2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề SGK có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân nên từ lâu đã trở thành mối quan tâm của nhiều nhà khoa học giáo dục cũng như toàn xã hội. Đến nay, có nhiều công trình nghiên cứu về SGK nói chung, SGK lịch sử nói riêng liên quan đến đề tài này : 2.1. Tài liệu nước ngoài Thông qua nguồn tài liệu dịch, chúng tôi đã tiếp cận được một số công trình sau: Các nhà giáo dục học và lí luận dạy học Liên Xô đi đầu trong nghiên cứu về SGK như: E.Ia.Goolan, B.P.Exipop, N.G Dairi, I.F. Kharlamop…. Trong cuốn “Những phương pháp dạy học trong nhà trường Xô Viết” tại Maxcova, xuất bản năm 1957, tác giả E.Ia.Goolan đã khẳng định vài trò của việc sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học trong nhà trường Xô viết, tập trung nhấn mạnh ảnh hưởng của SGK đối với việc chuẩn bị bài tập ở nhà của HS. Trong cuốn Chuẩn bị giờ học như thế nào? của N.G.Dairi (Đặng Bích Hà, Nguyễn Cao Lũy dịch, NXB Giáo dục1973), tác giả không chỉ quan tâm đến yêu cầu biên soạn SGK mà còn giải quyết một cách khoa học việc sử dụng SGK như thế nào để đạt hiệu quả cao. Tác giả đề cập đến mối tương quan giữa nội dung SGK và bài giảng của thầy giáo trong một giờ học. Theo tác giả, vấn đề đầu tiên là mối tương quan giữa tài liệu của SGK và tài liệu chứa đựng trong bài giảng của thầy giáo trong giờ lên lớp. Tác giả chỉ ra có 4 vấn đề tùy thuộc vào mối tương quan này, trong đó có hứng thú đối với giờ học và SGK. Công thức sơ đồ Đai ri đã giúp chúng ta hướng dẫn HS sử dụng SGK trong dạy học lịch sử một cách có hiệu quả. Trong cuốn Phát huy tính tích cực của HS như thế nào của Kharlamop, tập II ( NXB Giáo dục, 1979) đã trình bày về vị trí và vai trò của SGK, sử dụng SGK trên lớp một cách có hiệu quả. SGK giữ một “vị trí” đáng kể trong việc nắm vững kiến thức và phát huy tính tích cực học tập ở HS. Như vậy, những đóng góp của N.G.Dairi về nghiên cứu giờ học lịch sử nói chung và SGK nói riêng đã giúp chúng ta có được những định hướng cơ bản về việc sử dụng SGK đạt hiệu quả cao nhất. 2.2. Tài liệu trong nước 2.2.1 Tài liệu giáo dục học – tâm lí học: Nghiên cứu SGK không chỉ là đề tài được các nhà khoa học nước ngoài quan tâm mà các nhà giáo dục học trong nước hết sức chú ý. Trong cuốn Giáo dục học tập 1 (Hà Thế Ngữ Đặng Vũ Hoạt, NXB Giáo dục Hà Nội 1978), các tác giả đã nêu lên các vấn đề cơ bản của SGK và phương pháp sử dụng SGK trong học tập của HS và giảng dạy của GV. Cuốn Xã hội với SGK do NXB Giáo dục phát hành, là tập hợp các bài viết về CT SGK và việc đổi mới CT SGK được đăng tải trên các báo chí của nhiều tác giả khác nhau. Bên cạnh những vấn đề như đổi mới CT SGK, nội dung sách, công tác phát hành, có tác giả đề cập đến quy trình biên soạn SGK ở Việt Nam. Đó là cơ sở để thấy được những ưu điểm và hạn chế trong việc biên soạn SGK hiện nay và so sánh với cách biên soạn SGK ở các nước trên thế giới. 2.2.2 Tài liệu phương pháp dạy học Cuốn Đổi mới phương pháp dạy học, CT và SGK của tác giả Trần Bá Hoành. Mặc dù vấn đề SGK không phải là vấn đề trọng tâm của sách nhưng trong đó cũng có một phần nhỏ trình bày một cách cặn kẽ, cụ thể về SGK như tổ chức biên soạn, tiến độ triển khai, xuất bản và phát hành SGK. Đặc biệt tác giả còn có những đánh giá về CT SGK hiện nay cả mặt ưu điểm lẫn hạn chế. Đây là cơ sở để hiểu rõ quá trình biên soạn SGK ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề tài có những luận cứ xác thực về những mặt còn tồn tại trong việc biên soạn SGK ở Việt Nam. Trong cuốn “Phương pháp dạy hoc lịch sử” (NXB Giáo dục, 1992), được tái bản, sửa chữa, bổ sung vào năm 1998, 1999, 2000,2001 do Giáo sư Phan Ngọc Liên và Trần Văn Trị chủ biên đã đề cập đến việc xây dựng CT và biên soạn SGK lịch sử ở trường THPT. Trong cuốn Giáo trình phương pháp dạy học lịch sử tập 1, Phan Ngọc Liên (chủ biên), Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng, NXB Đại hoc sư phạm năm 2010, các tác giả đều khẳng định, CT được thể hiện cụ thể ở SGK, do đó cần tìm hiểu kĩ, toàn diện loại tài liệu học tập này. Các tác giả đưa ra những nhận xét, đánh giá về vị trí, ý nghĩa của SGK trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông; cấu tạo SGK lịch sử và từ cấu tạo chung, các tác giả đi sâu nghiên cứu về cấu tạo bài viết của SGK; phần cơ chế sư phạm của SGK lịch sử. Trong cuốn Giáo trình phương pháp dạy học lịch sử tập 2, Phan Ngọc Liên (chủ biên), Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng, NXB Đại học sư phạm năm 2010, ở chương X, phần III, các tác giả đưa ra phương pháp sử dụng hiệu quả SGK và các tài liệu học tập. Các tác giả nhấn mạnh vai trò của SGK đối với GV và HS. Từ đó, các tác giả xác định có hai cách sử dụng SGK chủ yếu đó là: Thứ nhất, trong giờ học, GV trình bày bài giảng của mình được soạn theo nội dung SGK, giúp HS nắm những sự kiện cơ bản nhất. Thứ hai, hướng dẫn HS nghiên cứu, nắm được nội dung bài viết cũng như phần tư liệu học tập, chú trọng rèn luyện tính tự học cho các em. Đề tài nghiên cứu khoa học Mô hình SGV trung học hiện đại: Dạy và học môn lịch sử theo hướng đổi mới phương pháp dạy học (chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Trịnh Đình Tùng, các thành viên GS.TS Nguyễn Thị Côi, TS Nguyễn Mạnh Hưởng) tháng 2 năm 2012. Đề tài mang tính cấp thiết, thời sự trong bối cảnh chuẩn bị cho lộ trình thay sách năm 2015. Bên cạnh việc đề cập đến SGV, các tác giả cũng dành một số nội dung viết về SGK lịch sử hiện nay và nhu cầu đổi mới. Các tác giả đưa ra một số yêu cầu cơ bản đối với SGV, đề xuất xây dựng mô hình SGV hiện đại môn lịch sử và minh họa một số bài cụ thể ở lớp 11 THPT.
Trang 1Cuộc cách mạng khoa học công nghệ ngày nay phát triển như vũ bão, thànhtựu của nó không chỉ được ứng dụng trong sản xuất mà trong mọi mặt đời sống xãhội, trong đó có giáo dục Đó là sự xuất hiện ngày càng nhiều các phương tiện, kĩthuật, thiết bị hỗ trợ dạy học Tuy nhiên, không một phương tiện dạy học nào có thểthay thế hoàn toàn SGK SGK có vị trí trung tâm trong tổ hợp sách và tài liệu dùngtrong nhà trường, giữ vị trí chủ đạo đối với các phương tiện dạy học.
Đối với GV, SGK quy định phạm vi và mức độ kiến thức, kỹ năng cần phảitruyền đạt đến HS SGK là tài liệu quan trọng của GV trong quá trình soạn giáo án,tiến hành bài giảng, tổ chức lớp học và đánh giá HS
Đối với HS, SGK là nguồn cung cấp những kiến thức cơ bản của môn học,phát triển kỹ năng làm bài tập, hình thành và phát triển ở các em phương pháp họctập, nghiên cứu khoa học, thu thập và xử lý thông tin, vận dụng vào thực tiễn và tựkiểm tra đánh giá kết quả học tập của mình Là tài liệu thể hiện nội dung chủ yếu của
CT, ngoài việc cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản, chính xác, hiện đại, có hệthống, SGK còn bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức, trí tuệ, tình cảm tốt đẹp củacon người Nó xứng đáng là người bạn trí tuệ của HS
Do đó, việc nghiên cứu SGK có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác dạyhọc và nghiên cứu khoa học giáo dục, đặc biệt trong thời kì phát triển hội nhập vàđổi mới giáo dục hiện nay
1.2 Xuất phát từ yêu cầu đổi mới giáo dục, trong đó có đổi mới phương phápdạy học bộ môn lịch sử
Trang 2Bất kì một CT giáo dục nào cũng có tuổi thọ nhất định, không có CT nào tồntại vĩnh cửu CT, SGK hiện hành được thực hiện từ năm 2002-2003, đến nay đã đượchơn chục năm và bắt đầu bộc lộ nhiều bất cập Sự thay đổi CT đòi hỏi SGK cũng phảithay đổi theo cho phù hợp với CT mới SGK môn lịch sử cũng không nằm ngoài quyluật đó.
Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2001-2010 của cả nước từng đề
ra nhiệm vụ: “Khẩn trương biên soạn và đưa vào sử dụng ổn định trong cả nước bộ
CT và SGK phổ thông phù hợp với yêu cầu phát triển mới” (44; 7) Từ đó, trongChiến lược phát triển giáo dục năm 2001-2010 của Bộ Giáo Dục đã cụ thể hóa yêu
cầu này “ Đổi mới CT, SGK giáo dục phổ thông sau năm 2015 theo hướng tiếp cận năng lực, vừa đảm bảo tính thống nhất trong toàn quốc, vừa vận dụng phù hợp ở các địa phương Chú trọng nội dung giáo dục đạo đức, pháp luật, thể chế, quốc phòng,
an ninh và các giá trị văn hóa truyền thống ” (44;7)
Vì vậy, việc định hướng, biên soạn lại SGK nói chung, SGK lịch sử nói riêngtheo hướng đổi mới đang trở thành một yêu cầu cấp thiết trước thềm lộ trình thaysách năm 2015
1.3 Xuất phát từ xu thế cải cách giáo dục thế giới, trong đó Pháp là nước điđầu, trở thành một trong những quốc gia có nền giáo dục tiến tiến, hiện đại nhất trênthế giới
Từ cuối thế kỉ XX, nhiều quốc gia trên thế giới đã chuẩn bị và triển khai cảicách giáo dục, tập trung chủ yếu vào giáo dục phổ thông Trong đó, hai mắt xích quantrọng nhất chính là CT và SGK CT của các nước đều hướng đến mục tiêu: nâng caochất lượng giáo dục, trực tiếp góp phần cải cách nguồn nhân lực, nâng cao chất lượngsống của con người; khắc phục tình trạng học tập nặng nề, căng thẳng, gây mất hứngthú và niềm tin với việc học tập của HS; yêu cầu quá cao về mặt lí thuyết mà xem nhẹthực hành, năng lực hoạt động thực tiễn của người học bị hạn chế
Pháp là nước có nền giáo dục tiên tiến hàng đầu thế giới, đồng thời cũng lànước hết sức chú trọng đối với việc cải cách giáo dục SGK lịch sử phổ thông nướcCcộng hòa Pháp tiếp cận ba xu thế trên khá rõ nét với nhiều ưu điểm vượt trội cả về
Trang 3hình thức và nội dung Mục tiêu đề ra của môn học lịch sử THPT ở Pháp bên cạnhviệc cung cấp kiến thức, còn hướng đến rèn luyện nhiều kĩ năng cho người học Nhìn
ra thế giới, chúng ta học tập kinh nghiệm biên soạn SGK của nước ngoài, đề xuấtnhững định hướng cho việc biên soạn SGK Lịch sử sao cho phù hợp với thực tiễnViệt Nam nhằm nâng cao chất lượng dạy và học là việc làm hết sức cần thiết
1.4 Những năm gần đây, nhiều bộ SGK nước ngoài nói chung và SGK lịch
sử nước Pháp nói riêng đã lần lượt được giới thiệu vào nước ta thông qua sách báo,tạp chí, triển lãm Tuy nhiên, tài liệu nghiên cứu về SGK lịch sử nước Pháp ở nước
ta còn khá khiêm tốn Trong phạm vi có hạn của luận văn, chúng tôi mong muốngiới thiệu một cách cụ thể về cấu tạo SGK lịch sử bậc THPT của cộng hòa Pháp,trên cơ sở đó so sánh những nét tương đồng và khác biệt với SGK lịch sử Việt Nam
và đề xuất định hướng biên soạn một bài học trên cơ sở tiếp thu kinh nghiệm củanước Pháp, vận dụng vào thực tiễn Việt Nam
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn vấn đề “Cấu tạo SGK lịch sử bậc THPT của cộng hòa Pháp và khả năng vận dụng vào Việt Nam qua nội dung: Các quốc gia cổ đại phương Tây - Hi Lạp và Rô ma” làm đề tài luận
văn cao học
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
SGK có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dânnên từ lâu đã trở thành mối quan tâm của nhiều nhà khoa học giáo dục cũng nhưtoàn xã hội Đến nay, có nhiều công trình nghiên cứu về SGK nói chung, SGK lịch
sử nói riêng liên quan đến đề tài này :
2.1 Tài liệu nước ngoài
Thông qua nguồn tài liệu dịch, chúng tôi đã tiếp cận được một số công trình sau:Các nhà giáo dục học và lí luận dạy học Liên Xô đi đầu trong nghiên cứu về
SGK như: E.Ia.Goolan, B.P.Exipop, N.G Dairi, I.F Kharlamop….
Trong cuốn “Những phương pháp dạy học trong nhà trường Xô Viết” tại Maxcova, xuất bản năm 1957, tác giả E.Ia.Goolan đã khẳng định vài trò của việc sử
Trang 4dụng kết hợp các phương pháp dạy học trong nhà trường Xô viết, tập trung nhấnmạnh ảnh hưởng của SGK đối với việc chuẩn bị bài tập ở nhà của HS.
Trong cuốn Chuẩn bị giờ học như thế nào? của N.G.Dairi (Đặng Bích Hà,
Nguyễn Cao Lũy dịch, NXB Giáo dục-1973), tác giả không chỉ quan tâm đến yêucầu biên soạn SGK mà còn giải quyết một cách khoa học việc sử dụng SGK như thếnào để đạt hiệu quả cao Tác giả đề cập đến mối tương quan giữa nội dung SGK vàbài giảng của thầy giáo trong một giờ học Theo tác giả, vấn đề đầu tiên là mốitương quan giữa tài liệu của SGK và tài liệu chứa đựng trong bài giảng của thầygiáo trong giờ lên lớp Tác giả chỉ ra có 4 vấn đề tùy thuộc vào mối tương quan này,trong đó có hứng thú đối với giờ học và SGK Công thức sơ đồ Đai ri đã giúp chúng
ta hướng dẫn HS sử dụng SGK trong dạy học lịch sử một cách có hiệu quả
Trong cuốn Phát huy tính tích cực của HS như thế nào của Kharlamop, tập II
( NXB Giáo dục, 1979) đã trình bày về vị trí và vai trò của SGK, sử dụng SGK trênlớp một cách có hiệu quả SGK giữ một “vị trí” đáng kể trong việc nắm vững kiếnthức và phát huy tính tích cực học tập ở HS
Như vậy, những đóng góp của N.G.Dairi về nghiên cứu giờ học lịch sử nóichung và SGK nói riêng đã giúp chúng ta có được những định hướng cơ bản về việc
sử dụng SGK đạt hiệu quả cao nhất
2.2 Tài liệu trong nước
2.2.1 Tài liệu giáo dục học – tâm lí học:
Nghiên cứu SGK không chỉ là đề tài được các nhà khoa học nước ngoài quantâm mà các nhà giáo dục học trong nước hết sức chú ý
Trong cuốn Giáo dục học tập 1 (Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt, NXB Giáo
dục Hà Nội 1978), các tác giả đã nêu lên các vấn đề cơ bản của SGK và phươngpháp sử dụng SGK trong học tập của HS và giảng dạy của GV
Cuốn Xã hội với SGK do NXB Giáo dục phát hành, là tập hợp các bài viết về
CT SGK và việc đổi mới CT SGK được đăng tải trên các báo chí của nhiều tác giảkhác nhau Bên cạnh những vấn đề như đổi mới CT SGK, nội dung sách, công tácphát hành, có tác giả đề cập đến quy trình biên soạn SGK ở Việt Nam Đó là cơ sở
Trang 5để thấy được những ưu điểm và hạn chế trong việc biên soạn SGK hiện nay và sosánh với cách biên soạn SGK ở các nước trên thế giới.
Tài liệu phương pháp dạy học
Cuốn Đổi mới phương pháp dạy học, CT và SGK của tác giả Trần Bá Hoành.
Mặc dù vấn đề SGK không phải là vấn đề trọng tâm của sách nhưng trong đó cũng
có một phần nhỏ trình bày một cách cặn kẽ, cụ thể về SGK như tổ chức biên soạn,tiến độ triển khai, xuất bản và phát hành SGK Đặc biệt tác giả còn có những đánhgiá về CT SGK hiện nay cả mặt ưu điểm lẫn hạn chế Đây là cơ sở để hiểu rõ quátrình biên soạn SGK ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề tài có những luận cứ xác thực
về những mặt còn tồn tại trong việc biên soạn SGK ở Việt Nam
Trong cuốn “Phương pháp dạy hoc lịch sử” (NXB Giáo dục, 1992), được tái
bản, sửa chữa, bổ sung vào năm 1998, 1999, 2000,2001 do Giáo sư Phan Ngọc Liên
và Trần Văn Trị chủ biên đã đề cập đến việc xây dựng CT và biên soạn SGK lịch sử
ở trường THPT.
Trong cuốn Giáo trình phương pháp dạy học lịch sử tập 1, Phan Ngọc Liên
(chủ biên), Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng, NXB Đại hoc sư phạm năm 2010,các tác giả đều khẳng định, CT được thể hiện cụ thể ở SGK, do đó cần tìm hiểu kĩ,toàn diện loại tài liệu học tập này Các tác giả đưa ra những nhận xét, đánh giá về vịtrí, ý nghĩa của SGK trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông; cấu tạo SGK lịch sử
và từ cấu tạo chung, các tác giả đi sâu nghiên cứu về cấu tạo bài viết của SGK; phần
cơ chế sư phạm của SGK lịch sử
Trong cuốn Giáo trình phương pháp dạy học lịch sử tập 2, Phan Ngọc Liên
(chủ biên), Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng, NXB Đại học sư phạm năm 2010, ởchương X, phần III, các tác giả đưa ra phương pháp sử dụng hiệu quả SGK và cáctài liệu học tập Các tác giả nhấn mạnh vai trò của SGK đối với GV và HS Từ đó,
các tác giả xác định có hai cách sử dụng SGK chủ yếu đó là: Thứ nhất, trong giờ
học, GV trình bày bài giảng của mình được soạn theo nội dung SGK, giúp HS nắm
những sự kiện cơ bản nhất Thứ hai, hướng dẫn HS nghiên cứu, nắm được nội dung
bài viết cũng như phần tư liệu học tập, chú trọng rèn luyện tính tự học cho các em
Trang 6Đề tài nghiên cứu khoa học Mô hình SGV trung học hiện đại: Dạy và học môn lịch sử theo hướng đổi mới phương pháp dạy học (chủ nhiệm đề tài: PGS.TS
Trịnh Đình Tùng, các thành viên GS.TS Nguyễn Thị Côi, TS Nguyễn MạnhHưởng) tháng 2 năm 2012 Đề tài mang tính cấp thiết, thời sự trong bối cảnh chuẩn
bị cho lộ trình thay sách năm 2015 Bên cạnh việc đề cập đến SGV, các tác giả cũngdành một số nội dung viết về SGK lịch sử hiện nay và nhu cầu đổi mới Các tác giảđưa ra một số yêu cầu cơ bản đối với SGV, đề xuất xây dựng mô hình SGV hiện đạimôn lịch sử và minh họa một số bài cụ thể ở lớp 11 THPT
2.2.3 Các nguồn tài liệu khác
Trong luận án tiến sĩ khoa học giáo dục SGK của trường PTTH Việt Nam
từ năm 1954 đến nay của Phạm Thị Kim Anh,1998, Đại học quốc gia Hà Nội và Đại học sư phạm Hà Nội, Hà Nội, tác giả nghiên cứu về lịch sử SGK trải qua các
giai đoạn và tổng kết, nhận xét, đánh giá, rút ra bài học kinh nghiệm từ việcbiên soạn SGK lịch sử
Cuốn Kỉ yếu hội thảo SGK thế kỉ XXI Kinh nghiệm thế giới, thực tiễn Việt Nam của ban Tuyên giáo trung ương xuất bản tháng 2 năm 2012 đã tập hợp
nhiều bài nghiên cứu có giá trị về đổi mới CT và SGK giáo dục phổ thông.Trong đó, các tác giả đề cập đến xu thế đổi mới giáo dục trên thế giới, sự cầnthiết phải đổi mới CT, SGK hiện hành, định hướng đổi mới CT giáo dục phổthông, SGK sau năm 2015 Các tác giả cũng giới thiệu một số mô hình SGKcủa các nước như Pháp, Đức, Ấn Độ, Hàn Quốc, Colombia, bước đầu có sosánh với SGK Việt Nam Tuy nhiên, những bài viết đó mới chỉ dừng ở việcnghiên cứu SGK nói chung, chưa đi sâu nghiên cứu, so sánh về SGK môn lịch
sử ở Việt Nam với Pháp
Cuốn Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia về dạy - học lịch sử ở trường phổ thông Việt Nam tại Đà Nẵng, 8-2012 Kỉ yếu gồm ba phần, trong đó phần thứ nhất
tập trung đánh giá CT, SGK hiện hành, đề xuất định hướng đổi mới CT, SGK saunăm 2015 Phần thứ hai là các bài viết tập trung phân tích những giải pháp nhằm đổimới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông Những bài viết của các nhà
Trang 7nghiên cứu lịch sử có giá trị và mang tính thực tiễn cao như: “Từ CT và SGK lịch sử phổ thông của nước cộng hòa Pháp đến khả năng vận dụng của Việt Nam” của TS Nguyễn Văn Ninh; “Một số vấn đề về CT môn lịch sử trong hệ thống giáo dục ở Mĩ
và Canada” của PGS.TS Trần Thị Vinh; “Đào tạo GV dạy lịch sử cấp THPT ở Pháp
- những kinh nghiệm cho quá trình nâng cao chất lượng đào tạo GV ở Việt Nam” của
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Tìm hiểu cấu tạo SGK lịch sử bậc THPTcủa nước cộng hòa Pháp và khả năng vận dụng vào Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi, giới hạn của đề tài:
- Đề tài tập trung nghiên cứu cấu tạo SGK lịch sử THPT của cộng hòaPháp, từ đó rút ra những kinh nghiệm có khả năng vận dụng vào Việt Nam
- Để có cơ sở vận dụng những kinh nghiệm tốt từ cấu tạo của SGK nướccộng hòa Pháp, đề tài còn tìm hiểu một số vấn đề cơ bản về CT, cách biên soạn, nộidung SGK lịch sử THPT của Việt Nam để rút ra những ưu điểm và hạn chế
- Trên cơ sở học tập kinh nghiệm trong cấu tạo SGK lịch sử THPT củaPháp, đề tài đề xuất mô hình cấu tạo mới trong SGK lịch sử THPT ở Việt Nam vàtiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT của tỉnh Tuyên Quang để chứng
Trang 8minh tính khả thi của đề tài.
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Khẳng định vai trò, ý nghĩa của SGK trong dạy học lịch sử
Tìm hiểu mô hình cấu tạo SGK trong dạy học lịch sử bậc THPT củanước cộng hòa Pháp
Từ đó rút ra những kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam và đềxuất mô hình cấu tạo trong SGK lịch sử THPT ở Việt Nam
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tìm hiểu những vấn đề lí luận về xây dựng và biên soạn SGK của Pháp vàViệt Nam
- Điều tra thực tế về việc sử dụng SGK lịch sử nói chung và SGK THPT nói riêng
ở một số trường để thấy ưu điểm và hạn chế của SGK hiện hành
- Tìm hiểu, so sánh mô hình cấu tạo SGK Lịch sử của Pháp và Việt Nam, rút
ra những bài học kinh nghiệm có khả năng vận dụng vào Việt Nam
- Đề xuất mô hình cấu tạo SGK lịch sử THPT Việt Nam trên cơ sở học tậpkinh nghiệm của nước cộng hòa Pháp
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của những đềxuất đưa ra
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở phương pháp luận
- Những quan điểm lí luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhận thức và giáodục; đường lối của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đào tạo; lý luận về tâm
lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học của các nhà giáo dục và giáo dục lịch sử
có liên quan đến đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí thuyết: Nghiên cứu các tác phẩm của chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh bàn về giáo dục, giáo dục lịch sử Nghiên cứu các công trình
Trang 9của các nhà giáo dục, giáo dục lịch sử có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
- Nghiên cứu khái quát: CT, SGK lịch sử THPT ở Việt Nam và Pháp; Đề
xuất mô hình cấu tạo SGK lịch sử THPT ở Việt Nam trên cơ sở học tập kinhnghiệm của cộng hòa Pháp
- Điều tra khảo sát thực tiễn ở trường THPT qua dự giờ, quan sát, điều tra, traođổi với GV, cán bộ quản lí và HS để thấy được thực tế việc sử dụng SGK và vai trò, ýnghĩa của SGK đối với việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay
- Phương pháp so sánh tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa cấutạo SGK nước cộng hòa Pháp và Việt Nam
- Thực nghiệm sư phạm nhằm khẳng định tính khả thi của đề tài
6 Giả thuyết khoa học
Chất lượng dạy học lịch sử ở trường THPT sẽ được nâng cao nếu xây dựng
mô hình cấu tạo SGK lịch sử trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của cộnghòa Pháp theo những yêu cầu đề tài đưa ra
7 Đóng góp mới của đề tài
- Bên cạnh việc khẳng định tầm quan trọng của việc biên soạn SGK lịch sửTHPT, đề tài chỉ ra cấu tạo SGK lịch sử THPT của cộng hòa Pháp, rút ra nhữngkinh nghiệm tốt có khả năng vận dụng vào Việt Nam Từ đó, đề xuất xây dựng cấu
tạo SGK lịch sử THPT ở Việt Nam qua nội dung “Các quốc gia cổ đại phương Tây
- Hi Lạp và Rô Ma” trên cơ sở học tập kinh nghiệm của cộng hòa Pháp.
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 109 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài gồm có
ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tìm hiểu cấu tạo SGK lịch
sử THPT nước cộng hòa Pháp và Việt Nam
Chương 2: So sánh cấu tạo bài “Các quốc gia cổ đại phương Tây- Hiy
Lạp và Rôma” trong SGK lịch sử THPT của cộng hòa Pháp và Việt Nam.
Chương 3: Đề xuất biên soạn cấu tạo bài “Các quốc gia cổ đại phương Tây - Hiy Lạp và Rô Ma” trên cơ sở học tập kinh nghiệm của cộng hòa Pháp.
Trang 11NỘI DUNGChương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÌM HIỂU CẤU TẠO SGK LỊCH SỬ PHÁP VÀ VIỆT NAMCơ sở lí luận và thực tiễn
của việc tìm hiểu cấu tạo SGK lịch sử Pháp và Việt Nam
sử ở trường phổ thông phù hợp với cấp học, lớp học, khả năng nhận thức của HS
CT bị chi phối bởi triết lý giáo dục và điều kiện hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hộicủa đất nước; phụ thuộc vào mục tiêu đào tạo Không có CT dạy học nào là vĩnhcửu CT chỉ đúng trong một giai đoạn, một thời kỳ của lịch sử, thường tuổi thọ củamột CT ở các nước trên thế giới nói chung và nước ta nói riêng khoảng 12-15 năm
CT bộ môn lịch sử hiện nay trên thế giới được tiếp cận theo ba cách: tiếp cận về nộidung dạy học, tiếp cận về mục tiêu, tiếp cận xuất phát từ năng lực của người học
Thứ nhất, tiếp cận về nội dung dạy học, nghĩa là lấy kiến thức làm trọng tâm,
thước đo, căn cứ để xây dựng CT Quan điểm này xuất phát từ chỗ nhà nước, ngườithầy độc quyền về kiến thức, mọi kiến thức phải thông qua CT, thông qua ngườithầy đến với HS và do đó học ở trên lớp, HS được học những kiến thức mà nhàtrường, người thầy đã định sẵn Quan điểm này đã tỏ ra lạc hậu vì sự bùng nổ côngnghệ thông tin, công nghệ tri thức, người học có thể tiếp cận nhiều nguồn tri thứckhác nhau
Thứ hai, tiếp cận về mục tiêu, nghĩa là lấy mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào
tạo làm thước đo, làm căn cứ để xây dựng CT Cách tiếp cận này có ưu điểm là đàotạo ra thế hệ trẻ, thế hệ phù hợp với chính trị, yêu cầu của xã hội nhưng không đềcập được năng lực của người học và kiến thức lại bị chi phối, ảnh hưởng bởi mụctiêu đào tạo
Trang 12Thứ ba, tiếp cận xuất phát từ năng lực của người học, quan điểm này coi
việc học là suốt đời lấy năng lực tự học, tư duy của bộ môn, phương pháp tiếp cậnlàm tiêu chí cơ bản để xây dựng CT Cách tiếp cận này tạo điều kiện hơn cho ngườihọc phát huy được năng lực của mỗi người trong quá trình học tập ở trường, ở nhà
và sau này Tiếp cận từ năng lực xuất hiện trên thế giới khoảng 15- 20 năm naycùng với sự bùng nổ của thông tin, tri thức
Ở Pháp, CT giáo dục phổ thông của Pháp được thiết kế theo nguyên tắc sau: Thứ nhất, nguyên tắc dạy học tích hợp, đặc biệt là cấp THCS Trong CT cấp
THCS, môn Lịch sử - Địa lí- Giáo dục công dân được tích hợp với nhau
Ví dụ: CT trung học cơ sở giảng dạy lớp nhập môn Địa lí- Lịch sử - Giáo dụccông dân Trong những năm đầu tiên THCS, HS học các nguồn tư liệu đơn giản,lịch sử (khảo cổ học, tranh ảnh, trích đoạn….) học hỏi và đặt chúng trong ngữ cảnh.Xây dựng những câu chuyện ngắn gọn về lịch sử
Thứ hai, nguyên tắc đồng tâm kết hợp với đường thẳng, trong đó nội dung
bài học được xây dựng thành các chủ đề lịch sử, hạn chế sự trùng lặp kiến thức Bản
chất của nguyên tắc đồng tâm kết hợp với đường thẳng được thể hiện ở chỗ “cấu tạo các khóa trình có nội dung giống nhau trong CT của hai cấp trung học, sự khác nhau giữa hai khóa trình thể hiện ở trình độ kiến thức – thường được phân biệt
bằng khối lượng kiến thức cung cấp cho mỗi cấp và chỉ khác nhau về trình độ”
(5; 22) Ngoài việc lựa chọn nội dung kiến thức khác nhau thì mức độ nhận thức sâu
sắc về lịch sử ở hai cấp học phổ thông cũng khác nhau Cấp THCS chú trọng nhiềuđến các sự kiện lịch sử cụ thể, trong khi đó cấp THPT lại chú trọng đến trình độkhái quát và độ sâu cũng như bản chất của sự kiện
Việc biên soạn SGK ở Pháp cho các ban và phân ban được thực hiện bởi cácNXB, chủ yếu là các NXB tư nhân Ở Pháp, một CT nhiều bộ SGK Người đóng vaitrò quan trọng nhất để lựa chọn sách không ai khác chính là những GV trực tiếpgiảng dạy Khi đã lựa chọn được SGK tốt nhất để giảng dạy, họ sẽ trực tiếp đề nghịvới Hội đồng nhà trường để đưa ra quyết định cuối cùng Ở Pháp, quyền in ấn và
quyền lựa chọn SGK là “một trong những quyền tự do nhất trên thế giới” (22; 61)
Trang 13CT của Pháp được biên soạn đảm bảo những yếu tố kiến thức cơ bản nhất, nền tảngnhất; chỉ ra những cách tiếp cận và năng lực cho người học sau khi học xong mộtchủ đề nào đó.
Ví dụ: Trong CT THCS dạy Địa lí- Lịch sử- Giáo dục công dân lớp nhập
môn, khi thiết kế CT, các tác giả đều tính đến các yếu tố sau: Tên chủ đề; thời lượng dạy chủ đề; Đơn vị kiến thức trong chủ đề; Những cách tiếp cận chủ đề Với chủ đề nền văn minh Hi Lạp, thời lượng học chiếm khoảng 25% thời gian của CT (Xem phụ lục 8) CT của Pháp được thiết kế theo hướng tiếp cận năng lực của người
học Không chỉ quan tâm đến lượng kiến thức trong một chủ đề, CT còn đưa ranhững gợi ý về cách khai thác nguồn kiến thức, cách tiếp cận kiến thức Tức là chỉcho người học, người dạy con đường đi đến tri thức đúng đắn Nguồn tiếp cận có
thể là Bản đồ, các tác phẩm văn học, các ví dụ tự chọn, các trang Web tra cứu….Đặc biệt, CT còn chỉ ra những năng lực đạt được sau khi học xong chủ đề như: năng lực thuyết trình, giới thiệu về một vấn đề lịch sử, năng lực thực hành như quan sát và chỉ bản đồ….
Ở Việt Nam, Luật giáo dục của nước ta đã khẳng định “CT giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kĩ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục; phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với môn học hoặc trình độ đào tạo” (5;102) Do đó, CT
giáo dục có tính pháp lệnh, song việc thực hiện phải linh hoạt, sáng tạo để đạt trình
- Căn cứ thực tiễn là những thành tựu, kinh nghiệm giáo dục của nước ta quacác thời kì lịch sử
Trang 14Như vậy, nếu Pháp thiết kế CT dạy học theo hướng tiếp cận năng lực thì ViệtNam thiết kế CT theo hướng tiếp cận về nội dung cho nên mới có những điểm khácnhau như trên.
Việc xây dựng CT Lịch sử ở trường phổ thông ở Việt Nam vừa qua đã đápứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị, kinh tế xã hội của đất nước và được thể hiện ở mụctiêu môn học CT đã giải quyết tốt mối quan hệ giữa khoa học lịch sử và giáo dụclịch sử; xử lí mối quan hệ giữa kiến thức lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc trong CThọc; thể hiện tính “hiện đại, cơ bản, phù hợp với thực tiễn Việt Nam”; thể hiệnnguyên tắc đồng tâm kết hợp với đường thẳng
CT môn lịch sử hiện nay tồn tại được khoảng thời gian dài từ 10-15 năm cónhiều ưu điểm song bên cạnh đó cũng bộc lộ nhiều bất cập (Soát lần cuối đến đây)
Về ưu điểm:
CT lịch sử ở trường phổ thông theo các nguyên tắc trên đã phát huy tác dụngnhất định trong đào tạo thế hệ trẻ CT đã bám sát mục tiêu giáo dục của cấp học,thêhiện quan điểm, đường lối cúa Đảng, Nhà nước trong việc nhìn nhận, đánh giá các
sự kiện, nhân vật lịch sử, chú ý tới việc giáo dục toàn diện con người, CT cũng đãcập nhật, phản ánh những thành tựu mới nhất và tương đối ổn định của khoa họclịch sử, đề cao lịch sử dân tộc (Quốc sử), lấy lịch sử dân tộc làm trung tâm CT đảmbảo được tính tương đối khả thi cho các vùng miền cùng một CT, một bộ SGK
Tuy nhiên, CT môn Sử cũng bộc lộ nhiều hạn chế:
Cách tiếp cận CT đã tỏ ra lạc hậu, nghĩa là quá coi trọng về kiến thức, lấykiến thức làm thước đo CT mà không chú trọng đến năng lực của người học, dẫnđến quá tải, nặng nề
Cách thiết kế CT đồng tâm kết hợp với đường thẳng của môn lịch sử chưasâu, chưa thực sự nâng cao về nhận thức, trình độ, nên HS lên THPT lại phải học lạinhững nội dung đã học ở THCS dẫn đến sự nhàm chán đối với người học Cấu trúc
CT, SGK chưa thật sự cân đối giữa phần lịch sử Việt Nam với lịch sử thế giới, giữacác nội dung kinh tế, văn hóa với các nội dung khác Nhiều nội dung kiến thức hàn
Trang 15Mục tiêu giáo dụcMục tiêu các môn học và hoạt động giáo dục SGK
HS
GV
Kết quả dạy học
lâm, chưa phù hợp với nhận thức của lứa tuổi HS Lịch sử loài người cũng như lịch
sử dân tộc phải là lịch sử toàn diện trên tất cả các lĩnh vực đời sống, tiếc ràng CTcủa chúng ta hiện nay quá nhẹ về kiến thức kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật CTcủa lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc nặng về chiến tranh, đấu tranh giai cấp, chínhtrị dẫn đến nhàm chán, khó khăn trong khi bối cảnh lịch sử thế giới có nhiều thayđổi CT được xây dựng theo hướng coi trọng việc trang bị kiến thức ho HS Việc đềcập đến một số năng lực còn hạn chế, mới dừng ở mục tiêu giáo dục Việc chuẩn bịcho HS tính năng động tự học, tự tìm hiểu chưa được chú trọng nhiều
* Về SGK lịch sử:
(1) Quan niệm về SGK
Ở Việt Nam, có một số người quan niệm chưa đúng về vị trí, vai trò của
SGK Họ cho rằng, SGK chỉ là một tài liệu rút gọn, thông báo tóm tắt nội dung củakhoa học lịch sử Trước khi hiểu đúng về vai trò của SGK, cần phải hiểu thế nào làSGK? SGK có những chức năng cơ bản gì?
Cuốn từ điển Tiếng Việt phổ thông (NXB Phương Đông) giải thích: SGK là sách soạn theo CT giảng dạy ở trường học Cuốn từ điển Anh Việt (Oxford)- NXB Thanh niên – 2002 định nghĩa: SGK là quyển sách chứa đựng thông tin được dùng trong nghiên cứu môn học nào đó.
Cách định nghĩa SGK tuy có khác nhau về hình thức biểu đạt từ ngữ, nhưng đều thống nhất ở bản chất: SGK là một công cụ dạy học trong nhà trường, là yếu tố quan trọng của quá trình tổ chức dạy học môn học với hai nhóm chức năng chính là cung cấp thông tin khoa học và tổ chức hoạt động dạy học.(4;1) Từ khái niệm chung về SGK, có thể thấy, SGK lịch sử là quyển sách được soạn theo CT giảng dạy môn lịch sử, chứa đựng thông tin được dùng trong nghiên cứu để dạy học lịch sử.
Trong quá trình dạy học, SGK ở vị trí logic sau đây:
Trang 16(2) Về chức năng của SGK, một cuốn SGK phổ thông có thể chứa nhiều chức
năng khác nhau Chúng sẽ thay đổi tùy theo người sử dụng, tùy theo môn học và tùyhoàn cảnh biên soạn sách Một cuốn SGK cho HS sẽ có một số chức năng khi nónằm trong tay HS, nhưng lại có một số chức năng khác khi nó nằm trong tay GV
Đối với HS, SGK không chỉ có một chức năng là cung cấp kiến thức, tiếp thuđược các khái niệm, thuật ngữ mà còn có nhiều chức năng khác như củng cố cáchiểu biết, kiểm tra, đánh giá, tra cứu, giúp hình thành và phát triển các kĩ năng
Đối với GV, SGK là công cụ, phương tiện cho phép GV thực hiện tốt vai tròcủa mình trong quá trình dạy học Như vậy, SGK phổ thông sẽ tham gia vào việcđổi mới sư phạm, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, giúp đỡ việc học tập và xác địnhtiến trình sư phạm đối với GV
Ở Pháp, SGK được thiết kế theo mô hình: “ Một CT chuẩn nhiều bộ SGK Ở nước Cộng hòa Pháp, chỉ có một CT chuẩn quốc gia và có nhiều bộ SGK khác nhau” (5;241) Dựa trên CT chuẩn do các nhóm chuyên gia soạn thảo, việc biên
soạn các bộ SGK cho các ban và phân ban được tiến hành bởi các NXB Các NXBnày chủ yếu là các NXB tư nhân Họ thành lập ra các nhóm biên soạn SGK chotừng môn hoc và các bộ SGK này không được bảo trợ bởi nhà nước Ở Pháp, GVchính là người trực tiếp lựa chọn và quyết định chọn bộ SGK nào để phục vụ côngtác giảng dạy của mình Sau khi các GV bộ môn lựa chọn SGK họ trực tiếp đề nghịlên Hội đồng nhà trường (Ban giám hiệu) để đưa ra quyết định cuối cùng
(3) Cấu trúc SGK:
Ở Pháp, CT lịch sử của Pháp được cấu trúc theo các chủ đề lịch sử nhất định.
Các chủ đề lịch sử được thiết kế như sau:
+ Phần giới thiệu khái quát chủ đề: Trong phần này, các tác giả trình bày
khái quát nội dung của toàn chủ đề và đặt ra một câu hỏi dưới dạng bài tập nhậnthức Sau đó, ít nhất hai kênh hình mang tính điển hình, tiêu biểu cho toàn chủ đềđược trình bày Cuối cùng là một sơ đồ niên biểu, trên đó đề cập tới tất cả những
Trang 17mốc thời gian tiêu biểu nhất cho toàn chủ đề Sơ đồ niên biểu này có tác dụng địnhhướng cho hoạt động dạy học của GV và hoạt động học tập của HS.
+ Phần các tiết học (cours) trong chủ đề chung: Phần các tiết học này ít hay
nhiều (thông thường từ 2 đến 4 tiết) phù thuộc vào nội dung của những chủ đề khácnhau Đây là phần trọng tâm của cả chủ đề và nó bao gồm phần bài viết (kênh chữ)
và phần cơ chế sư phạm (kênh hình, tài liệu tham khảo và câu hỏi)
+ Phần hồ sơ tư liệu: Phần này không có bài viết mà chỉ có tư liệu tham
khảo và kênh hình Sau mỗi tiết có ít nhất một phần hồ sơ tư liệu, có những tiết
có hai hoặc ba phần hồ sơ tư liệu Tài liệu tham khảo là tư liệu gốc và sau mỗi tài liệu và kênh hình là một hệ thống câu hỏi để GV tổ chức, hướng dẫn để HS
tự chiếm hội tri thức.
+ Phần bài tập và ôn tập: Phần này hệ thống lại toàn bộ những nội dung cơ
bản của toàn chủ đề mà HS cần phải nắm dưới dạng câu hỏi, sơ đồ, bảng biểu vàcách thức trả lời các bài tập nhận thức đầu của chủ đề hay đầu các tiết Bên cạnh đó,các trang Website có các bài tập lịch sử có liên quan đến chủ đề cũng được giớithiệu để GV và HS có thể tham khảo
Ở Việt Nam, SGK được thiết kế theo các phần, chương, bài, tiết Trong đó,
mỗi một bài bao giờ cũng có:
+ Bắt đầu bài học bao giờ cũng là tựa đề bài học.
+ Sau phần tựa đề, cũng giống như SGK Lịch sử của Pháp, SGK Việt Nam
có một phần giới thiệu khái quát nội dung bài học.
+ Tiếp đến là phần nội dung kiến thức của bài học Trong đó bao gồm phần
bài viết và phần cơ chế sư phạm Trong phần này, nội dung kiến thức được trình bàythành các mục và tiểu mục Mối quan hệ giữa phần bài viết và phần cơ chế sư phạmđược thể hiện rất chặt chẽ, trong đó, bài viết là bộ phận chủ yếu HS phải nắm vững,còn phần cơ chế sư phạm (câu hỏi, bài tập, tư liệu tham khảo, phần đọc thêm, phầnminh họa (tranh ảnh), bản đồ, các loại đồ dùng quy ước trực quan khác như sơ đồ,biểu đồ, đồ thị…) giúp HS hiểu sâu sắc bài viết, kiểm tra nhận thức, kết quả học tậpcủa mình, phát triển năng lực tư duy độc lập, thông minh sáng tạo…
Trang 18+ Cuối cùng là phần câu hỏi và bài tập cuối bài, giúp HS củng cố và ôn tập.
1.1.2 Quan niệm về cấu tạo SGK
Cấu tạo, theo từ điển tiếng Việt (Cấu: kết lại; Tạo: làm thành), có nghĩa là kết hợp nhiều bộ phận để làm thành một đối tượng Cấu tạo SGK được hiểu là sự
kết hợp những thành phần không thể thiếu được của một cuốn sách, đó chính là
“bài viết” và “cơ chế sư phạm”.
Ở Pháp, SGK lịch sử bao gồm 2 phần là bài viết và cơ chế sư phạm Trong
đó, bài viết cũng là phần chính của SGK, bài viết được trình bày ngắn gọn, súc tích, nội dung được trình bày dưới dạng các chủ đề Phần cơ chế sư phạm gồm
có hệ thống kênh hình đa dạng, được in màu đẹp, kênh hình cũng là một nguồn tài liệu cung cấp kiến thức; câu hỏi, bài tập trong SGK Pháp khá phong phú, chủ yếu là những câu hỏi đòi hỏi sự nhìn nhận đánh giá về sự kiện lịch sử, phát huy tư duy độc lập của HS Ngoài ra, ở phần mở đầu mỗi chủ đề đều giới thiệu một cách khái quát nhất về chủ đề mà các em sẽ được học Nhìn chung, cấu tạo SGK lịch sử của Pháp có một sự kết hợp hài hòa giữa nội dung bài viết và cơ chế
sư phạm Sự phong phú, đa dạng của cơ chế sư phạm sẽ góp phần làm cho nội dung bài viết trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn đối với người học Ngược lại, tính khoa học, cơ bản trong nội dung bài viết cũng làm cho cơ chế sư phạm trở nên sinh động, hấp dẫn hơn.
Ở Việt Nam, đến nay vẫn có nhiều quan niệm khác nhau về cấu tạo SGK nói
chung và SGK Lịch sử nói riêng Hiện nay tồn tại hai quan niệm cơ bản sau:
Quan niệm thứ nhất: Từ lâu, nhiều nhà giáo dục lịch sử nước ta cũng như nước ngoài thường phân chia nội dung SGK ra hai phần: “kênh chữ” và “ kênh hình”.
“Kênh chữ”, chỉ tất cả những phần có chữ viết, bao gồm bài viết chính chotiết học và những phần khác như câu hỏi, tóm tắt mở đầu, tư liệu tham khảo, chúthích…là những thông tin thành văn chủ yếu được dùng trong SGK để trình bày nộidung tri thức của môn học, chỉ dẫn về phương pháp học tập, đánh giá, kiểm tra kếtquả học tập của HS
Trang 19Kênh hình bao gồm những ảnh chụp, tranh vẽ, hình vẽ, sơ đồ, đồ thị… Theochức năng hoặc mục đích sử dụng, kênh hình được chia làm 5 loại: minh họa; cungcấp thông tin; Vừa minh họa vừa cung cấp thông tin; rèn kĩ năng thực hành, kiểmtra kiến thức.
Cách phân chia cấu tạo SGK theo loại “kênh hình” và “kênh chữ” mới nhấnmạnh ý nghĩa về mặt thông tin để HS nhận thức nội dung bài học chứ chưa làm rõchức năng, nhiệm vụ của mỗi phần trong SGK lịch sử
Quan niệm thứ hai: Quan niệm này được các nhà giáo dục lịch sử tán thành,
SGK phải có hai phần: “bài viết” và “cơ chế sư phạm”
Từ cấu tạo chung của SGK, chúng ta cần xác định cấu tạo một bài viết “Bài viết” là nội dung cơ bản của CT được trình bày ngắn gọn trong một số trang cho
mỗi tiết học Đây là bộ phận chủ yếu của SGK mà HS phải nghiên cứu, nắm vữngcác kiến thức cơ bản, được lựa chọn phù hợp với yêu cầu học tập SGK chia “Bài
viết” thành các phần, chương, bài, tiết Thông thường mỗi phần gồm một số
chương, mỗi chương gồm một số bài, mỗi bài gồm 1 đến 3 tiết Đối với HS THPT,trung bình bài viết cho mỗi tiết học trong SGK chỉ dài khoảng 3 đến 4 trang Do đó,bài viết phải thực sự cô đọng, súc tích, có lượng thông tin vừa đủ để HS nắm đượccác kiến thức cơ bản Nội dung những thông tin được trình bày trong mỗi bài họcphải thể hiện được những yêu cầu, hướng dẫn về phương pháp dạy học, nhằm tíchcực hóa hoạt động học tập của HS, tạo điều kiện để các em nắm vững kiến thức Sốlượng và chất lượng, sự bố trí và sắp xếp các thông tin trong mỗi bài phải vừa sứcđối với HS và giúp họ có phương pháp tự học, tự nghiên cứu
Cấu tạo một bài viết SGK có thể gồm những phần sau:
Phần trình bày các kiến thức về lịch sử theo CT, bao gồm các đơn vị kiến
thức quan trọng nhất, cần thiết nhất, như các sự kiện, hiện tượng cơ bản, các nhânvật lịch sử kết hợp với giải thích, phân tích một cách hợp lí
Việc trình bày nội dung các sự kiện lịch sử ở bài viết thường được gắn vớikênh hình để giảm bớt lượng chữ viết Sự kết hợp trình bày đó cung cấp được nhiềuthông tin, gợi suy nghĩ và gây hứng thú học tập cho HS
Trang 20Phần tư liệu: Có tác dụng bổ sung kiến thức, tạo thêm điều kiện cho HS cụ
thể hóa, làm phong phú nội dung các sự kiện lịch sử HS có điều kiện phân tích, làmviệc với các sử liệu gốc để nâng cao sự hiểu biết của mình
Phần tóm tắt của SGK Lịch sử được đặt ở cuối mỗi bài, nhất là trong SGKcấp THCS, đây la phần khái quát những kiến thức cơ bản HS cần phải hiểu Đây làlượng kiến thức tối ưu trong học tập một bài của SGK, tức là kiến thức không thểthiếu được đối với nhận thức lịch sử trong điều kiện cụ thể của việc học tập và đạtkết quả cao nhất
Lời khuyên HS về sử dụng sách: Nêu ngắn gọn phương pháp tra cứu mục lục,
tìm hiểu các thuật ngữ, những vấn đề cơ bản của sách, hướng dẫn làm bài tập….Đây
là điều kiện cần thiết trước tiên để giúp GV và HS khai thác, tận dụng hết vai trò,chức năng của SGK
“Cơ chế sư phạm” là chỉ tất cả những thành tố trong SGK, trừ bài viết, dành
cho một tiết học, bao gồm các câu hỏi, bài tập, tư liệu tham khảo, bài đọc thêm,phần minh họa dừng trực quan quy ước khác như (sơ đồ, biểu đồ, đồ thị…) Nộihàm cơ chế sư phạm rộng hơn “kênh hình” Cơ chế sư phạm là một nội dung đặcbiệt quan trọng của SGK, không chỉ dùng để minh họa, hỗ trợ cho bài học mà còn lànguồn kiến thức cung cấp cho HS trong học tập Phần cơ chế sư phạm không phải làphần phụ mà là một thành tố quan trọng của nội dung SGK Lịch sử và luôn luôngắn với bài viết Do đó, khi biên soạn SGK cần chú ý đến mối quan hệ gắn bó, mậtthiết này
Trên thực tế, cách phân chia “bài viết” và “cơ chế sư phạm” tỏ ra dễ tiếp
nhận, vì nó thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa hai phần cơ bản của SGK với nhau
“Bài viết” là bộ phận chủ yếu mà HS nắm vững, còn “cơ chế sư phạm” giúp HS
hiểu sâu sắc bài viết, kiểm tra nhận thức, kết quả học tập của mình, phát triển nănglực tư duy độc lập, thông minh sáng tạo
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của SGK trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
- Đối với GV
Trang 21Đối với GV, SGK là chỗ dựa quan trọng, là người bạn đáng tin cậy trong quátrình giảng dạy Bởi vì nó là cuốn sách cung cấp khá đầy đủ về kiến thức cơ bản,hiện đại, có hệ thống Dựa vào SGK, GV chuẩn bị bài soạn và bài giảng trên lớp,truyền thụ những kiến thức lịch sử phổ thông và hiện đại cho HS Đồng thời khơidậy ở các em lòng say mê học tập.
Tuy nhiên, SGK thường “tĩnh” hơn sự phát triển nhanh chóng của khoa học
lịch sử Nội dung cơ bản của SGK có tính chất ổn định trong một thời gian nhất
định, do đó nội dung SGK bao giờ cũng “lạc hậu” hơn đối với sự phát triển của
khoa học lịch sử Vì vậy trong bài giảng của mình, GV không chỉ dừng lại ở nhữngnội dung SGK mà phải luôn luôn tìm tòi, nghiên cứu các tài liệu khác để phản ánhkịp thời tính hiện đại của kiến thức lịch sử cũng như nâng cao trình độ chuyên môncủa bản thân
- Đối với HS
SGK là tài liệu học tập cơ bản nhất của HS nên được biên soạn theo CT vàquán triệt mục tiêu đào tạo đã được xác định SGK ở trường phổ thông có ý nghĩađặc biệt quan trọng đối với HS trên cả ba mặt: giáo dưỡng, giáo dục và phát triển
Trước hết, ý nghĩa về mặt giáo dưỡng
SGK cung cấp cho HS những kiến thức lịch sử phổ thông, cơ bản, hiện đại,thiết thực và có hệ thống về lịch sử dân tộc cũng như lịch sử thế giới trong suốt quátrình phát triển của nó Chính vì thế, kiến thức phản ánh trong SGK đảm bảo tínhkhoa học, đó là những kiến thức ổn định, đã được khoa học lịch sử mác-xít khẳngđịnh Ngày nay, sự bùng nổ thông tin toàn cầu với tốc độ nhanh chóng, HS có thểtìm kiếm tri thức ở nhiều kênh thông tin khác nhau, tuy nhiên, những kiến thứcđược trình bày trong SGK vẫn là kiến thức được tinh lọc, thẩm định, là thành quảcủa khoa học giáo dục
Thứ hai, ý nghĩa về mặt giáo dục
Ngoài ý nghĩa giáo dưỡng, SGK còn có ý nghĩa giáo dục đạo đức, thẩm mĩ
và nhân cách đối với HS Học lịch sử giúp các em nhận thức đúng đắn đường lốichính trị của Đảng; những tấm gương sáng trên các mặt trận chính trị, quân sự, văn
Trang 22hóa xã hội… Từ các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử chân thực, cụ thể đã khơidậy trong HS những tình cảm đạo đức trong sáng, cao đẹp Giáo dục cho các em cólòng yêu quê hương đất nước gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, lòng tự hào dân tộc,trân trọng đối với các di sản lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc; trân trọngcác di sản văn hóa, hình thành những phẩm chất cần thiết của người công dân, cóthái độ tích cực với cộng đồng và xã hội, yêu lao động, sống nhân ái…
Thứ ba, ý nghĩa về mặt phát triển kĩ năng
Trên cơ sở lĩnh hội những kiến thức cơ bản, SGK chú trọng rèn luyện cho
HS những kĩ năng cơ bản như: kĩ năng sử dụng SGK, kĩ năng phân tích, tổng hợp,
so sánh, khái quát đánh giá sự kiện, hiện tượng lịch sử và các tình huống học tậpvào cuộc sống SGK còn là tài liệu quan trọng nhất hỗ trợ HS trong quá trình tự học,
tự nghiên cứu; củng cố những hiểu biết đã có, kiểm tra đánh giá, tra cứu, tham khảo,ứng dụng, góp phần hình thành, phát triển các kĩ năng, phương pháp giảng dạy của
GV và học tập của HS
Ngoài ra, sự chuẩn xác của ngôn ngữ SGK còn góp phần giúp HS phát triểnngôn ngữ, vốn từ, khả năng trình bày lời nói và ngôn ngữ viết
1.1.4 Nguyên tắc xây dựng CT và biên soạn SGK Lịch sử ở trường THPT
Việc xây dựng CT lịch sử của nước ta phải tuân thủ những nguyên tắc chỉđạo cơ bản sau:
Thứ nhất, CT phải đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị, kinh tế xã hội, được thể hiện ở mục tiêu bộ môn.
Mỗi giai đoạn lịch sử có yêu cầu nhất định đối với giáo dục lịch sử trên cơ
sở mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của bộ môn Nếu trong thời kì kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ cứu nước, nhiệm vụ trọng tâm của việc dạy học lịch sử
là giáo dục lòng yêu nước, căm thù giặc để góp phần vào thắng lợi của cuộc chiến đấu, thì trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ Quốc, CT không chỉ giáo dục lòng yêu nước trong đấu tranh bảo vệ Tổ quốc mà còn giáo dục lòng yêu nước trong lao động, phát minh, sáng chế, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trang 23Thứ hai, CT phải giải quyết mối quan hệ giữa sử học và giáo dục lịch sử.
Thành tựu của sử học là cơ sở, nguồn gốc kiến thức cơ bản của môn Lịch sử
ở trường phổ thông Việc chi phối của sử học đối với môn Lịch sử ở trường phổthông trước hết thể hiện ở chỗ, CT phải đảm bảo nội dung cơ bản của nghiên cứumới nhất của khoa học lịch sử CT phản ánh kịp thời trình độ hiện đại của sử họcnước nhà Tuy nhiên, CT lịch sử ở phổ thông không thể đưa mọi thành tựu của sửhọc đương thời mà phải lựa chọn kiến thức phù hợp với yêu cầu, điều kiện giáo dụclịch sử Những thành tựu sử học đang tranh luận, chưa ổn định thì chưa đưa vàogiảng dạy cho HS
Việc giải quyết mối quan hệ giữa sử học và nội dung môn Lịch sử ở trườngphổ thông phải thỏa mãn đồng thời hai yêu cầu: cập nhật với khoa học lịch sử vàtuân thủ các quy luật của quá trình giáo dục, dạy học, quan điểm, tư tưởng của Đảng
để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục nói chung, mục tiêu môn học nói riêng (30; 78)
Thứ ba, CT phải xử lí mối quan hệ giữa kiến thức lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc trong CT học.
Trong quá trình học tập lịch sử, chúng ta không thê giới hạn ở việc tìm hiểulịch sử dân tộc mà không biết đến lịch sử các dân tộc khác; lịch sử của mỗi dân tộc
là một bộ phận của lịch sử thế giới, vừa thể hiện quy luật chung của lịch sử loàingười, vừa nêu lên những quy luật riêng, đặc thù của dân tộc Cho nên, khi học lịch
sử dân tộc phải lấy cái chung và cái riêng trong sự phát triển của dân tộc mình Do
đó, CT lịch sử ở trường phổ thông cần cung cấp cho HS những kiến thức về lịch sửdân tộc và lịch sử thế giới Các em sẽ nhận thức mối quan hệ, ảnh hưởng, tác độnggiữa lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc để hòa nhập vào cộng đồng quốc tế và khuvực mà vẫn giữ được bản sắc dân tộc mình
Thứ tư, CT quán triệt nguyên tắc “hiện đại, cơ bản, phù hợp thực tiễn Việt Nam”
Tính hiện đại của CT nghĩa là phải đề cập được những thành tựu mới nhất,
tương đối ổn định của khoa học lịch sử, của quan điểm của đảng, của lý luận dạyhọc Nguyên tắc này về cơ bản đã phản ánh nhiều thành tựu của sử học hay những
Trang 24sự kiện mới cập nhật hơn, đúng đắn hơn Nó phản ánh được quan điểm của Đảngtrong giáo dục lịch sử, phản ánh qua đánh giá các sự kiện, nhân vật, phản ánh việclựa chọn các sự kiện, hiện tượng của bộ môn.
Tính cơ bản của CT nghĩa là CT phải lựa chọn được những sự kiện, hiện
tượng cơ bản nhất của xã hội loài người và của dân tộc để cung cấp, giảng dạy chocho HS Kiến thức cơ bản được xác định là “chuẩn” là thước đo kết quả học tập của
HS trong đánh giá, kiểm tra chung Kiến thức cơ bản có thể hiểu là kiến thức tối ưutrong học tập, tức là những kiến thức quan trọng nhất mà HS cần nắm vững để đạtđược yêu cầu học tập, phù hợp với trình độ của CT (30; 81)
Từ quan niệm cơ bản trên, CT phải tập trung vào những sự kiện, nhân vật,quá trình lịch sử tiêu biểu của các giai đoạn phát triển của xã hội loài người và dântộc, nhấn mạnh các khái niệm lịch sử cơ bản, những quy luật quan trọng nhất
Tính dân tộc nghĩa là phải ưu tiên giành một thời lượng thỏa đáng để HS học
lịch sử dân tộc (Quốc sử) Lịch sử thế giới học song song với lịch sử dân tộc, đitrước một bước làm nền cho lịch sử dân tộc, giúp HS hiểu hơn về lịch sử dân tộc
Tính khả thi nghĩa là CT phải được xã hội, các GV, HS ở các vùng miền
khác nhau đón nhận, thực hiện tốt trong quá trình dạy học Nước ta cho đến nay vẫnchỉ có một CT, một bộ SGK lại phải thực hiện ở các vùng miền với các điều kiệnhết sức khác nhau cả về kinh tế, văn hóa, khả năng nhận thức của HS Một CT, một
bộ SGK hiện nay chưa phản ánh, thể hiện được tính khả thi của CT Tình trạng quátải, nặng nề khá phổ biến ở các vùng nông thôn, đặc biệt ở vùng sâu xa
Về việc biên soạn SGK: SGK lịch sử được biên soạn hàm chứa khái quát
những tri thức phổ thông cơ bản, hiện đại về lịch sử dân tộc cũng như lịch sử thếgiới trong suốt quá trình phát triển SGK cũng là một công trình nghiên cứu khoahọc của khoa học giáo dục Do đó, việc biên soạn SGK cần phải tuân thủ những yêucầu sau:
Về nội dung, SGK phải đảm bảo tính khoa học, tính hiện đại, tức là phải cập
nhật những thành tựu khoa học mới nhất của khoa học lịch sử và khoa học trongnước cũng như khoa học nước ngoài
Trang 25Về kiến thức, SGK cần đảm bảo tính toàn diện, tức là phải phản ánh đầy đủ
mọi mặt sinh hoạt của xã hội loài người và dân tộc trong quá khứ về mọi mặt nhưchính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, tư tưởng…
Về giáo dục, SGK được biên soạn theo quan điểm của sử học mácxit về quy
luật phát triển của xã hội, về vai trò của quần chúng nhân dân lao động… trong lịch
sử Người viết sách phải biểu lộ thái độ, tình cảm đúng đắn của mình với những sựkiện, hiện tượng và nhân vật lịch sử
Về sư phạm, nội dung SGK phải phù hợp với trình độ nhận thức và đặc điểm
tâm lý, lứa tuổi HS Hình thức trình bày trong SGK phải rõ ràng, hấp dẫn, tránh liệt
kê sự kiện, niên đại, khái niệm phức tạp hay lý luận khô khan, rườm rà
1.1.5 Xuất phát điểm của vấn đề
1.1.5.1 Mục tiêu bộ môn
Luật giáo dục được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa X thông qua ngày 25/12/2001 đã nêu: “Mục tiêu của giáo dục là đào tạo những con người Việt nam phát triển toàn diện, có đạo đức, trí thức, sức khỏe, thẩm mĩ về nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc” (25; 8)
Mục tiêu bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông được xây dựng trên cơ sở líluận và thực tiễn, thể hiện tập trung ở việc quán triệt mục tiêu chung của giáo dụcphổ thông, thông qua chức năng, nhiệm vụ đặc trưng, nội dung của môn học và tìnhhình, nhiệm vụ cụ thể của đất nước trong những điều kiện cụ thể Mục tiêu giáo dụcphổ thông quán triệt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục, yêucầu của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đối với giáo dục
Mục tiêu của môn Lịch sử trường phổ thông nhằm giúp cho HS có đượcnhững kiến thức cơ bản cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới; góp phầnhình thành ở HS thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước,truyền thống dân tộc, cách mạng, bồi dưỡng năng lực tư duy, hành động, thái độứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội
Trang 26Từ mục tiêu môn học, đối với cấp THPT, HS phải đạt được:
Về kiến thức:
Nắm được những kiến thức cơ bản về các sự kiện lịch sử tiêu biểu trên cơ sởcủng cố, phát triển nội dung kiến thức đã học ở bậc THCS; HS được nâng caonhững hiểu biết đã học một cách có hệ thống, sâu sắc hơn, nắm được những quyluật chung của lịch sử phát triển loài người
Như vậy, nhiệm vụ giáo dưỡng trong mục tiêu của môn Lịch sử ở trườngTHPT là cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản, bao gồm: sự kiện lịch sử cơ bản,nhân vật tiêu biểu, thời gian, không gian các khái niệm, thuật ngữ, những hiểu biết
về quan điểm lí luận sơ giản, những vấn đề về phương pháp nghiên cứu và học tập,phù hợp với yêu cầu và trình độ HS
Về kĩ năng:
Giúp HS hoàn thành các kĩ năng cần thiết cho học tập Lịch sử, đó là kĩ nănglàm việc với SGK và các nguồn sử liệu, biết phân tích, so sánh, tổng hợp, kháiquát… có năng lực tự học, phát hiện, đề xuất, giải quyết vấn đề, nâng cao năng lực
tư duy và thực hành
Về thái độ:
Qua từng bài, phần, chương, học trình và cả CT của cấp học, trên cơ sở nộidung kiến thức cụ thể, theo quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước bồi dưỡng thái độ, tình cảm Trên
cơ sở đó, giáo dục thái độ, tình cảm đúng với các sự kiện, nhân vật lịch sử, bồidưỡng lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lí tưởng độc lập và chủ nghĩa xã hội
Việc nhận thức mục tiêu giáo dục nói chung, mục tiêu bộ môn nói riêng,không chỉ dừng ở mặt lí luận mà còn trong mọi hoạt động giáo dục của bộ môn,trước hết là nội dung và phương pháp dạy học Vì vậy, việc thể hiện mục tiêu bộmôn trong xây dựng CT, biên soạn SGK, đổi mới phương pháp dạy học là quantrọng nhất
1.1.5.2 Những yêu cầu đổi mới về cấu tạo SGK Lịch sử
Trang 27Đổi mới về cấu tạo SGK nghĩa là đổi mới trong chính các thành phần cấu tạocủa sách, đó là phần bài viết và phần cơ chế sư phạm.
Trước hết về phần bài viết, trước đây chúng ta quan niệm bài viết phải thể
hiện đầy đủ nội dung kiến thức của bài học, do đó, nhiều bài viết nặng về việc cungcấp kiến thức lịch sử, mang tính hàn lâm Trên cơ sở nghiên cứu, học tập việc biênsoạn SGK của các nước trên thế giới, nhiều nhà nghiên cứu, giáo dục học, giáo dụclịch sử đã đưa ra nhiều quan niệm đổi mới, hiện đại về cấu tạo bài viết trong SGK.Một trong những quan điểm đó là thiết kế bài học dưới dạng các chủ đề lịch sử Mỗichủ đề sẽ được cấu tạo thành những đơn vị kiến thức nhỏ dưới hình thức cácchương hay các tiết học Cách thiết kế bài học đó sẽ có nhiều tác dụng đối với ngườihọc và GV giảng dạy Một mặt, người học sẽ không phải học lặp lại kiến thức, các
em sẽ có cái nhìn tổng thể hơn, đi sâu vào bản chất của sự kiện hiện tượng lịch sử;mặt khác, GV sẽ phát huy được khả năng sáng tạo, thuận tiện cho việc tổ chức họctập của HS, tiến hành đổi mới phương pháp dạy học hiệu quả hơn Bài viết trongSGK cần thực hiện những yêu cầu sau:
- Tính cụ thể
Trang 28Phần trình bày kiến thức về lịch sử, bài viết SGK cần hạn chế việc thông báo
sự kiện một cách khô khan mà phải tăng cường miêu tả, tường thuật chính xác, chânthực để HS có thể hình dung đúng được quá khứ, không hư cấu lịch sử Chắc chắn,một bài viết ngắn gọn, rõ ràng, sinh động sẽ đem lại kết quả học tập cao hơn bài viếtdài, khô khan
Trang 29Thứ hai, đối với cơ chế sư phạm
Việc đổi mới cơ chế sư phạm phải được tiến hành ở tất cả các yếu tố cấuthành cơ chế sư phạm như kênh hình, tài liệu tham khảo, câu hỏi, bài tập…
(1) Về kênh hình trong SGK
Kênh hình trong SGK phải đáp ứng những yêu cầu sau:
Phản ánh đúng nội dung đối tượng nghiên cứu, phù hợp với nội dung trìnhbày ở kênh chữ, không có những thông tin sai lệch về mặt khoa học hoặc phản tácdụng giáo dục Về mặt hình thức, kênh hình phải đảm bảo màu sắc hài hòa, tươisáng, gần gũi với tự nhiên; Các hình ảnh đặt ngay cạnh kênh chữ phải có nội dungtương ứng, có bố cục cân đối Cần thiết kèm theo lời ghi chú hoặc giải thích ngắngọn về kênh hình đó như (chụp năm nào, ở đâu, do ai chụp hoặc vẽ…) Khi khaithác kênh hình, cần sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở nhằm phát triển óc quan sát,trí tưởng tượng của người học
Đối với các chân dung nhân vật lịch sử, cần lựa chọn và đưa vào SGK ảnh,tranh chân dung những nhân vật tiêu biểu trên mọi lĩnh vực hoặc hoạt động của đờisống xã hội, bao gồm các nhân vật chính diện và nhân vật phản diện, giúp HS có cáinhìn đa chiều về đời sống xã hội, giáo dục HS nhiều khía cạnh khác nhau về đạođức, tình cảm, phẩm chất, tư tưởng chính trị
(2) Về câu hỏi, bài tập trong SGK
Cần phải đảm bảo tính khoa học và tính sư phạm Những câu hỏi trong SGKLịch sử nên đặt sau mỗi mục hoặc ở cuối bài, không chỉ giới hạn ở việc làm cho HSghi nhớ, tái hiện kiến thức, mà còn giúp các em hiểu biết vững chắc, sâu sắc những
sự kiện cơ bản Về mặt hình thức, câu hỏi, bài tập cần rõ ràng, mạch lạc, cần cónhiều loại câu hỏi khác nhau, cần tránh ra những câu hỏi học thuộc Ngoài nhữngcâu hỏi vừa sức, bắt buộc đối với tất cả HS khi tiếp thu kiến thức, các câu hỏi, bàitập cũng cần thể hiện sự phân hóa nhằm đáp ứng những năng lực khác nhau của HS(kém, trung bình, giỏi)…
Trong một thời gian khá lâu, SGK Lịch sử của Việt Nam hầu như không cóbài tập lịch sử, cũng không có sách hướng dẫn về bài tập, thực hành bộ môn Điều
Trang 30này có nhiều nguyên nhân, song một nguyên nhân cơ bản là do quan niệm khôngđúng về việc học tập lịch sử ở trường phổ thông Không ít người cho rằng học lịch
sử không cần làm bài tập như các bộ môn khác của khoa học tự nhiên Đó là quanniệm không đúng, SGK lịch sử cũng phải có bài tập, gồm các loại:
Bài tập nhận thức là những bài tập hướng vào những vấn đề quan trọng của
nội dung bài học, nhằm giúp HS hiểu rõ vấn đề hoặc sự kiện cơ bản của SGK, nângcao sự hiểu biết của HS Loại bài tập này thường viết dưới dạng câu hỏi, songkhông giống như những câu hỏi như trong SGK mà là câu hỏi tổng hợp có nội dungrộng hơn, đòi hỏi HS phải có thời gian, công sức và trí tuệ để giải đáp Bài tập nhậnthức xây dựng trên cơ sở một sự kiện quan trọng, một số bài học hay cả khoá trình;
nó vừa mang tính chất kiểm tra kiến thức cơ bản, vừa phát huy tư duy sáng tạo,năng lực học tập của HS
Bài tập về thực hành bộ môn gồm các loại: vẽ bản đồ, sơ đồ, biểu đồ, đồ
thị…loại bài tập này không chỉ rèn luyện cho HS kỹ năng vẽ mà còn giúp các emcủng cố, ghi nhớ kiến thức đã học Mặt khác còn rèn luyện cho HS tính chuyên cần,chính xác trong lao động học tập
Ngoài ra SGK Lịch sử còn có nhiều loại bài tập khác, như vận dụng kiến thức vào thực tế, tìm những sự kiện lịch sử địa phương để liên hệ, minh hoạ một vài sự kiện trong khoá trình lịch sử dân tộc, nghiên cứu tài liệu, rút ra bài học lịch sử Bên cạnh các loại bài tập đó, SGK Lịch sử nên sử dụng rộng rãi các bài tập trắc nghiệm.
(3) Về tài liệu tham khảo
Có nhiều quan niệm khác nhau về tài liệu tham khảo và việc sử dụng tài liệutham khảo trong dạy học lịch sử Một số người cho rằng trong dạy học chỉ cần cungcấp cho HS những kiến thức đã có trong SGK, việc sử dụng tài liệu học tập kháckhông cần thiết Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, khác với tri thức của nhiều bộmôn khoa học khác, tri thức lịch sử có những đặc điểm rất nổi bật, đó là tính quákhứ, tính không lặp lại, tính cụ thể Do đó, khi tiến hành giảng dạy lịch sử ở trườngphổ thông, GV rất quan tâm đến việc khai thác nguồn tài liệu tham khảo để làm rõ
Trang 31tính cụ thể, chân thực của sự kiện, hiện tương lịch sử vốn đã diễn ra và không baogiờ lặp lại Đây chính là nguồn kiến thức quan trọng giúp HS có thêm cơ sở để nắmvững bản chất các sự kiện, hình thành khái niệm Đổi mới cơ chế sư phạm cần thiếtphải cung cấp cho người học một hệ thống các tài liệu tham khảo giúp khắc sâu kiếnthức, làm cho bài học trở nên sinh động, lịch sử trở nên gần gũi hơn, có biểu tượngchân thực, cụ thể hơn.
Như vậy xây dựng CT, biên soạn SGK là vấn đề quan trọng có ý nghĩa chiếnlược đối với ngành giáo dục CT và SGK đảm bảo thực hiện mục tiêu đào tạo Vìvậy công việc này phải được tiến hành trên cơ sở khoa học, được quán triệt với GV
và HS trong quá trình giảng dạy và học tập
1.1.5.3 Xu thế đổi mới giáo dục
Từ những thập kỉ cuối thế kỉ XX, nhiều quốc gia đã chuẩn bị và triển khai cảicách giáo dục, tập trung vào giáo dục phổ thông mang tính trọng điểm là cải cách
CT và SGK CT của các nước đều hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng giáodục, trực tiếp góp phần cải thiện chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao chất lượngsống của con người; khắc phục tình trạng học tập nặng nề, căng thẳng gây mất hứngthú và niềm tin đối với việc học tập của HS Xu thế đổi mới cũng nhằm khắc phụctình trạng sản phẩm của giáo dục không đáp ứng được yêu cầu biến đổi nhanh và đadạng của sự phát triển của xã hội
Do tác động của nhu cầu phát triển xã hội, ngay từ những năm 50-60, tràolưu cải cách giáo dục đã được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới như Mĩ, NhậtBản, Anh, Pháp, Italia… Các nước này đã khẩn trương tiến hành cải cách giáo dụcchuyển nền giáo dục cổ truyền sang giáo dục hiện đại với đặc trưng cơ bản là: lấyđịnh hướng chủ đạo là phát triển năng lực thay cho định hướng truyền thụ kiếnthức; chuyển từ dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học tổ chức các hoạt độnghọc tập phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo; đảm bảo sự phát triển phong phúcủa giáo dục, làm cho giáo dục thích ứng với sự phát triển đa dạng của kinh tế thịtrường (44; 14)
Trang 32Những năm 80 của thế kỉ XX, tổ chức Unessco của Liên Hợp Quốc cũng đãcông bố nhiều tài liệu phê phán lối dạy thụ động, giáo điều chỉ có thể đào tạo nhữngcông chức ngoan ngoãn hơn là những công dân năng động, sáng tạo.
Các nhà giáo dục Nga cho rằng “diện mạo của dân tộc sẽ phụ thuộc vào cách dạy như thế nào” (44;14)
Trên thế giới, Hàn Quốc hướng đến mô hình "phát triển cá tính và những kĩ năng cần thiết cho cuộc sống độc lập, dưới ánh sáng của tư tưởng nhân đạo và tinh thần trách nhiệm vì sự phồn thịnh của đất nước, của nhân loại" (44;14)
Tóm lại, cải cách giáo dục nói chung và đổi mới phương pháp dạy học nóiriêng là một xu thế tất yếu khách quan trên toàn thế giới, là sản phẩm của sự pháttriển kinh tế xã hội, của sự biến đổi nhu cầu năng lực của người học Cải cách giáodục phản ánh rõ quy luật về mối quan hệ ràng buộc, phụ thuộc giữa giáo dục đối vớikinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa
1.1.5.4 Sự cần thiết phải học tập kinh nghiệm của các nước phát triển
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với mụctiêu đến năm 2020, Việt Nam từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành nướccông nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế Để có thể theo kịp, không bị tụt hậu
so với các nền giáo dục trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam cần thiết phải họctập kinh nghiệm của các nước phát triển nhằm đổi mới nền giáo dục của đất nước
Phương pháp dạy học truyền thống với quan niệm học là quá trình tiếp thu
và lĩnh hội, qua đó, hình thành kiến thức, kĩ năng, tư tưởng, tình cảm; chú trọng cung cấp kĩ năng kĩ xảo, học để đối phó với thi cử, sau khi thi xong, những điều được học thường bị bỏ quên hoặc ít dùng đến Trong khi đó, các nước trên thế giới, luôn chú ý đến những mô hình giáo dục mới, hướng tới học tập chủ động chống lại thói quen học tập thụ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác (hoạt động nhóm) Các mô hình dạy học mới: học là quá trình kiến tạo kiến tạo, HS tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lí nhanh thông tin, tự hình thành năng lực và phẩm chất; chú trọng hình thành các năng lực sáng tạo, hợp
Trang 33tác… Dạy phương pháp và kĩ thuật lao động một cách khoa học, dạy cách học Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống.
Bối cảnh mới tạo cơ hội thuận lợi để giáo dục nước ta tiếp cận các xu thếmới, tri thức mới nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội và từng cá nhân người học
1.2 Cơ sở thực tiễn
SGK là phương tiện dạy học quan trọng của GV và HS trong quá trình dạyhọc Để tìm hiểu thực tiễn của việc sử dụng SGK trong dạy học lịch sử ở trường phổthông, chúng tôi tiến hành điều tra thực tế 33 GV trực tiếp giảng dạy môn Lịch sử ở 6trường THPT: trường THPT Đa Phúc (Hà Nội), trường THPT Chuyên Tuyên Quangtỉnh Tuyên Quang; trường THPT Tân Trào tỉnh Tuyên Quang; trường THPT HàmYên, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang; trường THPT Chuyên Hà Nam tỉnh HàNam; trường THPT Chuyên Hùng Vương tỉnh Gia Lai
Trong phiếu điều tra dành cho GV, chúng tôi sử dụng 14 câu hỏi, có 33 thầy
cô giáo và hơn 1000 HS ở nhiều trường THPT được điều tra
* Mục đích khảo sát:
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực tế quá trình dạy học lịch sử ở trườngphổ thông để tìm hiểu thực tế việc nhận thức tầm quan trọng của SGK đối với hoạtđộng dạy học của GV và hoạt động học tập của HS; những ưu điểm và tồn tại củaSGK lịch sử hiện nay; một số giả thiết về bộ SGK mới được đặt ra để tham khảo ýkiến của GV trực tiếp giảng dạy
* Nội dung khảo sát
Chúng tôi đã tiến hành điều tra thực tế việc dạy học lịch sử ở trường phổthông theo các nội dung sau:
- Nhận thức của GV về vai trò, ý nghĩa của SGK lịch sử ở trường THPT
- Thực trạngviệc sử dụng SGK của GV, những ưu điểm và hạn chế của SGKhiện nay
- Một số đề xuất về hình thức và nội dung cấu tạo của một bộ SGK lịch sửmới trong tương lai
Trang 34* Đối tượng khảo sát:
Để hiểu rõ thực tiễn việc sử dụng SGK lịch sử ở trường THPT, chúng tôi tiếnhành điều tra 33 GV dạy THPT tại Tuyên Quang, Hà Nội và một số tỉnh lân cận,
1440 HS các trường như: trường THPT Chuyên Tuyên Quang (tỉnh Tuyên Quang);trường THPT Đa Phúc, trường THPT Tân Trào, trường THPT Hàm Yên, (TỉnhTuyên Quang); trường THPT Chuyên Hà Nam; trường THPT Chuyên Hùng Vương(Gia Lai)
* Phương pháp tiến hành khảo sát:
Tiến hành điều tra bằng phiếu điều tra, phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với GV
(Xem phụ lục số 1) và HS (Xem phụ lục số 2) Sau khi tiến hành khảo sát và xử lí số
liệu, chúng tôi thu được kết quả:
Qua bảng số liệu, có thể thấy một số vấn đề sau đây về SGK:
Trước hết, nhận thức của GV về vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của SGK lịch
sử trong quá trình dạy học ở trường THPT Đa số các GV khi được hỏi đều đồng ý
với ý kiến cho rằng, SGK là tài liệu cơ bản trong học tập của HS và giảng dạy củaGV; SGK thể hiện yêu cầu và cụ thể hóa CT dạy học Ngoài ra, SGK còn là tài liệugiúp củng cố, kiểm tra, đánh giá, tra cứu, tham khảo của GV và HS, đồng thời còn
phản ánh trình độ phát triển của một quốc gia Qua số liệu thống kê (Xem phụ lục 6)
cho thấy, hầu hết các GV đều nhận thức đúng đắn vai trò, tầm quan trọng củaSGK đối với việc dạy và học ở trường THPT
Thứ hai, về sự cần thiết phải đổi mới SGK lịch sử hiện nay, có 36% GV cho
rằng việc đổi mới SGK lịch sử hiện nay đang đặt ra vấn đề hết sức cấp thiết; 60,6%
GV cho rằng cần thiết phải đổi mới SGK trong thời điểm hiện nay
Trang 35Thứ ba, về lí do cần thiết phải đổi mới SGK lịch sử, nhiều thầy cô đồng ý
với việc SGK lịch sử hiện nay có nhiều bất cập, từ nội dung đến hình thức, tài liệu tham khảo, kênh hình… Có 93,9% GV được hỏi cho rằng, SGK nặng về trình bày sự kiện lịch sử, liệt kê nhiều mốc thời gian, số liệu khó ghi nhớ; có 66,7
% GV cho rằng SGK thiếu nguồn tài liệu tham khảo; Có 84,8 % GV cho rằng
hệ thống câu hỏi, bài tập trong SGK chưa phát huy được năng lực tư duy của HS; Có 72,7 % GV đồng ý với ý kiến cho rằng kênh hình trong SGK nghèo nàn, thiếu hấp dẫn Như vậy, đa số GV trực tiếp giảng dạy đều nhận thấy những bất cập, hạn chế của SGK lịch sử và đã đến lúc cần thiết phải đổi mới SGK để phù hợp với tình hình mới hiện nay.
Thứ tư, về nội dung bài viết trong SGK, đa số GV được khảo sát cho rằng,
phần nội dung “bài viết” trong SGK lịch sử hiện nay nặng về cung cấp kiến thứclịch sử; tuy nhiên, các thầy cô cũng nhận thấy mối quan hệ mật thiết giữa nội dung
“bài viết” và “cơ chế sư phạm”; có gần 94% ý kiến cho rằng nên lược bớt nội dungtrong sgk, giảm tải kiến thức nhưng học chuyên sâu vào các nội dung cơ bản nhất,
đó là việc học theo các chuyên đề
Thứ năm, về chất lượng kênh hình, tài liệu tham khảo trong SGK lịch sử hiện nay, khi được điều tra, 100% GV các trường đều đồng ý rằng kênh hình trong SGK
hiện nay đang thiếu thốn, nghèo nàn về số lượng, hình thức trình bày chưa hấp dẫn,chủ yếu mang tính minh họa cho bài giảng, ít chứa thông tin về kiến thức
Thứ sáu, về câu hỏi, bài tập trong SGK, hầu hết các GV đều nhất trí với ý
kiến việc đưa bài tập, câu hỏi nhằm rèn luyện kĩ năng tư duy và thực hành bộ môncho HS là thực sự cần thiết; tuy nhiên, số GV thường xuyên giao bài tập về nhà cho
HS chỉ chiếm 54,5%, còn lại một số GV khác thỉnh thoảng hoặc không bao giờ giaobài tập về nhà cho HS
Thứ bảy, về sử dụng tài liệu tham khảo, 94% GV đồng ý với ý kiến đưa tư
liệu lịch sử gốc, tiểu sử các nhân vật (liên quan đến bài viết trong SGK) và giảithích khái niệm mới vào SGK
Trang 36Thứ tám, về thái độ, quan điểm của người viết sách giáo khoa, đa số các GV
đều cho rằng, tác giả viết SGK lịch sử không nên đưa quan điểm đánh giá nội dunglịch sử của mình vào SGK
Thứ chín, phần cuối bài học, các GV đều cho rằng cần thiết phải có phần hệ
thống kiến thức trọng tâm của bài Đặc biệt, phần câu hỏi bài tập cuối bài, SGK cần
có những gợi ý, hướng dẫn trả lời những câu hỏi khó qua việc dẫn nguồn các trangWeb, nguồn tài liệu để GV và HS dựa vào đó có thể tìm kiếm tư liệu, tự giải đápcác câu hỏi
Như vậy, với việc điều tra đội ngũ GV trực tiếp giảng dạy môn LS ở trườngTHPT, chúng tôi phát hiện về mặt cơ sở thực tiễn của việc sử dụng SGK như sau:
Về mặt ưu điểm: SGK là một phương tiện học tập thiết thực nhất, gần gũi
nhất và được sử dụng nhiều nhất đối với GV SGK đóng góp một phần không nhỏtrong sự nghiệp trồng người, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Nội dung của SGK
cô đọng, súc tích, khoa học, trình bày tuần tự theo các đề mục, làm cho người họctiện theo dõi và học tập
Về mặt hạn chế: Hiện nay với xu thế phát triển như vũ bão của cuộc Cách
mạng khoa học công nghệ, sự tĩnh lặng của SGK trong khoảng thời gian 10-15 nămdường như đã không đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của mục tiêugiáo dục Vì vậy, nó nhanh chóng bộc lộ nhiều thiếu sót Điển hình cho những thiếusót đó là sự nặng nề, quá tải của nội dung; cách viết của các tác giả thường xen lẫnnhận xét, đánh giá chủ quan; kênh hình nghèo nàn về số lượng, chủ yếu dùng đểminh họa cho bài học; hệ thống câu hỏi bài tập chưa đáp ứng được yêu cầu pháttriển năng lực thực hành, tư duy cho người học
1.2.2Đối với HS
SGK là tài liệu cơ bản của HS, trong rất nhiều nguồn tài liệu tham khảo trêngiá sách thì SGK vẫn là cuốn sách được các em sử dụng nhều nhất Chính vì vậy,khi tìm hiểu về SGK, chúng tôi cần thiết phải điều tra về việc sử dụng SGK của
HS Phân tích bảng thống kê, tổng hợp kết quả điều tra thực tế sử dụng SGK của HS
ở các trường THPT hiện nay (Xem phụ lục 7)
Trang 37Thứ nhất, về mức độ và thời điểm sử dụng SGK của HS, Có 84,8 % HS có
thói quen thường xuyên sử dụng SGK trong học tập; như vậy SGK là phương tiện
học tập không thể thiếu được của các em HS Về thời điểm sử dụng SGK, phần lớn
các em đều cho rằng, thời điểm sử dụng SGK tốt nhất đó là, vừa sử dụng để học tập,nghiên cứu trên lớp, vừa sử dụng SGK khi tự học ở nhà
Thứ hai, vấn đề các em yêu thích khi đọc sách, HS thường quan tâm đến
những đoạn trích, các câu chuyện về những nhân vật lịch sử, nguồn tài liệu thamkhảo (97%); có 83% quan tâm đến tranh ảnh, lược đồ, bản đồ
Thứ ba, về tác dụng của SGK đối với việc học tập lịch sử, hầu hết HS đều
cho rằng, SGK là tài liệu cơ bản, quan trọng trong học tập, giúp mở rộng, khắc sâukiến thức lịch sử, ngoài ra còn giúp các em tự học, tự nghiên cứu kiến thức mới
Thứ tư, khó khăn của em khi sử dụng SGK lịch sử, 98,6% cho rằng, SGK có
quá nhiều nội dung kiến thức, mốc thời gian, số liệu khó nhớ; 100% đồng ý SGKthiếu tài liệu tham khảo, mở rộng kiến thức; Tranh ảnh nghèo nàn, chưa hấp dẫn;Một số thuật ngữ mới, khó hiểu…
Thứ năm, 95% HS thích một cuốn SGK mới sẽ cấu trúc theo từng chủ đề, đồng thời, cuối mỗi bài học, SGK nên có phần “Hệ thống những nội dung trọng tâm” của bài và “Hướng dẫn tự học”, (có 76,3% HS đồng ý với việc cấu trúc thêm
nội dung này)
Kết quả trên phản ánh một thực tế, đa số HS đã nhận thức được vai trò, ý nghĩacủa bộ môn lịch sử, coi đây là một trong những bộ môn góp phần quan trọng trong việcgiáo dục tư tưởng, tình cảm và đạo đức cho chính các em Tuy nhiên, bên cạnh đó cũngcho thấy hạn chế của SGK hiện nay:
- Nội dung kiến thức SGK viết dàn trải, không có trọng tâm ít thông tin vềnhân vật lịch sử
- Kênh hình phần lớn là đen trắng, chưa đảm bảo tính trực quan nên chưa gâyhứng thú cho HS trong quá trình học tập Một số kênh hình chỉ mang tính chất minhhoạ, không có tài liệu hướng dẫn sử dụng nên gây khó khăn cho GV trong quá trìnhđịnh hướng cho HS tìm hiểu
Trang 38- Một số kiến thức nặng, lượng kiến thức trong bài quá dài, thời gian ngắnnên khó khai thác và mở rộng kiến thức.
Tiểu kết chương 1:
Tóm lại, SGK nói chung và SGK lịch sử nói riêng ở trường phổ thông có vaitrò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với GV và HS SGK là tài liệu viết cho HSgiúp cho HS học ở trên lớp và tự học ở nhà nhưng đó là chỗ dựa quan trọng đểngười GV thiết kế giờ học, tổ chức giờ học trên lớp và tự học ở nhà
Nguyên tắc xây dựng và biên soạn CT SGK lịch sử phổ thông luôn tuân thủnhững yêu cầu cơ bản nhất về nội dung kiến thức phải đảm bảo tính khoa học, tínhhiện đại, cập nhật những thành tựu mới nhất của khoa học lịch sử Đảm bảo tínhtoàn diện, phản ánh đầy đủ mọi mặt sinh hoạt của xã hội loài người về mọi mặt nhưchính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, tư tưởng Ngoài ra, khi biên soạn SGK cần chú
ý yêu cầu về mặt sư phạm, giáo dục Có thể nói, dù ở thời đại nào, ở bất kì quốc gianào trên thế giới thì SGK cũng luôn là người Thầy, người bạn học đáng tin cậy nhấtcủa HS Học tập trên cơ sở SGK là động lực, là biện pháp cơ bản thúc đẩy quá trìnhnhận thức và nâng cao chất lượng học tập của HS
Những yêu cầu đổi mới về SGK được đặt ra cấp thiết trong thời điểm hiệnnay, trong đó, đặc biệt chú ý đến sự đổi mới về cấu tạo của SGK, từ cấu tạo “bàiviết” cần đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức, tính cụ thể, vừa thể hiện mối quan hệchặt chẽ với “cơ chế sư phạm” như hệ thống kênh hình phong phú, câu hỏi bài tậpchọn lọc nhằm phát huy trí thông minh và khả năng sáng tạo của người học, rènluyện năng lực thực hành bộ môn
Trang 39Chương 2: SO SÁNH CẤU TẠO BÀI “CÁC QUỐC GIA CỔ ĐẠI PHƯƠNG TÂY - HI LẠP VÀ RÔMA” TRONG SGK THPT CỦA PHÁP VÀ VIỆT NAM
So sánh cấu tạo bài “Các quốc gia cổ đại phương Tây - Hi Lạp và Rôma” trong SGK THPT của Pháp và Việt Nam
2.1 Khái quát vị trí bài “Các quốc gia cổ đại phương Tây - Hi Lạp và
Rô ma” trong khóa trình lịch sử thế giới của SGK Pháp và Việt Nam
2.1.1 Khái quát vị trí bài “Các quốc gia cổ đại phương Tây - Hi Lạp và
Rô ma” trong khóa trình lịch sử thế giới của SGK Pháp
CT lịch sử phổ thông nước Cộng hoà Pháp được thiết kế theo nguyên tắcđồng tâm kết hợp với đường thẳng, trong đó nội dung bài học được xây dựng thànhcác chủ đề lịch sử, hạn chế được sự trùng lặp kiến thức Bên cạnh đó, trong cấu trúc
CT có sự lồng ghép giữa lịch sử của nước Pháp và lịch sử thế giới Cụ thể, ở bậcTHCS, lớp 6 HS được học phần lịch sử thế giới từ cổ đại đến giai đoạn đầu thờitrung đại Lên lớp 7, HS tiếp tục được tìm hiểu về lịch sử thế giới từ thời trung đại
Trang 40đến thời cận đại Ở lớp 8, HS tiếp tục được tìm hiểu phần lịch sử thế giới từ thế kỉKhai sáng đến cách mạng công nghiệp Lên lớp 9, HS tìm hiểu lịch sử thế giới từnăm 1914 đến nay Ở bậc THPT, lớp 10, HS tìm hiểu lịch sử thế giới từ thời cổ đại
đến giữa thế kỉ XIX với các chủ đề lịch sử: Nhân dân châu Âu cùng loài người trên Trái đất; Những phát minh của cư dân cổ đại; Xã hội và văn hoá châu Âu thời trung đại; Những chân trời mới của cư dân châu Âu từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVIII; Cách mạng, giải phóng, dân tộc từ cuối thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX.
Lớp 11 HS được học lịch sử thế giới từ giữa thế kỉ XIX đến năm 1945 Lớp
12, HS tìm hiểu lịch sử thế giới, lịch sử châu Âu và lịch sử Pháp từ năm 1945 đến nay.
Trong SGK lịch sử lớp 10 THPT của cộng hòa Pháp, nội dung về “Các quốc
gia cổ đại phương Tây - Hi Lạp và Rôma” nằm trong chủ đề II “Những phát minh
của cư dân cổ đại » Đây là một nội dung quan trọng trong SGK lịch sử bậc THPT
của Pháp, giúp học sinh hiểu sâu sắc những đóng góp của nền dân chủ ở các quốcgia cổ đại phương Tây - Hi Lạp và Rôma, mà đỉnh cao là nền dân chủ Aten
2.1.2 Khái quát vị trí bài “Các quốc gia cổ đại phương Tây - Hiy Lạp và
Rô ma” trong khóa trình lịch sử thế giới của SGK Việt Nam
Đối với SGK Việt Nam, bên cạnh lịch sử dân tộc, phần lịch sử thế giới chiếmmột vị trí rất quan trọng trong CT CT SGK của Việt Nam được thiết kế theonguyên tắc đồng tâm kết hợp với đường thẳng Theo đó, phần đồng tâm là chủ yếusong không lặp lại, nhất là các sự kiện, mà chú ý nâng cao trình độ lí thuyết của CTTHPT so với THCS Sự phân biệt CT các cấp theo nguyên tắc đồng tâm kết hợp vớiđường thẳng không phải là ở khối lượng sự kiện lịch sử cung cấp cho HS, mà ở mức
độ nhận thức sâu sắc lịch sử của các em
Trên cơ sở đó, phần lịch sử thế giới được biên soạn, thiết kế trong CT SGKnhư sau: ở cấp THPT, lớp 10, HS được tìm hiểu một cách có hệ thống lịch sử thếgiới thời nguyên thuỷ, cổ đại, trung đại và cận đại Lên lớp 11 và 12, các em tiếp tụctìm hiểu về lịch sử thế giới cận đại và hiện đại