1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng kênh hình trong dạy học Lịch thế giới (1917 – 1945), lớp 11 THPT chương trình chuẩn với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

184 810 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 184
Dung lượng 48,01 MB
File đính kèm Luan van chi Phuong - Lịch sử.rar (9 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ quan niệm các loại phương tiện kĩ thuật cũng là một loại đồdùng trực quan trong DHLS, đồng thời khẳng định việc sử dụng kênh hình trong DH với sự hỗ trợ của CNTT, chúng tôi

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong công cuộc đổi mới đất nước ởViệt Nam hiện nay đòi hỏi giáo dục phổ thông phải đào tạo những con người pháttriển toàn diện theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) Mỗi môn học ở trườngphổ thông với đặc trưng của mình đều góp phần giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ,trong đó có môn Lịch sử (LS)

LS không đơn giản chỉ là quá khứ, mà còn là sự kết tinh những giá trị tinhthần và xã hội sâu sắc, có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục truyền thống, tư tưởngchính trị, đạo đức và phát triển óc thẩm mĩ cho học sinh (HS) Điều này đã được các

nhà giáo dục thời cổ đại đúc kết: “LS là cô giáo của cuộc sống”, “LS là bó đuốc soi đường đi đến tương lai”

Ở nước ta, từ xa xưa ông cha đều quan tâm đến giáo dục LS dân tộc Nhưngthực tiễn của việc dạy – học LS ở trường phổ thông hiện nay lại đang có nhiều vấn

đề khiến dư luận xã hội phải quan tâm Phần lớn HS và phụ huynh các em coi LS là

“môn phụ”, môn học khô khan, không sáng tạo Hệ quả của tư duy không đúng nàyđược phản ánh qua kết quả nhiều kì thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng, nhất là từnăm 2006 đến nay Ví như kì thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng năm 2011, trong bamôn thi khối C, LS đứng ở vị trí “đội sổ”, là môn có điểm thi thấp nhất Theo thống

kê từ điểm thi các trường ĐH cho thấy điểm thi môn LS ở hầu hết các trường thấpđáng lo ngại Hầu hết các trường, tỉ lệ thí sinh đạt điểm thi môn Sử từ trung bình trởlên chỉ chiếm từ 0,3-5% Ở các trường địa phương, điểm thi môn Sử càng đáng báođộng Chẳng hạn, Trường Đại học Tiền Giang, hơn 98% thí sinh có điểm thi môn

Sử dưới trung bình Trường Đai học Quảng Nam, có đến 99% thí sinh có điểm thimôn Sử dưới trung bình, số thí sinh có điểm 5 chưa đếm đủ 10 đầu ngón tay (9 thísinh) Đáng chú ý, tại Trường Đại học Tôn Đức Thắng, trong số 288 thí sinh dự thikhối C chỉ có một điểm 5 môn Lịch sử! Nghĩa là đến hơn 99,6% số bài thi có điểmdưới trung bình…[giaoduc.net.vn] Năm 2012, điểm thi Đại học, Cao đẳng có cảithiện hơn so với năm trước Số bài bị điểm không ít hơn, số bài đạt điểm trung bình

Trang 2

cũng nhiều hơn Tuy nhiên, vẫn còn hơn 160 điểm thi 0 môn LS ở trường Đại họcQuảng Nam Số thí sinh đạt điểm trung bình môn LS ở các trường Đại học QuảngNam, Đà Lạt, Tiền Giang vẫn ít hơn rất nhiều so với thí sinh có điểm từ 1 trởxuống….[kenhtuyensinh.vn]

Lí giải về điểm thi tuyển sinh và sự yếu kém của HS khi học môn LS, nhiềungười cho rằng dung lượng kiến thức trong SGK nhiều, số lượng kênh hình cầnthiết không đủ; Cơ sở vật chất ở trường phổ thông còn nghèo nàn Song, chủ yếuvẫn là phương pháp (PP) tổ chức dạy – học của thầy – trò Giáo viên (GV) chậm đổimới, không tích cực và hưởng ứng các PP cải tiến, trong đó có sử dụng công nghệthông tin (CNTT) vào quá trình dạy học (DH), nhất là bài học có nhiều kênh hình

LS (tranh ảnh, bản đồ, lược đồ, niên biểu, phim tư liệu, )

Bởi vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào nâng cao hiệu quả bài học LS và pháthuy tính tích cực học tập của HS? Từ lâu, đây đã là chủ đề lớn được nhiều ngườiquan tâm nghiên cứu, tất cả đều khẳng định phải đổi mới PPDH theo hướng pháthuy tính tích cực của HS

Trong những năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật,

sự bùng nổ CNTT và truyền thông đã thâm nhập và chi phối hầu hết các lĩnh vựcnghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ trong sản xuất, giáo dục, đào tạo và cáchoạt động chính trị, xã hội khác Do đó, sử dụng CNTT trong DH là một trongnhững hướng đổi mới để nâng cao chất lượng DH

Bộ môn LS ở trường THPT có nhiều ưu thế để ứng dụng CNTT, thực hiệnđổi mới PP và nâng cao hiệu quả bài học LS với hệ thống kênh hình đa dạng, phongphú, đảm bảo tính trực quan trong quá trình nhận thức của HS

Trong chương trình LS thế giới (1917 – 1945), lớp 11 THPT- chương trìnhchuẩn có nhiều nội dung LS, với những sự kiện, hiện tượng, biến cố quan trọng mà

HS cần phải ghi nhớ và nắm vững Giai đoạn LS này có một hệ thống kênh hìnhphong phú, là nguồn kiến thức quan trọng để GV tích hợp CNTT vào giảng dạy.Nếu GV biết khai thác ưu điểm của kênh hình kết hợp với CNTT sẽ góp phần quantrọng vào việc đổi mới PPDH, qua đó nâng cao chất lượng bộ môn

Trang 3

Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn, chúng tôi chọn vấn đề: “Sử dụng kênh hình trong dạy học Lịch thế giới (1917 – 1945), lớp 11 THPT - chương trình chuẩn với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin” làm đề tài luận văn Thạc sĩ,

chuyên ngành Lí luận và PPDH bộ môn LS

2 Lịch sử vấn đề

CNTT và truyền thông có vai trò quan trọng trong đổi mới giáo dục Tuynhiên, việc ứng dụng này trước năm học 2008 – 20091 ở nước ta còn là vấn đề khámới mẻ Những năm gần đây, nhiều nhà giáo dục đã quan tâm nghiên cứu và ứngdụng CNTT trong DH

Xuất phát từ quan niệm các loại phương tiện kĩ thuật cũng là một loại đồdùng trực quan trong DHLS, đồng thời khẳng định việc sử dụng kênh hình trong

DH với sự hỗ trợ của CNTT, chúng tôi xin khái quát những công trình, bài viết…

có liên quan đến đề tài gồm ba nhóm chính:

2.1 Những tài liệu viết về lí luận DH nói chung, PP sử dụng đồ dùng trực quan trong DH nói riêng.

Từ thế kỉ XVI – XVII, J.A Cômenxki, nhà giáo dục học người Tiệp Khắc

(nay là Cộng hòa Séc) là người đầu tiên đưa ra yêu cầu phải “đảm bảo tính trực quan trong DH”, coi đó là “quy tắc vằng ngọc” của GV Ông cho rằng “cần tận dụng mọi giác quan của HS để chúng có thể sờ, mó, ngửi, nhìn, nghe, nếm những thứ cần thiết trong phạm vi có thể” vì “sẽ không có gì trong trí tuệ nếu trước đó nó chưa có gì trong cảm giác” [5; 21-22]

Theo K Đ Usinxki, nhà giáo dục học người Nga thì “tính trực quan phải là

cơ sở quan trọng nhất của việc DH”, vì những hình ảnh đặc biệt được giữ lại trong

óc HS đều thu thập được thông qua trực quan Ông đánh giá và đề cao đồ dùng trựcquan, là cái ban đầu và nguồn gốc của mọi tri thức, cảm giác, cung cấp tài liệu chohoạt động trí tuệ của con người [5;52]

Cuốn “Những cơ sở lí luận của việc DH”, tập 1 (1971), Rutxo nhấn mạnh

“Đồ vật, đồ vật – hãy đưa ra đồ vật Tôi không ngừng nhắc đi, nhắc lại rằng chúng

ta lạm dụng quá mức lời nói Bằng cách giảng dạy ba hoa, chúng ta chỉ tạo nên

1 Năm học 2008 – 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định đặt tên là “Năm CNTT” nhằm đẩy mạnh phong

Trang 4

những con người ba hoa”, ông đã đề cao PP trực quan trong DH Theo ông “người thầy nên sử dụng đồ dùng trực quan để HS tự giác lĩnh hội tri thức, thông qua các hoạt động thực hành, thực nghiệm sẽ có tác dụng to lớn trong việc giáo dục trí tuệ

và nhân cách cho HS” [5; 30 - 31].

Trong những công trình của các nhà giáo dục như: “Những cơ sở của lí luận DH”, tập II của B.P Êxipốp (1972) [5]; “Giáo dục học”, tập II của T.A.Ilina [44], “DH nêu vấn đề” của I Ia Lecne [50],… đều nhấn mạnh vai trò, ý nghĩa của việc

sử dụng đồ dùng trực quan nói chung, phương tiện kĩ thuật nghe - nhìn nói riêngtrong DH

Ở nước ta, một số nhà giáo dục cũng viết nhiều công trình, tài liệu về PP sửdụng đồ dùng trực quan, phương tiện, kĩ thuật góp phần nâng cao hiệu quả DH

Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt trong cuốn “Giáo dục học”, tập I [70] đã nêu

khái quát vai trò, ý nghĩa các loại đồ dùng trực quan được sử dụng trong DH, ưuđiểm, nhược điểm và PP sử dụng từng loại

Thái Duy Tuyên trong cuốn “Giáo dục học hiện đại” đã cho rằng PP sử dụng đồ dùng trực quan có ưu điểm là “nâng cao hiệu quả bài học nhờ những biểu tượng rõ ràng, phát triển tư duy trực quan hình tượng, trí nhớ” [80; tr.233]

Đặng Thành Hưng trong tác phẩm “Dạy học hiện đại lí luận – biện pháp – kĩ thuật” [27], đã nêu lên kĩ thuật sử dụng và khai thác các phương tiện DH trên lớp

trong đó có đồ dùng trực quan

Ngoài ra, trong một số công trình của các nhà giáo dục học, như: “Những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại” của Thái Duy Tuyên (1999) [77]; “Giáo dục học” tập 1 của Trần Thị Tuyết Oanh (2006) [69]; … cũng đều khẳng định vai

trò và ý nghĩa của đồ dùng trực quan đối với việc DH

Như vậy, việc sử dụng đồ dùng trực quan để hướng dẫn HS học tập qua đóphát triển tư duy người học đã được các nhà giáo dục ở trong và ngoài nước rất coitrọng Tất cả đều khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng đồ dùng trực quanđối với việc DH, đồng thời nêu lên những biện pháp sử dụng nhằm nâng cao chấtlượng DH

Trang 5

2.2 Những tài liệu viết về lí luận DH môn LS và PP sử dụng đồ dùng trực quan trong DHLS.

Do đặc trưng của việc dạy – học LS là cần phải có tính hình ảnh, trực quan,nên các nhà giáo dục bộ môn càng đề cao vai trò của đồ dùng trực quan với quátrình dạy – học

Tiến sĩ N.G.Đairi trong cuốn “Chuẩn bị giờ học LS như thế nào?” đã nhấn mạnh: “sử dụng tài liệu trực quan như là một nguồn nhận thức, đem lại tính cụ thể

và hình ảnh của sự kiện, có giá trị lớn lao vì chúng cho phép hình dung lại quá khứ” [19; tr.9, 25]

Từ những năm 70 của thế kỉ XX, nhiều nhà giáo dục LS nước ta rất coi trọng

việc sử dụng các loại thiết bị, đồ dùng trực quan trong DH Trong cuốn “Đồ dùng trực quan trong DHLS ở trường phổ thông cấp II” của Phan Ngọc Liên, Phạm Kỳ

Tá (1975) [51] đã trình bày hệ thống đồ dùng trực quan, về vai trò, ý nghĩa, đặctrưng của các loại đồ dùng trực quan trong DHLS và đưa ra các nguyên tắc chọn, sửdụng sao cho phù hợp

Trong cuốn “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn LS” [7], [14] của

Nguyễn Thị Côi (Chủ biên) Tác giả đã dành một chương khá chi tiết về rèn luyện

kĩ năng xây dựng và sử dụng đồ dùng trực quan trong đó có sử dụng CNTT Sáchnêu rõ các bước tiến hành, kĩ năng khai thác từ các kênh hình có trong SGK và kênhhình bên ngoài SGK bằng CNTT [7;tr 86 - 93]

Cuốn “Một số chuyên đề về PPDHLS” của Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình

Tùng, Nguyễn Thị Côi (đồng chủ biên) đã khẳng định: Đồ dùng trực quan nếu được

sử dụng tốt sẽ huy động được sự tham gia của nhiều giác quan, sẽ kết hợp chặt chẽhai hệ thống tín hiệu với nhau: tai nghe, mắt thấy, tạo điều kện cho HS dễ hiểu, nhớlâu, gây được những mối liên hệ thần kinh tạm thời khá phong phú, phát triển ở HSnăng lực chú ý, quan sát, hứng thú [56;40]

Cuốn “Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả DHLS ở trường phổ thông” của Nguyễn Thị Côi, tác giả cho rằng: Một trong những biện pháp để nâng

cao hiệu quả bài học là việc trình bày hình ảnh gây xúc cảm LS cho HS Nguồn gốc,phương tiện tạo nên hình ảnh về sự kiện, con người quá khứ trong DHLS là lời nói

Trang 6

của GV và HS, tranh ảnh, bản đồ, các đoạn trích từ tác phẩm văn học, nghệ thuật,phim ảnh, … [11; 91-93] Như vậy, tác giả cũng đã khẳng định vai trò quan trọngcủa việc sử dụng đồ dùng trực quan trong DHLS.

Cuốn “PPDHLS”, tập II do Phan Ngọc Liên chủ biên nhấn mạnh “… đồ dùng trực quan góp phần to lớn nâng cao chất lượng kì học LS, gây hứng thú học tập cho HS Nó là chiếc “cầu nối” giữa quá khứ với hiện tại” [60;tr 44].

Cuốn “Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong SGK LS lớp 11 THPT” của

Nguyễn Thị Côi (chủ biên) (2012) [16] Bộ sách này đã cung cấp cho GV nội dung

và PP sử dụng của từng kênh hình trong từng bài Khi đề xuất sử dụng từng kênhhình, tác giả đã kết hợp nêu câu hỏi gợi mở vấn đề để hướng dẫn HS tự tìm hiểu vàrút ra kết luận, nhằm phát huy hoạt động tích cực, gây hứng thú cho HS trong quátrình học tập…

Như vậy, các tài liệu, công trình nêu trên đều ít nhiều nhấn mạnh đến con

đường nhận thức của HS trong học tập nói chung, môn LS nói riêng là phải đi “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”.

Trong con đường nhận thức ấy, đồ dùng trực quan luôn đóng vai trò quan trọng, là

điểm tựa và “chiếc cầu nối” giúp HS tái hiện quá khứ LS.

2.3 Những tài liệu viết về ứng dụng CNTT trong DH nói chung, về việc sử dụng kênh hình trong DHLS có sự hỗ trợ của CNTT nói riêng.

Từ những thập niên cuối của thế kỉ XX, việc tìm hiểu về vai trò, ý nghĩacũng như đề xuất các biện pháp ứng dụng CNTT để nâng cao chất lượng giáo dục,đào tạo đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm như Mĩ, Anh, Pháp, Nhật Bản,Hàn Quốc,…

Ở Việt Nam, cuối những năm 90 của thế kỉ XX, một số nhà giáo dục bướcđầu nghiên cứu về việc sử dụng các loại thiết bị, phương tiện kĩ thuật hiện đại vào

đổi mới PP, nâng cao chất lượng DH các bộ môn Tiêu biểu như: “Mấy quan điểm

sử dụng máy tính điện tử như là công cụ DH” của Nguyễn Bá Kim và Đỗ Thị Hồng Ánh (1998) [47]; “Đổi mới PP giảng dạy bằng CNTT – xu thế của thời đại” (1999) của Quách Tuấn Ngọc [66]; “CNTT với công tác thiết bị DH ở trường trung học” của Nguyễn Sĩ Đức và Đặng Thành Hưng (2007) [20];… Các tài liệu, bài viết

Trang 7

trên đều khẳng định xu thế phát triển tất yếu của việc ứng dụng CNTT trong nềngiáo dục hiện đại, đồng thời còn nêu những vấn đề có tính định hướng chung vềnhững nguyên tắc, yêu cầu, quy trình, những mặt tích cực, hạn chế,… trong việc sửdụng phương tiện DH này, từ đó đã khẳng định sự cần thiết phải tích hợp nhữngthành tựu của CNTT vào đổi mới PP để nâng cao chất lượng giáo dục Tuy vậy,việc ứng dụng CNTT và truyền thông vào DHLS còn khá mới mẻ, chỉ thực sự đượcquan tâm trong vài năm gần đây:

Nhiều nhà giáo dục LS đã có một số tài liệu, bài viết giới thiệu về vai trò, ýnghĩa và thực trạng ứng dụng CNTT trong DHLS nói chung, về việc sử dụng kênhhình trong DHLS có sự hỗ trợ của CNTT nói riêng đã được công bố trên Tạp chíGiáo dục, Tạp chí Thiết bị Giáo dục, một số hội thảo khoa học và đề tài nghiên cứukhoa học các cấp Chuyên gia đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu về lĩnh vực này phải

kể đến hai tác giả: Nguyễn Mạnh Hưởng và Đoàn Văn Hưng

Các bài viết của Nguyễn Mạnh Hưởng như: “Thiết kế và trình diễn trực quan bài giảng Microsoft Powerpoint trong DHLS ở trường phổ thông” (2004) [31]; Sử dụng CNTT và truyền thông vào DHLS ở trường THPT” (2006) [32],… đều nhấn

mạnh đến vai trò của CNTT trong DH, đồng thời tác giả chỉ ra những yêu cầu về PPluận và lí luận DH khi ứng dụng CNTT vào đổi mới PPDH LS ở trường THPT

Bài viết “Sử dụng CNTT góp phần đổi mới PPDHLS ở trường phổ thông” (2007) của Phan Ngọc Liên, Đoàn Văn Hưng khẳng định: “Lời nói có hình ảnh cũng như các loại đồ dùng trực quan hiện vật, tranh ảnh, bản đồ, , các phương tiện này đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm tính trực quan và tạo biểu tượng LS chân thực chân thực cho HS” [59; 23]

Nguyễn Mạnh Hưởng trong bài viết “Các biện pháp nâng cao hiệu quả bài học LS ở trường THPT với sự hỗ trợ của CNTT”, (2008) [34] đã khẳng định vai trò

của CNTT trong DHLS, đồng thời nêu lên một số biện pháp chủ yếu, có hiệu quảkhi ứng dụng CNTT vào đổi mới PPDHLS ở trường THPT hiện nay

Bài viết “Một số biện pháp hướng dẫn HS khai thác hiệu quả lược đồ giáo khoa điện tử trong DHLS ở trường phổ thông” (2011) của Nguyễn Mạnh Hưởng có nêu: “Ngoài việc hướng dẫn HS tìm hiểu kiến thức bài mới qua trình chiếu tranh

Trang 8

ảnh, lược đồ, niên biểu LS, GV cũng có thể ứng dụng CNTT để tổ chức cho các em khai thác kiến thức LS qua các đoạn phim tư liệu” [37; 44]

Nguyễn Mạnh Hưởng, “ Hướng dẫn HS khai thác hiệu quả các đoạn phim tư liệu trong DHLS ở trường phổ thông” (2011), tác giả đã trình bày khái quát các biện pháp sử dụng đoạn phim tài liệu trong DHLS Tác giả cũng nhấn mạnh: “Sử dụng các đoạn phim tài liệu khoa học trong DHLS là biện pháp quan trọng góp phần vào đổi mới PP và nâng cao chất lượng bộ môn” [36;40].

Ngoài ra vấn đề này còn được trình bày trong các Luận văn, Luận án Tiến

sĩ như: Đề tài luận văn Thạc sĩ: “Khai thác và sử dụng tài liệu trên mạng Internet

để DHLS ở trường THPT” của Đoàn Thị Kiều Oanh (2003) [68] đã thể hiện một

bước đáng kể về nhận thức, vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng CNTT và PP tiếnhành trong DHLS trên cơ sở đảm bảo sự phù hợp nội dung, chức năng và đặctrưng của bộ môn

Hay như Luận án Tiến sĩ:“Sử dụng phần mềm Microsoft Powerpoint trong DH bài nghiên cứu kiến thức mới phần LSTG lớp 10 – chương trình chuẩn” của Đoàn Văn Hưng 2009 [30] đã nghiên cứu lý luận và thực tiễn sử dụng

phần mềm Microsoft Power Point trong DHLS ở trường THPT, sử dụng phần mềmMicrosoft powerpoint hỗ trợ việc thiết kế bài nghiên cứu kiến thức mới, đồng thời

đề xuất các biện pháp sử dụng

Đặc biệt là Luận án Tiến sĩ “Nâng cao chất lượng môn LS ở trường THPT với sự hỗ trợ của CNTT (Qua thực nghiệm sư phạm ở một số tỉnh/ thành phố đồng bằng Bắc Bộ) của Nguyễn Mạnh Hưởng (2010) [38], đã đi sâu nghiên cứu về

vai trò, ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT trong DH, đồng thời đề xuất nhiều biệnpháp ứng dụng CNTT trong các giờ học nội khóa, ngoại khóa để góp phần nângcao hiệu quả DH bộ môn;…

Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đều tập trung khẳng định vai trò,

ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT trong DHLS và đưa ra một số biện pháp, thao tác

sử dụng trong giảng dạy LS

Tuy nhiên, hướng đi sâu vào đề tài chúng tôi nghiên cứu thì chưa có côngtrình nào Vì vậy, những công trình nghiên cứu, bài viết,… của các tác giả nói trên

Trang 9

là những cơ sở quan trọng, nguồn tài liệu quý báu để chúng tôi đi sâu thực hiện đềtài này.

Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm:

- Tiếp tục làm rõ vai trò, ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT trong DHLS ởtrường THPT

- Khảo sát, điều tra thực tiễn sử dụng kênh hình trong DHLS ở trường THPTvới sự hỗ trợ của CNTT

- Đề xuất các hình thức, biện pháp sử dụng kênh hình trong DHLS thế giới(1917 – 1945) lớp 11 THPT - chương trình chuẩn với sự hỗ trợ của CNTT theohướng phát huy tính tích cực của HS

- Thực nghiệm sư phạm (TNSP) để khẳng định tính khả thi của đề tài và rút

ra kết luận, kiến nghị

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình sử dụng kênh hình trongDHLS ở trường THPT với sự hỗ trợ của CNTT

3.2 Luận văn không đi sâu vào các lĩnh vực thuộc về kĩ thuật, công nghệ mà

trên cơ sở nghiên cứu lí luận liên quan đến đề tài, chúng tôi sẽ đề xuất các hìnhthức, biện pháp sử dụng kênh hình trong DHLS với sự hỗ trợ của CNTT, trọng tâm

là hình thức nội khóa, loại bài học nghiên cứu kiến thức mới

Tác giả chọn phần LS thế giới (1917 - 1945), lớp 11 THPT – chương trìnhchuẩn để vận dụng các biện pháp do mình đề xuất, được cụ thể hóa thông qua TNSP

Bài 13: “Nước Mĩ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 – 1939)”

4 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

4.1 Trên cơ sở nghiên cứu về lí luận và thực tiễn, đề tài tiếp tục khẳng địnhvai trò, ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT trong DHLS Đồng thời, chúng tôi đề xuấtcác biện pháp sử dụng kênh hình trong DHLS với sự hỗ trợ của CNTT, vận dụngvào phần LS thế giới giai đoạn (1917 - 1945), lớp 11 THPT - chương trình chuẩn

4.2 Để đạt được mục đích trên, đề tài sẽ giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề liên quan tới lí luận DH nói chung, tíchhợp CNTT vào DHLS nói riêng

Trang 10

- Khảo sát, điều tra tình hình sử dụng kênh hình trong DHLS ở trường THPTvới sự hỗ trợ của CNTT (thông qua phát phiếu thăm dò, phỏng vấn, dự giờ, thu thậpcác tài liệu,…)

- Tìm hiểu, nghiên cứu nội dung và chương trình SGK THPT, nhất là phần

LS thế giới (1917 - 1945), lớp 11 THPT - chương trình chuẩn để xác định mục tiêu,kiến thức cơ bản, liệt kê các loại kênh hình trong và ngoài SGK có liên quan đến bàidạy cần sử dụng với sự hỗ trợ của CNTT

- Đề xuất các hình thức, biện pháp sử dụng kênh hình phần LS thế giới (1917– 1945), lớp 11 THPT - chương trình chuẩn với sự hỗ trợ của CNTT

- Soạn giáo án và TNSP Bài 13: “Nước Mĩ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 – 1939)”, theo các biện pháp đã đề xuất nhằm khẳng định tính khả thi của đề

tài và rút ra kết luận, kiến nghị

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở PP luận của đề tài dựa trên những quan điểm, nhận thức của chủnghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, Nhà nước ta vềcông tác giáo dục LS, đào tạo thế hệ trẻ Ngoài ra, đề tài còn dựa vào quan điểm líluận DH của Giáo dục học, Tâm lí học, PPDHLS ,

5.2 Bên cạnh việc tuân thủ những nguyên tắc nghiên cứu khoa học nóichung, do nội dung và tính chất của đề tài, chúng tôi sử dụng chủ yếu các PP nghiêncứu khoa học giáo dục, gồm:

- Nghiên cứu các nguồn tài liệu về Tâm lí học, Giáo dục học,… đặc biệt là líluận DH bộ môn liên quan đến việc sử dụng đồ dùng trực quan trong DHLS

- Sử dụng PP khảo sát, điều tra thực trạng sử dụng kênh hình trong DHLS ởtrường THPT với sự hỗ trợ của CNTT ở một số tỉnh/thành của cả nước

- Tìm hiểu, nghiên cứu chương trình SGK LS lớp 11 THPT – chương trìnhchuẩn để xác định vị trí, kiến thức trọng tâm, kênh hình,… Trên cơ sở đó đề xuấtcác hình thức, biện pháp sử dụng kênh hình với sự hỗ trợ của CNTT để nâng caohiệu quả bài học

- TNSP và rút ra nhận xét, kết luận

- Sử dụng PP toán học thống kê để phân tích, đánh giá kết quả TNSP,…

Trang 11

6 Giả thuyết khoa học

Ứng dụng CNTT trong DH nói chung, môn LS nói riêng là một xu thế tất yếucủa nền giáo dục hiện đại Nếu GV có quan niệm đúng đắn về việc sử dụng kênh hìnhtrong DHLS với sự hỗ trợ của CNTT, nắm vững lí luận bộ môn và áp dụng hiệu quảcác biện pháp sư phạm theo những đề xuất của luận văn, đảm bảo các yêu cầu và PPluận mà luận văn đã nêu sẽ góp phần nâng cao chất lượng DH nói chung, phần LS thếgiới (1917 - 1945), lớp 11 THPT – chương trình chuẩn nói riêng

7 Ý nghĩa của đề tài

7.1 Ý nghĩa lí luận: Đề tài góp phần nâng cao nhận thức của chúng tôi về líluận DH nói chung và DH bộ môn LS nói riêng, đặc biệt là vai trò, ý nghĩa và cáchình thức, biện pháp việc sử dụng kênh hình trong DHLS ở trường THPT với sự hỗtrợ của CNTT

7.2 Ý nghĩa thực tiễn: Thực hiện đề tài này không chỉ giúp chúng tôi hiểu rõtầm quan trọng của việc đổi mới PP DHLS ở trường phổ thông cần phải có sự hỗ trợcủa CNTT, mà những kết quả nghiên cứu còn được vận dụng vào thực tiễn DHLS ởtrường phổ thông góp phần nâng cao hiệu quả DH Đây cũng là tài liệu tham khảo cầnthiết cho sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và các đồng nghiệp

8 Đóng góp của Luận văn

- Tiếp tục làm rõ vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng kênh hình trong DHLS ởtrường THPT với sự hỗ trợ của CNTT

- Cung cấp thêm các số liệu điều tra, khảo sát về thực trạng sử dụng kênhhình trong DHLS ở trường THPT với sự hỗ trợ của CNTT

- Đề xuất các hình thức, biện pháp sử dụng kênh hình trong DHLS thế giới(1917 – 1945), lớp 11 THPT – chương trình chuẩn với sự hỗ trợ của CNTT

9 Cấu trúc của Luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn gồmhai chương nội dung:

Chương 1 Sử dụng kênh hình trong DHLS ở trường THPT với sự hỗ trợ của

CNTT Lí luận và thực tiễn

Chương 2 Hình thức, biện pháp sử dụng kênh hình trong DHLS thế giới

(1917 – 1945), lớp 11 THPT – chương trình chuẩn với sự hỗ trợ của CNTT

Trang 12

NỘI DUNG Chương 1

SỬ DỤNG KÊNH HÌNH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA CNTT LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Một số thuật ngữ, khái niệm cơ bản sử dụng trong đề tài

* Công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Thuật ngữ “Công nghệ thông tin ” viết đầy đủ theo tiếng Anh và viết tắt là

Information Technology – IT Trong hệ thống giáo dục phương Tây, IT được sử

dụng từ rất sớm (cuối những năm 60 – 70 của thế kỉ XX), được biết đến là “ngành ứng dụng công nghệ quản lí và xử lí thông tin”, là “ngành sử dụng máy vi tính và phần mềm máy vi tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền và thu thập thông tin” [google.com.vn] Những người làm việc trong lĩnh vực này thường được

gọi là chuyên gia IT (IT specialist)

Trong hệ thống giáo dục phương Tây, CNTT đã được chính thức tích hợpvào chương trình học phổ thông Người ta đã nhanh chóng nhận ra rằng nội dung vềCNTT đã có ích cho tất cả các môn học khác

Ở Việt Nam, khái niệm IT được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết 49/CP

kí ngày 04/8/1993 về phát triển công nghệ thông tin của Chính phủ Việt Nam như

sau: “CNTT là tập hợp các PP khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại, chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông, nhằm tổ chức khai thác và sử dụng

có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội” [38; tr.17].

Như vậy, CNTT là một khái niệm rộng, bao gồm toàn bộ nội dung về máy vitính, các phần mềm tin học, chương trình ứng dụng, mạng Internet… CNTT đượcxem là một lĩnh vực khoa học rộng lớn nghiên cứu các khả năng và các PP thu thậplưu trữ, truyền và xử lí thông tin một cách nhanh chóng, hoàn toàn tự động dựa trêncác phương tiện, kĩ thuật hiện đại

Trang 13

Những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của CNTT đã ảnh hưởng sâu sắctới giáo dục và đào tạo và đặc biệt là trong đổi mới PPDH theo hướng phát huy tínhtích cực của HS Ứng dụng CNTT trong DH được xem như là một công cụ (phươngtiện) hỗ trợ Theo nghiên cứu của các chuyên gia giáo dục, hiện nay trên thế giớiđang có 3 xu hướng ứng dụng CNTT [22;tr.238]

Một là, CNTT là phương tiện của người GV Trong đó người GV sử dụng

CNTT phục vụ trực tiếp cho việc thiết kế và thể hiện bài giảng của mình trên lớptrước HS Hình thức DH vẫn là dạy trực tiếp, mặt giáp mặt Tương tác giữa GV và

HS là tương tác trực tiếp Theo cách này, đã quen gọi đó là “bài giảng điện tử”.Hướng sử dụng này sẽ làm hạn chế tính năng của CNTT trong giáo dục, vì nó mớichỉ được GV khai thác dưới góc độ là công cụ, phương tiện phục vụ cho người dạy,còn người học thì thụ động, chưa được khai thác triệt để

Hai là, CNTT là công cụ, phương tiện dạy – học của cả thầy và trò Ở đây,

GV sẽ sử dụng CNTT để tìm kiếm tài liệu hỗ trợ DH và thiết kế, sử dụng giáo án

điện tử (GAĐT), còn HS sử dụng CNTT làm phương tiện “trả bài” theo yêu cầu

của GV Hình thức DH vẫn là dạy trực tiếp, mặt giáp mặt Tương tác giữa GV và

HS là tương tác trực tiếp Hướng này bắt đầu được thí điểm ở Việt Nam từ năm

2004 với “Chương trình DH của Intel”

Ba là, CNTT là môi trường học tập mới, môi trường học tập ảo Theo đó, các

cơ sở giáo dục có thể sử dụng CNTT phục vụ cho hình thức đào tạo qua mạng,

“Đào tạo từ xa” GV và HS không nhất thiết phải “giáp mặt” nhau trên lớp, có thể

dạy – học cách xa hàng nghìn km Khi tham gia môi trường học tập này, người học

sẽ là chủ thể của hoạt động, họ phải tự học, trả bài qua mạng theo yêu cầu của GV.Lúc này, CNTT không còn đơn thuần là phương tiện DH nữa

Trong 3 xu hướng nêu trên, Việt Nam đang thịnh hành hướng thứ nhất do hệthống cơ sở hạ tầng của nước ta chưa thể đáp ứng yêu cầu để GV và HS ứng dụngCNTT theo hướng sử dụng thứ hai và thứ ba Bên cạnh đó, GV chưa được trang bịđầy đủ về nhận thức, kĩ năng, các biện pháp và nghiệp vụ sư phạm ứng dụng CNTTtrong DH

Trang 14

Hình 1.1: Sơ đồ ba xu hướng ứng dụng CNTT trong DH

* Kênh chữ và kênh hình

- Kênh chữ là những thông tin thành văn chủ yếu được dùng trong SGK đểtrình bày nội dung tri thức môn học, chỉ

dẫn về PP học tập và kiểm tra, đánh giá kết

quả học tập Trong SGK nói chung, môn

LS nói riêng, “kênh chữ” chiếm phần lớn

nội dung Đó là những sự kiện, hiện tượng

LS, niên đại, nhân vật LS, những khái

niệm, qui luật, bài học LS cơ bản, giúp HS

nắm vững nội dung LS cơ bản, hiểu được

bản chất của LS

Nội dung kiến thức trong “kênh chữ” là cơ sở để GV hiểu rõ “kênh hình” và

đi đến truyền tải nội dung kiến thức trong “kênh hình” đến HS

- Kênh hình hỗ trợ DH nói chung, môn LS ở trường phổ thông nói riêngkhông chỉ là công cụ, phương tiện chứa đựng, chuyển tải lượng thông tin tới GVtrong quá trình giảng dạy, mà còn là nguồn tri thức phong phú đa dạng, nhằm pháttriển trí tuệ, nâng cao năng lực nhận thức cho HS Sử dụng kênh hình trong DH hiệuquả sẽ góp phần quan trọng vào đổi mới PP dạy – học của thầy và trò, chống lại

việc “dạy chay”, “học chay”, một tình trạng khá phổ biến trong DHLS ở nhiều

trường phổ thông hiện nay

Theo chức năng và mục đích sử dụng, các nhà giáo dục và tác giả viết sáchgiáo khoa (SGK) LS đã chia làm 4 loại kênh hình chủ yếu: kênh hình dùng để cụ

GV

Trang 15

thể hóa nội dung một sự kiện LS quan trọng trong bài học; kênh hình có nhiệm vụcung cấp thông tin cho HS (thường là các tranh ảnh tư liệu LS); kênh hình vừa cungcấp thông tin, vừa minh họa cho kênh chữ trong SGK, thường kèm theo một sốthông tin bên cạnh để HS tự đọc và tìm; kênh hình dùng để rèn luyện kĩ năng thựchành, kiểm tra kiến thức HS.[37; tr.18 - 20].

Dù là loại kênh hình nào, chúng đều có đặc điểm chung là phải phản ánhđúng đối tượng nghiên cứu, phù hợp với nội dung trình bày ở “kênh chữ” trongSGK, không có những thông tin sai lệch về mặt khoa học, đảm bảo tính thẩm mĩ,mang tính giáo dục và có tác dụng phát triển trí tuệ đối với HS Mặt khác, để thuậntiện cho GV nghiên cứu bài viết trong SGK và HS chuẩn bị bài học ở nhà, học tậptrên lớp, các kênh hình LS bao giờ cũng được đặt cạnh ngay phần “kênh chữ”, cónội dung tương ứng, có bố cục cân đối và được đánh số thứ tự từ hình 1 cho đếnhình cuối cùng

* Mối quan hệ giữa kênh hình và kênh chữ trong DHLS

Cấu tạo của SGK LS ở trường phổ thông hiện nay gồm hai phần cơ bản làkênh chữ và kênh hình, có mối quan hệ mật thiết với nhau Nếu “kênh chữ” là nhữngnội dung cơ bản của bài học được diễn đạt bằng lời thì “kênh hình” là những loại đồdùng trực quan được in sẵn trong SGK, có vị trí quan trọng nhằm tái hiện LS

Kênh hình trong SGK có chức năng chủ yếu nhằm đa dạng hóa nguồn cungcấp kiến thức, tạo hình ảnh giúp HS lĩnh hội kiến thức một cách sinh động, làm chobài giảng thêm phần hấp dẫn

Kênh hình luôn gắn liền với nội dung kênh chữ nhằm tạo nên một tổ hợpkiến thức LS phong phú, ngoài ra kênh hình còn có tác dụng cụ thể hóa, minh họakiến thức, nội dung kênh chữ Có thể nói, kênh hình và kênh chữ là hai thành phầnchủ yếu cấu tạo nên SGK, có mối quan hệ mật thiết với nhau Nội dung kiến thứctrong kênh chữ là cơ sở để GV hiểu rõ kênh hình và lựa chọn PP chuyển tải nộidung kiến thức trong kênh hình đến HS Ngược lại, kiến thức trong kênh hình dùng

để cụ thể hóa, làm phong phú, sâu sắc và khắc sâu thêm nội dung kiến thức chứađựng trong kênh chữ Nội dung kiến thức trong hai hệ thống kênh chữ và kênh hình

bổ sung và hỗ trợ cho nhau tạo nên một tổ hợp kiến thức LS phong phú, đa dạng

Trang 16

Trong quá trình DH với vai trò của mình, GV có nhiệm vụ tổ chức, hướng dẫn, điềukhiển HS tích cực tham gia lĩnh hội tri thức thông qua việc sử dụng kênh hình trongSGK một cách có hiệu quả, từ đó giúp các em hiểu rõ nội dung, bản chất của sựkiện, hiện tượng LS, hình thành khái niệm và góp phần giáo dục thái độ, tình cảm,

tư tưởng, đạo đức cho HS

Như vậy, trong quá trình DH, kênh chữ và kênh hình có mối quan hệ mậtthiết với nhau, thể hiện mối quan hệ giữa nội dung và PP Do đó, trong quá trình

DH chúng ta không thể xem nhẹ một “kênh” thông tin nào cả mà phải phối hợp sửdụng sao cho có hiệu quả, nhằm đạt được mục đích trong quá trình DH

Ngoài những kênh hình có sẵn trong SGK còn có những số liệu, dữ liệu cótác dụng tạo nên hình ảnh cho HS, giúp GV xây dựng nên những đồ dùng trực quanmới dưới dạng sơ đồ hóa kiến thức để phục vụ giảng dạy Những kênh hình như vậy

có thể gọi là kênh hình “chìm” trong SGK Cả hai loại kênh hình này đều có ý nghĩa

sử dụng như nhau trong quá trình DHLS

* Sự khác nhau giữa kênh hình trong DHLS và kênh hình ở các bộ môn khác.

Về cơ bản, tất cả các loại kênh hình trong DH đều giống nhau ở chỗ là một

bộ phận kiến thức của bài học, một dạng phương tiện DH, đồng thời cũng làphương tiện trực quan và là đối tượng học tập của HS Đồng thời, thông qua việc sửdụng các kênh hình, GV giúp HS đào sâu tri thức đã lĩnh hội được và kích thíchhứng thú học tập, nâng cao năng lực quan sát, phân tích, tổng hợp để rút ra nhữngkết luận cần thiết Kênh hình tạo điều kiện thuận lợi cho GV có thể trình bày bàigiảng một cách tinh giản, đầy đủ, sâu sắc và điều khiển hoạt động nhận thức của HScũng như kiểm tra, đánh giá kết quả học tập thuận lợi hơn, có hiệu quả hơn

Nhưng do đặc trưng của các môn học khác nhau nên việc sử dụng kênh hình

và tác dụng của nó cũng khác nhau Đối với các môn khoa học tự nhiên, kênh hìnhgiúp HS tái hiện lại sự kiện một cách dễ dàng bằng thí nghiệm, hoá chất, hình học

Có nghĩa là các sự kiện có thể “lặp lại” trong phòng thí nghiệm nhưng với LS, sựkiện chỉ xảy ra một lần trong quá khứ và không lặp lại, không thể tiến hành thínghiệm LS để dựng lại quá khứ cho HS quan sát Vì vậy, việc tái hiện sự kiện đã

Trang 17

xảy ra trong quá khứ một cách tỉ mỉ là không thể, GV chỉ có thể giúp HS nhận thứcđược LS thông qua hệ thống kênh hình, qua việc tạo biểu tượng.

Ngoài các điểm khác nhau ở trên, PP sử dụng kênh hình giữa bộ môn LS vàcác môn học khác cũng có sự khác biệt Ở một số môn học (Địa lý, Sinh học, Hoáhọc,…), GV sử dụng kênh hình chủ yếu để minh hoạ, miêu tả, hoặc giải thíchnhững điều thường xuyên diễn ra Ví dụ, trong DH Địa lý đó là hiện tượng khí hậu,địa hình, dân cư, những hiện tượng này diễn ra hàng ngày và lặp lại Hay trong Sinhhọc là sự sinh trưởng của sự vật, đặc điểm tâm lý, vì thế, kênh hình của các bộ mônnày đưa ra chủ yếu để minh hoạ, khẳng định lại vấn đề, ít có tác dụng phát triển tưduy HS

Với bộ môn LS, ngoài dùng các PP đặc trưng như miêu tả, giải thích, nêuđặc điểm,… GV còn phải biết kết hợp sử dụng nhiều PP khác nhất là sử dụng kênhhình LS để tạo biểu tượng và phát triển tư duy cho HS

1.1.2 Quan niệm về đổi mới PPDH LS với sự hỗ trợ của CNTT

Công cuộc đổi mới của đất nước ta hiện nay đang diễn ra trên mọi lĩnh vựccủa đời sống, trong đó có giáo dục và đào tạo Đổi mới về giáo dục phải bắt đầu từviệc đổi mới về PPDH, có PPDH tốt và hợp lí mới có thể truyền thụ kiến thức mộtcách hiệu quả Vấn đề đổi mới giáo dục nói chung, PPDH nói riêng là yêu cầu cấpthiết trong công cuộc giáo dục Vấn đề này được nêu rõ trong các tài liệu, văn kiệncủa Đảng và Chính phủ trong những năm gần đây như: Nghị quyết Hội nghị Banchấp hành trung ương Đảng lần 4, khoá VII (1993); Hội nghị Ban chấp hành Trungương Đảng lần 2, khoá VIII (1996) và Luật Giáo dục năm 1998 (có sửa đổi và bổ

sung năm 2010),… Vậy, quan niệm thế nào là đổi mới?

Khi đề cập đến thuật ngữ “đổi mới”, người ta thường suy luận phải “thay đổi cái cũ bằng cái mới”, nhưng thế vẫn chưa đủ, vì đổi mới còn có nghĩa làm cho

cái cũ được cải tiến tốt hơn, tiến bộ hơn so với trước Trong thời đại khoa học vàcông nghệ, đổi mới có thể tiến hành bằng hai cách: nghiên cứu để tạo ra cái mới vàtiếp nhận sự chuyển giao công nghệ từ nơi có trình độ cao hơn Song ở nước ta vẫnchưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào về đổi mới PPDH có tầm cỡ quốcgia, cũng chưa có cuộc chuyển giao công nghệ giáo dục nào đáng kể cho tất cả các

Trang 18

bậc học, ngành học Điều này nói lên rằng chúng ta cần phải tìm ra PPDH mới vàthực thi chúng có hiệu quả.

PPDH là một phạm trù của khoa học giáo dục Việc đổi mới PPDH dựa trênnhững cơ sở khoa học và thực tiễn giáo dục Khoa học giáo dục là lĩnh vực rất rộnglớn và phức tạp, có nhiều chuyên ngành khác nhau Vì vậy, việc đổi mới PPDHcũng được tiếp cận dưới rất nhiều cách tiếp cận khác nhau

Qua nhiều cuộc hội thảo từ cuối những năm 90 của thế kỉ XX đến đầu thế kỉXIX, các nhà giáo dục nói chung, giáo dục LS nói riêng đã thống nhất bản chất của

quá trình đổi mới PPDHLS ở các trường phổ thông chuyển từ mô hình “lấy GV làm trung tâm” sang mô hình DH “lấy HS làm trung tâm” Theo đó, đổi mới phải bắt

đầu từ GV, chỉ cho HS cách học, áp dụng PPDH tích cực để các em chủ động trong

nhận thức Đồng thời, phải tổ chức cho các em tự mình phát hiện được vấn đề, tự đề

xuất được cách giải quyết và tự giải quyết [40; tr.39 - 41],…

Dựa trên khái niệm chung về PPDH, có thể hiểu: đổi mới PPDH là cải tiến những hình thức và cách thức làm việc kém hiệu quả của GV và HS, sử dụng những hình thức và cách thức hiệu quả hơn nhằm nâng cao chất lượng DH, phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực của HS [65;tr 55].

Có thể nói, cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động.

Với bộ môn LS ở trường phổ thông việc đổi mới PPDH cần chú trọng vàokhuyến khích HS học tập tích cực, chủ động, chống lại thói quen học tập tiêu cực,thụ động, loại bỏ PPDH truyền thụ một chiều, nhồi nhét kiến thức; phải hướng vàophát triển năng lực tự học của HS, đa dạng hóa các hình thức, PP học tập để tạođiều kiện cho người học được hoạt động tích cực, tự khám phá kiến thức và giảiquyết vấn đề, tự rút ra kết luận trên cơ sở hướng dẫn, tổ chức và gợi ý của GV; phảihướng tới tăng cường sự tương tác, phối hợp giữa người dạy với người học và tăngcường sử dụng các phương tiện kĩ thuật DH hiện đại, đặc biệt là ứng dụng hiệu quảnhững thành tựu của CNTT

Việc ứng dụng CNTT trong DH góp phần giúp cho HS có thói quen tự học,

tự nghiên cứu, tìm hiểu thêm tài liệu ngoài bài giảng của GV ở trường, tìm kiếm tài

Trang 19

liệu bổ ích trên Internet để hỗ trợ cho việc học trên lớp, giúp cho HS hứng thú họctập hơn

Hiện nay, việc đổi mới PPDH với sự hỗ trợ của CNTT xuất hiện hai xu

hướng tiêu biểu:[38; 37-37]

Thứ nhất, khẳng định yếu tố phương tiện, kĩ thuật hiện đại chủ yếu dành cho

GV Theo quan niệm này, “kĩ thuật có thể quyết định tất cả”, nên bài học LS nào

GV cũng sử dụng BGĐT để DH Tiêu biểu cho xu hướng này thường là GV trẻ tuổi

và SV mới ra trường Tuy nhiên, do chưa nắm vững lí luận DH bộ môn, còn hạnchế về nghiệp vụ sư phạm, không biết khai thác ưu điểm và khắc phục hạn chế củayếu tố công nghệ để kết hợp với các PPDH truyền thống, nên những bài dạy có ứng

dụng CNTT của họ thường diễn ra dưới hình thức “trình chiếu”, chưa thể hiện

được mối quan hệ tương tác trong quá trình DH giữa GV với HS và giữa HS vớinhau Kết quả là, HS tuy được nhìn nhiều hình ảnh, nhưng chất lượng về kiến thức,hiệu quả giáo dục và rèn luyện kĩ năng không đáp ứng được mục tiêu DH Do đó,cần loại bỏ quan niệm phiến diện, một chiều coi yếu tố kĩ thuật hiện đại là nhân tốquyết định đối với quá trình DH

Thứ hai, xuất phát từ quan niệm yếu tố kĩ thuật thực chất là một dạng của

phương tiện, đồ dùng trực quan trong DH nên đa số GV bộ môn khẳng định: việccải tiến các PPDH truyền thống cộng với sự phối hợp nhuần nhuyễn trong biện pháp

và thao tác sư phạm thì ứng dụng hiệu quả và có chọn lọc những thành tựu củaCNTT trong DHLS sẽ góp phần tích cực vào đổi mới PP, nâng cao chất lượng bộmôn Đây là quan niệm trái ngược với xu hướng trên, nhưng tiến bộ hơn vì biết kếthừa, cải tiến các PPDH truyền thống đã được thừa nhận từ trước, tiếp thu có chọnlọc PPDH hiện đại với sự hỗ trợ của CNTT Quan niệm này cũng cho rằng, để nângcao chất lượng DHLS thì ứng dụng CNTT là rất cần thiết, song không phải bào họcnào cũng bắt buộc

Mặc dù quan niệm như vậy, nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủquan mà thực tiễn ứng dụng CNTT trong DHLS còn hạn chế GV chưa khai tháchết tính năng tương tác đa chiều và tạo điều kiện để HS ứng dụng công nghệ khihọc bài, trả bài và trao đổi thông tin

Trang 20

Nhu cầu xã hội Kết quả DHĐánh giá DH

MÔI TRƯỜNG KINH TẾ - XÃ HỘI - VĂN HÓA - KHOA HỌC

Chúng ta biết rằng, DHLS ở trường phổ thông là quá trình sư phạm phức tạp.Quá trình đó là tổng hợp của nhiều yếu tố tạo thành như mục tiêu, nội dung, chươngtrình, SGK, phương tiện DH, PPDH, hoạt động của thầy và trò, môi trường DH, kiểmtra đánh giá Mỗi yếu tố đó có vị trí, vai trò nhất định đối với quá trình DHLS ởtrường phổ thông Việc lựa chọn sử dụng, đổi mới PPDH phải được đặt trong mốiquan hệ qua lại giữa các thành tố trên, nhất là với mục tiêu và nội dung Nếu GVxác định đúng mục tiêu và nội dung DH sẽ lựa chọn được hình thức, PPDH hiệuquả Đồng thời, phương tiện DH lại chịu sự chi phối của nội dung và PPDH.Phương tiện DH nếu sử dụng đúng lúc, đúng chỗ và đúng độ sẽ vừa là nguồn trithức, vừa là phương tiện chứa đựng, truyền tải thông tin tới HS Trong mọi hoàncảnh, phương tiện DH là yếu tố quan trọng của quá trình DH, đặc biệt là trong việcđổi mới PPDH nhưng hiệu quả sử dụng của nó lại phụ thuộc phần lớn vào GV

Hình 1.2: Sơ đồ minh họa các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình DH

Như vậy, trong DHLS, CNTT chỉ là một yếu tố của quá trình DH ảnh hưởngtới chất lượng bộ môn, là công cụ (phương tiện) hiện đại hỗ trợ cho quá trình DH

ấy CNTT không chỉ là công cụ, phương tiện hỗ trợ hoạt động dạy của GV mà còn

là công cụ, phương tiện hỗ trợ hoạt động học của HS Đối với GV, CNTT sẽ hỗ trợtích cực cho quá trình tổ chức, hướng dẫn HS học tập, đặc biệt với các bài nghiên

Trang 21

cứu kiến thức mới Với HS, đây được coi là loại đồ dùng trực quan hiệu quả nhất, là

“chiếc cầu nối” giúp các em tái hiện quá khứ, lĩnh hội kiến thức LS mới, thực hiện

tốt nhiệm vụ giáo dục (tư tưởng, tình cảm, hướng thái độ) và phát triển các kĩ nănghọc tập Để làm được điều đó, yêu cầu GV phải biết khai thác và vận dụng triệt đểnhững ưu điểm của CNTT theo đặc trưng môn học, coi CNTT như một công cụ,phương tiện trực quan hỗ trợ cho quá trình DH

1.1.3 Sự cần thiết phải sử dụng kênh hình trong DHLS cùng với sự hỗ trợ của CNTT

Bước sang đầu thế kỷ XXI, xã hội loài người đang đứng trước xu thế toàncầu hóa diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt về kinh tế, về khoa học và công nghệ Trong cáclĩnh vực công nghệ cao thì CNTT là công cụ có tác động mạnh mẽ đến các hoạtđộng của đời sống xã hội, trong đó bao gồm cả lĩnh vực giáo dục - đào tạo, đóngmột vai trò tiên quyết cho sự thành công với hiệu suất cao Đối với giáo dục và đàotạo, CNTT đã và đang tạo ra những thay đổi mang tính đột phá về cuộc cách mạnggiáo dục

Việc đổi mới PPDH có sự hỗ trợ của CNTT được tổ chức văn hóa, giáo dụcthế giới UNESCO đưa ra thành chương trình nghị sự trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI,

dự đoán “sẽ có một sự thay đổi căn bản trong nền giáo dục thế giới đầu thế kỷ XXI

do tác động của CNTT”.

CNTT đã được sử dụng rộng rãi trong các ngành khoa học tự nhiên và trởthành lực lượng trực tiếp sản xuất ra mọi của cải vật chất trong xã hội Ở các nướctiên tiến trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc,… việc sử dụng nhữngcông nghệ này đã được áp dụng từ những năm 70 của thế kỷ XX, đáp ứng được yêucầu, mục đích DH đặt ra Đặc biệt, sự ra đời, phát triển của mạng thông tin Internet

đã tạo ra “sự bùng nổ thông tin”, làm cho khoảng cách về không gian và thời gian

giữa các quốc gia trên thế giới xích lại gần nhau hơn

Ở nước ta, công cuộc đổi mới hiện đang diễn ra khẩn trương trên mọi lĩnhvực của đời sống, trong đó có giáo dục và đào tạo Đổi mới về giáo dục phải bắt đầu

từ đổi mới về PPDH, bởi vì phải có PPDH tốt thì người thầy mới có thể hướng dẫn

HS tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả Trong việc ứng dụng CNTT vào giáo dục– đào tạo, ngay từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX, các nhà giáo dục và giáo dục LS

Trang 22

đã quan tâm đến một số PPDH mới phát huy tính tích cực của HS, nhấn mạnh đến

sự cần thiết phải đổi mới PPDH có sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật: máy vitính, đèn chiếu, băng ghi âm, băng video,…

Trong những đợt tập huấn thay SGK do Bộ GD – ĐT tổ chức hàng năm, cáchội thảo về đổi mới PPDH và nâng cao chất lượng DH ở các môn học những nămgần đây ngày càng có nhiều bài viết đề cập đến sự cần thiết phải ứng dụng CNTTtrong giáo dục, đào tạo Nhiều trường Đại học, Cao đẳng cũng đã tổ chức các hộithảo về chủ đề ứng dụng CNTT trong giáo dục – đào tạo, quy tụ nhiều chuyên giagiáo dục, các nhà quản lí, những người trực tiếp đứng lớp giảng dạy Điểm chung

nhất của những hội thảo này đã được các nhà giáo dục khẳng định cần phải tích cực hơn nữa trong việc đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của người học trong quá trình nhận thức, phải ứng dụng CNTT trong đổi mới PP giáo dục – đào tạo.

Như vậy, việc ứng dụng CNTT trong giáo dục, đào tạo hiện nay là một xuthế tất yếu, không một quốc gia nào có thể thờ ơ với nó

Trong DH nói chung, DHLS nói riêng, CNTT được ứng dụng ở tất cả cáckhâu của quá trình DH Việc ứng dụng CNTT để thiết kế và trình chiếu các loại

kênh hình LS, tổ chức cho HS tìm hiểu sự kiện được ví như “chiếc cầu nối” giữa

quá khứ và hiện tại, có thể đưa các em vào con đường nhận thức biện chứng để đạttới chân lí khách quan Sử dụng kênh hình cũng tuân theo quy luật từ trực quan sinhđộng đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Nếu PP cung cấp

sự kiện của GV đi kèm với sử dụng hình ảnh trong môi trường đa phương tiện, HS

sẽ huy động được nhiều giác quan để hình thành biểu tượng và tư duy LS Thiếutính trực quan hoặc chỉ sử dụng phương tiện truyền thống thì lượng kiến thức mà

HS thu nhận cũng kém Như vậy, sử dụng kênh hình có sự hỗ trợ của CNTT sẽ gópphần nâng cao hiệu quả dạy – học bộ môn

Kênh hình trong DHLS có nhiều loại: kênh hình dùng để cụ thể hóa nội dungmột sự kiện LS quan trọng trong bài học; kênh hình có nhiệm vụ cung cấp thông tincho HS (thường là các tranh ảnh tư liệu LS); kênh hình vừa cung cấp thông tin, vừa

Trang 23

minh họa cho kênh chữ trong SGK; Nếu GV biết khai thác những ưu thế của nó thìkết quả đạt được sẽ rất tốt.

Như vậy, việc sử dụng kênh hình trong DH nói chung, môn LS nói riêng với

sự hỗ trợ của CNTT cũng là xu thế tất yếu của nền giáo dục hiện đại

1.1.4 Đặc trưng của việc dạy – học môn LS và con đường hình thành kiến thức cho HS với sự hỗ trợ của CNTT

Mỗi môn học đều có đặc trưng riêng với những chức năng, nhiệm vụ cụ thể

để góp phần thực hiện nhiệm vụ chung của hệ thống giáo dục quốc dân Bộ môn LS

ở trường phổ thông với tư cách là một khoa học cũng mang những đặc trưng riêngcủa nó Khác với tri thức của nhiều bộ môn khoa học khác, tri thức LS có nhữngđặc điểm rất riêng, đó là tính quá khứ, tính không lặp lại, tính cụ thể, sự thống nhất

LS xảy ra luôn gắn liền với thời gian, không gian, nhân vật – sự kiện vàkhông bao giờ lặp lại Điều này đòi hỏi việc trình bày các sự kiện, hiện tượng LScàng cụ thể bao nhiêu, càng mang tính hình ảnh, sinh động bao nhiêu thì HS cànghứng thú học tập bấy nhiêu, và chất lượng bộ môn sẽ được cải thiện

Từ việc xác định những đặc trưng của tri thức LS sẽ giúp chúng ta tìm ra PP,con đường sư phạm phù hợp để dạy tốt LS trường phổ thông

Con đường hình thành tri thức LS cho HS tuân thủ theo quy luật nhận thức

“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng trở về thực tiễn”, nghĩa là phải trên cơ sở tư liệu sự kiện, tạo biểu tượng, hình thành khái niệm,

rút ra quy luật, bài học LS phục vụ cho thực tiễn cuộc sống

Tuy nhiên, nếu như quá trình nhận thức của loài người diễn ra theo conđường khám phá những cái chưa biết, đi vào thế giới khách quan một cách độc lập,phát hiện và chứng minh những cái mà loài người chưa hề biết đến trong tự nhiên,

Trang 24

xã hội và tư duy để tìm ra những chân lý mới, quy luật mới, bổ sung vào kho tàngtri thức nhân loại, thì nhận thức của HS qua môn LS không phải như vậy Đó khôngphải là việc tìm ra cái mới, cái chưa biết mà các em phải tái tạo lại những tri thức

LS đã được thừa nhận, những tri thức khoa học đã được tinh giản, tạo cơ sở cho các

em khôi phục bức tranh quá khứ.[35;tr.41-42]

Nhận thức LS của HS đi từ cơ sở ban đầu là nắm vững các sự kiện LS

Nhưng do đặc trưng của môn LS là “LS đã xảy ra thì không lặp lại, không thí nghiệm được, HS không thể trực tiếp quan sát các sự kiện, hiện tượng” Cho nên,

nhận thức LS không thể bắt đầu từ cảm giác mà rất phức tạp Quá trình học tập LS

của HS từ cấp THCS đến cấp THPT bao giờ cũng phải đi “từ quá khứ đến hiện tại”,

“từ xa đến gần”, nhưng nhận thức của các em lại đi “từ gần đến xa”, chính vì thế

HS dễ rơi vào tình trạng “hiện đại hoá” LS.

Để khắc phục tình trạng này, GV cần tạo cho HS một biểu tượng chân thực

về quá khứ thông qua việc sử dụng nhuần nhuyễn các PPDH và thao tác sư phạm.Quá trình hình thành kiến thức LS là quá trình HS đi từ không đến có, chưa biết đếnbiết, biết không đầy đủ đến nắm bắt sâu sắc các sự kiện, hiện tượng Trên cơ sở các

sự kiện, HS trải qua quá trình tạo biểu tượng và giai đoạn tiếp theo là hình thànhkhái niệm Muốn có khái niệm thật sâu sắc lâu dài, cần dựa trên cơ sở biểu tượngphong phú, chính xác, sinh động Bởi vì, không có biểu tượng sẽ không có kháiniệm, hoặc khái niệm nếu được xây dựng trên những biểu tượng nghèo nàn cũng làkhái niệm rỗng, không có nội dung phong phú, làm cơ sở cho nhận thức quá khứthì PP trực quan là PP khả thi và tối ưu nhất bên cạnh sử dụng các PPDH khác

Hình 1.3: Sơ đồ về con đường hình thành kiến thức LS cho HS ở trường

THPT [35;tr.41-42]

Trang 25

Cũng giống như những bộ môn khoa học khác, trong DHLS, CNTT có thểứng dụng ở nhiều khâu, trong đó thiết kế và trình chiếu các loại kênh hình LS, tổ

chức cho HS tìm hiểu sự kiện được ví như “chiến cầu nối” giữa quá khứ và hiện tại,

có thể đưa HS vào con đường nhận thức biện chứng để đạt tới chân lí khách quan.Việc sử dụng kênh hình trong DHLS với sự hỗ trợ của CNTT sẽ giúp GV nâng caohiệu quả của việc sử dụng các loại đồ dùng trực quan khi dựng lại bức tranh LS mộtcách chân thực, giàu hình ảnh và sinh động Đồng thời, nó có thể thu hút sự chú ýcủa HS, kích thích và huy động nhiều giác quan của các em khi nhận thức, điều đógóp phần nâng cao hiệu quả của việc ghi nhớ kiến thức Nhờ thế, HS dễ dàng hiểuđúng bản chất của sự kiện, hiện tượng LS Bởi vì, theo số liệu khoa học mà

UNESCO đã công bố thì “khi nghe, HS chỉ nhớ 15% thông tin (nhiều kiến thức lại không phải là kiến thức cơ bản, chủ yếu); khi nhìn các em ghi nhớ 25% thông tin và nghe nhìn đem lại kết quả cao hơn: 65% thông tin” [60; 53].

CNTT còn là một phương tiện quan trọng giúp GV và HS có thể khám phánhững kiến thức hữu hiệu, hỗ trợ giáo dục mọi lúc, mọi nơi, giúp HS truy cập thôngtin nhanh, chính xác qua các nguồn tài nguyên được chia sẻ, lưu trữ Ngoài ra, nócũng là một công cụ hỗ trợ việc xây dựng kiến thức sáng tạo, biểu thị các ý tưởng,

sự hiểu biết của HS, phát huy khả năng sáng tạo Do vậy, CNTT chính là xu thế tấtyếu trong nền kinh tế tri thức, GV giảng dạy LS cần ý thức và thực hiện đúng theoquan điểm của Đảng và Chính phủ về “đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tácgiáo dục và đào tạo” nhằm nâng cao chất lượng giáo dục LS ở trường phổ thông

1.1.5 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng kênh hình trong dạy học Lịch sử

ở trường THPT với sự hỗ trợ của CNTT

* Vai trò

- Đối với GV

Thứ nhất, sử dụng kênh hình trong DHLS với sự hỗ trợ của CNTT sẽ giúp

GV từng bước nâng cao trình độ chuyên môn, kĩ năng, kĩ xảo,… khi sử dụng những thành tựu của CNTT trong DH

Trang 26

Kênh hình là công cụ, phương tiện chứa đựng, chuyển tải lượng thông tin tới

GV trong quá trình giảng dạy và là nguồn tri thức phong phú đa dạng, nhằm pháttriển trí tuệ, nâng cao năng lực nhận thức cho HS Sử dụng kênh hình hiệu quảkhông chỉ góp phần quan trọng vào đổi mới PP dạy – học của thầy và trò, mà còn

chống lại việc “dạy chay”, “học chay”, một tình trạng khá phổ biến trong DHLS ở

nhiều trường phổ thông hiện nay

Trước đây, khi nói đến tính trực quan trong DHLS ở trường phổ thông, tathường đề cập tới các phương tiện trực quan truyền thống (bảng đen, phấn trắng,tranh ảnh trong SGK, sơ đồ, niên biểu LS do GV tự tạo…) Dù còn những hạn chếnhất định và trong điều kiện chưa cho phép, chúng vẫn giữ một vị trí chủ yếu, hỗ trợcho quá trình dạy – học của GV và HS

Khi sử dụng đồ dùng trực quan truyền thống, GV thường mất nhiều thời gianhơn cho khâu chuẩn bị và kết thúc Kênh hình trong SGK vốn nghèo nàn mà lại cònmàu đen trắng nên ít hấp dẫn, nhiều hình in nhoè nhoẹt, không rõ nét gây khó khăncho việc quan sát, mô tả của thầy và trò; khi sử dụng kênh hình là lược đồ giáo khoa

LS, GV phải mất thời gian tìm vị trí để treo và cất đi; vẽ niên biểu, đồ thị, biểu đồ

LS trên bảng đen cũng mất khá nhiều thì giờ, độ chuẩn xác, tính thẩm mĩ lại khôngcao, khó tạo được yếu tố bất ngờ cho HS,… Ngược lại, trong quá trình sử dụngkênh hình để tổ chức cho HS nghiên cứu kiến thức nếu GV biết ứng dụng CNTThợp lí, đúng lúc và đúng chỗ sẽ bớt đi một lượng công việc chân tay, có nhiều thờigian cho HS khai thác kênh hình và làm việc nhiều hơn Khi đã thiết kế kênh hình ở

nhà, GV chỉ cần “nhấn chuột” phóng to bức hình để HS quan sát, rồi hướng dẫn

các em khai thác theo kế hoạch chủ định từ trước Nhờ kĩ thuật liên kết (bằngTrigger), cùng một thời điểm GV có thể sử dụng nhiều loại kênh hình (lược đồ,tranh ảnh, phim tài liệu,….) nên bức tranh LS được dựng lại một cách chân thực,giàu hình ảnh và sinh động Đồng thời, nó có thể thu hút sự chú ý của HS, kíchthích và huy động nhiều giác quan của các em khi nhận thức, điều đó góp phầnnâng cao hiệu quả của việc ghi nhớ kiến thức Nhờ thế, HS dễ dàng hiểu đúng bảnchất của sự kiện, hiện tượng LS Càng sử dụng nhiều phần mềm hỗ trợ DH thì GVcàng thành thục về kĩ năng, trình độ càng nâng cao

Trang 27

Thứ hai, ứng dụng những thành tựu cuả CNTT trong DHLS sẽ góp phần

bổ sung, cải tiến PP sử dụng kênh hình cho GV và HS trong quá trình dạy – học

bộ môn.

Khi khai thác và sử dụng một số chức năng của các phần mềm ACD See,Hero, Photoshop, Flash, TMPGEnc plus, Adobe Audition… sẽ giúp GV xử lý tưliệu hình ảnh, xử lý, cắt, ghép các đoạn phim, âm thanh… phù hợp với nội dung,yêu cầu của bài học Việc sử dụng các chức năng cơ bản, các hiệu ứng phong phú,

đa dạng… của phần mềm Microsoft PowerPoint sẽ giúp GV thiết kế và sử dụng cóhiệu quả các loại kênh hìnhtheo yêu cầu bài giảng và ý đồ sư phạm của mình Vàvới khả năng siêu liên kết thông tin (hyperlink) của phần mềm này, GV có thể đưavào bài giảng các hình ảnh, âm thanh, đoạn phim tư liệu đã được xử lý, chọn lọc vàbiên tập theo ý tưởng của GV, nhờ đó, có thể phát huy tính sáng tạo của GV và HStrong những tình huống sư phạm cụ thể khi sử dụng kênh hình trong DH, tiết kiệmđược nhiều thời gian trong việc xây dựng, sử dụng các kênh hình, GV có điều kiện

tổ chức cho HS nhận thức LS thông qua kênh hình, từ đó giúp HS khắc sâu kiếnthức trọng tâm và có thể hệ thống, khái quát tốt nội dung bài học

- Đối với HS

Kênh hình là một nguồn kiến thức quan trọng, một kênh thông tin giúp HS

học tập hiệu quả Vì kênh hình chính là “những mảnh quá khứ” giúp HS khôi phục

lại hình ảnh LS Cho nên, sử dụng kênh hình trong DHLS có sự hỗ trợ của CNTT

sẽ là chỗ dựa vững chắc cho HS hiểu sâu sắc bản chất của sự kiện, là PP hữu hiệunhất để hình thành khái niệm LS, giúp các em nắm vững các quy luật của sự pháttriển xã hội

Dưới sự hướng dẫn của GV thông qua việc sử dụng kênh hình với sự hỗ trợcủa CNTT, HS sẽ được rèn luyện khả năng sử dụng CNTT vào học tập: quan sátkênh hình, tư duy LS,…

* Ý nghĩa

Sử dụng kênh hình trong DHLS với sự hỗ trợ của CNTT sẽ góp phần quantrọng vào bồi dưỡng kiến thức, giáo dục tư tưởng, thái độ và phát triển kĩ năng họctập cho HS theo định hướng, mục tiêu giáo dục của bộ môn, cụ thể:

Trang 28

- Về kiến thức

Thứ nhất, sử dụng kênh hình có sự hỗ trợ của CNTT trong DHLS là biện pháp quan trọng để cung cấp sự kiện, giúp HS nhanh chóng tạo được biểu tượng, bồi dưỡng kiến thức và làm phong phú thêm sự hiểu biết của các em về LS.

Như chúng ta đã biết, bộ môn LS ở trường phổ thông mang những đặc trưngriêng khác với các bộ môn khác LS là cái cụ thể đã diễn ra, tồn tại khách quan,không lặp lại, cũng không thể khôi phục, dựng lại trọn vẹn những gì đã xảy ra Bởi

vậy, trong học tập LS, HS không được trực quan sinh động giống các bộ môn khác.

Vì thế, sử dụng kênh hình trong DHLS giúp cho HS tiếp xúc với những chứng cứcủa quá khứ, tạo được biểu tượng về những hình ảnh chính xác, cụ thể, qua đó các

em sẽ khôi phục được bức tranh quá khứ đúng như nó đã từng tồn tại Vì rằng “hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắc trong trí nhớ chúng ta là hình ảnh chúng ta thu được bằng trực quan” [54;tr.142] Thực tiễn cho thấy, khi GV sử dụng các PPDH

truyền thống (chỉ trình bày miệng, không có sự hỗ trợ của CNTT) cũng có thể cung

cấp sự kiện để giúp HS tái hiện lại quá khứ, nhưng rất vất vả, do tính “trực quan” nghèo nàn, đơn điệu, ít có khả năng tạo hứng thú cho người học (do số lượng

hình ảnh trong SGK có hạn, màu sắc kém và không rõ nét, kích thước hình nhỏ bé,rất khó cho HS cả lớp quan sát,….) Nhưng nếu GV sử dụng KH với sự hỗ trợ củaCNTT, kết hợp với một số PPDH khác như lược thuật, tường thuật, miêu tả, nêu đặcđiểm,… sẽ giúp GV khắc phục được những nhược điểm này Khả năng tích hợp đaphương tiện của CNTT sẽ cho phép GV dễ dàng tự chèn vào các slide GAĐT phimtài liệu, âm thanh, tranh ảnh, lược đồ, hoặc thiết kế các dạng sơ đồ hóa kiến thức,biểu đồ LS, Khi DH trên lớp, GV phóng to hình ảnh để hướng dẫn HS quan sát, tổchức cho các em cùng trao đổi và tìm hiểu kiến thức qua kênh hình PPDH hiện đạinày vừa đảm bảo tính trực quan, sinh động, vừa tạo được không khí học tập tích cựccho cả lớp, vì hình ảnh mà HS trực tiếp quan sát luôn mang tính cụ thể, giàu hình

ảnh và màu sắc hấp dẫn Đây chính là chiếc “cầu nối” giúp HS nhận thức từ hiện

tại trở về với quá khứ hiện thực khách quan, là cơ sở để chuẩn bị cho giai

đoạn “nhận thức lí tính” Ở đây, các em được cung cấp sự kiện cụ thể, chính xác và

giàu hình ảnh (thông qua quan sát kênh hình, kết hợp nghe GV trình bày), nên dễ

Trang 29

dàng tái hiện lại quá khứ HS cũng được mở rộng kiến thức, hiểu sâu sắc hơn về sựkiện LS.

Ví dụ, khi dạy học mục 2 “Chính sách mới của Tổng thống Mĩ Ru-dơ-ven”, bài

13 Nước Mĩ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 – 1939), GV sử dụng “Bức tranh đương thời mô tả Chính sách mới” và “Chân dung Tổng thống Ru-dơ-ven”, xây

dựng trên phần mềm Microsoft Power Point GV cho HS quan sát bức tranh, kết hợp

với đặt câu hỏi gợi mở: “Em hãy cho biết bức tranh nói về nội dung gì? Thông qua đó,

em có nhận xét gì về “Chính sách mới” của Tổng thống Mĩ Ru-dơ-ven?,…”.

Hình 1.4: Slide minh họa Chính sách mới của Tổng thống Mĩ Ru-dơ-ven

Sau khi HS trả lời câu hỏi, GV nhận xét và khai thác nội dung bức tranh như sau:

“Năm 1932, Ru-dơ-ven lên làm Tổng thống trong tình hình nước Mĩ lâm vào

khủng hoảng ngày càng trầm trọng Do vậy, ông đã ban hành “Chính sách mới”

nhằm đưa nước Mĩ thoát khỏi khủng hoảng Hình ảnh mà các em đang quan sát trên

màn hình chính là bức tranh đương thời mô tả “Chính sách mới” của Tổng thống

Ru-dơ-ven Trong bức tranh, người khổng lồ tượng trưng cho Nhà nước Mĩ vớihàng nghìn sợi dây tượng trưng cho mối liên hệ và sự ràng buộc của Nhà nước đốivới tất cả các ngành kinh tế lúc bấy giờ Người khổng lồ vươn hai cánh tay to lớnthâu tóm toàn bộ nền kinh tế, cho thấy ảnh hưởng và sức mạnh của Nhà nước đối

với nền kinh tế Mĩ Trước khi thực hiện “Chính sách mới”, nền kinh tế Mĩ đề cao

“chủ nghĩa tự do” thái quá trong sản xuất, Nhà nước không có quyền hành gì đối với sự phát triển kinh tế Nhưng khi “Chính sách mới” được ban hành, Nhà nước Mĩ

can thiệp tích cực vào nền kinh tế, sử dụng sức mạnh và biện pháp của mình để điều

Trang 30

tiết toàn bộ các khâu trong thể chế kinh tế, đồng thời kích cầu để tăng sức mua củangười dân”.[76; tr.141]

Như vậy, việc trình chiếu bức tranh trên màn hình lớn, kết hợp với câu hỏi

gợi mở và lời giảng của GV sẽ giúp HS tạo biểu tượng rõ nét về “Chính sách mới”

của Tổng thống Mĩ Ru-dơ-ven, các em sẽ nắm chắc và nhớ lâu hơn sự kiện LS này

Thứ hai, việc sử dụng kênh hình trong DHLS với sự hỗ trợ của CNTT không chỉ giúp HS nhanh chóng có biểu tượng LS chân thực về quá khứ khách quan, mà còn là biện pháp quan trọng giúp các em đi sâu vào bản chất của sự kiện, nêu đặc trưng, tính chất của sự kiện, đó chính là cơ sở để hình thành khái niệm LS.

Trong học tập LS, nếu HS chỉ được cung cấp sự kiện và tạo biểu tượng vềquá khứ thì việc nhận thức ấy mới chỉ dừng lại ở mức độ biết LS, mới thấy được cái

vỏ bề ngoài của sự kiện, hiện tượng mà chưa hiểu LS, chưa thể thấy được mối liên

hệ, bản chất bên trong của chúng Vì thế, trên cơ sở biểu tượng mà HS đã có, GV

phải tiếp tục hình thành khái niệm, giúp các em hoàn thành quá trình “nhận thức lí tính” Trên thực tế, quá trình nhận thức từ biểu tượng đến khái niệm là quá trình

liên tục, không có giới hạn rõ rệt, nhiều khi biểu tượng và khái niệm được hìnhthành trong đầu HS song song với nhau nếu GV biết áp dụng PPDH tích cực, trong

đó có đổi mới việc sử dụng kênh hình trong DHLS với sự hỗ trợ của CNTT

Ví dụ, khi dạy học Bài 12 “Nước Đức giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 - 1939)”, một trong những khái niệm GV cần hình thành cho HS là “chế độ phát xít” Thông qua trình chiếu những bức ảnh và đoạn phim tư liệu về quá trình

thiết lập chế độ phát xít của Đảng Quốc xã (đứng đầu là Hitle),…kết hợp với lời

phân tích của GV, các em bước đầu hình thành trong tư duy những “biểu hiện” (nội hàm) của khái niệm “chế độ phát xít” Đây là cơ sở để các em đưa ra khái niệm

“chế độ phát xít” là gì Sau đó, GV nhận xét và chốt lại cho các em khái niệm: chế

độ phát xít là hình thức chuyên chính của bọn tư bản, đế quốc phản động nhất, hiếu

chiến nhất, chủ trương thủ tiêu mọi quyền tự do cơ bản của con người, khủng bố tànbạo nhân dân, gây chiến tranh xâm lược tiêu diệt các nước khác để xác lập địa vịthống trị tối cao của chúng [61;tr.322]

Trang 31

Hình 1.5 Slide GV minh họa quá trình thiết lập chế độ phát xít của Đảng Quốc xã

sự “làm việc” tích cực của trò để tìm tòi, rút ra những kiến thức mà kênh hình muốntruyền tải sẽ góp phần quan trọng tạo biểu tượng LS chính xác Những hình ảnh về

sự kiện, nhân vật LS, thời gian, không gian được phản ánh trong óc HS với những

nét chung nhất, điển hình nhất sẽ tránh cho HS khuynh hướng sai lầm là “hiện đại hoá LS”.

Theo các chuyên gia giáo dục: nếu cứ áp dụng PPDH truyền thống thì 90%tri thức của HS được tiếp nhận qua tài liệu, 10% qua mắt thì sau một thời gian ngắn

sẽ rơi vào tâm trạng mệt mỏi, giảm sự chú ý, nhưng nếu các em vừa được nghe, vừađược nhìn thông qua hình ảnh, kết hợp với các hoạt động (tức là cùng một lúc huyđộng nhiều giác quan) thì kết quả ghi nhớ kiến thức của HS đạt hơn 90% [33; tr.41]

* Về tư tưởng, thái độ

Việc sử dụng KH trong DHLS với sự hỗ trợ của CNTT sẽ giúp HS có cảm

giác “dường như đang chứng kiến, tham gia vào sự kiện đang xảy ra” do vậy, nó có

tác dụng giáo dục tình cảm mạnh mẽ và sâu sắc, có khả năng giáo dục nhiều mặt

Trang 32

cho HS Đó là giáo dục lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, quốc tế; ghétchiến tranh, yêu thích môn học…

Trong DHLS, kênh hình góp phần hình thành những phẩm chất đạo đức cầnthiết của con người Việt Nam mà nhà trường phải đào tạo Từ việc quan sát, khai

thác kiến thức “ẩn” trong kênh hình, HS không chỉ biết sâu sắc về LS thế giới và

LS dân tộc, mà còn thực sự rung động trước những con người thực, việc thực

Chẳng hạn, cũng với ví dụ trên, khi được quan sát trên màn hình những bứcảnh, đoạn phim tư liệu,…về quá trình thiết lập chế độ phát xít ở Đức, kết hợp vớinhững lời gợi mở của GV sẽ làm nảy sinh trong các em sự căm ghét và lên án chế

độ phát xít, ủng hộ phong trào đấu tranh của nhân dân Đức chống lại giai cấp tư sản

và chế độ phát xít Hitle Nếu HS chỉ được đọc tài liệu thoáng qua, hoặc nghe GVdùng lời kể sẽ không gây xúc cảm ở các em bằng việc được trực tiếp quan sátnhững hình ảnh thật trên màn ảnh lớn, có sự thuyết minh của GV Chính thông quakênh hình với sự hỗ trợ của CNTT, mọi tâm tư, tình cảm, thái độ yêu ghét sẽ đượcbộc lộ ở các em Đây cũng chính là đặc trưng giáo dục của bộ môn

* Về kĩ năng

Sử dụng kênh hình trong DHLS với sự hỗ trợ của CNTT không chỉ có tácdụng cung cấp kiến thức, giáo dục HS mà còn có tác dụng rất lớn trong việc pháttriển toàn diện HS Với ưu thế của mình, kênh hình LS có khả năng phát triển khảnăng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ, và kĩ năng thực hành bộ môncho HS Từ việc quan sát các hình ảnh LS, GV rèn luyện cho các em thói quen quansát và khả năng quan sát kênh hình một cách khoa học để đi đến phân tích, so sánh,khái quát rút ra kết luận Trên cơ sở đó, giúp các

em nhớ kỹ, hiểu sâu bài học, hình thành mối liên

hệ giữa thời gian, không gian với nhân vật LS,

khắc phục tình trạng “hiện đại hóa” kiến thức

Trang 33

điện Mùa Đông”- đây là kênh hình không có trong SGK Nhờ đó, khi quan sát

kênh hình và thông qua lời trình bày sinh động của GV, HS thấy rõ khí thế hừnghực của đội quân cách mạng đang đồng loạt hướng thẳng về phía Cung điện – nơi

ẩn náu cuối cùng của Chính phủ tư sản lâm thời

Vì được “trực quan sinh động” nên HS đã khắc sâu kiến thức LS về mối liên

hệ giữa thời gian, không gian với những diễn biến chính của Cách mạng tháng Mười,đồng thời có tư tưởng, tình cảm đúng đắn về vai trò lãnh đạo của Đảng Bôn-sê-vicđứng đầu là Lê-nin trong công cuộc đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân

Như vậy, tính trực quan trong DHLS với sự hỗ trợ của CNTT khác hẳn sovới các phương tiện DH truyền thống Việc sử dụng tốt kênh hình sẽ góp phần quantrọng vào nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập LS ở trường phổ thông Kênh

hình chính là “ cầu nối” giữa hiện thực khách quan quá khứ với những con người

hiện tại, nó làm cho HS hiểu biết sâu sắc hơn về quá khứ Càng hiểu quá khứ baonhiêu, các em càng nhận thấy nhiệm vụ của mình đối với xã hội hiện tại và tươnglai bấy nhiêu Nhưng bản thân kênh hình sẽ không thể gây được hứng thú tích cựccho HS, nếu các em không được tri giác LS trong tình huống có vấn đề Vì vậy, khi

sử dụng kênh hình GV phải kết hợp chặt chẽ với lời nói và các PPDH khác

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực tiễn sử dụng kênh hình trong DHLS ở trường THPT

Thực hiện chủ trương đổi mới PP giáo dục đào tạo theo hướng tích cực hóahoạt động nhận thức của HS, tình hình DHLS ở trường phổ thông nói chung, việc

sử dụng kênh hình ở trường THPT nói riêng đã có chuyển biến tích cực Ngày càngxuất hiện nhiều GV dạy giỏi có kinh nghiệm và tâm huyết với nghề, nắm bắt đượctinh thần đổi mới PPDH và đã tiến hành nhiều giờ dạy theo PP mới, trong đó chú ýtới phối hợp mềm dẻo, hợp lý các PP trực quan

Để có cơ sở đánh giá thực tiễn sử dụng kênh hình trong DHLS ở trường THPThiện nay, chúng tôi thu thập thông tin qua nhiều sách báo, bài nghiên cứu, thâmnhập vào thực tế (điều tra, dự giờ, trao đổi chuyên môn, ) Từ các kênh thông tin,chúng tôi rút ra kết luận:

Trang 34

Thứ nhất, đại đa số GV nhận thức được mấu chốt của đổi mới PPDH là phải thay đổi quan niệm cũ trước đây, chuyển từ “lấy thầy làm trung tâm”, sang “lấy

HS làm trung tâm” Trong quá trình giảng dạy GV đã kết hợp nhuần nhuyễn đồ

dùng, thiết bị DH, khai thác triệt để ưu thế của các loại đồ dùng này như: sử dụngtranh ảnh, bản đồ, sơ đồ, niên biểu, mô hình, các thiết bị như đèn chiếu, phim tàiliệu,…từng bước ứng dụng CNTT phù hợp với những yêu cầu đổi mới trong giaiđoạn hiện nay Tuy nhiên, nhiều thầy cô lại không biết xác định PP, biện pháp nào

để phát huy tính tích cực cho người học, đôi khi cho rằng, cứ đặt thật nhiều câu hỏi,

bắt các em trả lời là “đổi mới” Vì vậy, không ít giờ học LS đã biến thành giờ ‘hỏi – đáp”, gây căng thẳng, mệt mỏi cho HS Bên cạnh đó, còn một số ít GV chưa hiểu

được vai trò và ý nghĩa của kênh hình, đặc biệt là việc sử dụng kênh hình trongSGK để tạo biểu tượng cho HS Do đó, không phát huy được tính tích cực của HSkhi tìm hiểu về nội dung kênh hình Hơn nữa, GV mới chỉ tập trung vào tiết học LStrên lớp, những giờ học tại thực địa, bảo tàng và tổ chức các hoạt động ngoại khóa

về LS chưa được quan tâm… Điều này càng làm cho việc DHLS trở nên đơn điệu,nhàm chán, kém hấp dẫn đối với HS

Thứ hai, những HS có đam mê với môn LS đều có sự tập trung hơn trong

học tập , ý thức học bài và chuẩn bị bài cũng được tốt hơn Khả năng tự học và phánđoán nội dung kiến thức bài học thông qua tranh ảnh, bản đồ trong SGK của HS có

sự tiến bộ; Các em rất hào hứng tham gia các hoạt động học tập như tự nghiên cứu,thảo luận nhóm, vấn đáp, nhằm chiếm lĩnh kiến thức bài học được chủ động hơn.Trong quá trình học tập, việc khai thác nội dung bài học, kỹ năng trình bày nội dungkênh hình có sự tiến bộ rõ rệt hơn HS nhận thức đúng đắn về sự kiện, hiện tượng

LS đặc biệt là không gian LS trong giáo dục truyền thống yêu nước, niềm tự hàodân tộc, phát triển nhân cách của HS

Tuy nhiên, vẫn còn một số HS quan niệm LS là “môn phụ” cho nên, từ thực

tế đó dẫn đến việc tiếp thu kiến thức LS còn nhiều hạn chế

1.2.2 Thực tiễn sử dụng kênh hình trong DHLS với sự hỗ trợ của CNTT

Để có cơ sở đánh giá việc sử dụng kênh hình trong DHLS ở trường THPTvới sự hỗ trợ của CNTT chúng tôi tiến hành điều tra GV và HS ở một số tỉnh/ thành

Trang 35

trên miền Bắc Mục đích của công tác điều tra nhằm đánh giá tình hình sử dụngkênh hình trong DHLS ở trường THPT với sự hỗ trợ của CNTT Kết quả điều tra sẽ

là cơ sở quan trọng để chúng tôi đối chiếu với lí luận và đề xuất các biện pháp sửdụng kênh hình trong DHLS với sự hỗ trợ của CNTT nhằm nâng cao chất lượng

DH bộ môn (chương 2)

Đối tượng và địa bàn điều tra là GV LS của một số trường phổ thông: Hà

Nội, Bắc Ninh, Ninh Bình, Bắc Giang, Hải Phòng, Tuyên Quang, Yên Bái, PhúThọ,… và HS 6 trườngTHPT Khoái Châu (Hưng Yên), THPT Hoàng Cầu (Hà Nội),THPT Lý Thường Kiệt (Bắc Ninh), THPT Tam Nông, THPT Nguyễn Tất Thành,THPT Hưng Hóa (Phú Thọ)

Nội dung điều tra gồm: Quan điểm, nhận thức, sự hiểu biết của GV và HS về

môn LS và việc sử dụng kênh hình trong DHLS với sự hỗ trợ của CNTT; Mức độ,tần suất và tính hiệu quả của những giờ học LS sử dụng kênh hình có sự hỗ trợ củaCNTT; Hình thức, PP GV và HS sử dụng kênh hình với sự hỗ trợ của CNTT; Khókhăn, hạn chế và cách khắc phục của GV

Hình thức, PP điều tra của chúng tôi rất phong phú, như: dự giờ, trao đổi

chuyên môn, thăm quan trường học, nói chuyện – trao đổi với GV và HS,… Trong

đó, biện pháp chủ yếu là phát phiếu điều tra cho GV và HS qua các học viên Caohọc của khoa LS – trường Đại học Sư phạm Hà Nội (K21, K22)

Tổng hợp các kênh thông tin đã thu thập, chúng tôi phân tích số liệu rút rakết luận:

Một là, hầu hết các trường THPT trên phạm vi cả nước (bao gồm cả loại hình

trường Công lập, Dân lập, Bán công ở thành thị, miền núi, đồng bằng,…) đều đãtrang vị về cơ sở vật chất và đáp ứng được điều kiện ứng dụng CNTT, góp phần đổimới PPDH Ít nhất, mỗi trường THPT có một phòng dạy mẫu, được trang bị máychiếu có kết nối với máy vi tính và các phương tiện cần thiết khác Tuy nhiên, việctrang bị này chưa đồng bộ giữa các vùng, miền những trường phổ thông ở thành thị

và trường đạt chuẩn Quốc gia được trang bị tốt hơn, GV được ứng dụng CNTTthường xuyên và hiệu quả hơn như trường: THPT Hoàng Cầu, THPT Trần ThánhTông; Phổ thông Quốc tế Wellspring (Hà Nội); THPT Lý Thường Kiệt (Bắc Ninh);

Trang 36

THPT Chuyên Hùng Vương,… Một số trường dù không ở trung tâm thành phố lớn

và điều kiện cơ sở vật chất còn khó khăn, nhưng từ khá sớm đã linh hoạt bằngnhững nguồn kinh phí tự trang bị các phương tiện kĩ thuật để động viên GV ứngdụng CNTT vào DH như trường: THPT Khoái Châu (Hưng Yên), THPT TamNông, THPT Thanh Sơn, THPT Nguyễn Tất Thành, THPT Mỹ Văn (Phú Thọ),…

Hai là, đa phần Ban lãnh đạo, quản lí các trường THPT và GV LS tích cực

ủng hộ việc DH có sự tích hợp với CNTT hỗ trợ cho thiết kế và sử dụng kênh hìnhtrong DHLS

Ba là, việc sử dụng kênh hình trong DHLS với sự hỗ trợ của CNTT ngày

càng trở nên phổ biến ở các trường THPT trên cả nước với nhiều hình thức, biệnpháp khác nhau Qua thực tế tìm hiểu ở các trường phổ thông cho thấy, 64,9% GV

sử dụng kênh hình để thiết kế kế hoạch bài học LS ,100% GV sử dụng để tổ chứccho HS nghiên cứu kiến thức mới, 33.3% để kiểm tra bài cũ và 18.5% để kiểm trađánh giá,

Bốn là, đa số các thầy, cô giáo đã có nhận thức về vai trò và tầm quan trọng

của việc sử dụng kênh hình tích hợp với CNTT Qua số liệu điều tra thực tiễn ở cáctrường phổ thông, 75,4% GV quan niệm kênh hình trong DHLS góp phần hình thànhkiến thức, tư tưởng, thái độ, kĩ năng toàn diện cho HS; 52,6% GV cho rằng kênh hình

là một phần kiến thức quan trọng không thể thiếu trong mỗi bài học LS; 42.1% GVcho rằng kênh hình làm phong phú thêm sự hiểu biết cho HS; 21.1% GV quan niệmkênh hình là một kênh thông tin có thể cung cấp cho HS nếu cần thiết Do vậy, nhiều

GV đã bước đầu nghiên cứu và đầu tư thời gian để thiết kế kênh hình LS trên phầnmềm Microsoft Power Point rất công phu Vì thế, chất lượng của các tiết học LSthường cao hơn giờ học truyền thống về nhiều mặt Bài học LS trở nên hấp dẫn, sinhđộng, HS hứng thú học tập, dễ hiểu và nhớ lâu kiến thức

Tuy nhiên, thực tiễn sử dụng kênh hình trong DHLS ở trường THPT với sự

hỗ trợ của CNTT vẫn còn nhiều bất cập trong quá trình thực hiện Nhìn chung, GVcòn lúng túng trong việc thiết kế và sử dụng kênh hình Nhiều GV khi sử dụng kênhhình với sự hỗ trợ của CNTT chỉ chú ý đến các thao tác kĩ thuật, thích trình diễn,chưa chú ý đến nội dung kiến thức “ẩn” trong mỗi kênh hình Việc phát huy tính

Trang 37

tích cực của HS và các hoạt động tương tác giữa GV với HS và giữa HS với HS cònđơn điệu,… Một số GV đã rất cố gắng tiếp cận và ứng dụng CNTT vào thiết kế và

sử dụng kênh hình trong quá trình DH, nhưng do thiếu tài liệu hướng dẫn về lí luận,

PP sử dụng, chưa có kinh nghiệm,… nên còn lúng túng trong việc giải quyết mốiquan hệ giữa kiểu DH truyền thống với DH có sự hỗ trợ của CNTT Vì thế, không íttiết học LS có ứng dụng CNTT bị GV biến thành trình bày kênh chữ, giới thiệukênh hình Bên cạnh đó, do thiếu thốn về nguồn học liệu điện tử, đời sống GV còngặp nhiều khó khăn và tốn thời gian chuẩn bị cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc

sử dụng kênh hình trong DHLS với sự hỗ trợ của CNTT

Về phía HS, đa phần các em hứng thú với giờ học LS khi GV sử dụng kênhhình với sự hỗ trợ của CNTT Chất lượng giờ học được nâng cao một cách rõ rệt,

HS hiểu sâu kiến thức và nắm vững bài học ngay tại lớp Nhiều HS biết sử dụngInternet để khai thác thông tin, tìm kiếm tranh ảnh, bài viết trên các Website liênquan đến bài học, trao đổi kiến thức với thầy cô và bạn bè qua email

Cụ thể hóa cho những nội dung trên, thông qua số liệu điều tra thực tiễn vềcác nhóm câu hỏi của 57 GV và 505 HS, giúp chúng tôi thấy rõ thực trạng sử dụngkênh hình trong DHLS ở trường THPT với sự hỗ trợ của CNTT, từ đó xác địnhnguyên nhân và đề xuất các biện pháp khắc phục

* Kết quả điều tra đối với GV ở từng nhóm câu hỏi

- Quan niệm của GV về môn LS và kênh hình trong DHLS ở trường THPT (Xem câu hỏi và bảng thống kê ở Phụ lục 1c - Bảng 1.1).

Thông qua số liệu điều tra chúng tôi nhận thấy, do GV nhận thức không đồngđều về vị trí, vai trò, ý nghĩa của bộ môn LS nên quan niệm về bộ môn LS cũng khácnhau Đa số các trường phổ thông quan niệm rằng LS là môn học có vị trí, ý nghĩaquan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ, nhưng chưa được coi trọng (30/57 ý kiến,chiếm 52.6%) Có 20/57 (35.1%) trường quan niệm LS là “môn phụ”; chỉ có 6/57(10.6%) trường quan niệm coi LS là “môn chính” Tuy nhiên, vẫn còn 1/57 (1.7%) ýkiến cho rằng LS là môn học ít có khả năng phát triển tư duy cho HS

Trong các môn học ở trường phổ thông, có tới 45/57 (78.9%) GV cho rằng

LS là bộ môn có nhiều ưu điểm để ứng dụng CNTT vào DH nên rất cần thiết; 8.7%

Trang 38

(5/57) GV cho rằng LS là bộ môn ít có khả năng ứng dụng CNTT vào DH; có 1/57(1.7%) GV quan niệm LS là môn học không có khả năng ứng dụng CNTT vào DH.

Tương tự như vậy, với vấn đề quan niệm về kênh hình trong DHLS ở trườngTHPT, 75.4% GV quan niệm kênh hình góp phần hình thành kiến thức, tư tưởng,thái độ, kĩ năng toàn diện cho HS 30/57 (52.6%) GV cho rằng kênh hình là mộtphần kiến thức quan trọng không thể thiếu trong mỗi bài học LS 24/57 (42.1%) GVcho rằng kênh hình làm phong phú thêm sự hiểu biết cho HS; 12/57 (21.1%) GVquan niệm kênh hình là một kênh thông tin có thể cung cấp cho HS nếu cần thiết.Đây là những nhận thức hoàn toàn đúng, phải hiểu rõ vai trò, tầm quan trọng củakênh hình chúng ta mới có thể đầu tư thời gian, công sức cho việc tìm hiểu nộidung, cũng như sử dụng kênh hình đạt hiệu quả

- Tần suất sử dụng kênh hình có sự hỗ trợ của CNTT (Bảng 1.1)

Bảng 1.1 Kết quả điều tra về tần suất GV sử dụng kênh hình với sự

hỗ trợ của CNTT

Tần suất GV sử dụng kênh hình trong DHLS với sự hỗ trợ của

CNTT

Đồng ý

Tỉ lệ (%)

1 1 Thầy (cô) có thường xuyên sử dụng kênh hình trong DHLS với sự

hỗ trợ của CNTT không?

□ Thường xuyên (Bài nào cũng sử dụng)

□ Chỉ khi có thanh tra hoặc thao giảng

□ Ít khi (Do nhà trường thiếu phương tiện)

□ Không bao giờ

3719579

64.933.310018.5

Nhìn bảng 1.1 chúng ta nhận thấy, đa số GV sử dụng kênh hình tích hợp với

CNTT vào các dịp thao giảng hoặc khi có thanh tra (27/57 ý kiến, chiếm 47,4%).Mặt khác, do nhà trường thiếu phương tiện nên GV ít khi sử dụng kênh hình (19/57

ý kiến, chiếm 33.3%) 5/57 (8.8%) GV không bao giờ sử dụng trong DHLS, tậptrung ở các trường miền núi và GV lớn tuổi Chỉ có 6/57 (10.5%) GV thường xuyên

sử dụng Kết quả trên chứng tỏ, tần suất ứng dụng CNTT hỗ trợ cho việc sử dụngkênh hình trong DHLS không cao

- Hình thức, biện pháp sử dụng kênh hình với sự hỗ trợ của CNTT (Bảng 1.2)

Trang 39

Bảng 1.2 Kết quả điều tra về hình thức, biện pháp sử dụng kênh hình trong DHLS

với sự hỗ trợ của CNTT

Hình thức, biện pháp sử dụng kênh hình trong DHLS với sự hỗ

trợ của CNTT

Đồng ý

Tỉ lệ (%)

1 1 Thầy (cô) sử dụng kênh hình trong DHLS với sự hỗ trợ của

CNTT khi nào?

□ Để thiết kế kế hoạch bài học lịch sử

□ Để kiểm tra bài cũ

□ Để nghiên cứu kiến thức mới

□ Kiểm tra, đánh giá

3719579

64.933.310018.5

2 Khi sử dụng kênh hình trong DHLS với sự hỗ trợ của CNTT để

hướng dẫn học sinh khai thác, Thầy (Cô) sử dụng như thế nào?

□ Trình chiếu hình ảnh minh họa cho sự kiện

□ GV trình chiếu kênh hình để cung cấp thông tin, cụ thể hóa sự kiện

cho HS

□ Tổ chức cho HS tự tìm hiểu nội dung của kênh hình có định hướng

của GV, cuối cùng GV tổng kết làm rõ nội dung của kênh hình đó

□ Sử dụng kênh hình giúp HS làm sáng tỏ sự kiện và mở rộng kiến

thức cho các em

1418

29

19

24.631.6

50.9

33.3

Nhìn chung, GV đã biết xác định, hình thức, biện pháp sử dụng kênh hìnhvới sự hỗ trợ của CNTT trong DHLS theo đặc trưng của bộ môn: 100% ý kiến chorằng mình từng sử dụng kênh hình với sự hỗ trợ của CNTT vào tổ chức cho HSnghiên cứu kiến thức mới, tiếp đó là thiết kế kế hoạch bài học LS (64.9%), kiểm trabài cũ (33.3%) và kiểm tra đánh giá (chiếm 15.8%)

Khi sử dụng kênh hình với sự hỗ trợ của CNTT để hướng dẫn HS khai thác

có 50.9% GV tổ chức cho HS tự tìm hiểu nội dung của kênh hình có định hướngcủa GV, cuối cùng GV tổng kết làm rõ nội dung của kênh hình đó Có 33.3% GV sửdụng kênh hình giúp HS làm sáng tỏ sự kiện và mở rộng kiến thức cho các em.31.6% GV trình chiếu kênh hình để cung cấp thông tin, cụ thể hóa sự kiện cho HS.Bên cạnh đó, vẫn còn 24.6% GV chỉ trình chiếu hình ảnh minh họa cho sự kiện,

Trang 40

nghĩa là chỉ đề cập đến kênh hình một cách qua loa, đại khái, có tính chất giới thiệu,

dù đó là những kênh hình rất cần làm rõ nội dung

Những kết quả điều tra ở trên đã chứng tỏ sự tiến bộ về nhận thức và hànhđộng của GV bộ môn trong việc sử dụng kênh hình với sự hỗ của CNTT vào DHLS

ở trường THPT Tuy nhiên, còn không ít thầy/cô ở nhiều địa phương chưa có điềukiện tiếp cận với với công nghệ DH hiện đại hỗ trợ cho việc sử dụng kênh hình,hoặc mới chỉ bước đầu ứng dụng, thường mang tính hình thức Do đó, làm cho việcDHLS trở nên đơn điệu, nhàm chán, kém hấp dẫn đối với HS

- Những hạn chế, khó khăn và cách khắc phục của GV khi sử dụng kênh hình với sự hỗ trợ của CNTT (xem câu hỏi và bảng thống kê ở Phụ lục 1d, Bảng 1.2).

GV gặp nhiều khó khăn, hạn chế khi sử dụng kênh hình với sự hỗ trợ của CNTTtrong DHLS như: không có tư liệu điện tử để khai thác (77.2%); không biết rõ nộidung liên quan đến kênh hình đó (64.9%); chưa làm chủ được kĩ thuật công nghệkhi sử dụng kênh hình (92.9%); HS không hứng thú khi học LS có sử dụng kênhhình với sự hỗ trợ của CNTT (1.7%); GV chưa được bồi dưỡng, cung cấp, chia sẻ

PP sử dụng kênh hình với sự hỗ trợ của CNTT (89.5%) Để khắc phục những khókhăn, hạn chế này, 92.9% ý kiến cho rằng GV cần được bồi dưỡng, tập huấn cácthao tác, kĩ thuật ứng dụng CNTT vào dạy học bộ môn; 61.4% đồng ý phải đượctrang bị thêm các phần mềm, phương tiện, kĩ thuật hỗ trợ DH; 94.4% GV cần đượcbồi dưỡng các PP, biện pháp sử dụng kênh hình với sự hỗ trợ của CNTT; 84.2 %

GV đồng ý phải thống nhất quan niệm khi ứng dụng CNTT, bồi dưỡng và chia sẻkinh nghiệm khi ứng dụng CNTT trong DHLS…

*Kết quả điều tra đối với HS ở từng nhóm câu hỏi:

- Quan niệm của HS về môn LS ở trường THPT (Xem câu hỏi và bảng thống

kê ở Phụ lục 1e, Bảng 1.3)

Theo kết quả điều tra, đa số HS ở các trường phổ thông quan niệm LS làmôn học có vị trí, ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ, nhưng chưađược coi trọng (325 ý kiến, chiếm 64.4%) 22.2% HS cho rằng LS là “môn phụ”.4.8% HS nhận thức LS là môn học ít có khả năng phát triển tư duy cho HS; 8.7 %

HS quan niệm LS là “môn chính”

Ngày đăng: 12/04/2016, 13:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ ba xu hướng ứng dụng CNTT trong DH - Sử dụng kênh hình trong dạy học Lịch thế giới (1917 – 1945), lớp 11 THPT  chương trình chuẩn với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Hình 1.1 Sơ đồ ba xu hướng ứng dụng CNTT trong DH (Trang 14)
Hình 1.2: Sơ đồ minh họa các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình DH - Sử dụng kênh hình trong dạy học Lịch thế giới (1917 – 1945), lớp 11 THPT  chương trình chuẩn với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Hình 1.2 Sơ đồ minh họa các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình DH (Trang 20)
Hình 1.4: Slide minh họa Chính sách mới của Tổng thống Mĩ Ru-dơ-ven - Sử dụng kênh hình trong dạy học Lịch thế giới (1917 – 1945), lớp 11 THPT  chương trình chuẩn với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Hình 1.4 Slide minh họa Chính sách mới của Tổng thống Mĩ Ru-dơ-ven (Trang 30)
Hình 1.5. Slide GV minh họa quá trình thiết lập chế độ phát xít của Đảng Quốc xã - Sử dụng kênh hình trong dạy học Lịch thế giới (1917 – 1945), lớp 11 THPT  chương trình chuẩn với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Hình 1.5. Slide GV minh họa quá trình thiết lập chế độ phát xít của Đảng Quốc xã (Trang 31)
Hình và thông qua lời trình bày sinh động của GV, HS thấy rõ khí thế hừng hực của đội quân cách mạng đang đồng loạt hướng thẳng về phía Cung điện – nơi ẩn náu cuối cùng của Chính phủ tư sản lâm thời - Sử dụng kênh hình trong dạy học Lịch thế giới (1917 – 1945), lớp 11 THPT  chương trình chuẩn với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Hình v à thông qua lời trình bày sinh động của GV, HS thấy rõ khí thế hừng hực của đội quân cách mạng đang đồng loạt hướng thẳng về phía Cung điện – nơi ẩn náu cuối cùng của Chính phủ tư sản lâm thời (Trang 33)
Bảng 1.1. Kết quả điều tra về  tần suất GV sử dụng kênh hình với sự - Sử dụng kênh hình trong dạy học Lịch thế giới (1917 – 1945), lớp 11 THPT  chương trình chuẩn với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Bảng 1.1. Kết quả điều tra về tần suất GV sử dụng kênh hình với sự (Trang 39)
Bảng 1.2. Kết quả điều tra về  hình thức, biện pháp sử dụng kênh hình trong DHLS - Sử dụng kênh hình trong dạy học Lịch thế giới (1917 – 1945), lớp 11 THPT  chương trình chuẩn với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Bảng 1.2. Kết quả điều tra về hình thức, biện pháp sử dụng kênh hình trong DHLS (Trang 39)
Hình 2.1: Slide minh họa GV sử dụng kênh hình phản ánh biến cố, sự kiện LS - Sử dụng kênh hình trong dạy học Lịch thế giới (1917 – 1945), lớp 11 THPT  chương trình chuẩn với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Hình 2.1 Slide minh họa GV sử dụng kênh hình phản ánh biến cố, sự kiện LS (Trang 64)
Hình 2.2: Slide minh họa GV hướng dẫn HS sử dụng niên biểu LS - Sử dụng kênh hình trong dạy học Lịch thế giới (1917 – 1945), lớp 11 THPT  chương trình chuẩn với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Hình 2.2 Slide minh họa GV hướng dẫn HS sử dụng niên biểu LS (Trang 72)
Hình 2.3: Slide minh họa cho cách thiết kế GAĐT thứ hai - Sử dụng kênh hình trong dạy học Lịch thế giới (1917 – 1945), lớp 11 THPT  chương trình chuẩn với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Hình 2.3 Slide minh họa cho cách thiết kế GAĐT thứ hai (Trang 73)
Hình bên là ví dụ minh họa cho cách thiết kế GAĐT thứ nhất ở Bài 13. - Sử dụng kênh hình trong dạy học Lịch thế giới (1917 – 1945), lớp 11 THPT  chương trình chuẩn với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Hình b ên là ví dụ minh họa cho cách thiết kế GAĐT thứ nhất ở Bài 13 (Trang 73)
Hình bên là ví dụ minh họa cho cách thiết GAĐT thứ ba ở bài 13. Nước - Sử dụng kênh hình trong dạy học Lịch thế giới (1917 – 1945), lớp 11 THPT  chương trình chuẩn với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Hình b ên là ví dụ minh họa cho cách thiết GAĐT thứ ba ở bài 13. Nước (Trang 74)
Hình 2.4: Slide minh họa biện pháp GV hướng dẫn HS sử dụng tranh ảnh LS với - Sử dụng kênh hình trong dạy học Lịch thế giới (1917 – 1945), lớp 11 THPT  chương trình chuẩn với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Hình 2.4 Slide minh họa biện pháp GV hướng dẫn HS sử dụng tranh ảnh LS với (Trang 83)
Hình 2.5:  Slide minh họa biện pháp GV sử dụng niên biểu, biểu đồ với sự hỗ trợ - Sử dụng kênh hình trong dạy học Lịch thế giới (1917 – 1945), lớp 11 THPT  chương trình chuẩn với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Hình 2.5 Slide minh họa biện pháp GV sử dụng niên biểu, biểu đồ với sự hỗ trợ (Trang 93)
Hình 2.6: Slide minh họa phần thi Mảnh ghép LS - Sử dụng kênh hình trong dạy học Lịch thế giới (1917 – 1945), lớp 11 THPT  chương trình chuẩn với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Hình 2.6 Slide minh họa phần thi Mảnh ghép LS (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w