3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Mục đích: luận văn xuất phát từ quan điểm của triết học mácxit bàn về văn hóa sinh thái và mối quan hệ giữa giới tự nhiên và đời sống của con người xã hội, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp có tính định hướng trong việc xây dựng nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn trong điều kiện đô thị hóa ở Vĩnh Phúc Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn Phạm vi nghiên cứu là xây dựng nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn trong điều kiện Đô thị hóa ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay 4. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả Luận văn trình bày về những khái niệm: Sinh thái, sinh thái nhân văn, văn hóa sinh thái nhân văn; nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn. Luận chứng và làm rõ thực trạng xây dựng nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn trong điều kiện đô thị hóa ở Vĩnh Phúc hiện nay; xác định nhứng phương hướng và giải pháp xây dựng nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn ở Vĩnh Phúc hiện nay. Những đóng góp mới của luận văn: Luận văn phân tích và làm rõ nếp sống văn hóa sinh thái, đồng thời đưa ra những phương hướng và giải pháp để xây dựng nếp sống văn hóa sinh thái trong điều kiện đô thị hóa ở Vĩnh Phúc hiện nay 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp luận của triết học Mác Lê nin, đặc biệt phương pháp biện chứng duy vật. Ngoài ra còn sử dụng phương pháp logic lịch sử, điều tra thực tế, phân tích so sánh, tiếp cận hệ thống. 6. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm hai chương và 4 tiết
Trang 1MỞ ĐẦU1.Lý do chọn đề tài
Ngày nay môi trường sinh thái và bảo vệ môi trường sinh thái là vấn đềnhận được sự quan tâm của toàn thể nhân loại Môi trường sinh thái không còn
là vấn đề của một cá nhân hay một quốc gia, một dân tộc mà còn là vấn đềchung của toàn thể nhân loại Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề bảo
vệ môi trường đối với sự sinh tồn và phát triển của nhận loại, năm 1972 Hộinghị môi trường thế giới đã được tổ chức tại STốcKhôm (Thủy Điển), Hội nghị
là cái mốc quan trọng đánh dấu sự quan tâm của các quốc gia trên thế giới đếnvấn đề môi trường sinh thái Năm 1992 Liên Hợp quốc ra tuyên bố về môitrường và phát triển; năm 1997 Hội nghị Ki Ôtô tổ chức ở Nhật Bản đã ra Nghịđịnh thư về cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính; gần đây năm 2000Hội nghị môi trường thế giới tổ chức tại Hà Lan đã bàn biện pháp đối phó vớitình trạng trái đất ấm dần lên
Ở Việt Nam, hiện nay đất nước chúng ta đang chuyển sang chặngđường mới Chặng đường đẩy mạnh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Cùng với quá trình công nghiệp hóa thì quá trình đô thị hóa cũng là một tấtyếu khách quan Trong thời gian qua, quá trình đô thị hóa ở nước ta diễn ranhanh Nhưng quá trình đô thị hóa không được kiểm soát tốt sẽ gây ảnh hưởngđến sự phát triển kinh tế - xã hội và môi trường sinh thái Trong thực tế tàinguyên đất ở các đô thị bị khai thác triệt để, diện tích cây xanh và mặt nướcgiảm, ô nhiễm môi trường đô thị ngày càng tăng; văn hóa, thái độ ứng xử vớimôi trường sinh thái của một bộ phận dân cư chưa tốt,…
Hiện nay, quá trình đô thị hoá đang diễn ra vô cùng sôi động trên khắpmọi miền của đất nước Trên mảnh đất Vĩnh Phúc, đô thị hoá cũng đã và đangphát triển mạnh mẽ Tốc độ đô thị hóa ở Vĩnh Phúc trong mấy năm trở lại đâyvào loại cao so với tốc độ đô thị hóa trung bình của cả nước Hơn nữa, về lâu
Trang 2dài, Vĩnh Phúc đang phấn đấu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.
2Trong “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc đến năm
2020 và tầm nhìn đến năm 2030” tỉnh xác định “phấn đấu có đủ các yếu tố cơ bản của một tỉnh công nghiệp vào năm 2015, trở thành thành phố Vĩnh Phúc
Phúc tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của cuộc sống người dân trong tỉnh,trong đó có văn hóa sinh thái Quá trình đô thị hoá cũng khiến cho Vĩnh Phúcphải đối mặt với nhiều thách thức lớn lao: vấn đề dân số, việc làm, tình hình rácthải công nghiệp, ô nhiễm môi trường, sự biến đổi về văn hoá, đạo đức lối sống
Môi trường đô thị ở Vĩnh Phúc đâng bị ô nhiễm, đặc biệt ở những khu
đô thị liền kề với khu công nghiệp, làng nghề, mức độ ô nhiễm nước, không
khí, ô nhiễm đất đã rất trầm trọng Điển hình như,“ở thành phố Vĩnh Yên, thị
xã Phúc Yên, thị trấn Thanh Lãng, thị trấn Vĩnh Tường,… ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí ngày càng nặng và mức độ ô nhiễm đang tăng theo thời gian Hàm lượng bụi trong không khí ở những nơi này đã vượt 4,8 – 7,1 lần so với tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam; nồng độ các chất gây ô nhiễm môi trường nước đã vượt 5,9 lần so với tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam Chất lượng nước của một số hồ ở thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên, thị trấn
Những nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường ở Vĩnh Phúc,
có nguyên nhân khách quan và cả nguyên nhân chủ quan do ý thức của conngười ứng xử với môi trường sinh thái thiếu tích cực Văn hóa sinh thái nhânvăn chưa được chú ý Người dân chưa xây dựng cho mình một nếp sống vănhóa sinh thái nhân văn Vì lợi ích kinh tế, con người sẵn sàng xả nước thảichưa qua xử lý ra các dòng sông, con kênh, hồ nước; khai thác đất và khai thácrừng quá mức;… gây nên những cuộc khủng hoảng sinh thái, đe dọa môitrường xã hội Mâu thuẫn giữa môi trường và xã hội đang là một hiện thực Để
2
* Từ đây trở đi:
- Số thứ nhất chỉ số thứ tự trong danh mục tài liệu tham khảo
Trang 3góp phần giải quyết mâu thuẫn đó cần tạo ra một cuộc sống hài hòa, hòa hợpgiữa con người với tự nhiên Nói cách khác con người cần tạo cho mình cách1
ứng xử có văn hóa với môi trường sinh thái Xây dựng một nếp sống văn hóasinh thái mang tính nhân văn
Từ những sự phân tích như trên cho thấy việc nghiên cứu về xây dựngnếp sống văn hóa sinh thái nhân văn trong điều kiện đô thị hóa ở Vĩnh Phúc làrất cần thiết
ngay từ năm 1844 trong “Bản thảo kinh tế - triết học” đã chỉ ra con người –
xã hội, giới tự nhiên nằm trong hệ thống thống nhất, trong đó giới tự nhiên là
nguồn gốc sinh thành con người, “tự nhiên là thân thể vô cơ của con
con người là hoạt động có ý thức, con người biết “ngắm nhìn bản thân mình
những nguy cơ do hành vi ứng xử thiếu văn hóa của con người đối với giới tựnhiên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại, vận động và phát triển của giới tự
nhiên và xã hội loài người Cùng quan điểm với C Mác, trong tác phẩm “Biện
chứng của tự nhiên” , Ph Ăngghen cũng đã nói đến mối quan hệ giữa con
người và giới tự nhiên Đồng thời ông cũng nêu lên sự khác nhau giữa loài vật
và loài người trong mối quan hệ thích nghi, biến đổi với môi trường tự nhiên
Trang 4Cái khác cơ bản giữa con người và loài vật không chỉ thể hiện ở chỗ hoạt độngcủa con người là hoạt động có ý thức, mà ông đã lường trước được những hậu
quả sẽ xảy ra và cảnh báo chúng ta “không nên quá tự hào về những thắng lợi
của chúng ta với giới tự nhiên, bởi vì mỗi lần chúng ta đạt được một thắng lợi
là mỗi lần giới tự nhiên trả thù lại chúng ta”[50;654] Rất tiếc, sự cảnh tỉnh đócủa Ph Ăngghen trong một thời gian dài đã không được con người - xã hộiquan tâm một cách đầy đủ
Trong thập niên cuối của thế kỷ XX, ở các nước Tư bản đã xuất hiệnnhiều tác phẩm của các nhà khoa học trình bày hiện trạng môi trường thế giới
và đề xuất các phương hướng khắc phục Trong đó, tiêu biểu có: “Một thế
giới không thể chấp nhận được” của Rome Dumong, Hà Nôi 1990; “Cạm bẫy – phát triển: cơ hội và thách thức” của James Goldsmith, Hà Nội, 1997
Ở nước ta, trong những năm 1980 đã có một số công trình, bài viết về
môi trường sinh thái của các tác giả như: Nguyễn Trọng Chuẩn với “Những tư
tưởng của Ph Ăngghen về quan hệ giữa con người và tự nhiên”, tạp chí triết
học số 4, 1980; “Triết học – khoa học tự nhiên – khoa học kỹ thuật”, NXB Tiến bộ Mátxitcova (tiếng Việt), 1987 ; Đoàn Cảnh với “Những vấn đề sinh
thái và môi trường ở Việt Nam”, NXb TP Hồ Chí Minh, 1980,… Những bài
viết của các tác giả đã đề cập đến các khía cạnh thực trạng môi trường, đề xuấtphương hướng và giải pháp khắc phục
Sau Đai hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng cộng sản ViệtNam, công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa và quá trình đô thị hóa ởnước ta được đẩy mạnh Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa một mặtmang lại những hiệu quả tích cực: kinh tế tăng trưởng nhanh, đời sống nhândân về vật chất và tinh thần được cải thiện, điều kiện chăm sóc sức khỏe tốthơn, Nhưng mặt khác quá trình Công nghiệp hóa và đô thị hóa cũng cónhững tác động tiêu cực, đặc biệt là về môi trường sinh thái Thời gian nàycông tác bảo vệ môi trường của Đảng, Nhà nước đã được chú ý Đã có những
Trang 5công trình khoa học và tác phẩm, bài viết về môi trường sinh thái như:
Chương trình khoa học và công nghệ cấp Nhà Nước về bảo vệ môi trường: Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, tuyển tập báo cáo tại hội thảo quốc gia về bảo vệ môi trường, Hà Nội, 7-9/10/1993; Lê Trọng Cúc và A T Rambo
với “Một số vấn đề sinh thái nhân văn ở Việt Nam”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 1995; Phạm Văn Boong với “Ý thức sinh thái và vấn đề phát triển lâu
bền”, NXb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2002; tập thể tác giả Trần Lê Bảo,
Hoàng Duy Chúc, Vũ Minh Tâm, Phạm Thị Ngọc Trầm với tác phẩm “Văn
hóa sinh thái – nhân văn”, NXB ĐH Sư Phạm, 2005; Những tác phẩm, bài
viết của các tác giả trên đã đề cập đến các khía cạnh như: thực trạng môitrường, sự cần thiết phải bảo vệ môi trường sinh thái, đối tượng và chức năngcủa văn hóa học sinh thái nhân văn; sự hình thành và phát triển của văn hóahọc sinh thái nhân văn; các lĩnh vực của môi trường sinh thái nhân văn,…
Những năm gần đây đã có một số tác giả có các luận án, luận văn bàn
về môi trường sinh thái, như Đỗ Thị Ngọc Lan với đề tài “Mối quan hệ giữa
thích nghi và biến đổi môi trường tự nhiên của con người trong quá trình hoạt động sống”; Bùi Văn Dũng với đề tài “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế
và bảo vệ môi trường cho sự phát triển lâu bền”; Phan Hoàng Dũng với đề tài
“Vấn đề sinh thái xã hội ở Việt Nam hiện nay”,…
Đặc biệt, ngày 29 tháng 11 năm 2005, Quốc hội nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật bảo vệ môi trường để thay thế Luậtbảo vệ môi trường năm 1993 Luật này có 134 điều được thể hiện trong 14chương Luật này là các chuẩn mực quan trọng hàng đầu để bảo vệ môi trường
ở nước ta nói chung và các tỉnh, thành phố nói riêng Luật đã quy định nhữnghành vi bảo vệ môi trường cần được thực hiện của các tổ chức, doanh nghiệp,
xã hội, cộng đồng dân cư và các cá nhân Thực hiện các chuẩn mực này cũng
là thực hiện các hành vi văn hóa trong ứng xử với môi trường
Trang 6Trong phạm vi tỉnh Vĩnh Phúc, thời gian gần đây cũng đã có một số dự
án bảo vệ môi trường sinh thái của Chi cục bảo vệ môi trường tỉnh, như “Dự
án SEF/26/02”, “Dự án Bảo vệ môi trường ở Khai Quang”,… Ngoài ra còn
có một số tác phẩm, bài viết của các tác giả đề cập đến vấn đề biến đổi tưtưởng, văn hóa – xã hội của người dân tỉnh Vĩnh Phúc dưới tác động của đôthị hóa, như: Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Thế Trường đồng chủ biên
cuốn“Tác động của đô thị hóa, công nghiệp hóa tới phát triển kinh tế và biến
đổi văn hóa xã hội ở tỉnh Vĩnh Phúc”, NXB Khoa học xã hội, 2009; Nhà
giáoNguyễn Khắc Bộvới bài viết “Hoạt động bảo vệ môi trường ở Vĩnh
Phúc” in trên tạp chí Khoa học Công nghệ môi trường và con người Vĩnh
Phúc, NXB Nông nghiệp, 2005; Tiến sỹ Nguyễn Thế Trường với bài viết
“Gắn kết giữa Khoa học và công nghệ với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở Vĩnh Phúc” in trên tạp chí Khoa học Công nghệ môi trường và con
người Vĩnh Phúc, NXB Nông nghiệp, 2005,…… Tuy nhiên việc nghiên cứu
vấn đề xây dựng nếp sống văn hóa sinh thái trong điều kiện đô thị hóa ở tỉnhVĩnh Phúc một cách có hệ thống thì hầu như chưa có tác giả nào đề cập
Mặt khác chính sự căng thẳng và bức xúc của vấn đề môi trường sốngđòi hỏi con người không chỉ tìm ra những giải pháp thích hợp mà còn cần phải
có hoạt động thiết thực và kịp thời Trong đó, bước đi đầu tiên nhưng có tính
chất quyết định là phải xây dựng được nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn
cho con người Do đó việc xây dựng nếp sống văn hóa sinh thái nhân văntrong điều kiện Công nghiệp hóa, đô thị hóa ở Vĩnh Phúc đã trở thành vấn đềcấp bách Tuy nhiên, trong thực tế vấn đề xây dựng nếp sống văn hóa sinh tháinhân văn trong điều kiện Đô thị hóa một cách có hệ thống vẫn chưa được
nghiên cứu nhiều Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Xây dựng nếp sống văn hóa
sinh thái nhân văn trong điều đô thị hóa ở Vĩnh Phúc hiện nay” với hy vọng
góp phần nhỏ bé vào việc giải quyết cơ sở lý luận và thực tiễn của văn hóasinh thái nhân văn ở Vĩnh Phúc hiện nay
Trang 73 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Mục đích: luận văn xuất phát từ quan điểm của triết học mácxit bàn về
văn hóa sinh thái và mối quan hệ giữa giới tự nhiên và đời sống của con người
xã hội, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp có tính định hướng trong việcxây dựng nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn trong điều kiện đô thị hóa ởVĩnh Phúc
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn Phạm vi nghiên cứu là xây dựng nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn
trong điều kiện Đô thị hóa ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
4 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả
Luận văn trình bày về những khái niệm: Sinh thái, sinh thái nhân văn,văn hóa sinh thái nhân văn; nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn Luận chứng
và làm rõ thực trạng xây dựng nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn trong điềukiện đô thị hóa ở Vĩnh Phúc hiện nay; xác định nhứng phương hướng và giảipháp xây dựng nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn ở Vĩnh Phúc hiện nay
Những đóng góp mới của luận văn: Luận văn phân tích và làm rõ nếpsống văn hóa sinh thái, đồng thời đưa ra những phương hướng và giải pháp đểxây dựng nếp sống văn hóa sinh thái trong điều kiện đô thị hóa ở Vĩnh Phúchiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp luận của triết học
Mác - Lê nin, đặc biệt phương pháp biện chứng duy vật Ngoài ra còn sử dụngphương pháp logic lịch sử, điều tra thực tế, phân tích so sánh, tiếp cận hệ thống
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm hai chương và 4 tiết
Trang 8Chương 1 NẾP SỐNG VĂN HÓA SINH THÁI NHÂN VĂN - NHỮNG VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề
Nghiên cứu về lối sống, nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn là một vấn
đề còn khá mới mẻ ở Việt Nam Những khía cạnh cụ thể về lĩnh vực sinh thái
đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở những khía cạnh khácnhau, chẳng hạn: khía cạnh là một bộ môn khoa học tự nhiên (sinh thái học –sinh học), khía cạnh kinh tế (kinh tế - sinh thái), khía cạnh pháp luât (luật vàcác văn bản dưới luật về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường), khía
cạnh y học (y – sinh thái)… Tuy nhiên việc nghiên cứu khía cạnh nếp sống
văn hóa sinh thái (với tư cách là một nội dung thể hiện của ý thức xã hội)trong quan hệ với tự nhiên, từ đó đưa ra những cái chung cho hoạt động củacon người, làm cho mỗi suy nghĩ, hành động, việc làm của mỗi người dân trởthành những thói quen, những tập quán, những cách ứng xử tốt với môi trườngsinh thái Những thói quen, tập quán, cách ứng xử tốt đẹp đó ăn sâu vào nếpnghĩ, hành động, việc làm của mỗi cư dân đô thị, hình thành ý thức tôn trọng
và bảo vệ thiên nhiên Muốn vậy, chúng ta phải xây dựng được nếp sống văn
hóa sinh thái mang tính nhân văn Nếp sống văn hóa, ở đây là một hình thứcthể hiện của ý thức xã hội Vì vậy, chúng tôi chỉ đề cập nếp sống văn hóa sinhthái nhân văn từ góc độ triết học
Để đi tìm hiểu nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn, chúng tôi trước hếtnghiên cứu một cách cô đọng, khái quát nhất những khái niệm: sinh thái, hệsinh thái, sinh thái nhân văn, môi trường, môi trường sinh thái và môi trườngsinh thái nhân văn; văn hóa, văn hóa sinh thái nhân văn và nếp sống văn hóasinh thái nhân văn
Trang 91.1.1 Những khái niệm sinh thái, sinh thái học, sinh thái nhân văn.
1.1.1.1 Sinh thái
Sinh thái theo tiếng Hy Lạp là “oikos” “Oikos” có hai cách hiểu: Thứ nhất
có nghĩa là nhà ở, nơi cư trú, nơi sinh sống; thứ hai có nghĩa là tồn tại sự sống
Một trong những đặc trưng cơ bản nhất của sự sống là quá trình trao đổichất thường xuyên của cơ thể sống với môi trường sống, từ đó có cách hiểu thứ
ba về sinh thái, đó là: mối quan hệ giữa cơ thể sống với môi trường xung quanh
1.1.1.2.Sinh thái học
Sinh thái học theo tiếng Hy Lạp là “Oikoslogos” Ở đây “logos” có
nghĩa là khoa học, học thuyết, do đó chúng ta có thể hiểu “Oikoslogos” cónghĩa là học thuyết về nơi ở, chỗ ở, nơi cư trú, về điều kiện sinh sống, hay môitrường sinh sống của sinh vật Ở đây, ngay từ nghĩa gốc của thuật ngữ
“Oikoslogos” đã cho chúng ta thấy một điều đó là: mọi sinh vật đều có nhà ở,
nơi sinh sống riêng đặc trưng cho mình; nhà ở, nơi sinh sống chính là nhữngđiều kiện môi trường đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của chúng Việc các
sinh vật “lựa chọn” cho mình một nơi cư trú thích hợp không phải là hoàn toàn
ngẫu nhiên, mà phụ thuộc vào mối quan hệ của cơ thể chúng với những điềukiện của môi trường xung quanh Đó là sự phản ứng thích nghi hay không thíchnghi của cơ thể sinh vật (trong đó có con người) đối với những yếu tố môitrường như: không khí, ánh sáng, đất, nước,…
Ban đầu, “Oikoslogos” với cách hiểu là học thuyết về nơi ở, chỗ ở, nơi
cư trú được khẳng định trong khoa học như là tên gọi của một trong những bộphận của sinh học Thuật ngữ này được nhà sinh vật học người Đức làE.Hecken lần đầu tiên đưa vào bài giảng khoa học của mình năm 1866 TheoHecken thì sinh thái học đó là khoa học về môi trường tồn tại của các cơ thểsống Sinh thái học nghiên cứu những mối liên hệ chung của động vật với môitrường vô cơ và hữu cơ của chúng
Trang 10Ngày nay, ý nghĩa của sinh thái học đã vượt ra ngoài phạm vi ngànhsinh học, đối tượng nghiên cứu của nó cũng hoàn thiện hơn Trải qua hàngtrăm năm phát triển, đã có đến hàng trăm định nghĩa khác nhau về sinh tháihọc theo cả lối cổ điển và hiện đại Phạm Thị Ngọc Trầm trong tác phẩm
“Môi trường sinh thái - vấn đề và giải pháp” đã định nghĩa “sinh thái học đó
là khoa học nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa xã hội loài người và sinh
với quan điểm của sinh thái học hiện đại, khi tiến từ việc nghiên cứu mối quan
hệ “cơ thể - môi trường” sang nghiên cứu mối quan hệ “con người – tự nhiên,
xã hội – sinh quyển” Vì vậy sinh thái học đã mở rộng phạm vi nghiên cứu khi
không dừng ở phạm vi môn sinh vật học mà đã tiến tới tiếp cận cái chung hơn,khái quát hơn, tiếp cận với những vấn đề triết học
1.1.1.3 Sinh thái - nhân văn
Sinh thái nhân văn là một bộ môn khoa học đang trong quá trình hìnhthành và phát triển Sự ra đời của sinh thái nhân văn là kết quả tất yếu do nhucầu hoạt động thực tiễn của xã hội và sự phát triển của sinh thái học
Sinh thái học nhân văn có nhiệm vụ nghiên cứu mối quan hệ qua lại và
sự tác động lẫn nhau giữa xã hội với tự nhiên và sự điều khiển một cách có ýthức mối quan hệ đó nhằm đảm bảo những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sựtồn tại và phát triển của con người và xã hội loài người Trước kia con ngườichưa chú ý đúng mức tới mối quan hệ này Ph Ăngghen đã nhận xét, từ trướctới nay khoa học tự nhiên, cũng như triết học đã hoàn toàn coi thường ảnhhưởng hoạt động của con người đối với tư duy của họ Một trong hai mônkhoa học đó, một mặt chỉ biết có tự nhiên, mặt khác chỉ biết có tư tưởng.Nhưng chính việc người ta biến đổi tự nhiên chứ không phải một mình giới tựnhiên, với tính cách tự nhiên là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duycon người, và trí tuệ con người đã phát triển song song với việc người ta đãhọc cách cải biến tự nhiên
Trang 11Trong thực tiễn lịch sử đã diễn ra nhiều bi kịch về sự tác động của giới
tự nhiên, môi trường sống lên đời sống con người, đời sống xã hội.… Những
bi kịch ấy đã dạy cho người ta thấy rằng, chính chúng ta đang hủy diệt chínhmình Thế giới không thuộc về anh, mà anh thuộc về thế giới Anh chỉ cóquyền đổi mới thế giới trong phạm vi nó cho phép Vượt qua giới hạn ấy anh
là kẻ thù của loài người
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, loài người đã chứng kiến sự tàn phácủa chiến tranh đối với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, đặc biệt sựnguy hại đối với môi trường do vũ khí nguyên tử gây ra
Mặt khác, sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước tư bản chủ nghĩađẩy mạnh sản xuất để phục hồi và phát triển kinh tế Với lực lượng sản xuấtdựa trên trình độ khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại chưa được hoàn thiện,
sự tác động của sản xuất xã hội lên môi trường tự nhiên mạnh như vũ bãonhưng đồng thời cũng để lại nhiều hậu quả tiêu cực Các nhà khoa học lúc này
đã nhìn thấy nguy cơ cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trườngsống Ở một số nước Phương Tây đã hình thành quan điểm tăng trưởng số 0.Phong trào bảo vệ môi trường sống đã xuất hiện và nhanh chóng lan rộngkhắp các nước và được mọi tầng lớp trong xã hội ủng hộ, đặc biệt là các nhàkhoa học Như vậy, sinh thái học đến đây đã đưa được yếu tố xã hội vào trongnội dung nghiên cứu của nó, từ đó sinh thái học nhân văn hay còn gọi là sinhthái học xã hội ra đời Theo nhà sinh thái học người Nga, E V Ghiruxov thì
“Sinh thái học – xã hội trong dạng hiện đại của mình chỉ mới xuất hiện vào cuối những năm 60 của thế kỷ XX”[17;22]
Đến đây, chúng ta có thể khẳng định: sinh thái học nhân văn ra đời xuấtphát từ nhu cầu hoạt động thực tiễn của xã hội, đồng thời là kết quả phát triểnbên trong của khoa học, phản ánh những mâu thuẫn của thời đại Sinh thái họcnhân văn là một đầu mối quan trọng đặc biệt, ở đó kết hợp được nhữngkhuynh hướng khoa học khác nhau với thực tiễn của nhân loại Cơ sở khoa
Trang 12học tự nhiên của sinh thái học nhân văn là nghiên cứu các quy luật tự điềuchỉnh của tự nhiên, nghĩa là những quy luật biểu hiện tính có trật tự, tính tựđiều chỉnh, tự bảo vệ, tự làm sạch của chu trình trao đổi chất, năng lượng vàthông tin của sinh quyển trong sự thống nhất và gắn bó chặt chẽ với các chutrình phi sinh học của tự nhiên Cơ sở khoa học của sinh thái học nhân văn lànhững tri thức của con người về những hiện tượng xã hội và những quy luậtphát triển của chúng như về tổ chức và quản lý, các yếu tố ý thức, tinh thần vàvăn hóa, khả năng thích ứng và tự điều chỉnh của con người và xã hội nhằmbảo vệ hệ thống con người – xã hội và tự nhiên.
Với tư cách là khoa học nghiên cứu mối quan hệ qua lại và tác động lẫnnhau giữa con người, xã hội và tự nhiên, sinh thái học nhân văn đặc biệt quantâm đến vị trí, vai trò của con người trong sinh quyển, về cách thức xác địnhnhững điều kiện tự nhiên tối ưu đối với sự sống của con người trong sự pháttriển xã hội, cũng như sự tác động của con người đến các yếu tố khác của sinhquyển Vì vậy sinh thái học nhân văn có nhiệm vụ nghiên cứu những quy luật
tự điều chỉnh của sinh quyển và các phương pháp sử dụng chúng bởi conngười, nhằm bảo đẳm những điều kiện tự nhiên cho sự phát triển của xã hội Ởđây, chúng ta thấy một điều là phải thay đổi sự bảo vệ tự nhiên một cách thụđộng sang bảo vệ tự nhiên một cách tích cực, chủ động, đó là yêu cầu cấp thiếtcủa thời đại
Như vậy, sinh thái học nhân văn là một khoa học nghiên cứu mối quan
hệ qua lại và sự tác động lẫn nhau giữa xã hội và tự nhiên – những quy luậtvận động của sinh quyển và sự vận dụng một cách có ý thức của con ngườinhững quy luật sinh thái học đó vào hoạt động thực tiễn nhằm bảo đảm nhữngđiều kiện cần thiết cho sự phát triển bền vững của xã hội hay nói một cáchkhác sinh thái học nhân văn là một môn khoa học nghiên cứu những phươngpháp, cách thức tổ chức hoạt động của con người trong lĩnh vực quan hệ qualại và tác động lẫn nhau giữa con người và tự nhiên, dựa trên cơ sở những yêucầu khách quan giữa các quy luật sinh thái học nhằm bảo đảm sự phát triển hàihòa giữa xã hội và tự nhiên
Trang 131.1.1.4 Môi trường, môi trường sinh thái và môi trường sinh thái - nhân văn
Môi trường là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ những điều kiện baoquanh một thực thể hay một nhóm thực thể nào đó Môi trường được hiểu theonhiều cấp độ khác nhau, theo đó chúng ta có các khái niệm về môi trường sinhthái và môi trường sinh thái nhân văn
Một là, môi trường được hiểu là toàn bộ thế giới vật chất với tất cả sự
đa dạng, muôn màu, muôn vẻ, luôn vận động, biến đổi và tồn tại khách quan
Đó là môi trường trái đất hay môi trường toàn cầu
Hai là, môi trường được hiểu theo nghĩa là môi trường sống Theo cáchhiểu này thì môi trường chính là sinh quyển – ngôi nhà chung của tất cả mọisinh vật trên trái đất, kể cả con người và xã hội loài người với tư cách lànhững hệ thống vật chất sống Môi trường sống bao gồm cả những yếu tố vô
cơ và hữu cơ Môi trường vô cơ bao gồm có nhiều yếu tố không sống, chúngchỉ đơn thuần mang tính chất vật lý, hóa học và khí hậu (ánh sáng, không khí,
…) Môi trường hữu cơ gồm có những yếu tố sống (sinh học) như động vật,thực vật, nấm, tảo, địa y,… cùng các chất thải của chúng qua quá trình trao đổichất và các xác chết của chúng Giữa các yếu tố vô cơ và các yếu tố hữu cơtrong môi trường sống có mối quan hệ khăng khít, tác động qua lại lẫn nhau.Môi trường sống còn được gọi là môi trường sinh thái tự nhiên hay môi trườngsinh thái Theo tập thể tác giả Trần Lê Bảo, Vũ Xuân Kính, Phạm Thị Ngọc
Trầm, Vũ Minh Tâm thì “môi trường sinh thái là môi trường sống hay cái
nhà ở của sinh vật, bao gồm tất cả các điều kiện xung quanh có liên quan đến
sự sống của sinh thể”[4;14]
Ba là, môi trường được hiểu là môi trường sống của con người và xã hộiloài người, nó bao gồm sinh quyển và xã hội loài người hay còn được gọi là môitrường sinh thái nhân văn Đó là môi trường của mối quan hệ và tác động lẫn
nhau giữa con người và xã hội loài người với các yếu tố của sinh quyển “Môi
trường sinh thái nhân văn là tổng hợp tất cả những điều kiện tự nhiên và xã hội,
Trang 14cả vô cơ lẫn hữu cơ, có liên quan đến sự sống của con người, sự tồn tại và phát triển của xã hội”[4;15]
Môi trường sinh thái nhân văn bao gồm tất cả những điều kiện tự nhiênvốn có, cùng những tạo phẩm văn hóa do bàn tay và khối óc của con người tạonên từ các chất liệu lấy từ tự nhiên (mối quan hệ giữa con người và tự nhiên) vàcác mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa người với người (mối quan hệ giữa conngười với xã hội) Đó là môi trường tự nhiên – xã hội hay môi trường tự nhiênngười hóa
Tuy con người đã tạo ra cho mình một môi trường sống mới – môi trường
xã hội, môi trường xã hội khác về chất so với môi trường tự nhiên, song sự sốngcủa con người, sự tồn tại, phát triển của xã hội không thể tách rời khỏi môi
trường tự nhiên Về vấn đề này, Ph Ăng ghen đã nói “Có thể xem xét lịch sử
dưới hai mặt, có thể chia lịch sử ra thành lịch sử tự nhiên và lịch sử nhân loại Tuy nhiên hai mặt đó không tách rời nhau Chừng nào mà con người còn tồn tại thì lịch sử của họ và lịch sử tự nhiên quy định lẫn nhau”[4;25]
1.1.2 Văn hóa, văn hóa học sinh thái - nhân văn, nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn và vai trò của nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn trong đời sống xã hội
1.1.2.1.Văn hóa
Văn hóa là một từ tiếng Hán, do Lưu Hướng, người thời Tây Hán nêu ra
đầu tiên Lúc bấy giờ, hai chữ văn hóa có nghĩa là “dùng văn để hóa”, nói một
cách khác, văn hóa tức là dùng văn để giáo hóa con người – văn trị giáo hóa.Văn hóa được dùng để đối lập với vũ lực
Văn hóa theo nghĩa gốc của tiếng Latinh là “culture” có nghĩa là khai
vỡ đất hoang, gieo trồng, trồng trọt Như vậy, ngay từ đầu thuật ngữ văn hóa
đã xuất phát từ một hoạt động lao động sản xuất, hoạt động đầu tiên và cũng làquan trọng nhất đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, hoạtđộng không bao giờ có thể tách rời khỏi sự tác động của thiên nhiên, hoạt
Trang 15động có sự gắn bó chặt chẽ giữa lao động của con người với đất đai – nguồngốc sản sinh ra mọi của cải.
Ở Phương Tây, để chỉ đối tượng mà chúng ta nghiên cứu, người Pháp,
người Anh có từ "culture”, người Đức có từ “kurtu”, người Nga có từ
“cultura” Những chữ này có chung gốc Latinh là chữ “cultus amini” là trồng
trọt tinh thần Như vậy, có thể hiểu chữ “cultus” là văn hóa với hai khía cạnh:
trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thểhay cộng đồng để họ không còn là con vật tự nhiên, và họ có những phẩm chấttốt đẹp
Đến giữa thế kỷ XIX, do sự phát triển của các khoa học như: nhân loạihọc, xã hội học, dân tộc học,… khái niệm văn hóa đã thay đổi Người đầu tiênđưa ra định nghĩa mới về văn hóa là Taylor, nhà nhân loại học đầu tiên của
nước Anh Ông nói: “Văn hóa là một tổng thể phức tạp, bao gồm tri thức, tín
ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và cả những năng lực, thói quen mà con người đạt được trong xã hội”[30;7]
Ngày nay, từ định nghĩa gốc văn hóa, đã có đến hàng trăm định nghĩakhác nhau về văn hóa Xuất phát từ những khía cạnh khác nhau của đời sống
xã hội: từ đời sống vật chất đến đời sống tinh thần, từ những khái quát rộnglớn, bao trùm như thế giới quan, nhân sinh quan đến những khía cạnh rất cụthể của cuộc sống đời thường như: đạo đức, thẩm mỹ, luật pháp, thị trường,sinh thái,… Mà mỗi nhà nghiên cứu có một cách định nghĩa riêng về văn hóa,phụ thuộc vào cách tiếp cận, góc nhìn, những cứ liệu, mục đích riêng
Qua nghiên cứu, chúng tôi nghiêng về định nghĩa văn hóa của Nguyễn
Ngọc Thêm Trong cuốn “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, ông định nghĩa “Văn
hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa
đã nêu bật được bốn đặc trưng quan trọng của văn hóa: tính hệ thống, tính giátrị, tính lịch sử, tính nhân sinh
Trang 161.1.2.2.Văn hóa sinh thái nhân văn
Văn hóa sinh thái nhân văn là một khoa học nghiên cứu tất cả những giátrị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình con ngườiquan hệ, tác động và biến đổi giới tự nhiên nhằm tạo ra cho mình những tạophẩm văn hóa thỏa mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần và một môi trườngsống ngày càng phù hợp hơn, thuận lợi hơn, tốt đẹp hơn
Trong các tạo phẩm văn hóa sinh thái nhân văn do con người tạo ra từcác chất liệu tự nhiên, thì ngoài các giá trị vật chất và tinh thần, như mọi giá trịvăn hóa, còn có giá trị sinh thái, nghĩa là phải thể hiện được mối quan hệ gắn
bó hài hòa giữa con người với tự nhiên, phù hợp với cảnh quan xung quanh
Để tạo ra được những tạo phẩm văn hóa có giá trị sinh thái trường tồn thìngoài sự sáng tạo và lao động còn đòi hỏi ở con người sự hiểu biết sâu sắc,một tình yêu và sự hòa đồng với thiên nhiên Do vậy, mục đích cuối cùng củavăn hóa sinh thái nhân văn là tiến đến xây dựng mối quan hệ hài hòa thật sựgiữa con người với tự nhiên, hướng đến sự phát triển bền vững
1.1.2.3.Nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn và vai trò của nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn trong đời sống xã hội
Khái niệm nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn
Để đi tìm hiểu khái niệm nếp sống văn hoá sinh thái nhân văn, chúng tôibắt đầu từ việc làm rõ khái niệm lối sống, nếp sống
Thứ nhất, về khái niệm lối sống Lối sống là hoạt động của con người
trên mọi phương diện, từ lao động, sinh hoạt, các hoạt động chính trị, xãhội, hoạt động bảo vệ môi trường, văn hoá, giáo dục, thể dục thể thao,… Vềbản chất lối sống gắn liền với giá trị văn hoá tinh thần của con người, chịu
sự tác động của phương thức sản xuất, ý thức xã hội, trở thành quy tắcmang tính xã hội
Lối sống là một khái niệm có tính tổng hợp và đồng bộ, bao gồm cácmối quan hệ kinh tế, xã hội, tư tưởng, tâm lý, đạo đức, văn hoá và các mối
Trang 17quan hệ khác của con người được hình thành từ hình thái kinh tế xã hội nhấtđịnh Xung quanh khái niệm lối sống đã có rất nhiều cách định nghĩa khác
nhau Lê Viết Thụ trong tác phẩm, “Công tác văn hóa quần chúng” đã định nghĩa “lối sống là một tổng thể, một hệ thống những đặc điểm chủ yếu nói lên
hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thức kinh tế - xã hội nhất định”[66;120]
Như vậy có thể thấy, lối sống là những cách thức, phép tắc tổ chức vàđiều khiển đời sống cộng đồng đã được thừa nhận rộng rãi thành các quy tắcchuẩn mực chung
Lối sống là một thói quen có tính định hướng, có chất lượng lý tưởng làphương cách thể hiện tổng hợp tất cả các cấu trúc, nền văn hoá, đặc trưng vănhoá của một cộng đồng Lối sống không chỉ là hành vi như cách ăn mặc, đi lại,
nó là hành vi hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tư duy, làm việc và phương cách
xử lý các mối quan hệ
Lối sống có quan hệ chặt chẽ với phương thức sản xuất của mỗi thời
đại, trong “Hệ tư tưởng Đức” C Mác có viết “không nên nghiên cứu phương
thức sản xuất ấy đơn thuần theo khía cạnh nó là sự tái sản xuất ra sự tồn tại thể xác của những cá nhân ấy, một hình thức nhất định của sự biểu hiện đời
lên ba ý sau: Con người muốn sống được, nghĩa là muốn tái sản xuất ra sự tồntại thể xác của mình trước hết phải sản xuất; Phương thức sản xuất là một hìnhthức hoạt động của con người, thông qua hoạt động đó mà con người biểu hiệnđời sống của mình, biểu hiện bản thân mình; Phương thức sản xuất là mộtphương thức sinh sống nhất định của con người, là mặt cơ bản của lối sống
Vì vậy, tìm hiểu lối sống trước hết từ phương thức hoạt động sản xuấtcủa con người, ở mặt quan hệ với thiên nhiên Phương thức sản xuất là điềukiện kinh tế - xã hội của lối sống, là cơ sở để tìm hiểu lối sống Tuy nhiên,không thể đồng nhất phương thức sản xuất và lối sống được Phạm vi của lối
Trang 18sống rộng lớn hơn phương thức sản xuất Ngoài hoạt động sản xuất, con ngườicòn có các hoạt động khác như hoạt động xã hội, hoạt động chính trị, hoạtđộng tư tưởng và văn hóa,…
Thứ hai, về khái niệm nếp sống Khái niệm nếp sống có phạm vi hẹp
hơn khái niệm lối sống Nếp sống bao gồm những cách thức, hoạt động và suynghĩ, những quy ước được lặp đi lặp lại hằng ngày thành thói quen như tậpquán sản xuất, sinh hoạt, phong tục, lễ nghi, trong hành vi đạo đức, pháp luật
Nếp sống là mặt ổn định của lối sống, là chiều sâu của lối sống Nó baogồm tất cả những cách thức làm ăn, sinh sống, suy nghĩ, đối xử … đã đượcmọi người trong xã hội thừa nhận là đúng, đều làm như thế và hướng cho lớptrẻ cũng làm như thế, được lặp đi lặp lại lâu ngày thành thói quen xã hội, thànhphong tục tập quán, thành lễ chế, luân lý, pháp luật, của toàn xã hội, của cảmột thời, và có truyền từ đời này qua đời khác
Nếp sống là những khuôn mẫu hành vi đã định hình ở một cá nhân haymột nhóm xã hội Trong những môi trường sống cụ thể, nếp sống được hìnhthành như hệ thống chuẩn mực chung được thừa nhận rộng rãi trở thành thóiquen và người ta cứ theo đó mà thực hiện các hành vi ứng xử một cách tự nhiên
Nếp sống được thể hiện qua cách thức tổ chức cuộc sống, sinh hoạt ổnđịnh của các thành viên trong gia đình, ngoài xã hội, gồm các hoạt động nghềnghiệp, vui chơi giải trí, giáo dục, các hoạt động ngày lễ tết
So sánh giữa lối sống và nếp sống, ta thấy lối sống nói lên tính địnhtính, định hướng Xã hội nào có lối sống ấy Nếp sống nói lên tính định hình
và định lượng Chẳng hạn, nếp sống tốt: ngăn nắp, trật tự, vệ sinh, không vứtrác, xả rác bừa bãi,… Nếp sống không tốt: nói tục, chửi bậy, vứt rác, xả rácbừa bãi không theo quy định chung,…
Xung quanh khái niệm nếp sống đã có nhiều định nghĩa khác nhau.Theo tập thể tác giả Trần Lê Bảo, Vũ Minh Tâm, Phạm thị Ngọc Trầm trong
tác phẩm “Văn hóa sinh thái nhân văn” thì “Nếp sống văn hóa sinh thái nhân
Trang 19văn là tình yêu đối với thiên nhiên, sống hòa hợp với tự nhiên, luôn tôn tạo và bảo vệ vẻ đẹp và sự trong sạch của thiên nhiên”[3;196].
Nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn có mặt trong tất cả các lĩnh vựchoạt động của con người từ công nghiệp hóa, đô thị hóa, từ sản xuất ra của cảivật chất, kinh doanh, thương mại, kiến trúc, xây dựng cơ sở hạ tầng đến nhữngsinh hoạt đời thường, vui chơi giải trí, thưởng thức nghệ thuật Nếp sống vănhóa sinh thái nhân văn được thể hiện trong lối tư duy sinh thái đến những hành
vi ứng xử cụ thể của con người đối với thiên nhiên Vì vậy, văn hóa sinh tháinhân văn có mặt trong tư duy chính trị, đạo đức, thẩm mỹ, văn hóa nói chungtrong lĩnh vực sinh thái nhân văn
Vai trò của nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn
Dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại,môi trường tự nhiên đang bị thay đổi nhanh chóng Chính sự phát triển mạnh
mẽ của khoa học – công nghệ, cùng với nền sản xuất mang tính xã hội hóangày càng cao, đã tạo nên sự hợp tác và liên kết quốc tế trên mọi mặt của đờisống xã hội Những điều đó đã mang lại cho ý thức của con người nói chung
và ý thức trong việc thực hiện nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn nói riêngtính chất xã hội hóa ngày càng rộng rãi và cũng được nâng lên Con người đã
ý thức được tầm quan trọng của việc thực hiện nếp sống văn hóa sinh tháinhân văn đối với đời sống xã hội
Thứ nhất: nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn với tư cách là một hình
thức biểu hiện của ý thức xã hội, là cơ sở điều khiển một cách có ý thức mốiquan hệ giữa con người với tự nhiên
Hành động của con người bao giờ cũng là hoạt động có ý thức Hoạtđộng sản xuất vật chất là hoạt động đầu tiên và cơ bản nhất của con người đểduy trì sự sống của bản thân, sự tồn tại và phát triển không ngừng của xã hội.Bằng hoạt động thực tiễn và thông qua quá trình hoạt động thực tiễn, trướctiên là hoạt động sản xuất vật chất – hoạt động thực tiễn cơ bản nhất, con
Trang 20người không ngừng tác động lên tự nhiên, lấy từ tự nhiên những nguyên nhiênliệu để duy trì sự sống và phục vụ cho sản xuất và đời sống Khi mà sản xuấtngày càng phát triển, phương thức sản xuất của con người cũng ngày càngphát triển, con người càng có khả năng khai thác, sử dụng và biến đổi giới tựnhiên mạnh mẽ hơn, sâu sắc hơn và hiệu quả hơn Ngày nay, con người và xãhội loài người đang nắm giữ vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự tồn tại củasinh quyển.
Có một thực tế khách quan phải thừa nhận rằng, đứng trên bình diệnlịch sử phát triển của xã hội loài người thì những kết quả mà con người đạtđược trong hoạt động sản xuất vật chất đều là kết quả của những hoạt động tựgiác, tức là những hoạt động có mục đích, có ý thức của con người, nhằm mụctiêu thỏa mãn những nhu cầu ngày càng cao của con người và xã hội loàingười Song nếu xét một cách tổng thể, tức là trên bình diện các mối quan hệtác động qua lại giữa các yếu tố trong hệ thống xã hội – tự nhiên, hay bìnhdiện sinh thái thì hoạt động sản xuất vật chất của con người cho đến nay vẫn làhoạt động tự phát Điều này được thể hiện ở những khía cạnh sau:
Hoạt động của con người từ trước đến nay hầu hết vẫn chưa tính toánđầy đủ những quy luật tồn tại và phát triển của yếu tố tự nhiên Những hoạtđộng tưởng trừng như có ý thức của con người trong mối quan hệ với tự nhiên
đã nhiều lần phải trả giá quá đắt Lịch sử nhân loại đã cho ta nhiều bài học, đó
là sự sụp đổ của các nền văn minh Maya, văn minh Ai Cập, văn minh LưỡngHà,… Những nền văn minh đó sụp đổ và biến mất do nhiều nguyên nhânkhác nhau, song cũng không thể không tính đến một nguyên nhân từ sự ứng
xử của con người với môi trường tự nhiên, đó là sự khai thác và tác động quámức của con người với môi trường tự nhiên Ở đây, chúng ta phải lưu ý mộtđiều rằng, những gì đã xảy ra trong lịch sử thì cũng rất có thể sẽ xảy ra vớihiện tại và cả tương lai, nếu như loài người chúng ta ứng xử vô cảm với môitrường tự nhiên, thiếu văn hóa sinh thái
Trang 21Chúng ta hãy cùng tưởng tưởng, điều gì sẽ xảy ra nếu như ngày naynhân loại chúng ta phải đối phó với một cuộc khủng hoảng sinh thái trên quytoàn cầu? Rất có thể nhân loại sẽ phải chung số phận như những nền văn minh
đã bị hủy diệt trong lịch sử Điều đó có nghĩa là tự nhiên đang trả thù conngười Và nếu như con người vẫn tác động một cách vô ý thức vào môi trường
tự nhiện gây ra những tổn hại cho nó thì loài người sẽ bị tự nhiên trả thù Điều
này đã được Ph Ăngghen khẳng định : “Không nên quá tự hào về những
thắng lợi của chúng ta đối với giới tự nhiên Bởi vì cứ mỗi lần chúng ta đạt
vậy sự tác động một cách có ý thức lên tự nhiên đang được đặt ra một cáchnghiêm túc và cấp bách hơn bao giờ hết
Nhận thức sự tác động tiêu cực của con người đối với tự nhiên nên Ph.Ăngghen đã sớm cảnh tỉnh và chỉ ra con đường để con người duy trì mối quan
hệ hòa hợp với tự nhiên Ông nói: “Chúng ta hoàn toàn không thể thống trị
được giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác…, tất cả
sự thống trị của chúng ta với giới tự nhiên là ở chỗ chúng ta khác với tất cả các sinh vật khác, là chúng ta nhận thức được quy luật của giới tự nhiên và có thể sử dụng được những quy luật đó một cách chính xác”[50;655]
Như vậy, Ph Ăngghen đã chỉ ra thực chất điều khiển một cách có ý
thức mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên, “trước hết phải nhận thức
được quy luật tồn tại và phát triển của giới tự nhiên và điều quan trọng là phải biết vận dụng một cách chính xác, phù hợp các quy luật đó vào hoạt động thực tiễn của xã hội, mà quan trọng hàng đầu là lĩnh vực sản xuất vật chất”[50;655] Thực tế chứng minh sự phát triển xã hội luôn gắn liền với sự pháttriển của sản xuất xã hội, trực tiếp là sự phát triển của lực lượng sản xuất, song
do chưa hiểu biết đầy đủ quy luật của tự nhiên, hơn nữa sự kém phát triển củalực lượng sản xuất nên con người đã không tuân thủ đúng quy luật phát triểncủa tự nhiên Bằng con đường phát triển khoa học, kỹ thuật và công nghệ con
Trang 22người đã khai thác, biến đổi tự nhiên vì nhu cầu, lợi ích ngày một nâng cao.Cũng chính quá trình đó chúng ta cũng tạo ra những mâu thuẫn sâu sắc giữa
xã hội và tự nhiên Để khắc phục và giải quyết mâu thuẫn đó và trở về sốnghòa hợp với tự nhiên, chúng ta phải tiếp tục phát triển khoa học, kỹ thuật vàcông nghệ dựa trên sự hiểu biết sâu sắc các quy luật của tự nhiên và nhữngquy luật của hoạt động trí tuệ để từ đó điều khiển một cách có ý thức mối quan
hệ giữa con người và tự nhiên
Những thành tựu của khoa học, công nghệ hiện đại đã mang lại cho conngười những lợi ích to lớn, môi trường sống đã và đang được mở rộng, khônggian sống và làm việc của con người đã không chỉ dừng lại ở trên mặt đất mà
đã phát triển lên không trung, xuống lòng đất, và vươn ra biển khơi Conngười chúng ta đã xây dựng được những ngôi nhà cao chọc trời, sẽ xây dựngđược những thành phố trên biển khơi và cả dưới lòng đất… Những điều đókhông có nghĩa là môi trường sống của con người là vô hạn, vô tận mà là cóhạn Bởi vì để có thể tồn tại và phát triển được con người chúng ta phải cókhông khí để thở, nước uống, thức ăn, áo mặc… mà tất cả những cái đó là cái
có giới hạn Để thích ứng với môi trường tự nhiên, con người phải thay đổiphương thức tồn tại và hoạt động của mình, muốn làm được những điều đó,trước hết con người phải thay đổi nhận thức và cách thức ứng xử với tự nhiên,hình thành nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn, với những tình cảm, niềm tin,thói quen đẹp…
Thứ hai: nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn là cơ sở để con người
kiểm soát, điều chỉnh những hành vi của mình trong mối quan hệ với tự nhiên.Thực hiện sinh thái hóa nền sản xuất xã hội
Từ những nhận thức về thực trạng môi trường sinh thái, xây dựng nếpsống văn hóa sinh thái nhân văn Con người có cơ sở để kiểm soát, điều chỉnhnhững hành vi của mình trong mối quan hệ với tự nhiên, trước hết là nhữnghoạt động sản xuất vật chất Bằng quá trình sản xuất xã hội, con người và xã
Trang 23hội với tư cách là những hệ thống vật chất toàn vẹn đã tham gia vào chu trình
sinh học, trở thành một mắt khâu của chu trình - “mắt khâu xã hội” Song chính “mắt khâu xã hội” lại là điểm yếu nhất của chu trình Bởi vì, bằng quá
trình sản xuất xã hội, một mặt con người đã khai thác và sử dụng vô tội vạ cácnguồn tài nguyên sẵn có của thiên nhiên, không cho chúng kịp hồi phục, từ đó
đã dẫn đến sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên Mặt khác, chính quá trình sảnxuất và tiêu dùng của xã hội đã thải vào môi trường quá nhiều chất độc hại màsinh vật khác không thể sử dụng được, gây ra nạn ô nhiễm nặng nề môi trườngsống Sản xuất xã hội đã làm cho con người và xã hội gắn bó với tự nhiênnhưng cũng chính nó làm cho con người và xã hội có nguy cơ trở thành yếu tốđối lập với tự nhiên
Với sự nhận thức đúng đắn, con người và xã hội là những bộ phận đặcthù của tự nhiên, sống trong lòng giới tự nhiên, cho nên xã hội có phát triểnđến một trình độ cao như thế nào chăng nữa nó cũng không thể sống thoát lykhỏi môi trường tự nhiên Bằng sản xuất xã hội con người đã có những tácđộng tiêu cực vào tự nhiên, phá hoại tự nhiên – cơ sở sản sinh và nuôi dưỡngmình Thì cũng chỉ bằng con đường, cách thức sản xuất như thế nào để conngười có thể hòa nhập, sống hài hòa với tự nhiên
Vậy, con người phải sản xuất như thế nào để có thể sinh thái hóa nềnsản xuất xã hội? Ở đây, có thể thấy nền sản xuất xã hội – mắt khâu xã hội,cũng như những bất kỳ một mắt khâu nào của chu trình sinh học phải tuântheo những quy luật sinh thái học Cụ thể là phải tuân theo những quy tắc của
cơ chế hoạt động của chu trình trao đổi vật chất, năng lượng, thông tin trongsinh quyển Sản xuất xã hội ngoài những chức năng, như tạo ra của cải vậtchất cho xã hội nhằm thỏa mãn những nhu cầu kinh tế - xã hội ngày càng caocủa con người; đặc biệt tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, góp phần quyết địnhvào sự phát triển của xã hội,… còn phải thực hiện thêm một chức năng mới,nhưng cực kỳ quan trọng, đó là chức năng tái sản xuất các nguồn tài nguyên
Trang 24thiên nhiên và môi trường Nền sản xuất xã hội do đã khai thác và sử dụng quálãng phí các nguồn tài nguyên thiên nhiên, như khai thác ồ ạt tài nguyên thiênnhiên theo bề rộng, không sử dụng hết các tính năng của tài nguyên thiênnhiên nên đã thải ra môi trường quá nhiều chất, vừa lãng phí, vừa gây ô nhiễmmôi trường sống,… Đối với những nguồn tài nguyên tái tạo được như đất,nước, rừng, động thực vật… cần khai thác có kế hoạch, tiết kiệm Còn đối vớicác nguồn tài nguyên không tái tạo được như khoáng sản thì việc tái sản xuấtcác chất thải từ quá trình sản xuất khó khăn hơn Như vậy cần tiến hành bằngcách thực hiện tổng hợp những chu trình sản xuất khép kín nhiều ngành trênnhững khu liên hợp sản xuất Ở đấy, chất thải của khu sản xuất này sẽ lànguồn nguyên liệu của khu sản xuất kia, cuối cùng đưa ra môi trường nhữngchất thải mà các sinh vật có thể sử dụng được, nghĩa là đã đưa sản xuất xã hộihòa nhập vào chu trình sinh học.
Như vậy, sinh thái hóa nền sản xuất xã hội ngoài đạt được mục tiêu kinh
tế - xã hội thể hiện ở việc tiết kiệm tài nguyên, không gây ô nhiễm môi trường
từ đó giảm những chi phí để cải tạo môi trường và cũng giảm những chi phí đểchăm sóc sức khỏe do những bệnh có tác động từ môi trường bị ô nhiễm Cònđạt được mục tiêu khác đó là mục tiêu sinh thái thể hiện ở việc bảo vệ và nângcao chất lượng môi trường sống Những điều đó chỉ có thể thực hiện được khicon người có được những tri thức về sinh thái và biến những tri thức đó thànhhành động, việc làm thường xuyên, liên tục, có mục đích, có văn hóa
Thứ ba: Xây dựng nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn là cơ sở để phát
triển xã hội, góp phần tạo lập sự tiến bộ, công bằng xã hội
Về mặt pháp luật, việc xây dựng được nếp sống văn hóa sinh thái nhânvăn sẽ giúp con người tự giác thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường, tựgiác thực hiện khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên
Về mặt đạo đức, nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn là cơ sở để conngười điều chỉnh những hành vi đạo đức của mình trong mối quan hệ với môi
Trang 25trường tự nhiên và môi trường xã hội Giúp con người xây dựng được nếpsống tích cực trong điều kiện phát triển mới của xã hội.
Về mặt thẩm mỹ, nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn là điều kiện đểcon người nhận ra được những giá trị thẩm mỹ của tự nhiên, từ đó thêm yêuquý tự nhiên, tôn trọng và bảo vệ nó Bởi vì, tự nhiên ngoài những giá trị vậtchất vô giá cho sản xuất và tiêu dùng của con người còn có giá trị tinh thần –
đó là cái đẹp của tự nhiên, hài hòa, trong sáng, dịu êm, thanh thản,… Ý thứcthẩm mỹ sinh thái, cũng như ý thức đạo đức sinh thái là cái vốn có trong conngười, nó xuất hiện từ rất sớm trong đời sống xã hội loài người, nó biểu hiện ởtình yêu thiên nhiên, lối sống gắn bó hài hòa với tự nhiên Song, do nhu cầu xãhội, dần dần những ý thức sinh thái đó bị phai nhạt dần, thay vào đó là nhữngmục đích kinh tế, đã biến tự nhiên thành cái kho tài nguyên để cho con ngườikhai thác, thành bãi rác khổng lồ để cho con người và xã hội thải bỏ tất cảnhững cặn bã trong quá trình sản xuất và tiêu dùng
Về lĩnh vực chính trị, xây dựng nếp sống văn hóa sinh thái nhân văn là
cơ sở để con người thực hiện sự công bằng về lợi ích trong việc sử dụng cácnguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường giữa các tầng lớp và thế hệ trong
xã hội
Vì vậy, giáo dục ý thức sinh thái, xây dựng nếp sống văn hóa sinh tháinhân văn là cơ sở quan trọng để phát triển xã hội, thực hiện sự tiến bộ, côngbằng xã hội
1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề
1.2.1 Thực trạng đô thị hóa và những đặc điểm cơ bản của đô thị hóa
ở Vĩnh Phúc
1.2.1.1 Thực trạng đô thị hóa ở Vĩnh Phúc
Trang 26Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc Vùng Kinh tế Trọng điểm Bắc Bộ, phía Bắcgiáp tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, Phía Tây giáp Phú Thọ và phía Đông
và phía Nam giáp Thủ đô Hà Nội Tỉnh Vĩnh Phúc có 9 đơn vị hành chính baogồm: Thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên, các huyện Bình Xuyên, LậpThạch, Sông Lô, Tam Dương, Tam Đảo, Vĩnh Tường, Yên Lạc Tỉnh có diệntích tự nhiên 1.231,76 km2, dân số trung bình năm 2009 (theo tổng điều tra01/4/2009) là 1.003,0 ngàn người,năm 2010 là 1.010,4 nghìn người
Từ khi tái lập tỉnh (1997) đến nay, kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc phát triểnnhanh chóng Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 1998-2000 rất cao,đạt 18,12% Giai đoạn 2001-2005 tăng trưởng GDP đạt 15,02% Tốc độ tăngtrưởng GDP bình quân giai đoạn 2006-2010 đạt là 18,0%/năm
Trong thời gian qua quy hoạch xây dựng đô thị của Vĩnh Phúc nhìnchung đã bám sát mục tiêu, định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thịcủa cả nước đến năm 2020 và quy hoạch tổng thể của tỉnh đến năm 2010, tầmnhìn đến năm 2020 Mục tiêu quy hoạch xây dựng đô thị của Vĩnh Phúc làphát triển đô thị bền vững
Mạng lưới các điểm dân cư đô thị Vĩnh Phúc đang trong quá trình pháttriển Hệ thống đô thị Vĩnh Phúc hiện nay bao gồm: thành phố Vĩnh Yên, thị
xã Phúc Yên, mười hai thị trấn là Hương Canh, Gia Khánh, Thanh Lãng,Vĩnh Tường, Tứ Trưng, Thổ Tang, Yên Lạc, Lập Thạch, Hoa Sơn, Tam Sơn,Hợp Hòa, Tam Đảo Trong đó thành phố Vĩnh Yên thuộc đô thị loại 3, thị xãPhúc Yên là đô thị loại 4, 12 thị trấn là đô thị loại 5
Về dân số, theo cuộc tổng điều tra dân số ngày 01/04/2009, dân số đôthị của tỉnh năm 2009 là 225.389 người, chiếm 23% dân số toàn tỉnh, năm
2010 là 252.600 người, chiếm 25% dân số toàn tỉnh
Bảng 1 Cơ cấu dân số của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2005 - 2010
Trang 27Đơn vị tính: %
2 Dân số nông thôn 83,3 82,0 80,5 79,0 77,6 75,0
Trong những năm gần đây, nhờ có vị trí địa lý giáp thủ đô Hà Nội, có quỹ đất rộng, lại có các tuyến đường giao thông thuận lợi và sự hình thành các khu, cụm công nghiệp các điểm dân cư
đô thị trong tỉnh đã được hình thành và phát triển.
Bảng 2 Dự báo dân số toàn tỉnh Vĩnh Phúc đến 2010 và 2020
(bao gồm di cư cơ học đến Vĩnh Phúc)
Ghi chú: Dự báo này trên cơ sở tham khảo cách tính toán của Chi cục dân số tỉnh Vĩnh Phúc và nhu cầu lao động công nghiệp của Ban Quản lý Khu công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc.[71;16]
1.2.1.2 Đặc điểm của đô thị hóa ở Vĩnh Phúc
Quá trình đô thị hóa ở Vĩnh Phúc cũng có những điểm chung, giống vớiquá trình đô thị hóa trong cả nước, đó là:
Quá trình đô thị hóa ở Vĩnh Phúc thiếu một quy hoạch tổng thể và lâudài Sự phát triển các đô thị trong tỉnh chủ yếu vẫn theo hướng tự phát, đặc biệttrong lĩnh vực xây dựng dân dụng, nên còn lộn xộn Số nhà dân tại các khu đôthị xây dựng mới không có giấy phép xây dựng chính thức còn chiếm tỷ lệ lớn.Việc xây dựng nhà một cách tự do, tự phát, tùy tiện đã phá vỡ cảnh quan tựnhiên, nhiều nơi còn xâm hại nghiêm trọng đến các di tích lịch sử, văn hóa
Nhịp độ đô thị hóa ở Vĩnh Phúc không tương xứng với nhịp độ tăngtrưởng kinh tế, đặc biệt là mức độ tăng trưởng nhanh của ngành công nghiệpcủa tỉnh (từ năm 1997 đến nay, tốc độ đô thị hóa của tỉnh mới chỉ đạt trung
Trang 28bình 7%/năm) Đô thị hóa chưa được tiến hành một cách đồng bộ và đầy đủ.Việc xây dựng nhà cửa thường không được tiến hành đồng thời với việc xâydựng và hoàn thiện các công trình nghỉ ngơi, vui chơi giải trí và đặc biệt là cáccông trình thuộc loại hạ tầng cơ sở của thành phố như mạng lưới điện, đường
xá, cầu cống, các công trình vệ sinh đô thị như cấp thoát nước, xử lý rác thải,
… Chính vì vậy mà mức độ ô nhiễm môi trường đô thị ở tỉnh ngày càng tăngcao
Quá trình đô thị hóa ở Vĩnh Phúc chủ yếu được hình thành trong giaiđoạn từ những năm 1985 đến nay Trên cơ sở mở rộng, hoàn thiện và nâng cấpcác đô thị sẵn có từ thời Pháp thuộc như Vĩnh Yên, Phúc Yên, Tam Đảo; các
đô thị ở Vĩnh Phúc đều có quy mô vừa và nhỏ, chủ yếu được phân bố giải đều,
có tính chất tự phát, bám theo các trục quốc lộ và tỉnh lộ
Quá trình đô thị hóa ở Vĩnh Phúc hiện nay không chỉ diễn ra đồng thờivới quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà còn cả với quá trình thị trườnghóa và toàn cầu hóa Các quá trình đó có tác động và quy định lẫn nhau cả trênbình diện tích cực và tiêu cực làm cho quá trình đô thị hóa ở Vĩnh Phúc càngthêm phức tạp và đang đặt ra nhiều vấn đề bức xúc Trước hết đó là vấn đềquản lý xã hội Do trình độ còn nhiều hạn chế nên việc quản lý của các cấpchính quyền ở các đô thị còn nhiều bất cập, chưa theo kịp sự vận động, pháttriển của thực tiễn xã hội Các công cụ quản lý của nhà nước là các văn bảnpháp luật và dưới luật còn thiếu chặt chẽ và nghiêm minh, do vậy các hiệntượng tiêu cực trong hoạt động kinh tế, trong thương trường, trong đời sống xãhội ngày càng tăng với những biểu hiện như: buôn lậu, hàng giả, các tệ nạn xãhội như cờ bạc, mại dâm, hút chích,… Những biểu hiện tiêu cực đó làm suyđồi những giá trị văn hóa truyền thống, làm tha hóa lối sống, nếp sống của conngười; nạn ô nhiễm nặng nề môi trường sống dẫn đến sự căng thẳng trongcuộc sống, ốm đau, bệnh tật cho người dân
Trang 29Mang những đặc điểm chung của quá trình đô thị hóa ở Việt Nam,những đô thị ở Vĩnh Phúc đều quá nhỏ bé so với các đô thị trên thế giới vềdiện tích, quy mô xây dựng, đến mức độ hiện đại Cơ cấu hạ tầng ở các đô thị
ở Vĩnh Phúc như đường xá, cầu cống, các mạng lưới điện, cấp thoát nước,giao thông vận tải, thông tin liên lạc, các công trình vệ sinh công cộng, vuichơi giải trí… nhìn chung còn lạc hậu, thiếu đồng bộ, trong đó vấn đề nangiải nhất ở các đô thị là cấp thoát nước Trong những đô thị ở Vĩnh Phúc thìchỉ có Thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên, thị trấn Tam Đảo là có tỷ lệ100% số hộ dân được cung cấp nước sạch
Dân số đô thị ở Vĩnh Phúc cho đến nay đa số có thành phần xuất thân từnông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nên hầu hết vẫn còn mang nặng lối sống,nếp sống của người sản xuất nhỏ, tiểu nông Họ vẫn còn những đặc điểm của lốisống thôn dã như tự do, tùy tiện, thiếu tổ chức, kỷ luật, thiển cận, được chănghay chớ Những đặc điểm đó vẫn được biểu hiện trong lối tư duy, lẫn tronghành vi ứng xử giữa con người với con người và con người với thiên nhiên
Quá trình đô thị hoá tương đối nhanh đã có những ảnh hưởng đáng kểđến môi trường và tài nguyên thiên nhiên, đến sự cân bằng sinh thái: tàinguyên đất bị khai thác triệt để để xây dựng đô thị, làm giảm diện tích câyxanh và mặt nước, gây ra úng ngập, cùng với nhu cầu nước phục vụ sinh hoạt,dịch vụ, sản xuất ngày càng tăng làm suy thoái nguồn tài nguyên nước; nhiều
xí nghiệp, nhà máy gây ô nhiễm môi trường lớn trước đây nằm ở ngoại thành,nay đã lọt vào giữa các khu dân cư đông đúc; mở rộng không gian đô thị dẫnđến chiếm dụng đất nông nghiệp, ảnh hưởng đến vấn đề an toàn lương thựcquốc gia và đến đời sống của nhân dân ngoại thành; sản xuất công nghiệp pháttriển mạnh làm phát sinh một lượng lớn chất thải, trong đó chất thải nguy hạingày càng gia tăng; bùng nổ giao thông cơ giới gây ô nhiễm môi trường khôngkhí và tiếng ồn nghiêm trọng; đô thị hóa làm tăng dòng người di dân từ nông
Trang 30thôn ra thành thị, gây nên áp lực đáng kể về nhà ở và vệ sinh môi trường, hình
thành các khu nhà "ổ chuột" và khu nghèo đô thị.
Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng ô nhiễm môi trườngtại các đô thị là các vấn đề môi trường chưa được đề cập đầy đủ và quan tâmđúng mức trong quy hoạch xây dựng đô thị Ngoài việc quy hoạch sử dụng đất
và phân khu chức năng, các vấn đề cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị, như hệ thốngthoát nước, thu gom và xử lý rác, xử lý nước thải, giảm ô nhiễm không khí vàtiếng ồn, chưa được chú ý đúng mức Mặc dù việc lập báo cáo đánh giá tácđộng môi trường cho các đồ án quy hoạch đô thị đã được quy định trong LuậtBảo vệ môi trường, nhưng công tác triển khai thực hiện cho đến nay vẫn cònchậm, chưa hiệu quả và chưa chứng tỏ được tầm quan trọng của việc bảo vệmôi trường trong quy hoạch xây dựng đô thị
Một nguyên nhân khác dẫn đến việc các đô thị phải chịu sức ép môitrường ngày càng tăng là việc thiếu các biện pháp hữu hiệu trong chỉ đạo vàquản lý quy hoạch xây dựng Tình trạng xây dựng lộn xộn tại các đô thị lớn làmột vấn đề bức xúc đòi hỏi những biện pháp quản lý cấp bách và hiệu quả,nếu không cái giá phải trả cho việc giải quyết hậu quả môi trường sẽ là vôcùng lớn Công tác quản lý quy hoạch xây dựng là bước tiếp theo và cụ thểhoá của công tác lập quy hoạch xây dựng đô thị, một yếu tố then chốt trongviệc xây dựng các đô thị bền vững và hoà hợp với môi trường
1.2.1 Thực trạng môi trường đô thị ở Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc là một tỉnh nằm trong vùng chuyển tiếp giữa vùng gò đồitrung du với vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng, địa hình thấp dần từ TâyBắc xuống Đông Nam và chia thành ba vùng sinh thái: đồng bằng, trung du vàvùng núi Tỉnh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm Nhiệt độtrung bình năm từ 23 – 25o C, lượng mưa trung bình từ 1500 – 1700ml, độ ẩmtrung bình từ 84 – 85% Về thủy văn, tỉnh có nhiều con sông chảy qua, trong
đó lớn nhất là Sông Hồng và Sông Lô
Trang 31Điều kiện địa hình, khí hậu, thủy văn tạo điều kiện thuận lợi cho tỉnhphát triển kinh tế, đa dạng hóa các loại hình sản xuất Hiện nay, dưới sự tácđộng của những điều kiện đổi mới về kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiệnđại hóa, mở rộng hợp tác làm ăn với nước ngoài, đặc biệt là tốc độ đô thị hóatương đối nhanh một mặt đã tạo ra những điều kiện vật chất và tinh thần tíchcực bảo vệ môi trường sống: số người được dùng nước sạch tăng, tiến bộtrong sinh học được áp dụng vào sản xuất và cải thiện môi trường sống,…Nhưng, những sự tác động của những điều kiện đó cũng có mặt tiêu cực, làmcho môi trường sống bị biến đổi nhanh chóng, chất lượng môi trường sống ởnhiều nơi đã bị suy thoái Thực trạng môi trường đô thị Vĩnh Phúc được thểhiện trên một số mặt cụ thể sau:
1.2.1.1 Môi trường nước
Nước là một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên cơ bản và quýgiá nhất, là thành phần quan trọng của tự nhiên chiếm ¾ trái đất và mô sinhvật Một số nhà nghiên cứu đã cho rằng trong thế kỷ XXI, nước sẽ quý giá nhưdầu mỏ Song khác với dầu mỏ chỉ phục vụ về năng lượng Nước tác động đếnmọi mặt của đời sống con người
Tài nguyên nước ngọt ở Vĩnh Phúc nói chung và các khu đô thị VĩnhPhúc nói riêng khá phong phú và đa dạng Song nguồn tài nguyên nước ngọt ởVĩnh Phúc đang có nguy cơ bị ô nhiễm ở các cấp độ khác nhau
Tại khu vực đô thị lớn của tỉnh như Vĩnh Yên và Phúc Yên chất lượngnước mặt đang bị ô nhiễm nặng Hầu hết các hồ, đầm đều là nơi tiếp nhậnnước thải sinh hoạt và nước mưa chảy tràn từ các cống rãnh
Thành phố Vĩnh Yên có hệ thống đầm Vạc với vai trò là khu sinh tháitạo cảnh quan và điều hòa nước mưa Tuy nhiên, hiện nay chất lượng nướcđầm Vạc đang bị ô nhiễm Kết quả phân tích chất lượng nước cho thấy nồng
độ các chất gây ô nhiễm có xu hướng gia tăng Nồng độ BOD (lượng ô xy cầnthiết để vi sinh vật oxy hóa các chất hữu cơ), hay COD (lượng oxy cần thiết để
Trang 32oxy hóa các chất vô cơ và hữu cơ), Chất lượng nước không đáp ứng đượctiêu chuẩn dùng cho cấp nước sinh hoạt và tưới tiêu thủy lợi.
Nước mặt tại Đầm Diệu thị xã Phúc Yên cũng đang bị ô nhiễm nặng và
có chiều hướng suy giảm từ năm 2006 - 2009 Chất lượng nước không đáp ứngđược cho nhu cầu cấp nước và tưới tiêu Diện tích nước mặt đang tiếp tục phảitiếp nhận hầu hết các loại nước thải từ các khu dân cư xung quanh
Bảng 3 Diễn biến COD nước đầm Diệu [71;62]
(mg/l)
N¨m
COD QC08:2008, m ức A2 QC08:2008, m ức B1
Tại Hồ Đại Lải, trong những năm qua nồng độ các chỉ tiêu BOD (lượng
ô xy cần thiết để vi sinh vật oxy hóa các chất hữu cơ), hay COD (lượng oxycần thiết để oxy hóa các chất vô cơ và hữu cơ) liên tục tăng và diễn biến xấu
Cụ thể là: từ năm 2002 – 2004 nồng độ BOD5 dao động từ 11 – 12 mg/l, năm
2006 dao động từ 13,5 – 15,5 mg/l và năm 2007 dao động từ 18,67 – 20,8,còn nồng độ COD tăng khoảng 7mg/l Năm 2008, nồng độ các thông số ônhiễm tiếp tục tăng
Bảng 4 Diễn biến COD hồ Đại Lải [71;62]
Trang 3330 30
15
0 20 40 60 80
N¨m
COD COD TCCP, møc B1 COD TCCP, møc A2
Có thể nhận thấy, chất lượng nước trên bề mặt đất và chất lượng nướcngầm đều có diễn biến theo chiều hướng xấu đi, do những nguyên nhân khácnhau, trong đó chủ yếu do các hoạt động của con người
Ngoài các ao, hồ, đầm, sông Cà Lồ và sông Phan cũng là nơi tiếp nhậnnhiều nguồn nước thải của tỉnh như nước thải sinh hoạt, nước thải chăn nuôi,nước thải từ hoạt động làng nghề, nước thải từ các khu, cụm công nghiệp KhaiQuang, Bình Xuyên, Hợp Thịnh, Hương Canh, Kim Hoa - Phúc Thắng vànước thải từ các bệnh viện, trung tâm y tế trên địa bàn tỉnh Phần lớn các nguồnthải chưa được xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn trước khi xả ra sông
Chất lượng nước sông Phan và sông Cà Lồ đang ô nhiễm ở mức độtương đối nặng và một số điểm có xu thế tăng dần theo thời gian Các chất hữu
cơ và coliform trong nước sông đều vượt Quy chuẩn Việt Nam
Nước ngầm tại Vĩnh Yên và Phúc Yên đang bị ô nhiễm Mangan (Mn)
và Sắt (Fe) ở mức độ trung bình, cụ thể: hàm lượng Mangan vượt từ 1,2 đến3,6 lần so với Quy chuẩn Việt Nam
Bảng 5 Chất lượng nước ngầm tại khu vực đô thị
TT Chỉ
tiêu
Đ ơn vị
09:2008 /BTNM T
2003 2006 2008 2003 2006 2008
Trang 343 Cu mg/l 0,18 0,21 0,41 - 0,23 0,19 1,0
Theo kết quả quan trắc nước ngầm tại các khu vực sản xuất công nghiệpthì hàm lượng Fe và Mn tại hầu hết các vị trí lấy mẫu đều cao, có thể là do sựthấm lọc từ nguồn nước bề mặt thông qua tầng phủ bở dời, ngoài ra còn được
bổ sung từ đất đá xung quanh có bản chất giàu Fe và Mn, đó là vỏ phong hoálaterit, ferarit rất phổ biến ở khu vực Vĩnh Phúc
Dự báo trong thời gian tới, chất lượng nước mặt và nước ngầm ở cáckhu đô thị ở Vĩnh Phúc đều có xu hướng xấu đi Cụ thể
Chất lượng nước mặt:
Trong những năm đầu thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế xã hội vàquy hoạch phát triển các ngành, chất lượng nước được dự báo sẽ tiếp tục suygiảm tại Đầm Vạc và các chỉ tiêu ô nhiễm (độ đục, BOD (lượng ô xy cần thiết
để vi sinh vật oxy hóa các chất hữu cơ), hay COD (lượng oxy cần thiết để oxyhóa các chất vô cơ và hữu cơ), Coliform, kim loại nặng như thủy ngân, đồng,mangan, sắt, hóa chất bảo vệ thực vật…), đặc biệt tại khu vực phía Đông Bắc
và Tây Bắc của đầm do việc phát triển khu đô thị, tổ hợp khách sạn nghỉdưỡng, sân golf, nước thải khu công nghiệp Khai Quang
Chất lượng nước mặt cũng sẽ suy giảm nhanh tại hồ Đại Lải, hàm lượngcác chỉ tiêu ô nhiễm (Coliform, NH4+, thuốc bảo vệ thực vật…), đặc biệt tạikhu vực phía Bắc của hồ, nơi diễn ra các dịch vụ ăn uống, vui chơi giải trí, nhànghỉ, khách sạn, sân golf
Do đặc thù địa hình tỉnh Vĩnh Phúc thoải dần từ Bắc xuống ĐôngNam tạo nên địa hình bán sơn địa, hai con sông Cà Lồ và sông Phan chảyquanh co và là nơi chủ yếu tiếp nhận hầu như tất cả các nguồn thải của toànTỉnh Nguồn thải vào hai sông này là rất lớn, trong khi đó lưu lượng nước
tự nhiên vào mùa kiệt thấp hơn nhiều so với mùa mưa, do đó chất lượng của
Trang 35tháng 3 năm sau) sẽ có nồng độ ô nhiễm và độ suy thoái cao hơn nhiều sovới mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10 trong năm) do nước được pha loãng.Chất lượng nước mặt sẽ suy giảm nhanh tại sông Cà Lồ, sông Phan do việcphát triển các khu công nghiệp mới và lấp đầy các khu công nghiệp cũ Do lưulượng trung bình về mùa khô giảm cùng với lượng nước thải trong lưu vựcđược báo ngày càng tăng sẽ làm tăng nồng độ các chất ô nhiễm trong nướcsông về mùa khô, gây tác động lớn đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp(đặc biệt là hoạt động trồng rau, màu vụ đông).
1.2.1.2 Môi trường không khí
Cùng với nước thì không khí được người Phương Đông rất coi trọng.Thuật phong thủy của một số nước phương Đông coi trọng yếu tố không khítrong sự phát triển của con người
Mặc dù tỉnh Vĩnh Phúc vẫn được xếp vào địa phương có tốc độ đô thị hóathấp nhưng trong giai đoạn 2005-2010, tốc độ đô thị hóa lại diễn ra tương đốinhanh, các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng lại phát triển mạnh, đặc biệt là hạtầng giao thông và các khu công nghiệp Do đó có ảnh hưởng lớn đến chất lượngmôi trường không khí Tại một số điểm quan trắc, nồng độ bụi đo được trongnhững năm gần đây đều vượt Quy chuẩn cho phép, dao động từ 0,32 - 0,56mg/m3.Các điểm có nồng độ bụi cao chủ yếu dọc các tuyến quốc lộ 2A, 2B, 2C
Trong thời gian qua, do việc đẩy mạnh hoạt động cải tạo và nâng cấptuyến Quốc lộ 2A (Nội Bài - Vĩnh Yên), phát triển mở rộng san lấp các khucông nghiệp, khu đô thị nên nồng độ bụi tại các điểm trên tuyến như VĩnhYên, Phúc Yên, Hương Canh đều vượt Quy chuẩn Việt Nam cho phép
Bảng 6 Diễn biến nồng độ bụi lơ lửng trong không khí
Trang 36Nguồn: Báo cáo Quan trắc môi trường các năm[71;69]
Ngoài nồng độ bụi trong không khí có xu hướng tăng cao, vượt quá giớihạn cho phép, thì các loại khí làm ô nhiễm không khí cũng diễn biến xấu, theochiều hướng ngày càng tăng cao, do các hoạt động phát triển sản xuất, xâydựng đường sá, cầu cống, của con người
Các chất gây ô nhiễm không khí diễn biến khá phức tạp, các nguồn phátthải chủ yếu từ các hoạt động của con người như đun nấu, sản xuất vật liệuxây dựng, giao thông Trong những năm qua nồng độ các chất gây ô nhiễmkhông khí, như đi -ô - xit lưu huỳnh tại các đô thị lớn hoặc khu vực tập trungcông nghiệp của tỉnh như Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bình Xuyên có xu hướng tănglên do các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng mở rộng sản xuất, cơ sở vật chất
xử lý khí thải lại ít được chú trọng; mật đô phương tiện cơ giới tham gia giaothông ngày càng tăng Các số liệu diễn biến đi -ô - xit lưu huỳnh là rất cao sovới dự kiến Từ lâu, đi -ô - xit lưu huỳnh được coi là chất chủ yếu làm nhiễmbẩn không khí và làm nặng thêm các bệnh đường hô hấp
Bảng 7 Diễn biến nồng độ SO 2 trong không khí
Vĩnh Yên Phúc Yên Bình Xuyên Tam Dương Lập Thạch Vĩnh Tường Tam Đảo Yên Lạc
QCVN
Trang 37Nguồn: Báo cáo Quan trắc môi trường các năm[71;69]
Các nguồn phát thải chính chủ yếu từ các hoạt động giao thông của xeôtô, xe tải, xe buýt, xe gắn máy và các cơ sở công nghiệp Bên cạnh đó là cácnguồn phát thải khác chiếm tỷ trọng tương đối thấp như cháy rừng và đốt rơm
rạ trong sản xuất nông nghiệp, đốt than cũng góp phần gia tăng nồng độ COtrong không khí
Các cơ quan môi trường dự báo chất lượng không khí của tỉnh sẽ tiếptục có xu hướng xấu đi trong thời gian tới, đặc biệt trong giai đoạn đẩy mạnhphát triển các khu công nghiệp và phát triển mạng lưới giao thông
Một trong những nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm không khí là dohoạtđộng công nghiệp và giao thông vận tải:
Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh tập trung nhiều khu công nghiệp, cónhiều nhà máy, xí nghiếp Việc phát triển công nghiệp hóa là một tất yếukhách quan Song hoạt động sản xuất công nghiệp cũng thải vào môi trườngnhiều chất gây ô nhiễm không khí Theo Sở khoa học công nghệ - môi trườngtỉnh thì tải lượng chất ô nhiễm phát sinh từ các Khu công nghiệp ở tỉnh Vĩnh
Phúc đều có xu hướng tăng cao, cụ thể như sau.
Bảng 8 Ước tính tải lượng các chất ô nhiễm chính trong khí thải phát sinh ở các KCN tỉnh Vĩnh
Phúc
QCVN <0.35mg/m 3
Trang 38Chất ô
nhiễm
Diện tích các KCN (ha)
Tải lượng (kg/ngày)
Diện tích các KCN (ha)
Tải lượng (kg/ngày)
Như vậy, vào năm 2020 các Khu công nghiệp Vĩnh Phúc sẽ phát sinhkhối lượng các chất ô nhiễm như: Sunfua điôxit, Các bon mônôxit, Nitơ điôxitcao hơn hiện nay khoảng 3,6 lần Từ đó có thể dự báo rằng tại tỉnh Vĩnh Phúc,với mức độ công nghiệp hoá và đô thị hóa hiện nay và theo quy hoạch pháttriển cho hơn 10 năm sau, thì sự gia tăng tải lượng các chất khí thải côngnghiệp trong toàn vùng là rất lớn, do vậy sự ô nhiễm môi trường không khí dophát triển công nghiệp, mở rộng đô thị là khó tránh khỏi, nếu không có nhữngbiện pháp giảm thiểu
Hoạt động của giao thông vận tải cũng là một trong những nguyên nhângây ra ô nhiễm môi trường không khí Hoạt động giao thông vận tải bằng xe
cơ giới sẽ gây ra ô nhiễm bụi, khí sunfua điô xit, Cácbon mônôxit, Nitơ điôxit
ở dọc các tuyến giao thông Mà theo quy luật quần cư thì dọc các tuyến đườnggiao thông, dân cư tập trung đông đúc, mật độ dân số cao Nên vấn đề ô nhiễmkhông khí do hoạt động giao thông vận tải sẽ ảnh hưởng đến đời sống nhândân, gây ra một số bệnh về đường hô hấp
Với các nguồn thải như trên, dự báo chất lượng môi trường không khí ởtỉnh Vĩnh Phúc trong những năm tới sẽ xảy ra tình trạng bị ô nhiễm bụi ở mứctrung bình và mức nặng dọc theo các đường giao thông, các khu đô thị, cáckhu công nghiệp nồng độ các khí thải độc hại như: sunfua đi ôxit, Cácbon
Trang 39mônôxit, Nitơ điôxit sẽ có chiều hướng gia tăng Mức ồn sẽ gia tăng cùng vớiviệc hoàn thiện và đưa vào sử dụng các tuyến đường mới hoặc các đoạn tuyến
cũ đã được cải tạo
Như vậy, với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa mạnh mẽ, lượng khíthải công nghiệp gia tăng nhanh trong giai đoạn từ nay đến 2020 định hướng
đến 2030, cùng với mở rộng mạng lưới giao thông, thì môi trường không khí
sẽ là đối tượng bị tác động mạnh Ô nhiễm không khí ở tỉnh Vĩnh Phúc khôngchỉ tăng nhanh mà còn có xu hướng mở rộng do khả năng phát tán khí thải vàgia tăng các nguồn gây ô nhiễm không khí
1.2.2.3 Môi trường đất.
Đất là thành phần quan trọng của môi trường, là tài nguyên vô giá mà tựnhiên ban tặng cho con người để phát triển các ngành sản xuất như nôngnghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp và là tư liệu sản xuất không thể thay thế củamột số ngành
Hiện nay môi trường đất ở Vĩnh Phúc tiếp tục chịu sức sức ép lớn từviệc phải tiếp nhận các loại chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp,chăn nuôi… phát sinh hàng ngày Do việc phân bố nguồn thải không đồng đềunên mức độ ô nhiễm đất sẽ rất khác nhau giữa các khu vực trong tỉnh Theo dựbáo ô nhiễm và suy thoái môi trường đất nặng nhất sẽ là các khu xử lý rác tậptrung tại Thành phố.Vĩnh Yên, thĩ xã Phúc Yên;Các bãi chôn lấp tại các huyện
và thị trấn; Các khu vực xung quanh các sân golf nếu không có biện phápquản lý tốt thì sẽ là nơi tiếp nhận lượng lớn hoá chất bảo vệ thực vật
Với việc mở rộng các khu đô thị, xây dựng thêm các Khu công nghiệp,khu thương mại, công trình hạ tầng mới từ nay đến 2020 tài nguyên đất củatỉnh Vĩnh Phúc sẽ bị biến đổi nhanh theo chiều hướng chuyển đất nông, lâmnghiệp thành đất xây dựng đô thị, công nghiệp
Bảng 9 Dự kiến quy mô một số khu đô thị đến năm 2020
Trang 40TT Khu đô thị Quy mô (ha)
6 Các Khu đô thị 2 bên QL2B (đoạn từ nút giao
vành đai II đến nút giao đường xuyên á)
40
Nguồn: Quy hoạch phát triển KTXT tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020, định hướng đến năm 2030[71;75]
Chuyển đất nông, lâm nghiệp, bao gồm cả đất lúa, thành đất xây dựng
và đất phi nông nghiệp khác là xu hướng tất yếu trong quá trình đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên xu hướng này sẽ gây nhiều ảnhhưởng tiêu cực đến vấn đề kinh tế, văn hóa, môi trường
Cùng với việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, môi trường đất tiếp tục bịtác động mạnh bởi chất thải công nghiệp, xây dựng và chất thải sinh hoạt Xuhướng đất bị thoái hóa và biến đổi tính chất xảy ra nhanh tại các vùng đệm khucông nghiệp, vùng khai thác vật liệu xây dựng và xung quanh các đô thị mới
1.2.2.4 Việc thu gom, quản lý chất thải, nước thải
Ở Vĩnh Phúc, chất thải, nước thải phát sinh ở tất cả mọi hoạt động kinh
tế, dân sinh, như: rác thải từ các hộ gia đình, rác thải từ các chợ, khu tập trungthương mại, các nhà hàng ăn uống, từ các cơ quan, trường học, từ các quátrình xây dựng, chất thải công nghiệp,… Có thể nói chất thải phát sinh từ mọichỗ, mọi nơi, trong mọi lĩnh vực
Trong sinh hoạt, lượng chất thải sinh hoạt phát sinh hàng ngày lớn.Theo số liệu tổng hợp của Sở Tài nguyên và Môi trường năm 2009 thì lượngchất thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn tỉnh khoảng 550 tấn/ngày đêm, trong
đó chất thải phát sinh đô thị tại thành phố Vĩnh Yên và thị xã Phúc Yên
khoảng 200 tấn/ngày đêm (chiếm khoảng 35%).