2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2.1. Tài liệu nước ngoài Thông qua nguồn tài liệu dịch, chúng tôi đã tiếp cận được một số công trình sau: Trên thế giới, văn hóa đọc sách xuất hiện từ rất sớm. Ngay từ thời cổ trung đại, con người đã biết sử dụng sách như một phương tiện học tập, nghiên cứu, trau dồi kiến thức, rèn luyện tư tưởng. Sách giáo khoa ra đời trên cơ sở sự phát triển của hệ thống trường học và sự đa dạng của các hình thức, phương pháp dạy học. Sự có mặt của sách giáo khoa vào cuối thời kỳ cận đại đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng đối với sự tiến bộ giáo dục của nhân loại. Từ những năm 20 của thế kỉ XX, “sách giáo khoa” đã bắt đầu thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Đặc biệt ở Liên Xô, vào thời gian này, các nhà khoa học giáo dục đã cố gắng điều chỉnh, chọn lọc để biên soạn những “sách để làm việc” (sách giáo khoa) cho từng huyện, tỉnh và trong nước để đáp ứng sự phát triển của đất nước. Nhưng phải đến những năm 50 của thế kỉ XX, “sách giáo khoa” mới thực sự trở thành đề tài nhận được sự quan tâm lớn từ giới nghiên cứu giáo dục. Đi đầu trong công cuộc này là các nhà giáo dục học và lý luận dạy học Xô Viết như: E. Ia. Gôlan, I. A. Cairôp, B. P. Êxipôp, L. P. Arictôva, N. G. Đairi, I. F. Kharlamôp,… Năm 1957, Giáo sư E. Ia. Gôlan đã xuất bản cuốn sách “Những phương pháp dạy học trong nhà trường Xô Viết” tại Mátxcơva. Trong cuốn sách này, tác giả đã khẳng định vai trò quan trọng của việc sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học trong nhà trường Xô viết. Ngoài ra, tác giả còn nhấn mạnh tới ảnh hưởng của việc sử dụng sách giáo khoa đối với việc chuẩn bị các bài tập ở nhà của học sinh. Vấn đề mà E. Ia. Gôlan nghiên cứu tiếp tục được giải thích rõ hơn phần nào trong một số cuốn giáo trình “Giáo dục học” thời đó. Trong cuốn “Giáo dục học” do I. A. Cairôp chủ biên (xuất bản tại Matxcơva, 1956) đã đề cập đến một số hình thức dạy học, trong đó có việc sử dụng sách giáo khoa trong giờ lên lớp. Tuy nhiên, tác giả cho rằng sách giáo khoa giống như một phương tiện hỗ trợ bài giảng của giáo viên đối với những phần khó tiếp thu và chưa coi đó là một tài liệu cơ bản trong dạy học. Trong bài viết “Hãy mở sách giáo khoa ra” đăng trên “Báo giáo viên”, tác giả B. P. Êxipôp và L. P. Arictôva đã chỉ ra những hạn chế trong việc sử dụng sách giáo khoa trước đó: “gập sách giáo khoa lại trong mỗi giờ học”. Các tác giả cho rằng: chỉ có thể phát triển “công tác tự lực của học sinh”, phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh, khi các em phải mở sách giáo khoa ra và áp dụng các hình thức làm việc khác nhau với sách. Quan điểm này đã đánh dấu một bước ngoặt trong việc sử dụng rộng rãi sách giáo khoa và hoàn thiện phương pháp làm việc với sách giáo khoa trong quá trình học tập ở lớp tại Liên Xô trước đây. Trong cuốn sách “Phát triển tư duy học sinh” của tập thể các tác giả M. Alêchxêep – V. Onhisuc – M. Crugliac – V. Zabotin – X. Vacxcle (NXB Giáo dục, 1976), tác giả M.Crugliac đã chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa tri thức và tư duy. Ông cho rằng kiến thức cơ bản có trong sách giáo khoa chính là nền tảng cho việc phát triển tư duy tích cực của học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên để phân tích và khái quát tài liệu có nội dung sự kiện cụ thể và rút ra được những kết luận cần thiết đối với một bài học. I. F. Kharlamôp trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào” tập II (NXB Giáo dục, 1979) đã cho rằng việc sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu học tập giữ “một vị trí đáng kể” trong việc nắm vững kiến thức nói chung và trong việc phát huy tính tích cực hoạt động trí tuệ của học sinh nói riêng. Thông qua việc tóm lược quan điểm của các nhà nghiên cứu về sách giáo khoa, tác giả đã chỉ ra bản chất của việc sử dụng sách giáo khoa và đề xuất những yêu cầu cơ bản cần đảm bảo khi tổ chức làm việc với sách giáo khoa trong quá trình lên lớp. Tại Trung Quốc, các nhà giáo dục học luôn quan tâm tới việc biên soạn và xuất bản những cuốn sách giáo khoa có giá trị tri thức, thẩm mĩ và tư tưởng. Trong cuốn sách “Triết học giáo dục hiện đại” của Lương Vị Hùng, Khổng Khang Hoa (NXB Chính trị, 2008), các tác giả đã nhấn mạnh tới đặc điểm của giáo dục Trung Quốc là “…mọi chế độ giáo dục của quốc gia chỉ có một mục tiêu là đào tạo những công dân phục tùng tuyệt đối lợi ích quốc gia”. Do đó, sách giáo khoa – tài liệu bắt buộc, mang tính chất quốc gia cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu đó. Năm 1969, tiến sĩ giáo dục Liên Xô N. G. Đairi đã xuất bản cuốn sách “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?”, NXB Giáo dục Hà Nội đã dịch và phát hành năm 1973. Trong cuốn sách này, ông đã trình bày những yêu cầu cụ thể nhất và các công việc quan trọng phải làm trong việc chuẩn bị một giờ học lịch sử theo hướng đổi mới của lý luận dạy học Xô viết: chuẩn bị giờ học nhằm phát huy óc suy nghĩ độc lập và tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh. Trong cuốn sách này, ông dành phần nhiều nội dung cho việc nghiên cứu về vai trò của sách giáo khoa và cách sử dụng sách giáo khoa nhằm nâng cao hiệu quả dạy học. Cho đến nay, “nghiên cứu về sách giáo khoa” vẫn là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, “đi tìm cuốn sách giáo khoa hoàn hảo” vẫn là mơ ước của nền giáo dục Việt Nam.
Trang 1đủ sức vượt qua mọi sóng gió, đưa con thuyền Việt Nam cập bến đỗ tương lai.
Đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với tình hình hiện nay là vấn
đề luôn được quan tâm trong công tác giáo dục ở nhà trường phổ thông Nhưngthực tế kết quả đem lại trong những năm gần đây chưa đáp ứng được yêu cầu đặt
ra của đất nước Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 đã định hướng: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược” Quyết định cũng nêu rõ: “Trên cơ sở đánh giá chương trình giáo dục phổ thông hiện hành và tham khảo chương trình tiên tiến của các nước, thực hiện đổi mới chương trình và sách giáo khoa từ sau năm 2015 theo định hướng phát triển năng lực học sinh, vừa đảm bảo tính thống nhất trong toàn quốc, vừa phù hợp với đặc thù mỗi địa phương”.
Bộ môn Lịch sử ở trường PTTH nói chung, THCS nói riêng với tư cách là
bộ môn khoa học xã hội có nhiều ưu thế góp phần tích cực vào thực hiện mụctiêu giáo dục Lịch sử là linh hồn của dân tộc, học Lịch sử giúp học sinh biết:
“Ứng xử với quá khứ thế nào và vận dụng quá khứ đó đối với cuộc sống hôm nay và sau này Lịch sử là cuộc đối thoại liên tục giữa quá khứ và hiện tại” (GS Phan Huy Lê) Và hơn bao giờ hết, đã là người Việt Nam thì “Dân ta phải biết
sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” (chủ tịch Hồ Chí Minh) Tuy
Trang 2nhiên, trong thời gian gần đây, chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng dạyhọc Lịch sử nói riêng lại đang là bức xúc lớn của xã hội Muốn khắc phục vàgiải quyết vấn đề trên, công việc hàng đầu là phải nâng cao chất lượng đào tạogiáo viên Lịch sử trong các trường sư phạm và đổi mới chương trình, sách giáokhoa Từ đó, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công cuộccông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ởcác nước phát triển trong khu vực và thế giới.
Sách giáo khoa là tài liệu cơ bản trong học tập của học sinh, là thước đophản ánh trình độ văn hóa, khoa học của một nước Sách giáo khoa Lịch sử ởtrường phổ thông Việt Nam đã qua nhiều lần biên soạn, sửa chữa và đã cónhững ưu điểm cả về nội dung và hình thức Song sách giáo khoa hiện nay nhìnchung vẫn còn những hạn chế Do vậy, đổi mới chương trình, sách giáo khoađang là ưu tiên hàng đầu trong chương trình cải cách giáo dục của nước ta Làmthế nào để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, khắc phục tình trạng họctập nặng nề, học thuộc lòng, học máy móc căng thẳng của học sinh, làm cho các
em trở nên yêu thích lịch sử, có hứng thú với môn học đang là cái đích hướngđến của sách giáo khoa Lịch sử ở nước ta
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn vấn đề: “Mô hình bài viết sách giáo khoa lịch sử ở trường THCS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và khả năng vận dụng vào Việt Nam ” làm đề tài luận văn cao học
của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Tài liệu nước ngoài
Thông qua nguồn tài liệu dịch, chúng tôi đã tiếp cận được một số côngtrình sau:
Trên thế giới, văn hóa đọc sách xuất hiện từ rất sớm Ngay từ thời cổ trung đại, con người đã biết sử dụng sách như một phương tiện học tập, nghiêncứu, trau dồi kiến thức, rèn luyện tư tưởng Sách giáo khoa ra đời trên cơ sở sựphát triển của hệ thống trường học và sự đa dạng của các hình thức, phương
Trang 3-pháp dạy học Sự có mặt của sách giáo khoa vào cuối thời kỳ cận đại đã tạo ramột bước ngoặt quan trọng đối với sự tiến bộ giáo dục của nhân loại.
Từ những năm 20 của thế kỉ XX, “sách giáo khoa” đã bắt đầu thu hút sự
quan tâm của các nhà nghiên cứu Đặc biệt ở Liên Xô, vào thời gian này, cácnhà khoa học giáo dục đã cố gắng điều chỉnh, chọn lọc để biên soạn những
“sách để làm việc” (sách giáo khoa) cho từng huyện, tỉnh và trong nước để đáp
ứng sự phát triển của đất nước Nhưng phải đến những năm 50 của thế kỉ XX,
“sách giáo khoa” mới thực sự trở thành đề tài nhận được sự quan tâm lớn từ giới
nghiên cứu giáo dục Đi đầu trong công cuộc này là các nhà giáo dục học và lýluận dạy học Xô Viết như: E Ia Gôlan, I A Cairôp, B P Êxipôp, L P.Arictôva, N G Đairi, I F Kharlamôp,…
Năm 1957, Giáo sư E Ia Gôlan đã xuất bản cuốn sách “Những phương pháp dạy học trong nhà trường Xô Viết” tại Mátxcơva Trong cuốn sách này, tác
giả đã khẳng định vai trò quan trọng của việc sử dụng đa dạng các phương phápdạy học trong nhà trường Xô viết Ngoài ra, tác giả còn nhấn mạnh tới ảnhhưởng của việc sử dụng sách giáo khoa đối với việc chuẩn bị các bài tập ở nhàcủa học sinh Vấn đề mà E Ia Gôlan nghiên cứu tiếp tục được giải thích rõ hơn
phần nào trong một số cuốn giáo trình “Giáo dục học” thời đó.
Trong cuốn “Giáo dục học” do I A Cairôp chủ biên (xuất bản tại
Matxcơva, 1956) đã đề cập đến một số hình thức dạy học, trong đó có việc sửdụng sách giáo khoa trong giờ lên lớp Tuy nhiên, tác giả cho rằng sách giáokhoa giống như một phương tiện hỗ trợ bài giảng của giáo viên đối với nhữngphần khó tiếp thu và chưa coi đó là một tài liệu cơ bản trong dạy học
Trong bài viết “Hãy mở sách giáo khoa ra!” đăng trên “Báo giáo viên”,
tác giả B P Êxipôp và L P Arictôva đã chỉ ra những hạn chế trong việc sử
dụng sách giáo khoa trước đó: “gập sách giáo khoa lại trong mỗi giờ học” Các tác giả cho rằng: chỉ có thể phát triển “công tác tự lực của học sinh”, phát huy
tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh, khi các em phải mở sáchgiáo khoa ra và áp dụng các hình thức làm việc khác nhau với sách Quan điểm
Trang 4này đã đánh dấu một bước ngoặt trong việc sử dụng rộng rãi sách giáo khoa vàhoàn thiện phương pháp làm việc với sách giáo khoa trong quá trình học tập ởlớp tại Liên Xô trước đây.
Trong cuốn sách “Phát triển tư duy học sinh” của tập thể các tác giả M.
Alêchxêep – V Onhisuc – M Crugliac – V Zabotin – X Vacxcle (NXB Giáodục, 1976), tác giả M.Crugliac đã chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa tri thức và tưduy Ông cho rằng kiến thức cơ bản có trong sách giáo khoa chính là nền tảngcho việc phát triển tư duy tích cực của học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên
để phân tích và khái quát tài liệu có nội dung sự kiện cụ thể và rút ra đượcnhững kết luận cần thiết đối với một bài học
I F Kharlamôp trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào” tập II (NXB Giáo dục, 1979) đã cho rằng việc sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu học tập giữ “một vị trí đáng kể” trong việc nắm vững kiến
thức nói chung và trong việc phát huy tính tích cực hoạt động trí tuệ của họcsinh nói riêng Thông qua việc tóm lược quan điểm của các nhà nghiên cứu vềsách giáo khoa, tác giả đã chỉ ra bản chất của việc sử dụng sách giáo khoa và đềxuất những yêu cầu cơ bản cần đảm bảo khi tổ chức làm việc với sách giáo khoatrong quá trình lên lớp
Tại Trung Quốc, các nhà giáo dục học luôn quan tâm tới việc biên soạn vàxuất bản những cuốn sách giáo khoa có giá trị tri thức, thẩm mĩ và tư tưởng
Trong cuốn sách “Triết học giáo dục hiện đại” của Lương Vị Hùng, Khổng
Khang Hoa (NXB Chính trị, 2008), các tác giả đã nhấn mạnh tới đặc điểm của
giáo dục Trung Quốc là “…mọi chế độ giáo dục của quốc gia chỉ có một mục tiêu là đào tạo những công dân phục tùng tuyệt đối lợi ích quốc gia” Do đó,
sách giáo khoa – tài liệu bắt buộc, mang tính chất quốc gia cũng phải tuân thủnghiêm ngặt yêu cầu đó
Năm 1969, tiến sĩ giáo dục Liên Xô N G Đairi đã xuất bản cuốn sách
“Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?”, NXB Giáo dục Hà Nội đã dịch và phát
hành năm 1973 Trong cuốn sách này, ông đã trình bày những yêu cầu cụ thể
Trang 5nhất và các công việc quan trọng phải làm trong việc chuẩn bị một giờ học lịch
sử theo hướng đổi mới của lý luận dạy học Xô viết: chuẩn bị giờ học nhằm pháthuy óc suy nghĩ độc lập và tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh.Trong cuốn sách này, ông dành phần nhiều nội dung cho việc nghiên cứu về vaitrò của sách giáo khoa và cách sử dụng sách giáo khoa nhằm nâng cao hiệu quảdạy học
Cho đến nay, “nghiên cứu về sách giáo khoa” vẫn là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, “đi tìm cuốn sách giáo khoa hoàn hảo” vẫn
là mơ ước của nền giáo dục Việt Nam
2.2 Tài liệu trong nước
2.2.1 Tài liệu giáo dục học
Từ những năm 50 của thế kỉ XX, đã có nhiều công trình nghiên cứu vềsách giáo khoa ở nước ta với mục đích: phát huy tính tích cực, độc lập trong nhậnthức của học sinh, trang bị cho các em một phương tiện học tập tối ưu nhất
Tác giả Trần Bá Hoành trong cuốn “Đổi mới phương pháp dạy học,
chương trình và sách giáo khoa” ( NXB Đại học Sư phạm, 2006) đã trình bày
cụ thể về việc tổ chức biên soạn, tiến độ triển khai, xuất bản và phát hành sáchgiáo khoa Ngoài ra, tác giả còn đưa ra những phân tích, đánh giá cá nhân vềchương trình, sách giáo khoa hiện nay với những mặt tiến bộ và hạn chế
Trong cuốn “Giáo dục học 1” (NXB đại học sư phạm, 2007), do tác giả
Trần Thị Tuyết Oanh làm chủ biên cùng một số nhà nghiên cứu đã đưa ra vàphân biệt giữa các khái niệm: chương trình, sách giáo khoa và các tài liệu họctập khác dùng chung trong các trường học do Nhà nước quy định Đồng thời,cuốn sách cũng trình bày cụ thể chức năng của sách giáo khoa đối với quá trìnhdạy học và đưa ra những yêu cầu cơ bản đối với một cuốn sách giáo khoa
Trong cuốn “Bài học là gì” (NXB Giáo dục, 2010), tác giả Hồ Ngọc Đại
đã sơ lược về sự ra đời, phát triển và khẳng định vai trò quan trọng của sách giáokhoa trong lịch sử nền giáo dục của Việt Nam Trên cơ sở đó, ông đưa ra những
yêu cầu, nguyên tắc xây dựng một bộ sách giáo khoa “không ai cảm thấy thừa”
[17; 244] cho mọi thời đại
Trang 6Trong “Báo cáo tổng hợp đánh giá quy trình, tính khoa học và tính sư phạm của chương trình, sách giáo khoa mới cấp tiểu học và THCS” của đề tài
Khoa học Công nghệ độc lập cấp Nhà nước ĐTĐL – 2004/23 (Bộ GD&ĐT,Viện chiến lược và chương trình giáo dục, 2006), chủ nhiệm đề tài là GS TSNguyễn Hữu Tăng Trong báo cáo này, các tác giả đã phân tích những ưu điểm
và nhược điểm của sách giáo khoa hiện nay, so sánh sách giáo khoa với nhữnggiai đoạn trước đó ở từng môn học cấp tiểu học và THCS (lớp 6,7,8,9) Từ đó,báo cáo đã đề xuất những kiến nghị cho quá trình xây dựng chương trình và sáchgiáo khoa mới
Cuốn sách “Xã hội với sách giáo khoa” tập V, do nhà xuất bản Giáo dục
phát hành năm 2007, là tập hợp các bài viết về việc đổi mới chương trình, sáchgiáo khoa và công tác biên soạn, xuất bản sách giáo khoa trong nước được đăngtải trên nhiều tạp chí của các tác giả khác nhau Nhìn chung, các bài viết đềunhấn mạnh đến vai trò quan trọng của sách giáo khoa và tính cấp thiết của việcđổi mới sách giáo khoa trong giai đoạn hiện nay
Dưới sự chỉ đạo của Bộ Khoa học – Công nghệ, Viện chiến lược vàchương trình giáo dục đã tổ chức nghiên cứu đề tài độc lập cấp Nhà nước
“Nghiên cứu đánh giá chất lượng và hiệu quả triển khai đại trà chương trình sách giáo khoa mới bậc Tiểu học và THCS trong phạm vi cả nước” (Báo cáo của
đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước mã số ĐTĐL-2004/23, 2007) Báo cáo
đã khẳng định tầm quan trọng của công tác tổ chức triển khai chương trình, sáchgiáo khoa mới (2002 - 2012) Từ việc đánh giá chung về công tác chỉ đạo, quản
lý, triển khai chương trình, sách giáo khoa mới bậc tiểu học và THCS, các tácgiả đã chỉ ra một số nguyên nhân của những tồn tại, rút ra bài học kinh nghiệm
và hướng khắc phục trong công tác chỉ đạo, quản lí để nâng cao chất lượng, hiệuquả triển khai chương trình, sách giáo khoa mới trong những năm tới
Trong báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu Khoa học – Công nghệ cấp Bộ
“Thực trạng đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS theo chương trình và sách giáo khoa mới” (mã số B2006 – 37 - 13), chủ nhiệm đề tài PGS TS.
Trang 7Nguyễn Thúy Hồng đã mô tả thực trạng đổi mới phương pháp dạy học ở trườngTHCS Việt Nam gắn với chương trình và sách giáo khoa THCS hiện hành Từ
đó, đề tài tập trung đi sâu vào nguyên nhân những thành tựu và bất cập trongchương trình, sách giáo khoa THCS hiện hành và đề xuất những giải pháp nhằmnâng cao hiệu quả đối mới phương pháp dạy học các môn học theo định hướngtích cực hóa hoạt động học tập của người học ở trường THCS, minh họa qua 3môn: Ngữ văn, Toán, Vật lí
2.2.2 Tài liệu giáo dục lịch sử
Nghiên cứu về việc sử dụng sách giáo khoa trong dạy học lịch sử xuấthiện khá sớm Sự ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (2/9/1945) sau thắnglợi của cách mạng tháng Tám (1945), đã đặt cơ sở quan trọng cho việc nghiêncứu sách giáo khoa lịch sử ở nước ta
Trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử” (NXB Giáo dục, 1992), táibản có sửa chữa, bổ sung được xuất bản vào các năm: 1998, 1999, 2000, 2001
do giáo sư Phan Ngọc Liên và Trần Văn Trị chủ biên đã đề cập đến việc xâydựng chương trình và biên soạn sách giáo khoa ở trường THPT
Các nhà giáo dục lịch sử như: Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, NguyễnThị Côi, trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử” tập 1, tập 2, NXB Đại học
Sư phạm Hà Nội, 2002 (tái bản có sửa chữa bổ sung năm 2009), đã xác định tầmquan trọng của việc xây dựng chương trình và phương pháp biên soạn và sửdụng sách giáo khoa Qua đó, khẳng định vai trò của sách giáo khoa lịch sửtrong quá trình dạy học bộ môn
Trong “Báo cáo thẩm định chương trình sách giáo khoa mới” của đề tài
“đánh giá quy trình, tính khoa học và tính sư phạm của chương trình, sách giáo khoa mới môn lịch sử cấp THCS” - đề tài Khoa học Công nghệ độc lập cấp Nhà
nước ĐTĐL – 2004/23 (Bộ GD&ĐT, Viện chiến lược và chương trình giáo dục,2006), chủ tịch hội đồng: GS Đinh Xuân Lâm; các tác giả đã tập trung đi sâuphân tích những vấn đề chung của chương trình THCS, mục tiêu của bộ môn và
Trang 8nội dung của chương trình Từ đó, đưa ra những kiến nghị cho việc xây dựngchương trình và sách giáo khoa môn lịch sử bậc THCS (lớp 6,7,8,9).
Bộ Giáo dục – Đào tạo vừa đưa vào thí điểm cuốn giáo trình “Hướng dẫn dạy học các khóa trình lịch sử ở trường THCS” (Dự án đào tạo giáo viên THCS
– LOAN NO 1718 – VIE (SF)), chủ biên PGS TS Nguyễn Hữu Chí Trongcuốn sách này, các tác giả đã khẳng định sự cần thiết phải thay đổi chương trình,sách giáo khoa lịch sử THCS Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa chươngtrình, sách giáo khoa THCS Việt Nam với sự thay đổi của thế giới, sự phát triểncủa dân tộc, các tác giả đã đưa ra những định hướng phát triển mới trong việcxây dựng chương trình và biên soạn sách giáo khoa lịch sử THCS
Ngày 10/5/2013, Hội thảo chuyên gia về sách giáo khoa Lịch sử ở trườngphổ thông đã được tổ chức tại Hà Nội Hội thảo có 17 tham luận đều tập trunggiải mã các vấn đề như: quan niệm về sách giáo khoa, phân bổ môn Lịch sử theocác cấp học của hệ thống giáo dục phổ thông, cấu trúc sách giáo khoa Lịch sử,
bố cục và trình bày sách giáo khoa, tổ chức biên soạn sách giáo khoa sau năm
2015 Kết thúc hội thảo, các chuyên gia đều thống nhất với việc thời gian tới sẽviết lại một số bài học theo quan điểm mới để thử nghiệm ở trường phổ thông.Qua đó đánh giá tính hiệu quả cũng như đưa ra sự điều chỉnh cần thiết cho việcxây dựng chương trình, sách giáo khoa mới
Bên cạnh đó, vấn đề này còn được nêu lên trong nhiều tài liệu nội bộ, bàiđăng trên tạp chí chuyên ngành:
- “Các tiêu chí đánh giá sách giáo khoa” Tài liệu từ hội nghị chuyên đề
về soạn thảo sách giáo khoa do UNESSCO tổ chức tại Học viện Giáo dục DAR– ES – SALAAM, Tanzania, tháng 12/1978 (Nguyễn Quế Sơn dịch, NguyễnNgọc Nhị hiệu đính)
- “Kinh nghiệm Đairi với việc dạy môn sử” của hai tác giả Lương Ninh và
Nguyễn Thị Côi đăng trên Tạp chí nghiên cứu giáo dục, số 8, 1988
- “Vấn đề đặt câu hỏi trong sách giáo khoa” của Nguyễn Đình Chỉnh (Vụ
giáo dục, Bộ Giáo dục – Đào tạo)
Trang 9- “Về sách giáo khoa Lịch sử ở phổ thông trung học (chương trình cải cách)”
của tác giả Nguyễn Thị Côi đăng trên Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 3, 1993
- “Một số vấn đề lí luận và thực tiễn biên soạn sách giáo khoa lịch sử THCS” của tác giả Nghiêm Đình Vỳ đăng trên tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số
98, 2004
- “Một vài kinh nghiệm về đổi mới biên soạn sách giáo khoa lịch sử” của
tác giả Phan Ngọc Liên đăng trên tạp chí Giáo dục, số 7, 2004
- “Một số yêu cầu về xây dựng chương trình và biên soạn sách giáo khoa lịch sử” của tác giả Phan Ngọc Liên đăng trên tạp chí giáo dục, số 126, 2005.
- “Bàn về sách giáo khoa lịch sử” của tác giả Vũ Dương Ninh đăng trên
tạp chí Xưa & Nay, số 223, 2004
- “Triết lí giáo dục Trung Quốc” của thạc sỹ Bùi Đức Thiệp (Việc chiến
lược và Chương trình giáo dục) đăng trên tạp chí khoa học giáo dục số 14, tháng11/2006
- “Vấn đề phân hóa trong giáo dục phổ thông Trung Quốc” của ThS Bùi
Đức Thiệp (Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục), đăng trên tạp chí Khoahọc Giáo dục số 23 - tháng 8/2007, số 24 – tháng 9/2007
- “Dạy học dựa vào đặc điểm tiếp nhận thông tin của người học” của TS.
Đinh Thị Kim Thoa – Lê Thái Hưng (Đại học Quốc gia Hà Nội) đăng trên tạpchí khoa học giáo dục số 23, tháng 8 – 2007
- “Cải cách giáo dục – phương thức cơ bản của phát triển giáo dục trong thế giới hiện đại” của PGS TS Đặng Thành Hưng (Viện Chiến lược và Chương
trình giáo dục) đăng trên tạp chí khoa học giáo dục số 23, tháng 8/2007
- Kỷ yếu “Hội thảo khoa học quốc gia về dạy - học Lịch sử ở trường phổ thông Việt Nam” tại Đà Nẵng, 8/2012.
Ngoài ra, trong một số luận văn thạc sỹ của các học viên, LATS của cácnghiên cứu sinh khoa lịch sử (trường Đại học Sư phạm Hà Nội), đề tài Khoa học– Công nghệ cấp Nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã đề cập đến các
Trang 10khía cạnh khác nhau của việc sử dụng sách giáo khoa lịch sử vào việc nâng caohiệu quả dạy học Có thể kể đến một số đề tài:
- “Sách giáo khoa của trường PTTH Việt Nam từ 1954 đến nay” (LATS
Giáo dục : 05.07.02), Phạm Thị Kim Anh, Đại học Quốc gia Hà Nội - TrườngĐại học Sư phạm, Hà Nội, 1998
- “Nghiên cứu phương thức bồi dưỡng giáo viên tiểu học và THCS đáp ứng chương trình SGK mới” (đề tài Khoa học – Công nghệ cấp Nhà nước mã số
B2001 – 49 - 04), chủ nhiệm PGS TSKH Cao Đức Tiến, Hà Nội, tháng 4/2003
- “Nghiên cứu những ưu tiên trong phát triển và cải cách giáo dục phổ thông ở châu Á” (Luận văn thạc sỹ giáo dục) của tác giả Dương Thị Lan Hương,
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Quá trình tìm hiểu mô hình bài viếtsách giáo khoa lịch sử trường THCS nước CHND Trung Hoa và khả năng vậndụng vào Việt Nam thông qua mô hình bài viết sách giáo khoa Lịch sử 6 (THCS)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi, giới hạn của đề tài: do hạn chế về thời gian, trình độ bản thân; đềtài không có tham vọng tìm hiểu các vấn đề về sách giáo khoa lịch sử THCS củanước CHND Trung Hoa, mà chỉ tập trung nghiên cứu mô hình bài viết của sách
Trang 11giáo khoa qua ví dụ lớp 7 Từ đó rút ra những kinh nghiệm có khả năng vậndụng vào Việt Nam.
Để có cơ sở vận dụng những kinh nghiệm tốt từ mô hình bài viết trongsách giáo khoa lịch sử THCS qua ví dụ lớp 7 (tương đương với lớp 6 ở ViệtNam) của CHND Trung Hoa, đề tài còn tìm hiểu một số vấn đề cơ bản vềchương trình, cách biên soạn và nội dung sách giáo khoa lịch sử lớp 6 THCS củaViệt Nam để rút ra những ưu điểm và hạn chế
Trên cơ sở học tập những kinh nghiệm tốt trong mô hình bài viết từ sáchgiáo khoa lịch sử THCS của CHND Trung Hoa, đề tài đã đề xuất mô hình bàiviết trong sách giáo khoa lịch sử lớp 6 THCS của Việt Nam và tiến hành thựcnghiệm sư phạm ở trường THCS Hoàng Văn Thụ (thành phố Lạng Sơn, tỉnhLạng Sơn) để chứng minh tính khả thi của đề tài
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khẳng định vai trò, ý nghĩa của sách giáo khoa lịch sử nóichung của sách giáo khoa lịch sử nói riêng, đề tài đi sâu tìm hiểu mô hình bàiviết trong sách giáo khoa lịch sử lớp 7 ở trường THCS của nước CHND TrungHoa Từ đó, rút ra những kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam và đề xuất
mô hình bài viết trong sách giáo khoa lịch sử lớp 6 ở trường THCS Việt Nam
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tìm hiểu những lý luận về việc xây dựng và biên soạn sách giáo khoalịch sử THCS ở Việt Nam
- Điều tra thực tế việc sử dụng sách giáo khoa lịch sử nói chung, lớp 6 nóiriêng trong quá trình dạy học ở một số trường THCS để thấy được mặt ưu điểm
và hạn chế của sách giáo khoa hiện hành
- Tìm hiểu mô hình bài viết trong sách giáo khoa lịch sử THCS ở CHNDTrung Hoa và rút ra bài học kinh nghiệm có khả năng vận dụng vào Việt Nam
Trang 12- Đề xuất mô hình bài viết trong sách giáo khoa lịch sử lớp 6 THCS ViệtNam trên cơ sở học tập kinh nghiệm của CHND Trung Hoa.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của những
đề xuất đưa ra
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận của đề tài là:
- Những quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênnin về nhận thức vàgiáo dục; quan điểm đường lối của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tácgiáo dục đào tạo nói chung, giáo dục lịch sử nói riêng
- Lý luận về tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học lịch sử củacác nhà giáo dục và giáo dục lịch sử liên quan đến đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu các tác phẩm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh bàn về giáo dục, giáo dục lịch sử
Nghiên cứu các công trình của các nhà tâm lí, giáo dục, giáo dục lịch sử
và những tài liệu lịch sử có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Điều tra thực tế ở trường THCS qua: dự giờ, quan sát, điều tra xã hội học,trao đổi thảo luận với giáo viên, cán bộ quản lí giáo dục để thấy được thực tếviệc sử dụng sách giáo khoa lịch sử lớp 6 trong dạy học ở trường THCS
Nghiên cứu nội dung chương trình, sách giáo khoa lịch sử lớp 6 THCS ởViệt Nam và Trung Hoa Đề xuất mô hình bài viết trong sách giáo khoa lịch sửlớp 6 trên cơ sở học tập kinh nghiệm của nước Trung Hoa
Soạn giáo án, tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THCS để khẳngđịnh tính khả thi của mô hình bài viết đã đưa ra
6 Giả thuyết khoa học
Chất lượng dạy học lịch sử ở trường THCS sẽ được nâng cao nếu xâydựng mô hình bài viết trong sách giáo khoa lịch sử trên cơ sở học tập sáng tạokinh nghiệm của CHND Trung Hoa theo những yêu cầu đề tài đưa ra
Trang 13cơ sở học tập kinh nghiệm của Trung Hoa.
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
8.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm phong phú lý luận dạy học bộmôn về vấn đề biên soạn và sử dụng sách giáo khoa lịch sử ở trường phổ thôngnói chung, THCS nói riêng
8.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp bản thân nắm vững hơn thực tế giảngdạy, nắm vững kiến thức lịch sử, kiến thức lý luận dạy học bộ môn, đặc biệt làviệc sử dụng sách giáo khoa trong dạy học bộ môn của bản thân sau này Đồngthời, kết quả nghiên cứu của đề tài cũng góp một ý kiến vào vấn đề đổi mới việcbiên soạn sách giáo khoa sau này
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài bao gồm 32 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tìm hiểu mô hình bài viết
trong sách giáo khoa lịch sử THCS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Chương 2 Tìm hiểu mô hình bài viết trong sách giáo khoa lịch sử ở
trường THCS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Chương 3 Xây dựng mô hình bài viết trong sách giáo khoa lịch sử lớp 6
ở trường THCS Việt Nam trên cơ sở kinh nghiệm về việc biên soạn sách giáokhoa ở trường THCS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÌM HIỂU
MÔ HÌNH BÀI VIẾT TRONG SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THCS NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Quan niệm về sách giáo khoa Lịch sử ở trường THCS
1.1.1.1 Quan niệm về sách giáo khoa
Ngay từ thời cổ đại, con người đã biết sử dụng “sách” như một công cụ học tập, nghiên cứu Nhà văn Maksim Gorky đã từng viết: “Sách là kỳ công phức tạp và vĩ đại nhất trong tất cả các kỳ công tuyệt diệu mà loài người sáng tạo ra trên con đường tiến tới hạnh phúc và tương lai tươi sáng” Sách trở thành
phương tiện không thể thiếu trong quá trình phát triển của xã hội loài người.Sách giáo khoa ra đời là tất yếu khi giáo dục trở thành chìa khóa thành công của
nhiều quốc gia Thuật ngữ “sách giáo khoa” bắt đầu xuất hiện từ đó.
Ở Liên Xô, thuật ngữ “Sách giáo khoa” lần đầu xuất hiện vào những năm
20 của thế kỉ XX với tên gọi “sách để làm việc” Nhưng phải đến những năm 50 của thế kỉ XX, thuật ngữ “sách giáo khoa” mới chính thức được sử dụng rộng
rãi và trở thành đề tài nhận được sự quan tâm lớn từ giới nghiên cứu giáo dục[25; 33 - 34] Đi đầu trong công cuộc này là các nhà giáo dục học và lý luận dạyhọc như: E Ia Gôlan, I A Cairôp, B P Êxipôp, L P Arictôva, N G Đairi, I
F Kharlamôp,… Tuy giữa các tài liệu nghiên cứu vẫn còn một số ý kiến chưathống nhất về nguyên tắc xây dựng, cách biên soạn, cấu tạo và nội dung cụ thể
của “sách giáo khoa” Nhưng tất cả các công trình khoa học đó đều có chung quan điểm: “Sách giáo khoa là loại sách cung cấp kiến thức, được biên soạn với mục đích dạy và học” [28; 339] Do đó, việc biên soạn sách giáo khoa phải đáp
ứng những yêu cầu riêng của từng quốc gia
Trang 15Trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào” tập
II, I F Kharlamôp đã chỉ ra rằng: “Sách, tài liệu học tập và tài liệu khoa học là nguồn vô tận các kiến thức nhiều mặt, là phương tiện quan trọng để nhận thức thế giới xung quanh” [25; 55] Trong đó, sách giáo khoa là “một trong những nguồn kiến thức quan trọng đối với học sinh Song nó cũng có tác động như một phương tiện hiệu nghiệm để củng cố tài liệu học tập và phát huy tính tích cực trong hoạt động trí tuệ của học sinh” [25; 34].
Trong luận án “Sách giáo khoa Lịch sử Nga cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI ở Nga” bảo vệ năm 2002, tác giả Aleksei Orlovsky Yakovlevich đưa ra quan điểm về sách giáo khoa Nga như sau: sách giáo khoa “là nơi chuyển tải không chỉ nội dung mà còn có cả hệ thống các phương pháp đào tạo Nó là một phương tiện để tổ chức quá trình giáo dục trong việc giáo dục công dân và giáo dục lòng yêu nước, yêu quê hương mình” [1; 2].
Trung Quốc được biết đến là một trong những quốc gia đầu tiên phát
minh ra “sách” Điều đó cho thấy: ngay từ sớm, quốc gia này đã có ý thức sâu
sắc về việc phát triển giáo dục Cho đến nay, rất nhiều nước trên thế giới vẫnchịu ảnh hưởng tư tưởng của văn hóa Trung Hoa, trong đó có Việt Nam Tạiđây, các nhà giáo dục học, giáo dục Lịch sử cũng luôn quan tâm đến việc biênsoạn những bộ sách giáo khoa hay, có giá trị bền vững Theo các nhà giáo dục
học Trung Quốc: “Sách giáo khoa theo nghĩa hẹp là tài liệu quan trọng để giảng dạy trong một khóa học Nó có ảnh hưởng sâu sắc đến việc nâng cao kiến thức,
kỹ năng và các hoạt động tư tưởng, đạo đức của con người” [37] Và “Sách giáo khoa nói chung là kết quả nghiên cứu, tổng hợp hệ thống kiến thức khoa học đã được kiểm nghiệm, được thể hiện bằng ngôn ngữ dễ hiểu, ngắn gọn” [37] Sách giáo khoa là tài liệu mang tính chất quốc gia, vì thế: “Việc lựa chọn sách giáo khoa trong dạy học phụ thuộc vào quan điểm, điều kiện của từng trường, từng địa phương, nhưng đều phải đảm bảo tính toàn diện, hệ thống và chính xác. Sách giáo khoa trước khi được phát hành rộng rãi trong xã hội cần phải thông qua xác nhận của ngành giáo dục; sau khi thử nghiệm, sửa đổi, sẽ được
Trang 16chính thức đưa vào sử dụng” [37] Mỗi cấp học, cách biên soạn và yêu cầu đối với sách giáo khoa cũng có sự khác nhau: “ Sách giáo khoa tiểu học và trung học thường nhấn mạnh các định mức, tiêu chuẩn và thống nhất ”[37] Biên soạn
và xuất bản những cuốn sách giáo khoa có giá trị tri thức, thẩm mĩ và tư tưởngluôn là cái đích hướng đến của ngành giáo dục Trung Hoa
Vào đầu thế kỉ XIX, thuật ngữ “sách giáo khoa” bắt đầu được sử dụng ở
Việt Nam “Sách giáo khoa” xuất hiện đồng thời với quá trình xâm lược củathực dân Pháp đối với nước ta Với kinh nghiệm của một nước thực dân nhànghề, Pháp hiểu rõ sức mạnh của giáo dục và họ đã sử dụng giáo dục như một
công cụ đắc lực để cai trị Đông Dương “Quốc văn giáo khoa thư” được xem
như bộ sách giáo khoa đầu tiên do người Việt biên soạn có hệ thống trong thời
kì này Bộ sách giáo khoa gồm ba tập, dùng cho lớp đồng ấu (tập I), lớp dự bị
(tập II), lớp sơ đẳng (tập III), xuất bản năm 1928 được “Nha Học Chính Ðông Pháp” giao cho ông Trần Trọng Kim (trưởng ban Văn Học của Hội Khai Trí
Tiến Ðức), ông Nguyễn Văn Ngọc (phụ trách Tu Thư Cục của Nha Học Chánh),ông Ðặng Ðình Phúc (ban Tu Thư của Phủ Thống Sứ) và ông Ðỗ Thận (hiệutrưởng trường Tiểu Học kiêm bị ở Quảng-Yên (Bắc Việt)) biên soạn [42]
“Quốc văn giáo khoa thư” ra đời đã đánh dấu sự thắng lợi lớn của tiếng Việt
trước sức chèn ép lần lượt của chữ Hán và tiếng Pháp. Thắng lợi của cách mạngtháng Tám năm 1945 mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc – nướcViệt Nam độc lập ra đời, đánh dấu bước phát triển mới của giáo dục Tuy nhiên,vào thời điểm đó, sự tồn tại hai chính quyền đối lập giữa hai miền Nam – Bắc đãtạo ra sự khác biệt về giáo dục, biểu hiện cụ thể là sách giáo khoa Có thể kể đếnmột số tác giả đã có đóng góp lớn trong việc biên soạn sách giáo khoa ở nước ta
thời kì này: Hoàng Xuân Hãn, Dương Quảng Hàm,… Năm 1975, “Mỹ cút, Ngụy nhào”, non sông thu về một mối, đây là điều kiện thuận lợi để thống nhất giáo
dục quốc gia Việc xây dựng và phát triển nhà nước mới đặt ra yêu cầu cấp báchphải có bộ sách giáo khoa hoàn chỉnh cho các cấp học Cũng từ đây, thuật ngữ
“sách giáo khoa” ngày càng thu hút đông đảo các nhà giáo dục nói chung, các
Trang 17nhà giáo dục lịch sử nói riêng tham gia nghiên cứu Đến nay, “sách giáo khoa” nói chung, “sách giáo khoa Lịch sử” nói riêng vẫn là trung tâm chú ý của dư
luận giáo dục và dư luận xã hội Trong nhiều năm trở lại đây, bên cạnh lý luậnvề: phương pháp dạy học, kế hoạch dạy học, chương trình dạy học,…của khoa
học giáo dục Lịch sử; lý luận về “sách giáo khoa” cũng được chú tâm và ngày
càng hoàn thiện
Trong cuốn “Giáo dục học tập 1”, các nhà giáo dục học khi nghiên cứu
về vai trò và cách biên soạn sách giáo khoa đã chỉ ra rằng: “Sách giáo khoa là hình thái vật chất của môn học, của nội dung học vấn mà môn học thể hiện” [78;
196] Như vậy, sách giáo khoa là phương tiện quan trọng nhất trong quá trìnhdạy - học Tuy nhiên, sách giáo khoa khác với chương trình và các tài liệu học
tập khác: “Nếu chương trình dạy học quy định phạm vi dạy học của các môn học; thì sách giáo khoa có nhiệm vụ trình bày nội dung của môn học một cách
rõ ràng, cụ thể và chi tiết với cấu trúc xác định” [60; 196] Để đảm bảo nâng
cao hiệu quả trong dạy học trong nhà trường, sách giáo khoa phải đáp ứng yêu
cầu sau: “…phải trình bày những nội dung cơ bản, những thông tin cần thiết, vừa sức đối với học sinh và theo một hệ thống chặt chẽ” [60; 196].
Còn theo tác giả Hồ Ngọc Đại trong cuốn “Bài học là gì?”: “Sách giáo khoa là chứng cớ nói lên quá trình phát triển của mỗi em trong quá trình giáo dục Nó phản ánh được sự phân hóa, cá thể hóa quá trình giáo dục mà vẫn đảm bảo được những yêu cầu cơ bản nhất của quá trình giáo dục nói chung” [17; 242] Sách giáo khoa là tài liệu dạy – học cơ bản trong nhà trường, “sách giáo khoa không có sẵn, nó được tạo ra trong quá trình giáo dục, là kết quả chung của một quá trình thống nhất mà thầy giáo và học sinh mỗi bên có một vai trò tất yếu như nhau” [17; 242].
TS Hồ Thiệu Hùng trong bài viết “Đổi mới sách giáo khoa để chấn hưng giáo dục” (TP Hồ Chí Minh, 03/2012) cho rằng: sách dành cho học sinh, sinh viên gồm hai loại: sách giáo khoa và sách tham khảo Trong đó, “Loại thứ nhất - sách giáo khoa là loại sách đúc kết các “chân lý” đã được thử nghiệm trong
Trang 18lịch sử đấu tranh thiên nhiên, đấu tranh xã hội và đấu tranh với bản thân của con người, đã đứng vững qua thử thách khắc nghiệt của cuộc sống, của thời gian, được các thế hệ học giả sàng lọc, bổ sung, sửa đổi lại từ đời này qua đời khác” [31] Sách giáo khoa xuất hiện đã tạo ra một bước đột phá lớn trong nền
giáo dục của nhân loại Bước vào thế kỉ mới, cùng với sự phát triển khôngngừng nghỉ của thế giới, sách giáo khoa dường như trở nên lạc hậu với thời
cuộc, chúng ta có thể thấy rõ qua đánh giá của tác giả: “Sách giáo khoa hiện chiếm vai trò gần như độc tôn trong nhà trường phổ thông ở bậc thấp nhưng càng lên cao, vị thế này càng yếu dần vì loại sách tham khảo bắt đầu đứng chân vững vàng hơn do tính sống động, mới mẻ, linh hoạt và đa dạng hơn của nó”
[31] Từ đó, tác giả khẳng định: việc xây dựng một bộ sách giáo khoa hay làđiều cần thiết để chấn hưng nền giáo dục Việt Nam
Trong Luật Giáo dục nước ta có quy định rõ: “Sách giáo khoa do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn và duyệt trên cơ sở thẩm định của Hội đồng Quốc gia thẩm định sách giáo khoa để sử dụng chính thức, thống nhất, ổn định trong giảng dạy, học tập ở nhà trường và các cơ sở giáo dục khác” [51; 19] Như
vậy, sách giáo khoa là tài liệu cơ bản trong dạy – học của thầy - trò, được biênsoạn theo chương trình và quán triệt mục tiêu đào tạo đã được xác định Sách giáokhoa phải thể hiện những yêu cầu, nội dung cụ thể của chương trình; tuy nhiêntrong quá trình biên soạn tác giả vẫn có thể điều chỉnh một cách hợp lý
Sách giáo khoa là loại sách được dùng phổ biến nhất trong tất cả các loạisách Loại sách này có những đối tượng sử dụng riêng Nếu không có sách giáokhoa, những đối tượng này sẽ không thể thực hiện được nhiệm vụ học tập củamình trong một thời kỳ nhất định Trong quá trình lĩnh hội tri thức từ sách giáokhoa, đối tượng phát triển được các năng lực của bản thân
Sách giáo khoa là “tài liệu tiếp nối của chương trình, cụ thể hóa những quy định của chương trình về mục tiêu môn học, về phạm vi, số lượng và mức độ của các đơn vị kiến thức… Chính vì vậy, sách giáo khoa là tài liệu quan trọng nhất trong nhà trường, được dùng trong việc học tập ở lớp, ở nhà của học sinh,
Trang 19đồng thời được sử dụng trong quá trình chuẩn bị bài và tiến hành dạy học của giáo viên” [68;18] Quan niệm dạy học, quan niệm chương trình như thế nào thì
sẽ có sách giáo khoa tương ứng
“Ở một ý nghĩa nào đó, sách giáo khoa Lịch sử ra đời sớm hơn các công trình nghiên cứu sử học; bởi vì việc giảng dạy lịch sử xuất hiện trước khi khoa học lịch sử hình thành và phát triển”[71; 52] Chính vì vậy, sách giáo khoa Lịch
sử được đánh giá như một công trình nghiên cứu khoa học, chủ yếu về khoa họcgiáo dục Mục tiêu của sách giáo khoa Lịch sử không phải phát hiện nhữngđiểm, những vấn đề mới về lịch sử dân tộc và lịch sử loài người như một côngtrình sử học; mà giải quyết tốt nhất việc cung cấp những kiến thức cơ bản, hiệnđại cho học sinh, phù hợp với chương trình [69] Từ sau cách mạng thánh Tám(1945), nhất là từ sau Cải cách giáo dục lần thứ nhất (1950), cùng với việc cảitạo và xây dựng chương trình lịch sử ở trường phổ thông, việc biên soạn sáchgiáo khoa mới được chú trọng Có thể kể đến những nhà nghiên cứu tiêu biểu:Hoàng Xuân Hãn, Tạ Quang Bửu, Đào Duy Anh, Phan Ngọc Liên,…
Trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử tập 1” các nhà giáo dục Lịch
sử đã đưa ra khái niệm sau: “Sách giáo khoa là tài liệu cơ bản trong học tập (tự học) của học sinh, nên được biên soạn theo chương trình và quán triệt mục tiêu đào tạo đã được xác định” [48; 88] Do đó, “Kiến thức trình bày trong sách giáo khoa phải đạt yêu cầu chuẩn mực cho việc truyền thụ, giáo dục, cho các hình thức đánh giá, kiểm tra học sinh”[48; 89] Sách giáo khoa không chỉ là công cụ
học tập quan trọng của học sinh; mà còn là phương tiện chính trong giảng dạycủa người thầy Vì vậy, người thầy cần hết sức chú ý khi khai thác nội dung
trong sách giáo khoa để đạt hiệu quả tối ưu; bởi “Sách giáo khoa không phải là
“giáo án”, “bài giảng” để thầy đọc cho học sinh chép mà là một phương án đáng tin cậy để thầy soạn bài hướng dẫn khi học tập”[48; 89].
“Sách giáo khoa Lịch sử ở trường THCS” dành cho học sinh trong lứatuổi 12 – 15 (tuổi) Tuy sách giáo khoa ở bậc học này có những đặc điểm khác
so với bậc tiểu học và THPT Nhưng đều phải tuân thủ những nguyên tắc sau:
Trang 20sách giáo khoa phải đáp ứng mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông;
về mặt kiến thức: phải đảm bảo nguyên tắc “hiện đại, cơ bản, phù hợp thực tiễnViệt Nam”; về mặt phát triển: nội dung sách giáo khoa phải phù hợp với trình độnhận thức và đặc điểm tâm lý, lứa tuổi của học sinh cấp THCS, phải đảm bảoviệc phát huy tính tích cực, độc lập nhận thức của các em; về mặt giáo dục: sáchgiáo khoa được biên soạn dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về lịch sử và nhận thức lịch sử,… Khibiên soạn sách giáo khoa, người viết cần vận dung sáng tạo những quan điểmtrên, mặt khác, phải biểu lộ thái độ, tình cảm khách quan, đúng đắn của mình đối
với những sự kiện, hiện tượng và nhân vật lịch sử Bởi lẽ “lịch sử là cô giáo của cuộc sống”, “là bó đuốc soi đường đi tới tương lai” Tri thức lịch sử không chỉ
có tác dụng giáo dục trí tuệ mà còn giáo dục cả tình cảm, tư tưởng, góp phần đàotạo con người toàn diện
Như vậy, sách giáo khoa nói chung, sách giáo khoa Lịch sử nói riêng làtài liệu học tập và giảng dạy cơ bản không thể thiếu đối với học sinh và giáoviên ở trường phổ thông Dù sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ đãđem đến cho chúng ta rất nhiều phương tiện, thiết bị hỗ trợ dạy – học Nhưngkhông một công cụ nào có thể thay thế hoàn toàn vị trí của sách giáo khoa Quanhững ý kiến trên, chúng tôi thấy rằng: sách giáo khoa có vai trò đặc biệt quantrọng trong dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng ở trường phổ thông
Làm thế nào để “sách giáo khoa” trở thành “người bạn đồng hành” được yêu
thích của học sinh và giáo viên luôn là trăn trở và mục tiêu hướng đến củanhững người viết sách
1.1.1.2 Cấu tạo sách giáo khoa Lịch sử
Cho đến nay, vẫn có nhiều quan niệm khác nhau về cấu tạo sách giáokhoa nói chung và sách giáo khoa Lịch sử nói riêng Về cấu tạo sách giáo khoaLịch sử, hiện tại có hai quan niệm cơ bản sau đây:
Quan niệm thứ nhất: phân chia nội dung sách giáo khoa thành hai phần – “kênh chữ” và “kênh hình”.
Trang 21Kênh chữ “là những thông tin thành văn chủ yếu được dùng trong sách giáo khoa để trình bày nội dung tri thức của môn học, chỉ dẫn về phương pháp học tập về đánh giá, kiểm tra kết quả học tập của học sinh” [48; 90].
Kênh hình bao gồm những ảnh chụp, tranh vẽ, hình vẽ, sơ đồ, đồ thị,…Theo chức năng hoặc mục đích sử dụng, kênh hình được chia thành 5 loại sau:loại minh họa để cụ thể hóa nội dung một sự kiện quan trọng; loại cung cấpthông tin; loại vừa cung cấp thông tin, vừa minh họa cho kênh chữ; loại dùng đểrèn luyện kĩ năng thực hành, kiểm tra kiến thức
Cách phân chia theo quan niệm này nhấn mạnh ý nghĩa về mặt thông tin
để học sinh nhận thức, nhấn mạnh nội dung bài học, song chưa làm rõ chứcnăng, nhiệm vụ của mỗi phần trong sách giáo khoa lịch sử
Quan niệm thứ hai: phân chia nội dung sách giáo khoa thành hai phần – “bài viết” và “cơ chế sư phạm” Quan niệm này có tính chất “cổ điển”, song
thể hiện tính sư phạm của việc biên soạn và sử dụng sách giáo khoa
Bài viết “…là nội dung cơ bản của chương trình được trình bày ngắn gọn trong một số trang cho mỗi tiết học Đây là bộ phận chủ yếu của sách giáo khoa
mà học sinh phải nghiên cứu, nắm vững các kiến thức cơ bản, được lựa chọn phù hợp với yêu cầu học tập” [48; 91].
Cơ chế sư phạm “chỉ tất cả những thành tố trong sách giáo khoa, trừ bài viết, dành cho một tiết học, bao gồm các câu hỏi, bài tập, tư liệu tham khảo, bài đọc thêm, phần minh họa (tranh ảnh), bản đồ, các loại đồ dùng trực quan quy ước khác (sơ đồ, biểu đồ, đồ thị)… Có thể xem đây là một nội dung của sách giáo khoa không chỉ minh họa, hỗ trợ cho bài học mà còn là nguồn kiến thức cung cấp cho học sinh trong học tập” [48; 91].
Dù phân chia theo cách nào cũng có thể thấy rằng tất cả các thành tố trongsách giáo khoa nói chung, sách giáo khoa lịch sử nói riêng đều thực hiện nhiệm
vụ bồi dưỡng nhận thức, phát triển năng lực và giáo dục tư tưởng, tình cảm chohọc sinh, góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy học ở trường phổ thông.Trên thực tế, cách phân chia theo quan niệm thứ hai có thể dễ được chấp nhận
Trang 22hơn vì nó thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa hai phần cơ bản của sách giáokhoa với nhau, bài viết là bộ phận chủ yếu học sinh phải nắm vững, còn cơ chế
sư phạm giúp cho học sinh hiểu sâu sắc bài viết, kiểm tra nhận thức, kết quả họctập của mình, phát triển năng lực tư duy độc lập, thông minh sáng tạo…
Tỉ lệ giữa “bài viết” và “cơ chế sư phạm” tùy thuộc rất nhiều vào lứa tuổi,trình độ học sinh, yêu cầu của chương trình các cấp Theo kinh nghiệm của một
số nước, trong sách giáo khoa Lịch sử ở các lớp cuối cấp tiểu học, đầu cấp
THCS, “bài viết” bao giờ cũng chiếm tỉ lệ ít hơn phần “cơ chế sư phạm” (kênh
hình, tư liệu, câu hỏi, bài tập,…) Dung lượng bài viết sẽ tăng dần đối với họcsinh lớp lớn hơn Vì vậy, khi biên soạn sách giáo khoa cần phải cân đối, hợp lí
giữa “bài viết” và “cơ chế sư phạm” theo những nguyên tắc sư phạm nhất định.
1.1.1.3 Cấu tạo bài viết của sách giáo khoa Lịch sử
Bài viết là nội dung cơ bản của chương trình được trình bày ngắn gọntrong một số trang cho mỗi tiết học Đây là bộ phận chủ yếu của sách giáo khoa
mà học sinh phải nghiên cứu, nắm vững các kiến thức cơ bản, được lựa chọnphù hợp với yêu cầu học tập
Sách giáo khoa chia thành: phần, chương, bài, tiết Dù phân chia như thếnào, mỗi bài viết cũng phải tương ứng với một tiết học (45 phút) Do đó bài viếtthường rất cô đọng, súc tích, có lượng thông tin vừa đủ để học sinh nắm đượccác kiến thức cơ bản
Nội dung những thông tin được trình bày trong mỗi bài học thể hiệnnhững yêu cầu, hướng dẫn về phương pháp dạy học, nhằm tích cực hoá hoạtđộng của học sinh, tạo điều kiện để các em suy nghĩ, nắm vững kiến thức Qua
đó học sinh thực sự chiếm lĩnh được kiến thức, hình thành được kỹ năng, chứkhông phải chỉ học thuộc lòng một số sự kiện, nhân vật trong bài viết một cáchmáy móc
Số lượng, chất lượng và sự bố trí, sắp xếp các thông tin trong mỗi bài viếtphải vừa sức đối với học sinh, giúp các em có phương pháp tự học, tự nghiên
Trang 23cứu, khai thác nội dung sách giáo khoa, làm xuất hiện tình huống có vấn đề, sau
đó hướng dẫn quan sát, giải thích, tìm tòi cách giải quyết vấn đề một cách tối ưu
Trong bài viết của sách giáo khoa thường phân ra các mục lớn, tiểu mục
để việc học tập của học sinh được dễ dàng và có kết quả Đồng thời việc phânphối khối lượng thông tin giữa các mục và tiểu mục thường cân đối với nhau.Tên các đề mục vừa nêu được vấn đề cơ bản của mục vừa gợi sự tò mò, suy nghĩcủa học sinh về vấn đề sẽ học, có tác dụng gây hứng thú cho học sinh đi vào tìmhiểu vấn đề
Cấu tạo một bài viết sách giáo khoa có thể gồm các phần sau:
Phần trình bày các kiến thức về lịch sử theo chương trình, bao gồm “các
đơn vị kiến thức quan trọng nhất, cần thiết nhất như các sự kiện, các hiện tượng
cơ bản, các nhân vật lịch sử kết hợp với việc giải thích, phân tích một cách hợp
lý để học sinh hình dung và hiểu biết quá khứ một cách độc lập, sáng tạo” [48;
94] Muốn được như vậy, việc trình bày các sự kiện, hiện tượng phải khoa học,khách quan, sinh động, giàu hình ảnh, tránh đưa ra những quan niệm chủ quan,không nên sử dụng những cụm từ mĩ miều, cao xa không phù hợp với trình độnhận thức của học sinh Bài viết phải dựng lên trước mắt học sinh bức tranhchân thực về lịch sử một thời kỳ, một giai đoạn, một sự kiện hoặc một nhân vật
đã qua Sách giáo khoa cần phải hạn chế việc thông báo sự kiện, nhân vật mộtcách khô khan mà tăng thêm những phần miêu tả, tường thuật, chân xác, có mức
độ và tuỳ thuộc vào yêu cầu của kiến thức cần cung cấp cho học sinh Điều nàygiúp cho học sinh khi đọc sách giáo khoa, nghe thầy giảng có thể hình dungđúng được quá khứ, không hư cấu và hiện đại hóa lịch sử
Để giảm bớt lượng chữ viết, việc trình bày nội dung các sự kiện ở bài viếtthường gắn liền với kênh hình để giảm bớt lượng chữ viết Sự kết hợp như vậy sẽcung cấp được nhiều thông tin, ngắn gọn, gợi suy nghĩ và gây hứng thú học tập cho
học sinh Thí dụ: khi tìm hiểu hai Bà Trưng trong bài 18 “Trưng Vương và cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Hán” (lớp 6 - THCS), nếu đưa hình ảnh hai Bà
Trưng cưỡi voi ra trận giúp các em có biểu tượng về hai nhân vật lịch sử này
Trang 24Phần tư liệu có tác dụng bổ sung kiến thức, cụ thể hoá, làm phong phú
nội dung các sự kiện lịch sử Điều này giúp học sinh có điều kiện, phương phápphân tích, làm việc với các sử liệu gốc để nâng cao sự hiểu biết của mình Qua
đó làm cho việc học tập không mang tính áp đặt, rèn luyện được năng lực trí tuệtrong việc khám phá tri thức và các kỹ năng cho học sinh
Trong sách giáo khoa cần phải có những sử liệu gốc, những phần tư liệucần đọc thêm, các trích đoạn trong các tác phẩm lịch sử, tiểu sử hồi ký, kể cảnhững ý kiến bút tích của các nhân vật lịch sử, các nhân chứng lịch sử…Một số
tư liệu được trình bày kết hợp với nội dung bài viết Thí dụ: trong bài 17 “Cuộc khởi nghĩa hai Bà Trưng (năm 40)” (Lịch sử 6) có những tư liệu lịch sử như: 4 câu thơ trích trong “Thiên Nam ngữ lục” (Một xin rửa sạch nước thù, Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng, Ba kẻo oan ức lòng chồng, Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này), ý kiến của nhà sử học Lê Văn Hưu: “Trưng Trắc, Trưng Nhị là phụ nữ, hô một tiếng mà các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố cùng 65 thành ở Lĩnh ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, có thể thấy hình thế đất Việt ta đủ dựng được nghiệp bá vương”[46; 49],… Phần này thường được in chữ nhỏ để học sinh dễ phân biệt
Bên cạnh những phần cơ bản nêu trên, trong bài viết của sách giáo khoaLịch sử của một số nước còn có những phần sau: phần mở đầu mỗi chương, mỗibài, phần tóm tắt, lời khuyên học sinh sử dụng sách giáo khoa,… giúp học sinhnắm được mục tiêu của từng chương trình, cấu tạo, nội dung của bài viết, cácyêu cầu về kiến thức và kỹ năng học tập, các gợi ý bổ sung kiến thức…
Lâu nay, chúng ta chưa thực sự quan tâm tới việc hướng dẫn học sinh sửdụng sách giáo khoa.Trong tình hình hiện nay, sách giáo khoa là tài liệu chính,đảm bảo việc cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức, kĩ năng phù hợpvới mục đích, yêu cầu dạy học bộ môn ở trường phổ thông.Với ý tưởng đó,trang đầu của sách giáo khoa một số nước có bài “Hướng dẫn cách sử dụng sáchgiáo khoa” Tùy từng cấp học, lớp học, tùy nội dung cụ thể của từng cuốn mà cónhững lời khuyên đối với học sinh về cách đọc sách giáo khoa; cách khai thác
Trang 25những nội dung của sách giáo khoa (bài học, tư liệu, tranh ảnh…); cách ghi nhớnhững kiến thức, những khái niệm quan trọng và cả cách trả lời những câu hỏi,làm các bài tập trong sách giáo khoa Có lẽ đây là điều kiện cần thiết trước tiên
để giúp giáo viên và học sinh khai thác, tận dụng hết vai trò, chức năng của sách
giáo khoa Thí dụ: bài 1 “Sơ lược về môn Lịch sử” và bài 2 “Cách tính thời gian trong lịch sử” của sách giáo khoa lớp 6 đã cung cấp cho học sinh cái nhìn đầy
đủ hơn về vai trò, ý nghĩa và cách tính thời gian trong học tập bộ môn Lịch sử.Tuy nhiên, đây chưa phải lời khuyên học sinh sử dụng sách giáo khoa Lịch sửnhư chúng ta vẫn mong đợi
Sách giáo khoa Lịch sử có thể thêm phần lời khuyên học sinh sử dụngsách gồm các nội dung sau: vai trò, ý nghĩa của việc học tập lịch sử; sơ lượcnhững hiểu biết của học sinh có được về lịch sử dân tộc trong khóa học trước;cấu tạo và cách sử dụng các phần trong bài viết (phần giới thiệu chung, bài viết,phần tư liệu, phần tóm tắt,…); phần giới thiệu tài liệu tham khảo Đây là phần cóvai trò quan trọng trong việc rèn luyện kĩ năng tự học cho các em
1.1.1.4 Cơ chế sư phạm của sách giáo khoa
Cơ chế sư phạm chỉ tất cả những thành tố trong sách giáo khoa, ngoài bàiviết, dành cho một tiết học, bao gồm các câu hỏi, bài tập, tư liệu tham khảo, bàiđọc thêm, phần kênh hình (tranh, ảnh), bản đồ, các loại đồ dùng trực quan quyước khác (sơ đồ, biểu đồ, đồ thị)…có thể xem đây là một nội dung của sách giáokhoa không chỉ minh hoạ, hỗ trợ cho bài học mà còn là nguồn kiến thức cungcấp cho học sinh trong học tập
Ở Việt Nam, các nhà giáo dục học nói chung, các nhà giáo dục Lịch sử
nói riêng, phân chia “phần cơ chế sư phạm” trong sách giáo khoa thành những
nội dung sau:
Thứ nhất, hệ thống kênh hình
Trong dạy học lịch sử, hệ thống kênh hình góp phần quan trọng tạo biểutượng cho học sinh, cụ thể hóa các sự kiện và khắc phục tình trạng “hiện đạihóa” lịch sử của học sinh Thí dụ: hình 4 – săn ngựa rừng (Lịch sử 6) cung cấp
Trang 26cho học sinh những biểu tượng về cảnh săn bắt – công việc thường xuyên vàhàng đầu của người nguyên thủy; biểu tượng về công cụ săn bắt và cách săn bắt(mũi lao, ném đá, dồn động vật xuống vực,…) vẫn còn rất đơn giản.
Kênh hình có tác dụng trong việc giúp học sinh nhớ kĩ, hiểu sâu nhữnghình ảnh, những kiến thức lịch sử Hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắctrong trí nhớ chúng ta là hình ảnh mà chúng ta thu nhận được bằng trực quan
Do đó, hệ thống kênh hình trong sách giáo khoa Lịch sử cần phải đa dạng,phong phú
Hệ thống tranh ảnh trong sách giáo khoa bao gồm: tranh vẽ của ngườiđương thời hoặc đời sau, ảnh chụp sự kiện, nhân vật lịch sử có đính kèm thôngtin về nguồn gốc, xuất xứ
Chân dung nhân vật lịch sử tiêu biểu trên mọi lĩnh vực và hoạt động củađời sống xã hội, bao gồm nhân vật chính diện lẫn nhân vật phản diện: nhữngchiến sĩ anh dũng chiến đấu, những anh hùng lao động, những người thông minhsáng tạo trong sản xuất, phát triển khoa học kỹ thuật
Như vậy, hệ thống kênh hình trong sách giáo khoa cần phải đa dạng,phong phú
Thứ hai, các câu hỏi trong sách giáo khoa
Những câu hỏi trong sách giáo khoa Lịch sử thường nêu sau mỗi mụchoặc ở cuối bài, không chỉ giới hạn ở việc làm cho học sinh ghi nhớ, tái hiệnkiến thức mà còn giúp các em hiểu biết vững chắc, sâu sắc những sự kiện cơbản Câu hỏi phải đảm bảo yêu cầu nhằm giải đáp các vấn đề cần đặt ra: như thếnào? Vì sao? Kết quả ra sao Nhờ vậy, khi trả lời học sinh sẽ nhớ (biết) và hiểu
sự kiện một cách thông minh sáng tạo Thí dụ: bài 27 “Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 938”, mục 1 “Ngô Quyền đã chuẩn bị đánh quân xâm lược Nam Hán như thế nào?” có những câu hỏi sau: Ngô Quyền kéo quân ra Bắc nhằm mục đích gì? Vì sao Kiều Công Tiễn cho người cầu cứu quân Nam Hán? Kế hoạch đánh giặc của Ngô Quyền chủ động và độc đáo ở điểm nào?[46;
74 - 77]
Trang 27Ngoài những câu hỏi vừa sức, bắt buộc đối với tất cả các học sinh khi tiếpthu kiến thức, trong sách giáo khoa còn có một số câu hỏi mà yêu cầu học sinh
phải tìm tòi suy nghĩ khi trả lời Thí dụ: bài 18 “Trưng Vương và cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Hán” có câu hỏi ở cuối bài “Việc nhân dân lập đền thờ Hai Bà Trưng và các vị tướng ở khắp nơi đã nói lên điều gì?” Những câu
hỏi như vậy mở rộng sự hiểu biết, phát triển trí thông minh sáng tạo của họcsinh Những câu hỏi nêu ra trong sách giáo khoa như vậy phải đảm bảo sự rõràng, mạch lạc và vừa sức đối với học sinh
Thứ ba, bài tập thực hành
Mục đích của việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông không chỉ giúp họcsinh hình dung được hình ảnh của quá khứ, biết và ghi nhớ được các sự kiện,hiện tượng của lịch sử mà quan trọng hơn là phải hiểu được lịch sử, tức là phảinắm được bản chất của sự kiện Để đạt được mục đích đó, ngoài chức năng cungcấp những kiến thức, những tài liệu sự kiện để khôi phục lại những hình ảnh quákhứ, sách giáo khoa còn phải rèn luyện cho học sinh những kỹ năng tư duy (nhưphân tích, giải thích, chứng minh, so sánh…) và các kỹ năng thực hành bộ môn(như vẽ bản đồ, sơ đồ, lập niên biểu, làm sa bàn…) Vì vậy ở cuối bài viết củasách giáo khoa lịch sử thường có bài tập thực hành
Sách giáo khoa Lịch sử thường có hai loại bài tập:
Bài tập yêu cầu học sinh tổng hợp kiến thức Bài tập loại này hướng vào
những vấn đề quan trọng của nội dung bài học, nhằm giúp học sinh hiểu rõ vấn
đề hoặc sự kiện cơ bản của sách giáo khoa, nâng cao sự hiểu biết của học sinh.Loại bài tập này thường viết dưới dạng câu hỏi, song không giống như nhữngcâu hỏi trong sách giáo khoa mà là câu hỏi tổng hợp có nội dung rộng hơn, đòihỏi học sinh phải có thời gian, công sức và trí tuệ để giải đáp Bài tập loại nàyxây dựng trên cơ sở một sự kiện quan trọng, một số bài học hay cả khoá trình;
nó vừa mang tính chất kiểm tra kiến thức cơ bản, vừa phát huy tư duy sáng tạo,năng lực học tập của học sinh Đây là loại bài tập khá phức tạp đối với học sinhđầu cấp THCS, nó chỉ được sử dụng hạn chế với học sinh cuối cấp THCS
Trang 28Bài tập về thực hành bộ môn gồm các loại vẽ bản đồ, sơ đồ, biểu đồ, đồ
thị…loại bài tập này không chỉ rèn luyện cho học sinh kỹ năng vẽ mà còn giúpcác em củng cố, ghi nhớ kiến thức đã học Mặt khác còn rèn luyện cho học sinh
tính chuyên cần, chính xác trong lao động học tập Thí dụ: bài 17 “Cuộc khởi nghĩa hai Bà Trưng (năm 40)” có bài tập vẽ “Lược đồ Âu Lạc thời hai Bà Trưng
và đánh dấu địa phương nơi hai bà phất cờ khởi nghĩa bằng lá cờ đỏ” [46].
Ngoài ra sách giáo khoa Lịch sử còn có nhiều loại bài tập khác, như vậndụng kiến thức vào thực tế, sưu tầm những sự kiện lịch sử địa phương để liên
hệ, minh hoạ một số sự kiện trong khoá trình lịch sử dân tộc, nghiên cứu tài liệu,rút ra bài học lịch sử Bên cạnh các loại bài tập đó, sách giáo khoa Lịch sử một
số lớp còn có các bài tập trắc nghiệm
Như vậy, Sách giáo khoa là tài liệu cơ bản trong học tập của học sinh,được biên soạn theo chương trình và quán triệt mục tiêu đào tạo đã được xácđịnh Sách giáo khoa bao gồm hai phần chính là: bài viết và cơ chế sư phạm.Bên cạnh những yếu tố trên, hình thức của sách giáo khoa có tác dụng thu húthứng thú học tập của học sinh Vì vậy, hình thức sách giáo khoa cần phải khoahọc, sinh động, hấp dẫn Một bộ sách giáo khoa hay, đẹp sẽ mang lại hiệu quảcao trong học tập - giảng dạy của học sinh – giáo viên
1.1.2 Xuất phát điểm của vấn đề
1.1.2.1 Mục tiêu bộ môn
Mục tiêu giáo dục nói chung, mục tiêu cấp THCS về môn học nói riêng là
“cái “đích” phải nhắm tới để đạt được những kết quả trong sự hình thành, phát triển nhân cách học sinh, bao gồm các mặt trí dục, đức dục, thể dục, mĩ dục,…”
[48; 66] Bộ môn lịch sử ở trường phổ thông với tư cách là một bộ phận trongnền giáo dục phải nhằm thực hiện những mục tiêu sau đây:
Về bồi dưỡng kiến thức: đối với học sinh THCS, mục tiêu về kiến thức
của môn học này chủ yếu làm cho học sinh nhận biết được lịch sử dân tộc thôngqua các sự kiện và nhân vật lịch sử tiêu biểu, có chọn lọc Đây là hành trang tốithiểu cho một công dân sau khi đã phổ cập giáo dục cấp 2 (có thể không học tiếp
Trang 29nữa) Kiến thức về lịch sử thế giới là cần thiết, song chỉ nên dừng lại ở mức độkhái quát đủ để cho học sinh có cái nhìn chung với lịch sử nước nhà.
Bộ môn Lịch sử ở trường THCS phải cung cấp cho học sinh những kiếnthức cơ bản và hệ thống về các sự kiện, hiện tượng lịch sử tiêu biểu trên cơ sởcủng cố, phát triển nội dung kiến thức lịch sử đã học ở tiểu học hợp thành một hệthống kiến thức về sự phát triển của lịch sử nhân loại từ thời nguyên thủy đến nay
Mục tiêu phát triển: bước đầu rèn luyện cho học sinh tinh thần chủ động,
tích cực, ý thức về tính chính xác khoa học trong nhận thức, trong tư duy, đồngthời giúp học sinh biết sử dụng sách giáo khoa, quan sát hiện vật, hình ảnh để tựmình rút ra những nhận xét cần thiết, biết so sánh, suy nghĩ độc lập để trao đổi ýkiến với người khác Như vậy, dạy học lịch sử nhằm hình thành năng lực tư duy
và năng lực thực hành cho học sinh, để các em biết vận dụng những kiến thức đãhọc vào cuộc sống
Mục tiêu giáo dục: giáo dục tinh thần yêu nước, yêu quê hương gắn liền
với lòng tin yêu CNXH Đối với thể giới, giáo dục tinh thần yêu chuộng hòabình và có tinh thần hữu nghĩ với các dân tộc Đạt được điều này là ghi đượcdấn ấn sâu sắc vào tâm hồn trẻ thơ và tạo nên phẩm chất cơ bản của một côngdân Đây là những nội dung cụ thể, dễ hiểu và thiết thực
Như vậy, mục tiêu bộ môn lịch sử ở trường phổ thông là cung cấp kiếnthức cơ bản có hệ thống về lịch sử phát triển hợp quy luật của dân tộc và xã hộiloài người Trên cơ sở đó, giáo dục tư tưởng, tình cảm, lòng yêu nước, tự hàodân tộc, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, rèn luyện năng lực tư duy
và thực hành Mục tiêu môn học là cơ sở để xác định nội dung và phương phápdạy học Xây dựng chương trình và biên soạn sách giáo khoa cần bám sát vàomục tiêu cụ thể của môn học
1.1.2.2 Đặc trưng của kiến thức Lịch sử
Khác với các môn học ở trường phổ thông, bộ môn lịch sử có đặc trưngriêng của mình Lịch sử là toàn bộ những gì đã xảy ra trong quá khứ, rất cụ thể
và không lặp lại Những sự kiện, hiện tượng lịch sử đã từng xảy ra vốn là một
Trang 30hiện thực khách quan, tồn tại độc lập với ý thức chủ quan của người nhận thứclịch sử Học lịch sử chúng ta không thể trực tiếp quan sát các sự kiện lịch sử Do
đó, nhận thức lịch sử chủ yếu được tiến hành bằng con đường nhận thức giántiếp Xuất phát từ đặc điểm của kiến thức lịch sử mà quá trình nhận thức tronghọc tập lịch sử của học sinh cũng có những nét riêng Quá trình nhận thức lịch
sử của học sinh phải bắt đầu từ việc tri giác tài liệu cùng với việc quan sát cáchiện đồ dùng trực quan Sau đó, hình dung, tưởng tượng và hình thành các mốiliên hệ tạm thời về sự kiện mà học sinh vừa tri giác được để có các biểu tượng.Trên cơ sở biểu tượng lịch sử, qua các thao tác tư duy, học sinh đi sâu tìm rabản chất của sự kiện, hiện tượng Chính nội dung bài viết và các tư liệu cụ thể,kênh hình trong sách giáo khoa có tác dụng thiết thực giúp học sinh khôi phụclại bức tranh lịch sử để có biểu tượng chính xác, chân thực Đồng thời, cũngchính những câu hỏi trong sách giáo khoa và gợi ý của giáo viên sẽ giúp họcsinh tìm ra bản chất của sự kiện, hiện tượng Như vậy, sách giáo khoa chính làphương tiện hữu ích nhất giúp học sinh từ biết lịch sử đến hiểu sâu sắc bản chấtcủa lịch sử
1.1.2.3 Đặc điểm tâm lý và nhận thức của học sinh trong học tập lịch sử
Đặc điểm tâm lý
Tuổi thiếu niên là giai đoạn phát triển của trẻ từ 11 - 15 tuổi, các em đượcvào học ở trường trung học cơ sở (từ lớp 6 - 9) Lứa tuổi này có một vị trí đặcbiệt quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, vì nó là thời kỳ chuyển tiếp
từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khácnhau như: “thời kỳ quá độ“, “tuổi khó bảo“, “tuổi khủng hoảng “, “tuổi bất trị” Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dầnkhỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành),tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trítuệ, tình cảm, đạo đức Trong thời kỳ này những cơ sở, phương hướng chungcủa sự hình thành quan điểm xã hội và đạo đức của nhân cách được hình thành,chúng sẽ được tiếp tục phát triển trong tuổi thanh niên
Trang 31Tuy nhiên, quá trình hình thành cái mới thường kéo dài về thời gian vàphụ thuộc vào điều kiện sống, hoạt động của các em Nên sự phát triển tâm lý ởlứa tuổi này diễn ra không đồng đều về mọi mặt Vì thế, thái độ học tập của họcsinh THCS cũng rất khác nhau Tất cả các em đều ý thức được tầm quan trọng
và sự cần thiết của học tập, nhưng thái độ biểu hiện không giống nhau
Tuổi thiếu niên là giai đoạn bản lề cho việc hình thành mức độ học tậpcao nhất Đối với các em, ý nghĩa của hoạt động học tập dần dần được xem như
là hoạt động độc lập hướng vào sự thỏa mãn nhu cầu nhận thức Do đó, “sách giáo khoa Lịch sử” viết hay, hình thức đẹp sẽ để lại những ấn tượng khó quên
trong các em, tạo hứng thú học tập bộ môn cho học sinh
đã cho thấy tài liệu cảm tính càng chân thực đa dạng, phong phú bao nhiêu thìcàng tạo sơ sở thuận lợi bấy nhiêu cho nhận thức lí tình Ở lứa tuối thiếu niên,các em đã có khả năng phân tích, tổng hợp các sự vật, hiện tượng phức tạp hơnkhi tri giác sự vật, hiện tượng Khối lượng tri giác tăng lên, tri giác trở nên có kếhoạch, có trình tự và hoàn thiện hơn Đặc biệt, trí nhớ của các em cũng đượcthay đổi về chất Trong thời kỳ này, năng lực ghi nhớ có chủ định của các emđược tăng lên rõ rệt, cách thức ghi nhớ được cải tiến, hiệu suất ghi nhớ cũngđược nâng cao
Trang 32Trong hoạt động nhận thức của học sinh, tư duy có vai trò quan trọng Nógiúp học sinh nắm được bản chất tức là khái niệm lịch sử, từ đó rút ra bài học,nêu quy luật Đây chính là mục đích hình thành kiến thức trong dạy học lịch sửcho học sinh Ở tuổi thiếu niên, thành phần của tư duy hình tượng - cụ thể vẫnchiếm ưu thế lớn trong cấu trúc của tư duy và tiếp tục được phát triển Lúc này,các em đã hiểu các dấu hiệu bản chất của đối tượng, nhưng không phải bao giờcũng phân biệt được những dấu hiệu đó trong mọi trường hợp Ở tuổi này, tínhphê phán của tư duy cũng được phát triển, các em biết lập luận giải quyết vấn đềmột cách có căn cứ Các em không dễ tin như lúc nhỏ, nhất là ở tuổi này, các em
đã biết vận dụng lí luận vào thực tiễn, biết lấy những điều quan sát được, nhữngkinh nghiệm riêng của mình để minh họa kiến thức Nội dung bài viết trong sáchgiáo khoa hay, viết chính xác, kênh hình đẹp có chất lượng, phần tư liệu phongphú, có giá trị không chỉ giúp học sinh có biểu tượng lịch sử mà còn là cơ sở đểcác em phân tích, so sánh, đối chiếu nhằm rèn luyện năng lực tư duy Nếu giáoviên có phương pháp sử dụng sách giáo khoa tốt sẽ góp phần nâng cao chấtlượng dạy học bộ môn ở trường phổ thông
1.1.2.4 Xu thế đổi mới giáo dục
Từ ngàn xưa, nhân loại đã ý thức được tầm quan trọng của nhân tố giáodục: đó là sự di truyền văn hóa, tạo nên nền tảng phát triển của mỗi con người,mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc Giáo dục được liên tục biến đổi để thích nghi vớiđộng thái cuộc sống Tuy nhiên, chỉ đến thế kỷ 21, trong cuộc đấu tranh quyếtliệt về kinh tế chính trị, trước tiến bộ mạnh mẽ của các thành tựu khoa học kỹthuật, các nước đã ý thức được vai trò quyết định của phát triển giáo dục cho sựsinh tồn của dân tộc mình Các cuộc cải cách giáo dục đã diễn ra sôi nổi: mỗigiai đoạn có màu sắc khác nhau, mỗi dân tộc có cách làm riêng, song quy tụ lại,cộng đồng nào cũng hướng cho nhân tố này bám sát vào động thái kinh tế chínhtrị để dân tộc ổn định, thích ứng với tiến bộ theo xu thế toàn cầu hóa của cuộcsống hiện đại Ở Việt Nam nhu cầu đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục,đào tạo đã trở nên cấp bách, vì thực trạng giáo dục hiện nay vừa không đáp ứng
Trang 33yêu cầu xã hội mà còn ảnh hưởng tiêu cực, cản trở sự phát triển lành mạnh vềkinh tế, xã hội và hệ thống quản lý.
Người ta thường nói chất lượng giáo dục phụ thuộc vào 4 yếu tố cơ bản:chương trình, sách giáo khoa, điều kiện vật chất và đội ngũ giáo viên Điều đó làđúng nhưng chưa đủ, ngoài ra cũng cần nhìn nhận tác động từ phía hai yếu tốkhác: đội ngũ cán bộ quản lí văn hóa chung và “mặt bằng văn hóa” chung của giađình – xã hội (GS Vũ Dương Ninh) Cho nên khi đánh giá cũng như tìm nguyênnhân của sự thành công hay yếu kém của giáo dục, nên nhìn một cách toàn diện,như vậy mới có kết luận xác đáng và tìm ra cách khắc phục có hiệu quả
Sau nhiều năm tiến hành đổi mới, tuy đạt được một số kết quả đáng kể,nhưng giáo dục và đào tạo vẫn chưa thực sự là quốc sách hàng đầu Chất lượnggiáo dục còn thấp, không đồng đều giữa các vùng miền; quan tâm phát triển sốlượng nhiều hơn chất lượng; chương trình, giáo trình, phương pháp giáo dụcchậm đổi mới, chậm hiện đại hóa;… chưa theo kịp yêu cầu phát triển đất nước.Thực trạng giáo dục của đất nước thu hút sự quan tâm đông đảo của các tầng lớp
xã hội, đặc biệt là trí thức Đại diện tiêu biểu là Gs Hoàng Tùy – người dành cả
cuộc đời cho sự nghiệp giáo dục cho rằng: “Giáo dục đang đi lạc hướng, nếu không có bài thuốc nào chữa thì có hết cải tiến rồi lại lùi, đổi mới liên tục nhưng vụn vặt, chắp vá, đổi đi đổi lại chỉ thêm tốn kém tiền của, công sức của dân mà rốt cuộc lại quay về điểm xuất phát… Trong sự nghiệp giáo dục nước nhà nếu tính khoảng 15 năm nay đã có nhiều người liên tục cảnh báo: Giáo dục của ta không chỉ lạc hậu mà nguy hiểm hơn đang đi lạc hướng ra xa con đường chung của nhân loại, đang phát triển lạc điệu với thế giới văn minh” Vì vậy,
“Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế, sự nghiệp GD & ĐT nước ta phải đổi mới căn bản, toàn diện, mạnh mẽ…” (Kết luận số 242 – TB/ TW của Bộ Chính trị về
việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, phương hướng phát triển
GD & ĐT đến năm 2020) Theo đó, Hội nghị khẳng định: “ Tiếp tục đổi mới chương trình, tạo chuyển biến mạnh mẽ về phương pháp giáo dục Cụ thể, rà
Trang 34soát lại toàn bộ chương trình và sách giáo khoa phổ thông, sớm khắc phục tình trạng quá tải, nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, chưa khuyến khích đúng mức tính sáng tạo của người học” Yêu cầu cấp thiết đặt ra trong lúc này: phải đổi
mới nội dung và hình thức trình bày sách giáo khoa nói chung, sách giáo khoaLịch sử nói riêng
Mô hình sách giáo khoa Lịch sử được đưa vào thử nghiệm tại một sốtrường THCS bắt đầu từ năm 2005 Cho đến nay, kết quả mà cuộc cải cách đemlại vẫn chưa đáp ứng được mục tiêu đề ra Hệ quả này là do mâu thuẫn và chênhlệch quá lớn giữa chương trình của cấp học nói chung và bộ môn Lịch sử nóiriêng Chính điều này đã ảnh hướng đến việc biên soạn sách giáo khoa Sách giáokhoa Lịch sử mới cấp THCS tuy có một số cải tiến về nội dung, hình thức, songvẫn còn nặng, không sát với tâm lý lứa tuổi và điều kiện học tập của học sinh…Điều đó đặt ra vấn đề cần phải đánh giá tổng kết, nghiên cứu để lần sửa đổichương trình, sách giáo khoa tiếp theo khắc phục được những hạn chế hiện nay
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của sách giáo khoa Lịch sử nói chung, bài viết trong sách giáo khoa nói riêng
1.1.3.1 Đối với học sinh
Trong giáo dục, sách giáo khoa là tài liệu học tập luôn giữ vị trí hàng đầutrong sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ Theo thống kê của UNESCO, sách giáo khoachiếm gần 50% tổng số sách xuất bản hàng năm trên thế giới và số bản của chúngvượt hơn bất kỳ một loại sách nào khác, bao quát một phạm vi độc giả rộng lớngần như toàn thể nhân dân thông qua thế hệ trẻ Ở nước ta, lượng sách giáo khoaphát hành mỗi năm chiếm 70 – 80% tổng lượng sách phát hành ở Việt Nam
Sách giáo khoa là tài liệu học tập chủ yếu của học sinh nên được biênsoạn theo chương trình và quán triệt mục tiêu đào tạo đã được xác định Nóicách khác, sách giáo khoa chính là tài liệu cụ thể hóa chương trình học và đượctác giả điều chỉnh một cách hợp lý khi biên soạn Do đó, kiến thức trình bàytrong sách giáo khoa phải đạt yêu cầu chuẩn mực cho việc truyền thụ, giáo dụccho các hình thức đánh giá, kiểm tra học sinh
Trang 35Sách giáo khoa lịch sử ở trường phổ thông có vai trò, ý nghĩa to lớn đốivới học sinh:
Về mặt kiến thức, sách giáo khoa cung cấp cho học sinh những kiến thức
lịch sử phổ thông, cơ bản hiện đại, thiết thực và có hệ thống về lịch sử dân tộc
cũng như thế giới trong suốt quá trình phát triển của nó Đồng thời, trên cơ sở
lĩnh hội kiến thức, sách giáo khoa chú trọng rèn luyện cho học sinh những kỹnăng cơ bản, thiết thực có hệ thống như xem xét các sự kiện lịch sử trong cácquan hệ không gian, thời gian, kỹ năng sử dụng sách giáo khoa, kỹ năng phântích, so sánh, tổng hợp, khái quát, đánh giá các sự kiện, hiện tượng lịch sử vàocác tình huống học tập và cuộc sống… Kiến thức sách giáo khoa đã chuẩn bị vàtạo điều kiện cho người học tiếp tục học lên hoặc vào trường học nghề hoặc trựctiếp vào đời, tham gia các hoạt động của đời sống xã hội Chính vì có vai trò nhưvậy mà sách giáo khoa có ý nghĩa quan trọng trên cả ba mặt: giáo dưỡng, giáodục và phát triển
Về phát triển năng lực, kỹ năng, sách giáo khoa góp phần hình thành cho
học sinh phương pháp học tập tích cực, khả năng tự học, tự nghiên cứu bộ môn.Sách giáo khoa là tài liệu quan trọng nhất có tác dụng hỗ trợ, tạo điều kiện chohọc sinh tự học, tự tiếp thu tri thức lịch sử cần thiết cho bản thân Ngoài ra, sáchgiáo khoa còn tạo điều kiện cho người học có thể tự kiểm tra, tự đánh giá kiếnthức, kỹ năng, tự khẳng định khả năng của mình Sách giáo khoa không chỉ cungcấp kiến thức mới, cơ bản cho học sinh mà còn củng cố những hiểu biết đã có,kiểm tra đánh giá, tra cứu, tham khảo, ứng dụng, góp phần hình thành và pháttriển các kỹ năng, phương pháp giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh
Về giáo dục tư tưởng, thái độ, tình cảm, sách giáo khoa góp phần chủ yếu
trong nhiệm vụ giáo dục đạo đức, thẩm mỹ và nhân cách Từ các hiện tượng lịch
sử cụ thể, những con người, nhân vật cụ thể đã khơi dậy trong trái tim học sinhnhững tình cảm đạo đức đúng đắn…biết yêu ghét và vươn tới lý tưởng sống mộtcách có ý thức
Trang 36Như vậy, sách giáo khoa Lịch sử ở trường phổ thông có ý nghĩa đối với việc
phát triển toàn diện học sinh Có thể nói, sách giáo khoa chính là “người bạn đồng hành” cần thiết đối với học sinh trong suốt quá trình “cắp sách đến trường”.
Ở Việt Nam, sách giáo khoa là bộ sách được sử dụng chính thức, thốngnhất, ổn định trong giảng dạy, học tập và đánh giá học sinh ở nhà trường và các
cơ sở giáo dục phổ thông khác Tính pháp lý của sách giáo khoa được quy địnhrất rõ trong Luật Giáo dục năm 2005 (khoản 2, điều 29) Vì thế, để nâng caohiệu quả dạy học Lịch sử ở trường phổ thông, sách giáo khoa là phương tiệnquan trọng không thể thiếu
1.1.3.2 Đối với giáo viên
Sách giáo khoa lịch sử ở trường phổ thông là chỗ dựa quan trọng của giáoviên trong quá trình giảng dạy Nói cách khác, sách giáo khoa là tài liệu chính đểgiáo viên có thể sử dụng trong việc chuẩn bị và tiến hành quá trình giảng dạy.Tuy nhiên, có một thực tế là sách giáo khoa thường tĩnh hơn sự phát triển nhanhchóng của khoa học lịch sử Nội dung cơ bản của sách giáo khoa có tính chất ổnđịnh trong một khoảng thời gian nhất định, do đó bao giờ cũng lạc hậu hơn sovới sự phát triển của khoa học lịch sử, dù có viết đầy đủ đến đâu sách giáo khoacũng không thể phản ánh một cách toàn diện và kịp thời với những thành tựucủa khoa học kỹ thuật Vì vậy người giáo viên phải thường xuyên nghiên cứu,tham khảo tài liệu mới để mở rộng, nâng cao trình độ khoa học của mình nhằmlàm cho bài giảng phong phú, sâu sắc, đảm bảo tính hiện đại, cập nhập nhữngkiến thức lịch sử cần truyền thụ cho học sinh Có như vậy mới nâng cao chấtlượng dạy học và thu hút được sự chú ý của học sinh trong giờ học
Hiểu đúng về sách giáo khoa cũng như vai trò, ý nghĩa của nó vừa có ýnghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn, làm cơ sở cho việc giáo viên và học sinh
sử dụng, khai thác sách giáo khoa một cách hiệu quả, góp phần nâng cao chấtlượng bộ môn
Trang 371.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Về phía giáo viên
Qua thực tế giáo dục ở các nhà trường phổ thông, chúng ta thấy rằng: sáchgiáo khoa có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc dạy – học ở trường phổthông Hiểu được tầm quan trọng đó, Đảng, Nhà nước luôn có những chỉ đạo sátsao đối với ngành giáo dục để biên soạn, chỉnh sửa sách giáo khoa phù hợp với
sự phát triển giáo dục và sự nghiệp đổi mới của đất nước Tuy sách giáo khoađược biên soạn theo tinh thần đổi mới, có tính gợi mở, kênh hình tăng lên so vớisách cũ; nhưng vẫn chưa thực sự hấp dẫn, kích thích tư duy sáng tạo của họcsinh, nên hiệu quả đạt được chưa cao
Trong quá trình điều tra chúng tôi đã tiến hành phát 10 phiếu điều tradành cho giáo viên bộ môn lịch sử trường THCS Hoàng Văn Thụ (Thành phốLạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn), trường Phổ thông Dân tộc Nội trú – THCS Bình Gia(huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn) và thu lại được 5 phiếu với những kết quả nhưsau: đa số giáo viên cho rằng, việc học tập lịch sử ở trường phổ thông phải thựchiện các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển theo mục tiêu đào tạo
Câu hỏi 1: Nội dung sách giáo khoa lịch sử hiện hành ở trường THCS có
thể hiện được tính: “hiện đại, cơ bản, phù hợp với thực tiễn Việt Nam”:
Trang 38nguyên tắc: “cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn Việt Nam” Nhưng những
nguyên tắc trên chưa được vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo và triệt đểtrong sách giáo khoa Do đó, khi học sách giáo khoa Lịch sử, học sinh vẫn cảmthấy khô khan, nặng nề
Câu hỏi 2: Nội dung kiến thức trình bày trong các sách giáo khoa lịch sử
Câu hỏi 3: Đánh giá của thầy (cô) về phần mở đầu mỗi bài viết trong
Trang 39Bảng thống kê quan niệm của giáo viên bộ môn lịch sử về cách biên soạn phần mở đầu mỗi bài viết trong sách giáo khoa Lịch sử:
Phần lớn giáo viên Lịch sử ở trường THCS đều cho rằng: nên có thêmphần mở đầu trong mỗi bài học của sách giáo khoa giúp cho học sinh có thể nắmđược những vấn đề chính cần tìm hiểu trong bài học Phần này nên biên soạnngắn gọn, súc tích, hấp dẫn
Câu hỏi 4: Theo thầy (cô) kênh hình trong sách giáo khoa Lịch sử đảm
bảo những yêu cầu:
A Phản ánh nội dung khoa học, phù hợp với kênh chữ
B Màu sắc hài hòa, tươi sáng, gần gũi với tự nhiên
C Hình ảnh phong phú, phản ánh đa dạng nội dung của bài
Câu hỏi 5: Đánh giá của thầy (cô) về câu hỏi kiểm tra trong mỗi bài học:
A Phù hợp với nội dung của bài
B Khó hiểu, dài dòng
C Ngắn gọn, kích thích học sinh suy nghĩ
D Ý kiến khác: ……….…………
Trang 40Bảng thống kê quan niệm của giáo viên bộ môn Lịch sử về cách biên soạn câu hỏi kiểm tra trong mỗi bài học:
Qua điều tra, chúng tôi nhận thấy: các thầy, cô dạy Lịch sử ở trườngTHCS đều đánh giá cao tính khoa học, phù hợp với nội dung bài học của phần
cơ chế sư phạm trong sách giáo khoa Tuy nhiên, các yếu tố hấp dẫn, kích thích
tư duy học sinh trong học tập vẫn còn hạn chế
Câu hỏi 6: Theo thầy (cô) kiến thức nào trong sách giáo khoa lịch sử quá
phức tạp, thiếu chính xác cần sửa chữa:
………Bảng thống kê quan niệm của giáo viên bộ môn Lịch sử về những thiếusót trong việc biên soạn nội dung kiến thức của sách giáo khoa Lịch sử:
Phần lớn các giáo viên đều lựa chọn phương án không và cho rằng: kiếnthức trong sách giáo khoa như vậy là khoa học, chính xác Trong đó, có 20%không đưa ra câu trả lời, 20% đưa ra nhận xét: nhiều sự kiện, mốc thời gian củasách giáo khoa Lịch sử quá chi tiết, vụn vặt gây cản trở cho việc dạy và học
Câu hỏi7: Theo thầy (cô), mỗi bài viết trong sách giáo khoa lịch sử nên