2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Ở Việt Nam, trong những năm gần đây đổi mới phương pháp dạy học không chỉ là vấn đề của ngành giáo dục mà còn là vấn đề quan tâm của toàn xã hội. Trong quá trình thực hiện đổi mới, chúng ta đã nhận được sự hỗ trợ của nhiều tổ chức quốc tế, trong đó có Chính phủ Vương quốc Bỉ với hai Dự án hỗ trợ cho các tỉnh miền núi phía Bắc thực hiện đổi mới PPDH theo định hướng áp dụng phương pháp dạy và học tích cực. Dự án Việt Bỉ I đã đầu tư cho 7 tỉnh từ năm 1999 đến 2003 và Dự án Việt Bỉ II đang đầu tư cho 14 tỉnh từ năm 2005 đến 2009. Mục tiêu của dự án “Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng giáo viên Tiểu học, THCS các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam”. Cơ sở phương pháp luận của các PPDH tích cực này dựa trên quan điểm dạy học phân hóa. Các phương pháp dạy học theo hợp đồng, dạy học theo góc và dạy học theo dự án là những phương pháp dạy học đáp ứng được quan điểm dạy học phân hóa. Để tìm hiểu về quan điểm dạy học phân hóa, về các PPDH trên chúng tôi tìm thông tin trên internet và tham khảo danh mục các luận văn thạc sĩ đã bảo vệ chúng tôi đã tìm thấy một số kết quả như sau: + “Phương pháp dạy học theo hợp đồng”, địa chỉ: http:baigiang.violet.vnpresentshowentry_id310181. Đây là một bài power point trình bày tóm tắt về nội dung PPDH theo hợp đồng. + “Dạy học theo góc, theo dự án, theo hợp đồng tiếp cận trong giáo dục nghệ thuật và cuộc sống” của tác giả Ths. Nguyễn Thị Đông, địa chỉ: http:www.spnttw.edu.vnPagesContent.aspx?siteid=1sitepageid=162. Đây là bài viết với nội dung nói về điểm tích cực của 3 phương pháp dạy học theo góc, dạy học theo dự án, dạy học theo hợp đồng. + “Phương pháp dạy học tích cực – dạy học sâu” của tác giả Lê Hương – Yên Biên, tại địa chỉ:http:phanminhchanh.infohomemodules.php?name=Newsop. Đây là bài viết giới thiệu về thông tin và hiệu quả khi thực hiện 3 phương pháp dạy học sâu theo dự án Việt – Bỉ. + “Hội thảo giới thiệu mô đun học theo hợp đồng” tại địa chỉ: www.emchonnghegi.edu.vn...76hithogiithiumodunhcthe. Nội dung của bài viết nói về WOB đã tổ chức hội thảo giới thiệu mô đun học theo hợp đồng. Vào ngày 1 và 2 tháng 10 năm 2011, tại Hà Nội. Mô đun học theo hợp đồng nằm trong gói tài liệu đào tạo giáo viên dạy học tích cực. Cũng giống như mô đun học theo góc, mô đun học theo hợp đồng giới thiệu một số khái niệm và phương pháp về giáo dục dựa trên trải nghiệm. Các đề tài luận văn thạc sĩ thuộc trường ĐHSP.TP Hồ Chí Minh, ĐHSP Huế và ĐHSP Hà Nội có những phần liên quan đến đề tài nghiên cứu mà chúng tôi đã dùng làm tài liệu tham khảo: + Luận văn thạc sĩ “Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy và học môn Hóa học ở trường THPT phần hóa 10 chương trình nâng cao” – Tác giả Hỉ A Mổi Trường ĐHSPTPHCM (2009). + Luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu và áp dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng và dạy học theo góc góp phần rèn luyện kỹ năng dạy học cho sinh viên Hóa học trường ĐHSP” Tác giả Kiều Phương Hảo, Trường ĐHSP Hà Nội ( 2010) + Luận văn thạc sĩ : “Nghiên cứu và áp dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng và dạy học theo góc trong môn hóa học ở trường THPT – phần phi kim hóa học 10 nâng cao”.Tác giả Hoàng Thị Kim Liên . Trường ĐHSP Hà Nội (2011) + Luận văn Thạc sĩ “Vận dụng dạy học theo góc vào phần sự điện li chương trình hóa học lớp 11 nâng cao với sự hỗ trợ của CNTT”.Tác giả Nguyễn Minh Đức. Trường ĐHSP Hà Nội (2011) + Luận văn thạc sĩ: “Dạy học phân hoá bằng hệ thống bài tập ở phần phản ứng oxi hoá khử và phi kim lớp 10 trung học phổ thông ”. Tác giả Nguyễn Văn Quý. Trường Đại học Sư phạm Huế (2010) Số luận văn nghiên cứu về bài tập hóa học thì khá nhiều tuy nhiên nghiên cứu bài tập và sử dụng theo quan điểm dạy học phân hóa thì còn ít và đây cũng là một vấn đề cần được quan tâm. Nhìn nhận lại vấn đề, chúng tôi nhận thấy dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa đang ngày càng được các nhà giáo dục nước ta nói chung và giáo viên dạy học môn hóa học nói riêng quan tâm trong xu thế đổi mới PPDH như hiện nay.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự thách thức của quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu đòi hỏi phải có nguồn nhân lực, người lao động có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn mới Người lao động phải có khả năng thích ứng, khả năng thu nhận và vận dụng linh hoạt, sáng tạo tri thức của nhân loại vào điều kiện hoàn cảnh thực tế, tạo ra những sản phẩm đáp ứng yêu cầu của xã hội
Để có nguồn nhân lực trên, yêu cầu đặt ra là phải đổi mới giáo dục, trong đó
có đổi mới mục tiêu giáo dục, đổi mới nội dung giáo dục, phương pháp dạy và học
Vừa qua, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định cần đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, đồng thời xác định đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao kết hợp với phát triển khoa học - công nghệ
là một trong ba khâu đột phá của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020
Điểm lại thực trạng của việc tổ chức dạy và học hiện nay, chúng ta thấy:
• Phần lớn giáo viên dành nhiều thời gian cho việc đầu tư giảng dạy mà ít tìm tòi sáng tạo trong đổi mới phương pháp dạy học
• Trong công tác dạy, giáo viên lại chú trọng đến việc truyền đạt kiến thức vẫn dạy chung cho số đông, không kích thích được yếu tố riêng của từng cá thể Rất nhiều thầy giáo, cô giáo đơn thuần chỉ dạy cho hết nội dung của sách giáo khoa, dạy cho hết ý tưởng của mình, dạy học theo thói quen mà không chú ý đến điều kiện, khả năng tiếp thu, tâm lý, thái độ, mức độ ham thích của từng học sinh…
• Thực tế dạy học ở nhà trường hiện nay cho thấy số học sinh lười học, lười suy nghĩ, chán học khá đông và là điều rất đáng lo ngại, là đặc trưng cho nhà trường hiện đại Một trong những nguyên nhân của hiện tượng này là do "Chủ nghĩa bình quân" trong cách đối xử với học sinh Trong dạy và học, người giáo viên đã không tính đến sự khác nhau của học sinh về tư chất, thiên hướng, trình độ phát triển, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường mà các em sống…
Trang 2• Trong giảng dạy chưa chú ý giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng tri thức học sinh cần nắm với thời gian tổ chức hoạt động dạy và học Nếu không có phương án đúng để giải quyết mâu thuẫn này thì tình trạng quá tải vẫn sẽ tiếp tục tăng và đặc biệt nặng nề hơn với những học sinh có trình độ trung bình, yếu Thế nhưng nếu giảm nhịp độ và khối lượng chiều sâu tri thức thì học sinh có năng lực tốt sẽ mất đi hứng thú học tập.
Chính vì thế việc phân hoá dạy học là hết sức cần thiết
Từ thực trạng và sự cần thiết của dạy học phân hoá để mang lại hứng thú học tập của học sinh chúng tôi thấy việc xây dựng một hệ thống bài tập môn hoá học để dạy học phân hoá ở trường THPT là rất cần thiết Vì vậy chúng tôi chọn đề tài:
“Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phân hoá phần kim loại - lớp 12 – chương trình nâng cao THPT”
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây đổi mới phương pháp dạy học không chỉ là vấn đề của ngành giáo dục mà còn là vấn đề quan tâm của toàn xã hội Trong quá trình thực hiện đổi mới, chúng ta đã nhận được sự hỗ trợ của nhiều tổ chức quốc tế, trong đó có Chính phủ Vương quốc Bỉ với hai Dự án hỗ trợ cho các tỉnh
miền núi phía Bắc thực hiện đổi mới PPDH theo định hướng áp dụng phương pháp
dạy và học tích cực Dự án Việt Bỉ I đã đầu tư cho 7 tỉnh từ năm 1999 đến 2003 và
Dự án Việt Bỉ II đang đầu tư cho 14 tỉnh từ năm 2005 đến 2009 Mục tiêu của dự án
“Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng giáo viên Tiểu học, THCS các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam”.
Cơ sở phương pháp luận của các PPDH tích cực này dựa trên quan điểm dạy học phân hóa Các phương pháp dạy học theo hợp đồng, dạy học theo góc và dạy học theo dự án là những phương pháp dạy học đáp ứng được quan điểm dạy học phân hóa Để tìm hiểu về quan điểm dạy học phân hóa, về các PPDH trên chúng tôi tìm thông tin trên internet và tham khảo danh mục các luận văn thạc sĩ đã bảo vệ chúng tôi đã tìm thấy một số kết quả như sau:
+ “Phương pháp dạy học theo hợp đồng”, địa chỉ:
2
Trang 3Các đề tài luận văn thạc sĩ thuộc trường ĐHSP.TP Hồ Chí Minh, ĐHSP Huế và ĐHSP Hà Nội có những phần liên quan đến đề tài nghiên cứu mà chúng tôi đã dùng làm tài liệu tham khảo:
+ Luận văn thạc sĩ “Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy và học môn Hóa học ở
trường THPT phần hóa 10 chương trình nâng cao” – Tác giả Hỉ A Mổi Trường
ĐHSPTPHCM (2009)
+ Luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu và áp dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng và
dạy học theo góc góp phần rèn luyện kỹ năng dạy học cho sinh viên Hóa học trường ĐHSP” Tác giả Kiều Phương Hảo, Trường ĐHSP Hà Nội ( 2010)
+ Luận văn thạc sĩ : “Nghiên cứu và áp dụng phương pháp dạy học theo hợp đồng
và dạy học theo góc trong môn hóa học ở trường THPT – phần phi kim hóa học 10 nâng cao”.Tác giả Hoàng Thị Kim Liên Trường ĐHSP Hà Nội (2011)
+ Luận văn Thạc sĩ “Vận dụng dạy học theo góc vào phần sự điện li chương
trình hóa học lớp 11 nâng cao với sự hỗ trợ của CNTT”.Tác giả Nguyễn Minh
Đức Trường ĐHSP Hà Nội (2011)
Trang 4+ Luận văn thạc sĩ: “Dạy học phân hoá bằng hệ thống bài tập ở phần phản ứng
oxi hoá khử và phi kim lớp 10 trung học phổ thông ” Tác giả Nguyễn Văn Quý
Trường Đại học Sư phạm Huế (2010)
Số luận văn nghiên cứu về bài tập hóa học thì khá nhiều tuy nhiên nghiên cứu bài tập và sử dụng theo quan điểm dạy học phân hóa thì còn ít và đây cũng là một vấn đề cần được quan tâm
Nhìn nhận lại vấn đề, chúng tôi nhận thấy dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa đang ngày càng được các nhà giáo dục nước ta nói chung và giáo viên dạy học môn hóa học nói riêng quan tâm trong xu thế đổi mới PPDH như hiện nay
3 Mục đích nghiên cứu
Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phân hoá thông qua phần hoá học kim loại - lớp 12 – chương trình nâng cao ở trường THPT nhằm nâng cao chất lượng dạy - học cho các đối tượng học sinh trong một lớp học
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học Hoá học ở trường THPT
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống bài tập Hóa học phân hoá và việc tổ chức dạy học phân hoá thông qua hệ thống bài tập đó
5 Phạm vi nghiên cứu
Hệ thống bài tập phần hoá học kim loại lớp 12 chương trình nâng cao
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
+ Tổng quan cơ sở lý thuyết của vấn đề nghiên cứu về dạy học Hoá học theo quan điểm dạy học phân hoá
+ Khảo sát thực trạng dạy học Hoá học tại trường trung học phổ thông
+ Tuyển chọn, xây dựng hệ thống bài tập phân hóa phần kim loại lớp 12 – chương trình nâng cao
+ Sử dụng hệ thống bài tập phân hóa phần kim loại 12 – chương trình nâng cao.+ Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi và kết quả của đề tài
7 Giả thuyết khoa học
4
Trang 5Nếu xây dựng và sử dụng có hiệu quả hệ thống bài tập phân hóa cho phù hợp với các đối tượng học sinh thì sẽgiúp học sinh học sâu, hiệu quả học tập bền vững, phân hóa nhịp độ và trình độ học tập của học sinh và góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn học hóa học ở phổ thông.
8 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau
• Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tổng quan các tài liệu có liên quan đến đề tài Sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp hệ thống hoá, khái quát hoá,…
•Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Trò chuyện, phỏng vấn các giáo viên giảng dạy bộ môn hóa học
+ Thăm dò ý kiến của giáo viên, học sinh bằng phiếu điều tra câu hỏi
+ Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng các kết quả nghiên cứu
•Phương pháp xử lý thống kê các số liệu thực nghiệm
9 Đóng góp mới của luận văn
- Tổng quan cơ sở phương pháp luận của quá trình dạy học theo quan điểm dạy học phân hoá
- Tuyển chọn, xây dựng hệ thống bài tập phân hoá phần kim loại 12 – chương trình nâng cao
- Tổ chức dạy học phân hoá thông qua hệ thống bài tập đã xây dựng
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn được chia thành ba chương:+ Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
+ Chương 2: Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng bài tập phân hoá phần kim loại 12 – chương trình nâng cao
+ Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC PHÂN HÓA
1.1 Cơ sở lý luận về dạy học phân hóa [23]
1.1.1 Thuyết đa thông minh [15]
Năm 1983, tiến sĩ Howard Gardner – một nhà tâm lý học nổi tiếng của Đại học Harvard – đã xuất bản một cuốn sách có nhan đề “Frames of Mind” (tạm dịch
Trang 6“Cơ cấu của trí thông minh”), trong đó ông công bố các nghiên cứu và lý thuyết của mình về sự đa dạng của trí thông minh (Theory of Multiple Intelligences).
Theo Gardner, trí thông minh (intelligence) được ông quan niệm như sau “là khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra các sản phẩm mà các giải pháp hay sản phẩm này có giá trị trong một hay nhiều môi trường văn hóa” và trí thông minh cũng không thể chỉ được đo lường duy nhất qua chỉ số IQ
Sau đây là 7 loại trí thông minh mà Gardner đã đề nghị tại thời điểm đó (Những loại hình này được tóm tắt trong Bảng 1.1.):
Các loại trí thông minh Khả năng và nhận thức
Thông minh về ngôn ngữ Các con chữ và ngôn ngữ
Thông minh về logic – toán học Logic và các con số
Thông minh âm nhạc Âm nhạc, âm thanh, giai điệu
Thông minh về chuyển động cơ thể Kiểm soát chuyển động cơ thể
Thông minh về thị giác và không gian Các hình ảnh và không gian
Thông minh về tương tác Cảm xúc của những người khác
Thông minh về nội tâm Tự nhận thức
Bảng 1.1: Tóm tắt thuyết đa thông minh của Howard Gardner
Vào năm 1996, Gardner có bổ sung thêm 2 loại trí thông minh mà ông và đồng nghiệp đang nghiên cứu:
Trí thông minh hướng về thiên nhiên (naturalist): người có khả năng học tập
thông qua hệ thống sắp xếp, phân loại, yêu thích thiên nhiên, các hoạt động ngoài trời,…
Trí thông minh về sự tồn tại (existential): người có khả năng học tập thông
qua việc thấy bức tranh tổng thể, thông qua những câu hỏi như “Tại sao chúng ta tồn tại ở đây?”, “Vai trò của tôi trong thế giới này là gì?”, “Vai trò của tôi trong gia đình, nhà trường và cộng đồng là gì?” Loại trí tuệ này tìm kiếm sự kết nối giữa những kiến thức mới học với các ứng dụng, các kiến thức trong thực tế
Lý thuyết của Gardner đã chỉ ra rằng mỗi người trong chúng ta đều tồn tại một vài kiểu thông minh trên, tuy nhiên, sẽ có kiểu thông minh trội hơn trong mỗi người Bên cạnh đó, Gardner đã chỉ ra rằng trong trường học thông thường chỉ đánh giá một học sinh thông qua 2 loại trí thông minh là trí thông minh về ngôn ngữ và
6
Trang 7trí thông minh về logic/toán học, và điều này là không chính xác Trường học đã bỏ rơi các em có thiên hướng học tập thông qua âm nhạc, vận động, thị giác, giao tiếp…đồng thời lèo lái tất cả mọi học sinh đi theo cùng một con đường và cùng chịu chung một sự đánh giá và phán xét Nhiều học sinh đã có thể học tập tốt hơn nếu chúng được tiếp thu kiến thức bằng chính thế mạnh của chúng.
Thuyết đa thông minh đã mang lại một cái nhìn nhân bản và cần thiết nhằm kêu gọi nhà trường và giáo viên coi trọng sự đa dạng về trí thông minh ở mỗi học sinh: mỗi loại trí thông minh đều quan trọng và mỗi học sinh đều có ít nhiều khả năng theo nhiều khuynh hướng khác nhau Nhà trường phải là nơi giúp đỡ, khơi gợi tiềm năng, tạo điều kiện học tập theo các hướng khác nhau cho các chủ nhân tương lai của
xã hội Làm được điều đó, chúng ta sẽ giúp mỗi học sinh tỏa sáng và thành công
trong cuộc sống của chúng Thuyết đa thông minh là cơ sở nền tảng của mô hình dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa, chúng tôi sẽ trình bày ở dưới đây.
1.1.2 Dạy học phân hoá là gì?
Trong lịch sử giáo dục, học sinh là một danh từ chung chỉ những người tiếp thu
sự giáo dục của giáo viên, không phân biệt người này với người khác: Lớp học là một tập thể học sinh đồng nhất, chỉ gồm học sinh cùng một trình độ, cùng một độ tuổi,…cùng nhằm một mục tiêu chung Ngày nay, phương pháp dạy học tập thể hoá đó đã bị lung lay Hiện nay, người ta lại quan tâm đến cá nhân người học và việc học trên bình diện tổ chức (từ giai đoạn tiểu học đến đại học,…) cũng như trên bình diện giáo dục (lấy học sinh làm trung tâm, dạy học cá nhân hoá, dạy học phân hoá,…)
Để tăng hiệu quả của việc dạy học, chúng ta có thể “chia” người học thành nhiều
“bộ phận” khác nhau để có cách dạy học phù hợp với từng “bộ phận” - đây chính là dạy
học phân hoá Theo từ điển Tiếng Việt, phân hoá là chia ra thành nhiều bộ phận khác hẳn nhau Có nhiều tiêu chí để “chia” người học, chẳng hạn như chia theo lứa tuổi, chia
theo giới tính, chia theo dân tộc, chia theo địa bàn cư trú, Ở đây, chúng tôi chỉ giới hạn trong việc chia theo năng lực và nhu cầu của người học
Theo GS.TSKH Nguyễn Bá Kim: “Dạy học phân hóa xuất phát từ sự biện chứng của thống nhất và phân hóa, từ yêu cầu đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu dạy học đối với tất cả mọi học sinh, đồng thời khuyến khích phát triển tối đa và tối
ưu những khả năng của cá nhân”
Trang 8Quá trình dạy học trong nhà trường hướng tới các đối tượng học sinh rất đa dạng, với những khác biệt về năng lực, sở thích, nguyện vọng, điều kiện học tập, Do
đó, dạy học theo một chương trình giống nhau với cách thức tổ chức dạy học như nhau cho tất cả mọi đối tượng học sinh là không phù hợp với yêu cầu phát triển của từng người học Trong dạy học, cần phải xuất phát từ tình hình thực tế học sinh, dựa vào đặc điểm phát triển tâm lý, dựa vào vốn hiểu biết của các em, dựa vào mặt mạnh, mặt yếu của các em mà tìm cách dạy thích hợp Bởi vậy, dạy học phân hóa phải tính đến trình
độ phát triển khác nhau, đến đặc điểm tâm lý khác nhau của mỗi học sinh, làm cho mọi học sinh có thể phát triển phù hợp với năng lực và nhu cầu của mình
Dạy học phân hóa là cách thức dạy học đòi hỏi phải tổ chức, tiến hành các hoạt động dạy học dựa trên những khác biệt của người học về năng lực, nhu cầu, nhận thức, các điều kiện học tập nhằm tạo ra những kết quả học tập và sự phát triển
tốt nhất cho từng người học, đảm bảo công bằng trong giáo dục, tức là đảm bảo
quyền bình đẳng về cơ hội học tập cho người học.
1.1.3 Tại sao phải dạy học phân hoá
Dạy học phân hoá là cần thiết bởi những lý do chủ yếu sau:
- Dạy học phân hoá góp phần đáp ứng yêu cầu đào tạo và phân công lao động xã hội để mỗi thành viên đóng góp hiệu quả nhất trong công việc trên cơ sở đã được chuẩn bị tốt theo định hướng từ nhà trường Đây thực chất là đáp ứng yêu cầu phân luồng lao động của xã hội mà nhà trường phải thực hiện
- Dạy học phân hoá phù hợp với quy luật phát triển nhận thức và hình thành các đặc điểm tâm lý của học sinh Ngay từ những lớp cuối của trung học cơ sở, học sinh đã bộc lộ rõ thiên hướng, sở trường và hứng thú đối với những lĩnh vực kiến thức, kỹ năng nhất định Trong cuốn “Dạy học phân hoá đối với học tập đa dạng” năm 2003, C.A.Tomlinson đã chỉ ra rằng HS chỉ học khi nhiệm vụ học tập đã đặt ra thật sự có chút khó khăn cần phải vượt qua Nếu nhiệm vụ quá khó khăn đối với một HS nào đó, bộ não của họ sẽ chuyển sang giai đoạn ức chế để bảo vệ khỏi bị hại Nếu nhiệm vụ học tập quá dễ dàng, sẽ làm người học buồn chán, khi đó bộ não
sẽ hoạt động như giai đoạn đầu của giấc ngủ Sự cam kết, tích cực học tập của HS chỉ được tăng lên khi các hoạt động học tập hấp dẫn, thú vị
8
Trang 9- Dạy học phân hoá ở trung học phổ thông là cần thiết và phù hợp với xu thế chung của thế giới Hiện nay hầu như không còn nước nào dạy học theo một chương trình và kế hoạch duy nhất cho mọi học sinh trung học phổ thông.
Như vậy việc tổ chức cho HS trong lớp (có khả năng, phong cách, hứng thú
và mức độ tiến bộ riêng) học tập theo cách phù hợp để đạt được mục tiêu giáo dục
đã đặt ra có ý nghĩa nhân văn cao; đảm bảo quyền được tiến bộ và phát triển của con người Dạy học phân hoá chính là một chiến lược giúp mọi HS có thể học tích
cực dựa trên năng lực của mình Nói cách khác, việc tổ chức cho HS học phân hoá
là con đường nâng cao tính hiệu quả của quá trình dạy học
1.1.4 Các yếu tố có thể sử dụng trong dạy học phân hoá
1.1.4.1 Phân hóa theo mức độ nhận thức [15]
Thang phân loại về mức độ nhận thức của Bloom được chia thành 6 mức
độ như sau:
- Thang bậc nhận thức theo Bloom gồm 6 bậc nhận thức từ thấp đến cao: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá
Hiểu Biết
Tổng hợp Phân tích Vận dụng Đánh giá
Trang 10Bảng 1.2 Cấu trúc cơ bản của thang phân loại cho lĩnh vực nhận thức của Bloom
Tuy nhiên đến năm 2001 Lorin Anderson và David Krathwol đã công bố việc phân tích bổ sung đảo ngược vị trí của cấp độ 5 và 6 Thang phân loại mới này tập trung vào kết quả đầu ra với các động từ cụ thể ở các cấp độ Thang phân loại mới như sau:
Bảng 1.3 Các mức độ tư duy theo thang nhận thức Bloom (mới)
Biết Nhớ lại những kiến thức đã học một cách máy móc và nhắc lại
Hiểu Là khả năng hiểu, diễn dịch, diễn giải, giải thích hoặc suy diễn (dự
đoán được kết quả hoặc hậu quả)
Vận
dụng
Năng lực sử dụng thông tin và chuyển đổi kiến thức từ dạng này sang dạng khác (sử dụng những kiến thức đó học trong hoàn cảnh mới) Vận dụng là bắt đầu của mức tư duy sáng tạo Tức là vận dụng những
gì đã học vào đời sống hoặc vào một tình huống mới
Vận dụng có thể được hiểu là khả năng sử dụng kiến thức đã học trong những tình huống cụ thể hay trong tình huống mới
Phân
tích
Là khả năng nhận biết chi tiết, phát hiện và phân biệt các bộ phận cấu thành của thông tin hay tình huống” Ở mức độ này đòi hỏi khả năng phân loại
10
Hiểu Biết
Đánh giá Phân tích Vận dụng Sáng tạo
Trang 11Phân tích là khả năng phân nhỏ đối tượng thành các hợp phần cấu thành để hiểu rõ hơn cấu trúc của nó.
Ở mức độ này HS phải sử dụng những gì đã học để tạo ra hoặc sáng tạo một cái gì đó hoàn toàn mới
Sáng tạo liên quan đến khả năng kết hợp các thành phần cùng nhau để tạo một dạng mới
Bảng 1.4 Nội dung của các mức độ nhận thức theo thang Bloom
Hiện nay theo quy định của Bộ Giáo dục và đào tạo Việt Nam, việc đánh giá
trình độ nhận thức của HS theo 3 mức độ : “Biết, hiểu, vận dụng” và tuỳ theo đối tượng của học sinh có thể đánh giá thêm ở mức độ: “ vận dụng sáng tạo” Cụ thể:
Dạng
bài Năng lực nhận thức Năng lực tư duy Kỹ năng
I
Biết (nhớ lại những kiến thức đã học một cách máy móc
Tư duy logic(suy luận, phân tích, so sánh, nhận
xét)
Phát huy sáng kiến(hoàn thành kỹ năng theo chỉ dẫn, không còn bắt chước máy móc)
(Vận dụng kiến thức
để xử lí tình huống khoa học, trong đời
Tư duy hệ thống (suy luận tương tự, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá)
Đổi mới (lặp lại kỹ năng nào đó một cách chính xác, nhịp nhàng không phải hướng dẫn)
Trang 12sống thực tiễn)
IV
Vận dụng sáng tạo(phân tích, tổng hợp, đánh giá)
Sử dụng các kiến thức đã có, vận dụng kiến thức vào tình huống mới với cách giải quyết mới, linh hoạt, độc đáo, hữu hiệu
Tư duy trừu tượng(suy luận một cách sáng tạo)
Sáng tạo (hoàn thành kỹ năng một cách dễ dàng có sáng tạo, đạt tới trình độ
cao)
1.1.4.2 Phân hoá về nội dung
Nội dung của một bài học có thể được phân hoá dựa trên những gì HS đã biết Các nội dung cơ bản của bài học cần được xem xét dựa trên chuẩn kiến thức và
kỹ năng của chương trình môn học do Bộ GD&ĐT ban hành Trong lớp học một số
HS có thể hoàn toàn chưa biết gì về khái niệm của bài học, một số HS khác lại làm chủ được một phần của nội dung bài học; một số HS khác nữa lại có những hiểu biết chưa đúng về khái niệm có trong bài và có những HS lại có thể làm chủ toàn bộ nội dung trước khi bài học bắt đầu Trên cơ sở đó, GV có thể phân hoá các nội dung bằng cách thiết kế các hoạt động cho các nhóm HS bao gồm các mức độ khác nhau của bảng phân loại tư duy của Bloom
Ví dụ : Khi dạy phần Nước cứng – SGK 12
Với những HS chưa có hiểu biết gì về khái niệm có thể yêu cầu hoàn thành nhiệm vụ ở mức độ biết, hiểu (cấp độ thấp trong thang tư duy của Bloom)
VD: Nước tự nhiên có chứa những ion thì gọi là nước có tính cứng tạm thời Trong dấu “ ” là:
Trang 13VD: Trong một cốc nước có chứa 0.01 mol Na+, 0,02 mol Ca2+, 0,01 mol Mg2+, 0,05 mol , 0.02 mol Cl Nước trong cốc thuộc loại nào?-
VD: Trong một cốc nước có chứa 0,01 mol Na+, 0,02 mol Ca2+, 0,005 mol
Mg2+, 0,05 mol HCO-3, 0,01 mol Cl
-1) Hãy cho biết nước trong bình có tính cứng tạm thời hay tính cứng vĩnh cửu
Vì sao?
2) Đun sôi nước trong bình cho đến phản ứng hoàn toàn, hãy cho biết:
a Số mol các ion còn lại trong bình
b Tính cứng của nước có thay đổi hay không?
Lời giải: Khi làm bài tập này học sinh cần vận dụng kiến thức tổng hợp về nước
cứng và kỹ năng vận dụng giải BT
1) Nước có cả tính cứng tạm thời và tính cứng vĩnh cửu
2) Sau khi đun sôi nước:
Ion hiđrocacbonat bị phân huỷ:
Vậy nước sau khi đun là nước mềm
Cần nhớ rằng mục tiêu của bài học không được thay đổi và không được hạ thấp chuẩn kiến thức kỹ năng đã quy định Việc đưa ra các nhiệm vụ học tập với các mức độ thách thức thích hợp cho từng loại HS yếu – kém, trung bình và khá - giỏi sẽ:
• Cho phép HS được lựa chọn
• Khuyến khích tư duy cấp cao
• Tăng trách nhiệm học tập
1.1.4.3 Phân hoá về quá trình
Trang 14Quá trình làm thế nào cho các vật liệu học tập có thể phân hoá cho HS dựa trên phong cách học tập của họ, có tính đến các tiêu chuẩn, hiệu quả và độ tuổi Ví dụ học sinh có thể tiếp cận bài học bằng “đọc” văn bản (như nghiên cứu tài liệu SGK ), hoặc bằng nhìn các hình ảnh (như quan sát tranh, ảnh, mô hình ) hoặc bằng “nghe, nhìn” (như quan sát videoclip ) Nhiều GV có thể áp dụng thuyết đa thông minh để cung cấp cơ hội học tập cho HS Sự phân hoá về quá trình dựa trên nhu cầu, lợi ích, phong cách học tập của HS GV có thể tổ chức cho HS học theo nhóm cùng sở thích, cùng phong cách học hoặc phân nhóm theo năng lực Ý tưởng chính đằng sau cách tổ chức dạy học này là HS ở các cấp độ khác nhau và học tập theo những phong cách khác nhau, do đó, GV không thể dạy cho tất cả HS theo cùng một phong cách Tuy nhiên dạy học phân hoá không có nghĩa là dạy cho từng HS một Phân hoá về quá trình dạy học có nghĩa là GV đưa ra các hoạt động học tập hoặc các chiến lược khác nhau để cung cấp các phương pháp thích hợp cho HS học tập:
− Đảm bảo sự linh hoạt trong việc phân nhóm
− Khuyến khích tư duy cấp cao trong mỗi nhóm
• Những nhóm này sẽ thay đổi thường xuyên trong ngày hoặc trong một giai đoạn học tập
• Các nhóm linh hoạt có thể được thành lập xuyên suốt các mức độ phát triển
• Tạo ra cơ hội học tập độc lập
• “Nhóm hợp tác” có thể thành lập xuyên suốt các mức độ phát triển
14
Trang 151.1.4.4 Phân hoá về sản phẩm
Sản phẩm về cơ bản là những gì HS làm ra vào cuối bài học để chứng minh
họ đã làm chủ được kiến thức, kỹ năng của bài học Căn cứ vào trình độ kỹ năng của HS và chuẩn kiến thức kỹ năng của bài học, GV có thể giao cho HS hoàn thành các sản phẩm như viết một báo cáo hoặc vẽ sơ đồ, biểu đồ Cho phép HS được lựa chọn thể hiện sản phẩm cuối cùng dựa trên sở thích thế mạnh học tập của mình
1.1.5 Các đặc điểm của lớp học phân hoá
Theo Tomlison (1995) có 4 đặc điểm điển hình dạy và học trong một lớp học phân hoá hiệu quả:
1.1.5.1 Dạy học các khái niệm chủ chốt và nguyên tắc cơ bản
Tất cả HS có cơ hội để khám phá và áp dụng các khái niệm chủ chốt của bài học đang được nghiên cứu Tất cả HS hiểu được các nguyên tắc cơ bản cần cho việc nghiên cứu bài học Như vậy việc dạy học cho phép người học phải suy nghĩ để hiểu và sử dụng những kế hoạch hành động một cách chắc chắn, đồng thời khuyến khích HS mở rộng và nâng cao hiểu biết của họ trong việc áp dụng những nguyên tắc và khái niệm chủ chốt Việc dạy học đòi hỏi người học hoặc khả năng phán đoán hơn là sự ghi nhớ và nhắc lại từng phần của thông tin Dạy học dựa trên khái niệm và các nguyên tắc cơ bản đòi hỏi GV cung cấp quyền học tập khác nhau Trong các giờ học truyền thống, GV thường yêu cầu tất cả HS cùng làm một công việc Trong dạy học phân hoá, tất cả các HS có cơ hội khám phá bài học thông qua các con đường và cách tiếp cận khác nhau
1.1.5.2 Tiến hành đánh giá sự sẵn sàng và tiến bộ của HS
Quá trình này được đưa vào chương trình học GV không cho rằng tất cả mọi HS cần một nhiệm vụ cho từng phần nghiên cứu, nhưng liên tục đánh giá sự sẵn sàng và quan tâm của HS, hỗ trợ khi HS cần dạy và hướng dẫn thêm và mở rộng phát hiện của HS hoặc một nhóm HS khi các em đã sẵn sàng để học phần tiếp theo
1.1.5.3 Nhóm linh hoạt luôn được sử dụng
Trong một lớp học phân hoá, HS có thể làm việc cá nhân, theo cặp hoặc theo nhóm Hoạt động học tập có thể dựa trên sở thích hay phong cách học hoặc theo trình độ nhận thức hoặc theo kết hợp hai trong ba ý trên Dạy học theo nhóm cũng
Trang 16có thể được dùng để giới thiệu những ý tưởng mới hay khi lập kế hoạch hoặc chia
sẻ kết quả học tập
1.1.5.4 HS được hoạt động như nhà thám hiểm, GV hướng dẫn việc khám phá
Trong lớp học phân hoá các hoạt động khác nhau thường xảy ra cùng một lúc
GV làm việc như là người hướng dẫn hoặc điều phối việc học nhiều hơn là cung cấp thông tin HS phải học cách có trách nhiệm với công việc của mình HS là trung tâm không chỉ thể hiện ở việc các em làm chủ việc học của mình mà còn tạo điều kiện để các em ngày càng độc lập trong suy nghĩ, trong lập kế hoạch và đánh giá
1.1.6 Các yêu cầu để tổ chức cho học sinh học phân hoá
1.1.6.1 Tìm hiểu càng nhiều về HS của bạn càng tốt
Tìm hiểu về quan tâm và sở thích của HS, thông qua các phiếu trắc nghiệm
và yêu cầu HS càng điền càng nhiều chi tiết càng tốt Điều này sẽ bao gồm các câu hỏi về tất cả mọi thứ, từ các chương trình truyền hình yêu thích đến các cuốn sách các em thích đọc, Đặt câu hỏi về gia đình và bạn bè Tìm ra ai là người quan trọng đối với các em và vì sao họ lại quan trọng
Quan sát HS khi họ làm việc Tìm hiểu tốc độ hoàn thành bài tập của HS, cách em vượt qua khó khăn cũng như các dấu hiệu của sự thất vọng hoặc ngừng hoạt động khi công việc quá khó khăn Học sinh học tốt nhất khi nhiệm vụ học tập của họ có độ khó ở trên mức độ thoải mái Nếu khó quá, HS sẽ ngừng hoạt động
Cung cấp các nhiệm vụ hoặc bài tập giúp HS bộc lộ phong cách học tập của
họ GV cần quan sát hoạt động học tập của HS để xác định được cách tốt nhất để một học sinh có thể học
Xem xét kết quả môn học từ năm học trước Sử dụng thông tin này trong quá trình lập kế hoạch bài học
1.1.6.2 Cân bằng mục tiêu học tập, tài liệu học tập và nhu cầu học sinh
Biết được mục tiêu và chuẩn kiến thức, kỹ năng môn học, chương, bài và các lĩnh vực nội dung để chỉ đạo cho quá trình lập kế hoạch bài học Quyết định đơn vị học tập phù hợp với các chuẩn kiến thức, kỹ năng môn học, nhóm các đơn vị học tập với nhau
Sử dụng chương trình, sách giáo khoa môn học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành để hỗ trợ quá trình học tập Tuy nhiên, chi tiết chương trình giảng dạy đôi khi không hoàn toàn phù hợp với mọi học sinh để giáo viên có thể thực hiện được mong muốn làm cho bài học phù hợp với “tất cả học sinh” Bởi vậy, sử dụng chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình có thể cung cấp cho giáo viên một cơ sở rộng
16
Trang 17lớn, từ đó giáo viên có thể bắt đầu quá trình lập kế hoạch bài học cho phù hợp với nhu cầu của học sinh.
Quyết định những chuẩn nào là thích hợp mà tự nó đảm bảo cho sự phân hoá đạt được hiệu quả Nếu cố gắng để tạo ra các bài học dạy theo phân hoá cho tất cả các chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình có thể là phản tác dụng Một số chuẩn như các tính toán cơ bản đòi hỏi mọi HS phải có, ví dụ - phải dạy HS làm chủ những kỹ năng tính toán cơ bản Giúp học sinh phát triển các chiến lược giải quyết vấn đề toán học Tuy nhiên, một bài học có thể được dạy theo nhiều cách khác nhau Giáo viên và học sinh có thể làm việc cùng nhau để tìm ra các chiến lược làm việc tốt nhất cho mỗi học sinh, dựa vào phong cách học tập của học sinh Học sinh
có thể chứng minh, làm chủ những kỹ năng này theo các cách khác nhau Ví dụ như viết đánh giá việc hoàn thành bài tập hoặc thuyết trình cách giải quyết vấn đề bằng cách sử dụng phương pháp ưa thích
1.1.6.3 Xây dựng kế hoạch bài học với các hoạt động đa dạng và hướng dẫn công bằng
Hãy xem xét tất cả các phong cách học tập khi lập kế hoạch cả phương pháp dạy học và các hoạt động của HS để làm chủ các kỹ năng thực hành và trình bày Ít nhất hãy chắc chắn biết rõ những học sinh nào học tốt nhất bằng cách nghe, nhìn hoặc qua các bài kiểm tra
Tạo các hoạt động hướng về năng lực của các học sinh khá trong lớp học, và sau đó tạo ra các hoạt động sửa đổi cho các học sinh có trình độ trên hoặc dưới mức này Hãy kỳ vọng ở tất cả HS, tuy nhiên làm sao để cả bài học và hoạt động phù hợp với tất cả học sinh
Đảm bảo các hoạt động phân hoá được công bằng Nếu chỉ có một số học sinh được giao nhiệm vụ thích thú với hoạt động của họ, trong khi đó các học sinh khác gặp nhiều khó khăn khi làm việc với phiếu bài tập của họ, như vậy các hoạt động là không công bằng và việc học tập bị ảnh hưởng
Cung cấp hướng dẫn cho những HS cần sự giúp đỡ thêm khi làm bài tập, và tạo ra một “thủ tục” cho phép HS có thể chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác Điều này sẽ giúp duy trì trật tự trong lớp học
1.1.6.4 Sử dụng các nhóm học tập linh hoạt và hợp tác
Chỉ định các hoạt động dành cho HS để làm việc cá nhân, theo cặp và các loại hoạt động khác làm việc theo nhóm Tạo ra một loạt các cặp và các nhóm tham gia phù hợp với mức độ, khả năng, phong cách học tập, sự quan tâm và sở thích của HS
Trang 18Sử dụng các nhóm khác nhau cho các hoạt động khác nhau, đôi khi là có lợi cho HS khi các em tham gia vào nhóm hỗn hợp về cả trình độ và phong cách học tập, trong khi đó vào thời điểm khác nhóm đồng nhất sẽ có lợi hơn
Dự kiến trước các thành viên của mỗi nhóm và một kế hoạch cho HS di chuyển về nhóm trước để tận dụng tối đa thời gian thực hiện các nhiệm vụ học tập trong lớp học
1.1.6.5 Tiến hành đánh giá thường xuyên
Đánh giá việc học tập của HS thường xuyên và liên tục Mục tiêu của dạy học phân hoá là đáp ứng nhu cầu học tập của mỗi HS Vì vậy, đánh giá trong suốt quá trình học tập cho phép GV điều chỉnh hướng dẫn và thay đổi các bài tập khi cần thiết
Đánh giá chính thức và không chính thức Tiến hành đánh giá không chính thức có thể bao gồm việc quan sát HS khi các em làm việc cá nhân hoặc theo nhóm, cung cấp các đánh giá bằng văn bản được thiết kế để chứng minh sự thành thạo, xem xét các kế hoạch hoặc dự án đang tiến hành hoặc sau khi hoàn thành và yêu cầu học sinh dạy hoặc hướng dẫn các kỹ năng cho các bạn khác
Phân hoá đánh giá tổng kết Cách duy nhất để thực sự đánh giá sự thành thạo của các kỹ năng là đưa ra một đánh giá tổng kết phù hợp với phong cách học, sự quan tâm, sở thích và năng lực của HS
1.1.7 Nhiệm vụ của giáo viên và học sinh trong dạy học phân hoá
Có thể nói dạy học phân hóa là phương pháp dạy học tổng hợp, có thể kết hợp được với nhiều phương pháp dạy học khác như dạy học dự án, dạy học theo nhóm nhỏ, dạy học theo hợp đồng Chính vì vậy mà trong quá trình thực hiện giáo viên cần đặt ra nhiệm vụ rõ ràng cho học sinh và chính bản thân giáo viên
- Nhiệm vụ của giáo viên:
Thường xuyên tiếp xúc với học sinh để nắm bắt tình hình của từng học sinh một, kiểm tra đánh giá năng lực của các em để thấy được mức độ tiến bộ
Lập kế hoạch giảng dạy phù hợp
Xây dựng hệ thống bài tập phù hợp với từng đối tượng học sinh
- Nhiệm vụ của học sinh:
Thực hiện tốt nhiệm vụ mà thầy giáo giao cho, hợp tác với thầy giáo để hoàn thành tốt nhiệm vụ
Phải biết đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, học sinh học giỏi có nhiệm vụ giúp đỡ học sinh yếu kém, học sinh yếu kém phải có tinh thần học hỏi bạn bè, không tự ti, tách rời khỏi nhóm học tập
18
Trang 19Học sinh trưởng nhóm phải giao nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên trong nhóm có ý kiến đóng góp, phản hồi tới giáo viên có thể cùng với giáo viên xây dựng kế hoạch học tập.
1.1.8 Một số phương pháp dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa [14,15, 24]
Dạy học theo góc, dạy học hợp đồng và dạy học theo dự án là những phương pháp dạy học tích cực phù hợp để hướng tới dạy học phân hoá
1.1.8.1 Dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ: Nhóm từ 4 đến 6 người
Cấu tạo của một tiết học theo nhóm có thể như sau:
- Phân công trong nhóm
- Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm
- Cử đại diện (hoặc phân công) trình bày kết quả làm việc theo nhóm
c Tổng kết trước lớp
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
- Thảo luận chung
- GV tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài
1.1.8.2 Dạy học theo góc
Thuật ngữ tiếng Anh "Working in corners" hoặc "Working with areas" có thể hiểu là làm việc theo góc, làm việc theo khu vực và có thể hiểu là học theo góc, nhấn mạnh vai trò của học sinh trong dạy học
Dạy và học theo góc: Một hình thức tổ chức dạy học theo đó học sinh thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại các vị trí cụ thể trong không gian lớp học nhưng cùng
hướng tới chiếm lĩnh một nội dung học tập theo các phong cách học khác nhau.
Trang 20Hình 1.1: Các phong cách học
Ví dụ : Khi dạy học về tính chất hoá học của Nhôm có thể xây dựng góc theo
phong cách học như sau Bốn góc cùng thực hiện một nội dung và mục tiêu học tập nhưng theo các phong cách học khác nhau và sử dụng các phương tiện/đồ dùng học tập khác nhau
Góc quan sát: Học sinh có thể quan sát mẫu vật thật là sợi dây nhôm hoặc
quan sát hình ảnh vật, thí nghiệm các tính chất hoá học của Nhôm, hiện tượng trong thực tế như chậu đựng nước làm bằng nhôm, hay xoong nồi nhôm…trên màn hình máy tính hoặc tivi, rút ra kiến thức cần lĩnh hội
Góc thí nghiệm (Góc trải nghiệm): Học sinh tiến hành thí nghiệm các tính
chất hoá học của Nhôm theo nhóm, quan sát hiện tượng, giải thích và rút ra nhận xét cần thiết
Góc phân tích: Học sinh đọc tài liệu sách giáo khoa và tài liệu tham khảo để
trả lời câu hỏi liên quan đến Nhôm và rút ra kiến thức mới cần lĩnh hội
20
Trang 21Góc áp dụng: Học sinh đọc bảng trợ giúp (chỉ đối với góc xuất phát) sau đó
áp dụng để giải bài tập hoặc giải quyết một vấn đề có liên quan đến thực tiễn
1.1.8.3 Dạy học theo hợp đồng
* Thế nào là dạy học theo hợp đồng?
Tên tiếng Anh "Contract Work" thực chất là làm việc hợp đồng hay còn gọi
là học theo hợp đồng, nhấn mạnh vai trò chủ thể của học sinh trong dạy học
Dạy và học theo hợp đồng là một cách tổ chức môi trường học tập trong đó mỗi học sinh được giao hoàn thành một hợp đồng trọn gói các nhiệm vụ/bài tập khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định Học sinh được quyền chủ động và độc lập quyết định chọn nhiệm vụ (tự chọn), quyết định về thời gian cho mỗi nhiệm vụ/bài tập và thứ tự thực hiện các nhiệm vụ/bài tập đó trong khoảng thời gian chung.
Trong dạy và học theo hợp đồng: Giáo viên là người nghiên cứu thiết kế các
nhiệm vụ/bài tập trong hợp đồng, tổ chức hướng dẫn học sinh nghiên cứu hợp đồng
để chọn nhiệm vụ cho phù hợp với năng lực của học sinh Học sinh là người nghiên cứu hợp đồng, kí kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng, nhằm đạt được mục tiêu dạy học nội dung cụ thể
Hợp đồng là một biên bản thống nhất và khả thi giữa hai bên giáo viên và cá nhân học sinh, theo đó có cam kết của học sinh sẽ hoàn thành nhiệm vụ đã chọn sau khoảng thời gian đã định trước
Mỗi học sinh có thể lập kế hoạch thực hiện nội dung học tập cho bản thân mình: Học sinh có thể quyết định nội dung nào cần nghiên cứu trước và có thể dành bao nhiêu thời gian cho nội dung đó Học sinh có thể quyết định tạo ra một môi trường làm việc cá nhân phù hợp để đạt kết quả theo hợp đồng đã kí Học sinh phải
tự giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình học tập với sự hỗ trợ của giáo viên hoặc của học sinh khác (nếu cần)
Dạy học theo hợp đồng là một hình thức thay thế việc giảng bài cho toàn thể lớp học của giáo viên, đồng thời cho phép giáo viên có thể quản lý và khảo sát được các hoạt động của mỗi học sinh Với hình thức tổ chức này, giáo viên có thể sử
Trang 22dụng sự khác biệt giữa các học sinh để tạo ra cơ hội học tập cho tất cả học sinh trong lớp theo trình độ, theo nhịp độ và theo năng lực
Giáo viên có thể chắc chắn rằng mỗi học sinh đã kí hợp đồng tức là đã nhận một trách nhiệm rõ ràng và sẽ hoàn thành các nhiệm vụ vào thời gian xác định theo văn bản
* Quy trình thực hiện dạy học theo hợp đồng
Bước 1 Chọn nội dung và quy định về thời gian
- Chọn nội dung: Trước hết, giáo viên cần xác định nội dung nào của môn
học có thể được dạy học thông qua hình thức này, điều này sẽ ảnh hưởng đến số lượng các hợp đồng phân công cho học sinh Để đảm bảo đúng đặc điểm của phương pháp dạy học theo hợp đồng, các học sinh phải tự quyết định được thứ tự các nhiệm vụ cần thực hiện để hoàn thành bài tập được giao Do vậy nhiệm vụ trong hợp đồng có thể chọn là một bài ôn tập hoặc luyện tập là phù hợp nhất Hoặc cũng
có thể với bài học mới mà trong đó có thể thực hiện các nhiệm vụ không theo thứ tự bắt buộc Các nhiệm vụ được giao cũng cần bắt đầu từ hợp đồng đơn giản đến hợp đồng với nhiệm vụ ngày càng phức tạp hơn
Giáo viên cần xác định nội dung của hợp đồng và phương pháp sử dụng Với việc xác định nội dung các nhiệm vụ và xây dựng một hệ thống tổ chức có thể khảo sát được (thẻ, ngăn kéo, thư mục…) giáo viên có thể để các học sinh xác định hầu hết phần còn lại của hợp đồng trong giới hạn định hướng (ví dụ các nội dung môn học cần được nghiên cứu trong tuần và số lượng bài tập cần hoàn thành theo từng môn học)
- Quy định thời gian: Giáo viên phải quyết định thời gian của học theo hợp
đồng Việc xác định thời hạn của hợp đồng theo số tiết học trên lớp là tốt nhất để giúp các học sinh quản lý thời gian tốt hơn Thời gian dành cho hợp đồng tối thiểu nên là 2 tiết (khoảng 90 phút) thay vì nội dung này trước đây chỉ thực hiện trong 45 phút Đó là do học sinh cần có thêm thời gian nghiên cứu và kí hợp đồng, có thời gian GV và học sinh nghiệm thu hợp đồng Ngoài ra có thể bố trí cho học sinh thực
22
Trang 23hiện hợp đồng ngoài giờ học chính khóa hoặc ở nhà tùy theo nhiệm vụ cụ thể.
Bước 2: Thiết kế kế hoạch bài học
Sau khi đã xác định nội dung và thời gian, giáo viên cần thiết kế kế hoạch bài học để làm cơ sở tổ chức dạy học theo hợp đồng
Xác định mục tiêu của bài/nội dung: Việc xác định mục tiêu của bài cũng
như những bài bình thường cần căn cứ vào chuẩn kiến thức kỹ năng đã quy định trong chương trình gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ của bài học Tuy nhiên cũng có thể nên xác định thêm một số kỹ năng, thái độ chung cần đạt khi thực hiện phương pháp học theo hợp đồng, thí dụ như kỹ năng làm việc độc lập, kỹ năng tương tác (học sinh với học sinh và học sinh với giáo viên), kỹ năng đánh giá đồng đẳng và kỹ năng tự đánh giá Những kỹ năng này rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển năng lực chung của người lao động do đổi mới phương pháp mang lại
Xác định phương pháp dạy học chủ yếu: Phương pháp cơ bản là dạy và học
theo hợp đồng nhưng thường cần phải sử dụng phối hợp với các phương pháp/kỹ thuật khác, thí dụ như sử dụng phương tiện dạy học của bộ môn, sử dụng phương tiện dạy học hiện đại, giải quyết vấn đề, học tập hợp tác theo nhóm…để tăng cường
sự tham gia, học sâu và học thoải mái
Chuẩn bị của GV và học sinh:
Cần chuẩn bị các tài liệu, phiếu bài tập, sách tham khảo, dụng cụ, thiết bị cần thiết để cho hoạt động của giáo viên và học sinh đạt hiệu quả Đặc biệt là giáo viên phải chuẩn bị được một bản hợp đồng đủ chi tiết để học sinh có thể tìm hiểu dễ dàng, kí hợp đồng và thực hiện các nhiệm vụ một cách độc lập hoặc có sự hỗ trợ của giáo viên và học sinh khác
Thiết kế văn bản hợp đồng
Học theo hợp đồng chỉ khả thi khi các học sinh có thể đọc, hiểu và thực thi các nhiêm vụ một cách tương đối độc lập Các tài liệu cho học sinh cần được chuẩn
bị đầy đủ Trước hết, học theo hợp đồng cần chủ yếu dựa trên những nội dung sẵn
có ở sách giáo khoa, sách bài tập hoặc tài liệu có sẵn Hợp đồng sẽ chỉ đơn giản là chỉ ra số trang và số các nhiệm vụ/bài tập nhất định
Trang 24Ngoài ra nội dung hợp đồng còn bao gồm cả những nhiệm vụ được viết trên những tấm thẻ hoặc những phiếu học tập riêng Giáo viên có thể bổ sung những nhiệm vụ mới hoặc sửa đổi những bài tập đã có cho phù hợp với yêu cầu của học theo hợp đồng và đảm bảo mục tiêu bài học.
Nội dung văn bản hợp đồng bao gồm nội dung nhiệm vụ cần thực hiện và có phần hướng dẫn thực hiện cũng như tự đánh giá kết quả
1.2 Cơ sở lý luận về bài tập hóa học và bài tập phân hóa [25][30]
1.2.1 Khái niệm về bài tập
Theo từ điển tiếng Việt, bài tập là bài giao cho học sinh làm để vận dụng kiến thức đã học, còn bài toán là vấn đề cần giải quyết bằng phương pháp khoa học
Theo các nhà lý luận dạy học Liên Xô (cũ), bài tập bao gồm cả câu hỏi và bài toán, mà trong khi hoàn thành chúng, học sinh nắm được hay hoàn thiện một tri thức hoặc một kỹ năng nào đó, bằng cách trả lời vấn đáp, trả lời viết hoặc có kèm theo thực nghiệm Hiện nay ở nước ta, thuật ngữ “bài tập” được dùng theo quan niệm này
1.2.2 Ý nghĩa, tác dụng của BTHH trong dạy học
Thực tiễn ở trường phổ thông bài tập hóa học giữ vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo Nó vừa là mục đích, vừa là nội dung, lại vừa là phương pháp dạy học hiệu nghiệm Bài tập hóa học cung cấp cho học sinh cả kiến thức, con đường giành lấy kiến thức, đặc biệt góp phần to lớn trong việc phát huy khả năng tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh
- Bài tập hóa học là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất
để học sinh vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tập nghiên cứu khoa học, biến những kiến thức đã thu được qua bài giảng thành kiến thức của chính mình Kiến thức được nhớ lâu khi vận dụng thường xuyên như M.A Đanilôp nhận định: “Kiến thức sẽ được nắm vững thực sự nếu học sinh có thể vận dụng thành thạo chúng vào việc hoàn thành những bài tập lý thuyết và thực hành”
- Đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú Chỉ có vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập học sinh mới nắm vững kiến thức một cách sâu sắc
24
Trang 25- Là phương tiện để ôn tập, củng cố, hệ thống hóa kiến thức một cách tốt nhất
- Rèn luyện kỹ năng hóa học cho học sinh như: kỹ năng viết và cân bằng phương trình phản ứng hóa học, kỹ năng tính toán, kỹ năng thực hành
- Phát triển năng lực nhận thức, rèn trí thông minh cho học sinh
- Bài tập hóa học còn được sử dụng như là phương tiện để nghiên cứu tài liệu mới khi trang bị kiến thức mới, giúp học sinh tích cực, tự lực lĩnh hội kiến thức sâu sắc và bền vững
- Bài tập hóa học còn là phương tiện để kiểm tra kiến thức, kỹ năng của học sinh một cách chính xác
- Bài tập hóa học còn có tác dụng giáo dục đạo đức, tác phong, rèn tính kiên nhẫn, trung thực chính xác khoa học và sáng tạo
1.2.3 Sự phân loại BTHH
Hiện nay có nhiều cách phân loại BTHH dựa trên cơ sở khác nhau:
a) Dựa vào mức độ kiến thức: (cơ bản, nâng cao)
b) Dựa vào tính chất bài tập: (định tính, định lượng)
c) Dựa vào hình thái hoạt động của học sinh: (lí thuyết, thực nghiệm)
d) Dựa vào mục đích dạy học: (ôn tập, luyện tập, kiểm tra)
e) Dựa vào kỹ năng, phương pháp giải bài tập: (lập công thức, hỗn hợp, tổng hợp chất, xác định cấu trúc )
f) Dựa vào loại kiến thức trong chương trình: (dung dịch, điện hoá, động học, nhiệt hoá học, phản ứng oxi hoá - khử )
g) Dựa vào cách tiến hành trả lời: BTHH được chia làm 2 loại là bài tập trắc nghiệm tự luận (thường quen gọi là bài tập tự luận) và bài tập trắc nghiệm khách quan (thường quen gọi là bài tập trắc nghiệm).
1.2.4 Bài tập phân hóa (BTPH)
1.2.4.1 Khái niệm BTPH
Như đã nói ở trên, dạy học phân hóa là phương pháp dạy học tiếp cận đối tượng và có tính vừa sức Nhiệm vụ mà giáo viên đặt ra là phù hợp và có tính khả thi đối với các đối tượng học sinh Bài tập là một phần không thể thiếu được trong
Trang 26quá trình học tập các môn học nói chung và đối với môn hóa nói riêng Bài tập giống như thước đo mức độ phát triển tư duy của học sinh trong quá trình nhận thức Với môn hóa học, bài tập hóa học không chỉ là thước đo mức độ phát triển tư duy mà còn rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, rèn tư duy, rèn trí thông minh Để phát huy
ưu điểm của bài tập người thầy giáo phải biết lựa chọn hệ thống bài tập mang tính vừa sức với khả năng của học sinh để phát huy tối đa năng lực giải quyết vấn đề của các em Có thể hiểu:
Bài tập phân hóa là loại bài tập mang tính khả thi với mọi đối tượng học sinh đồng thời phát huy được hết khả năng hiện có của học sinh trong khi các
em giải bài tập
1.2.4.2 Cơ sở phân loại bài tập phân hóa
Cơ sở phân loại BTPH cũng dựa trên cơ sở phân loại bài tập hóa học nói chung tuy nhiên theo quan điểm dạy học phân hóa có thể chú ý thêm một số cách phân loại như:
- Dựa theo mức độ nhận thức
- Dựa vào trình độ học lực của học sinh
- Dựa vào phong cách học tập của học sinh
1.3 Thực trạng dạy học môn Hóa học và sử dụng bài tập phân hoá ở các trường THPT
1.3.1 Mục đích điều tra.
- Tìm hiểu việc dạy học môn Hoá học ở một số trường trung học phổ thông thuộc địa bàn tỉnh Bắc Ninh để nắm được những phương pháp giảng dạy chính trong nhà trường hiện nay
- Tìm hiểu, đánh giá thực trạng việc học tập môn Hóa học lớp 12 các trường trung học phổ thông thuộc địa bàn tỉnh Bắc Ninh, coi đó là căn cứ để xác định phương hướng, nhiệm vụ phát triển của đề tài
- Thông qua quá trình điều tra đi sâu phân tích các dạng bài tập mà hiện tại giáo viên thường ra cho đối tượng lớp 12 có vừa sức với các em không, có làm cho các em hứng thú với bộ môn hoá học không
26
Trang 27- Nắm được mức độ ghi nhớ, hiểu và vận dụng kiến thức của học sinh, xem đây là một cơ sở định hướng nghiên cứu để đưa ra hệ thống bài tập phân hoá.
1.3.2 Nội dung – Phương pháp – Đối tượng – Địa bàn điều tra.
* Nội dung điều tra :
- Điều tra tổng quát về tình hình dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông hiện nay
- Điều tra tổng quát tình hình sử dụng bài tập của học sinh trong quá trình học tập
* Phương pháp điều tra :
- Gửi và thu phiếu điều tra (trắc nghiệm góp ý kiến)
- Gặp gỡ trao đổi, tọa đàm và phỏng vấn học sinh, giáo viên, chuyên viên, cán bộ quản lý
* Đối tượng điều tra :
- Các giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn hóa học ở các trường phổ thông
- Các học sinh lớp 12 ở trường trung học phổ thông
* Địa bàn điều tra :
Chúng tôi đã tiến hành điều tra ở một số trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh gồm : THPT Hàn Thuyên, THPT Hoàng Quốc Việt, THPT Gia Bình số 1, THPT Gia Bình số 2
1.3.3 Kết quả điều tra.
Để đánh giá được thực trạng dạy Hoá học và việc sử dụng bài tập phân hoá ở trường phổ thông, nhằm xây dựng, tuyển chọn hệ thống bài tập phân hoá phù hợp nhất Chúng tôi đã tiến hành khảo sát vào tháng 4 năm 2012:
* Với GV, chúng tôi đã xin ý kiến của 12 GV dạy hóa học về việc sử dụng các
phương pháp dạy học và cách đánh giá mức độ, khả năng nhận thức và khả năng học tập của học sinh (phiếu xin ý kiến trong phụ lục 1), kết quả thu được như sau:
STT Phương pháp -
phương tiện
Rất Thường xuyên
Thường xuyên
Thỉnh thoảng Hiếm khi
Không bao giờ
1 Vấn đáp tìm tòi 2 (16,7%) 6 (50,0%) 4 (33,3%)
Trang 28- 100% GV ra bài tập chung cho cả lớp.
- Đa số giáo viên khi ra bài tập cho học sinh thường lấy những bài tập đã có sẵn trong sách giáo khoa, sách bài tập mà rất ít khi sử dụng bài tập của bản thân soạn thảo
- Một số lớn những giáo viên trong tiết học chỉ chú trọng vào truyền thụ kiến thức mà xem nhẹ vai trò của bài tập
- Một số giáo viên còn lại có sử dụng bài tập trong tiết học nhưng chỉ sử dụng để kiểm tra miệng, và cuối tiết học để hệ thống lại bài học
- Một số ít giáo viên sử dụng bài tập như là nguồn kiến thức để học sinh củng
cố, tìm tòi, phát triển kiến thức cho riêng mình
28
Trang 29- Khi được hỏi ý kiến về việc xây dựng một hệ thống bài tập phân hoá môn
hoá học để hỗ trợ cho quá trình tổ chức hoạt động dạy học thì toàn bộ giáo viên đều nhất trí đây là một giải pháp hay và có tính khả thi trong việc nâng cao hiệu quả dạy học ở trường trung học phổ thông hiện nay.
* Với HS, chúng tôi đã tiến hành lấy ý kiến của 183 HS (4 lớp học chương trình nâng cao):
Qua việc điều tra cho thấy tuy có rất nhiều khó khăn trong quá trình học tập môn hóa học nhưng đa số các em HS thường xuyên nỗ lực trong học tập, chịu khó hỏi các bạn và các thầy cô Tuy nhiên, vẫn còn một lượng không nhỏ HS học thụ động, đối phó, không chịu khó nghe giảng và tìm các PP học tập phù hợp với mình
- Đa số các HS chưa được giao bài theo sức học và theo sở trường của mình
GV giảng dạy và giao bài chung cho cả lớp
- Nhiều học sinh học tập trong tình trạng thụ động, chưa xây dựng được ý thức tự học Học sinh nghe, nhìn một cách thụ động để thu nhận thông tin do giáo viên truyền thụ, ghi chép những điều giáo viên đọc hay ghi lên bảng Nhiều trường hợp hoạt động của học sinh chỉ là trả lời câu hỏi kiểm tra miệng đầu tiết học, nhắc lại những kết luận, những công thức chính của bài học
- Khi được hỏi nếu ra bài tập phù hợp với các em thì đa số đều cho rằng như vậy việc học tập sẽ gây hứng thú rất nhiều cho các em
Để khắc phục những yếu điểm, phát huy khả năng học tập của HS, việc xây dựng và tuyển chọn một hệ thống bài tập phân hoá đa dạng, phong phú có chất lượng phù hợp với đối tượng chắc chắn sẽ phát triển tư duy, trí thông minh, phát huy năng lực sáng tạo cho HS nâng cao hứng thú học tập với bộ môn Hóa học
Tiểu kết chương 1
Trong chương này chúng tôi đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài, về thuyết đa thông minh, các phương pháp dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa, về bài tập hóa học và bài tập phân hóa:
Trang 30+ Một số phương pháp dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa như phương pháp dạy học theo góc, dạy học hợp đồng, dạy học dự án, dạy học theo nhóm nhỏ…
+ Ý nghĩa, tác dụng và phân loại bài tập hóa học
+ Khái niệm và cơ sở sắp xếp bài tập phân hóa
+ Đã tìm hiểu thực trạng của việc dạy học môn Hóa học và sử dụng bài tập phân hoá ở các trường THPT Đó là những cơ sở lý luận và thực tiễn giúp chúng tôi triển khai nghiên cứu nội dung chương 2
30
Trang 31Chương 2 TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG
HỆ THỐNG BÀI TẬP PHÂN HÓA PHẦN KIM LOẠI LỚP 12
Phần hoá học về kim loại nằm trong khối kiến thức hoá học lớp 12, được giảng dạy trong học kỳ II của lớp 12 Đây là thời điểm học sinh đã nắm vững các khái niệm, học thuyết hoá học quan trọng cũng như đã có cái nhìn tổng quan về kiến thức hoá học THPT Vì thế việc nghiên cứu đề tài cũng mở ra hướng phát triển tiếp theo cho các nội dung khác trong chương trình hoá học THPT.
Mặt khác, trong cấu trúc chương trình thì đây là nội dung cuối cùng học sinh học tại trường THPT, là nội dung chủ yếu trong các đề thi tốt nghiệp và tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng Vì vậy việc rèn luyện và phát triển cho học sinh các thao tác tư duy và nâng cao hứng thú, niềm say mê khi học tập
- Chỉ ra được vị trí, tính chất, ứng dụng của các kim loại kiềm, kiềm thổ, nhôm, sắt và các nguyên tố chuyển tiếp cùng với tính chất và ứng dụng của các hợp chất của chúng
- Giải thích được những tính chất vật lý, tính chất hoá học, ứng dụng và điều chế chung cho từng kim loại Dẫn ra được các phản ứng hoá học để minh hoạ Hiểu được tường tận bản chất của dãy điện hoá, hiện tượng ăn mòn kim loại và các phương pháp điều chế kim loại
- Thiết lập được mối quan hệ giữa vị trí, tính chất và ứng dụng của từng kim loại cụ thể cũng như các hợp chất của chúng
- Vận dụng các kiến thức tổng hợp về kim loại để giải được các bài tập lý thuyết, thực nghiệm và các bài toán về kim loại và các hợp chất của kim loại
Trang 32- Tiếp tục hình thành và phát triển ở học sinh những thái độ tình cảm:
+ Lòng hăng say, ham thích học tập môn hoá học
+ Ý thức tuyên truyền và vận dụng những tiến bộ của khoa học nói chung và hoá học nói riêng vào cuộc sống Có ý thức vận dụng các biện pháp bảo vệ kim loại trong đời sống và trong lao động của cá nhân và cộng đồng xã hội
+ Tích cực vận dụng các kiến thức về kim loại kiềm, kiềm thổ, nhôm, sắt
để giải thích hiện tượng và giải quyết một số vấn đề thực tiễn sản xuất
+ Tác phong cẩn thận, ý thức trung thực, thái độ kiên trì nhẫn nại, chính xác trong học tập hoá học
2.1.2 Cấu trúc của chương trình
Chương trình hoá học phần kim loại lớp 12 - nâng cao gồm các chương và phân bố thời lượng như sau:
thuyết Luyện tập
Thực
6 Kim loại kiềm, kim loại
Cụ thể gồm các bài học sau:
Chương 5: Đại cương về kim loại
- Bài 19 Kim loại và hợp kim.
- Bài 20 Dãy điện hoá của kim loại.
- Bài 21 Luyện tập về tính chất của kim loại.
- Bài 22 Sự điện phân.
- Bài 23 Sự ăn mòn kim loại.
- Bài 24 Điều chế kim loại
- Bài 25 Luyện tập về sự điện phân, ăn mòn kim loại và điều chế kim loại.
Chương 6: Kim loại Kiềm - Kim loại kiềm thổ - Nhôm
32
Trang 33- Bài 28 Kim loại kiềm.
- Bài 29 Một số hợp chất quan trọng của kim loại kiềm.
- Bài 30 Kim loại kiềm thổ.
- Bài 31 Một số hợp chất quan trọng của kim loại kiềm thổ.
- Bài 32 Luyện tập về tính chất của kim loại kiềm, kiềm thổ.
- Bài 33 Nhôm.
- Bài 34 Một số hợp chất quan trọng của nhôm.
- Bài 35 Luyện tập về tính chất của nhôm và hợp chất của nhôm.
- Bài 44 Sơ lược về một số kim loại khác.
- Bài 45 Luyện tập về crom, sắt và các hợp chất của chúng.
- Bài 46 Luyện tập tính chất của đồng, hợp chất của đồng và các kim loại khác.
2.2 Tuyển chọn, xây dựng hệ thống bài tập phân hoá phần kim loại lớp 12 - nâng cao - THPT
2.2.1 Nguyên tắc lựa chọn, xây dựng bài tập phân hoá
Việc xây dựng câu hỏi và bài tập phân hoá, trước hết phải tuân thủ theo các nguyên tắc chung sau:
+ Quán triệt mục tiêu dạy học: Khi thiết kế các hoạt động học tập cho HS,
GV cần cụ thể hoá bằng các bài tập hướng vào mục tiêu bài học Tiến trình tổ chức cho HS từng bước giải quyết được các bài tập đó cũng đồng thời là quá trình thực hiện các mục tiêu dạy học đã đề ra
+ Đảm bảo tính khoa học, chính xác của nội dung: Bài tập dùng để mã hoá
nội dung dạy học Tuy nhiên, bài tập cần đảm bảo tính khoa học, chính xác
+ Phát huy tính tích cực của HS: Bài tập phải đảm bảo tính vừa sức Bài tập
phải được xây dựng sao cho có thể tạo ra động lực tìm tòi cái mới, tức là tạo ra mâu thuẫn chủ quan giữa cái đã biết và chưa biết ở HS nhằm phát huy tính tự giác, tích cực và sáng tạo của HS
+ Đảm bảo tính hệ thống: Nội dung kiến thức trong từng phần, từng
chương, từng bài đều được trình bày theo một logic hệ thống Vì vậy bài tập với tư
Trang 34cách là công cụ hoạt động của HS khi xây dựng phải quán triệt tính hệ thống Cụ thể, bài tập phải được sắp xếp theo một logic hệ thống cho từng nội dung SGK: Cho một bài, cho một chương, một phần và cả chương trình môn học.
Khi xây dựng bài tập cần chú ý đến mối quan hệ có tính hệ thống giữa cái đã biết và cái chưa biết Khi nhiều bài tập được sử dụng để tổ chức dạy học chúng phải được tổ hợp lại theo một hệ thống mà ở đó trật tự bài tập có ý nghĩa quan trọng Bài tập ra trước nhiều khi có tác dụng làm tiền đề cho xây dựng và trả lời câu hỏi tiếp theo liền kề hoặc không liền kề Một số trường hợp lời giải đáp cho bài tập trước có tác dụng làm nảy sinh bài tập tiếp theo
+ Đảm bảo tính thực tiễn: Việc thiết kế bài tập cũng phải cố gắng gắn liền
với thực tiễn cuộc sống
Ví dụ: Khi dạy học bài “Một số hợp chất quan trọng của kim loại kiềm thổ”
(Hoá học 12), nên xây dựng bài tập gắn liền với thực tiễn như:
Ví dụ : Trong các hang động của núi đá vôi nhiều chỗ nhũ đá tạo thành bức
rèm đá lộng lẫy nhiều chỗ lại tạo thành rừng măng đá, có chỗ lại tạo thành các cây cột đá vĩ đại (do nhũ đá và măng đá nối với nhau) trông rất đẹp Bằng sự hiểu biết của mình em hãy giải thích sự tạo thành nhũ đá, măng đá Viết phương trình hóa học xảy ra nếu có
Hướng dẫn trả lời: GV có thể minh họa bằng hình ảnh để các em dễ hình dung.
Trên đỉnh các hang động, núi đá vôi có các kẽ nứt rất nhỏ khiến nước mưa thấm dần xuống kết hợp với đá vôi và khí cacbonic trong không khí tạo thành muối canxi hiđrocacbonat tan chảy xuống:
CaCO3 + CO2 + H2O → Ca(HCO3)2
Một phần muối canxi hiđrocacbonat chuyển lại thành đá vôi, ngày qua ngày tạo thành nhũ đá Một phần muối canxi hiđrocacbonat rơi xuống đất rồi mới chuyển thành đá vôi, qua nhiều ngày tạo thành măng đá
Ca(HCO3)2 → CaCO3 ↓ + CO2↑ + H2O↑
Giáo viên cần hướng dẫn các em cách trình bày ý nghĩ, lập luận của mình một cách có khoa học Bài tập này nên sử dụng để luyện tập hoặc giao bài về nhà
34
Trang 35+ Phù hợp với trình độ, đối tượng HS: Đây là một trong những nguyên tắc
quan trọng để xây dựng bài tập phân hoá trong dạy học Hoá học
Bài tập nếu không phù hợp với trình độ và đối tượng HS sẽ dễ gây hiện tượng nhàm chán Bài tập nếu không phân hoá sẽ không phù hợp với từng đối tượng HS: Có thể phù hợp với đối tượng với HS khá giỏi nhưng sẽ làm cho HS yếu kém không nhận thức được và chán nản…có thể phù hợp với nhận thức của HS yếu kém thì dễ làm cho HS khá giỏi nhàm chán Bài tập càng phân hoá mịn càng phù hợp với việc sử dụng cho các đối tượng khác nhau, và hiệu quả dạy học càng cao
Tóm lại, việc xây dựng bài tập phân hoá phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản trên Tuy nhiên, không phải bài tập nào cũng phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc
đó Tuỳ vào từng nội dung kiến thức, tuỳ vào mục đích của từng bài học mà vận dụng các nguyên tắc một cách linh hoạt
2.2.2 Quy trình xây dựng bài tập phân hoá
Từ kinh nghiệm của bản thân, tham khảo ý kiến của các GV, các chuyên gia chúng tôi xin giới thiệu quy trình xây dựng BTPH trong dạy học phân hoá bao gồm các bước như sau:
2.2.2.1 Phân tích nội dung dạy học.
Nội dung dạy học phải dựa trên nội dung chương trình môn học do bộ GD&ĐT ban hành Trên cơ sở đó, phân tích nội dung SGK để xác định các đơn vị kiến thức có thể đưa vào bài học, để xây dựng hệ thống bài tập cho phù hợp
Trong quá trình phân tích nội dung chương trình và SGK, GV nên lưu ý đến trình độ và mức độ nhận thức của HS mình dạy để có thể giảm bớt các nội dung không cần thiết trong SGK GV cần nghiên cứu nội dung cơ bản, trọng tâm để xây dựng BT giúp HS lĩnh hội được kiến thức đầy đủ, chính xác
Trang 36Từ việc phân tích nội dung cơ bản, trọng tâm của SGK GV có thể phân ra từng phần kiến thức, chia nhỏ các nội dung Trên cơ sở đó, tìm những nội dung có thể đặt được câu hỏi hoặc xây dựng thành bài tập.
2.2.2.4 Diễn đạt các nội dung kiến thức thành bài tập.
Đây là một bước quan trọng trong dạy học phân hoá
Để đảm bảo thiết kế tốt bài tập ứng với các khâu của quá trình dạy học, chúng tôi xin đề xuất một số kỹ thuật cơ bản trước khi diễn đạt các khả năng mã hoá nội dung kiến thức thành bài tập để tổ chức hoạt động tích cực của HS trong quá trình dạy học như sau:
* Kỹ thuật thiết kế câu hỏi, bài tập:
Trong dạy học phân hoá, xây dựng một hệ thống câu hỏi, bài tập phù hợp với các đối tượng học sinh cần phải được biên soạn một cách công phu, khoa học Bài tập nên diễn đạt sao cho có thể kiểm tra được nhiều lĩnh vực và phù hợp với mức độ khác nhau của HS như: Nhớ, hiểu, vận dụng…
Theo Tôn Thân (Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 9/1992), quy trình soạn bài tập phân hoá tác động đến 3 đối tượng học sinh theo sơ đồ sau:
36
Kiến thức cơ bản
(hoặc bài tập trong SGK)
Bài tập nguyên mẫu
Trang 37Với quy trình xây dựng bài tập trên, giáo viên có thể sáng tạo được những bài tập nhằm khắc sâu kiến thức cơ bản, rèn luyện kỹ năng và năng lực tư duy cho các đối tượng học sinh của mình Từ một số bài tập có hạn trong SGK, giáo viên có thể soạn được nhiều bài tập “nguyên mẫu” hoặc có “quan hệ gần”, “quan hệ xa” với bài tập có sẵn (quan hệ về nội dung hoặc quan hệ về phương pháp) phục vụ cho yêu cầu cụ thể của từng tiết học, của từng loại học sinh.
Ví dụ: Khi dạy luyện tập về phần tính thế điện cực và sức điện động của pin
điện hoá, GV có thể soạn những bài tập phân hoá sau:
+) Bài tập dành cho HS yếu, kém: Đây là bài nguyên mẫu
+) Bài tập dành cho HS trung bình: (Trích đề thi tuyển sinh Đại học – B – 2009)
Cho các thế điện cực chuẩn:
A Pin Zn – Pb B Pin Pb – Cu C Pin Al – Zn D Pin Zn – Cu
Để làm bài tập này HS phải vận dụng cách tính suất điện động của nhiều cặp pin sau đó so sánh được với nhau, đòi hỏi phải vận dụng nhiều kỹ năng hơn
+) Bài tập dành cho HS khá, giỏi
Phản ứng hóa học xảy ra trong pin điện hoá:
Trang 38Để làm được bài này HS phải có mức độ tư duy cao hơn, phải nắm chắc kiến thức về pin điện hoá, Từ phản ứng hoá học các em suy ra vai trò của mỗi điện cực
từ đó mới có công thức tính sức điện động đúng
Trước hết xác định được Cr : vai trò chất khử → là cực âm
Ni : có Ni2+ là chất oxi hoá → là cực dương
Áp dụng công thức tính suất điện động Epin = E+ − E−
E+= Epin + E− = 0,48 + (−0,74) = −0,26V
Chọn đáp án B
Việc soạn bài tập phân hoá cần được đặc biệt quan tâm trong các giờ ôn tập, giờ luyện tập bởi các giờ học đó học sinh phải được thực hành giải nhiều bài tập với những kiến thức đã được trang bị trong các giờ học trước đó Để tổ chức tốt giờ học
ôn tập, giáo viên có thể thiết kế theo phương án hoạt động hoá người học thông qua việc bài tập hoá những kiến thức cơ bản Giờ học nên thiết kế theo chùm 3 loại bài tập tương ứng với 3 loại đối tượng học sinh: yếu kém – trung bình – khá giỏi Phương pháp chủ yếu là mỗi đối tượng học sinh được giao một bài tập thích hợp theo mức độ tăng dần Bài tập được chuẩn bị theo bảng sau:
Mức độ 1 Mức độ 2 Mức độ 3 Mức độ 4
HS yếu kém Bài 1.1 Bài 1 2 Bài 1.3 Bài 1.4
HS trung bình Bài 2.1 Bài 2 2 Bài 2.3 Bài 2.4
HS khá giỏi Bài 3.1 Bài 3 2 Bài 3.3 Bài 3.4
Ở đây, mức độ được tăng dần từ mức 1 đến mức 4 (có thể phân bậc mịn hơn nữa) Trong đó, bài 1.4 tương đương bài 2.1, bài 2.4 tương đương bài 3.1
2.2.2.5 Sắp xếp các BT thành hệ thống.
BT sau khi thiết kế nên sắp xếp theo một hệ thống tương ứng với logic nội dung hoặc theo chức năng dạy học, để sao cho khi HS trả lời lần lượt được các câu hỏi, bài tập thì sẽ lĩnh hội được toàn bộ kiến thức của bài theo tiến trình bài học
Tóm lại, quy trình thiết kế BT phân hoá có thể được tóm tắt như sau:
38
Phân tích nội dung dạy học
Xác định mục tiêu
Xác định nội dung kiến thức có thể mã hoá thành BT
Diễn đạt các nội dung kiến thức thành BT
Sắp xếp BT thành hệ thống
Trang 392.2.3 Tác dụng của bài tập phân hóa
Bài tập đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình nhận thức của học sinh, nó không chỉ là thước đo khả năng nhận thức, củng cố kiến thức của học sinh
mà còn là phương tiện để rèn cho học sinh các kỹ năng khác nhau Tuy nhiên để phát huy tác dụng của bài tập thì chúng ta phải biết sử dụng bài tập như thế nào cho phù hợp với từng đối tượng học sinh nếu bài tập quá khó hoặc quá dễ sẽ trở nên phản tác dụng của bài tập, làm cho học sinh mất hứng thú học tập, để tránh tình trạng này chúng ta nên sử dụng bài tập phân hóa vào trong quá trình giảng dạy nhằm phát huy tốt vai trò của bài tập đồng thời kích thích hứng thú học tập của học sinh
Khi dạy phần “Sắt và hợp chất của sắt”, đối với học sinh học lực còn yếu
thì bài tập phân hóa có khả năng lấp các lỗ hổng về kiến thức, hình thành kỹ năng
kỹ xảo, kích thích hứng thú học tập
Bài 1 : (Bài 1 – SGK trang 198)
Hãy cho biết:
a) Vị trí của sắt trong bảng tuần hoàn;
b) Cấu hình electron nguyên tử và của các ion sắt;
c) Tính chất hoá học cơ bản của sắt (dẫn ra các phản ứng minh hoạ, viết phương trình hoá học)
Để hoàn thành bài tập này học sinh chỉ cần vận dụng kiến thức ở mức độ tái hiện, đều đã có trong SGK Mục đích của bài nhấn mạnh lại để HS nhớ kiến thức.
Trang 40Bài 2 : Chọn câu trả lời đúng trong số những câu sau:
A Kí hiệu nguyên tử của sắt là: 2656Fe
B Cấu hình electron của nguyên tử Fe là [Ar]4s23d6
C Sắt là nguyên tố kim loại chuyển tiếp thuộc ô 26, chu kì 4, nhóm VIIIB
D Nguyên tử Fe có 6e lớp ngoài cùng
Từ kết quả bài làm của HS mà GV có thể phát hiện các lỗ hổng kiến thức cần bù đắp hoặc những sai lầm cần chỉnh sửa Nếu HS chọn đáp án A: chưa biết viết kí hiệu nguyên tử của Fe, chưa nắm được số khối cũng như số hiệu nguyên tử.
Nếu chọn đáp án B: HS chưa biết viết cấu hình electron.
Nếu chọn D: HS còn chưa xác định được số electron lớp ngoài cùng Đồng thời các
em cũng chưa nắm được vị trí của Fe trong bảng tuần hoàn
Bài 3: Hoàn thành các phản ứng sau và xác định các chữ cái A, B, là các chất gì
Chất Fe3O4 HCl FeCl3 Cl2 Fe2(SO4)3 H2SO4 đặc HNO3 Fe(NO3)3
Trong bài tập này mục tiêu là khắc sâu tính chất hoá học của Fe và vận dụng cụ thể khi viết và cân bằng các phản ứng.