Với tình trạng dân số già ngày một gia tăng như hiện nay sẽ kéo theo hàng loạt những hệ lụy về kinh tế và xã hội gây ra những tổn thất cho các quốc gia do: sự suy giảm về kinh tế vì thiếu nguồn nhân lực, cùng với đó là vấn đề tăng cường trợ cấp các khoản phúc lợi xã hội,…Trong đó, Nhật Bản, Đức là những nước có dân số già trong thời điểm hiện tại và hiện nay đã và đang phải đối mặt với những thử thách và khó khăn mới khi tỷ lệ người già tăng nhanh. Qua đó, nhóm tác giả cũng tìm hiểu về tình hình cơ cấu dân số tại Việt Nam qua những dự báo và thống kê từ công trình nghiên cứu trước đó để hiểu rõ hơn về những thách thức kinh tế xã hội từ sự khác biệt về cơ cấu dân số Việt Nam.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐHQG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.
KHOA XÃ HỘI HỌC
XÃ HỘI HỌC PHÁT TRIỂN
Đề tài: Những thách thức từ Kinh tế -Xã hội bắt nguồn từ
sự khác biệt về cấu trúc tuổi của dân số
1
N M H C: 2015-2016 ĂM HỌC: 2015-2016 ỌC: 2015-2016
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 2
1 Đặt vấn đề 2
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu chung 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
PHẦN II NỘI DUNG 3
1 Các khái niệm liên quan 3
1.1 Cấu trúc tuổi của dân số 3
1.2 Già hóa dân số 3
1.3 Dân số vàng 4
1.4 Tỷ suất phụ thuộc 4
2 Thực trạng cấu trúc tuổi của dân số Việt Nam 4
3 Các yếu tố tác động của sự khác biệt về cấu trúc tuổi dân số Việt Nam 13
3.1 Tác động đến thị trường lao động 13
3.2 Áp lực cho phúc lợi xã hội và an sinh xã hội 13
3.3 Ảnh hưởng đến quy mô gia đình 14
3.4 Tình trạng quá tải đáp ứng nhu cầu xã hội 15
PHẦN 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP 18
PHẦN IV CÂU HỎI THẢO LUẬN 19
PHẦN V TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
2
Trang 3Đề tài: Những thách thức từ Kinh tế -Xã hội bắt nguồn từ sự khác biệt về cấu trúc tuổi của dân số
PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Một báo cáo mới của Phòng kinh tế và xã hội (DESA) thuộc Ban thư ký LHQ cho thấy dân số thế giới vẫn tiếp tục chuyển từ giai đoạn tỉ lệ sinh và tỉ lệ tử
cao sang giai đoạn tỉ lệ sinh và tử thấp.
Một trong những đặc điểm nổi bật của quá trình này là tỉ lệ người già ngàycàng tăng Hiện nay cứ 10 người thì có một người trên 60 tuổi và theo dự đoán củaDESA đến năm 2050 tỉ lệ này sẽ là 5/1 và đến năm 2150, tỉ lệ này thậm chí sẽ là3/1
Ngoài ra, chính người già hiện cũng đang già hơn Những người già hơn 80tuổi hiện đang chiếm 11% trong số những người già nhưng tới năm 2050 sẽ tănglên 19% Số người trên 100 tuổi vào khoảng 145.000 người năm 1999 và đến năm
2050 dự kiến sẽ lên khoảng 2,2 triệu người Hiện tại, ở một số quốc gia phát triển,
tỉ lệ người già trong dân số đã xấp xỉ tỉ lệ 5/1 và dự kiến tỉ lệ này đến giữa thế kỷ
Qua đó, nhóm tác giả cũng tìm hiểu về tình hình cơ cấu dân số tại Việt Namqua những dự báo và thống kê từ công trình nghiên cứu trước đó để hiểu rõ hơn vềnhững thách thức kinh tế - xã hội từ sự khác biệt về cơ cấu dân số Việt Nam
3
Trang 42 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
- Tìm hiểu những thách thức kinh tế - xã hội bắt nguồn từ sự khác biệt về cấu trúctuổi của dân số Việt Nam
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Thực trạng cấu trúc tuổi của dân số Việt Nam
- Các tác động kinh tế - xã hội từ sự khác biệt về cấu trúc tuổi của dân số ViệtNam
PHẦN II NỘI DUNG
1 Các khái niệm liên quan
1.1 Cấu trúc tuổi của dân số
Theo PGS.TS Nguyễn Đình Cử thì cơ cấu dân số hay cấu trúc dân số theotuổi là sự phân chia tổng số dân theo từng độ tuổi hay nhóm tuổi.1
1.2 Già hóa dân số
Khái niệm già hóa dân số chỉ quá trình già của dân số, khi trong cơ cấu dân số
số người cao tuổi chiếm tỷ lệ ngày càng tăng lên Tuy nhiên, tỷ lệ người cao tuổi trong tổng dân số đến “ngưỡng” nào thì dân số được coi là già hóa, hiện vẫn có sựkhác biệt Theo một số tác giả, khi trong tổng dân số, số người từ 65 tuổi trở lênchiếm từ 7% đến 9,9% thì dân số đó được coi là bước vào quá trình “già hóa”(theo Cowgill và Holmes, 1970) Một số tác giả và tổ chức quốc tế lại cho rằng khi
tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm 10% trong tổng dân số thì dân số đó được coi
là “già hóa” (Dương Quốc Trọng, 2011) Còn khái niệm dân số già là khi trong
1 PGS.TS Nguyễn Đình Cử, Cơ cấu dân số Việt Nam có gì mới, trích nguồn từ trang website:
http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/12/30/2161/
4
Trang 5quy mô dân số, tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 10%-19,9% (Cowgill) hoặc14% (Dương Quốc Trọng)2
1.3 Dân số vàng
Là thời kì mà cơ cấu dân số thể hiện số người trong độ tuổi lao động chiếm tỷtrọng cao hơn số người phụ thuộc hay nói cách khác là tổng tỷ suất phụ thuộc nhỏhơn 50.3
1.4 Tỷ suất phụ thuộc
Tổng tỷ suất phụ thuộc là đại lượng được xác định bởi số người trong độ tuổi (0-14) cộng với số người trong độ tuổi (65+) chia cho số người trong độ tuổi (15 – 64) 4
2 Thực trạng cấu trúc tuổi của dân số Việt Nam
Từ cuộc tổng điều tra dân số đầu tiên sau khi nước nhà thống nhất ( 1975 – nay),
“bức tranh dân số” nước ta đã thay đổi nhanh chóng Quy mô dân số đã tăng từ52,742 triệu dân (1979), lên 85,155 triệu dân (2007); 2008 ước tính 86,16 triệu người
cơ cấu dân số cũng thay đổi mạnh đặc biệt là cơ cấu dân số theo nhóm tuổi; tỉ lệnhững người trong độ tuổi lao động tăng từ 51% lên 65% Tương ứng, tỷ lệ nhữngngười ngoài độ tuổi lao động giảm từ 49% xuống còn 35%
Bảng 1: Cơ cấu dân số theo tuổi của Việt Nam (1979-2007)
3 Lâm Thị Diệu Quyên, Dân số vàng và bài toán phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam, Tuyển tập Báo cáo
Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 8 Đại học Đà Nẵng năm 2012
4Lâm Thị Diệu Quyên, Dân số vàng và bài toán phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam, Tuyển tập Báo cáo
Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 8 Đại học Đà Nẵng năm 2012
5
Trang 6- TĐTDS 1979, 1989, 1999
- Điều tra biến động DS-KHHGĐ năm 2007
Số liệu bảng 1 cho thấy cơ cấu dân số theo tuổi của Việt Nam thay đổinhanh chóng: tỷ lệ dân số của các nhóm tuổi đều tăng lên hoặc giảm đi một cách
rõ rệt đặc biệt, tỷ lệ trẻ em ở nhóm (0 – 4) tuổi, năm 2007 so với năm 1979 chỉcòn khoảng 1/2 Ngược lại, trong 20 năm, tỷ lệ nhóm tuổi từ 5 trở lên tăng tới hơn
2 lần: từ 0,16% năm 1979 tăng lên 0,38% năm 1999 Điều này báo hiệu tuổi thọtăng lên và xu hướng già hóa dân số đang diễn ra
Sự phát triển của đất nước phụ thuộc chặt chẽ vào nguồn lao động, cả số lượnglẫn chất lượng Vì vậy, khi phân tích cơ cấu dân số theo tuổi ta chủ yếu xét các nhómdân số “trong độ tuổi lao động” và “ngoài độ tuổi lao động” như: (0 – 14), (15 – 59)
Trang 76,967,008,119,45
100100100100
Nhìn vào bảng 2, ta thấy rõ các nhóm dân số trên đều biến đổi nhanh chóng.Sau gần 30 năm, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động của Việt Nam đã tăng từ khoảng50% - 65%, nghĩa là tăng thêm 15% Nói khác đi, so với năm 1979, số người trong độtuổi lao động trong 100 người dân, năm 2007 đã tăng thêm 15 người
Ở góc độ kinh tế, khi xem xét mối tương quan tiêu dùng và tích lũy, người tathường so sánh bộ phận dân số “trong độ tuổi lao động” và bộ phận dân số “ngoài độtuổi lao động” tại thời điểm điều tra Tương quan giữa hai bộ phận này được thể hiệnqua “tỷ số phụ thuộc” hay còn gọi là “gánh nặng phụ thuộc”, là số người “ngoài độtuổi lao động” tương ứng với 100 người “trong độ tuổi lao động”
Bảng 3: Phụ thuộc trẻ và phụ thuộc già
Năm Tỷ số phụ thuộc trẻ Tỷ số phụ thuộc già Tổng tỷ số phụ thuộc
13,813,013,914,5
98857153,7
Nguồn: Tác giả tự tính toán từ số liệu Bảng 2
7
Trang 8Từ năm 1979 đến 2007 tỷ số phụ thuộc không ngừng giảm xuống nhưng nếuphân tích tỷ số này thành tổng của “tỷ số phụ thuộc trẻ” và “tỷ số phụ thuộc già” thì sẽthấy hai chiều hướng biến đổi ngược hẳn nhau: “tỷ số phụ thuộc trẻ” không ngừnggiảm xuống, “tỷ số phụ thuộc già” không ngừng tăng lên.
Sau 28 năm, “tỷ số phụ thuộc trẻ” đã giảm mạnh từ 84,2% xuống còn 39,2%năm 2007 và trở thành nhân tố quyết định “tỷ số phụ thuộc” nói chung Trong khi đó,
“tỷ số phụ thuộc già” tăng lên đôi chút, từ 13,8% lên 14,5% Điều đó cho thấy tốc độgià hóa dân số nhanh hơn tốc độ tăng “dân số trong độ tuổi lao động” “phụ thuộc trẻ”giảm, “phụ thuộc già” tăng sẽ tạo ra những vận hội và thách thức khác khau
Qua các “Tỷ lệ người trong độ tuổi lao động” và “Tỷ số phụ thuộc”, cho thấy,Việt Nam không chỉ đổi mới nhanh chóng về kinh tế xã hội mà còn đổi mới nhanhchóng về cơ cấu dân số Sự thay đổi này vừa là một thuận lợi vừa gây ra áp lực giảiquyết việc làm đối với nước ta trong nhiều thập kỷ tới
Cấu trúc dân số là một trong những nhân tố được đánh giá là nguồn lực quan trọngcủa việc phát triển kinh tế xã hội của một đất nước Những vấn đề biến động về cấutrúc dân số bao gồm các nội hàm của nó có những ý nghĩa quan trọng làm cơ sở choviệc tính toán cân đối sự phát triển về kinh tế xã hội sao cho phù hợp Trong nhữngvấn đề thuộc về biến động của cấu trúc dân số, chúng ta cần đặc biệt lưu ý về cơ cấutuổi trong dân số Bởi lẽ đây là vấn đề mang tính chất quyết định trực tiếp đến nguồnlao động, lực lượng lao động - một nguồn lực cơ bản của việc tăng trưởng kinh tế vàphát triển xã hội
Đặt trong mối quan hệ giữa cơ cấu tuổi và việc phát triển kinh tế xã hội của mộtquốc gia, mà cụ thể ở đây là Việt Nan, chúng ta dễ dàng nhận ra đó là mối quan hệtương hỗ tác động qua lại lẫn nhau luôn bao gồm 2 mặt hỗ trợ phát triển và tạo ra thửthách Nói cách khác, không một tình trạng dân số nào nói chung và cấu trúc tuổi nóiriêng là hoàn hảo cho sự phát triển của xã hội Chúng luôn đan xen giữa những yếu tố
8
Trang 9tích cực và hạn chế Vấn đề là cần phải tận dụng tính tích cực của nguồn lực và tìm ragiải pháp cho những thách thức.
Việt Nam hiện nay đang được đánh giá là một trong những quốc gia tồn tại một cơcấu tuổi dân số có nhiều yếu tố thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội hay còn gọi
là Dân số vàng Đây là một thuận lợi mà Nhà nước cần tận dụng để phát huy tối đa cơhội của nguồn lực này Tuy nhiên ngay cả trong tình hình thuận lợi nêu trên, chúng tavẫn đang phải đối mặt với rất nhiều thử thách xuất phát từ thực trạng cơ cấu tuổi hiệnnay
Từ số liệu của bảng 1 và bảng 2 ở trên ta nhận thấy sau gần 30 năm, tỷ lệ ngườitrong độ tuổi lao động của Việt Nam đã tăng từ khoảng 50% lên 65%, nghĩa là tăngthêm 15% Nói khác đi, so với năm 1979, số người ở độ tuổi lao động trong 100người dân, năm 2007 đã tăng thêm 15 người Năm 2005, ở các nước phát triển, tỷ lệngười trong độ tuổi lao động là 63%, các nước đang phát triển khoảng 61,1% còn cácnước kém phát triển nhất chỉ có 52,6% Như vậy, có thể nói số người trong độ tuổi laođộng tại Việt Nam hiện nay đang ở mức độ rất lý tưởng cho việc phát triển kinh tế xãhội Tuy nhiên, một trong những thách thức mà Việt Nam gặp phải chính là trình độlao động chưa đáp ứng nhu cầu thị trường
Bảng 4 Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã quađào tạo phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật 5
Trình độ chuyên môn 2010 2011 2012 2013 Sơ bộ Prel.
2014Chưa đào tạo chuyên môn kỹ thuật 85,4 84,5 83,4 82,1 81,8
5 Niên giám thống kê 2014, Dân số và Lao động, trang 127
9
Trang 10Trung cấp chuyên nghiệp 3,4 3,7 3,6 3,7 3,7
(Nguồn: Niên giám thống kê 2014, Dân số và lao động)
Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo khá cao, chiếm 82,1% năm 2013 Thờigian dân số vàng gần kết thúc, lực lượng lao động chủ yếu lại chưa được đào tạo.Kinh tế đất nước sẽ như thế nào khi lực lượng lao động chính đa phần chưa đượcđào tạo? Số liệu trên có thể chúng ta nhận thấy tình trạng thiếu trình độ cao tronglực lượng lao động hiện nay đang ở mức đáng báo động Điều này có nghĩa là ViệtNam đang có một lực lượng lai động rất hùng hậu về số lượng Tuy nhiên cần xemlại về chất lượng nguồn lao động
Theo ông Nguyễn Đại Đồng- vụ trưởng vụ chính sách lao động và việc làm(Bộ LĐ-TB-XH) cho biết: "Lực lượng lao động trẻ (tuổi 15-34) của VN chiếm64,78% dân số Trong đó, hầu hết chỉ học tới bậc phổ thông cơ sở và phổ thôngtrung học Số được đào tạo bậc ĐH và dạy nghề còn rất ít Điều này gây ra nhiềukhó khăn trong quá trình tìm việc của thanh niên"6
Thanh niên đi tìm việc lần đầu thường ở độ tuổi 20, nữ mất nhiều thời giantìm việc hơn nam Những cản trở chính trong quá trình xin việc là thiếu kinhnghiệm, không có cơ hội đào tạo, trình độ chưa đạt, không đủ việc Về phía nhàtuyển dụng, đa số muốn tuyển lao động nam trong nhóm 18-24 tuổi, đã qua đàotạo ĐH, trung học hoặc học nghề Tuy nhiên, họ gặp phải những bất lợi do ngườiđược tuyển dụng thiếu kinh nghiệm, chưa có ý thức làm việc, ý thức kỷ luật kém
6 Như Trang, Trình độ lao động trẻ Việt Nam còn thấp, trích nguồn trang website:
http://vietbao.vn/Xahoi/Trinh-do-lao-dong-tre-cua-VN-con-thap/10792100/157/
10
Trang 11Qua thống kê, năm 2008 là năm nhu cầu việc làm tăng mạnh mẽ (tăng 67%
so với năm 2007), nhưng vẫn bị bỏ lại phía sau, tạo thành một khoảng cách khálớn giữa nhu cầu nhân tài và nguồn nhân lực có sẵn trên thị trường Sân khấu còn
bị chiếm lĩnh bởi những ngành nghề "nóng" như: Bán hàng, tiếp thị, tài chính-kếtoán, kỹ thuật ứng dụng, hành chính-thư ký, công nghệ thông tin-phần mềm, ngânhàng- đầu tư, sản xuất và quản lý điều hành Mặc dù thứ tự xếp hạng thay đổi hàngquý nhưng những ngành này luôn nằm trong danh sách những ngành thống lĩnh thịtrường lao động trong năm qua
Trong quý 2/2008, nhu cầu tuyển dụng ứng viên có kinh nghiệm khôngthuộc cấp quản lý chiếm 66,7%, giảm 0,8% so với quý trước, nhưng vẫn chiếm ưuthế Cơ hội nghề nghiệp đối với người tìm việc ở cấp độ trưởng nhóm/giám sátchiếm 9,3%, tăng 0,6% so với quý 1/2008
Điều này nói lên rằng thị trường lao động Việt Nam vẫn trong “cơn khát”lao động trung và cao cấp Nhu cầu tuyển dụng nhân viên mới ra trường/thực tậpchiếm 3,4%, tăng nhẹ 0,8% so với quý trước; theo sau là cấp quản lý với 17,4%;giám đốc 3,1%; trưởng đại diện (CEO)/chủ tịch/phó chủ tịch với 0,1%
Thực trạng này cho thấy sự mất cân bằng trong mối quan hệ cung cầu củathị trường lao động giữa một bên thừa lao động phổ thông và sự thiếu hụt về nhucầu lao động trình độ cao, có chuyên môn kỹ thuật Điều này đã gây ra nhiều khókhăn trong việc giải quyết các vấn đề việc làm của Nhà nước và ổn định thị trườnglao động trong nước Bên cạnh đó, lực lượng lao động đông nhưng trình độ thấpcòn gây ảnh hưởng đến năng suất lao động của doanh nghiệp nói riêng và toàn xãhội nói chung
Quy mô dân số nước ta hiện là 86 triệu người Mỗi năm số phụ nữ bướcvào độ tuổi sinh đẻ cao gấp 3 lần số phụ nữ hết tuổi sinh đẻ, cho dù số chị em này
11
Trang 12chỉ có từ 1-2 con thì việc tăng dân số ở nước ta trong thời gian tới là khó tránhkhỏi Mỗi năm, có trên 1 triệu phụ nữ mang thai và sinh con, trong đó khoảng 1/5
là các trường hợp sinh con thứ 3 trở lên Riêng trong quý I/2008, số trẻ sinh tăng7,2%, trong đó số sinh là con thứ 3 trở lên tăng 17,3% so với cùng kỳ năm 2007
Để đạt được mục tiêu ổn định dân số ở mức 115 – 120 triệu người vào giữa thế kỷ
21 đang là một thách thức lớn đối với nước ta trong những năm tới Trong khi đó,Pháp lệnh Dân số có hiệu lực được 6 năm, nhưng một bộ phận người dân, thậmchí cả cán bộ, Đảng viên vẫn sinh con thứ ba, điều này làm cho công tác thông tin,giáo dục, tuyên truyền về chính sách dân số gặp không ít khó khăn Hiện nước ta
đã có 45/64 tỉnh, thành phố có số người sinh con thứ 3 trở lên tăng cao, trong đódẫn đầu là tỉnh Cà Mau với tốc độ tăng 100%, Trà Vinh 97%, Bạc Liêu 87% Mặt khác, số người trong độ tuổi lao động cao đồng nghĩa với việc số người trong
độ tuổi sinh đẻ cũng chiếm tỷ lệ cao trong dân số Điều này tiếp tục phản ánhnhững nguy cơ tiềm ẩn về việc bùng nổ dân số trong tương lai nếu không có biệnpháp kiểm soát hợp lý
Hiện mật độ dân số Việt Nam đã cao gấp 5 lần so với mật độ trung bình thếgiới và gấp 1,5 lần nếu so với Trung Quốc Dân số tăng nhanh trong khi cơ sở hạtầng xã hội không đáp ứng kịp đã dẫn tới chất lượng cuộc sống toàn dân khôngđược cải thiện Tình trạng mỗi gia đình đông con dẫn đến việc con người bị hạnchế về cơ hội tiếp cận những điều kiện cần thiết của cuộc sống và hạn chế cả về cơhội phát triển của mỗi cá nhân
Về mặt vĩ mô, sự gia tăng dân số không phù hợp với điều kiện cơ sở hạtầng của đất nước sẽ tạo ra những áp lực to lớn trên nhiều lĩnh vực khác nhau:
- Ở phương Tây, có tác giả cho rằng: nếu dân số tăng lên 1% thì thu nhậpquốc dân phải tăng khoảng 4% Điều đó là vô cùng khó khăn ngay cả với mộtquốc gia phát triển chứ đừng nói là một quốc gia đang phát triển Trong phạm vimột quốc gia, việc bùng nổ dân số sẽ khiến cho mức sống của người dân trong
12