm trù dựa trên sự

cơ chế của ẩn dụ Trong ba thành tố cấu thành cấu trúc của ẩn dụ là Miền nguồn (Sourse domain), Miền đích (Target domain) và Ánh xạ (Mapping)

Khái niệm

VH

thể

VH nhóm

xã hội

Văn hóa dân tộcVăn hóa

các tộc người

Ý

Ngoại vi

Trang 24

thì Ánh xạ là yếu tố quan trọng nhất tạo nên ẩn dụ tri nhận Tác giả Phan ThếHưng đã khái quát một số ẩn dụ bản thể qua mô hình như sau:

(ví dụ: tâm trí)CHẤT LIỆU CÁC HỌAT ĐỘNG (ví dụ: chạy, chảy,…)

trong rừng)

BỀ MẶT VẬT CHẤT VÀ PHI VẬT CHẤT (ví dụ: địa điểm, tầm nhìn,…)

TRẠNG THÁI (ví dụ: đang yêu) (ví dụ: địa điểm, tầm nhìn,…)

Cụ thể, theo tác giả Phan Thế Hưng dịch và tổng thuật, một số miềnnguồn và miền đích thông trong ẩn dụ ý niệm được trình bày như sau:

- Các cơ sở miền nguồn thông dụng: Cơ thể con người; Sức khỏe và

bệnh tật; Động vật; Thực vật; Nhà cửa và xây dựng; Máy móc và công cụ; Trò chơi và thể thao; Tiền bạc và giao dịch kinh tế; Nấu ăn và thực phẩm; Nóng và lạnh; Ánh sáng và bóng tối; Lực và sức mạnh; Chuyển động và chiều hướng.

- Các cơ sở miền đích thông dụng: Cảm xúc; Ham muốn; Đạo đức; Tư

duy; Xã hội/ Quốc gia; Chính trị; Kinh tế; Quan hệ con người; Giao tiếp; Sự sống và cái chết; Sự kiện và hành động (Ẩn dụ ý niệm trong Tiếng Việt , 53-65)

1.2 Cơ sở văn hóa học

1.2.1 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ với tư duy và văn hóa

1.2.1.1 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy

Trong lịch sử nhân loại, về cơ bản các nhà triết học và khoa học đều

thống nhất sự tồn tại giữa ngôn ngữ và tư duy Karl Mark nói: Hiện thực trực

tiếp của tư tưởng là ngôn ngữ Nhà tâm lí Vư gôt xki từng nói: Nghĩa của từ

Trang 25

đồng thời là ngôn ngữ và tư duy vì nó là đơn vị của tư duy bằng ngôn ngữ.

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng bậc nhất của con người, nó vừa

là hình thức tồn tại, là phương tiện vật chất để biểu đạt tư duy, vừa là “công

cụ của hoạt động tư duy Ngôn ngữ tham gia trực tiếp vào quá trình hìnhthành và phát triển tư duy”

Thông qua ngôn ngữ và nhờ vào ngôn ngữ, mọi suy nghĩ và vốn trithức của con người được tiến hành và tích lũy qua quá trình tác động vào bảnthân, vào tự nhiên và xã hội “được ghi lại, được tàng trữ, được bảo toàn trong

bộ não người chủ yếu nhờ ngôn ngữ; và cũng nhờ ngôn ngữ mà con người cóthể truyền đạt những tri thức, những sự hiểu biết ấy của mình cho người khác,sang địa phương khác” Ngôn ngữ và tư duy luôn có sự tác động qua lại vàảnh hưởng lẫn nhau Không có ngôn ngữ thì không có tư duy, ngược lạikhông có tư duy cũng không thể có ngôn ngữ bởi lúc ấy “ngôn ngữ” chỉ là thứ

âm thanh trống rỗng và vô nghĩa

Trong xu phát triển chung, càng ngày ngành ngôn ngữ học càng quantâm nhiều hơn tới mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ và tư duy, thậm chí

nó trở thành “trung tâm của tâm lí ngôn ngữ học tộc người” hiện nay (dt Đặctrưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy – Nguyễn Đức Tồn) Các nhànghiên cứu ngôn ngữ như Sapir và Whorf cho rằng “tư duy của con người bịquy định bởi ngôn ngữ mà anh ta nói và anh ta không thể vượt thoát ra khỏiphạm vi ngôn ngữ này, bởi vì toàn bộ sự hiểu biết của một con người về thếgiới đều được biểu hiện bằng tiếng mẹ đẻ của người đó” (dt Đặc trưng vănhóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy – Nguyễn Đức Tồn) Các tác giả nàytrình bày thuyết tương đối ngôn ngữ của mình với hai biến thể mạnh và yếu:

“Biến thể mạnh: ngôn ngữ quyết định cái cách thức một dân tộc suy nghĩ,cảm thụ và chia cắt thế giời khách quan (thành các phạm trù) Ngôn ngữ khácnhau thì tư duy khác nhau Biến thể yếu: ngôn ngữ phản ánh những giới hạnràng buộc về văn hóa đối với lối suy nghĩ của dân tộc, thể hiện cách mà ngôn

Trang 26

ngữ đó chia cắt hiện thực và phạm trù hóa kinh nghiệm” (dt Trường từ vựngthức ăn trong sự tri nhận của người Việt – Đinh Phương Thảo) Có không ít ýkiến phản bác lại giả thuyết này song thực tế cho thấy “từ góc độ phát sinh cáthể, giả thuyết Sapir -Whorf là hoàn toàn có lí” (dt Đặc trưng văn hóa dân tộccủa ngôn ngữ và tư duy – Nguyễn Đức Tồn) Tuy nhiên trong thực tế conngười vẫn có khả năng nhận thức được những thứ không có trong ngôn ngữcủa mình Vấn đề này liên quan tới sự giao lưu ngôn ngữ, văn hóa giữa cácdân tộc.

Ngôn ngữ học tri nhận đã đóng góp những góc nhìn mới mẻ về ngônngữ trong việc tìm hiểu các đặc trưng tư duy, văn hóa cộng đồng thông quacác cứ liệu ngôn ngữ

1.2.1.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa

Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa cũng được coi như một tiên đề

“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do conngười sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tươngtác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”

Từ rất lâu, giới nghiên cứu ngôn ngữ cũng đã có những quan tâm đáng

kể tới mối quan hệ bền chặt giữa ngôn ngữ và văn hóa Nhưng phải đến khinhà ngôn ngữ học V Humboltd đã đưa ra nhận xét nổ giống như một tuyênngôn chính thức: “ngôn ngữ là linh hồn của dân tộc, linh hồn của dân tộc là

ngôn ngữ” [dt Ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên cứ liệu tiếng

Việt và tiếng Anh tr 37] Việc xem ngôn ngữ như là thành tố quan trọng nhất

của văn hóa và chú ý tới chức năng xã hội của nó, nhấn mạnh mối liên hệgiữa ngôn ngữ và “linh hồn” dân tộc được coi là cống hiến lớn của Humboltdcho ngôn ngữ học thế kỉ XIX

Bên cạnh đó, chính lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận mà chúng tôi vậndụng để tiến hành nghiên cứu trong luận văn cũng là một minh chứng củanhân loại cung cấp phương pháp nghiên cứu đặc trưng tư duy, văn hóa cộng

Trang 27

đồng thông qua ngôn ngữ Ngược lại, các nhà văn hóa học cũng có nhữngcông trình nghiên cứu góp phần khẳng định mối liên hệ giữa ngôn ngữ vàvăn hóa Tác giả Trần Ngọc Thêm từng đưa ra những cứ liệu nghiên cứu chothấy dấu ấn của một thời kì mẫu hệ thịnh vượng của người Việt cổ trong ngônngữ như: Cột cái, đường cái, nhà cái, sông cái… Việc nghiên cứu đặc trưng tưduy, văn hóa cộng đồng thông qua ngôn ngữ là một hướng đi có nhiều hứahẹn thú vị và góp phần tạo ra những cách nhìn mới về văn hóa.

1.2.2 Mối quan hệ giữa con người với hình ảnh của họ trong văn chương

Như đã có dịp nói ở chương trước, các nhà ngôn ngữ học tri nhậnđương đại cho rằng, ẩn dụ không chỉ là hiện tượng tu từ như ngôn ngữ họctruyền thống, mà còn là một hình thức khái quát nhận thức và tư duy cở bảnkhi tri nhận thế giới của loài người Ẩn dụ là hình thức ánh xạ (maping) từlĩnh vực quen thuộc ( khu vực nguồn) đến lĩnh vực không quen thuộc (đích),

từ đó là cở sở và biện pháp để người khái quát , tổ chức, biểu đạt khái niệm vànhận thức thế giới

Người nguyên thủy khi bắt đầu nhận thức thế giới thường tuân theonguyên tắc “ dĩ nhân vi trung”, tức lấy những thứ thuộc về con người và trảinghiệm của con người để nhận thức thế giới, lấy con người làm tiêu chuẩn đểlàm thước đo những sự vật chung quanh Nhà triết học người Hi Lạp cổProtagoras (TCN 485- TCN 410) đã có một câu danh ngôn mà ai ai cũng biếttới: “Con người là thước đo của vạn vật” (Man is the measure of all things).Khi nhận thức thế giới, dường như con người lấy toàn bộ bộ phận cơ thể mìnhlàm vật tham chiếu phản ánh thế giới vật chất khách quan, hay nói một cáchkhác, con người lấy cách nhận thức về bản thân mình làm cách để tri nhận vềthế giới, họ lấy sự tri nhận về cơ thể mình làm khởi nguồn nhận thức, đồchiếu vào các mục tiêu trừu tượng, không quen thuộc với họ Do đó, hìnhthành phương thức tri nhận ẩn dụ bộ phận cơ thể người, trong ngôn ngữ hình

Trang 28

thành một lượng lớn các từ vựng ẩn dụ từ bộ phận cơ thể người Tiếng Việtcũng không nằm ngoài quy luật này.

Tuy ẩn dụ tri nhận bộ phận cơ thể người là một hình thức tri nhận phổbiến trên thế giới nhưng do các dân tộc sống trong các hoàn cảnh địa lí, môitrường văn hóa, lịch sử, ngôn ngữ khác nhau nên cũng có những sự khác biệttrong ẩn dụ tri nhận bộ phận cơ thể người trong ngôn ngữ các dân tộc khácnhau Theo giả thuyết Sapir- Whorf ngôn ngữ là một loại thế giới quan , cácdân tộc có ngôn ngữ khác nhau sẽ có cách nhìn về thế giới khác nhau

Chúng ta sống trong môt trường thế giới khách quan hàng ngày, chúng

ta không thể tách rời với môi trường thế giới bên ngoài Con người liên kếtvới thế giới thông qua sự tác động lẫn nhau giữa cơ thể với thế giới xungquanh Loài người lấy chính sự tác động này làm cách để cảm thụ thế giới, để

lí giải mối quan hệ giữa vạn vật Vì vậy, khái niệm và ý nghĩa chính là hiệntượng tâm lý dựa trên kinh nghiệm của bản thân con người và đại não với thếgiới khách quan, chúng được cố định hóa qua quá trình trải nghiệm của conngười Con người trong quá trình nhận thức thế giới, trước hết là thể nghiệmthế giới, cũng chính là con người lấy chính cơ thể hay bộ phận cơ thể mình đồchiếu vào thế giới khách quan , nhận thức thế giới bằng phương thức tri nhận

ẩn dụ có liên quan đến những trải nghiệm về các bộ phận cơ thể người Vậy

cơ chế tri nhận ẩn dụ thông qua bộ phận cơ thể người được vận hành như thếnào, ẩn dụ bộ phận cơ thể người có những đặc điểm gì? Sau đây chúng tôi xintrình bày về lĩnh vực này

Các nhà ngôn ngữ học tri nhận cho rằng ý nghĩa từ vựng trong ngônngữ không đơn thuần là sự đối ứng của thế giới khách quan mà còn bắt nguồn

từ sự thể nghiệm của con người và kinh nghiệm xã hội của họ Quá trình suy

lí của con người là quá trình suy lí động vật học, có liên quan chặt chẽ đến tổchức đặc biệt của cơ thể và bộ não chúng ta “Khái niệm được hình thành qua

sự trải nghiệm của cơ thể, đại não và sự tương tác với môi trường, đồng thời

Trang 29

chỉ có thể lí giải được thông qua ba thứ trung gian này Khái niệm có được làthông qua sự trải nghiệm của cơ thể, đặc biệt là thông qua năng lực tri giác vàvận động cơ học” Từ thập kỉ 80 của thế kỉ trước, các nhà khoa học đã pháthiện ra rằng, khái niệm trong não con người không giống như các nhà ngữpháp học tạo sinh nhận định là sản phẩm của sự đối ứng giữa các kí hiệu trừutượng với thế giới khách quan, mà đó là kết quả của sự tưởng tượng của conngười Thế giới khách quan trong tâm trí loài người không hoàn toàn trùngkhớp với thế giới vật chất khách quan hiện thực hiện hữu hay thế giới logic.Trong quá trình nghiên cứu, họ còn phát hiện ra rằng sự hình thành khái niệmđược thực hiện dựa trên cơ sở các kí hiệu có ý nghĩa, nhưng các kí hiệu nàykhông thể quy nạp hay khái quát hóa mang tính logic toán học Từ đó họ chorằng cấu trúc khái niệm là kết quả năng lực tri nhận khi con người lấy sự trảinghiệm của bản thân và kinh nghiệm xã hội ánh xạ vào sự vật trừu tượng khác.

Chúng ta có thể tưởng tượng rằng tổ tiên chúng ta nhận thức thế giớibắt đầu từ việc nhận thức không gian và cơ thể mình, vì vậy không gian và bộphận cơ thể người có thể nói là hai tiền đề chủ yếu để chúng ta suy luận vàhình thành nên những khái niệm trừu tượng Bryab S Turner cho rằng cơ thểcon người chính là ngọn nguồn có liên quan đến sự tổ chức, hình thành haytan rã của các khái niệm ẩn dụ trong xã hội loài người “Cơ thể con người vừa

là môi trường (một bộ phận của tự nhiên), vừa là trung gian tự thân (một bộpận của văn hóa) Cơ thể con người là điểm kêt hợp của thế giới văn hóa vớithế giới tự nhiên.”

Vì vậy, tư duy của tổ tiên có đặc trung liên quan đến bộ phận cơ thểngười, thường lấy sự trải nghiệm của cơ thể làm tiêu chuẩn đo lường thế giớixung quanh Điều này cũng là do trật tự nhận thức của loài người quyết định.Con người sẽ nhận biệt những vật chất cụ thể có hình khối xung quanh mình,đương nhiên bao gồm chính cơ thể và bộ phận cơ thể mình trước Sau đó, khiquá trình nhận thức bước vào giai đoạn cao hơn con người lại lấy những hiểu

Trang 30

biết ban đầu làm cơ sở để tri nhận , thể nghiệm và miêu tả các sự vật, hiệntượng khác, đặc biệt là những sự vật, hiện tượng vô hình, trừu tượng, khóđịnh nghĩa Như vậy dẫn đến việc mượn những từ ngữ biểu thị sự vật hiệntượng cụ thể để diễn đạt những khái niệm trừu tượng, hình thành nên hiệntượng ngôn ngữ ẩn dụ liên kết các khái niệm khác nhau, tất nhiên bao gồmtrong đó cả ẩn dụ bộ phận cơ thể người.

Lấy những thứ gần gũi với bản thân làm tiêu chuẩn so sánh chính lànguyên tắc nhận thức cơ bản mà tổ tiên chúng ta nhận thức và miêu tả thếgiới Loài người trước tiên sẽ tri nhận cơ thể và bộ phậ cơ thể mình, sau đódùng nhận thức đó để miêu tả những sự vật tương tự, sâu hơn nữa là các sựvật Căn cứ vào “Thuyết dĩ nhân vi trung”, tất cả đều xuất phát từ những trảinghiệm của con người, sau đó dẫn chiếu đến sự vật thế giới bên ngoài, rồi dẫnchiếu tới không gian, thời gian, tính chất Có thể thấy rằng, cơ thể con người

và bộ phận cơ thể con người là một trong những xuất phát điểm và là cơ sở đểcon người nhận thức thế giới; sau đó con người lại lấy kết quả tri nhận đổi với

bộ phận cơ thể người làm khái niệm nguồn để phản ánh sự vật, hiện tượngkhác, hình thành nên tri nhận ẩn dụ háo bộ phận cơ thể người, đạt được mụcđích nhận thức thế giới

Phạm trù cơ thể người thuộc phạm trù cơ bản Những từ ngữ thuộcphạm trù cơ thể người là những từ ngữ cơ bản , vì vậy chúng có những đặctrưng sau đây : thứ nhất là từ đơn giản , ít âm tiết, thường không chia nhỏ hơnđược, là lớp từ trung tính và tần suất sử dụng lớn; thứ hai là những từ có têngọi sớm nhất, số lượng có hạn, hình thức cố định nhưng có sức sống mãnhliệt, có khả năng kết hợp với từ khác rất cao; thứ ba là trong quá trình triểnkhai ý nghĩa từ ý nghĩa cơ bản của từ, rất dễ xuất hiện nhiều ý nghĩa ẩn dụ vàhiện tượng chuyển nghĩa

Quá trình tri nhận thông qua ẩn dụ bộ phận cơ thể người chính là quátrình con người lấy những khái niệm được hình thành khi tri nhận cơ thể mình

Trang 31

làm khởi nguồn so sánh, miêu tả những sự vật, hiện tượng đó Ban đầu, trongngôn ngữ của loài người có rất ít từ biểu đạt ý nghĩa trừu tượng Son với sựphát triển của xã hội, các ý nghĩa trừu tượng nảy sinh ngày càng nhiều, loàingười không thể không sáng tạo ra các từ để biểu thị chúng Trong quá trìnhsáng tạo, con người thường sử dụng những từ chỉ bộ phận cơ thể, gần gũi với

mình như đầu, chân , tay, mắt Những từ này vốn dĩ là những từ chỉ bộ phận

cơ thể người, nhưng khi nó được con người dùng để miêu tả sự vật ngoài cơthể con người như núi, sông, cây cối thì sẽ xuất hiện phương thức diễn đạt ẩn

dụ Khảo sát trong tiếng Việt có: chân núi, eo biển, sườn đồi

Ẩn dụ tri nhận bộ phận cơ thể người thường có những đặc điểm như

có : tính so sánh loại suy; tính mâu thuẫn và cố định về ngữ nghĩa; tính lặp lại

về hình thức ngôn ngữ Hãy xem xét từng đặc điểm của nó

- Tính so sánh loại suy

Cái gọi là so sánh loại suy, theo định nghĩa trong từ điển triết họcphương Tây: “Vốn chỉ tỷ lệ số học giữa các sự vật khác nhau, nay mở rộng rachỉ sự tương tự giữa các sự vật khác nhau Nếu sự miêu tả một sự vật, hiệntượng được mở rộng ra dùng để miêu tả sự vật, hiện tượng khác, thường là hai

sự vật, hiện tượng này có sự tương đồng nhất định, thì ở đây đã có sự xuất

hiện tính so sánh loại suy” Chẳng hạn như đầu, lưng, mũi, mắt đầu tiên là chỉ

bộ phận cơ thể người, vì vậy chỉ có thể hình thành quan hệ tổ hợp với các kíhiệu ngôn ngữ chỉ người Trong quá trình tri nhận ẩn dụ, trên cơ sở nhữngtưởng giữa các sự vật tương tự nhau, con người kết nối các từ chỉ bộ phận cơthể người với động vật, thậm chí là những thực thể phi động vật Ví dụ nhưbàn ghế cũng có chân, giường có mặt, đường có đầu, lọ có cổ, thuyền cómũi Như vậy thông qua tri nhận ẩn dụ bộ phận cơ thể người và phươngpháp so sánh loại suy, trong ngôn ngữ đã hình thức một lớp từ vựng ẩn dụ bộphận cơ thể người Lớp từ vựng này không giống với các ví dụ ẩn dụ tu từmang tính lâm thời ở chỗ nó không phải là một cách vận dụng tu từ mà quan

Trang 32

trọng hơn là một hình thức thể hiện của phương thức tri nhận thế giới của conngười thông qua ngôn ngữ, mang tính thường tồn Hơn thế, đây là một hệthống mở, nó sẽ không ngừng phát triển, tăng thêm các thành viên mới theo

sự phát triển của hoạt động nhận thức của con người

- Tính mâu thuẫn và tính cố định của ngữ nghĩa

+ Tính mâu thuẫn của ngữ nghĩa

Căn cứ vào lí thuyết ánh xạ vượt qua phạm trù khái niệm của Lakoff vàJohnson năm 1980, khi con người mượn cấu trúc của một phạm trù khái niệm

để lí giải cấu trúc của một phạm trù khái niệm khác, đó chính là quá trình trinhận ẩn dụ Như vậy, trong mỗi một ẩn dụ đều phải đề cập đến hai sự vậtkhác nhau, nói một cách khác, trong mỗi một ẩn dụ đều phải xuất hiện haikhái niệm, mà hai khái niệm này thuộc vào khu vực tri nhận khác nhau Dùngcác biện pháp ngữ pháp để liên kết và đánh đồng hai khái niệm không cùngloại, thường sẽ dẫn đến xung đột ngữ nghĩa, đó chính là sự mâu thuẫn của ẩn

dụ Khi chúng ta liên kết khái niệm biểu thị cơ thể người và khái niệm biểu thị

sự vật khác với nhau thông qua một thủ pháp, chúng ta đã tạo nên một số từvựng ẩn dụ bộ phận cơ thể người Phân tích về mặt ngữ nghĩa, sự kết hợp này

đã vi phạm quy tắc lựa chọn ngữ nghĩa thông thường, hay đó chính là tínhmâu thuẫn về ngữ nghĩa Tính mâu thuẫn này chính là tín hiệu và đặc trưngngữ nghĩa của hiện tượng ngôn ngữ ẩn dụ, đồng thời phản ánh một đặc điểmcủa tư duy loài người, đó là khi con người nhận thức thế giới mới lạ, sẽ huyđộng kinh nghiệm đã có, sự trải nghiệm của bản thân để nhận thức một cách

tự nhiên, hay nói một cách khác, con người có khuynh hướng lí giải những cáingoài cơ thể mình thành những thứ thuộc về mình “Ẩn dụ chính là phát hiệnnhững điều tương tự trong những cái maau thuẫn bề mặt.”[9, 70]

+ Tính cố định của ngữ nghĩa

Tính cố định là chỉ sau khi từ vựng ẩn dụ bộ phận cơ thể người đượchình thành, qua sự thống nhất sử dụng của cộng đồng và được ngữ pháp hóa,

Trang 33

những từ này sẽ trở thành cố định và gia nhập vào hệ thống từ vựng thường

nhật Ví dụ trong tiếng Việt có thể thấy những tên gọi như mặt bàn, tay áo,

lòng sông, Bộ phận từ vựng này có kết cấu hình thức và nội dung của ngữ

nghĩa cố định, đây chính là biểu hiện căn bản nhất của tính cố định ngữ nghĩacủa lớp từ vựng ẩn dụ bộ phận cơ thể người Nội dung ngữ nghĩa của ẩn dụ bộphận cơ thể người thường cố định hóa thành nghĩa vị của từ đó, ví dụ: bộphận cuối cùng của sự vật được gọi là “chân” Rõ ràng là, sự nảy sinh của lớpnghĩa này là dựa vào việc xuất hiện của từ ẩn dụ như “chân núi”, “chântường”, v v Trong từ điển tiếng Việt, “gót” có một nghĩa là “phần cuốicùng của bàn chân”, từ ẩn dụ có nội dung ngữ nghĩa bao hàm như thế có “gótgiầy” Vì thế, chúng ta có thể rút ra kết luận thông qua tác dụng ẩn dụ hóa,nhiều nghĩa mới có thể xuất hiện Ẩn dụ tri nhận hóa là một cơ chế quan trọngcủa từ nhiều nghĩa Những ý nghĩa này một khi cố định thành một lớp nghĩacủa từ, thì tính ẩn dụ của nó sẽ bị ẩn đi đến nỗi chính chúng ta cũng khôngnhận biết được

- Tính lặp lại về hình thức ngôn ngữ

Một số từ ẩn dụ bộ phận cơ thể người sau khi được hình thành và sửdụng rộng rãi liền đi vào hệ thống từ vựng của ngôn ngữ và được sử dụng lặplại nhiều lần Cách dùng đó khác hẳn với các phương pháp ẩn dụ tu từ có tínhtạm thời Phương pháp ẩn dụ tu từ có tính tạm thời theo đuổi cái lạ, cái mớimang hiệu quả nghệ thuật, nếu dùng lặp đi lặp lại khó tránh khỏi sự nhàmchán Hơn nữa, ngôn ngữ có tính tu từ nhất định phải có sức sáng tạo phongphú, vì thế không thể sử dụng lặp lại Nhưng tính cố định của từ ẩn dụ bộphận cơ thể người, thuộc lớp ẩn dụ từ vựng, đã quyết định tính tất yếu củaviệc dùng lặp lại nó Tuy cách dùng lặp lại đã làm tính mâu thuẫn và tính ẩn

dụ dần dần mất đi, nhưng đặc tính ẩn dụ tri nhận hóa vẫn quyết định sức sốngmạnh mẽ của nó

Trang 34

1.2.3 Cơ sở của việc hình thành ý nghĩa ẩn dụ của từ chỉ bộ phận cơ thể người trong văn học Việt Nam

Chúng tôi cho rằng có hai cơ sở chính tạo nên ý nghĩa ẩn dụ của từ chỉ

bộ phận cơ thể, đó là cơ sở kinh nghiệm và cơ sở ánh xạ vượt qua phạm trùcủa ngữ nghĩa

a Cơ sở về kinh nghiệm

Cơ sở về kinh nghiệm bao gồm kinh nghiệm cơ thể, mô hình văn hóa

và khung tri nhận được xây dựng trên cơ sở của hai yếu tố trên

(*) Kinh nghiệm cơ thể

Ý nghĩa của từ phản ánh những đặc trưng chung, khái quát của hiệnthực khách quan do con người nhận thức được trong đời sống thực tiễn Loại

ý nghĩa phản ánh khái quát hiện thực khách quan này được hình thành trên cơ

sở khái niệm, mà khái niệm lại dựa trên sự tác động qua lại giữa người và thếgiới khách quan, trên cơ sở tri nhận và thể nghiệm thế giới của con người( tham khảo sơ đồ dưới đây) Lakoff và Johnson đã chỉ ra: “Khái niệm đượchình thành thông qua sự thể nghiệm của cơ thể, bộ não đối với thế giới vàcũng chỉ có thể được lí giải thông qua những yếu tố này Khái niệm có được

là thông qua cảm nhận và năng lực vận động của cơ bắp”

Ý nghĩa của từ bắt nguồn từ thể nghiệm về các cảm giác Cách nhìnnhận về ý nghĩa này của Lakoff và Johnson phù hợp với quan điểm của Ăngghen, Ăng ghen trong quyển “Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội từ khôngtưởng thành khoa học” (Tái bản năm 1982) đã chỉ ra rằng: “Toàn bộ tri thứccủa chúng ta hình thành trên cơ sở các phản ánh của các cơ quan tri giác”

basic

Trang 35

Mỗi ngày, con người đều phải sử dụng cơ thể (bao gồm các cơ quan trigiác) thông qua phương thức tương tác để thể nghiệm thế giới, ví dụ dùng taylàm việc, dùng chân để đi, dùng đầu để suy nghĩ, cảm giác rõ ràng được nhịpđập của con tim thay đổi khi có sự thay đổi cảm xúc Vì thế, vị trí, hình dạngcác bộ phận cơ thể cũng như cấu tạo và chức năng của chúng đều rất quenthuộc đối với con người Con người có đầy đủ những kinh nghiệm cảm nhận,bao gồm việc nhận thức vị trí , hình dạng và chức năng của bộ phận cơ thể.Những tri nhận này thông qua quá trình khái quát hóa và phạm trù hóa pháttriển thành ý nghĩa ẩn dụ của từ Ví dụ, “bụng” là bộ phận ở giữa cơ thểngười, trên cơ sở sự tương đồng về hình dáng và vị trí, người Việt dùng từ

bụng để gọi tên phần phình to ở giữa của một số đồ vật, ví dụ: bụng lò, bụng

chân, Người Việt cho rằng bụng có thể suy nghĩ nên có cách nói suy bụng

ta ra bụng người, rộng bụng, thực bụng, định bụng, bần bụng, xấu bụng, nghĩ thầm trong bụng, Chân là bộ phận có tác dụng nâng đỡ cơ thể người hoặc

động vật nên chân cũng được dùng để gọi bộ phận có chức năng tương tự của

đồ vật như : chân bàn, chân ghê, chân giường, Chân là bộ phận tiếp xúc

nhiều nhất với mặt nền nên phần tiếp giáp với mặt đất cảu một số sự vật trong

thế giới tự nhiên cũng được gọi là chân như chân trời, chân mây, chân

núi Trên cơ thể, cổ là bộ phận nối đầu với thân, dựa trên đặc trưng này, cổ

được khái quát hóa thành chỗ eo lại của phần gần đầucủa một số đồ vật, giốnghình cái cổ, thường là bộ phận nối liền thân với miệng ở một số vật dụng chứa

đựng như : cổ chai, cổ lọ Đầu được người Việt cho rằng là cơ quan để suy

nghĩ nên đầu được cho là biểu tượng của khả năng tư duy, nhận thức, trí tuệ:

đầu óc sáng suốt, đầu óc thực tế, đầu óc để ở đâu, đối đầu với kẻ địch, Đầu

có chức năng điều khiển: cơ quan đầu não, đầu đàn Đầu có vị trí phía trên, phía trước, phía trên cùng nên được dùng để chỉ vị trí trước hết đầu xuôi đuôi

lọt, bắt đầu, mở đầu, dẫn đầu, đi đầu, đỗ đầu hay phần trước nhất hoặc

phần trên cùng của một số đồ vật đầu máy bay, đầu tủ, đầu xe Cảm nhận

Trang 36

phần eo của cơ thể mình nhỏ và hẹp hơn các phần cơ thể khác, người Việt lấy

eo để chỉ vùng thắt nhỏ dần lại ở quãng giữa, dài và hẹp của các sự vật: eo

núi, eo biển, eo đất Khi vui cũng như khi buồn, lúc vui vẻ, hạnh phúc cũng

như lúc giận dữ, đau khổ, người Việt đã nhận thấy có mối liên hệ nào đó với

bộ phận gan Có phải vì thể mà “gan” được coi là biểu tượng của tâm trạng,

trạng thái tinh thần: mát gan mát ruột, héo gan héo ruột, nở gan nở ruột, cháy

gan cháy ruột, gan bào thắt ruột, ruột gan rối bời, thâm gan tím ruột, Con

người có gáy nên phàn dính lại với nhau giữa các trang giấy của quyển sách

dày cũng được gọi là gáy: gáy sách; con người có hông nên cái nhà, cái xe cũng có hông: hông nhà, hông xe, Các bộ phận có hình dạng giống cái lưỡi của của người cũng được gọi là lưỡi : lưỡi dao, lưỡi giáo, lưỡi cày Lưng là

bộ phận đằng sau của người, sau đó được coi như phần đằng sau của một số

vật: lưng ghế Má là phần hai bên mặt, từ miệng đến mang tai, nên bộ phận

phẳng, đối xứng hai bên của một số vật cũng được gọi là má vì có vị trí giống

như má người : má phanh, má súng, má giày Mỗi khi cáu giận, yêu thương,

căm ghét hay trải qua các cung bậc đỉnh điểm của cảm xúc, người Việt thấydòng máu cơ thể mình chảy xiết hơn, vì vậy họ gán cho máu những tính chất,

mức độ mạnh mẽ, cương cường: huyết tính, huyết khí hay trạng thái cảm xúc cao độ: tức điên tiết, cáu tiết, ngứa tiết, nóng tiết

(*) Mô hình văn hóa

Mô hình văn hóa được hiểu là những quy tắc văn hóa riêng mà conngười thuộc một dân tộc, xã hội nhất định trong thời gian dài thích ứng vàtuân theo, bao gồm một chỉnh thể hệ thống văn hóa được biểu hiện ra như môhình giá trị, mô thức hành vi, xu hướng tâm lý Mô hình văn hóa là mô hìnhnhận thức thế giới chung của toàn xã hội, nó có vai trò vô cùng quan trọng đốivới sự nhận thức của các thành viên trong môi trường xã hội đó và đối với sựgiao tiếp của con người Điều này liên quan đến tất cả các phương diện củavăn hóa dân tộc, bao gồm tư tưởng, chính trị, kinh tế, văn hóa

Trang 37

Con người trong một mô hình văn hóa từ khi sinh ra đã cảm nhận vàsông trong mô hình văn hóa đó, bao gồm việc quen với hoàn cảnh khí hậu,tiếp nhận phong tục tập quán , văn minh, quan điểm giá trị, quy tắc hành vi,hiểu và tham gia các hoạt động của cộng đồng xã hội Kinh nghiệm bản thântrong mô hình văn hóa trở thành khung tri nhận tồn tại trong bộ não của conngười, trở thành cơ sở cho việc cấu thành ý nghĩa từ Mô hình văn hóa baogồm trình độ văn minh và truyền thống văn hóa Trong phần này, tôi bàn đếntác dụng của kinh nghiệm bản thân trong mô hình văn hóa hay còn gọi là trình

độ văn minh và truyền thống văn hóa đối với việc hình thành ý nghĩa ẩn dụcủa từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Việt

cố định, làm cơ sở cho việc tri nhận thế giới của con người, từ đó tham giavào việc cấu tạo ngữ nghĩa mới Ví dụ người Việt thời xưa do không thể trựctiếp tính toán, đành phải dùng tay , chân để làm đơn vị tính chiều dài, kích cỡ

nên trong tiếng Việt có các cách nói như: dài một sải tay, túi ba gang tay, xa

mấy bước chân,…

Lấy cơ thể mình làm chuẩn, làm thước đo, người Việt có thể đo vạn

vật trong thế giới Hãy xem các ví dụ: dài bằng gang tay, ngập lút đầu, cao

ngang đầu, nước tới mắt cá chân, nước tới đầu gối, nước ngang bụng, xa ngút tầm mắt, đầu gối quá tai, kể hết gót đầu,… Có thể nói con người là

một tiểu vũ trụ hay vũ trụ nằm trong chính cơ thể con người trong tri nhậncủa người Việt

Trang 38

- Văn hóa truyền thống

Các yếu tố thuộc văn hóa truyền thống như tư tưởng triết học, tínngưỡng, tôn giáo là cơ sở quan trọng cho việc hình thành nghĩa ẩn dụ của các

từ chỉ bộ phận cơ thể Văn hóa truyền thống của Việt Nam do ảnh hưởng củahàng ngàn năm đô hộ của phong kiến Trung Quốc về tư tưởng triết học, tínngưỡng tôn giáo Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo đồng nguyên trong cuộc sốngcủa người Việt, đem đến những những tư tưởng, quan điểm giá trị, xu hướnghành vi giống như đã từng mang đến cho người Hán Tuy nhiên, do xuất phát

từ nền văn hóa nông nghiệp lúa nước, trong tiếng Việt xuất hiện các ẩn dụ bộ

phận cơ thể như: “ôm rơm nặng bụng” (chỉ gánh vác công việc không đâu, chuốc thêm vất vả, phiền phức), “chân lấm tay bùn” (chỉ cách làm ăn lam lũ, vất vả ngoài đồng ruộng), “cổ cày vai bừa” (chỉ những người phải cáng đáng những công việc nặng nhọc, vất vả trong nghề nông), “chân ướt chân ráo”

(chỉ tình trạng vừa mới đến một nơi nào đó, chưa kịp hiểu tình hình sự thể nơi

đó như thế nào), “nước đến chân” (chỉ tình thế cấp bách phải xử lý công việc ngay), “đầu cua tai ếch” (chỉ đầu đuôi sự việc với những tình tiết lộn xộn),

“đầu làng cuối xóm” (chỉ hàng xóm chung quanh), “cháy mặt lấm lưng” (chỉ người khổ cực, thường chỉ người nông dân), “tóc rễ tre” (chỉ tóc có sợi to, cứng), “chân cuốc” (chỉ bàn chân to như bàn cái cuốc, một vật dụng thường

dùng trong nông nghiệp)…

Trang 39

phân tích một cách hệ thống về lí luận khung Ông cho rằng khung tồn tạitrong ký ức, là vùng kiến thức thuộc kinh nghiệm, là cấu trúc của một kháiniệm Trong ngữ nghĩa học thì Fillmore từ giữa thập niên 70 của thế kỉ 20 trởlại đây liên tục nghiên cứu khung ngữ nghĩa, góp phần xây dựng nền tảng chongôn ngữ học tri nhận Năm 1975, ông đã đưa khái niệm khung vào việcnghiên cứu ngôn ngữ học, coi nó như một loại cấu trúc khái niệm hay khônggian kinh nghiệm, tương đương với vùng tri nhận Năm 1982, trong bài phátbiểu về “khung ngữ nghĩa học” ông chính thức đưa ra lí luận khung, coikhung là một loại phương thức tri nhận Khung tri nhận không chỉ lưu giữ cáckinh nghiệm mà còn tiến hành gia công, tổ chức lại những kinh nghiệm thuđược để trở thành một hệ thống có cấu trúc chỉnh thể Khung tri nhận là thaotác gia công của chủ thể tri nhận đối với khách thể.

Có thể thấy rằng, khung tri nhận là một hệ thống kiến thức, là tổ hợp và

đồ thị biểu trưng cho kinh nghiệm của chúng ta Có thể nói khung là “hệthống tri thức của nhiều vùng tri nhận liên quan đến hình thức ngôn ngữ”

b Cơ sở ánh xạ vượt qua phạm trù của ngữ nghĩa.

Phạm trù là chỉ sự phân loại sự vật trong nhận thức, kết quả của việcphạm trù hóa là tất cả sự vật trong thế giới được phân loại Phạm trù ngữnghĩa là khái quát ý nghĩa ngôn ngữ thành các loại khác nhau Qua khảo sát,tôi phát hiện rằng ý nghĩa ẩn dụ của từ chỉ bộ phận cơ thể phần lớn là vượtqua phạm trù “thân thể của người”, thâm nhập vào phạm trù khác, ví dụ trongtiếng Việt, nghĩa ẩn dụ “chỉ tình cảm, tâm tư, suy nghĩ” của từ “bụng” trong

thực bụng, rộng bụng, suy bụng ta ra bụng người, nghĩ thầm trong bụng….

thuộc về phạm trù “tư tưởng tình cảm”, nghĩa ẩn dụ “chỉ bộ phận dưới cùng

của một vật” của từ “chân” trong chân bàn, chân ghế, chân tường… thuộc

phạm trù “phi sinh vật” v v…

Cơ chế ánh xạ giữa hai phạm trù hình thành nên ý nghĩa ẩn dụ của từchỉ bộ phận cơ thể người là: dựa trên cơ sở tính tương đồng giữa bộ phận, cơ

Trang 40

quan của cơ thể người với các sự vật khác, thông qua nhận thức, chủ thể trinhận tập trung vào những điểm giống nhau ấy, sau đó khái quát hóa, nhấnmạnh điểm tương đồng hay giống nhau đó Kết quả của quá trình này là sựchuyển di của từ chỉ bộ phận cơ thể từ trường nghĩa gốc của chúng sang cáctrường nghĩa khác Từ đó chúng ta có các nghĩa mới của các từ chỉ bộ phận cơthể người.

Tính tương đồng chỉ những thuộc tính giống nhau giữa hai hay nhiều

sự vật Sự vật có liên hệ phổ biến với nhau, những liên hệ này do nhiều loạithuộc tính của chúng quyết định Tính tương đồng là một loại phương thứcliên hệ giữa các thuộc tính của sự vật, do đó, nó cũng tồn tại phổ biến Loàingười trong quá trình khám phá, tìm hiểu, trải nghiệm thế giới khách quan, đãhình thành nên loại nhận thức phổ biến này Đây là tiền đề khách quan choviệc tiến hành tư duy loại suy

Tính tương đồng giữa các sự vật rất đa dạng, có thể khái quát hóa thànhhai loại, một loại là tính tương đồng về vật lí, loại kia là tính tương đồng về mặttâm lí Tính tương đồng về vật lí chỉ tính tương đồng cụ thể tồn tại giữa cácthực thể vật lí có thể cảm nhận được; tính tương đồng về mặt tâm lí chủ cácyếu tố văn hóa, truyền thống hay các yếu tố tâm lí khác khiến người nói vàngười nghe nhận thấy điểm tương đồng về phương diện nào đó giữa các sự vật

Giữa sự vật và sự vật tồn tại vô số điểm tương đồng tiềm ẩn, một khiđược khả năng chú ý tri nhận của con người phát hiện thì chúng sẽ được thểhiện dưới nhiều hình thức trong ngôn ngữ Dường như trong ngôn ngữ, liêntục xuất hiện những từ mới nhờ vào tính tương đồng tiềm ẩn tồn tại giữa các

sự vật được phát hiện Ví dụ như trong tiếng Việt, tính năng cầm nắm của

“tay”, sau khi xuất hiện các vật dụng “điện thoại cầm tay”, “máy tính xáchtay”, làm cho chúng ta chú ý tới đặc tính có thể cầm nắm thuận tiện bằng tay,

vì thế mà đặc tính của “tay” và tính “nhỏ gọn, dễ cầm theo” đã có những mốiliên hệ tương quan, đó là mối quan hệ gần gũi về công năng của chúng

Ngày đăng: 12/04/2016, 14:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Allan &Barbana Pease (2010), Cuốn sách hoàn hảo về ngôn ngữ cơ thể, NXB tổng hợp TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Allan &Barbana Pease (2010), "Cuốn sách hoàn hảo về ngôn ngữ cơthể
Tác giả: Allan &Barbana Pease
Nhà XB: NXB tổng hợp TP Hồ Chí Minh
Năm: 2010
2. Song An – Hoàng Ngọc Phách, (1988) Tố Tâm, NXB Đại học và giáo dục chuyên nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Song An – Hoàng Ngọc Phách, (1988) "Tố Tâm
Nhà XB: NXB Đại học vàgiáo dục chuyên nghiệp Hà Nội
3. Hồ Biểu Chánh tuyển tập truyện, web: http//Hobieuchanh.com.vn 4. Đỗ Hữu Châu (1987), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Biểu Chánh tuyển tập truyện, web: http//Hobieuchanh.com.vn"4." Đỗ Hữu Châu (1987), "Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Hồ Biểu Chánh tuyển tập truyện, web: http//Hobieuchanh.com.vn 4. Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học vàTrung học chuyên nghiệp
Năm: 1987
5. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Hữu Châu (1999), "Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
6. Đỗ Hữu Châu (2005), Tuyển tập, Tập một từ vựng - ngữ nghĩa, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Hữu Châu (2005), "Tuyển tập, Tập một từ vựng - ngữ nghĩa
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 2005
7. Nguyễn Văn Chiến (2006), Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt (nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Chiến (2006)," Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóaViệt (nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa)
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2006
8. Trần Văn Cơ (2006), Ngôn ngữ học tri nhận (ghi chép và suy ngẫm), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Văn Cơ (2006), "Ngôn ngữ học tri nhận (ghi chép và suy ngẫm)
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2006
9. Trần Văn Cơ (2009), Khảo luận về ẩn dụ tri nhận , Nxb Lao động xã hội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Văn Cơ (2009), "Khảo luận về ẩn dụ tri nhận
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: Nxb Lao độngxã hội
Năm: 2009
10. Trần Văn Cơ (2010), “Việt ngữ học tri nhận (Phác thảo một hướng nghiên cứu tiếng Việt)”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Văn Cơ (2010), “Việt ngữ học tri nhận (Phác thảo một hướngnghiên cứu tiếng Việt)”", Tạp chí Ngôn ngữ
Tác giả: Trần Văn Cơ
Năm: 2010
11. Mai Ngọc Chừ (chủ biên), Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán (2007), Nhập môn ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mai Ngọc Chừ (chủ biên), Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng,Bùi Minh Toán (2007), "Nhập môn ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ (chủ biên), Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
12. Bùi Thị Dung (2008), Ẩn dụ tri nhận trong ca dao, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Thị Dung (2008), "Ẩn dụ tri nhận trong ca dao
Tác giả: Bùi Thị Dung
Năm: 2008
13. John Lyons (1996), Nhập môn ngôn ngữ học lý thuyết, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: John Lyons (1996), "Nhập môn ngôn ngữ học lý thuyết
Tác giả: John Lyons
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
14. Nguyễn Thiện Giáp (2006), Dụng học Việt ngữ, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thiện Giáp (2006), "Dụng học Việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học quốc giaHà Nội
Năm: 2006
15. Nguyễn Thị Hà (2011), Đặc điểm tri nhận của người Việt qua trường từ vựng hương thơm, Luận văn thạc sĩ ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Hà (2011), "Đặc điểm tri nhận của người Việt quatrường từ vựng hương thơm
Tác giả: Nguyễn Thị Hà
Năm: 2011
16. Hà Thanh Hải (2010), “Nền kinh tế là một cơ thể sống”: ẩn dụ ý niệm trong báo chí kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Thanh Hải (2010), “Nền kinh tế là một cơ thể sống”: ẩn dụ ýniệm trong báo chí kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt”, "Tạp chí Ngôn ngữ
Tác giả: Hà Thanh Hải
Năm: 2010
17. Nguyễn Thị Ngân Hoa, Sự phát triển ý nghĩa của hệ biểu tượng trang phục trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam (2005), luận án tiến sĩ, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Ngân Hoa, "Sự phát triển ý nghĩa của hệ biểu tượng trangphục trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Ngân Hoa, Sự phát triển ý nghĩa của hệ biểu tượng trang phục trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam
Năm: 2005
19. Nguyễn Thị Thu Huệ, Tuyển tập 37 truyện ngắn, NXB văn học 20. Đỗ Việt Hùng, Nguyễn Thị Ngân Hoa (2003), Phân tích phong cách ngôn ngữ trong tác phẩm văn học (Ngôn từ - Tác giả - Hình tượng), Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Thu Huệ, Tuyển tập 37 truyện ngắn, NXB văn học"20."Đỗ Việt Hùng, Nguyễn Thị Ngân Hoa (2003), "Phân tích phongcách ngôn ngữ trong tác phẩm văn học (Ngôn từ - Tác giả - Hình tượng)
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Huệ, Tuyển tập 37 truyện ngắn, NXB văn học 20. Đỗ Việt Hùng, Nguyễn Thị Ngân Hoa
Nhà XB: NXB văn học"20."Đỗ Việt Hùng
Năm: 2003
21. Phan Thế Hưng (2009), Ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh), Luận án tiến sĩ ngữ văn, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Thế Hưng (2009), "Ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận(trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh)
Tác giả: Phan Thế Hưng
Năm: 2009
25. Hoàng Phê (chủ biên) (2006), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học, Hà Nội - Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Phê (chủ biên) (2006), "Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng -Trung tâm Từ điển học
Năm: 2006
27. Lý Toàn Thắng (2009), Ngôn ngữ học tri nhận: Từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn Tiếng Việt, Nxb Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý Toàn Thắng (2009), "Ngôn ngữ học tri nhận: Từ lí thuyết đạicương đến thực tiễn Tiếng Việt
Tác giả: Lý Toàn Thắng
Nhà XB: Nxb Phương Đông
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w