1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức của gia đình truyền thống Việt Nam trong xây dựng gia đình văn hoá ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay

106 533 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 614 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2. Lịch sử nghiên cứu Cho đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về gia đình dưới nhiều góc độ và quy mô khác nhau. Liên quan đến đề tài của luận văn có thể phân chia các công trình này thành các nhóm cơ bản sau: Nhóm vấn đề chung về xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam có một số công trình như: “Gia đình Việt Nam ngày nay” Nxb. Khoa học xã hội, 1996; “Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới” của GS. Lê Thi, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002; “Suy nghĩ về việc xây dựng chiến lược phát triển gia đình hiện nay” của Lê Thị Quý, Tạp chí Cộng sản, số 30 – 2003; “Cuộc sống và biến động của hôn nhân gia đình Việt Nam hiện nay ” của GS. Lê Thi, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007; “Gia đình học” của Đặng Cảnh Khanh – Lê Thị Quý, Nxb. Chính trị Hành chính, Hà Nội, 2009; “Nghiên cứu gia đình và giới thời kỳ đổi mới”, Nhiều tác giả, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010; “Các mối quan hệ trong gia đình Việt Nam: Một số kết quả phân tích sâu Điều tra gia đình Việt Nam 2006”, Viện Gia đình và Giới, Nxb. Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch, Viện Gia đình và Giới, UNICEF Việt Nam, Hà Nội, 2011… Qua các công trình này, các tác giả đã khái quát một cách có hệ thống về sự biến đổi quy mô, cấu trúc, chức năng của gia đình trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. Hôn nhân và gia đình đến nay đối với người Việt Nam vẫn có ý nghĩa hết sức quan trọng. Tuy nhiên, gia đình Việt Nam đã có những thay đổi về cấu trúc, quy mô, về việc thực hiện các chức năng của gia đình. Nhiều khó khăn phức tạp đã nảy sinh trong hoàn cảnh mới, xu hướng ly hôn đang tăng lên, lối sống thực dụng, thế lực đồng tiền len lỏi trong nội bộ các gia đình, sự suy thoái về đạo đức, sự phân biệt đối xử với phụ nữ, với trẻ em, nạn bạo lực gia đình vẫn đang tồn tại và diễn biến phức tạp trong các gia đình… Những điều đó đã gây nhức nhối và cản trở sự tiến bộ của các thành viên, phá vỡ hạnh phúc gia đình và ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước. Trên cơ sở xác định một cách rõ nét thực trạng gia đình Việt Nam, các tác giả đều tập trung vào việc đề ra những phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc ở nước ta hiện nay. Đặc biệt, cần có sự kế thừa những giá trị đạo đức của gia đình truyền thống và tiếp thu những giá trị đạo đức của gia đình hiện đại. Vun đắp mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, không chỉ đòi hỏi chúng ta phải có cái tâm, có thiện ý, xuất phát từ tình cảm và trách nhiệm của mỗi người mà còn phải có những kiến thức khoa học về tâm sinh lý, về cách tổ chức đời sống gia đình trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế. Nhóm vấn đề quan hệ giới và sự bất bình đẳng, bạo lực gia đình, có một số công trình như: “Một số vấn đề về bạo lực gia đình hiện nay” của Lê Thị Quý, Tạp chí Khoa học và Phụ nữ, số 4 – 1991; “Bất bình đẳng nam nữ nhìn từ góc độ lịch sử” của Lê Thị Quý, Tạp chí Khoa học về Phụ nữ, số 32 – 1998; “Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới Việt Nam”, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội, 1998; “Bạo lực gia đình Bất bình đẳng trong quan hệ giới” của Lê Thị Quý, Tạp chí Khoa học về Phụ nữ, số 42 – 2000; “Bạo lực gia đình một sự sai lệch giá trị”, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007; “Bình đẳng giới ở Việt Nam: Phân tích số liệu điều tra”, Trần Thị Vân Anh Nguyễn Hữu Minh (chủ biên), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008; “Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam: Thực trạng, diễn tiến và nguyên nhân”, Nguyễn Hữu Minh; Trần Thị Vân Anh (đồng chủ biên), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009… Qua các công trình này, các tác giả đã chỉ ra thực trạng, nguyên nhân, ảnh hưởng và hậu quả của sự bất bình đẳng giữa các thành viên, nạn bạo lực gia đình đang diễn biến nghiêm trọng, tác động xấu đến gia đình và xã hội ở nước ta hiện nay. Nhóm vấn đề tiếp cận và nghiên cứu gia đình dưới góc độ văn hoá và đạo đức gia đình Dưới góc độ văn hoá có một số công trình như: “Nho giáo và gia đình”, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995; “Xây dựng gia đình văn hoá trong sự nghiệp đổi mới”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997; “Gia đình và Phụ nữ trong biến đổi văn hóa xã hội nông thôn” của Nguyễn Linh Khiếu, Nxb. Khoa học xã hội, 2001; “Gia đình, trẻ em và sự kế thừa các giá trị truyền thống”, Đặng Cảnh Khanh: Biên soạn, Nxb. Lao động xã hội, Hà Nội, 2003; “Văn hoá gia đình và xây dựng gia đình văn hoá trong thời kỳ hội nhập quốc tế” của Ths. Trần Thị Tuyết Mai, Tạp chí Cộng sản, số 161 – 2008… Qua các công trình này, các tác giả đã khái quát được những giá trị văn hoá của gia đình, chỉ ra sự cần thiết phải xây dựng văn hoá gia đình và gia đình văn hoá ở Việt Nam hiện nay. Dưới góc độ đạo đức gia đình có một số công trình như: “Đạo đức mới” của Vũ Khiêu (Chủ biên), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974; “Quan hệ giữa đạo đức và kinh tế trong việc định hướng giá trị đạo đức hiện nay” của Nguyễn Thế Kiệt, Tạp chí Triết học, số 6, 1992; “Quán triệt mối quan hệ giữa kinh tế với đạo đức” của Nguyễn Ngọc Long, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, 11987; “Định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường” của Thái Duy Tuyên, Hà Nội, 1994; “Những vấn đề về đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường” của Viện Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội, 1996; “Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển nhân cách trong cơ chế thị trường” của Nguyễn Văn Phúc, Tạp chí Triết học, số 5, 1996; “Vai trò của gia đình trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam” của Lê Thi, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội, 1997; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” của Thành Duy, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; “Văn hoá đạo đức Hồ Chí Minh” của Hoàng Chí Bảo, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009… Qua các công trình này, các tác giả đã khái quát thực trạng đạo đức của xã hội và gia đình Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Đồng thời, chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái về đạo đức và lối sống của giới trẻ hiện nay. Từ đó, nhấn mạnh vai trò quan trọng của nhà trường, cộng đồng, xã hội và đặc biệt là vai trò của gia đình trong việc giáo dục đạo đức, lối sống và hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ hiện nay. Ngoài một số công trình nêu trên còn có các luận án, luận văn nghiên cứu về gia đình, về đạo đức gia đình và giáo dục đạo đức trong gia đình như: Luận văn thạc sĩ Triết học “Sự tác động của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến đạo đức gia đình truyền thống ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Thọ; Luận án tiến sĩ Triết học “Vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay” của Nghiêm Sĩ Liêm, 2000; “Gia đình trong quá trình đô thị hoá ở Thành phố Hồ Chí Minh” của Nguyễn Tiến Vững, 2005; Luận án tiến sĩ tâm lý học “Ảnh hưởng của truyền thống gia đình đến định hướng giá trị cuộc sống của thế hệ trẻ” của Cấn Hữu Hải, 2001… Tuy nhiên, các công trình nêu trên chỉ đề cập một cách khái quát hoặc một số khía cạnh của gia đình nói chung, cho đến nay còn rất thiếu những công trình nghiên cứu cơ bản và hệ thống về việc kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức của gia đình truyền thống Việt Nam trong xây dựng gia đình văn hoá ở tỉnh Vĩnh Phúc trong thời kỳ đổi mới và hội nhập hiện nay.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế ở nước ta đã và đang tạo ranhiều cơ hội đối với sự phát triển của gia đình đồng thời lại đặt ra nhiều tháchthức đối với việc xây dựng gia đình và việc kế thừa, phát huy những giá trị tốtđẹp của gia đình truyền thống Việt Nam trong xây dựng gia đình văn hóa ởnước ta hiện nay

Trải qua nhiều thế hệ, gia đình Việt nam vẫn luôn được coi trọng nhưmột giá trị bền vững, có sức sống mạnh mẽ, là nền tảng, là tế bào của xã hội.Truyền thống coi trọng gia đình, sống gắn bó với gia đình và tuân theo nhữngchuẩn mực đạo đức của gia đình truyền thống vẫn được nhiều người đồngtình, khẳng định và coi đó là đạo lý làm người của người Việt Ngày nay,dưới tác động của quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, gia đình Việt Namđang có những biến đổi một cách mạnh mẽ Sự biến đổi ấy là một quá trìnhthống nhất, liên tục vừa bảo tồn, truyền thụ, phát huy những giá trị tích cựccủa gia đình truyền thống vừa tiếp thu có chọn lọc và cải biến những giá trịcủa gia đình hiện đại

Trong quá trình diễn ra những biến đổi của gia đình, có những giá trịđạo đức của gia đình truyền thống đã bị mất đi; lại có những giá trị đang biếnđổi dần dần, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội mới và cũng có những giátrị quý báu của gia đình Việt Nam truyền thống vẫn được bảo tồn và phát huynhư: sự chung thuỷ, tình nghĩa vợ chồng; trách nhiệm và sự hy sinh của cha

mẹ với con cái; con cái hiếu thảo với cha mẹ, ông bà, tổ tiên… đồng thời giađình Việt Nam hiện nay cũng đang tiếp nhận nhiều giá trị của gia đình hiệnđại như: tôn trọng tự do cá nhân, tôn trọng quan niệm và sự lựa chọn của mỗithành viên trong gia đình; tôn trọng lợi ích cá nhân, bình đẳng nam nữ, vợ -chồng… Điều đó cho thấy, gia đình Việt Nam hiện nay đang được củng cố vàxây dựng theo xu hướng hiện đại hoá: dân chủ, bình đẳng, tự do và tiến bộ

Trang 2

Đi cùng với những cơ hội đang thúc đẩy sự tiến bộ của gia đình ViệtNam thì quá trình đổi mới và phát triển kinh tế đất nước hiện nay cũng đangđặt gia đình đứng trước rất nhiều thách thức, biến động và bất trắc, có nguy

cơ xâm hại và làm mai một những giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống.Trên thực tế ở nhiều nơi, nhất là những khu đô thị lớn, gia đình đang cónhững dấu hiệu của sự khủng hoảng, những giá trị của gia đình truyền thốngtốt đẹp đang bị lấn át bởi sự thao túng của đồng tiền, lối sống lai căng, thiếuvăn hoá, tình trạng ly hôn có xu hướng tăng cao; sống chung không kết hôn;tình trạng trẻ em nghiện hút; tệ nạn mại dâm; tình dục đồng giới; bạo lực giađình; ngoại tình… đang tấn công vào gia đình từ nhiều phương diện khácnhau Có một thực tế đang đặt ra, nhiều gia đình đang lúng túng trong việcnuôi dạy, giáo dục con cái, hướng con cái vào những chuẩn mực đạo đức cổtruyền thì xem ra lỗi thời, không thích hợp; hướng con cái vào các giá trị hiệnđại thì chưa được xác định rõ ràng… nhiều gia đình chỉ biết dạy con theo kinhnghiệm của mình; bộ phận khác lại hướng con cái theo suy nghĩ, lối sống hiệnđại đang được du nhập vào nước ta thông qua quá trình hội nhập quốc tế Bêncạnh đó, không ít gia đình lại phó thác việc giáo dục con cái cho nhà trường

và xã hội… dẫn đến những hệ quả tiêu cực đối với việc xây dựng gia đình,giáo dục và định hình nhân cách cho thế hệ trẻ đang lớn lên và đang hàngngày, hàng giờ chịu tác động bởi mặt trái của nền kinh tế thị trường Tìnhhình đó đòi hỏi chúng ta phải xác định nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi giátrị đạo đức của gia đình truyền thống Việt Nam trong quá trình đổi mới vàphát triển đất nước Đồng thời chỉ rõ vai trò quan trọng của sự kế thừa và pháthuy những giá trị đạo đức của gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình

cụ thể là xây dựng gia đình văn hóa ở nước ta hiện nay nói chung và tỉnhVĩnh Phúc nói riêng

Tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay đang trong quá trình đô thị hoá cả về chiềurộng lẫn chiều sâu với tốc độ ngày càng gia tăng Sự chuyển đổi từ xã hội

Trang 3

nông nghiệp truyền thống sang xã hội công nghiệp đô thị cùng với quá trìnhquốc tế hoá đang diễn ra mạnh mẽ đã có những tác động nhất định đến toàn

bộ đời sống các thành viên trong gia đình Do đó, việc kế thừa những giá trịđạo đức của gia đình truyền thống để xây dựng gia đình văn hoá ở tỉnh VĩnhPhúc hiện nay là hết sức cần thiết Xuất phát từ yêu cầu trên, tôi chọn vấn đề

“Kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức của gia đình truyền thống Việt

Nam trong xây dựng gia đình văn hoá ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay” làm đề

tài luận văn thạc sỹ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

2 Lịch sử nghiên cứu

Cho đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về gia đìnhdưới nhiều góc độ và quy mô khác nhau Liên quan đến đề tài của luận văn có

thể phân chia các công trình này thành các nhóm cơ bản sau:

Nhóm vấn đề chung về xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam có

một số công trình như: “Gia đình Việt Nam ngày nay” Nxb Khoa học xã hội, 1996; “Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới” của GS Lê Thi, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002; “Suy nghĩ về việc xây dựng chiến lược

phát triển gia đình hiện nay” của Lê Thị Quý, Tạp chí Cộng sản, số 30 –

2003; “Cuộc sống và biến động của hôn nhân gia đình Việt Nam hiện nay ” của GS Lê Thi, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007; “Gia đình học” của

Đặng Cảnh Khanh – Lê Thị Quý, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2009;

“Nghiên cứu gia đình và giới thời kỳ đổi mới”, Nhiều tác giả, Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội, 2010; “Các mối quan hệ trong gia đình Việt Nam: Một số kết

quả phân tích sâu Điều tra gia đình Việt Nam 2006”, Viện Gia đình và Giới,

Nxb Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch, Viện Gia đình và Giới, UNICEF ViệtNam, Hà Nội, 2011… Qua các công trình này, các tác giả đã khái quát mộtcách có hệ thống về sự biến đổi quy mô, cấu trúc, chức năng của gia đìnhtrong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế Hôn nhân và gia đình đến nayđối với người Việt Nam vẫn có ý nghĩa hết sức quan trọng Tuy nhiên, gia

Trang 4

đình Việt Nam đã có những thay đổi về cấu trúc, quy mô, về việc thực hiệncác chức năng của gia đình Nhiều khó khăn phức tạp đã nảy sinh trong hoàncảnh mới, xu hướng ly hôn đang tăng lên, lối sống thực dụng, thế lực đồngtiền len lỏi trong nội bộ các gia đình, sự suy thoái về đạo đức, sự phân biệt đối

xử với phụ nữ, với trẻ em, nạn bạo lực gia đình vẫn đang tồn tại và diễn biếnphức tạp trong các gia đình… Những điều đó đã gây nhức nhối và cản trở sựtiến bộ của các thành viên, phá vỡ hạnh phúc gia đình và ảnh hưởng đến sựphát triển bền vững của đất nước

Trên cơ sở xác định một cách rõ nét thực trạng gia đình Việt Nam, cáctác giả đều tập trung vào việc đề ra những phương hướng và giải pháp cơ bảnnhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc ở nước tahiện nay Đặc biệt, cần có sự kế thừa những giá trị đạo đức của gia đìnhtruyền thống và tiếp thu những giá trị đạo đức của gia đình hiện đại Vun đắpmối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, không chỉ đòi hỏi chúng taphải có cái tâm, có thiện ý, xuất phát từ tình cảm và trách nhiệm của mỗingười mà còn phải có những kiến thức khoa học về tâm sinh lý, về cách tổchức đời sống gia đình trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế

Nhóm vấn đề quan hệ giới và sự bất bình đẳng, bạo lực gia đình, có

một số công trình như: “Một số vấn đề về bạo lực gia đình hiện nay” của Lê Thị Quý, Tạp chí Khoa học và Phụ nữ, số 4 – 1991; “Bất bình đẳng nam nữ

nhìn từ góc độ lịch sử” của Lê Thị Quý, Tạp chí Khoa học về Phụ nữ, số 32 –

1998; “Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới Việt Nam”, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1998; “Bạo lực gia đình - Bất bình đẳng trong quan hệ giới” của Lê Thị Quý, Tạp chí Khoa học về Phụ nữ, số 42 – 2000; “Bạo lực gia đình - một sự

sai lệch giá trị”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007; “Bình đẳng giới ở Việt Nam: Phân tích số liệu điều tra”, Trần Thị Vân Anh - Nguyễn Hữu Minh

(chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008; “Bạo lực gia đình đối với

phụ nữ ở Việt Nam: Thực trạng, diễn tiến và nguyên nhân”, Nguyễn Hữu

Trang 5

Minh; Trần Thị Vân Anh (đồng chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,2009… Qua các công trình này, các tác giả đã chỉ ra thực trạng, nguyên nhân,ảnh hưởng và hậu quả của sự bất bình đẳng giữa các thành viên, nạn bạo lựcgia đình đang diễn biến nghiêm trọng, tác động xấu đến gia đình và xã hội ởnước ta hiện nay.

Nhóm vấn đề tiếp cận và nghiên cứu gia đình dưới góc độ văn hoá và đạo đức gia đình

Dưới góc độ văn hoá có một số công trình như: “Nho giáo và gia

đình”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995; “Xây dựng gia đình văn hoá trong sự nghiệp đổi mới”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997; “Gia đình

và Phụ nữ trong biến đổi văn hóa - xã hội nông thôn” của Nguyễn Linh

Khiếu, Nxb Khoa học xã hội, 2001; “Gia đình, trẻ em và sự kế thừa các giá

trị truyền thống”, Đặng Cảnh Khanh: Biên soạn, Nxb Lao động xã hội, Hà

Nội, 2003; “Văn hoá gia đình và xây dựng gia đình văn hoá trong thời kỳ hội

nhập quốc tế” của Ths Trần Thị Tuyết Mai, Tạp chí Cộng sản, số 161 –

2008… Qua các công trình này, các tác giả đã khái quát được những giá trịvăn hoá của gia đình, chỉ ra sự cần thiết phải xây dựng văn hoá gia đình vàgia đình văn hoá ở Việt Nam hiện nay

Dưới góc độ đạo đức gia đình có một số công trình như: “Đạo đức mới” của Vũ Khiêu (Chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974; “Quan

hệ giữa đạo đức và kinh tế trong việc định hướng giá trị đạo đức hiện nay”

của Nguyễn Thế Kiệt, Tạp chí Triết học, số 6, 1992; “Quán triệt mối quan hệ

giữa kinh tế với đạo đức” của Nguyễn Ngọc Long, Tạp chí Nghiên cứu lý

luận, 1-1987; “Định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện

kinh tế thị trường” của Thái Duy Tuyên, Hà Nội, 1994; “Những vấn đề về đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường” của Viện Thông tin khoa học xã

hội, Hà Nội, 1996; “Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển nhân cách

trong cơ chế thị trường” của Nguyễn Văn Phúc, Tạp chí Triết học, số 5,

Trang 6

1996; “Vai trò của gia đình trong việc xây dựng nhân cách con người Việt

Nam” của Lê Thi, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1997; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” của Thành Duy, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; “Văn hoá đạo đức Hồ Chí Minh” của Hoàng Chí Bảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2009… Qua các công trình này, các tác giả đã khái quát thực trạng đạo đứccủa xã hội và gia đình Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hộinhập quốc tế Đồng thời, chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái vềđạo đức và lối sống của giới trẻ hiện nay Từ đó, nhấn mạnh vai trò quantrọng của nhà trường, cộng đồng, xã hội và đặc biệt là vai trò của gia đìnhtrong việc giáo dục đạo đức, lối sống và hình thành nhân cách cho thế hệ trẻhiện nay

Ngoài một số công trình nêu trên còn có các luận án, luận văn nghiêncứu về gia đình, về đạo đức gia đình và giáo dục đạo đức trong gia đình như:

Luận văn thạc sĩ Triết học “Sự tác động của kinh tế thị trường định hướng xã

hội chủ nghĩa đến đạo đức gia đình truyền thống ở Việt Nam” của Nguyễn

Thị Thọ; Luận án tiến sĩ Triết học “Vai trò của gia đình trong việc giáo dục

thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay” của Nghiêm Sĩ Liêm, 2000; “Gia đình trong quá trình đô thị hoá ở Thành phố Hồ Chí Minh” của Nguyễn Tiến Vững,

2005; Luận án tiến sĩ tâm lý học “Ảnh hưởng của truyền thống gia đình đến

định hướng giá trị cuộc sống của thế hệ trẻ” của Cấn Hữu Hải, 2001… Tuy

nhiên, các công trình nêu trên chỉ đề cập một cách khái quát hoặc một số khíacạnh của gia đình nói chung, cho đến nay còn rất thiếu những công trìnhnghiên cứu cơ bản và hệ thống về việc kế thừa và phát huy những giá trị đạođức của gia đình truyền thống Việt Nam trong xây dựng gia đình văn hoá ởtỉnh Vĩnh Phúc trong thời kỳ đổi mới và hội nhập hiện nay

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở xác định hệ giá trị đạo đức của gia đình truyền thống ViệtNam, từ nghiên cứu thực trạng xây dựng gia đình ở tỉnh Vĩnh Phúc, luận văn

Trang 7

khẳng định sự cần thiết phải kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức của giađình truyền thống đồng thời chỉ ra một số giải pháp nhằm kế thừa và phát huynhững giá trị đó trong xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.

Để thực hiện mục đích nghiên cứu đã đặt ra, luận văn tập trung giảiquyết những nhiệm vụ sau đây:

Thứ nhất, làm rõ khái niệm gia đình, gia đình truyền thống, gia đìnhvăn hóa và hệ giá trị đạo đức của gia đình truyền thống Việt Nam

Thứ hai, xác định những yêu cầu khách quan cần phải kế thừa và pháthuy những giá trị đạo đức của gia đình truyền thống trong xây dựng gia đìnhvăn hoá ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay

Thứ ba, từ thực trạng xây dựng gia đình ở tỉnh Vĩnh Phúc, luận văn chỉ

ra nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong xây dựng gia đình hiện nay.Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm kế thừa và phát huynhững giá trị đạo đức của gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình vănhóa ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những giá trị đạo đức

của gia đình truyền thống Việt Nam và kế thừa, phát huy các giá trị đó trongxây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay

* Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ nghiên cứu về những giá trị đạo

đức của gia đình truyền thống Việt Nam mà ngày nay vẫn có ý nghĩa tích cựctrong xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm gần đây

5 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả

Luận văn góp phần làm rõ khái niệm gia đình, gia đình truyền thống,gia đình văn hóa, hệ giá trị đạo đức của gia đình truyền thống Việt Nam vàthực trạng xây dựng gia đình ở tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó đề xuất một số giải phápnhằm kế thừa và phát huy các giá trị đó trong xây dựng gia đình văn hóa ởtỉnh Vĩnh Phúc hiện nay

Trang 8

6 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin

và phương pháp luận biện chứng duy vật, kết hợp sử dụng các phương phápnghiên cứu chuyên ngành như phương pháp lịch sử cụ thể, phân tích - tổng

hợp, thống kê, so sánh… để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 2 chương, 6 tiết

Chương 1: Gia đình và giá trị đạo đức của gia đình truyền thống Việt

Nam

Chương 2: Thực trạng và giải pháp nhằm kế thừa và phát huy những

giá trị đạo đức của gia đình truyền thống Việt Nam trong xây dựng gia đìnhvăn hoá ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay

Trang 9

CHƯƠNG 1 GIA ĐÌNH VÀ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC CỦA GIA ĐÌNH

TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM 1.1 Gia đình và gia đình truyền thống Việt Nam

1.1.1 Gia đình và vai trò của gia đình đối với sự phát triển của xã hội

* Khái niệm về gia đình

Đã từ lâu, gia đình luôn là điểm tựa, là cội nguồn, là cái nôi của sự yênbình của mỗi người đồng thời gia đình là yếu tố vô cùng cần thiết của xã hội –gia đình là tế bào của xã hội Trong lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen, để xây

dựng quan niệm duy vật về lịch sử, các ông đã dựa vào những tiền đề hiện

thực Những tiền đề hiện thực này thường được C.Mác và Ph.Ăngghen sử

dụng với tư cách là những phạm trù xuất phát để nghiên cứu, mổ xẻ các quátrình xã hội nhằm phát hiện ra các quy luật, mâu thuẫn, xu hướng vận động vàphát triển của nó Những tiền đề hiện thực này được biểu hiện một cách cụ thểqua các phạm trù, như phạm trù hàng hóa, con người, sở hữu Điều đáng lưu

ý là, tất cả các phạm trù này đều có liên quan đến phạm trù gia đình Bởi, trong quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen gia đình là tế bào của xã hội,

tham gia vào mọi quá trình sản xuất, từ sản xuất hàng hóa đến tiêu thụ sảnphẩm; từ việc tái tạo ra con người đến việc đào tạo, bồi dưỡng con người; từchỗ tạo ra sự khác biệt về sở hữu đến chỗ giải quyết vấn đề sở hữu Ngược lại,các quá trình sản xuất, tiêu dùng, cải tiến và sử dụng công cụ lao động, giáodục và đào tạo đều tác động trở lại gia đình, củng cố hoặc làm biến đổi hìnhthức và kết cấu của gia đình

Vấn đề gia đình là vấn đề được C.Mác và Ph.Ăngghen đề cập nhiềulần trong các tác phẩm của mình Các ông đã xem xét gia đình với tư cáchmột xã hội thu nhỏ, các hình thức lịch sử của gia đình, nhất là gia đình với sựxuất hiện của sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất; nghiên cứu mối quan hệ giữa

Trang 10

gia đình và nhà nước, sự khác biệt giữa gia đình dưới chế độ tư bản chủ nghĩa

và gia đình dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Đồng thời, C.Mác và Ăngghen cònnghiên cứu gia đình trong quan hệ tính giao - vấn đề trong hôn nhân, và giađình với tư cách yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất trong lịch sử phát triển

xã hội

Như vậy, trong lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen vấn đề gia đìnhkhông chỉ dừng lại ở khái niệm "gia đình" thuần túy mà ở đây các nhà kinhđiển còn chỉ rõ nguồn gốc của gia đình, tác động của gia đình tới xã hội cũngnhư những biến đổi xã hội tác động đến gia đình, đặc biệt là tác động của sựbiến đổi kinh tế, của tiến trình công nghiệp hoá

Trong Hệ tư tưởng Đức, khi nói về tiến trình phát triển của lịch sử nhân

loại, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xem xét ba mối quan hệ cơ bản của con người

đã được hình thành trong lịch sử nhân loại Quan hệ thứ nhất là quan hệ giữa

con người với tự nhiên, phản ánh khát vọng chinh phục tự nhiên, nghiên cứu

tự nhiên để tồn tại và cũng để nhằm thỏa mãn những nhu cầu không ngừng

nảy sinh của con người Quan hệ thứ hai là quan hệ giữa con người với con

người trong quá trình sản xuất, phản ánh các quan hệ sở hữu đối với tư liệusản xuất, các quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất, các quan hệ trong

phân phối sản phẩm lao động Quan hệ thứ ba là quan hệ gia đình Cũng theo

các ông, ba quan hệ này tồn tại đan xen với nhau, hòa vào nhau, cùng tồn tạibên nhau Nhờ những nghiên cứu của C.Mác và Ph.Ăngghen về các hình thứcgia đình, chúng ta mới có thể hiểu rõ hơn nội dung của lực lượng sản xuất(quan hệ thứ nhất), nội dung của quan hệ sản xuất (quan hệ thứ hai) và ngượclại Khi nhấn mạnh vai trò của gia đình đối với sự phát triển của lực lượng sảnxuất và quan hệ sản xuất, C.Mác và Ph.Ăngghen còn cho rằng, thực ra, giađình là “quan hệ xã hội duy nhất” trong buổi đầu của lịch sử xã hội Nhờ quan

hệ thứ ba này, với chức năng sinh con đẻ cái, quan hệ gia đình đã sản sinh ra

và duy trì các quan hệ xã hội khác Theo ý nghĩa đó, gia đình là một xã hội

Trang 11

thu nhỏ: gia đình sản sinh ra các cá thể người, gắn kết các cá thể người thành

xã hội và khi xã hội loài người được hình thành thì những hoạt động của nóthường xuyên tác động tới gia đình làm cho gia đình biến đổi về cả hình thức,cấu trúc cũng như vai trò của nó đối với xã hội Chính vì vậy, C.Mác vàĂngghen luôn đòi hỏi nghiên cứu gia đình, nghiên cứu lịch sử loài người phảigắn liền với lịch sử của công nghiệp và của sự trao đổi sản phẩm

Khi luận chứng về những tiền đề, điều kiện cho sự tồn tại của conngười, C Mác đã viết: “Hằng ngày tái tạo ra đời sống bản thân mình, conngười bắt đầu tái tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nở - đó là quan hệgiữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình” [28, tr.41] Với quanniệm này gia đình được nhìn nhận với một số nội dung chính sau:

Thứ nhất, gia đình ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của xãhội loài người; con người cùng với quá trình tái tạo ra chính bản thân mình thìđồng thời cũng tạo ra gia đình

Thứ hai, chức năng chính của gia đình là tái tạo, sinh sôi nảy nở ra con người

Thứ ba, gia đình được tạo bởi hai mối quan hệ chủ yếu: quan hệ hôn

nhân (vợ - chồng), quan hệ huyết thống (cha, mẹ - con cái).

Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848) C.Mác và Ph.Ăngghen

đã cho rằng, sự ra đời của nền sản xuất bằng máy móc hiện đại - nền đại côngnghiệp tư bản chủ nghĩa với lực lượng sản xuất mới đã dần xóa bỏ toàn bộ hệthống công trường thủ công, đã thay đổi sự phân bố dân cư và kết cấu ngànhnghề của xã hội và do vậy, sự "yên ấm” của từng gia đình cũng bị phá vỡ theodòng xoáy của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Không chỉ thế, nó còn làm thayđổi vị trí và điều kiện sinh sống của gia đình, thay đổi nhu cầu thưởng thứcnhững giá trị vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong gia đình Nếutrước đây, nhu cầu tiêu dùng được thỏa mãn bằng những sản phẩm trongnước, thì nay đã nảy sinh ra những nhu cầu mới, đòi hỏi được thỏa mãn bằngnhững sản phẩm đưa từ những miền và xứ xa xôi nhất về và một khi “sản xuất

Trang 12

vật chất đã như thế thì sản xuất tinh thần cũng không kém như thế”, nó làmcho những thành quả của hoạt động tinh thần của một dân tộc trở thành tài sảnchung của tất cả các dân tộc Nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa còn tạo ramột chế độ xã hội và chính trị thích ứng với quan hệ sản xuất mới, với cơ sở

hạ tầng mới Nó xóa bỏ mọi phẩm chất và đức hạnh do chế độ phong kiến tạodựng; nó "tước hết hào quang thần thánh của tất cả những hoạt động xưa nayvẫn được trọng vọng và tôn sùng" [29, tr.600]; nó biến đổi cả quan hệ giađình vốn được xem là thiêng liêng nhất, "xé toang tấm màn tình cảm bao phủnhững quan hệ gia đình và làm cho những quan hệ ấy chỉ còn là những quan

hệ tiền nong đơn thuần" [29, tr.600] Cũng trong tác phẩm này, C.Mác vàPh.Ăngghen đã khẳng định với sự hình thành và phát triển của nền đại côngnghiệp thì không chỉ các quan hệ xã hội mà cả quan hệ gia đình cũng đã bịthay đổi

Tiếp tục nghiên cứu về gia đình, trong một tác phẩm chuyên khảo đặc

biệt có giá trị Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và nhà nước (1884),

Ph Ăngghen đã chỉ ra vị trí quan trọng của gia đình đối với sự tồn tại và pháttriển của xã hội Ông chỉ ra rằng: “Theo quan điểm duy vật, nhân tố quyếtđịnh trong lịch sử, quy đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trựctiếp Nhưng bản thân sự sản xuất đó lại có hai loại Một mặt là sản xuất ra tưliệu sinh hoạt: thực phẩm, quần áo và nhà ở và những công cụ cần thiết để sảnxuất ra những thứ đó; mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con người, là sựtruyền nòi giống Những trật tự xã hội, trong đó những con người của mộtthời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất định đang sống, là do hai loạisản xuất quyết định: ‘‘một mặt là do trình độ phát triển của lao động và mặtkhác là do trình độ phát triển của gia đình” [30, tr.44] Theo Ph Ăngghen,quá trình sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp là nhân tố quyết địnhtiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, cùng với trình độ phát triển của lực

Trang 13

lượng sản xuất thì sự phát triển của gia đình cũng đóng vai trò quan trọng đốivới sự phát triển của xã hội.

Thực tế đã chứng minh rằng, những luận điểm cơ bản của chủ nghĩaMác – Lênin về hôn nhân và gia đình đã và đang được thực tiễn chứng minh

là hoàn toàn có cơ sở khoa học, có giá trị thực tiễn cao, nhất là những tưtưởng về những biến đổi của gia đình phụ thuộc và gắn liền với sự biến đổicủa các điều kiện kinh tế - xã hội nhưng có tác động quan trọng đối với nhữngbiến đổi kinh tế - xã hội ấy

Trên thế giới, hiện tồn tại rất nhiều hình thức gia đình với cấu trúc vàchức năng khác nhau Có thể thấy, gia đình là một phạm trù xuất hiện sớmnhất trong lịch sử loài người và trở thành phạm trù độc lập Từ khi xã hội cònlạc hậu đến thời đại văn minh, mỗi con người sinh ra, trưởng thành và từ biệtcõi đời đều gắn bó với gia đình Gia đình là môi trường xã hội hoá đầu tiêncủa mỗi cá nhân và là tế bào của xã hội Chính bởi vai trò đặc biệt quan trọngcủa gia đình nên vấn đề gia đình luôn nhận được sự quan tâm của các nhànghiên cứu do đó khi bàn về khái niệm gia đình ở nước ta có rất nhiều quanđiểm từ những góc độ tiếp cận khác nhau như:

- Dưới góc độ văn hoá học, cố giáo sư Trần Đình Hượu cho rằng, giađình là một thiết chế xã hội mang màu sắc dân tộc và đánh dấu tiến trình pháttriển về văn hoá Đó là thiết chế cơ sở nằm cạnh các thiết chế xã hội khác như

họ, làng, xóm, phường, hội, dân tộc, nhà nước có những thực thể: cá nhân vàcộng đồng mà cá nhân đó tham gia (như họ, làng, các tổ chức xã hội, dân tộc,quốc gia) [16, tr.79]

- Dưới góc độ cấu trúc, gia đình là “một thực thể sống, một hợp chất donhiều cá nhân cấu thành, nhưng không chứa một thuộc tính nào gọi là cánhân” [7, tr.151]

- Nhìn từ góc độ vai trò của gia đình đối với sự phát triển của mỗi cánhân thì gia đình được xem là trường học đầu tiên của mỗi cá nhân và cha mẹ

Trang 14

là những người thầy đầu tiên dạy cho con những đức tính, tình cảm tốt đẹptheo truyền thống văn hoá của cộng đồng, dân tộc và bản thân gia đình

- Từ góc độ tâm lý học: Gia đình là một nhóm xã hội, tồn tại và pháttriển dựa trên các mối quan hệ cơ bản là quan hệ hôn nhân và tình cảm huyếtthống sâu sắc, trong đó mỗi cá nhân hình thành và phát triển nhân cách

Căn cứ vào thực tiễn của hôn nhân và gia đình ở nước ta, GS Lê Thi đãđưa ra quan niệm về gia đình: “Khái niệm gia đình được sử dụng để chỉ mộtnhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thốngnảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng, nội,ngoại) cùng chung sống Đồng thời, gia đình có thể bao gồm một số ngườiđược gia đình nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ máu mủ Các thành viên giađình gắn bó với nhau về trách nhiệm, quyền lợi (kinh tế, văn hoá, tình cảm),giữa họ có những điều kiện ràng buộc có tính pháp lý, được nhà nước thừanhận và bảo vệ (được ghi rõ trong Luật hôn nhân và gia đình nước ta) Đồngthời trong gia đình có những quy định rõ ràng về quyền được phép và cấmđoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên” [48, tr.7]

Để hướng tới xây dựng gia đình bền vững, tổ chức UNESCO của Liênhiệp quốc đã quyết định lấy năm 1994 là năm Quốc tế gia đình và thống nhấtkhẳng định: Gia đình là một yếu tố tự nhiên và cơ bản, một đơn vị kinh tế của

xã hội Gia đình được coi như một giá trị vô cùng quý báu của nhân loại cầnđược giữ gìn và phát huy Trên tinh thần đó UNESCO đã đưa ra định nghĩa về

gia đình: Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng, cùng chung sống

và có ngân sách chung Cho đến nay, định nghĩa này được coi là quan niệm

chung và phổ biến khi nói về gia đình

Nước ta hiện nay đang đứng trước yêu cầu của công nghiệp hoá – hiệnđại hoá, đổi mới và hội nhập quốc tế là vấn đề mang ý nghĩa sống còn đối vớimọi dân tộc, quốc gia trong đó có Việt Nam Trong quá trình này, không thểkhông xét đến mối quan hệ của nó đối với vấn đề gia đình và do vậy, không

Trang 15

thể không vận dụng lý luận về gia đình trong kho tàng lý luận của các nhàsáng lập chủ nghĩa Mác để giải quyết những vấn đề của thực tiễn Nghiên cứuquan hệ gia đình trong sự phát triển kinh tế - xã hội, nhất là mối quan hệ giữagia đình và sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong disản lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen không những giúp cho chúng ta thấyđược tác động của quá trình cải tạo và phát triển kinh tế - xã hội, thấy đượcnhững khuynh hướng biến đổi tất yếu của gia đình, mà còn giúp chúng tanhận thức được vai trò của gia đình đối với sự nghiệp đổi mới và mở rộnghợp tác quốc tế ở nước ta hiện nay Đó là vai trò của gia đình trong việc trang

bị tri thức mới cho thế hệ lao động tương lai, trang bị những hiểu biết căn bản

về những giá trị đạo đức truyền thống; nâng cao nhận thức về sự cần thiếtphải bảo vệ những ngành, nghề truyền thống trước những tác động tiêu cực

do mặt trái của nền kinh tế thị trường gây ra Việt Nam đang đứng trước cơhội lớn để phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa, đồng thời cũng có nhữngthách thức nghiệt ngã cần phải vượt qua, trong đó có thách thức về xây dựnggia đình Việt Nam trên cơ sở kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức củagia đình truyền thống, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của công cuộcđổi mới và thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá cùng xu thế toàncầu hoá Nhận thức rõ điều này, Đảng ta đã đề ra chủ trương là định hướngchiến lược không chỉ đối với việc xây dựng gia đình Việt Nam mới, mà cònđối với việc kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức của gia đình truyềnthống Việt Nam trong bối cảnh đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế

* Vai trò của gia đình đối với sự phát triển của xã hội

Không thể phủ nhận được vai trò to lớn và rất quan trọng của gia đìnhtrong đời sống xã hội Các tế bào cấu thành xã hội ấy vẫn còn và sẽ còn lànhân tố quan trọng đối với sự phát triển bền vững của xã hội Việt Nam Giađình là “tế bào của xã hội”, điều này trước hết chỉ ra rằng, gia đình và xã hội

có quan hệ mật thiết với nhau Quan hệ đó giống như sự tương tác hữu cơ của

Trang 16

quá trình trao đổi chất, duy trì sự sống giữa tế bào và một cơ thể sinh vật Xãhội (cơ thể) lành mạnh tạo điều kiện cho các gia đình tiến bộ, gia đình (tế bào)hạnh phúc góp phần cho sự phát triển hài hòa của xã hội Trong hệ thống cơcấu xã hội có nhiều bộ phận khác nhau, nhiều thiết chế lớn nhỏ… với tínhcách là tế bào của xã hội, gia đình là tổ chức cơ sở, là cơ cấu và thiết chế xãhội nhỏ nhất Cơ cấu thiết chế nhỏ nhất này lại đa dạng và phong phú, trongquá trình vận động, vừa tuân thủ những quy luật và cơ chế chung của xã hội,vừa theo những quy định và tổ chức riêng của mình Trình độ phát triển kinh

tế - xã hội quyết định đến quy mô, kết cấu, hình thức tổ chức và tính chất củagia đình… Vai trò của gia đình được thể hiện rõ nét qua các chức năng cơ bảncủa gia đình

Thứ nhất, chức năng tái sản xuất ra con người – là chức năng có vai trò

quan trọng, là điều kiện và nhân tố không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triểncủa xã hội Đây là chức năng cơ bản, tự nhiên của gia đình, nhằm cung cấpnguồn lao động mới cho xã hội, mặt khác, để đáp ứng và thỏa mãn nhu cầucuộc sống của đôi vợ chồng và các thành viên

Đối với gia đình Việt Nam truyền thống, chức năng này được đặc biệt

đề cao bởi tính quy định của nền văn minh nông nghiệp Trong quá trình sảnxuất nông nghiệp đòi hỏi phải có nhiều lao động, nhất là lao động của ngườiđàn ông Gia đình càng đông con, nhất là đông con trai, thì lực lượng lao độngcàng lớn và có ảnh hưởng trực tiếp đến việc sản xuất, đến các mối quan hệ trong

họ, trong làng Tái sản xuất ra con người là điều kiện và là nhân tố không thểthiếu để xã hội tồn tại và phát triển Việc sinh con không chỉ nhằm thỏa mãnnhu cầu, mong ước của người vợ, người chồng mà còn là vấn đề xã hội, vấn

đề duy trì tính liên tục sinh học của xã hội

Có thể nói, chức năng tái sản xuất ra con người của gia đình có vai tròđặc biệt quan trọng bởi nó là một trong hai loại sản xuất quyết định sự tồn tại

và phát triển của xã hội loài người

Trang 17

Thứ hai, vai trò của gia đình đối với sự phát triển của xã hội được thể

hiện qua chức năng kinh tế Gia đình là một đơn vị sản xuất kinh tế và tiêu

dùng của xã hội, có trách nhiệm tổ chức cuộc sống vật chất cho mỗi thànhviên đảm bảo cho sự hoạt động bình thường của họ Mặt khác, kinh tế giađình còn hỗ trợ cho kinh tế đất nước Chức năng kinh tế của gia đình biến đổicùng với sự phát triển nền kinh tế chung của mỗi quốc gia

Trong gia đình truyền thống, mỗi gia đình là một cơ sở sản xuất Cácthành viên trong gia đình sống và làm việc cùng một nơi và cùng chia sẻ vớinhau cả về kinh tế lẫn tình cảm Ngày nay, kinh tế gia đình đang tiếp cậnnhanh chóng với công nghệ, khoa học kỹ thuật hiện đại, không ít gia đình trởthành cơ sở kinh tế được tín nhiệm, thực sự là nguồn lực góp phần phát triểnđất nước

Thứ ba, trong sự phát triển của xã hội thì chức năng tổ chức đời sống

của gia đình đóng vai trò rất quan trọng bởi nó mang đến sinh khí cho mỗithành viên của xã hội

Không những là tế bào của xã hội, gia đình còn là "tổ ấm" - nơi mà

mỗi thành viên của gia đình được chăm lo về đời sống vật chất, tinh thần vàtình cảm Chính trong gia đình, con người mới thể hiện một cách đầy đủ nhấtnhững nhu cầu khát vọng và những tâm tư sâu kín, nhất là đối với thế hệ trẻđang tràn đầy sức sống, luôn hướng tới tương lai Đời sống gia đình được tổchức tốt, cuộc sống của mỗi thành viên được đảm bảo và hạnh phúc, là điềukiện rất quan trọng để mỗi người trong gia đình yên tâm, phấn khởi, tích cựctham gia lao động, công tác và học tập; người già được chăm sóc, con trẻ có

cơ hội được nuôi dưỡng, rèn luyện, vui chơi giải trí và phát triển năng lựctoàn diện

Trong gia đình truyền thống, chức năng tổ chức cuộc sống còn bị hạnchế, trước hết bởi trình độ sản xuất còn thấp kém, con người chưa được coi làmục đích của phát triển kinh tế Hơn nữa, với chế độ phụ quyền và những ảnh

Trang 18

hưởng tiêu cực của tư tưởng Nho giáo, người phụ nữ phải chịu nhiều thiệtthòi hơn cả, thậm chí chỉ là người phục vụ trong gia đình, phục vụ chồng conmột cách đơn thuần, một chiều Tuy nhiên, với truyền thống "Đói cho sạch,rách cho thơm", đề cao tình nghĩa vợ chồng, tôn trọng người già, yêu thương

và hết lòng vì con trẻ, nên mặc dù ngoài xã hội, con gái còn bị xem thường vàkhinh rẻ, nhưng trong gia đình họ vẫn có vị trí và vai trò xứng đáng xây đắpnên "Tổ ấm tình thương", như người xưa vẫn thường nói: "Đàn ông xây nhà,đàn bà xây tổ ấm" Trong gia đình hiện nay, với kết quả của sự nghiệp đổimới, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, kinh tế mở cửa, kinh tếgia đình đã có nhiều đổi thay theo hướng tích cực Đời sống vật chất được cảithiện đáng kể, gia đình có điều kiện nuôi dưỡng, chăm lo ngày càng tốt hơncho các thành viên, đặc biệt là những nhu cầu về ăn, mặc, học tập, vui chơigiải trí cho thế hệ trẻ Một khi cuộc sống đã được đảm bảo, thì các thành viêntrong gia đình cũng có điều kiện để quan tâm đến nhau đến hạnh phúc chungcủa gia đình nhiều hơn

Thứ tư, chức năng giáo dục của gia đình là một trong những chức năng

quan trọng không thể thiếu của gia đình nó khẳng định vai trò to lớn của giađình trong quá trình tạo dựng nguồn nhân lực cho xã hội

Gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên và quan trọng bậc nhất của

cá nhân Trong mỗi gia đình đều chứa đựng một tiểu văn hóa đã được xâydựng trên nền tảng văn hóa chung, nhưng với những đặc thù riêng của từnggia đình Các tiểu văn hóa này được tạo thành, tồn tại và phát triển bởi giáodục gia đình, truyền thống gia đình, lối sống gia đình

Trong gia đình hiện nay, chức năng giáo dục được chia sẻ cùng vớinhà trường và xã hội, tuy nhiên để tạo ra một lớp người phát triển toàn diện,

để nâng cao chất lượng của nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu ngày càngcao của công cuộc đổi mới đất nước thì chức năng giáo dục gia đình ngàycàng được coi trọng Việc xây dựng nhân cách con người phải căn cứ vào yêu

Trang 19

cầu của xã hội, vào hệ thống giá trị thay đổi tùy theo mỗi giai đoạn lịch sử.Gia đình tác động đến sự hình thành tình cảm, tâm lý, hành vi ứng xử văn hóađến tư cách, phẩm chất của con người Thế giới quan, nhân sinh quan của cánhân chủ yếu được định hình sau này trong quá trình tiếp xúc với môi trường

và cộng đồng xã hội, song trong quá trình hình thành nó cũng chịu sự tácđộng nhất định của gia đình, của các thành viên trong gia đình với nhau

Là một trong những thiết chế cơ bản của xã hội, gia đình có chức năngkhá toàn diện, một trong những cơ sở khách quan khẳng định tính tất yếu về

sự hiện diện của gia đình đối với lịch sử và đối với mọi chế độ xã hội Tuynhiên, mức độ thực hiện chức năng còn tùy thuộc vào điều kiện chính trị, kinh

tế, văn hóa của từng giai đoạn phát triển xã hội, của từng quốc gia dân tộc vàtùy thuộc vào ý chí của giai cấp cầm quyền Ở Việt Nam, gia đình luôn đượcđặt trong cơ cấu: Nhà - làng - nước Bởi vậy, gia đình luôn là nhân tố quantrọng của sự phát triển xã hội, trong đó với chức năng giáo dục, đã đưa giađình trở thành mắt khâu quan trọng của hệ thống giáo dục xã hội, đã trở thànhmột nhân tố chủ yếu của công tác giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ - tương laicủa đất nước, nguồn lực của mọi nguồn lực

Thứ năm, chức năng giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc Mỗi gia đình là một tiểu văn hóa, được hình thành trên cơ sở đúc rút

và kế thừa nền tảng văn hóa chung của nhân loại, của dân tộc Văn hóa đóđược lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác tạo nên truyền thống văn hóagia đình được lưu giữ trong gia phong, gia phả, tộc ước, trong nếp nhà, lốisống, trong lề thói Lịch sử Việt Nam đã chứng minh rằng, quá trình hìnhthành và phát triển văn hóa Việt Nam gắn liền với quá trình liên kết cộngđồng nhà - làng - nước Hệ thống cấu trúc này là cơ sở của sự hình thành vàphát triển hệ thống giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc với cốt lõi là đạođức, phẩm chất, nhân cách con người Việt Nam Cấu trúc tổng quát của xãhội được gọi là nhà nước với nghĩa ban đầu công nhận vai trò của nhà là nền

Trang 20

tảng của xã hội Văn hóa gia đình, văn hóa làng xã, văn hóa dân tộc gắn bóvới nhau, nâng đỡ nhau, hỗ trợ cho nhau tạo dựng và phát triển Như vậy cóthể thấy, gia đình là một nơi lưu giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyềnthống, là cái nôi giáo dục nhân cách con người có các hành vi ứng xử vănhóa Truyền thống văn hóa ấy từng ngày, từng giờ ảnh hưởng tới mọi mặtnhận thức, thái độ và hành vi của mỗi con người, tạo ra cơ sở ban đầu cho sựtrưởng thành của mỗi người.

Thứ sáu, góp phần không nhỏ vào sự phát triển của xã hội không thể

không nhắc đến chức năng đáp ứng nhu cầu tình cảm của gia đình

Gia đình là một cộng đồng đặc biệt mà đặc trưng là các thành viên cóquan hệ hôn nhân hoặc quan hệ huyết thống, họ có nhiều điều kiện để liên tụcthỏa mãn cho nhau hầu hết các nhu cầu từ đơn giản đến phức tạp Do vậy,những thành viên trong gia đình gắn bó sâu sắc với nhau về mặt tình cảm.Điều đó trở thành nhu cầu quan trọng không thể nào thiếu được đối với mỗingười Có thể nói, không có cộng đồng nào, tổ chức nào có thể mang lại tìnhcảm ấm áp, sâu sắc và thiêng liêng bằng tổ ấm gia đình Mặt khác, phần lớngia đình được hình thành từ cái gốc là tình yêu đôi lứa Tình yêu thương, tìnhnghĩa vợ chồng chính là ngọn nguồn của mọi tình cảm tốt đẹp lan tỏa trongcác thành viên gia đình, tạo nên môi trường văn hóa gia đình, giúp cho mỗithành viên cân bằng tâm - sinh lý, phát huy khả năng thực lực và chức năngkhác của gia đình Gia đình trở thành chỗ dựa tình cảm và tinh thần của mỗithành viên, nơi con người có thể bộc lộ rõ nhất bản chất, cá tính của mình,đồng thời cũng nhận được sự quan tâm, khích lệ, đùm bọc của cả cộng đồngđặc biệt này Tình cảm gia đình trở thành nét đặc trưng về tính chất ảnhhưởng lẫn nhau giữa các thành viên trong quá trình hình thành và phát triểnnhân cách của họ

1.1.2 Quan niệm về gia đình truyền thống Việt Nam

Trang 21

Gia đình truyền thống là một khái niệm mà các nhà nghiên cứu dùng để

chỉ loại gia đình đã hình thành và tồn tại trong quá khứ mà trong đó chứa

đựng nhiều yếu tố bền vững, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác,những yếu tố đó phản ánh nền văn hoá bản địa và tạo nên nét đặc sắc của vănhoá dân tộc Ở Việt Nam, gia đình truyền thống là một khái niệm mang nhiềuhàm nghĩa khác nhau Trên thực tế, khái niệm này thường được hiểu chỉ là

một phần trong các ý nghĩa đó, chẳng hạn người ta có thể hiểu gia đình

truyền thống là gia đình Nho giáo hoặc gia đình phong kiến Một số khác

muốn nhấn mạnh tinh thần dân tộc, muốn gạt yếu tố “Nho giáo” hoặc “phong

kiến” ra khỏi khái niệm gia đình truyền thống để đồng nhất gia đình truyền

thống với hình thái gia đình Việt Nam cổ, trước khi Nho giáo xâm nhập Khi

ấy gia đình được coi là tổ ấm của mỗi người, trong đó sự thuỷ chung, lòngthương yêu và ý thức trách nhiệm là những giá trị cơ bản Khi nghiên cứu vềgia đình truyền thống, GS Đỗ Thái Đồng đã đưa ra cách hiểu về gia đìnhtruyền thống như sau: “Gia đình truyền thống chắc hẳn là hình thái gia đình ởnông thôn, là gia đình ở những xã hội nông nghiệp Á Đông đã tồn tại lâu đời

và gần như bất biến trên nhiều khía cạnh Như vậy, đó cũng là kiểu gia đìnhnông nghiệp, là một định chế gắn liền với nền nông nghiệp cổ truyền, sự nhấttrí về khái niệm gia đình truyền thống có lẽ chỉ giới hạn đến đó” [11, tr.72]

Như vậy, gia đình truyền thống có thể được hiểu là loại hình gia đìnhgắn với nền kinh tế nông nghiệp tiểu nông với đặc trưng sản xuất lúa nước, ítbiến đổi qua những thay đổi của lịch sử, tồn tại cho đến thế kỷ XIX (trước khitiếp xúc với phương Tây) Kiểu gia đình này gắn chặt với nền văn hoá cộngđồng làng xã, là một đơn vị tổ chức sản xuất nông nghiệp kết hợp với sản xuấtthủ công và tiểu thương nghiệp, tự thoả mãn các nhu cầu sống của các thànhviên Đó là gia đình phụ hệ, coi trọng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và chịu ảnhhưởng rất lớn của Nho giáo Tuy nhiên, trong gia đình truyền thống ViệtNam, người phụ nữ vẫn được tôn trọng, đây là sự chi phối của văn hoá bản

Trang 22

địa và chịu sự tác động lớn của Phật giáo… những tác động này đã làm mềmhoá các nguyên tắc cứng nhắc trong Nho giáo cho phù hợp với tâm lý, lốisống của con người Việt Nam

Gia đình truyền thống Việt Nam có những đặc điểm cơ bản sau :

Thứ nhất, đặc điểm kinh tế xã hội của gia đình : Gia đình truyền thống

là một đơn vị sản xuất nông nghiệp tự cung tự cấp Các hộ gia đình tự sảnxuất những sản phẩm tiêu dùng cho gia đình mình Ngoài công việc cày cấy

ra mỗi gia đình làm thêm một số nghề thủ công như đan lát, trồng dâu, nuôitằm, dệt vải để tạo ra sản phẩm tiêu dùng cho cả gia đình Với đặc thù sảnxuất lúa nước, trong gia đình đã có sự phân công lao động cụ thể giữa ngườichồng và người vợ, thể hiện qua câu ca dao sau:

“Trên đồng cạn, dưới đồng sâu

Chồng cày, vợ cấy con trâu đi bừa”

Công lao đóng góp của cả chồng và vợ là như nhau trong việc tạo rasản phẩm nuôi sống cả gia đình Trong gia đình truyền thống thường quan

niệm “của chồng công vợ” do đó, người phụ nữ có vai trò quan trọng

trong quản lý các sản phẩm và chi tiêu trong gia đình Người đàn ông trongchế độ phụ hệ - Gia trưởng là người chủ gia đình về hình thức nhưng lạikhông am hiểu tình hình kinh tế của gia đình bằng người vợ Vì thế, ngườiđàn bà (người mẹ, người vợ) là người quyết định mọi thứ chi tiêu và quản lítiền bạc, tài sản trong nhà Mặc dù, trong gia đình truyền thống, người phụ nữ

bị cột chặt vào lễ giáo phong kiến nhưng họ vẫn có vai trò nhất định trong giađình như: tề gia nội trợ, "tay hòm chìa khoá" hay "lệnh ông không bằng còngbà", đàn ông là cái giỏ đàn bà là cái hom…

Thứ hai, phong tục thờ cúng tổ tiên là một trong những đặc trưng tiêu

biểu của gia đình truyền thống Việt Nam Việc thờ cúng tổ tiên chủ yếu đượcthực hiện ở nhà người con trai cả và nhằm vào tổ tiên trực tiếp về phía cha(bên nội) trong phạm vi năm đời trở lại Việc thờ cúng tổ tiên trong gia đình

Trang 23

người Việt là tín ngưỡng rất quan trọng, một số nhà nghiên cứu đã cho rằngviệc thờ cúng tổ tiên là một chức năng của gia đình truyền thống Để làm tốt

nhiệm vụ này dẫn đến một yêu cầu tất yếu là việc nối dõi tông đường Điều

đó có nghĩa là, việc thờ cúng tổ tiên chỉ thực hiện được khi có con trai nêntrong nội bộ gia đình, con trai được quý trọng hơn con gái Người cha, ngườicon trai cả, cháu đích tôn, giữ vị trí quan trọng hơn các thành viên khác, congái sẽ về nhà chồng nên coi là “ngoại tộc”, nếu như họ ngoại có giúp đỡ vàquan hệ mật thiết hơn thì kết quả vẫn là “ăn bên ngoại, vái bên nội” Con dâu,đặc biệt là người dâu trưởng có vị trí cao, nhưng địa vị này chỉ được xác địnhkhi đã sinh được con trai nối dõi Phong tục thờ cúng tổ tiên có tác động rấtlớn đến đời sống tinh thần của mỗi cá nhân Nó là sợi dây nối kết các thànhviên trong gia đình qua các thế hệ khác nhau với ý nghĩa là nhớ ơn sinh thànhcủa tổ tiên, lưu truyền nòi giống và mong tổ tiên phù hộ cho con cháu

Thứ ba, một trong những đặc trưng chi phối trực tiếp đến đạo đức của gia

đình truyền thống là văn hoá gia đình Văn hoá gia đình truyền thống được thể

hiện qua các hình thức sau:

Gia giáo là giáo dục gia đình Đây là hình thức giáo dục của gia đình

đối với các thành viên Nội dung chủ yếu là giáo dục đạo đức, phẩm hạnh củacon người trong quan hệ với gia đình, xã hội Đối với nam giới, gia giáo đặcbiệt chú ý đến giáo dục đạo lý Luân Thường Luân có ngũ luân, đó là nămmối quan hệ vua tôi; cha con; chồng vợ; anh em; bạn bè trong đó nhấn mạnhTam cương là vua tôi; cha con; chồng vợ Thường nghĩa là ngũ thường, lànăm đức tính cơ bản của con người gồm nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Đối với nữgiới, thì gia giáo là giáo dục đạo lý Tam tòng, Tứ đức Tam tòng, đòi hỏi sựngoan ngoãn phục tùng từ lúc mới sinh ra cho tới lúc chết “tại gia tòng phụ,xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” Còn tứ đức là bốn phẩm chất cần có củaphụ nữ là công, dung, ngôn, hạnh

Trang 24

Nhìn chung, gia giáo có nhiệm vụ giáo dục cá nhân ngay từ trong giađình để hình thành con người phù hợp với xã hội truyền thống trong đó đạođức là yếu tố đặc biệt được nhấn mạnh Đạo đức được coi là cái gốc của conngười, là biểu thị giá trị xã hội của con người.

Gia lễ là lễ nghi gia đình Gia lễ là sự quy định cách thức, nề nếp để

đảm bảo cho gia đình sinh hoạt theo đúng phép tắc, có lễ nghĩa phân minhtrên dưới rõ ràng Lễ thường được diễn ra ở các hình thức sau: quan, hôn,tang, tế Quan là lễ để trân trọng sự ra đời và trưởng thành của con người.Hôn lễ là sự cưới vợ gả chồng Tang là việc ma chay Tế là việc cúng bái, thờphụng Gia lễ không chỉ là nghi thức theo thói quen, phong tục mà gia lễ cònđược ghi chép thành sách để mọi người cùng xem và thực hiện

Gia pháp là phép tắc (mang tính luật lệ) trong gia đình Gia pháp là

những qui định nhằm ngăn ngừa, uốn nắn, trừng phạt những hành vi sai tráicủa các thành viên trong gia đình Đồng thời gia pháp cũng nhằm mục đíchbảo vệ và đề cao uy thế của gia trưởng, gìn giữ sự đoàn kết nhất trí trong nội

bộ gia đình hoặc để giữ những bí mật gia truyền Gia pháp khẳng định sựnghiêm khắc của cha đối với con, của anh đối với em Gia pháp luôn được giữnghiêm, nếu không sẽ bị thiên hạ chê cười, phê phán Gia pháp là một thứ luật

lệ bất thành văn, ai cũng phải biết, tôn trọng và tự giác tuân theo

Gia phong là phong cách gia đình Đây là nề nếp, lề thói mà người

trong gia đình đều phải noi theo trong lời ăn, tiếng nói, hành vi ứng xử tronggia đình cũng như ngoài xã hội Gia phong thể hiện bản sắc văn hoá của từnggia đình và do gia giáo chi phối, nói đến gia phong là nói đến trật tự, kỷcương của gia đình, nói đến những tính chất đặc biệt của quan hệ gia đình vớinhiều thói quen, tập tục sinh hoạt Một gia đình có gia phong lành mạnh làcon cháu phải giữ gìn được nề nếp của cha ông “giấy rách phải giữ lấy lề”hoặc giữ tư cách gia đình “đói cho sạch, rách cho thơm” hoặc “trai thì trunghiếu làm đầu, gái thì tiết hạnh làm câu sửa mình” Làm nhục gia phong là

Trang 25

phạm vào gia pháp và có thể bị trừng phạt nặng nề Gia phong là nếp sống, làniềm tự hào và lẽ sống của con người trong gia đình truyền thống

Thứ tư, gia đình truyền thống Việt Nam rất coi trọng tình nghĩa, tôn

trọng phụ nữ, truyền thống đề cao tính cộng đồng là những nét đặc sắc trong

gia đình truyền thống Việt Nam

Truyền thống trọng tình nghĩa được thể hiện ở cách ứng xử đặt tìnhcảm lên trên trong ứng xử ở gia đình cũng như ngoài xã hội Đối với ngườiViệt, gia đình không phải là nơi của công bằng và sòng phẳng mà là nơi chứađựng tình yêu thương Ở đó, cha mẹ luôn luôn dành sự yêu thương vô bờ bến,hết lòng, hết sức vì con ngược lại con cái phải làm tròn đạo hiếu, tôn thờ cha

mẹ không dùng lẽ phải để phán xét các bậc sinh thành, dưỡng dục mình.Trong quan hệ anh chị em phải thương yêu đùm bọc lẫn nhau và không có sựtính toán thiệt hơn Tình nghĩa là đặc điểm bao trùm lên tất cả các gia đìnhtruyền thống Việt Nam Mặc dù, gia đình truyền thống Việt Nam chịu ảnhhưởng rất lớn của Nho giáo nhưng trong gia đình, người phụ nữ vẫn có một vịtrí đáng kể Người Việt Nam vốn có truyền thống tôn trọng phụ nữ từ trongnhà ra đến ngoài ngõ Trong cuộc sống đời thường (trong nhà đàn bà được coi

là nội tướng) đến đời sống tâm linh có quan niệm “phúc đức tại mẫu” và tínngưỡng thờ mẫu của người Việt

Tôn trọng phụ nữ không phải là quan niệm tự thân xuất phát từ đờisống cộng đồng của người Việt, từ điều kiện sản xuất nông nghiệp trồng lúanước đòi hỏi sự phân công lao động giữa vợ và chồng đến vai trò “tề gia nộitrợ” của người phụ nữ và cả do hoàn cảnh thường xuyên xảy ra chiến tranhđàn ông ra trận, đàn bà lo toan việc nhà Chính vai trò của người phụ nữ tronggia đình đã làm cho gia đình Việt Nam chính thống khác với gia đình Nhogiáo chính thống Gia đình Nho giáo khẳng định quyền uy của người chồng,người cha Người đàn ông gia trưởng là người chủ duy nhất trong nhà đồngthời cũng là người đại diện cho gia đình trong quan hệ với xã hội Còn gia

Trang 26

đình truyền thống Việt Nam, đặt địa vị chủ gia đình vào người chồng, ngườicha nhưng chủ yếu trong quan hệ với dòng họ, làng xã, ở nhà người phụ nữ làngười quán xuyến, quyết định mọi việc Người chồng chỉ là người quyết địnhcuối cùng để giữ thể thống, nề nếp trong gia đình mà thôi Điều này đã nângđịa vị người phụ nữ trong gia đình cao hơn một bậc so với quan niệm của Nhogiáo Có thể hình dung sự khác biệt ấy như sau: Nho giáo trọng chồng, trọngcha còn người Việt cũng trọng chồng, trọng cha nhưng cũng trọng vợ, trọng

mẹ Địa vị của người phụ nữ đã làm nên một bản sắc độc đáo của gia đìnhtruyền thống Việt Nam

Tinh thần cộng đồng thể hiện ở sự hoà tan của các cá nhân vào tronggia đình, địa vị, uy tín cá nhân được quy định bởi địa vị, uy tín gia đình, do đótrong xã hội không có con người cá nhân với nhân cách độc lập và càngkhông thể có cá nhân đứng ngoài gia đình Những cá nhân đứng ngoài giađình thường chỉ là những đứa con bất hiếu, bất trung hoặc làm những điều tổnhại cho danh dự, gia phong và bị gia đình ruồng bỏ

Cơ sở xuất phát của tính cộng đồng trong gia đình người Việt chính là

từ hôn nhân và từ tính cộng đồng làng xã mà nguồn gốc của nó là do tục thờthành hoàng - vị thần phù hộ cho cả làng, là biểu tượng sự thống nhất vậnmệnh cộng đồng cùng với lợi ích kinh tế, tinh thần do làng xã mang lại Đốivới người Việt, nói đến gia đình là nói ngay đến cộng đồng và cái cộng đồng

ấy không chỉ bao gồm những người đang sống mà còn cả những người đãchết và những người sẽ sinh ra Chính vì lẽ đó, gia đình truyền thống rất coitrọng thờ cúng tổ tiên và nối dõi tông đường

Tính cộng đồng trong gia đình không chỉ là điều kiện để gia đình tồn tại

mà còn là phong cách sống của người Việt Người Việt thích sống trong giađình và có gia đình, rất sợ sống xa gia đình, sợ sự chia ly Sống xa nhà, xa quê

Trang 27

hương, bơ vơ đất khách quê người là một bất hạnh lớn “Sẩy nhà ra thấtnghiệp” là quan niệm nẩy sinh từ tính cộng đồng đó.

Trên đây là một vài đặc điểm thể hiện bản sắc dân tộc đậm đà của giađình truyền thống Bản sắc đó được hình thành từ rất sớm và được củng cố,

ổn định, bền vững cùng với sự phát triển của dân tộc Việt Nam

1.2 Đạo đức và giá trị đạo đức của gia đình truyền thống Việt Nam

1.2.1 Đạo đức và giá trị đạo đức

Đạo đức là một hiện tượng xã hội phản ánh những quan hệ xã hội hiệnthực, hình thành từ trong cuộc sống nhằm điều chỉnh hành vi của con người,trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộngđồng xã hội sao cho phù hợp với yêu cầu của sự phát triển Đạo đức là mộtphạm trù thuộc về đời sống tinh thần Hiện nay, khái niệm đạo đức thườngđược sử dụng là khái niệm của nhà nghiên cứu đạo đức học Trần Văn Kiênđưa ra: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệthống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xãhội Nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp vớilợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệgiữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội” [18, tr.6]

Là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức phản ánh tồn tại xã hội, phảnánh các quan hệ kinh tế, quan hệ giai cấp nhất định Vì vậy, mỗi giai đoạnlịch sử, mỗi phương thức sản xuất khác nhau sẽ tương ứng với một nền đạođức khác nhau Tuy nhiên, cũng như các hình thái ý thức xã hội khác, đạo đứckhông chỉ mang tính lịch sử, tính giai cấp mà còn mang tính kế thừa trong sựphát triển của ý thức xã hội Tức là, bên cạnh bộ phận đạo đức đặc trưng củamỗi thời đại, phản ánh quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội đương thời còn một bộphận đạo đức truyền thống của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, được lưu truyền từ

Trang 28

thế hệ này sang thế hệ khác, góp phần làm nên bản sắc độc đáo của mỗi dântộc trong quá trình phát triển.

Bàn về giá trị đạo đức trước hết cần hiểu về giá trị, theo giáo sư

Nguyễn Tài Thư, “nói đến giá trị là nói đến cái có ích, có lợi cho nhân dân,cho dân tộc, cho sự phát triển của xã hội, nói đến những gì có thể thỏa mãnđược nhu cầu và lợi ích của con người trong lịch sử Giá trị văn hóa tinh thầncủa dân tộc là những tư tưởng, những quan niệm, những ý niệm, những thànhtựu văn hóa đã có tác dụng thúc đẩy sự đi lên của lịch sử và phục vụ cho lợiích và nhu cầu của nhân dân, đất nước” [60, tr.136]

Như vậy, có thể hiểu giá trị đạo đức là những quy tắc, chuẩn mực đạo

đức có ý nghĩa tích cực, tốt đẹp phù hợp với sự tiến bộ của xã hội.

Khi bàn về giá trị truyền thống, giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng “Giá trịtruyền thống của một dân tộc là những nguyên lý đạo đức lớn mà con ngườitrong nước thuộc các thời đại, các giai đoạn lịch sử đều dựa vào để phân biệtphải trái, để nhận định nên chăng, nhằm xây dựng độc lập, tự do và tiến bộ củadân tộc đó… Những giá trị truyền thống không có sẵn, không nhất thành bấtbiến, nó do con người sáng tạo, xây dựng lên và đến lượt nó trở lại điều chỉnh,định hướng những suy nghĩ, hành vi, sự hoạt động của con người” [12, tr.50]

Đạo đức truyền thống được thể hiện trong nhiều lĩnh vực, môi trườngkhác nhau trong đó đạo đức của gia đình truyền thống Việt Nam có nhiều nétđặc sắc mà ngày nay cần phải có thái độ trân trọng và kế thừa Đạo đức truyềnthống của gia đình là hệ thống những quan niệm, chuẩn mực đạo đức về hônnhân và gia đình được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nó có thể còn

phù hợp hoặc không phù hợp với xã hội mới Do đó, khi sử dụng khái niệm giá

trị đạo đức của gia đình truyền thống là nói đến những quan niệm, qui tắc, chuẩn mực đạo đức của gia đình truyền thống vẫn còn phù hợp với ngày nay và

là các giá trị đạo đức mang ý nghĩa tích cực cần phải kế thừa, phát huy

Trang 29

1.2.2 Giá trị đạo đức của gia đình truyền thống Việt Nam

Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam là một vấn đề lớn,một hệ giá trị gồm nhiều giá trị trong những lĩnh vực khác nhau Trong đó,giá trị đạo đức của gia đình truyền thống là một bộ phận trong giá trị đạo đứctruyền thống của dân tộc ta Hệ giá trị đạo đức của gia đình truyền thống cónhững đặc trưng nhất định và được biểu hiện thông qua các mối quan hệ củagia đình

Thứ nhất, giá trị đạo đức trong quan hệ vợ chồng

Một trong những giá trị đạo đức thiêng liêng được nhắc đến đầu tiên

trong quan hệ vợ chồng của gia đình truyền thống Việt Nam đó là tình nghĩa

vợ chồng được hình thành rất tự nhiên, bắt nguồn từ sự chung lưng đấu cậttrong cuộc sống vất vả hàng ngày Bởi vậy trong dân gian đã đúc kết nhiềucâu tục ngữ, ca dao ca ngợi nghĩa vợ tình chồng:

“Đôi ta là nghĩa tao khang Xuống khe bắt ốc lên ngàn hái rau”

Nghĩa vợ chồng đã gắn kết họ lại với nhau, dù có nghèo khổ, đói ráchnhưng vẫn vui vầy, hạnh phúc:

“Râu tôm nấu với ruột bầu

Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon ”

Trang 30

Dường như trong đói nghèo, thiếu thốn cái tình của người vợ đối vớichồng lại càng mặn nồng, gắn bó keo sơn:

“Chồng em áo rách em thương

Chồng người áo gấm xông hương mặc người”

Hay:

“Đi đâu cho thiếp đi cùng

Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam”

Có thể nói, tình nghĩa vợ chồng là giá trị đạo đức cốt lõi trong quan hệ

vợ chồng của gia đình truyền thống Việt Nam nó chi phối các giá trị đạo đứckhác trong gia đình, tạo nên sự ấm êm, bền vững của các gia đình truyềnthống Trong xã hội ngày nay, quan niệm về hôn nhân đã có nhiều sự thay đổiđặc biệt hôn nhân ngày nay chủ yếu dựa trên cơ sở của tình yêu đôi lứa thìtình nghĩa vợ chồng lại càng là giá trị đạo đức hết sức quan trọng đảm bảohạnh phúc cho mỗi gia đình

Lòng thuỷ chung cũng là một trong những giá trị nổi bật trong quan hệ

vợ chồng của gia đình truyền thống, nó được coi là nền tảng để xây dựng giađình êm ấm, hạnh phúc Tuy nhiên, trong gia đình truyền thống lòng chungthuỷ được đề cập trong quan hệ vợ chồng chủ yếu chỉ đặt ra với người vợ - vợphải thuỷ chung, son sắt với chồng (quan hệ mang tính chất một chiều).Người chồng có thể năm thê bảy thiếp nhưng người vợ chính chuyên chỉ cómột chồng Phụ nữ nói chung, người vợ nói riêng, trinh tiết và đức hạnh lànhững tiêu chuẩn đầu tiên, người phụ nữ một lòng một dạ với chồng, nếungười chồng chết phải ở vậy nuôi con, thờ chồng thì được coi là người có đứchạnh, nhà vua sẽ ban “Tiết hạnh khả phong” để làm gương cho mọi người noitheo, ngược lại nếu không chồng mà chửa hoang hoặc ngoại tình thì bị khinh

rẻ, xa lánh, kỳ thị thậm chí còn phải gánh chịu những hình phạt nặng nề Doquan niệm trong xã hội cũ đàn ông tài ba thì sẽ được nhiều người yêu mếncòn người phụ nữ đẹp phải là người đàn bà nết na, chính chuyên – đây có thểcoi là nét đẹp trong xã hội cũ Mặc dù, quan niệm này có những hạn chế nhất

Trang 31

định song giá trị về lòng thuỷ chung giữa vợ và chồng vẫn luôn là giá trị đạođức quan trọng số một đảm bảo cho hạnh phúc của mỗi gia đình ở bất kỳ thờiđại nào.

Trong xã hội hiện nay, hôn nhân đã có nhiều sự thay đổi với nhữngđiểm tiến bộ thì giá trị đạo đức về lòng thuỷ chung trong quan hệ vợ chồng lạicàng được đề cao hơn bao giờ hết Sự thuỷ chung trong quan hệ vợ chồng đòihỏi đối với cả người chồng và người vợ thể hiện sự bình đẳng trong gia đìnhđồng thời đảm bảo cho gia đình có được hạnh phúc bền vững thực sự

Một trong những điểm đáng lưu ý trong quan hệ vợ chồng của gia đình

truyền thống cần được đề cập đến đó là sự bất bình đẳng Trong gia đình

truyền thống, bất bình đẳng được coi là nguyên tắc trong quan hệ vợ chồngtrong đó đề cao địa vị độc tôn của người đàn ông, tư tưởng phụ quyền giatrưởng, trọng nam khinh nữ… được coi là chuẩn mực của đạo đức gia đình,quan hệ vợ chồng được thể hiện theo nguyên tắc “Phu xướng phụ tuỳ” vớiđạo lý tam tòng, những giáo điều đó đã gắn chặt người vợ vào người chồngmột cách thụ động, thậm chí mù quáng và thể hiện sự bất bình đẳng trongquan hệ vợ chồng:

“Chồng giận thì vợ bớt lời Cơm sôi nhỏ lửa muôn đời không khê”

Hay: “Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà” nhưng lại không nói đến chiềungược lại trong quan hệ giữa chồng đối với vợ Thậm chí người vợ còn đượccoi là đối tượng cần được dạy dỗ như con trẻ:

“Dạy con từ thuở còn thơ Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về”

Như vậy, mặc dù quan hệ vợ chồng trong gia đình truyền thống cónhững hạn chế nhất định nhưng nếu bỏ qua những hạn chế đó thì trong giađình truyền thống những giá trị đạo đức tích cực trong quan hệ vợ chồng vẫn

Trang 32

còn giữ nguyên giá trị trong việc xây dựng gia đình hiện nay mà ở đó nổi bật

là tình nghĩa vợ chồng sâu nặng, lòng thuỷ chung son sắt, gắn bó keo sơn

Thứ hai, Giá trị đạo đức trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái:

Quan hệ giữa cha mẹ và con cái là một mối quan hệ đặc biệt, xuất phát

từ tình cảm tự nhiên, là quan hệ nảy sinh từ sau quan hệ hôn nhân Mối quan

hệ này chứa đựng tình thương yêu của cha mẹ đối với con cái và lòng hiếuthảo, biết ơn của các con đối với cha mẹ

Trước hết, đó là tình yêu thương của cha mẹ đối với con cái là vô bờ

bến, nó được biểu hiện ở sự hy sinh và tinh thần trách nhiệm đối với con cái

Sự hy sinh có thể là hy sinh những nhu cầu của bản thân về cả vật chất lẫntinh thần để con cái được no ấm, đầy đủ hơn, thậm chí còn hy sinh cả tínhmạng, bởi không có cha mẹ nào lại bỏ rơi con mình khi hiểm nguy Đối vớimột đứa trẻ, cảm giác an toàn nhất chính là lúc được nằm trong vòng tay yêuthương, đùm bọc, che chở của cha mẹ Tình yêu thương của cha mẹ với concái còn thể hiện ở tinh thần trách nhiệm, trách nhiệm lớn nhất của cha mẹ vớicon cái chính là phải nuôi dạy con cái nên người, để con cái được no đủ, cha

mẹ phải “đầu tắt mặt tối”, “một nắng hai sương”, “cá chuối đắm đuối vì con”cha mẹ luôn dành những điều tốt đẹp nhất cho con cái, mong cho con khônlớn trưởng thành Nhưng nuôi con no đủ mới chỉ là một phần, quan trọng hơn

là phải giáo dục con làm người Trong xã hội truyền thống giáo dục chủ yếu

là giáo dục gia đình, thông qua gia giáo, gia lễ, gia pháp mà hình thành nêngia phong, nhờ đó nhân cách con cái được hình thành, biết “đối nhân xử thế”cho phù hợp với gia đình, dòng họ, làng xóm…

Một vấn đề nổi bật thể hiện trách nhiệm của cha mẹ trong gia đìnhtruyền thống là cha mẹ đảm trách công việc dạy nghề hoặc định hướng nghềnghiệp cho con cái Tuy nhiên, trong xã hội nông nghiệp được coi trọng “Dĩnông vi bản” và nhà nông được được đề cao “nhất sĩ nhì nông” thì công việcđịnh hướng nghề nghiệp hoặc dạy nghề cho con chủ yếu là việc cho con quen

Trang 33

dần với công việc đồng áng, trừ một số gia đình có những nghề thủ công hoặcnhững nghề gia truyền thì việc truyền nghề diễn ra ngay trong gia đình (chủyếu cho con trai) Có thể nói trong gia đình truyền thống, cha mẹ không chỉkhó nhọc trong việc sinh thành và nuôi dưỡng con cái đến khi trưởng thành

mà còn phải dạy dỗ con thành người, trách nhiệm của cha mẹ đối với con cáichỉ chấm dứt khi đã nhắm mắt xuôi tay Trong xã hội ngày nay, tuy con cáisống độc lập với cha mẹ hơn trước nhưng tình yêu thương và trách nhiệm củacha mẹ đối với các con vẫn không hề thay đổi Đặc biệt trước những biến đổicủa xã hội hiện đại vai trò của những người làm cha làm mẹ lại càng trở nênquan trọng bởi không phải chỉ nuôi con đủ ăn đủ mặc mà con phải nuôi dạycon có nghề nghiệp, có sự sáng tạo và có kỹ năng vượt qua những cám dỗ củacuộc sống hiện đại

Nếu như với con cái, cha mẹ thể hiện lòng yêu thương, sự hy sinh vàtinh thần trách nhiệm thì trong gia đình truyền thống cũng đòi hỏi con cái phảigiữ tròn đạo “hiếu” với cha mẹ Ca dao thường có câu:

“Công cha như núi thái sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”

Đạo hiếu được coi là một nguyên tắc làm người của xã hội truyềnthống, là người trước hết phải giữ tròn đạo hiếu, nó là cốt cách của con người.Khi còn nhỏ sống trong gia đình, đạo hiếu thể hiện ở sự hiếu thảo, kính trọng

và tuyệt đối vâng lời cha mẹ, không được cãi lại hoặc phán xét cha mẹ Lớnlên đạo hiếu đòi hỏi các cá nhân phải biết giữ thân mình để phụng dưỡng cha

mẹ, không làm điều gì xấu để tổn hại đến danh dự của gia đình và phải làmcho cha mẹ vinh hiển bằng sự lập thân của mình Bên cạnh những điểm tíchcực là chủ yếu, đạo hiếu trong gia đình truyền thống cũng có phần khắt khe,những quan niệm ràng buộc làm mất khả năng tự chủ của con cái… Mặc dù,

Trang 34

trong xã hội hiện nay gia đình đã có nhiều biến đổi nhưng hiếu thảo với cha

mẹ vẫn là một giá trị đạo đức của gia đình truyền thống cần phải giữ gìn, pháthuy Tuy nhiên, có một số nội dung cần điều chỉnh lại cho phù hợp với yêucầu của xã hội mới, nhất là trong điều kiện hiện nay Dưới tác động của nềnkinh tế thị trường, có một số người chạy theo đồng tiền mà quên mất tráchnhiệm làm con, trong xã hội xuất hiện tình trạng người già không nơi nươngtựa Đó là những vấn đề bức xúc của xã hội ta hiện nay Do đó, việc kế thừa

và phát huy truyền thống đạo hiếu sẽ là một điều kiện cần thiết để xây dựnggia đình Việt Nam hiện nay nói chung và gia đình ở tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng

Thứ ba, giá trị đạo đức trong quan hệ giữa anh chị em ruột của gia

đình truyền thống đó là sự yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau.

Giữa anh chị em ruột có một tình cảm gắn bó tự nhiên, sự gắn bó nàyxuất phát từ quan hệ huyết thống, cùng cha mẹ, cùng sống trong gia đình,cùng chia sẻ niềm vui, nỗi buồn Do đó, trong gia đình truyền thống anh chị

em ruột phải có bổn phận thương yêu đùm bọc, chăm sóc giúp đỡ nhau bởi vì:

“anh em như thể chân tay” hay “chị ngã em nâng”, vì lẽ đó tình cảm anh chị

em là tình cảm thiêng liêng, nó còn được coi trọng hơn quan hệ vợ chồng Bởi

vì anh em ví như chân tay, vợ chỉ được ví như chiếc áo - áo có thể thay nhưngchân tay không thể chia lìa Đứng trước mâu thuẫn vợ chồng – anh em, đạođức gia đình truyền thống yêu cầu người anh phải đứng về phía em mình,không được để tình cảm vợ chồng lấn át tình cảm ruột thịt

Tuy nhiên, trong gia đình truyền thống do yêu cầu thờ cúng tổ tiên nêncon trai được coi trọng hơn con gái, con trưởng có quyền hơn con thứ, do đóquan hệ giữa anh em cũng là bất bình đẳng Trong gia đình, người con trai cả

có vị trí đặc biệt cao, chỉ đứng sau cha, khi cha mất thì anh thay cha quyếtđịnh mọi việc “quyền huynh thế phụ” Nhưng khi uy quyền được trao vào tayngười anh thì cũng là lúc anh phải gánh trách nhiệm thay cha để khuyên bảo,

Trang 35

dạy dỗ, nuôi em khôn lớn thành người Chính sự gắn bó, trách nhiệm và tìnhthương yêu đùm bọc đã gắn kết anh chị em trong gia đình thành một khối.Nếu loại bỏ những yếu tố gia trưởng, trọng nam khinh nữ dẫn tới sự bất bìnhđẳng trong quan hệ anh chị em ruột thì tinh thần đoàn kết, đùm bọc, yêuthương, gắn bó giữa anh chị em là những giá trị đạo đức tốt đẹp mà gia đìnhhiện đại ngày nay cần phải giữ gìn và phát huy.

Thứ tư, Giá trị đạo đức trong mối quan hệ giữa gia đình với dòng họ:

Trong gia đình truyền thống, tình yêu thương, sự đùm bọc, trách nhiệm,nghĩa vụ đối với họ hàng và lòng biết ơn đối với tổ tiên là những giá trị đạođức được đề cao Dòng họ là sự nối tiếp tự nhiên của gia đình bằng quan hệhuyết thống Dòng họ có vai trò rất lớn trong việc lập làng mới và mở rộngdiện tích canh tác Một làng gồm nhiều dòng họ lớn nhỏ khác nhau Dòng họtuy không giữ vai trò kinh tế nhưng lại là nơi các gia đình tìm thấy ở đó mộtchỗ dựa tinh thần đặc biệt, nhất là những dòng họ có uy tín với làng xã hoặc

có người đỗ đạt làm quan

Bất kỳ đứa trẻ nào từ khi sinh ra đã được giáo dục ý thức dòng họ như

vị trí của nó trong họ tộc, quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ đối với họ tộc Cơ

sở tạo ra sự gắn bó dòng họ là ý thức về cội nguồn:

“Con người có tổ có tông Như cây có cội như sông có nguồn”

Tình cảm họ hàng được quán triệt trong gia đình, trẻ em phải học cáchứng xử trong dòng họ ngay từ nhỏ Trong dòng họ, mọi người phải bênh vựcnhau, phải đoàn kết nhất trí trong ứng xử với làng xã, với dòng họ khác, mỗi

cá nhân trong dòng họ phải luôn ý thức:

“Một giọt máu đào hơn ao nước lã”

hay :

“Đắng cay cũng thể ruột rà

Trang 36

Ngọt ngào cho lắm cũng là người dưng”

Có thể nói dòng họ có thể là chỗ dựa hay điểm tựa của gia đình, là nơicon cháu có thể dựa dẫm, cậy nhờ khi gặp khó khăn, bất trắc “Sẩy cha cònchú, sẩy mẹ bú dì’’… trong họ, sự khôn ngoan tài giỏi của cá nhân khôngbằng sức mạnh của cả họ tộc “khôn độc không bằng ngốc đàn”… Chính vìvậy, trong gia đình truyền thống, mỗi cá nhân không chỉ có ý thức bảo vệ giađình mà còn phải bảo vệ dòng họ, không được làm điều trái với luân thườngđạo lý để thiên hạ chê cười, bởi điều đó sẽ không chỉ làm mất mặt gia đình màcòn cả dòng họ, tổ tiên nữa Như vậy, quan hệ dòng họ trong gia đình truyềnthống ngoài những hạn chế như thủ tiêu cái tôi (cái cá nhân, bản ngã, chủthể), gia đình hoá các quan hệ xã hội… thì quan hệ dòng họ, gia tộc cũng đểlại nhiều giá trị đạo đức tốt đẹp, đó là lòng biết ơn với tổ tiên, tôn ty trật tựtrong họ tộc, sự đoàn kết, gắn bó và tinh thần trách nhiệm trong họ tộc… Đó

là những giá trị đạo đức cần thiết được phát huy trong giai đoạn hiện nay khi

mà sự bon chen, lối sống thực dụng làm nhiều người quên lãng, vô tráchnhiệm đối với họ mạc, tổ tiên

Thứ năm, Giá trị đạo đức trong mối quan hệ giữa gia đình với cộng

Trang 37

thành nên ý thức “chia ngọt sẻ bùi”, “tắt lửa tối đèn có nhau”, “lá lành đùm lárách”… Mỗi cá nhân, gia đình có ý thức tự giác đối với các công việc chungcủa cả làng.

Tuy nhiên, quan hệ làng xã cũng có những nhược điểm của nó, nhưtính cục bộ địa phương, bè cánh, phường hội, đối với người cùng làng cố kếtbao nhiêu thì người ngoài làng lại phân biệt bấy nhiêu hoặc ngay trong mộtlàng, cũng có sự phân biệt giữa những người chính cư và những người ngụ

cư Mặt khác, quan hệ làng xã quá chặt chẽ làm hạn chế sự phát triển của các

cá nhân, làng xã như một gia đình thu nhỏ, các cá nhân trong làng xã nhưnhững thành viên trong gia đình nên dễ sinh ra thói “dĩ hoà vi quý”, “chín bỏlàm mười”, “lọt sàng xuống nia”… Ngày nay, khi làng xã không còn là đơn vị

xã hội khép kín thì sự đoàn kết hàng xóm, láng giềng, sự quan tâm, đùm bọclẫn nhau “lá rách ít đùm lá rách nhiều”, “bán anh em xa mua láng giềnggần”… vẫn là những giá trị đạo đức cần được kế thừa và phát huy trong xâydựng đất nước hiện nay Mỗi khi xa quê, nhớ về nơi chôn rau cắt rốn mà thấy

ấm áp tình người đó là tình làng, nghĩa xóm gần gũi và thân thiết mà ở nhữngnơi đô thị phồn hoa ít nhiều đã bị mai một Đặc biệt trong quá trình đổi mới

và hội nhập quốc tế hiện nay, giá trị đạo đức trong quan hệ làng xã cần phảiđược phát huy trong quá trình xây dựng gia đình Việt Nam

Nước ta hiện nay, quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế đã tác độngkhông nhỏ tới gia đình, đang từng bước làm biến đổi những nguyên tắc,chuẩn mực đạo đức gia đình truyền thống cho phù hợp với xã hội mới, đangtạo điều kiện cho sự phát triển và hoàn thiện của các thành viên trong giađình… Tuy nhiên, nó cũng đang đặt ra rất nhiều thách thức đối với việc giữgìn và phát huy những giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống Việt Nam

Gia đình là bộ "giảm xóc" khổng lồ của mọi thời đại Vấn đề gia đình,

do vậy, không chỉ dừng ở giá trị lý luận, mà còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn.Hiểu rõ điều này, trong công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn dành

Trang 38

sự quan tâm đặc biệt cho việc xây dựng gia đình Việt Nam mới Nhờ vậy, sauhơn 20 năm đổi mới, ở Việt Nam, phong trào xây dựng gia đình văn hoá đã cónhững thành công đáng kể Quá trình đổi mới đã đem đến cho gia đình ViệtNam những cơ hội phát triển mới, mức sống của đại bộ phận các gia đìnhViệt Nam được nâng cao, các chức năng cơ bản của gia đình có nhiều biếnđổi theo chiều hướng tích cực Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển kinh tế thịtrường, mở rộng hợp tác và giao lưu văn hoá, gia đình Việt Nam cũng đangphải đối mặt với những thách thức to lớn Mặt trái của cơ chế thị trường đãtạo ra lối sống thực dụng, tôn thờ đồng tiền, coi thường đạo đức gia đìnhtruyền thống Bên cạnh đó, các ấn phẩm độc hại mang hình thức văn hoá từbên ngoài du nhập vào đã dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội, đặt lối sống gia đìnhtruyền thống Việt Nam trước nguy cơ bị mai một Những biến đổi sâu sắc củagiá trị gia đình truyền thống Việt Nam dưới tác động của quá trình đổi mới vàhội nhập quốc tế đòi hỏi chúng ta cần xác định rõ những thời cơ và thách thứccủa gia đình và giá trị gia đình truyền thống Việt Nam để tìm ra những giảipháp cụ thể nhằm tận dụng tốt thời cơ và vượt qua thách thức để giữ gìn vàphát huy những giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống Việt Nam trong bốicảnh mới

1.3 Gia đình văn hoá và yêu cầu khách quan của việc kế thừa, phát huy những giá trị đạo đức của gia đình truyền thống Việt Nam trong xây dựng gia đình văn hoá

1.3.1 Gia đình văn hoá và những tiêu chuẩn gia đình văn hoá

Gia đình văn hóa là danh hiệu do Ban Chỉ đạo nếp sống mới Trungương đặt ra như một mục tiêu để phấn đấu xây dựng gia đình ở nước ta trongquá trình xây dựng và đổi mới đất nước

Gia đình văn hoá được coi là một kiểu gia đình mới khác với gia đìnhtruyền thống hoặc gia đình cũ trong xã hội phong kiến thực dân bởi trong giađình ngoài yếu tố truyền thống đã được chọn lọc còn có những yếu tố của thời

Trang 39

đại mới, đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển Nhìn chung, gia đình văn

hoá thường được hiểu là một danh hiệu, một kiểu mẫu để phong tặng cho gia đình khi gia đình đạt được hoặc thực hiện tốt các tiêu chuẩn, do mô hình ấy đặt ra, danh hiệu này chỉ phẩm chất của gia đình, nói lên nếp sống có văn hoá trong gia đình.

Gia đình văn hoá là một khái niệm động Từ khi ra đời đến nay đã cókhá nhiều thay đổi từ tên gọi đến các tiêu chuẩn của mô hình

Về tên gọi, trước đây gia đình văn hoá được gọi bằng nhiều tên khácnhau như “gia đình mới”, “gia đình có nếp sống văn hoá”, “gia đình văn hoá

xã hội chủ nghĩa”, “gia đình văn hóa mới” nhưng cho đến nay, gia đình vănhoá là tên gọi chính thức

Về tiêu chuẩn, gia đình văn hoá cũng luôn luôn có sự thay đổi, một mặtthể hiện yêu cầu của xã hội trong việc xây dựng gia đình đối với từng giaiđoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam Mặt khác còn thể hiện đầy đủ hơn vềgia đình và vị trí của gia đình đối với xã hội, đối với việc hình thành nhâncách của con người trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước Cho đếnthời điểm hiện nay, gia đình đạt danh hiệu văn hoá là gia đình đạt những tiêuchuẩn theo quy định của Thông tư số 12/2011/TT-BVHTTDL - Bộ Văn hoá,Thể thao và Du lịch Tại điều 4 chương II của Thông tư đã quy định chi tiết

về tiêu chuẩn danh hiệu gia đình văn hoá như sau:

“1 Gương mẫu chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính

sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia các phong trào thi đua của địa phương:

a Thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ công dân; không vi phạm pháp luậtNhà nước, quy định của địa phương và quy ước, hương ước cộng đồng;

b Giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; vệ sinh môi trường;nếp sống văn hóa nơi công cộng; bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, cảnh quan

Trang 40

của địa phương; tích cực tham gia các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ởkhu dân cư;

c Không vi phạm các quy định về thực hiện nếp sống văn minh trongviệc cưới, việc tang và lễ hội; không sử dụng và lưu hành văn hóa phẩm độchại; không mắc các tệ nạn xã hội; tham gia tích cực bài trừ tệ nạn xã hội vàphòng chống các loại tội phạm;

d Tham gia thực hiện đầy đủ các phong trào thi đua; các sinh hoạt, hộihọp ở cộng đồng

2 Gia đình hòa thuận, hạnh phúc, tiến bộ, tương trợ giúp đỡ mọi người trong cộng đồng:

a Vợ chồng bình đẳng, thương yêu giúp đỡ nhau tiến bộ Không có bạolực gia đình dưới mọi hình thức; thực hiện bình đẳng giới; vợ chồng thực hiệnsinh con đúng quy định, cùng có trách nhiệm nuôi con khỏe, dạy con ngoan;

b Gia đình nề nếp; ông bà, cha mẹ gương mẫu; con cháu thảo hiền; giữgìn các giá trị văn hóa gia đình truyền thống, tiếp thu có chọn lọc các giá trịvăn hóa mới về gia đình;

c Giữ gìn vệ sinh phòng bệnh; nhà ở ngăn nắp; khuôn viên xanh - sạch

- đẹp; sử dụng nước sạch, nhà tắm và hố xí hợp vệ sinh; các thành viên tronggia đình có nếp sống lành mạnh, thường xuyên luyện tập thể dục thể thao;

d Tích cực tham gia chương trình xóa đói, giảm nghèo; đoàn kết tươngtrợ xóm giềng, giúp đỡ đồng bào hoạn nạn; hưởng ứng phong trào đền ơn đápnghĩa, cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” và các hoạt động nhân đạo khác

Ngày đăng: 12/04/2016, 12:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Chí Bảo (2006), Văn hoá và con người Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và con người Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
2. Hoàng Chí Bảo (2009), “Hệ giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập quốc tế”, Hồ sơ sự kiện (Chuyên san của Tạp chí Cộng sản), (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập quốc tế”, "Hồ sơ sự kiện
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2009
3. Mai Huy Bích (2003), Xã hội học gia đình, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học gia đình
Tác giả: Mai Huy Bích
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2003
4. Đỗ Thị Bình (1997), “Gia đình ở đô thị trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Tạp chí Khoa học về phụ nữ, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình ở đô thị trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, "Tạp chí Khoa học về phụ nữ
Tác giả: Đỗ Thị Bình
Năm: 1997
5. Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Văn, Nguyễn Linh Khiếu (2002), Gia đình Việt Nam và Phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình Việt Nam và Phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Tác giả: Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Văn, Nguyễn Linh Khiếu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2002
6. Bộ văn hoá, thể thao và du lịch (2011), Thông tư quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục, hồ sơ công nhận danh hiệu gia đình văn hoá, thôn văn hoá, làng văn hoá, ấp văn hoá, bản văn hoá, tổ dân phố văn hoá và tương đương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục, hồ sơ công nhận danh hiệu gia đình văn hoá, thôn văn hoá, làng văn hoá, ấp văn hoá, bản văn hoá, tổ dân phố văn hoá và tương đương
Tác giả: Bộ văn hoá, thể thao và du lịch
Năm: 2011
7. Võ Thị Cúc (1997), Văn hoá gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em
Tác giả: Võ Thị Cúc
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1997
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 2006
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2011
11. Đỗ Thái Đồng (1991), Gia đình truyền thống và những biến thái ở Nam bộ Việt Nam, Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình truyền thống và những biến thái ở Nam bộ Việt Nam, Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thái Đồng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1991
12. Trần Văn Giàu (1993), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1993
13. Phạm Minh Hạc (1996), Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (Nghiên cứu xã hội học), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (Nghiên cứu xã hội học)
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
14. Cấn Hữu Hải (2001), Ảnh hưởng của truyền thống gia đình đến định hướng giá trị cuộc sống của thế hệ trẻ, Luận án tiến sĩ tâm lý học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của truyền thống gia đình đến định hướng giá trị cuộc sống của thế hệ trẻ
Tác giả: Cấn Hữu Hải
Năm: 2001
15. Lê Như Hoa (2001), Văn hoá gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em
Tác giả: Lê Như Hoa
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2001
16. Trần Đình Hượu (1990), “Kiểu gia đình truyền thống – đổi mới chứ không phải phục cổ”, xã hội học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểu gia đình truyền thống – đổi mới chứ không phải phục cổ”, "xã hội học
Tác giả: Trần Đình Hượu
Năm: 1990
17. Trần Đình Hượu (1996), Gia đình và giáo dục gia đình, Nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam (quyển II), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình và giáo dục gia đình
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
18. Đặng Cảnh Khanh (1996), “Về chữ hiếu truyền thống trong gia đình hiện đại”, Tạp chí Khoa học về phụ nữ, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chữ hiếu truyền thống trong gia đình hiện đại”, "Tạp chí Khoa học về phụ nữ
Tác giả: Đặng Cảnh Khanh
Năm: 1996
19. Đặng Cảnh Khanh – Lê Thị Quý (2009), Gia đình học, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình học
Tác giả: Đặng Cảnh Khanh – Lê Thị Quý
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2009
20. Vũ Ngọc Khánh (1998), Văn hoá gia đình Việt Nam, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá gia đình Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Mức độ tán thành của người dân về các vấn đề xã hội nảy sinh - Kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức của gia đình truyền thống Việt Nam trong xây dựng gia đình văn hoá ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
Bảng 2 Mức độ tán thành của người dân về các vấn đề xã hội nảy sinh (Trang 55)
Bảng 5: Nhận định của người dân về các quan hệ gia đình và quan hệ - Kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức của gia đình truyền thống Việt Nam trong xây dựng gia đình văn hoá ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
Bảng 5 Nhận định của người dân về các quan hệ gia đình và quan hệ (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w