1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THCS ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

169 352 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

II. Mục đích nghiên cứu Đề tài nhằm tìm hiểu lí luận và thực trạng giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THCS ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.Trên cơ sở đó xây dựng một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THCS. III. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 1. Khách thể nghiên cứu: Qúa trình giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THCS 2. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THCS ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. IV. Nhiệm vụ nghiên cứu 1. Hệ thống hóa những tư tưởng cơ bản về giá trị đạo đức truyền thống 2. Khảo sát thực trạng về việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THCS ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An 3. Đề xuất một số biện pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THCS ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. V. Gỉa thuyết khoa học Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống đạo đức lâu đời. Gía trị đạo đức truyền thống là thước đo nhân cách con người, tạo nên bản lĩnh, bản sắc con người Việt Nam trong sự hội nhập và phát triển bền vững.Trong giai đoạn hiện nay đã có nhiều giá trị đạo đức bị đảo lộn, một số học sinh không tiếp nối được những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp để rèn luyện nhân cách người công dân chân chính, sống chệch hướng, có những thái độ, hành động rất đáng chê trách. Nếu nhà trường, gia đình và xã hội có những biện pháp giáo dục phù hợp, tích cực tác động đến học sinh thì chắc chắn sẽ góp phần định hướng cho các em có nhận thức sâu sắc về giá trị đạo đức truyền thống, góp phần tích cực vào quá trình hình thành và phát triển nhân cách người công dân Việt Nam chân chính trong thời đại mới.

Trang 1

MỞ ĐẦU I.Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, không ai có thể phủ nhận được tầm quan trọng đặc biệt củatruyền thống Truyền thống gia đình – quê hương - đất nước là điểm tựa tinh thầngiúp con người đứng vững trước những thử thách cuộc đời Là sự kết tinh tinhhoa nhiều đời, những giá trị truyền thống hợp thành nguồn nội lực tiềm tàng củadân tộc Nếu được khơi dậy, những giá trị truyền thống đó có thể tạo thành sứcmạnh tổng hợp to lớn làm động lực cho sự phát triển

Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, người Việt Nam đã tạo

ra cho mình nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp Người Việt Nam đặc biệt coi trọngcác giá trị đạo đức Đạo đức là yếu tố quan trọng góp phần làm nên giá trị conngười, nhân cách người, là cơ sở của sự hội nhập, phát triển bền vững Bởi vậy,trong Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta khẳng định:

“Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế, phải đặc biệt quan tâm gìn giữ và nâng cao bản sắc văn hoá dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc”.Tại Hội nghị Trung ương bảy - khóa X, Đảng ta cũng khẳng định: “Từ nay đến năm 2020, tiếp tục xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam giàu lòng yêu nước, tự cường dân tộc; kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có đạo đức cách mạng, ý thức chấp hành pháp luật, sống có văn hóa, vì cộng đồng; có năng lực và bản lĩnh trong hội nhập quốc tế; có sức khỏe, tri thức, kỹ năng và tác phong lao động tập thể, là những công dân tốt của đất nước”.

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, nền kinh tế tri thức, giao lưu quốc

tế mở rộng và xu hướng toàn cầu hoá hiện nay,truyền thống càng có vai trò quantrọng.Tuy nhiên, mặt trái của nền kinh tế thị trường đã tác động tiêu cực đến cácvấn đề như: đạo đức, luân lí, hệ thống niềm tin, lý tưởng, thế giới quan, nhân sinhquan…Đặc biệt là lối sống của thế hệ trẻ hiện nay: sống vì bản thân mình, chạytheo cuộc sống hưởng thụ vật chất, coi sự hưởng thụ vật chất là mục đích củacuộc sống, coi thường nhân phẩm đạo đức Vì thế, một số giá trị đạo đức truyềnthống có biểu hiện giảm sút như: lòng hiếu thảo, tôn sư trọng đạo, tinh thần đoàn

Trang 2

kết…Sự ảnh hưởng này đã tạo nên những hiện tượng như: sự ngược đãi, bất hiếuvới cha mẹ, ông bà, sự bất kính đối với người lớn tuổi, sự mâu thuẫn và hận thùcủa anh em, họ hàng…

Tuổi trẻ là nguồn lực của quốc gia, là mùa xuân, tương lai của đất nước Ởmọi giai đoạn phát triển của đất nước ta, thế hệ thanh niên Việt Nam luôn là mộtlực lượng vô cùng quan trọng góp phần quyết định công cuộc bảo vệ và xây dựng

Tổ quốc Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thế hệ trẻ là lực lượng quyết định sựthành công của sự nghiệp đổi mới, vươn tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, dân chủ, văn minh

Trong bối cảnh của thời đại và đất nước, đa số học sinh, sinh viên, thanhniên…đã xác định cho mình con đường và hướng đi đúng đắn, không ngừng tiếpthu, trau dồi kiến thức khoa học kĩ thuật, xây dựng cho mình lý tưởng sống caođẹp, trong sáng, tự tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất đạo đức, nỗ lực vượt mọikhó khăn vươn lên trong cuộc sống Bên cạnh đó, vẫn còn rất nhiều bạn trẻ sốngthụ động, ỷ lại, bàng quang về chính trị, không chịu tu dưỡng rèn luyện thườngxuyên, thậm chí có những biểu hiện suy thoái về mặt đạo đức lối sống, đi ngượclại với những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc

Trước thực trạng này, vấn đề giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ nói chung, họcsinh THCS nói riêng một cách toàn diện, đặc biệt là giáo dục đạo đức trở nên vôcùng cấp thiết Đối với học sinh THCS – lứa tuổi đang có sự chuyển biến mộtcách mạnh mẽ và sâu sắc cả về thể chất và tâm lý, lứa tuổi chuyển tiếp từ trẻ conlên người lớn thì việc trang bị cho các em tri thức, kỹ năng và thái độ về các giátrị đạo đức truyền thống là cực kỳ quan trọng Việc giáo dục giáo dục giá trị đạođức truyền thống giúp học sinh có một nền tảng văn hóa vững vàng, có nhận thứcđúng đắn về các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, biết giữ gìn, biết vậndụng phù hợp với cuộc sống hiện đại mà vẫn đảm bảo ý nghĩa trường tồn củanhững giá trị truyền thống đó là trọng trách của toàn Đảng, toàn dân Hơn thế,giáo dục giá trị đạo đức truyền thống sẽ giúp học sinh có những tiêu chí đánh giáthực tiễn đạo đức trong xã hội, phê phán những biểu hiện tiêu cực, xa rời giá trị

Trang 3

truyền thống, góp phần phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc phù hợp vớibối cảnh của thời đại mới Việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho họcsinh THCS sẽ tạo ra trong các em ý thức tự hoàn thiện bản thân, vững vàng trướcmọi thử thách, không ngừng phấn đấu vươn lên trong học tập, tích lũy kiến thức,phương pháp làm việc, đủ bản lĩnh, trách nhiệm để đóng góp sức mình vào sựnghiệp đổi mới, phát triển tổ quốc ngày càng vững mạnh.

Hiện nay thì việc gìn giữ và giáo dục các giá trị truyền thống cho học sinhđang diễn ra trong bối cảnh thiếu sự thống nhất chung về lý luận, phương phápluận và một cơ chế vận hành có thể phối hợp sức mạnh chung của toàn xã hội.Nền giáo dục Việt Nam có mục tiêu là xây dựng con người phát triển toàn diện,nhưng việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống trong một xã hội đang có sự vậnđộng với những thay đổi lớn lại chưa được quan tâm nhiều

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “

Biện pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THCS ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An”

II Mục đích nghiên cứu

Đề tài nhằm tìm hiểu lí luận và thực trạng giáo dục giá trị đạo đức truyềnthống cho học sinh THCS ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.Trên cơ sở đó xâydựng một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục giá trị đạođức truyền thống cho học sinh THCS

III Khách thể và đối tượng nghiên cứu

1 Khách thể nghiên cứu:

Qúa trình giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THCS

2 Đối tượng nghiên cứu:

Biện pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THCS ởhuyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

IV Nhiệm vụ nghiên cứu

1 Hệ thống hóa những tư tưởng cơ bản về giá trị đạo đức truyền thống

2 Khảo sát thực trạng về việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống chohọc sinh THCS ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

Trang 4

3 Đề xuất một số biện pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống chohọc sinh THCS ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

V Gỉa thuyết khoa học

Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống đạo đức lâu đời Gía trị đạo đứctruyền thống là thước đo nhân cách con người, tạo nên bản lĩnh, bản sắc con ngườiViệt Nam trong sự hội nhập và phát triển bền vững.Trong giai đoạn hiện nay đã cónhiều giá trị đạo đức bị đảo lộn, một số học sinh không tiếp nối được những giá trịđạo đức truyền thống tốt đẹp để rèn luyện nhân cách người công dân chân chính,sống chệch hướng, có những thái độ, hành động rất đáng chê trách

Nếu nhà trường, gia đình và xã hội có những biện pháp giáo dục phù hợp,tích cực tác động đến học sinh thì chắc chắn sẽ góp phần định hướng cho các em

có nhận thức sâu sắc về giá trị đạo đức truyền thống, góp phần tích cực vào quátrình hình thành và phát triển nhân cách người công dân Việt Nam chân chínhtrong thời đại mới

VI Phạm vi nghiên cứu

- Địa bàn nghiên cứu: Việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho họcsinh THCS ở địa bàn huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

- Khảo sát học sinh, giáo viên, phụ huynh, cán bộ quản lý giáo dục, cán bộquản lý hành chính…

VII Phương pháp nghiên cứu

1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu có liên quanđến đề tài nghiên cứu nhằm xác lập cơ sở lí luận của đề tài

2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

2.1 Phương pháp điều tra bằng anket: Đây là phương pháp chính được sửdụng nhằm khảo sát thực trạng giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinhTHCS ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

2.2 Phương pháp chuyên gia: Sử dụng phương pháp này giúp cho việcnắm bắt các quan điểm đánh giá về vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền thống

để bổ sung cho đề tài nghiên cứu

Trang 5

2.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Phương pháp nghiên cứu nàygiúp chúng tôi thu thập những thông tin liên quan đến vấn đề giáo dục giá trị đạođức truyền thống thông qua các bài viết và tài liệu báo cáo để phục vụ cho nhiệm

vụ nghiên cứu lý luận và thực trạng của đề tài

2.4 Phương pháp quan sát: Sử dụng phương pháp nghiên cứu này giúpnhà nghiên cứu nắm bắt những chuyển biến về nhận thức, thái độ, hành vi của cánhân, tập thể đối với một số nội dung giáo dục giá trị đạo đức truyền thống chohọc sinh

2.5 Phương pháp trực tiếp trò chuyện, phỏng vấn: Phương pháp này hỗ trợcho phương pháp điều tra viết nhằm tìm hiểu thêm thông tin từ phía khách thể điềutra Những thông tin thu được từ phương pháp trò chuyện góp phần làm rõ thêmquan điểm của người được điều tra và giúp vấn đề nghiên cứu được sâu hơn

Trang 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BIỆN PHÁP GIÁO DỤC GIÁ TRỊ

ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO HỌC SINH THCS

1.1 Một vài nét lược sử nghiên cứu vấn đề

Trong bất cứ xã hội nào, thời đại nào cũng đều tồn tại các mối quan hệgiữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng, xã hội Việc giải quyếtcác vấn đề nảy sinh trong các mối quan hệ đó đòi hỏi phải có quá trình giáo dụcđạo đức, giáo dục giá trị

Ở phương Đông, các quan điểm đạo đức hình thành cách đây trên 26 thế

kỉ, dựa trên căn bản các học thuyết của Khổng Tử, Lão Tử (Trung Quốc) và tưtưởng Phật giáo (Ấn Độ) Quan điểm đạo đức trình bày khá rõ trong Tứ thư , đólà: Luận Ngữ, Mạnh Tử, Trung Dung, Đại học và Ngũ Kinh: Kinh Thi, KinhThư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu đã được Khổng Tử (551- 479 tr.CN)

và môn đệ của ông san định và giải trình tạo nên học thuyết Nho giáo đã ảnhhưởng đến nền văn hóa Việt Nam suốt hàng nghìn năm dưới chế độ phong kiến.Khổng Tử cho răng: Sống đúng luân thường là có đức, đức là gốc của con người,còn hiếu đễ là gốc của đức Đức không chỉ là thiện đức mà chủ yếu là hành động

đi đôi với việc làm: “Đức và tài phải đi đôi với nhau nhưng đức phải là gốc”[Luận ngữ, 5 – T13] Đạo đức chính là nội dung quan trọng của Nho giáo Việt Nam, biểu hiện qua “đức trị” – lấy đức để trị nước “Đạo đức Nho giáo cô đọng ở hai chữ luân, thường”[29-T16] “Luân” có nghĩa là mối quan hệ giữa con

người với con người “Ngũ luân” gồm năm quan hệ là quần thần, phụ tử, phuphụ, huynh đệ, bằng hữu Biểu hiện tiêu biểu nhất đó là các đức tính trung, hiếu,tiết, nghĩa Ba mối quan hệ quan trọng bao gồm quân- thần, phu – tử, phu – phụđược gọi là tam cương Còn “thường” là cái phổ biến, cái chung, cái diễn biếnthông thường hàng ngày phải noi theo.” Ngũ thường” gồm năm đức tính: nhân,lễ,nghĩa, trí, tín Đó là năm đức tính tiêu biểu nhất của một người quân tử, một mẫungười tiêu biểu trong xã hội phong kiến

Ở phương Tây, trước công nguyên có nhiều nhà triết học quan tâm đếnvấn đề đạo đức Nhà triết học Xôcrat (470-399) hướng triết học vào việc giáo dục

Trang 7

con người sống có đạo đức Ông cho rằng nguyên nhân sâu xa của hành vi có haykhông có đạo đức là do nhận thức Còn Aristos thì xem đạo đức và chính trị làtriết học về con người Theo ông, đạo đức là cái thiện của cá nhân còn chính trị làcái thiện của xã hội Sau này giáo dục phương Tây thời cận đại với sự xuất hiệncủa nhà giáo dục vĩ đại J.A.Cômenxky (1592-1670) đã cho rằng việc giáo dục trẻ

em cần chia ra từng giai đoạn để tiến hành, ông đã đặt nền móng đầu tiên choviệc dạy học lớp – bài J.A.Comenxky có nhiều quan điểm tiến bộ trong việc giáo

dục đạo đức lối sống cho trẻ em Ông cho rằng: “Qúa trình giáo dưỡng và giáo dục cần phải thực hiện từ sớm, trước khi tinh thần người ta hư hỏng đi”, trong

giáo dục đạo đức cho trẻ, điều quan trọng hơn cả đó là người thầy phải gương

mẫu và là người có đạo đức: “Nếu anh không thể làm như một người cha thì anh không thể làm như một người thầy” bởi “trẻ em học bắt chước trước khi chúng học biết” [Phạm Khắc Chương, J.A.Cômenxki – Ông tổ của nền sư phạm cận đại,

Nhà xuất bản Giáo dục 1997 – Hà Nội] Ngoài ra phải kể đến một số nhà giáodục khác nữa đã có nhiều tư tưởng tiến bộ về giáo dục đạo đức, lối sống cho trẻ

em như K.Đ.Usinxky, V.I.Lenin, A.X.Macarenko…

Việt Nam vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc của các học thuyết về đạo đức củatam giáo (Khổng giáo, Phật giáo, Lão giáo) và chọn lọc cái tinh túy nhất, cốt lõi

nhất để noi theo Đạo đức chính là cái luôn được đề cao “người trồng cây hạnh người chơi, ta trồng cây đức để đời mai sau” Hay ông cha ta còn quan niệm, rèn luyện đức độ còn có lợi cho con cháu sau này: “Cây xanh thì lá cũng xanh Cha

mẹ hiền lành để đức cho con” đồng thời khuyên nhủ, dạy bảo con cháu về đức hiếu kính: “Hiếu tự giả bách hạnh chi tiên” nghĩa là hiếu là nết đứng đầu trăm nết Hoặc khuyên dạy: “Đạo làm con chớ hững hờ, phải đem hiếu kính mà thờ

mẹ cha” hay “tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha, kính , mẹ mới là chân tu” Vì

vậy, trong nền giáo dục tồn tại hàng ngàn năm dưới chế độ phong kiến, danhnhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi đã nhấn mạnh:

“ Khai tâm từ thuở thiếu niên Hiếu kinh một mạch đọc liền cho thông Sau rồi đến Trung dung, Đại học

Tứ thư rồi lại học Ngũ Kinh”

Trang 8

Đạo đức truyền thống đang là một vấn đề hết sức được chú trọng trong xã

hội hiện nay Đất nước ta đang thực hiện chính sách “là bạn với tất cả các nước”,

chúng ta đang mở rộng, đón nhận nền văn hóa, lối sống, quan niệm của các nướckhác nhau trên thế giới Thế nên có nhiều giá trị đạo đức truyền thống bị lãngquên, thay vào đấy là lối sống mới Vì vậy, vấn đề này được nhiều tác giả quantâm nghiên cứu với những công trình như:

1 Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Phúc (đồng chủ biên): “Những vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta”

2 Hà Nhật Thăng: “Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhân văn”

3 Phạm Khắc Chương: “Đạo hiếu – nhân cách của con người Việt Nam”

4 Tác giả Đinh Thế Định “ Giáo dục giá trị truyền thống cho sinh viên”,

[Tạp chí giáo dục, số 1, 2005]

5 Công trình “Gía trị - Định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị”

thuộc đề tài khoa học cấp nhà nước mã số KX-07-04, 1995 do GS.NguyễnQuang Uẩn làm chủ nhiệm

6 Công trình “Con người Việt Nam – Mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội” thuộc đề tài KX- 07 do GS.TSKH Phạm Minh Hạc chủ nhiệm.

7 Công trình “Ảnh hưởng của kinh tế thị trường đối với việc hình thành

và phát triển nhân cách con người Việt Nam” thuộc đề tài KX-07-10 của Viện

khoa học giáo dục do PGS.TSKH Thái Duy Tuyên làm chủ nhiệm

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Gía trị

Lí luận về giá trị đã có từ xa xưa nhưng lại gắn liền với sự ra đời, pháttriển của triết học Chỉ đến cuối thế kỷ XIX, giá trị học mới tách thành một lĩnhvực khoa học độc lập và từ đây thuật ngữ giá trị mới được sử dụng với tư cách làmột khái niệm khoa học.Các ngành khoa học khác nhau tiếp cận khái niệm giá trịdưới các góc độ khác nhau:

Trong Triết học, có thể kể đến các quan điểm sau về giá trị:

Trang 9

- Chủ nghĩa duy tâm khách quan coi giá trị là sự tồn tại của những bảnchất tiên nghiệm, những chuẩn mực, lý tưởng bên ngoài thế giới khách quan màkhông phụ thuộc vào nhu cầu, ý muốn của con người.

- Các nhà duy tâm chủ quan coi giá trị là hiện tượng của ý thức, là biểuhiện của thái độ chủ quan của con người đối với sự vật hiện tượng, mức độ giá trịcủa sự vật đến đâu là do ý muốn chủ quan của người đang xem xét nó

- Chủ nghĩa Mác- Lênin đã đưa quan điểm đúng đắn về giá trị Theo đó,giá trị là những hiện tượng xã hội đặc thù, mọi giá trị đều có nguồn gốc từ quátrình lao động sáng tạo của quần chúng trong thực tiễn.Gía trị được xác địnhkhông phải ở các thuộc tính của sự vật mà ở sự cuốn hút của các thuộc tính ấyvào các lĩnh vực hoạt động khác nhau của con người, vào hứng thú và nhu cầucủa con người Gía trị xuất hiện khi sự vật tham gia vào các hoạt động của conngười và biểu hiện cường độ của nó trong việc gây ra những thái độ nhất định ởchủ thể hoạt động Thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan của giá trị, đồng thời là cơ

sở để xác định bản chất của giá trị

Trong Xã hội học, thuật ngữ giá trị được nghiên cứu dưới góc độ của sựhình thành hệ thống những giá trị cá nhân, cộng đồng, xã hội trong những điềukiện nhất định Quan niệm về giá trị được phát biểu như sau:

- “Gía trị là tất cả cái gì có lợi, đáng ham chuộng, đáng kính phục đối với

cá nhân hoặc xã hội đều có một giá trị” (quan điểm của nhà xã hội học

J.H.Fither)

- “Gía trị là cái làm người ta chú ý đến việc phải phân biệt những vấn đề sống còn với những vấn đề ít quan trọng ơn trên bình diện những sự vật và sự kiện, những khả năng và thực tế cuộc sống” (Hajnaik- Albert)

- Gía trị là một thành tố khách quan của xã hội Nó là một loại hiện tượng

xã hội đặc biệt (một vật, đối tượng, một liên hệ, một ý niệm khách quan hóa thỏa

mãn được những nhu cầu nhất định của con người) “Gía trị là một phẩm chất khách quan, một đặc tính, một khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã trở thành

rõ rệt trong quá trình quan hệ qua lại có tính chất xã hội giữa người với người trong hành vi thực tế của họ Với tính cách là một khách thể xã hội, giá trị

Trang 10

không tách khỏi những nhu cầu, những mong muốn, những thái độ , những quan điểm và những hành động của con người với tính cách là chủ thể của các quan

hệ xã hội” [I.Dramaliev – Hà Nhật Thăng, Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức

nhân văn, NXB GD,1998]

Đạo đức học nghiên cứu khái niệm giá trị trong một khuôn khổ hẹp hơn,

đó là đời sống đạo đức của con người trong các mối quan hệ xã hội Theo quanđiểm của các nhà Đạo đức học, phạm trù “đạo đức” chính là giá trị và giá trị nàocũng được hình thành trong các quan hệ đạo đức

Các nhà Tâm lý học nghiên cứu về giá trị cho rằng, những gì có ý nghĩađược con người nhận thức, đánh giá và lựa chọn thì trở thành giá trị đối với bảnthân họ và trở thành động cơ cho họ hoạt động để chiếm lĩnh những giá trị đó.Trong Tâm lý học xã hội, khái niệm giá trị tương ứng với khái niệm tâm thế, thái

độ dùng để chỉ cơ sở định hướng trong hành vi và hoạt động của con người “Gía trị là quan niệm trừu tượng, có thể là tích cực hoặc tiêu cực, không gắn liền với một đối tượng, hoàn cảnh cụ thể bên ngoài, biểu thị sự tin tưởng của con người

về các phương thức ứng xử lý tưởng và mục đích dự kiến”[20].

Như vậy, có rất nhiều quan điểm khác nhau về giá trị tùy theo cách tiếpcận và mục đích nghiên cứu của các tác giả Qua nghiên cứu các quan điểm đó ta

có thể thấy một số đặc điểm cơ bản về giá trị như sau:

- Bất cứ sự vật nào cũng có thể xem là có giá trị, dù đó là vật thể hay tưtưởng, miễn là sự vật đó được con người thừa nhận, cần đến nó như một nhu cầuhoặc cấp cho nó một vị trí quan trọng trong đời sống của họ

- Cần phân biệt cái gọi là bản chất và quy luật của bản thân sự vật, hiệntượng với cái gọi là giá trị của sự vật, hiện tượng Bản chất và quy luật của sựvật, hiện tượng tồn tại , không tồn tại vào xu hướng nói chung và nhu cầu nóiriêng của con người Còn giá trị chỉ có thể tồn tại trong mối liên lệ với nhu cầucủa con người Tùy theo việc con người có hay không có nhu cầu nào đó mà một

sự vật hiện tượng đối với con người là có hay không có giá trị

- Gía trị luôn mang tính khách quan – sự xuất hiện, tồn tại, mất đi của giátrị nào đó không phụ thuộc vào ý thức con người là chủ thể trong mối quan hệ

Trang 11

với sự vật, hiện tượng mà nó phụ thuộc vào sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi mộtnhu cầu nào đó của con người, không phải do ý thức mà do yêu cầu của hoạtđộng, của thực tiễn trong đó con người sống và hoạt động.

- Trong mọi giá trị đều chứa đựng yếu tố nhận thức, tình cảm và yếu tốhành vi của chủ thể trong mối quan hệ với sự vật hiện tượng mang giá trị, thểhiện sự lựa chọn và đánh giá của chủ thể

Tóm lại, dưới góc độ giáo dục học có thể hiểu giá trị là phẩm chất tốt hayxấu, tác dụng lớn hay nhỏ của sự vật hay con người là cái làm cho vật được thừanhận là có ích, đáng quý, là tính ý nghĩa tích cực hay tiêu cực của khách thể đốivới con người, giai cấp, nhóm xã hội nói chung, là các thuộc tính của vật chất vàtinh thần có ý nghĩa đối với cuộc sống của con người Nói ngắn gọn,giá trị là chỉ

độ lớn hay nhỏ, nhiều hay ít cái hữu ích của một sự vật hay hiện tượng đối vớicuộc sống con người

1.2.2 Đạo đức

Đạo đức là một vấn đề dành được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Cáctác giả đề cập tới đạo đức ở những khía cạnh, những phạm vi nội dung khác nhau:

- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì: đạo đức là một hình thái

ý thức xã hội, có nguồn gốc từ lao động và đời sống cộng đồng xã hội Từ đó cóthể thấy rằng, đạo đức là hình thái ý thức xã hội, phản ảnh, chịu sự chi phối củatồn tại xã hội Vì vậy tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức cũng thay đổi theo Mỗiphương thức sản xuất xã hội làm nảy sinh một dạng đạo đức tương ứng và do đóđạo đức chỉ mang tính độc lập tương đối, đồng thời nó mang tính lịch sử, tínhgiai cấp và tính dân tộc

- Theo Từ điển tiếng Việt thì:“Đạo đức là những tiêu chuẩn, những nguyên tắc quy định hành vi của con người đối với nhau và đối với xã hội Đạo đức là những phẩm chất tốt đẹp của con người theo những chuẩn mực đạo đức của một giai cấp nhất định”.

- Theo tác giả Phạm Minh Hạc thì: đạo đức có nghĩa hẹp là luân lý, nhữngquy định và chuẩn mực ứng xử trong quan hệ con người Nhưng trong điều kiệnhiện nay, những mối quan hệ của con người đã được mở rộng hơn và đạo đức

Trang 12

bao gồm những quy định, những chuẩn mực ứng xử của con người với conngười, với công việc và với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống.

- Theo tác giả Phạm Khắc Chương thì: Đạo đức là một hiện tượng xã hội,

là hình thái ý thức đặc biệt phản ánh các mối quan hệ hiện thực bắt nguồn từ bảnthân cuộc sống con người, của xã hội loài người

Có thể liệt kê ra rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về đạo đức Nhưngtựu trung lại dù theo cách định nghĩa nào thì đạo đức cũng được xem là một hiệntượng xã hội, thực hiện các chức năng cơ bản:

+ Chức năng định hướng: Đạo đức đòi hỏi con người phải xác định cáchành vi phù hợp với quan điểm đạo đức tiến bộ của xã hội Mặt khác thông quaquá trình giáo dục và tự giáo dục mà con người định hướng được hành vi, việclàm của mình trong các mối quan hệ ứng xử, đồng thời học tập các tấm gươngđạo đức cao cả

+ Chức năng điều chỉnh hành vi: Trong mỗi xã hội đều tồn tại hệ thốngquy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh lợi ích giữa các nhóm người, giữa các cánhân Vì vậy, chức năng điều chỉnh hành vi có mối quan hệ với chức năng quản

lý xã hội Đó là cơ sở giúp con người có căn cứ để điều chỉnh hành vi trong việcgiải quyết các mâu thuẫn

+ Chức năng kiểm tra đánh giá: Ứng với mỗi điều kiện kinh tế xã hội, conngười cần có những tri thức đạo đức nhất định Đó là cơ sở để con người phânbiệt, đánh giá các hành vi thiện, ác, tốt, xấu, đúng, sai Đồng thời cũng giúp tađịnh hướng, kiểm tra, đánh giá chính xác hành vi, hành động của mình

Đạo đức còn được xem là một hình thái ý thức xã hội có quan hệ chặt chẽvới các hình thái ý thức xã hội khác: chính trị, pháp luật, khoa học, tôn giáo Đạođức thể hiện ở các quan niệm về thiện và ác; hạnh phúc; nghĩa vụ; lương tâm;danh dự; lẽ công bằng…Những phạm trù này xoay quanh một cái gốc triết học

cơ bản và biểu thị cụ thể thành một hệ thống chuẩn mực đạo đức Hệ thống quanniệm về đạo đức thay đổi tùy theo chế độ chính trị xã hội Tuy nhiên, giữa cáchình thái kinh tế xã hội, chế độ chính trị - xã hội khác nhau thì vẫn có ít nhiềuquan niệm về đạo đức giống nhau, hoặc là về ngôn từ hoặc là cả về nội dung chủ

Trang 13

yếu Về cơ bản “xã hội nào thì đạo đức ấy” Trong đạo đức của các chế độ chính

trị - xã hội khác nhau thì vẫn có một số vấn đề được gọi là “tính nhân loại phổbiến của đạo đức” Ví dụ: Lòng nhân ái; lương tâm; lòng tự trọng; khiêm tốn;

lễ độ…Hệ thống các quan niệm, chuẩn mực đạo đức được biểu hiện, tồn tạidưới hình thức những hành vi đạo đức sống động của những nhân cách cụ thểvận hành ý thức ấy và dưới hình thức tồn đọng trong nền văn hóa – xã hội, đặcbiệt là trong lối sống, phong tục, tập quán, nền lý luận, ca dao, tục ngữ, cáchđối nhân, xử thế…

Đạo đức của mỗi con người được thể hiện thông qua hành vi đạo đức.Hành vi đạo đức là một hành động tự giác được thúc đẩy bởi một động cơ có ýnghĩa về mặt đạo đức Hành vi đạo đức chịu sự quy định bởi các yếu tố tâm lý:Chủ thể của hành vi đạo đức (toàn bộ nhân cách cụ thể và giáo dục đạo đức phải

tổ chức cho người được giáo dục tham gia vào các hành vi đạo đức và giáo dụctoàn bộ nhân cách con người); tính sẵn sàng hành động có đạo đức; niềm tin đạođức; xu hướng đạo đức; phẩm chất ý chí và phương thức hành vi Hành vi đạođức có quan hệ chặt chẽ với nhu cầu đạo đức Nhu cầu đạo đức quy định sự bộc

lộ hành vi đạo đức, nhưng hành vi đạo đức cũng có tác động trở lại nhu cầu đạođức làm cho nó biến đổi Nhu cầu đạo đức là một bộ phận trong hệ thống nhu cầu

cá nhân Trong một điều kiện nhất định, nhu cầu đạo đức sẽ được nổi bật lên vàdần xác định được đối tượng để thỏa mãn nhu cầu đó Khi đối tượng được xácđịnh tức là động cơ đạo đức được hình thành Động cơ đạo đức chính là yếu tốthúc đẩy chủ thể tiến hành hành vi đạo đức Trong quá trình đó, nhân cách củacon người sẽ được bộc lộ và hình thành

Ở mọi khía cạnh của xã hội đạo đức luôn luôn là kim chỉ nam để điều

khiển con người làm việc đúng đắn, lương thiện Nho giáo đã nói: “Đạo đức là cái gốc của nhân cách” Gốc có vững thì cây mới đứng thẳng được Cũng như

trời đất có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông; Đất có bốn phương: Đông, Tây,Nam, Bắc; Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính Thiếu đi một mùa khôngthể thành trời, thiếu đi một hướng không thể thành đất, thiếu đi một đức khôngthể thành người

Trang 14

Ông cha ta quan niệm nhân cách con người bao gồm tài và đức Trong đó

“đức” luôn được coi trọng hơn “tài” và được coi là cái gốc của giá trị khác Thi

hào Nguyễn Du đã nói: “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” hay ông cha ta luôn

dạy con cháu cũng như chính bản thân họ phải luôn “tu nhân tích đức”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “có tài mà không có đức là người vô dụng”

và Bác cũng là người hết sức chú trọng đến đạo đức và nâng đạo đức lên tầm caomới, phù hợp hơn với đời sống thực tại Bác cũng nhấn mạnh phải tạo ra nhữngcon người vừa “hồng” vừa “chuyên” Và Bác đã nhận ra rằng những giá trị đạođức mà Nho giáo đưa ra: nhân, nghĩa, trí, tín, dũng không phải là đạo đức thủ cựu

mà là đạo đức vĩ đại Nó là kim chỉ nam cho con người hành động đúng Trong

thời kỳ kháng chiến cứu nước và cho đến tận bây giờ khi đã hòa bình thì “trung với nước, hiếu với dân, yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công

vô tư và có tinh thần quốc tế chân chính, trong sáng” mà Bác Hồ nói vẫn đúng.

1.2.3 Truyền thống

Nói đến truyền thống, người ta thường coi đó là những gì được hình thànhtrong quá khứ và được truyền lại đến hôm nay Theo nghĩa Hán – Việt, “truyền”

là chuyền giao, “thống” là nối tiếp.Theo gốc Latinh thì Lattadition(truyền thống)

có nghĩa là lưu truyền, lưu chuyển, mang lại, trao lại, chuyển giao

Theo Từ điển triết học của Nga: Truyền thống là những phong tục, nghi

lễ, chế định xã hội, tư tưởng và giá trị, tiêu chuẩn hành vi….được hình thànhtrong lịch sử và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, đó là những nhân tốđược bảo tồn trong xã hội hoặc trong các nhóm xã hội riêng biệt trong một thờigian lịch sử lâu dài

Trong Bách Khoa thư của Pháp, truyền thống được định nghĩa là:

“Truyền thống theo nghĩa tổng quát là tất cả những gì người ta biết và thực hành bằng sự chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, thường là truyền miệng, hay bằng sự bảo tồn và noi theo những tập quán, những cách ứng xử, những mẫu hình thành và tấm gương”.

Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa truyền thống là

“Thói quen hình thành đã lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ và được truyền lại

từ thế hệ này sang thế hệ khác”.

Trang 15

Theo tác giả Đặng Cảnh Khanh, truyền thống trong khái niệm này đãchứa đựng ý nghĩa của sự ổn định, cái trở thành truyền thống là cái đã vượt qua ítnhiều thử thách của thời gian, những biến động của lịch sử và trở nên bền vững.

Phan Huy Lê – Vũ Minh Giang trong cuốn “Các GTTT và con người Việt Nam hiện nay” cho rằng: “Truyền thống là tập hợp những tư tưởng và tình cảm, những thói quen trong tư duy, lối sống và ứng xử của một cộng đồng người nhất định, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác”, đồng thời nhấn mạnh truyền thống có ba đặc trưng là cộng đồng, ổn định và lưu truyền.

Phạm Minh Hạc trong cuốn “Vấn đề con người trong sự nghiệp CNH, HĐH” – phản ánh tổng hợp kết quả nghiên cứu của Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước “Con người Việt Nam – mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” [KX.07], cho rằng: “Truyền thống là tập hợp những tư tưởng và tình cảm, những tập quán, thói quen trong tư duy, lối sống và ứng xử của một cộng đồng người nhất định, được hình thành trong lịch sử và trở nên ổn định, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” Các tác giả cũng nhấn

mạnh tính di tồn, tính ổn định, tính cộng đồng là những đặc trưng, những thuộctính của truyền thống

Như vậy có nhiều cách định nghĩa khác nhau về truyền thống, tựu trunglại thì khái niệm truyền thống bao hàm những thành tố cơ bản sau:

(1) Là tập hợp những tư tưởng và tình cảm, những tập quán, thói quen củamột cộng đồng

(2) Được hình thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định

(3) Được truyền từ đời này sang đời khác

(4) Được biểu hiện trong tâm lý, lối sống của cộng đồng (với ý nghĩa lốisống là toàn bộ hoạt động sống của con người)

Truyền thống có những đặc trưng sau:

- Truyền thống có tác dụng củng cố, phát triển quan hệ xã hội, là nguồnsức mạnh cho con người vượt qua những khó khăn trở ngại trong cuộc sống hiệntại để hoàn thiện nhân cách và phát triển xã hội

Trang 16

- Truyền thống đa phần là những giá trị tốt đẹp cần gìn giữ, phát triển vàđược mọi người thực hiện như yêu cầu tất yếu không cần có sự giám sát của cơquan pháp luật Hành vi của mỗi người được điều chỉnh bằng dư luận của cộngđồng xã hội và lương tâm của chính họ - được xem như cơ chế bên trong điềukhiển hành vi của con người (còn pháp luật là cơ chế bên ngoài) Sức mạnh củatruyền thống chính là khả năng tự điều chỉnh của mỗi cá nhân sao cho phù hợpvới đòi hỏi của cộng đồng xã hội.

Truyền thống cần được xem xét theo quan điểm lịch sử Truyền thốngkhông phải là nhất thành bất biến Trong di sản truyền thống có những giá trịtrường tồn, có cái mới nảy sinh và cái cũ lỗi thời cần loại bỏ Di sản truyền thốngthường bao gồm mặt tích cực – có giá trị và mặt tiêu cực – phản giá trị Trongthực tế, những mặt tích cực và tiêu cực này đan xen vào nhau và có thể được hiểukhác nhau tùy theo quan niệm của từng cá nhân, từng nhóm người, từng cộngđồng Bởi vậy, khi nghiên cứu một truyền thống nào đó, điều quan trọng là phảinêu bật và phân tích những đặc điểm tích cực của nó, đồng thời cần phê phánnhững biểu hiện lỗi thời, không còn giá trị hoặc phản giá trị của truyền thống.Việc kế thừa có chọn lọc và phát huy những yếu tố tích cực của truyền thống làđiều hết sức quan trọng và cần sự quan tâm của toàn xã hội

1.2.4 Gía trị đạo đức truyền thống

Gía trị đạo đức truyền thống chính là giá trị đạo đức của một dân tộc đượchình thành và xác lập từ trong lịch sử, đã trở thành ổn định, được khẳng định từđời này sang đời khác và được lưu giữ lâu dài trong dân tộc đó

Gía trị đạo đức truyền thống gắn bó mật thiết với truyền thống đạo đứccủa một dân tộc Trong thực tế, ranh giới giữa hai khái niệm giá trị đạo đứctruyền thống và truyền thống đạo đức chỉ có ý nghĩa tương đối Song xem xétmột cách toàn diện về mặt khoa học có thể thấy hai khái niệm đó không hoàntoàn thống nhất với nhau.Truyền thống là khái niệm để chỉ tất cả những gì đã trởthành bền vững, tồn tại lâu dài qua nhiều thế hệ, giai đoạn lịch sử nhưng có thểbao hàm cả mặt tích cực và những hạn chế Còn gía trị truyền thống phải là sựkết tinh những gì tích cực, tiến bộ, phù hợp với sự phát triển, tiến bộ của xã hội

Trang 17

Đặc trưng nổi bật của giá trị đạo đức truyền thống là bao giờ cũng có tính

ổn định, có sức sống lâu bền, ăn sâu vào tiềm thức của con người trong từngcộng đồng, từng dân tộc, trở thành tiêu chí đánh giá và đồng thời trở thành địnhhướng về mặt đạo đức cho các thế hệ người trong dân tộc đó Gía trị đạo đứctruyền thống là sự kết tinh những phẩm giá, phẩm chất, đức tính tốt đẹp nhất, tiến

bộ nhất của một dân tộc, được sàng lọc qua nhiều thế hệ và tạo nên sắc thái riêngcủa dân tộc đó Cơ sở làm nên giá trị đạo đạo đức truyền thống chính là xuất phátđiểm của dân tộc về mặt địa lý, lãnh thổ, hoàn cảnh kinh tế, hoàn cảnh lịch sử,lịch sử đấu tranh giữa con người với tự nhiên, đấu tranh giữa con người với conngười quy định

Với quan niệm về giá trị đạo đức truyền thống như vậy, chúng ta có thểnhận diện về giá trị đạo đức truyền thống của con người Việt Nam một cách rõràng hơn Có thể nói giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam chính lànhững phẩm chất, phẩm giá, đức tính tốt đẹp, nhân ái, tiến bộ của con người ViệtNam, có ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển con người và xã hội Những phẩmchất, phẩm giá, đức tính đó được hình thành và là sự kết tinh từ trong chiều sâulâu dài của lịch sử con người, dân tộc Việt Nam và làm nên nét riêng, độc đáo,bản sắc của dân tộc ta Những giá trị dạo đức truyền thống dân tộc Việt Nam lànhân tố làm nên nội lực, sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt Nam trải qua cácthời kỳ lịch sử

1.2.5 Biện pháp giáo dục

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Khoa học xã hội Việt Nam, biện pháp

là cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể Trong nghiên cứu khoa học,biện pháp còn được hiểu như là con đường, cách thức để chuyển tải nội dung

Biện pháp giáo dục là đơn vị hợp thành của phương pháp giáo dục có ýnghĩa tình huống nhằm giải quyết một mục tiêu của giáo dục với tác dụng hạnhẹp, riêng biệt Ranh giới giữa phương pháp và biện pháp trong giáo dục chỉ có ýnghĩa tương đối Phương pháp giáo dục là cách thức hoạt động của nhà giáo dục

và người được giáo dục Trong đó, nhà giáo dục giữ vai trò điều khiển, còn ngườiđược giáo dục là chủ thể tích cực của quá trình hình thành nhân cách Trong từng

Trang 18

tình huống cụ thể, biện pháp và phương pháp có thể chuyển hóa lẫn nhau Có lúcphương pháp còn là con đường độc lập để giải quyết nhiệm vụ giáo dục, có lúcchỉ là một bộ phận có tác dụng riêng biệt.

Cũng như phương pháp giáo dục, biện pháp giáo dục cũng tuân theonhững quy luật tổ chức quá trình giáo dục: có tính mục đích và gắn liền với nộidung, các thành tố khác của quá trình giáo dục

Biện pháp giáo dục có mục đích là hướng đến việc tạo ra cơ sở ban đầucho sự phát triển nhân cách Các biện pháp này gắn liền với nội dung giáo dục

Vì vậy, nhà giáo dục có thể lựa chọn các biện pháp giáo dục sao cho phù hợp vớimức độ phát triển của đối tượng giáo dục để tạo hứng thú, hình thành động cơđúng cho hành vi

Biện pháp giáo dục có liên hệ chặt chẽ với phương tiện giáo dục Đó làcác hình thức hoạt động khác nhau của người được giáo dục, các vật thể, ấnphẩm văn hóa vật chất và tinh thần được sử dụng trong quá trình giáo dục

Biện pháp giáo dục cũng có mối liên quan chặt chẽ với hình thức tổ chứcgiáo dục Qúa trình giáo dục được tổ chức bằng các hình thức tổ chức khác nhau,trong mỗi hình thức đó có sử dụng các biện pháp giáo dục khác nhau

Như vậy, có thể xem biện pháp giáo dục là cách thức tổ chức của các lựclượng giáo dục nhằm mục đích chuyển nội dung giáo dục thành hành vi Việc lựachọn, thiết kế tình huống, tổ chức và triển khai các biện pháp giáo dục hành vicho học sinh cũng phải tuân theo quy luật tổ chức của quá trình giáo dục, cónghĩa là phải căn cứ vào mục đích, nội dung, phương tiện giáo dục và đặc điểmtâm sinh lý của đối tượng giáo dục

1.2.6 Biện pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống

Biện pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống là cách thức tổ chức củacác lực lượng giáo dục nhằm mục đích chuyển nội dung giáo dục giá trị đạo đứctruyền thống thành hành vi đạo đức, những thói quen đạo đức, tổ chức cho họcsinh hoạt động để thực hiện những mối quan hệ đạo đức

Giáo dục đạo đức cho học sinh là một bộ phận của giáo dục phổ thôngnhằm hình thành những nhân cách phát triển toàn vẹn về mặt đạo đức cho học

Trang 19

sinh.Trong đó, giáo dục những giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh là mộtnhiệm vụ quan trọng ở trường THCS.

Khi xem xét biện pháp giáo dục giá trị đạo đức cho học sinh, cần chú ý haiquan điểm cơ bản sau:

+ Giáo dục nhân cách chỉ có thể tiến hành trong hoạt động thực tiễn vàviệc lôi cuốn học sinh vào hoạt động thực tiễn là yếu tố quan trọng để phát triểnnhân cách và tổ chức quá trình giáo dục

+ Những phẩm chất cá nhân được hình thành trong quá trình hoạt độngnếu xét về cấu trúc là hợp kim của ý thức, tình cảm, hành vi, kể cả những biểuhiện tương ứng của ý chí

Vì vậy, trong qúa trình giáo dục đạo đức cho học sinh cần phát triển ýthức của họ, khêu gợi những trải nghiệm xúc cảm và tình cảm tương ứng, hìnhthành những hành vi và thói quen, nâng cao ý chí của họ Đương nhiên muốnphát triển mỗi mặt nhân cách đều cần có những con đường đặc nhiệm, nhữngphương pháp tác động giáo dục phù hợp

Biện pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống là đơn vị hợp thành củaphương pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống có ý nghĩa tình huống nhằmgiải quyết mục tiêu giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh

Biện pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống có quan hệ chặt chẽ vớiphương tiện giáo dục giá trị đạo đức truyền thống và hình thức tổ chức giáo dụcgiá trị đạo đức truyền thống

1.3 Những nhân tố cơ bản tạo nên giá trị đạo đức truyền thống

Đạo đức dân tộc và những giá trị đạo đức dân tộc nằm trong sự thống nhấtbiện chứng với tồn tại xã hội Tồn tại xã hội, cụ thể là các điều kiện sinh hoạt vậtchất của xã hội, môi trường kinh tế, chính trị, xã hội tồn tại một cách khách quanchính là cơ sở hình thành những giá trị đạo đức truyền thống của một dân tộc Cácnhân tố khách quan đó biểu hiện, tác động thông qua nhận thức, tình cảm, thái độ,động cơ hoạt động xã hội, sinh hoạt đời thường và tổ chức đời sống của con người

và của cả xã hội mà hình thành những nét chủ yếu trong truyền thống đạo đức củadân tộc Với cách tiếp cận như vậy, cần phải nhận thức những nhân tố cơ bản tácđộng đến sự hình thành giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam bao gồm:

Trang 20

1.3.1 Ý chí quyết tâm xây dựng, bảo vệ đất nước đánh đuổi ngoại xâm của dân tộc Việt Nam

Lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc ta là lịch sử song hành của sự nghiệpdựng nước và sự nghiệp giữ nước Dân tộc ta đã trải qua gần 1000 năm chịu sựthống trị của phong kiến Trung Quốc Sau khi giành độc lập, đất nước ta liên tụctrải qua các cuộc kháng chiến kiên cường chống các thế lực ngoại bang xâm lăngcủa phong kiến Nguyên Mông, Minh,Thanh, Xiêm đặc biệt là thực dân Pháp và

đế quốc Mỹ Có thể nói lịch sử của dân tộc Việt Nam là lịch sử của đấu tranh lâudài, bất khuất để dành và giữ vững độc lập chủ quyền dân tộc Trong bất kì cuộc đấutranh nào, ta cũng phải đương đầu với những kẻ thù mạnh hơn ta gấp bội về tiềm lựcvật chất, trang thiết bị vũ khí, kĩ thuật Từ trong những cuộc đấu tranh khốc liệt đóđòi hỏi dân tộc ta phải có một ý chí, một nghị lực phi thường, một sự gắn kết đồnglòng, một sự linh hoạt sáng tạo và trên hết là một lòng yêu nước nồng nàn mới cóthể đi đến thắng lợi cuối cùng Chính những cuộc đấu tranh kiên cường đó đã hunđúc nên những giá trị đạo đức tốt đẹp, bền vững của dân tộc ta

1.3.2 Lao động sản xuất chinh phục điều kiện khắc nghiệt đối với tự nhiên

Lao động sản xuất là hoạt động có mục đích của con người nhằm tác độngvào tự nhiên, làm ra của cải vật chất phục vụ cho bản thân và cộng đồng xã hội

Nó phản ánh cách ứng xử của con người với môi trường tự nhiên Nhờ có laođộng sản xuất mà con người có được những điều kiện sống cần thiết đáp ứng cácyêu cầu về ăn, mặc, ở, đi lại…Cũng chính trong quá trình lao động sản xuất mànhiều giá trị tinh thần được tạo ra, trong đó có các giá trị về truyền thống

Việt Nam là một nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vớinhững diễn biến hết sức phức tạp và khắc nghiệt Việt Nam là nước có địa hìnhphong phú, nhưng từ xa xưa cư dân sống tập trung chủ yếu theo triền các dòngsông Với khí hậu, địa hình, phân bố dân cư như vậy nên ở Việt Nam đã duy trìnền sản xuất nông nghiệp từ lâu đời Những diễn biến thời tiết tác động thườngxuyên đến đời sống con người, đặc biệt đến nền sản xuất chủ yếu thuần nông kéodài hàng nghìn năm trong lịch sử Thực tiễn này đã được phản ánh khá rõ néttrong kho tàng ca dao, tục ngữ của dân tộc:

Trang 21

Trông trời, trông đất, trông mây Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm

Trông cho chân cứng đá mềm Trời êm bể lặng mới yên tấm lòng.

Không những phải chống đỡ với sự khắc nghiệt của thời tiết mà để làm rahạt lúa, hạt gạo, người nông dân còn phải lao động vất vả, cật lực:

Cày đồng đang buổi ban trưa

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày

Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo ngon một hạt đắng cay muôn phần.

Dù có vất vả, cực khổ, người nông dân vẫn luôn quý trọng đất đai, bằng laođộng biến bãi hoang thành đồng ruộng, biến đất thành vàng Họ khuyên nhủ nhau:

Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu…

Như vậy, để có thể duy trì sản xuất phát triển trong điều kiện tự nhiên đòihỏi con người phải đoàn kết, gắn bó, yêu thương, chia sẻ với nhau Sự hình thành

và phát triển của những giá trị đạo đức dân tộc Việt Nam gắn kết với các hằng sốvăn hóa: Nông dân, nông nghiệp lúa nước, xóm làng và được nuôi dưỡng trongkết cấu gia đình, làng xã, đất nước Nói cách khác, từ đặc trưng của một nền sảnxuất nông nghiệp, trong sự tác động của điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt mà đòihỏi các kiểu tổ chức cuộc sống, những mối quan hệ xã hội phù hợp mang đặctrưng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam, kết tinh ở những giá trị đạo đức được nuôidưỡng từ hàng nghìn năm của dân tộc

1.3.3 Gạn lọc, tiếp thu bản địa hóa, dân tộc hóa những tinh hoa của Nho giáo, Phật giáo thành giá trị của dân tộc

Trong đời sống đạo đức của bất kì dân tộc nào, ngoài những yếu tố quyếtđịnh từ chính hiện thực tồn tại của dân tộc mình, đều có sự giao thoa và tiếp thunhững nhân tố tích cực của các học thuyết đạo đức và các nền đạo đức của cácdân tộc khác Dân tộc Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó Do vị thếđịa lí – chính trị đặc biệt mà trong nhiều thời kỳ lịch sử, Việt Nam là nơi chứa

Trang 22

đựng những xung đột Bắc – Nam, Đông – Tây và có điều kiện giao lưu với nhiềunền văn hóa bên ngoài Chính vì vậy, tư tưởng đạo đức Nho giáo, Phật giáo tồntại và ảnh hưởng sâu đậm trong dân tộc ta.

Trên nền tảng của văn hoá bản địa, với điều kiện địa lý thuận lợi, ViệtNam còn tiếp thu được những tinh hoa văn hoá nhân loại, đặc biệt là văn hoáTrung Quốc và Ấn Độ với cốt lõi là Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo Nho giáođược truyền vào nước ta, tính đến nay đã trên 2000 năm Nho giáo là một họcthuyết chính trị - xã hội luôn lấy đức làm trọng, là công cụ quản lý xã hội của giaicấp thống trị Trung Quốc Mặc dù còn có những quan niệm tiêu cực, như trọngnam khinh nữ, coi thường lao động chân tay song Nho giáo cũng có những yếu

tố tích cực, đó là việc đề cao chữ nhân, lòng thương người, trọng người caotuổi… Cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực của Nho giáo đều tác động tới nhân cáchcon người Việt Nam

Với tư tưởng từ bi, bác ái, Phật giáo của nền văn hoá Ấn Độ đã dễ dàngthâm nhập vào Việt Nam từ rất sớm Các giáo lý Phật giáo cùng với việc các nhà

sư sống hoà đồng với người dân đã tạo nên sự gần gũi giữa Phật giáo và ngườidân Phật giáo đã góp phần nâng cao đời sống đạo đức của người dân, dẫu chỉ là

về mặt tinh thần Họ tiếp nhận Phật giáo như là một yếu tố tâm lý làm cân bằngcuộc sống vốn khốn khó của mình Phật giáo cũng củng cố cách sống nhân nghĩa,chân tình của người Việt Nam

Trong thực tế lịch sử, Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo được du nhập vàonước ta, tôn giáo vào trước tiếp nhận tôn giáo vào sau, nhờ vào tính dung hợptruyền thống ba đạo giáo này hòa hợp với nhau rộng rãi tạo thành môi trường vănhóa tam giáo đồng nguyên (đa tôn giáo phát triển cùng một gốc) Các nhà NhoViệt Nam gặp thời thì làm quan, bất đắc chí thì lui về ở ẩn vui với cỏ cây chimmuông, chén rượu cuộc cờ Những giá trị cơ bản của Đạo Phật như từ bi, vôngã, vị tha cũng rất gần gũi với tư tưởng thương dân của những nhà Nho lớn nhưNguyễnTrãi, Nguyễn Du Đạo Phật vốn chủ trương xuất thế, thoát tục, nhẫnchịu, nhưng khi vào Việt Nam lại trở thành có tinh thần nhập thế nhằm cứu độ vàgiải thoát chúng sinh, có khi người xuất gia còn tham gia chính sự như các cao

Trang 23

tăng thời Lý – Trần…Như vậy, trong quá trình giáo lưu văn hóa, tam giáo Nho, Lão,Phật khi vào Việt Nam đã cùng tồn tại, có nhiều đặc điểm đặc sắc được hòa trộncùng nhau, và nhìn chung đã được cải biến đi, Việt Nam hóa và hòa nhập vào vănhóa bản địa, để từ đó tác động đến lối sống của người Việt một cách tổng hợp.

Trong thời kỳ hiện đại, các tư tưởng đạo đức phương Tây cũng để lạinhững dấu ấn nhất định Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta đã đượcsoi sáng bằng lí luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, những tư tưởng đạo đức tiến bộcủa giai cấp công nhân đã từng bước thấm vào và có ảnh hưởng quan trọng tớiđạo đức truyền thống dân tộc

1.3.4 Bảo tồn, phát triển những tinh hoa văn hóa dân tộc, bản địa

Văn hóa bao hàm tất cả những giá trị vật chất và tinh thần do con ngườisáng tạo ra và quá trình hoạt động của con người để sáng tạo ra những giá trị đó.Truyền thống bao giờ cũng được sinh ra và nuôi dưỡng trong môi trường văn hóacộng đồng Văn hóa với tư cách là môi trường mẹ, với những biểu hiện đa dạngcủa nó thể hiện ở quan niệm, lối sống, phong tục, tập quán của cộng đồng có tácđộng to lớn đến đạo đức truyền thống Đời nối đời, những tác động của văn hóa

đã có vị trí không nhỏ trong việc hình thành và di tồn các giá trị đạo đức truyềnthống của dân tộc

Xã hội Việt Nam có cội nguồn rất xa xưa Truyền thuyết về dòng họ Hồng

Bàng, về sự tích Lạc Long Quân và Âu Cơ với “cái bọc trăm trứng” biểu tượng

cho nghĩa đồng bào cùng một nguồn cội của cư dân đất Việt Các yếu tố cùng cộinguồn, cùng nơi cư trú, cùng cộng đồng lợi ích và trách nhiệm tạo nên môitrường xã hội Việt Nam Văn hóa Việt Nam cổ truyền có nền tảng là nền nôngnghiệp lúa nước, trong đó gia đình và làng xã là hai đơn vị cơ sở chi phối toàn bộ

hệ thống xã hội Với đặc điểm đặc thù của xã hội Việt Nam như vậy, giá trị cánhân hòa trong giá trị của cộng đồng – dòng họ và làng xã Đất nước cũng đượchình dung thông qua làng xã, là sự gắn kết giữa nhiều làng xã Trong tiếng Việt,

từ lâu đời, từ làng gắn liền với nước thành làng – nước Nước như một làng lớn

và xu thế chính của tâm lý người Việt là kéo xã hội về với gia đình Bởi vậy khitìm hiểu tác động của môi trường văn hóa, tinh hoa dân tộc đến việc hình thành

Trang 24

và di tồn giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, chủ yếu xem xét tác động củamôi trường văn hóa gia đình và môi trường văn hóa làng xã.

1.3.4.1 Tác động của môi trường văn hóa gia đình

Gia đình là tế bào của xã hội, là một thiết chế xã hội dựa trên hôn nhân,dòng giống, kinh tế, đạo đức…

Gia đình là nơi bảo tồn và phát triển những bản sắc độc đáo của văn hóadân tộc Gia đình cũng tạo ra truyền thống của nó, truyền thống dòng họ, có sứclan tỏa, di truyền văn hóa, từ đó góp phần tạo ra các truyền thống của cộng đồng

Gia đình Việt Nam cổ truyền với những quy ước, tôn ti trật tự chặt chẽ từbao đời là chỗ dựa vững chắc về mọi mặt của mỗi người Việt Nam Trong giađình truyền thống, tính phụ quyền được thể hiện khá rõ nét, người cha là ngườichủ gia đình có vai trò quyết định Vợ thuận chồng, con thuận cha là lẽ tự nhiên.Người cha có trách nhiệm, bổn phận với con, con có trách nhiệm và nghĩa vụphải hiếu với cha Quan hệ vợ chồng tương đối bình đẳng Người phụ nữ (bà, mẹ,

vợ, chị,em gái, cô, dì…) có vai trò khá quan trọng Người Việt Nam quan niệm:

“nội ngoại tương tề”, “tứ thân phụ mẫu”…nên con gái cũng có quyền được thừa

kế tài sản của cha mẹ và được luật pháp bảo hộ Do vậy, con trai cũng như congái, con dâu cũng như con rể là những thành viên trong gia đình phải có tráchnhiệm chăm sóc, phụng dưỡng ông bà, cha mẹ lúc về già hay khi đau ốm Giađình truyền thống Việt Nam thường không giàu có nhưng rất giàu tính nhân văn,nổi bật lên là tình thương, sự quan tâm chăm sóc, đức hy sinh giữa những ngườithân gắn bó với nhau suốt cuộc đời Cha mẹ chăm lo dạy bảo con cái, con cáikính trọng, vâng lời cha mẹ Chính nhờ đặc trưng duy tình với ý thức trách nhiệmthường trực, dài lâu, lỉên tục trong việc giáo dục các thế hệ con em mà gia đình

cổ truyền Việt Nam có thể thực hiện được thiên chức nuôi và dạy trẻ

Cha ông ta xưa đánh giá rất cao vai trò của giáo dục gia đình bởi “cha nào con nấy”, “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh” Cả đức tính và

thói quen của con người được hình thành và được củng cố trong một quá trìnhlâu dài, nhưng tuổi thơ là độ tuổi mà những nét tính cách cơ bản của cá tính và

thói quen của trẻ được hình thành dễ nhất “Tre non dễ uốn, người trẻ dễ dạy”.

Trang 25

Bởi vậy, văn hoá gia đình có tác động rất lớn đến việc hình thành và vun đắpnhững giá trị đạo đức truyền thống trong mỗi người dân Việt Đặc biệt trong lĩnhvực bồi bổ đạo đức - thẩm mỹ cho trẻ thì văn hoá gia đình chiếm ưu thế tuyệtđối, và mặt đạo đức - thẩm mỹ lại chính là cái cốt lõi trong nền tảng ban đầu củanhân cách mỗi con người, mà biểu hiện tập trung của nó là ở lòng nhân ái.

Cũng như gia đình, dòng họ là cộng đồng được duy trì trên cơ sở quan hệhuyết thống giữa các thành viên Dòng họ có vai trò củng cố các giá trị đạo đứcbằng gia phả (tộc phả) Nội dung tư tưởng chủ đạo của gia phả là răn dạy concháu về việc giữ gìn đạo Hiếu, góp phần thúc đẩy ý thức “tìm về cội nguồn” của

các thế hệ con cháu Ví dụ, họ Vũ làng Trang Liệt, tỉnh Bắc Ninh có “Vũ công tộc phả lệ bộ” được soạn thảo từ năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), được bổ sung liên tục

đến năm Đồng Khánh thứ 4 (1889) có 29 điều trong đó có các điều ghi rất cụ thể sốruộng đất dòng họ dùng vào việc cúng tế, cách cư xử của con cái đối với ông bà, cha

mẹ Tộc lệ ghi rằng: “Con cái lấy chữ hiếu mà đối xử…bất di bất dịch”.

1.3.4.2 Tác động của văn hóa làng

Trong tâm thức của người Việt Nam, làng là cái nôi, là điểm tựa tâm linhcủa mỗi thành viên góp phần duy trì và phát triển truyền thống”uống nước nhớnguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây” Làng đồng nghĩa với bản quán, với quê cha đất

tổ Mỗi người dân Việt Nam đểu gắn bó với một cái Làng nào đó Nếu đó khôngphải là nơi ta trực tiếp chôn nhau cắt rốn thì cũng là nơi cha, mẹ, ông, bà, tổ tiên

ta sinh thành Làng vừa gần gũi, vừa thiêng liêng với mỗi cư dân Việt

Làng Việt Nam là một đơn vị quần cơ của một cộng đồng cư dân nôngnghiệp, có lãnh thổ riêng, có phong tục tập quán đặc thù Làng bao gồm nhiềudòng họ, gia đình tập hợp lại thành một cộng đồng dân cư gắn bó với nhau trên

cơ sở nghĩa tình; ngoài tình cảm gia đình, dòng họ còn có tình làng xóm lánggiềng, tình làng nghĩa xóm Nghĩa tình làng xóm gắn bó với nhau chặt chẽ, sâusắc, bền chặt trong điều kiện nền nông nghiệp lúa nước, khi cộng đồng dân cưcủa làng phải gồng mình lên, hợp tác với nhau để chống hạn hán, bão lụt, chốngnhững kẻ thù từ bên ngoài xâm phạm đến cuộc sống bên trong lũy tre làng Lànghân hoan trong những dịp lễ hội khi mọi người cùng chung vui với những sinh

Trang 26

hoạt cộng đồng truyền lại từ bao đời trở thành truyền thống Xưa kia, người ta sinh

ra ở làng, khi lớn lên có thể học hành thành đạt, ra làm quan, suốt một đời bươn chảitrong chốn quan trường, nhưng khi về già vẫn tìm về với làng,lại làm thành viên củalàng, chia sẻ vui buồn với những gì diễn ra bên trong luỹ tre xanh Cứ thế, ngườidân Việt ngàn đời gắn bó với làng một cách tự nhiên và máu thịt

Văn hoá làng trùm lên, bao bọc mỗi đời người và nhiều thế hệ người Xãhội Việt Nam là xã hội nông nghiệp Làng là nơi sinh sống chính của cư dân, làđịa bàn chính xây dựng nên nền văn hoá dân tộc Bởi vậy, văn hoá làng cùng vớivăn hoá gia đình là tiêu biểu cho văn hoá dân tộc; văn hoá dân tộc, suy đến cùng

là văn hoá “siêu làng”, là sự liên kết tổng hợp của văn hoá của mỗi làng riêngbiệt trên đất nước

Đặc biệt văn hoá làng tác động rất lớn đến việc bảo tồn những giá trị đạođức truyền thống của dân tộc Việt Nam thông qua hương ước, lệ làng.Ví dụ,trong hương ước của làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An soạn

thảo vào năm 1636, điều 64 có ghi: “Người ta lấy luân lí làm trọng, nghĩa là làm cha mẹ có tính nết hiền lành, làm con thờ cha mẹ có hiếu Nếu mà không được thế thì chẳng khác nào loài cầm thú Ai có điều lỗi không đợi người nhà trình đạt, chỉ cần có người cáo giác với làng là làng chiếu theo tội nặng nhẹ mà bắt phạt” Trong hương ứơc của làng xã Việt Nam thời phong kiến có điều khen

thưởng đối với người có hiếu đồng thời cũng đề ra hình phạt đối với kẻ bất hiếu.Hương ước của làng Cẩm Trướng, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá năm 1877

có ghi: “Trong thôn người nào bất hiếu…phạt 30 quan, đánh 30 roi Nếu hai ba lần giữ thói cũ không sửa, sẽ đem lên báo quan không hối tiếc”.

Cùng với thời gian, những giá trị này trở nên ổn định và được lưu truyền

từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở thành động lực, sức mạnh, bản sắc của nhâncách con người Việt Nam

1.4 Những giá trị đạo đức truyền thống

Khi tiếp cận đến những nội dung của giá trị đạo đức truyền thống ViệtNam có thể còn có nhiều ý kiến chưa hoàn toàn thống nhất với nhau Song nhữngđiểm chưa thống nhất là những khía cạnh riêng biệt, hoặc ở cách lý giải chứ

Trang 27

không phải ở cách nhận diện về những giá trị chung đã được khẳng định ViệtNam là một dân tộc có truyền thống đạo đức, có nền văn hiến lâu đời Truyềnthống coi trọng đạo đức của dân tộc đã được kết thành những giá trị cơ bản nhất:

1.4.1 Nhân nghĩa, yêu thương đùm bọc, đoàn kết từ trong gia đình đến ngoài xã hội

Lòng thương người của dân tộc Việt Nam xuất phát từ tình cảm yêu quýcon người “người ta là hoa của đất” Chính trong quá trình lao động sản xuất vàđấu tranh bảo vệ Tổ quốc, cha ông ta đã rút ra triết lý: Con người là vốn quý hơn

cả, không có gì có thể so sánh được Mọi người luôn luôn “Thương người như thể thương thân” và vì lẽ đó trong quan hệ đối xử hàng ngày, người Việt Nam

luôn coi trọng tình nghĩa, luôn đặt tình nghĩa lên trên hết: “Vì tình vì nghĩa ai vìđĩa xôi đầy” Chữ “tình” chiếm vị trí quan trọng trong đời sống của người dân.Trong gia đình đó là tình cảm vợ chồng “đầu gối tay ấp”, tình anh em “như thểtay chân”, tình cảm đối với bố mẹ:

“Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” Rộng hơn là tình cảm đối với làng xóm: “Sớm khuya tối lửa tắt đèn có nhau” Và rộng hơn là tình yêu đất nước:

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước thì thương nhau cùng”

Trang 28

Tinh thần thương người của dân tộc Việt Nam còn được biểu hiện trong

sự tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau theo kiểu “lá lành đùm lá rách”, “chị ngã em nâng”, “một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”… ở tình cảm bao dung vị tha “đánh kẻ

chạy đi không đánh người chạy lại”

Tình thương người của dân tộc Việt Nam không chỉ biểu hiện trong đờisống hàng ngày của người dân, trong hương uớc của các làng xã mà còn đượcnâng lên thành những chuẩn tắc trong luật của Nhà nước Trong các kho của Nhànước Việt Nam, hầu như lúc nào cũng có thóc gạo dự trữ để phát cho người dânnghèo, đau ốm hay vào những năm hạn hán mất mùa Việc lập các nhà thương tếbần nuôi dưỡng những người già cả, cô đơn, đau ốm bệnh tật ở các nơi luôn được

sự khuyến khích của Nhà nước

Lòng thương người đã trở thành một nếp nghĩ, một cách sống, một giá trịđạo đức trong đời sống của người Việt Nam Khi Phật giáo và Nho giáo xâmnhập vào Việt Nam với những quan niệm từ bi bác ái, thương người thì chúngcàng khẳng định, củng cố thêm tinh thần thương người của dân tộc Việt Nam.Nhưng tinh thần thương người của dân tộc Việt Nam không bị ảnh hưởng quánặng nề bởi quan niệm từ bi vượt thoát hiện thực của Phật giáo vì người ViệtNam vẫn chủ trương chú trọng đến giá trị đời sống thường ngày, nó cũng không

bị ảnh hưởng bởi chữ nhân quá thiên về lễ nghĩa của Nho giáo, vì người ViệtNam hiểu chữ nhân như là một đạo làm người xuất phát từ chính bản chất củacon người, chứ không phải với nghĩa là trách nhiệm của bề trên đối với kẻ dướinhư trong quan niệm Nho giáo

Như vậy, có thể khẳng định tình thương yêu con người là giá trị đạo đứccủa dân tộc ta - một giá trị rất đáng tự hào Nó gắn liền với tình yêu thương đồng

loại và là “cái gốc của đạo đức” “Không có lòng nhân ái thì không thể có lòng yêu nước thương nhân dân được”.

Tinh thần đoàn kết là sản phẩm đặc thù của một hoàn cảnh thiên nhiênkhắc nghiệt và điều kiện kinh tế xã hội Việt Nam Nó là nhân tố cốt lõi trong hệgiá trị tư tưởng của dân tộc Việt Nam đã trở thành một truyền thuyết - truyềnthuyết hai chữ “đồng bào” (mọi người trong cùng cái bọc mà ra) Tư tưởng này

Trang 29

phản ánh nhu cầu và mong ước của người xưa về sự gắn bó giữa những conngười với nhau Tinh thần đoàn kết của con người Việt Nam trước hết được thểhiện trong gia đình, trong cộng đồng làng xã và hơn hết là trong toàn thể cộngđồng các dân tộc Việt Nam.

Trong gia đình, sức mạnh đoàn kết được thể hiện qua câu châm ngôn:

“Thuận vợ thuận chồng tát biển đông cũng cạn”

Có lẽ hiếm có dân tộc nào trên thế giới mà tinh thần đoàn kết được biểuhiện nhiều và đa dạng như ở làng quê Việt Nam Ở bất cứ lĩnh vực nào, người ta

cũng tạo ra được sự đoàn kết nhất trí cao như học giả Đào Duy Anh nhận xét: “Ở trong một làng người ta thấy những cuộc đoàn kết nhỏ, như hội tư văn gồm những người có chức tước khoa danh, hội văn phả gồm những người nho học mà không có phẩm hàm khoa mục, hội võ gồm những quan võ, hội đồng môn gồm có tất cả những học trò của một thầy Ngoài ra còn có vô số các đoàn thể khác như hội mua bán dùng cách gắp thăm hay bỏ tiền úp bát mà lần lượt góp tiền cho nhau trong việc khánh hỉ, cùng là những hội bách nghệ họp các thợ thủ công đồng nghiệp, hội chư bà họp các bà vãi lễ phật, hội đồng quan họp những bà thờ đồng thánh, hội bát âm họp các tài tử âm nhạc cho đến hội chọi gà, hội chọi chim…xem thế thì thấy người nhà quê ta rất ham lập hội” [30]

Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh rằng, nếu không tạo được sựđoàn kết nhất trí cao thì nguy cơ nước mất nhà tan sẽ xảy ra Thất bại của nhà Hồ

ở thế kỷ thứ XIV là một ví dụ, do không thống nhất được lòng dân mà khôngbảo vệ được độc lập dân tộc Hoặc trong các thế kỷ XVI- XVII, chiến tranh phânchia Trịnh - Nguyễn, Nam - Bắc triều là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự suy yếuđất nước, làm cho thực dân Pháp có cơ hội xâm lược nước nhà Chính nhờ cótinh thần đoàn kết mà chúng ta mới có được tự do độc lập như ngày nay Những

câu như: “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”, “ Một cây làm chẳng nên non, Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”…không chỉ là lời khuyên nhủ mà còn là một

phương châm, mục đích của sự đoàn kết dân tộc Nó trở thành sức mạnh tinhthần và đặc trưng cho nhân cách con người Việt Nam

Trang 30

1.4.2 Lao động cần cù, sáng tạo xây dựng gia đình hạnh phúc, đất nước giàu mạnh

Dân tộc Việt Nam tồn tại một nền sản xuất nông nghiệp lúa nước đã từngàn đời Sản xuất của người tiểu nông trong điều kiện thiên nhiên thay đổi bấtthường, khắc nghiệt đã khiến cho con người hình thành nên đức tính cần cù, sángtạo Tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm, sáng tạo là một giá trị đạo đức nổi bậttrong hệ giá trị của dân tộc Việt Nam

Để kiến tạo ra của cải vật chất thì bất cứ dân tộc nào cũng phải lao động,cũng phải chịu khó và họ cũng có thể tự hào về những thành quả lao động đã tạodựng được của mình nhưng dân tộc Việt Nam là một trường hợp đặc biệt Bởi lẽnhư đã nói Việt Nam là một nước có nền văn minh nông nghiệp lâu đời Laođộng nông nghiệp là một loại hình lao động vất vả cần nhiều thời gian công sứcmới có hạt gạo bát cơm Hơn nữa, thiên nhiên lại quá nhiều nắng gió, mưa bão

mà nhiều khi mùa nắng thì hạn hán cháy đồng, mùa mưa thì lũ lụt Quanh nămsuốt tháng, người dân Việt Nam phải lo đắp đập, đào mương lấy nước tưới, đắp

đê phòng chống bão lụt (Việt Nam có hàng ngàn km đê được làm mãi qua hàngchục thế kỉ) Theo giáo sư Trần Văn Giàu, những người nước ngoài đến ViệtNam đều hết sức ngạc nhiên khi thấy mọi cơ năng của con người Việt Nam đềuđược dùng để làm việc: đầu đội, vai ghánh, lưng cồng, tay nhanh nhẹn và khéoléo, chân chạy như bay Hơn nữa, dân tộc Việt Nam luôn chịu sự xâm lăng củacác thể lực bên ngoài Bất cứ cuộc xâm lăng nào, bên cạnh nhiều lý do khác cũngđều là sự cướp bóc của cải, phá hoại mùa màng sản xuất Do đó, để khắc phụchậu quả, nhân dân Việt Nam không còn cách nào khác hơn là phải lao động cần

cù Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, người hậu phươnglao động cần cù còn tạo ra một khối lượng lương thực lớn, cung cấp cho tiềntuyến, góp phần chiến thắng hai kè thù xâm lược có tiềm lực kỹ thuật khổng lồ.Như vậy, đầu tiên lao động cần cù như là một yêu cầu tất yếu để đảm bảo cho sựsinh tồn của dân tộc Lao động cần cù đã trở thành một phẩm chất đạo đức khôngthể thiếu đối với con người Việt Nam Ước vọng về một đức tính lao động cần cù

đã được thể hiện nhiều trong dân gian Việt Nam Người Việt Nam luôn nhắc nhở

Trang 31

với nhau rằng: “năng nhặt chặt bị”, “kiến tha lâu đầy tổ” Người ta luôn phê phán thói ăn không ngồi rồi bởi với họ “nhàn cư vi bất thiện”.

Có thể khẳng định rằng đức tính cần cù sáng tạo không chỉ định hình nhưmột phương thức sinh hoạt của con người mà còn được chuyển vào trong lĩnhvực tinh thần, văn hóa định hình như một giá trị truyền thống, như một tiêu chíđánh giá về mặt phẩm chất, đạo đức của con người Việt Nam Đức tính cần cùsáng tạo trong lao động đã trở thành nhân tố tạo nên sức vươn lên bền bỉ của dântộc, tạo thành yếu tố đặc trưng của dân tộc Thực tiễn cho thấy, trải qua hơn haimươi năm đổi mới, bộ mặt kinh tế của đất nước ta đã có sự chuyển biến mạnh

mẽ, đời sống của nhân dân Việt Nam đã từng bước được nâng cao nhờ tinh thầnlao động cần cù không mệt mỏi, sáng tạo, mạnh dạn, dám nghĩ dám làm Giađình ấm no, xã hội giàu mạnh đó là tiêu chí và lý tưởng vươn lên của con ngườiViệt Nam, góp phần phát triển kho tàng giá trị đạo đức truyền thống của dân tộcViệt Nam

1.4.3 Yêu chuộng hòa bình, tự do, độc lập của các dân tộc, các quốc gia

Tinh thần yêu nước là “nguyên tắc đạo đức và chính trị, một tiêu chuẩn xã hội mà nội dung của nó là lòng trung thành với Tổ quốc, là lòng tự hào về quá khứ và hiện tại của Tổ quốc, có ý chí bảo vệ lợi ích của Tổ quốc” Thực ra trên

thế giới, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có tình yêu đất nước nhưng bản sắc, sựhình thành cũng như biểu hiện của nó lại có sự khác nhau.Ở Việt Nam chúng ta

có thể thấy rằng chủ nghĩa yêu nước là giá trị cao quý nhất của dân tộc Việt Nam,

là chuẩn mực đạo đức cao quý nhất, đứng đầu trong bậc thang giá trị truyền

thống, là “tiêu điểm của mọi tiêu điểm”.Yêu nước là đặt lợi ích của Tổ quốc lên

trên lợi ích cá nhân, luôn chăm lo xây dựng và bảo vệ đất nước, có ý thức giữgìn, phát triển bản sắc dân tộc, luôn tự hào về dân tộc Tình yêu đất nước bắtnguồn từ những tình cảm bình dị, đơn sơ của mỗi người dân Tình cảm đómới đầu chỉ là sự quan tâm đến những người thân yêu ruột thịt rồi đến xómlàng, sau đó phát triển thành tình yêu Tổ quốc Tình yêu đất nước không phải

Trang 32

là tình cảm bẩm sinh mà là sản phẩm của sự phát triển lịch sử, gắn liền vớimột đất nước nhất định.

Tinh thần yêu nước nồng nàn gắn liền với tinh thần tự tôn, tự cường dântộc Tinh thần yêu nước, tự cường tự tôn dân tộc được biểu hiện rõ nét nhất trongthời kỳ đất nước bị các thế lực ngoại bang xâm lược, đô hộ và trong các cuộc đấutranh khắc phục sự tàn phá của thiên nhiên, chinh phục thiên nhiên Trên thế giớikhông có dân tộc nào lại trải qua quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ

Tổ quốc trường kỳ và đặc biệt như ở Việt Nam Trong khoảng thời gian từ thế kỉIII.TCN cho đến kháng chiến chống Mỹ, dân tộc ta đã dành hơn một nửa thờigian cho các cuộc kháng chiến giữ nước và và đấu tranh chống ngoại xâm, cáccuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng dân tộc Trong những thời kỳ như vậy,người Việt Nam không phân biệt người Kinh hay người dân tộc thiểu số, ngườisống trong nước hay nước ngoài, không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, chínhkiến đồng tâm hiệp lực, kết thành làn sóng nhấn chìm mọi sự xâm lăng, vượt quamọi thách thức Tinh thần yêu nước nồng nàn được truyền từ đời này qua đờikhác, thế hệ này sang thế hệ khác trở thành một dòng chảy liên tục, ăn sâu vàotrong tâm thức người Việt, trong cách cư xử đạo đức của người Việt Nam Lịch

sử của dân tộc Việt Nam đã cho thấy mỗi khi đất nước ta bị đe dọa, bị xâm lăng,

bị sự tàn phá của thiên nhiên thì con người Việt Nam có thể hi sinh tất cả, kể cảtính mạng của mình để chiến đấu với mọi kẻ thù, bảo vệ đất nước Chủ tịch Hồ

Chí Minh đã khẳng định: “Dân tộc ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là truyền thống quý báu của dân tộc ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó bước qua moi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả bè lũ bán nước và cướp nước” Những khi đất nước lâm nguy thì lòng yêu nước trở thành

chuẩn mực đạo đức, hành vi đạo đức hàng đầu của người Việt Nam

1.4.4 Đại lượng, bao dung với kẻ thù, tôn trọng hòa hiếu, tín nghĩa giữa các dân tộc, các quốc gia

Khoan dung hòa đồng của người Việt Nam bao gồm những nội dung rộnglớn: Khoan dung hòa đồng trong đối xử với thiên nhiên, trong đối xử giữa con

Trang 33

người với con người, trong đối xử bàng giao với các dân tộc khác Riêng trongứng xử giữa con người với con người thì đó là sự khoan dung hòa đồng giữa cácchủ thể, giữa các thế hệ, giữa các dân tộc, giữa các tín ngưỡng, giữa các giai cấp,giữa các tầng lớp…Sự khoan dung hòa đồng của người Việt Nam không chỉ bóhẹp trong nội bộ dân tộc Việt Nam mà còn bao hàm sự hòa đồng với bên ngoài,thậm chí với cả những người có thời gian là kẻ thù của dân tộc Nguyễn Trãi – vịanh hùng của dân tộc đã thay mặt nhân dân tuyên bố với kẻ thù giặc Minh bại

trận: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo…”,

“Muốn đi bộ thì ta cho ngựa, muốn đi thủy thì ta cấp thuyền…” Sự khoan dung

hòa đồng không chỉ về phương diện tinh thần mà còn phương diện lợi ích vậtchất Dĩ nhiên sự khoan dung hòa đồng của người Việt Nam không đồng nghĩanhất với sự dung thứ rộng lượng của bề trên, cũng như không phải một sự lép vế,nhún mình mang ơn kẻ dưới

Khoan dung có thể chưa đạt đến mức khoan hòa, bình đẳng song đã tiếpcận theo hướng đó dựa trên sự khiêm nhường, chủ động từ hai phía Khoan dungcủa người Việt dễ dẫn đến sự giao hảo chân tình, hòa đồng, chia sẻ, yêu thươngtrong cuộc sống Và đó cũng chính là biểu hiện của lòng nhân ái mộc mạc nhưngsâu sắc của người Việt Nam

Một số giá trị đạo đức truyền thống cơ bản đã giải trình ở trên có ảnh hưởngrất lớn lao đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam trảiqua các giai đoạn phát triển đất nước bao gồm hai mặt cơ bản là đức và tài mà chaông ta thường lấy đức làm gốc cho đến nay vẫn nguyên giá trị vì:

Những biểu hiện cơ bản của truyền thống đạo đức nói trên có thể chưa baoquát một cách toàn diện đầy đủ truyền thống đạo đức vốn rất tốt đẹp của dân tộc

ta, mà cần phải có sự khái quát tiếp tục Song với những biểu hiện cơ bản đó đãcho thấy tính đặc thù độc đáo của đạo đức dân tộc Việt Nam Những giá trị đạođức nói trên ngày càng được bồi đắp bởi các đặc điểm mới gắn liền với quá trìnhphát triển của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Tínhcách mạng, tính dân chủ, tính khoa học…là những đặc điểm mới mà sự phát triểncủa đất nước đã và đang đóng góp vào những giá trị truyền thống, làm cho giá trị

Trang 34

truyền thống của Việt Nam ngày càng cố hình thức và biều hiện mới hơn, có sứcsống và sinh động hơn.

1.5 Gíao dục nội dung hiếu kính, hiếu học và mối quan hệ giữa chúng cho học sinh THCS

1.5.1 Nội dung hiếu kính cha mẹ

Trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc và thời kỳ tự chủ, nhà nước phongkiến Việt Nam đã tôn Nho giáo lên quốc giáo Mãi đến năm 1919- thời kỳ thựcdân Pháp đô hộ - nền giáo dục Nho giáo chính thống mới được bãi bỏ Do đótrong quan niệm đạo hiếu truyền thống của cha ông ta không tránh khỏi ảnhhưởng tư tưởng của Khổng Mạnh Nhưng Nho giáo được dân tộc hóa, bản địahóa thành những giá trị tích cực góp phần xây dựng gia đình hạnh phúc, cộngđồng đất nước bền vững, phồn vinh

Hiếu thảo với cha mẹ là một nét đẹp văn hóa đã trở thành truyền thống,tiêu biểu cho cốt cách con người Việt Nam, là bước đi đầu tiên trên con đườnghoàn thiện đạo đức nhân cách Cha ông ta cho rằng đạo hiếu là gốc của đức nhân

(٨=): “): “Hiếu đễ giả kỳ vi nhân chi bản” Đạo hiếu truyền thống trong gia đình

người Việt có những biểu hiện khác nhau nhưng hội tụ ba điều cơ bản, lớn lao

nhất gọi là “Hiếu đại tam”

1 Đại hiếu tôn thân: có nghĩa là làm cho cha mẹ luôn phấn khởi, tự hào

vì thành tích lao động, học tập của con cái đem lại cho cha mẹ niềm vinh dự vớilàng xóm, cộng đồng (Dương danh gia, Hiển phụ mẫu) với niềm tin tưởng sâusắc về một tương lai tốt đẹp, tươi sáng của người công dân chân chính xứngđáng với công lao nuôi dưỡng của gia đình Đây là nội dung của mọi lứa tuổi

Về phương diện vật chất, người con phải: chăm sóc cha mẹ chu đáo, luôn

ý thức rằng thân thể mình được tạo thành từ máu thịt cha mẹ nên phải biết quýtrọng nó và phải lập gia đình, sinh con để nối dõi tông đường

Theo Mạnh Tử, xét về phương diện thế tục, có năm điều được xem là bấthiếu: thứ nhất cơ thể lười biếng, chẳng đoái hoài đến việc phụng dưỡng cha mẹ;thứ hai, đam mê cờ bạc rượu chè, chẳng nghĩ đến việc phụng dưỡng cha mẹ; thứ

ba, chạy theo của cải,tiền tài, chỉ nghĩ đến vợ con mà chẳng lo báo ân cha mẹ;

Trang 35

thứ tư, đắm vào dục lạc sắc thanh làm cho cha mẹ tủi nhục, phiền muộn; thứnăm, ưa thích sự kiêu hung, đấu tranh, tàn nhẫn làm nguy hại cho cha mẹ.

2 Thứ kỳ bất nhục: có nghĩa là nếu không thể đem lại niềm sung sướng

vinh dự cho cha mẹ, thì cũng đừng làm cho cha mẹ phiền lụy, lo âu, xấu hổ, nhụcnhã vì sa vào những tệ nạn xã hội, liên quan đến cả pháp luật, gây nên hậu họađối với gia đình Đây cũng là nội dung gần gũi với thế hệ trẻ

Ông cha ta cho rằng: Người con hiếu là người luôn giữ gìn và không làmtổn thương đến thân thể mà cha mẹ mình đã sinh ra, phải sống làm sao để lạidanh thơm tiếng tốt ở đời, làm cho cha mẹ, dòng tộc mình được rạng rỡ, lo chochữ hiếu, chữ trung trước rồi mới lo cho mình Đối với cha mẹ, lòng hiếu thảocủa người con phải được thể hiện trên cả hai phương diện vật chất lẫn tinh thần

3 Hạ kỳ năng dưỡng: là bậc giá trị thấp nhất trong “Hiếu đại tam”

thể hiện việc nuôi được cha mẹ lúc tuổi già sức yếu Đây là nét nghĩa vụ đặc

thù về đạo lý của gia đình, của xã hội loài người mang tính “di truyền kết nối” từ thế hệ sau đối với thế hệ trước nhằm đền đáp công ơn của cha mẹ:

gắn với tuổi trưởng thành:

Nuôi con cho đến vuông tròn Cha mẹ vất vả, xương mòn, gối long.

Nhưng việc nuôi dưỡng mà không thể hiện lòng tôn kính, ân cần, vui vẻ,niềm nở Ngược lại, luôn tỏ thái độ mặt nặng, mày nhẹ, giận cá chém thớt, đụng

rá, đá niêu, khinh thường cha mẹ, coi cha mẹ già là gánh nặng của con cái, đẩycha mẹ vào thảm cảnh:

“ Không ăn thì ốm, thì gầy

Ăn vào nước mắt chan đầy bát cơm”

thì cũng không được gọi là hiếu kính với cha mẹ như lời của Khổng Tử đã

khẳng định: “Ngày ngay có người cho rằng nuôi được cha mẹ là có hiếu Đến như con chó, con ngựa còn có người nuôi Nuôi mà không thể hiện sự tôn kính thì làm sao phân biệt được nuôi người và nuôi súc vật?” [Kim chi hiếu giả thi vị

Trang 36

năng dưỡng Chí ư khuyển, mã giai năng hữu dưỡng Bất kính Hà dĩ biệt hồ Luận ngữ - Vi chính 7].

-1.5.2 Nội dung hiếu học và mối quan hệ với hiếu kính

Hiếu học, tôn sư trọng đạo cũng là giá trị đạo đức truyền thống của dântộc Việt Nam Nhờ có tinh thần hiếu học mà thời đại nào, thế hệ nào cũng cónhững danh nhân, hào kiệt đủ tài cao, đức trọng giúp đời cứu dân như LýThường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi…và hàng trăm Tiến sĩ, Trạngnguyên, Thám hoa, Bảng nhãn đã được ghi tên trong 82 bia đá còn lưu giữ ở VănMiếu – Quốc tử giám

Theo Từ điển Tiếng Việt thì hiếu học là có thái độ ham học hỏi Nếu nhìncái tính hiếu học của con người từ góc độ thời gian – tính bằng cuộc đời conngười thì thái độ ham học hỏi của một người được trở thành tính hiếu học chỉ khi

mà thái độ ham học hỏi, ham hiểu biết đó được duy trì và thể hiện ra trong thờigian tồn tại của người đó Nói cách khác thì cái ham học đó được thấm sâu, biếnthành một thứ bản năng, một thứ nhu cầu tự nhiên không thể thiếu được củangười đó và được thể hiện ra trong suốt cuộc đời

Theo hai tác giả Phạm Khắc Chương - Hà Nhật Thăng: “Hiếu học là thích học, chăm học, là cần cù, vượt khó trong học tập, muốn hiểu biết mọi mặt để thành người”[45]

Như vậy có thể khẳng định rằng hiếu học là sự quan tâm, coi trọng việchọc của cộng đồng và sự nỗ lực học tập của người đi học Hiếu học là một truyềnthống dân tộc

Truyền thống hiếu học là tập hợp những quan niệm, thái độ, tập quán, thóiquen lâu đời về sự quan tâm coi trọng việc học tập và sự nỗ lực học tập của mộtcộng đồng, đã hình thành trong lịch sử, trở nên tương đối ổn định, được truyền từđời này sang đời khác và được thể hiện trong tâm lý, lối sống của cộng đồng Nộidung truyền thống hiếu học được thể hiện ở ba mảng chính:

- Sự quan tâm coi trọng việc học tập của cộng đồng

- Sự nỗ lực học tập của người đi học

Trang 37

- Các biều hịên về mục tiêu học tập tạo động lực cho sự quan tâm đến việchọc tập của cả cộng đồng và sự nỗ lực học tập của cá nhân người học.

Truyền thống hiếu học hiện diện trong lịch sử dân tộc thông qua nhữngbiểu hiện của nó, đó là:

tố quyết định sự phát triển của thế giới hiện đại.Việc học tập liên quan tới hầu hếtmọi gia đình, mọi thành viên của xã hội Nếu được khơi dậy, truyền thống hiếuhọc sẽ tạo được sức mạnh nội sinh mạnh mẽ trên cơ sở tổng hợp được sức mạnhcủa hàng triệu con người Việt Nam quan tâm đến giáo dục, làm thành động lực tolớn thúc đẩy sự phát triển

Truyền thống hiếu học có vai trò như vậy nên việc giáo dục nội dung hiếuhọc là thực sự cần thiết Giáo dục truyền thống hiếu học phải cung cấp cho ngườiđược giáo dục những hiểu biết về truyền thống hiếu học ở những mức độ khácnhau tuỳ theo yêu cầu Đó là những nội dung như:

1.Giáo dục lòng ham học, ham hiểu biết

Trang 38

Ham học là đặc điểm không thể thiếu của hiếu học Ham học thể hiện sự

nỗ lực cố gắng của bản thân người đi học trong quá trình học tập

Không học con người sẽ không biết được đạo lý, sẽ lâm vào vong ngu tối.Không được đạo lý dẫn dắt, người ta sẽ dễ dàng đi đến chỗ hành động một cách

vô đạo Muốn hữu đạo thì phải học Có học vấn con người hiểu được đạo lý đểlàm người và có cơ hội để thăng tiến xã hội Sự học còn tạo ra niềm vui chongười đi học trong qúa trình học tập Cho nên sĩ tử phải ham học như Khổng Tử

đã nhiều lần nhấn mạnh Mặt khác, hằng ngày học sinh phải trau dồi một khốilượng kiến thức rất lớn với những nội dung về trí dục, đức dục, mỹ dục, thể dục,giáo dục lao động Do đó, buộc người học phải ham học Mặt khác, sự hấp dẫncủa kiến thức mà người học tìm thấy trong quá trình học tập, những điều giúp íchcho cuộc sống hiện tại và tương lai của các em mà nếu không học các em sẽkhông giải quyết được

2 Giáo dục tư tưởng học để làm người

Quan niệm này có cội nguồn sâu xa từ lối sống trọng tình nghĩa củangười dân nông nghiệp trồng lúa nước phương Nam, nhưng chủ yếu nó đượchình thành bởi ảnh hưởng của tư tưởng nho giáo và trở thành mục tiêu chính yếucủa nền giáo dục Việt Nam dưới chế độ Phong kiến Nho giáo rất đề cao conngười, tìm hiểu con người trong các mối quan hệ người - người, gắn với hoàncảnh môi trường mà con người sinh sống Nó dẫn dắt con người đi vào đời sống

xã hội có tổ chức, theo hướng xây dựng một chế độ quân chủ vua sáng tôi hiền,thỉên hạ thái bình thịnh trị, con người sống với nhau một cách hoà đồng Để thựchiện lý tưởng đó, người ta cần phải sống theo Đạo làm người

Đạo làm người của dân tộc Việt Nam được hình thành trên cơ sở tiếp thunhững tinh hoa của Nho giáo và nền tảng đạo đức dân tộc Đạo làm người đượcthể hiện ở lòng yêu nước thương dân, ở lối sống tình nghĩa lá lành đùm lá rách, ởlòng thương người như thể thương thân, ở tình cảm vợ chồng thuỷ chung, tìnhcảm hiếu thảo của con cái với bố mẹ, tình anh chị em trong gia đình…

Muốn làm người thì phải học để nắm được đạo làm người mà không phảihọc một cách bình thường mà là ham học

Trang 39

3.Giáo dục tinh thần, ý chí vượt khó trong học tập

Kiên trì vượt khó trong học tập là đòi hỏi tất yếu đối với người đi học ở xãhội Việt Nam cổ truyền Cái hấp dẫn của sự học và những khó khăn cản trở sựhọc thường đi liền với nhau Sự ham học và sự chán học cũng có thể đi liền vớinhau trong gang tấc và có khi chuyển hoá lẫn nhau tuỳ thuộc vào ý chí của người

đi học Cho nên có sự ham học đã khó, nhưng duy trì sự ham học lâu dài lại càngkhó hơn Kiên trì vượt khó chính là đức tính không thể thiếu bổ sung cho tinhthần ham học, làm cho ham học được duy trì lâu dài một cách bền vững

Phải kiên trì vượt khó trong học tập có nghĩa là có rất nhiều khó khăn cảntrở sự học và người học trò phải kiên trì vượt qua những khó khăn này thì mới cóthể đạt được mục tiêu học tập Một trong những cách khắc phục khó khăn về mặtkinh tế mà người học trò phải làm là vừa học vừa làm Các hình thức vừa họcvừa làm của người học trò xưa rất đa dạng, nhưng những hình thức phổ bíên nhấtlà: làm ruộng, dạy học, làm thuê, đi ở…

Ngày nay chúng ta bắt gặp những tấm gương vì hiếu học nên kiên trì khắcphục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập

Ngày nay, tự học rất cần thiết đối với mỗi học sinh trong quá trình họctập Nó giúp học sinh phát huy được tính tự giác, tích cực, chủ động của mìnhtrong việc chiếm lĩnh tri thức Từ đó giúp các em thích ứng được với sự năngđộng của xã hội hiện đại

5.Giáo dục tư tưởng học suốt đời

Trang 40

Học suốt đời là khái niệm dùng để chỉ thời gian học tập của người học trò,theo đó việc học tập không bị giới hạn bởi một độ tuổi đi học nhất định nào màđược tiến hành suốt cuộc đời con người, kể từ khi ấu thơ cho đến lúc tuổi già.

Học suốt đời là một biểu hiện tiêu biểu thể hiện ý chí học tập cao củangười đi học Chính nhờ có ý chí học tập cao mà nhiều học trò xưa không chỉgiới hạn sự học của mình trong một thời gian nào đó mà đã theo đuổi việc họctập đến tận khi đã bạc mái đầu để mong giành được bảng vàng Cũng có nhiều người

đỗ đạt ra làm quan, hoặc đã đỗ đạt nhưng không ra làm quan, đã làm quan nhưng đãcáo quan về hưu hoặc đơn giản là học mà không đi thi, vẫn tiếp tục học tập để có thêmkiến thức nhằm làm tốt hơn công việc đang làm, để thoả mãn nhu cầu hiểu biết của bảnthân, để tạo niềm vui sống, và hơn thế nữa để tích luỹ kiến thức, biên soạn trước tácnhằm đóng góp cho đời những công trình có giá trị, hữu ích…

6 Giáo dục sự sáng tạo trong học tập

Sáng tạo là việc tìm ra cái mới, là cách thức giải quyết mới không phụthuộc vào cái có sẵn Sáng tạo tất yếu sẽ dẫn đến việc tạo ra những giá trị vật chất

và tinh thần mới cho xã hội Sáng tạo trong học tập là việc học tập một cách chủđộng, đào sâu suy nghĩ, tìm tòi phát hiện ra những ý nghĩ sâu xa của kiến thức đãhọc, biết vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề của thực tiễn theocách của mình phối hợp với bối cảnh và điều kiện mới của đời sống xã hội Caohơn nữa, trên cơ sở những kiến thức đã học kết hợp với những gì đã học được từthực tiễn đời sống, người học có thể khái quát lại thành những tri thức mới, từ đógiúp con người làm ra những sản phẩm mới cả về vật chất và tinh thần

Càng sáng tạo trong học tập, người học trò xưa càng có khả năng thànhđạt trên con đường khoa cử và lập thân lập nghiệp Học sáng tạo chính là cáchhọc đào tạo nhân tài cho đất nước Xã hội càng phát triển và biến đổi mau lẹ,càng đòi hỏi việc học tập phải có tính sáng tạo cao để đào tạo được những conngười có năng lực đáp ứng được yêu cầu của thời đại mới Học không sáng tạo,kém sáng tạo sẽ dẫn đến tụt lùi,lạc hậu Chính vì vậy, việc giữ gìn và phát huytinh thần học tập sáng tạo trong di sản truyền thống dân tộc có tầm quan trọngđặc biệt đối với một đất nước đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá như

Ngày đăng: 12/04/2016, 12:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Phạm Khắc Chương: Lịch sử tư tưởng giáo dục thế giới, NXB ĐHSP- 2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng giáo dục thế giới
Nhà XB: NXB ĐHSP- 2006
8. Vũ Khiêu: Nho giáo và phát triển ở Việt Nam – NXB Khoa học xã hội 1997, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và phát triển ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội1997
9. Dịch giả Đoàn Trung Còn: Tứ thư – Luận ngữ, NXB Trí Đức Tòng Thơ- 1950, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tứ thư – Luận ngữ
Nhà XB: NXB Trí Đức Tòng Thơ-1950
10. Đại Lãn: 99 gương hiếu thảo, hiếu học Việt Nam, NXB Thanh niên -2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 gương hiếu thảo, hiếu học Việt Nam
Nhà XB: NXB Thanh niên -2004
11. Nguyễn Trãi: Giáo huấn diễn ca- Bình dân thư quán cuối chợ Đồng Xuân, xuất bản 1932, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo huấn diễn ca- Bình dân thư quán cuối chợ Đồng Xuân
12. GS.TSKH Huỳnh Khái Vinh: Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội, NXB Chính trị quốc gia 2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giátrị xã hội
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia 2001
13. Nguyễn Ngọc Bảo – Hà Thị Đức: Hoạt động dạy học ở trường trung học cơ sở, NXB Giáo dục – 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động dạy học ở trường trung học cơsở
Nhà XB: NXB Giáo dục – 2000
14. GS.Hà Nhật Thăng (chủ biên): Tổ chức hoạt động giáo dục, Hà Nội -1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động giáo dục
15. GS.Hà Nhật Thăng (chủ biên): Hoạt động giáo dục ở trường trung học cơ sở, NXB Giáo dục -2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giáo dục ở trường trung học cơsở
Nhà XB: NXB Giáo dục -2001
16. GS. Đặng Vũ Hoạt, PGS Nguyễn Sinh Huy: Đạo đức, giảng dạy và giáo dục ở trường trung học cơ sở, NXB Giáo dục – 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức, giảng dạy và giáodục ở trường trung học cơ sở
Nhà XB: NXB Giáo dục – 1996
17. PGS.PTS. Trần Hậu Kiêm (chủ biên), Giáo trình Đạo đức học, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội – 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đạo đức học
Nhà XB: NXB Chínhtrị Quốc gia Hà Nội – 1996
18. GS. Thái Duy Tuyên (chủ biên): Tìm hiểu Định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường, Hà Nội – 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Định hướng giá trị của thanhniên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường
19. Đặng Vũ Hoạt: Giáo dục giá trị ở một số nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Viện nghiên cứu khoa học giáo dục,Hà Nội – 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục giá trị ở một số nước trong khu vực Châu Á –Thái Bình Dương
20. Lê Văn Hồng (chủ biên): Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm, NXB Giáo dục – 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm
Nhà XB: NXBGiáo dục – 2000
21. Trần Quốc Thành: Vai trò của giáo dục đạo đức, nếp sống trong việc hình thành nhân cách của thanh thiếu niên, NXB Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của giáo dục đạo đức, nếp sống trong việc hìnhthành nhân cách của thanh thiếu niên
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm Hà Nội
23. Tạp chí giáo dục: “Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên”. Số 116, tháng 6/2005. TS.Đinh Thế Định. Trường ĐH Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí giáo dục": “Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên
24. Tạp chí giáo dục: “Giáo dục giá trị truyền thống cho thế hệ trẻ”, số 181, tháng 1/2008.TS. Trần Viết Lưu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí giáo dục": “Giáo dục giá trị truyền thống cho thế hệ trẻ
25. Tạp chí Giáo dục: “Sự hình thành và tồn tại đạo hiếu trong gia đình truyền thống ở Việt Nam”, Số 214, tháng 5/2009. TS. Trần Đăng Sinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Giáo dục": “Sự hình thành và tồn tại đạo hiếu trong gia đình truyềnthống ở Việt Nam
26. Tạp chí triết học: “Đạo đức trong đời sống kinh tế”, số tháng 2/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí triết học": “Đạo đức trong đời sống kinh tế
1. Ban tư tưởng – văn hóa TW: Tài liệu nghiên cứu Đại hội IX của Đảng, NXB chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Mức độ cần thiết của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống - Biện pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THCS ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Bảng 1 Mức độ cần thiết của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống (Trang 62)
Bảng 2: Mức độ quan trọng của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống - Biện pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THCS ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Bảng 2 Mức độ quan trọng của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống (Trang 63)
Bảng 3: Nhận thức của học sinh về sự cần thiết phải giáo dục các giá trị đạo đức - Biện pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THCS ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Bảng 3 Nhận thức của học sinh về sự cần thiết phải giáo dục các giá trị đạo đức (Trang 64)
Bảng 7 cho thấy có sự đồng thuận của cán bộ giáo viên và phụ huynh học sinh với ý kiến tự nhận xét của học sinh về ý chí “kiên trì vượt qua khó khăn - Biện pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THCS ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Bảng 7 cho thấy có sự đồng thuận của cán bộ giáo viên và phụ huynh học sinh với ý kiến tự nhận xét của học sinh về ý chí “kiên trì vượt qua khó khăn (Trang 73)
Bảng 9 cho thấy các phương pháp  thuộc nhóm hình thành ý thức cá nhân được sử dụng ở các mức độ khác nhau: Được sử dụng thường xuyên nhất là phương pháp giảng giải (250 sử dụng ở mức độ thường xuyên, chiếm 83.3%), điểm trung bình X = 2.8, xếp vị trí thứ n - Biện pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THCS ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Bảng 9 cho thấy các phương pháp thuộc nhóm hình thành ý thức cá nhân được sử dụng ở các mức độ khác nhau: Được sử dụng thường xuyên nhất là phương pháp giảng giải (250 sử dụng ở mức độ thường xuyên, chiếm 83.3%), điểm trung bình X = 2.8, xếp vị trí thứ n (Trang 84)
Bảng 10: Mức độ vận dụng nhóm phương pháp tổ chức hoạt động và hình thành - Biện pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THCS ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Bảng 10 Mức độ vận dụng nhóm phương pháp tổ chức hoạt động và hình thành (Trang 86)
Bảng 13 cho thấy các biện pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THCS ở Quỳnh Lưu là khá phong phú - Biện pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THCS ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Bảng 13 cho thấy các biện pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THCS ở Quỳnh Lưu là khá phong phú (Trang 92)
Bảng 4: Đối tượng khảo nghiệm - Biện pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THCS ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Bảng 4 Đối tượng khảo nghiệm (Trang 132)
Bảng 3 Nhận   thức   của   học   sinh   về   sự   cần   thiết   phải   giáo   dục   các - Biện pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THCS ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Bảng 3 Nhận thức của học sinh về sự cần thiết phải giáo dục các (Trang 164)
Bảng 6 Biểu hiện giá trị đạo đức truyền thống trong hiếu kính với cha mẹ Bảng 7 Biểu hiện giá trị đạo đức truyền thống trong học tập - Biện pháp giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THCS ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Bảng 6 Biểu hiện giá trị đạo đức truyền thống trong hiếu kính với cha mẹ Bảng 7 Biểu hiện giá trị đạo đức truyền thống trong học tập (Trang 165)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w