Văn bản pháp luật về hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, chưa theo kịp với những biến động của tình hình thực tế, sự phối hợp của các cơ quan chức năn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TÊ -oOo -
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TÊ -oOo -
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Các số liệu, tƣ liệu đƣợc dựa trên nguồn tin cậy, có thực và dựa trên thực tế thu thập
và phân tích của tôi Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Học viên
Vũ Thị Thanh Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, các Quý thầy cô đã trang bị tri thức, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn tới PGS.TS Trần Đức Hiệp, Phó Trưởng Khoa Kinh tế - Chính trị thuộc Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã khuyến khích, chỉ dẫn tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu này
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Cục Quản lý Lao động ngoài nước thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã chia sẻ thông tin, cung cấp cho tôi nhiều nguồn tư liệu, tài liệu hữu ích phục vụ cho đề tài nghiên cứu
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình, Lãnh đạo Trung tâm Thông tin, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và những người bạn đã động viên,
hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thành luận văn này
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng nỗ lực, tìm tòi, nghiên cứu để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên do thời gian và trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp tận tình của Quý thầy cô và các bạn
Học viên
Vũ Thị Thanh Hà
Trang 5MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
1.2 Khái quát về hoạt động xuất khẩu lao động 7
1.2.1 Khái niệm về hoạt động xuất khẩu lao động 7
1.2.2 Nguyên nhân của hoạt động xuất khẩu lao động 8
1.2.3 Lợi ích chủ yếu từ hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài 11
1.3 Khái quát về quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động 13 1.3.1 Các đối tượng tham gia vào hoạt động quản lý 13
1.3.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động 15 1.4 Các nhân tố tác động tới quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động 24
1.4.1 Quan hệ cung – cầu về lao động trên thị trường lao động quốc tế 24 1.4.2 Mức độ cạnh tranh 25
1.4.3 Chất lượng nguồn lao động xuất khẩu 26
1.4.4 Thể chế, luật pháp và định hướng của quốc gia xuất khẩu và nhập khẩu lao động 27
1.4.5 Các yếu tố truyền thống văn hóa và con người 28
1.4.6 Các yếu tố khác 28
1.5 Kinh nghiệm của một số nước trong khu vực về XKLĐ 28
1.5.1 Kinh nghiệm của Philippines 29
1.5.2 Kinh nghiệm của Indonesia 31
1.5.3 Bài học kinh nghiệm 33
Trang 6CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Phương pháp nghiên cứu 35
2.1.1 Xây dựng khung lý thuyết 35
2.1.2 Phương pháp thu thập thông tin 35
2.2 Phương pháp tổng hợp xử lý thông tin 36
2.2.1 Phương pháp phân tổ 36
2.2.2 Phương pháp so sánh 36
2.2.3 Phương pháp thống kê mô tả 37
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN 38
3.1 Vài nét về hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam 38
3.2 Quản lý nhà nước hoạt động quản lý xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản 47
3.2.1 Tình hình chung 47
3.2.2 Thị trường lao động Nhật Bản 48
3.2.3 Tình hình XKLĐ của Việt Nam sang Nhật Bản 56
3.2.3.1 Kết quả đạt được 56
3.2.3.2 Những hạn chế 60
3.2.3.3 Nguyên nhân 60
CHƯƠNG 4 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN 63
4.1 Mục tiêu và phương hướng 63
4.1.1 Mục tiêu xuất khẩu và quản lý nhà nước về xuất khẩu LĐ sang thị trường Nhật Bản 63
Trang 74.1.2 Phương hướng quản lý nhà nước về xuất khẩu LĐ sang thị trường
Nhật Bản 64
4.2 Giải pháp 66
4.3 Kiến nghị 69
KẾT LUẬN 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu 3.1: Số lượng và cơ cấu lao động đi làm việc ở nước ngoài theo nước tiếp nhận 39 Biểu 3.2: Cơ cấu NLĐ chia theo trình độ CMKT trước khi đi XKLĐ, 42 Biểu 3.3: Cơ cấu người lao động chia theo nhóm tuổi trước khi đi XKLĐ 45 Biểu 3.4: Cơ cấu NLĐ chia theo trình độ CMKT trước khi đi XKLĐ, giới tính và nước đến làm việc 46 Biểu 3.5: Số lượng và cơ cấu lao động đi làm việc ở nước ngoài theo nước tiếp nhận 52
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Số lượng người đi XKLĐ giai đoạn 2001-2014 38 Biểu đồ 3.2 Cơ cấu NLĐ đi làm việc ở nước ngoài chia theo khu vực thành thị - nông thôn năm 2014 41 Biểu đồ 3.3 Cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật của NLĐ trước khi đi XKLĐ 42 Biểu đồ 3.4 Số lượng tu nghiệp sinh đưa sang Nhật Bản giai đoạn 2011-2014 53
Trang 11LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động đưa người lao động (NLĐ) đi làm việc ở nước ngoài (NN)
đã trở thành một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Hiện nay có khoảng
500 nghìn LĐ Việt Nam đang làm việc ở 40 nước, vùng lãnh thổ, với hơn 30 nhóm ngành nghề khác nhau Trong đó, thị trường Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Malaysia luôn được đánh giá là những thị trường trọng điểm, tiếp nhận số lượng lớn lao động (LĐ) của Việt Nam sang làm việc, nhu cầu tiếp nhận LĐ ở các nước khác cũng tăng nhanh, thu nhập của NLĐ được nâng lên, hàng năm số LĐ này chuyển về gia đình khoảng từ 1,8 tỷ đến 2 tỷ USD, góp phần nâng cao thu nhập cho bản thân, gia đình và xã hội
Để đạt được những kết quả nêu trên, phải kể đến sự đóng góp quan trọng vai trò quản lý nhà nước (QLNN) đối với hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN Nhà nước đã quan tâm đến đầu tư nghiên cứu phát triển thị trường tiếp nhận LĐ, đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tổ chức các hoạt động đối ngoại, hỗ trợ các doanh nghiệp (DN) khai thác thị trường, khuyến khích mô hình liên kết giữa địa phương và các DN nhằm đẩy mạnh hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN chung của cả nước và từng địa phương Tuy nhiên, vấn đề quản lý hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN đang là một thách thức đối với Việt Nam, do số LĐ đưa sang các nước ngày càng lớn, đội ngũ DN XKLĐ nhiều hơn, thị trường LĐ NN mở rộng và sự phân công LĐ
có nhiều thay đổi Trong khi chất lượng nguồn LĐ còn yếu kém, đội ngũ DN xuất khẩu lao động (XKLĐ) hoạt động chưa chuyên nghiệp và hiệu quả chưa cao, do đó khả năng cạnh tranh của ta trên thị trường LĐ thế giới bị hạn chế,
kế hoạch đẩy mạnh hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN khó có thể đạt được mục tiêu đề ra
Nhiều vụ việc lừa đảo, tranh chấp, vi phạm về hoạt động này đã diễn ra nhiều nơi, nhiều cấp độ Thời gian gần đây đã phát hiện và xử lý nhiều cá
Trang 12nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật về hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN, như hiện tượng “cò mồi”, tổ chức tuyển chọn thu tiền bất hợp pháp, bỏ dơi NLĐ ở NN gây hậu quả nghiêm trọng Mặc dù các cơ quan thuộc Bộ, Ngành và địa phương đã có nhiều biện pháp ngăn chặn, hạn chế tiêu cực nhằm đẩy mạnh hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN hiệu quả hơn, năng động và minh bạch hơn Nhưng tình trạng này không những giảm mà còn có nguy cơ xảy ra nhiều, tinh vi và phức tạp hơn
Văn bản pháp luật về hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, chưa theo kịp với những biến động của tình hình thực tế, sự phối hợp của các cơ quan chức năng chưa chặt chẽ, thiếu những chiến lược về hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN ở tầm quốc gia, hiệu quả kinh tế xã hội (KT-XH) chưa cao, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật còn hạn chế, dẫn đến nhận thức của một bộ phận NLĐ chưa đúng; thủ tục hành chính, công tác khai thác, định hướng phát triển thị trường LĐ ngoài nước còn nhiều bất cập
Mặt khác, do cơ chế chính sách của ta chưa tương đồng với nhiều nước tiếp nhận LĐ nên sự thay đổi về chính sách, biến động thị trường LĐ ngoài nước thì thường xuất hiện những bất lợi cho LĐ của ta, dẫn đến cạnh tranh bị hạn chế so với các nước trong khu vực và trên thế giới
Do đó việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp hoàn thiện hoạt động quản
lý của nhà nước phù hợp với điều kiện thực tế và hội nhập kinh tế quốc tế (KTQT), để hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN được hiệu quả hơn là một yêu cầu cấp thiết đặt ra cho các ngành các cấp Vì vậy, tác giả chọn đề tài:
“Quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang thị trường Nhật Bản” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của đề tài: Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện
quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang thị trường Nhật Bản
Trang 13- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Hệ thống hoá một số vấn đề cơ bản của quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động
+ Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với xuất khẩu lao động Việt Nam sang thị trường Nhật Bản
+ Đề xuất các giải pháp có tính khả thi về hoàn thiện quản lý nhà nước
về hoạt động xuất nhập khẩu lao động sang thị trường Nhật Bản
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: quản lý nhà nước về hoạt động xuất khẩu lao
động
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Đối với thị trường Nhật Bản
+ Về thời gian: từ năm 2010 đến nay và định hướng đến năm 2020 + Về nội dung: luận văn chỉ nghiên cứu về việc xuất khẩu lao động làm trong các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, không đề cập tới đối tượng là chuyên gia
4 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 4 chương như sau:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang thị trường Nhật Bản
Chương 4 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hoạt động quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động Việt Nam sang thị trường Nhật Bản
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Xuất khẩu lao động và quản lý hoạt động xuất khẩu lao động là chủ đề thu hút nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu như sau:
- Luận văn kinh tế chính trị tại Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009 của tác giả Trần Xuân Thọ về Xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường EU, đã hệ thống hóa những cơ sở lý luận về xuất khẩu lao động; đưa ra cái nhìn tổng quan về thị trường lao động EU; quan hệ Việt Nam – EU; và đặc biệt nghiên cứu chủ yếu về thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường EU Trong đó có những nghiên cứu chi tiết về khu vực Trung và Đông Âu (với các quốc gia như Séc, Slovakia, Bungaria, Rumania, Đức, Ba Lan, Litva và các nước vùng Bantic) cũng như các nước Tây, Nam và Bắc Âu (Phần Lan, Italia, vương quốc Anh, Pháp, Bỉ, Thụy Điển, Bồ Đào Nha,…) Đóng góp mới của luận văn là đã đưa ra những dự báo
về đặc điểm và xu hướng xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường
EU trong thời gian tới cũng như một số giải pháp có tính khả thi cao
- Luận án tiến sỹ kinh tế của Trần Thị Ái Đức tại Học viện chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2011 về Xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Trung Đông cũng đã hệ thống hóa những cơ sở lý luận
về xuất khẩu lao động; tìm hiểu về cung – cầu lao động và các quy định lao động ở trị trường Trung Đông, trong đó tập trung vào Cộng đồng các nước vùng Vịnh (GCC) Dựa trên việc tìm hiểu kinh nghiệm xuất khẩu lao động
Trang 15của một số nước trong khu vực châu Á cũng như nghiên cứu thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Trung Đông, tác giả
đã có những đánh giá về thành tựu, hạn chế, chỉ ra nguyên nhân của hạn chế
và phát hiện những vấn đề cấp thiết trong hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường này trong thời gian qua Qua đó, tác giả đã đưa ra
dự báo và giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Trung Đông trong thời gian tới
- Luận văn Thạc sỹ thương mại của Vũ Thị Quỳnh Vân tại Trường Đại học Ngoại Thương, 2011 về Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam trong thế kỷ 21 Luận văn đã hệ thống hóa những cơ sở lý luận về xuất khẩu lao động; phân tích một số đặc điểm về bối cảnh kinh tế toàn cầu và Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21 tác động tới hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam Tác giả đặc biệt tập trung vào phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam tại một số thị trường trọng điểm trong thời gian qua, từ đó đánh giá các kết quả đạt được cũng như các hạn chế còn tồn tại Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam trong những năm đầu của thế kỷ 21
- Nghiên cứu A Brief Overview of Theories of International Migration – GLOPP, 2007: một nghiên cứu của GLOPP (Toàn cầu hóa và Tùy chọn sinh kế của những người sống trong nghèo đói) về di dân, nghiên cứu này đưa
ra cái nhìn tổng quan về các lý thuyết di dân như lý thuyết di dân cổ điển (xem xét di dân là kết quả của sự khác biệt về tiền lương, điều kiện làm việc,…giữa các quốc gia), lý thuyết hệ thống thế giới (coi di dân như là một
hệ quả tất yếu của toàn cầu hóa kinh tế), mô hình lực kéo – lực đẩy, mô hình
ra quyết định,…
- Nghiên cứu Migration and Remittances của World Bank, 2012 (Báo cáo của Ngân hàng Thế giới về Di cư và Kiều hối năm 2011) Trong báo cáo này,
Trang 16Ngân hàng Thế giới đã đưa ra các con số thống kê về lượng kiều hối được chuyển vào các nước đang phát triển trong năm 2011; danh sách 10 quốc gia nhận kiều hối lớn nhất thế giới; dự báo về lượng kiều hối trong năm tới; đưa ra các lợi ích của di cư quốc tế nói chung và kiều hối nói riêng; đặc biệt là các sáng kiến của Ngân hàng Thế giới trong các chương trình nghiên cứu về di cư và kiều hối
- Labour Migration from Viet Nam: Issues of Policy and Practice – Dang Nguyen Anh, 2008 (Lao động di cư từ Việt Nam: các vấn đề về chính sách và thực tiễn, tác giả Đặng Nguyên Anh, nhân viên của Văn phòng Lao động Quốc tế khu vực châu Á của ILO - Tổ chức Lao động Quốc tế) Tác phẩm này nghiên cứu những chính sách xuất khẩu lao động của Chính phủ Việt Nam, thực trạng của hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam tại một số thị trường trọng điểm, mức lương tại các thị trường, các minh chứng về vấn
đề ngược đãi lao động, tình trạng lao động bỏ trốn và các bất cập của doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam, Tác giả đưa ra quan điểm cốt lõi để nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam là Chính phủ cần thực sự chú trọng nâng cao chất lượng nguồn lao động
Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu, bài báo bàn về các vấn đề liên quan đến quản lý hoạt động xuất khẩu lao động Những nghiên cứu này
có các cách tiếp cận khác nhau về lĩnh vực xuất khẩu lao động cũng như các thị trường xuất khẩu lao động khác nhau Tuy nhiên, một nghiên cứu về quản
lý nhà nước hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang thị trường Nhật Bản dưới góc độ quản lý nhà nước trên cơ sở đánh giá điểm mạnh, điểm yếu hiện nay, cũng như các cơ hội và thách thức trong tương lai để đề xuất những giải pháp hoàn thiện sẽ có những đóng góp nhất định và không trùng lắp với các công trình đã có
Trang 171.2 Khái quát về hoạt động xuất khẩu lao động
1.2.1 Khái niệm về hoạt động xuất khẩu lao động
Việc người lao động một nước đi làm việc ở một quốc gia khác thường được gọi bằng thuật ngữ "Di chuyển lao động quốc tế" Đây là một hiện tượng
xã hội đã xuất hiện từ lâu và gắn liền với lịch sử phát triển của loài người Di chuyển quốc tế sức lao động là hiện tượng người lao động ra nước ngoài nhằm tìm kiếm việc làm, nói cách khác họ di chuyển ra khỏi biên giới quốc gia và bán sức lao động của mình để kiếm sống Người lao động khi đó được gọi là người xuất cư, còn sức lao động của người đó được coi là sức lao động xuất khẩu, quốc gia có người xuất cư là nước xuất khẩu lao động Khi người lao động đến một nước khác hay là nước nhập khẩu lao động, họ được gọi là người nhập cư, và sức lao động của họ khi đó gọi là sức lao động nhập khẩu
Hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN là một hình thức đặc thù của xuất khẩu nói chung và là một bộ phận của kinh tế đối ngoại, mà hàng hoá đem xuất khẩu “bán” là sức LĐ sống của con người, còn khách “mua” là chủ
sử dụng LĐ NN Hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN là một hoạt động tất yếu khách quan của quá trình chuyên môn hoá và hợp tác quốc tế giữa các nước trong sản xuất, nhằm bổ sung nhân lực giữa các quốc gia, khắc phục các mặt khó khăn và phát huy sức mạnh vốn có của mỗi quốc gia
Do đó, xuất khẩu lao động là sự di chuyển quốc tế sức lao động một
cách có chủ đích dưới sự cho phép của pháp luật Xuất khẩu lao động là một
hoạt động kinh tế - xã hội đặc thù, thuộc lĩnh vực hợp tác kinh tế quốc tế của một quốc gia nhằm thực hiện việc cung ứng hàng hóa sức lao động cho nhu cầu sử dụng ở nước ngoài theo các hình thức do nhà nước quy định Đây là một hình thức giao dịch hàng hóa sức lao động trên thị trường lao động quốc
tế, tuân theo những quy luật của cung - cầu lao động trên thị trường, trong đó
Trang 18người chủ bán hàng hóa sức lao động cho người sử dụng ở nước ngoài thông qua các tổ chức trung gian của nhà nước hoặc tư nhân
1.2.2 Nguyên nhân của hoạt động xuất khẩu lao động
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng di cư lao động quốc tế, nhưng
lý do kinh tế vẫn là nguyên nhân chủ yếu Di cư LĐ quốc tế thường được thể hiện ở hai hình thức là di cư tự do và di cư có tổ chức Điểm mới trong di cư
LĐ quốc tế thời kỳ hiện đại là hình thức di cư có tổ chức, NLĐ đi làm việc ở
NN, có sự can thiệp và quản lý của Chính phủ các quốc gia
1.2.2.1 Sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các quốc gia
Đây là một trong những nguyên nhân khách quan cơ bản của hoạt động xuất khẩu lao động Sự chênh lệch này đã phân chia thế giới thành nhóm nước đã phát triển và nhóm nước đang phát triển với sự chênh lệch ngày càng tăng về mức sống
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, các nước phát triển đã có những cải tiến vượt bậc trong các lĩnh vực cơ khí hóa và tự động hóa Quá trình tái cơ cấu nền kinh tế được đẩy nhanh, nâng cao năng lực sản xuất và hiệu quả của nền kinh tế, dẫn đến hiện tượng, ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, đôi khi chính lực lượng lao động của nước đó cũng không đáp ứng được mà phải sử dụng lao động từ nước ngoài Thêm vào đó, tại các nước phát triển, mức sống của người dân rất cao, phúc lợi xã hội tốt và được phân bổ đồng đều; hơn nữa, trình độ nguồn nhân lực xét trên bình diện chung đều ở ngưỡng cao cấp, dẫn đến người dân tại các quốc gia này có tâm lý hưởng thụ và không muốn làm một số công việc, trong đó chủ yếu là lao động chân tay, lao động giản đơn và những công việc có tính chất độc hại Trái ngược lại, ở các nước đang phát triển nhưng đông dân, có mức tiền công lao động thấp, lại thường xuyên xảy ra tình trạng dư thừa lao động do nền kinh tế yếu kém không tạo đù công ăn việc làm, tất yếu nảy sinh nhu cầu cung ứng lao động cho những nơi đang thiếu nhân lực và có mức tiền
Trang 19công cao hơn Cung và cầu lao động gặp nhau trên cơ sở đó đã trở thành một trong những nguyên nhân chính xuất hiện hiện tượng di chuyển quốc tế sức lao động
1.2.2.2 Sự tăng thu nhập và nâng cao trình độ chuyên môn cho người
đi lao động nước ngoài
Sự tăng thu nhập được đề cập ở đây xét trên phương diện vi mô là cho bản thân người lao động cũng như các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xuất khẩu lao động; còn xét trên phương diện vĩ mô thì nó làm tăng thu ngoại tệ và tăng thu ngân sách cho nhà nước Người lao động dưới động cơ về thu nhập sẽ tìm kiếm việc làm ở nơi có thu nhập cao hơn, ở đây là các nước nhập khẩu lao động có kinh tế phát triển hơn Việt Nam Còn doanh nghiệp dưới động cơ về lợi nhuận sẽ giúp đỡ người lao động trong việc tìm kiếm chủ lao động có nhu cầu, kí kết hợp đồng, và hoàn thiện các thủ tục pháp lý đưa người lao động đi
Ngoài những ý nghĩa về mặt kinh tế thì thực hiện tốt công tác xuất khẩu lao động sẽ giảm được tệ nạn xã hội do thất nghiệp gây ra, tạo một hướng đi tích cực cho người lao động, học tập được tác phong làm việc chuyên nghiệp
từ các nước có nền sản xuất phát triển hơn chúng ta
1.2.2.3 Sự biến động về nhu cầu sức lao động
Những biến động về nhu cầu sức lao động là nguyên nhân khách quan gây nên xuất khẩu lao động Trên cơ sở tìm hiểu các hiện tượng di dân quốc
tế, nhiều lý thuyết về di dân đã được khái quát, trong đó đáng kể nhất là lý thuyết “lực đẩy – lực hút” do Ravenstein là người đầu tiên đưa ra khi phân tích các dòng di dân chạy từ Ailen sang Anh hồi đầu thế kỷ XIX Ông đã khái quát các yếu tố tại nước xuất cư như thất nghiệp, nghèo đói, điều kiện làm việc không đảm bảo,… gọi là yếu tố lực đẩy và các yếu tố tại nước nhập cư như cơ hội việc làm, thu nhập cao, khả năng thăng tiến,… gọi là yếu tố lực
Trang 20hút Từ đó ông đưa ra lý thuyết di chuyển sức lao động quốc tế “lực đẩy – lực hút” và cho rằng chính các yếu tố lực hút là nguyên nhân quan trọng quyết định việc di cư của người lao động từ Ailen sang Anh làm việc Điều này đến nay vẫn còn nguyên giá trị khi xem xét các nguyên nhân của xuất khẩu lao động trong điều kiện hội nhập kinh tế, khi mà nhu cầu tiếp nhận lao động nước ngoài, thu nhập, điều kiện sống và làm việc tại nước nhập khẩu lao động
là yếu tố lực hút, là điều kiện quyết định đến việc xuất cư của người lao động
1.2.2.4 Sự chênh lệch về mức tăng dân số tự nhiên
Trên thế giới, sự phân hóa trong mức tăng dân số tự nhiên ngày càng gia tăng giữa nhóm các nước phát triển, đang phát triển và chậm phát triển Tại các nước phát triển, mức gia tăng dân số chỉ dừng lại ở ngưỡng dưới 1%/năm, cá biệt một số nước còn có tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên bằng 0 hoặc
âm, như một số quốc gia ở Bắc Âu (Thụy Điển, Phần Lan,…) Trong khi đó, tại các quốc gia đang phát triển, tỉ lệ này thường được duy trì ở mức từ 1% đến 2% và tại các nước kém phát triển là trên 2%
Ví dụ tại Italia, dân số Italia dự kiến giảm từ 57 triệu người xuống còn
54 triệu người năm 2020, trong khi đó, tại Phillipin và Việt Nam, dân số dự kiến tăng gần gấp đôi, từ 62 triệu người năm 1987 lên 115 triệu người tại Phillipin và 121 triệu người tại Việt Nam năm 2020 “được nêu trong Hình 1.1”
Bên cạnh sự chênh lệch trong tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên là hiện tượng già hóa dân số tại các nước phát triển, dẫn tới sự chênh lệch trong lực lượng dân số trong độ tuổi lao động tại các nhóm nước kể trên, do vậy đã tạo
ra sự chênh lệch trong cung cầu lao động tại các nhóm nước Cụ thể, tại các nước phát triển xuất hiện tình trạng khan hiếm lao động (dư cầu lao động), trong khi tại các nước đang và chậm phát triển lại xảy ra tình trạng dư thừa lao động, thiếu việc làm (dư cung lao động), thúc đẩy sự di chuyển quốc tế
Trang 21sức lao động từ các nước đang và chậm phát triển sang các nước phát triển hơn
1.2.3 Lợi ích chủ yếu từ hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
Hầu hết các nước trên thế giới đều tham gia chương trình hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN Đối với các nước phát triển, họ xuất LĐ “chất xám” có kỹ thuật cao Còn đối với các nước kém phát triển, họ đưa những LĐ
“dư thừa”, trình độ tay nghề kỹ thuật thấp nhằm giải quyết việc làm, cải thiện điều kiện sống cho gia đình họ Tuy nhiên, hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở
NN mang lại nhiều kết quả bổ ích cho cả hai bên
1.2.3.1 Đối với nước đưa lao động ra nước ngoài sẽ thu được
Tăng thêm ngoại tệ, giảm sức ép về việc làm trong nước, tăng thêm của cải vật chất cho xã hội, giảm chi tiêu trong nước, tăng thêm tri thức kinh nghiệm làm ăn kinh tế, giảm tệ nạn xã hội do thất nghiệp gây ra, tạo một lượng LĐ tích cực, học tập được phong cách LĐ mới do tổ chức ở NN trang
bị Mở rộng quan hệ hiểu biết lẫn nhau, giới thiệu con người và đất nước mình cho các nước…
Bên cạnh tác động tốt, việc đưa NLĐ đi làm việc ở NN cũng dễ dàng gánh phải các hậu quả xấu (không mong muốn) như: Giảm bớt bộ phận LĐ trẻ khoẻ, có trình độ văn hoá chuyên môn tương đối cao; gây biến động về sức mua trong nước, có thể mất bí mật kinh tế do NLĐ mang đi bán, dễ để lại tính xấu ở nước nhận LĐ nếu LĐ sang đó có hành động sai trái như vi phạm luật pháp, phong tục tập quán… NLĐ còn dễ dàng mang theo những nếp sống không phù hợp, các bệnh xã hội từ NN về sau thời gian đi làm việc ở NN
1.2.3.2 Đối với nước tiếp nhận lao động
Sẽ thu được những lợi ích đáng kể, bù đắp LĐ thiếu hụt, khai thác có hiệu quả tiềm năng của đất nước, mở rộng quan hệ và uy tín với nước có LĐ;
Trang 22khai thác kinh nghiệm, kiến thức, tác phong LĐ và cung cách quản lý của nước khác, mở rộng nhu cầu thị trường trong nước…
Tất nhiên nước tiếp nhận LĐ có thể đồng thời phải chịu những ảnh hưởng và tác động xấu của NLĐ đến làm việc ở nước mình như: du nhập lối sống và bệnh tật xã hội bên ngoài vào; có nguy cơ mất một số bí mật quốc gia; phải lo cung ứng thêm một khối lượng lương thực, thực phẩm và hàng hoá tiêu dùng…
Lịch sử hình thành và phát triển hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN
đã chứng minh vai trò của hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN là một hoạt động kinh tế quan trọng, không thể tách rời khỏi sự phát triển đất nước đối với nhiều quốc gia Sự phát triển không đều về kinh tế, chính trị và xã hội, cũng như sự phân bố không đều về tài nguyên giữa các quốc gia, dẫn đến hậu quả là sự phát triển không đều giữa các quốc gia, không quốc gia nào lại có
đủ, đồng bộ các yếu tố sản xuất Trong điều kiện kinh tế thị trường, việc giải quyết tình trạng mất cân đối trên là tất yếu dẫn đến hình thành thị trường quốc
tế, trong đó có thị trường LĐ Khi đó, hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN
đã trở thành hoạt động kinh tế quan trọng và phổ biến nhưng có tính xã hội cao của nhiều nước trên thế giới trong nhiều thập kỷ qua Trước hết, hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN góp phần giải quyết việc làm, tiết kiệm được chi phí đầu tư tạo việc làm trong nước, điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển như Việt Nam trong tình trạng dư thừa LĐ; góp phần thu ngoại tệ về cho đất nước, được đào tạo và chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển sang cho các nước đang phát triển và cuối cùng là phát triển quan hệ hợp tác, giao lưu văn hoá và hội nhập quốc tế
Trang 231.3 Khái quát về quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động
1.3.1 Các đối tượng tham gia vào hoạt động quản lý
1.3.1.1 Nhà nước với vai trò chủ thể quản lý
Hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN là một lĩnh vực hoạt động kinh
tế đối ngoại đặc thù, có tầm chiến lược, được tạo điều kiện thuận lợi để phát huy thế mạnh nguồn lực trong nước và có phạm vi hoạt động rộng lớn trên thị trường LĐ quốc tế
Trong điều kiện kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN, hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN là một lĩnh vực KT-XH hết sức phức tạp và nhạy cảm đối với toàn xã hội và quan hệ quốc tế Hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN trong thời gian qua, hiện nay và tương lai được thực hiện trong sự cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia cung cấp LĐ, quan hệ cung cầu LĐ mất cân đối nghiêm trọng do nhu cầu tìm việc làm ngoài nước quá lớn, nhưng khả năng thị trường còn quá hạn chế Hệ thống pháp luật và chính sách hỗ trợ cho hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN chưa được đầy đủ và hoàn chỉnh, NLĐ phải tìm việc ở ngoài nước xa chủ thể quản
lý, trong khi nhận thức về quan hệ chủ thợ, về pháp luật LĐ nước sở tại còn hạn chế Các tranh chấp về LĐ, dân sự thường dễ mang tính quốc tế, nếu không có phương pháp xử lý, dễ đưa đến tranh chấp của hai quốc gia và quốc
tế Về mặt xã hội của vấn đề cũng có những phức tạp, đó là tâm lý gia đình, môi trường và thói quen
Với tầm quan trọng của hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế nước ta, thời gian qua hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN được thực hiện trong điều kiện hệ thống pháp luật, chính sách chưa hoàn chỉnh, đội ngũ doanh nghiệp XKLĐ tuy đông nhưng về chất lượng, hiệu quả chưa cao, chưa được trang bị đầy đủ kiến thức kinh tế thị
Trang 24trường, thiếu ngoại ngữ, thiếu am hiểu hệ thống pháp luật và chính sách của các nước ở khu vực mới Trong tình hình đó, sự can thiệp của nhà nước với tư cách là “bà đỡ” và là người quản lý, giám sát và định hướng cho hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN là hết sức cần thiết
1.3.1.2 DN XKLĐ với vai trò là khách thể quản lý
Hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN ngày càng không còn là một việc làm của một cá nhân riêng lẻ, vì quy mô của việc ra đi và nhu cầu của nơi sử dụng không phải là nhỏ Việc ra đi của NLĐ còn liên quan tới thủ tục xuất nhập cảnh của cả hai nước Thêm nữa việc đưa NLĐ đi làm việc ở NN
và tiếp nhận LĐ còn phải tuân thủ các thông lệ và Công ước quốc tế mà Liên hợp quốc đã nêu rõ các nước phải thực hiện Ngoài ra bản thân mỗi NLĐ khi
ra NN làm việc cũng đòi hỏi phải có một thế lực nào đó bảo đảm lợi ích và an toàn sinh mạng cho họ Nhiều nước tiếp nhận LĐ đều đưa ra những đòi hỏi khá khắt khe đối với NLĐ, đòi hỏi NLĐ làm thuê phải phù hợp với yêu cầu của họ, các đòi hỏi này mỗi cá nhân là rất khó, thậm chí không có khả năng tự thực hiện được Cho nên việc hình thành đội ngũ doanh nghiệp XKLĐ để bảo
vệ lợi ích và an toàn cho NLĐ là một đòi hỏi mang tính khách quan Tuy nhiên, đội ngũ doanh nghiệp XKLĐ này cần được tổ chức tốt với một cơ chế quản lý phù hợp với yêu cầu của thị trường sức LĐ thế giới thì mới có thể tồn tại được
Ở nước ta, trong số gần 250 doanh nghiệp XKLĐ thì có tới 90 doanh nghiệp thuộc loại nhỏ, bình quân hàng năm các doanh nghiệp này chỉ đưa đi được dưới 200 LĐ đi NN làm việc Họ không có đủ năng lực để đầu tư xây dựng cơ sở đào tạo tiếp cận thị trường Chỉ có chưa đến 20 doanh nghiệp hoạt động có tính chuyên doanh, có chức năng hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở
NN là nhiệm vụ chính và nhờ vậy hoạt động có hiệu quả cao
Không ít doanh nghiệp chạy theo lợi ích cục bộ, cạnh tranh với nhau để
Trang 25tranh giành hợp đồng, dẫn đến tăng chi phí và giảm thu nhập của người LĐ, gây thiệt hại cho người LĐ; rút ngắn thời gian đào tạo, chất lượng đào tạo thấp, dẫn đến tình trạng người LĐ đi làm việc ở NN chưa đáp ứng được trình
độ chuyên môn kỹ thuật, trình độ ngoại ngữ thì yếu, thiếu ý thức tuân thủ pháp luật cũng như sự hiểu biết về phong tục tập quán ở nước sở tại Việc quản lý và hỗ trợ người LĐ trong thời gian họ làm việc ở NN cũng rất yếu, thiếu nhanh nhạy và không hiệu quả, thậm chí tình trạng “đem con bỏ chợ” vẫn chưa được khắc phục Điều này thể hiện đặc biệt từ khi xảy ra những sự cố, như khi công ty sử dụng LĐ phá sản, hay người LĐ gặp tai nạn hoặc gặp rủi ro phải
về nước trước thời hạn Trong những trường hợp này, người LĐ chậm được hỗ trợ, không biết kêu ai, trong khi thủ tục xử lý phức tạp, gây tốn kém với chi phí lớn đối với người LĐ và gia đình họ
Việc siết chặt quản lý đối với các doanh nghiệp XKLĐ đó được đặt ra trong nhiều văn bản của cơ quan quản lý và đang được thực hiện, song rõ ràng
là công việc này cần phải được triển khai một cách triệt để hơn nữa
1.3.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động
QLNN là sự biểu hiện năng lực của con người trong việc tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội một cách có ý thức dưới một hình thức có tổ chức xã hội nhất định – Tổ chức nhà nước và QLNN Vì vậy QLNN biểu hiện trước hết ở những tác động có ý thức vào các quá trình phát triển của xã hội, vào nhận thức của con người, buộc con người phải suy nghĩ và hành động theo một hướng và các mục tiêu nhất định
QLNN là hoạt động có tổ chức và bằng pháp quyền của bộ máy nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của công dân và mọi tổ chức xã hội, giữ gìn trật tự xã hội và phát triển xã hội theo mục tiêu đã định
Ở nước ta, đó là mục tiêu chiến lược và mục tiêu trước mắt phát triển KT-XH
Trang 26của đất nước theo định hướng XHCN đã được xác định trong Cương lĩnh của Đảng
Nhà nước tổ chức thực hiện các nội dung QLNN Hoạt động của các cơ quan QLNN ở tầm vĩ mô theo một chu trình liên hệ chặt chẽ với nhau và tác động qua lại giữa các khâu như: nhận tin - xử lý tin – nghiên cứu- đề ra giải pháp- kiểm tra Nội dung QLNN đối với hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở
NN bao gồm các chức năng sau:
1.3.2.1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược quy hoạch, kế hoạch hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
Nghiên cứu nguồn cung LĐ trong nước và nhu cầu tiếp nhận LĐ của các nước để xác định chiến lược, định hướng kế hoạch phát triển hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN nói chung và cho từng khu vực, từng nước nói riêng Chương trình, kế hoạch về hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN là một bộ phận của chiến lược ổn định và phát triển KT-XH, do đó hệ thống chính sách, chương trình kế hoạch hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN phù hợp với chính sách đầu tư, chính sách ưu đãi về thuế và chính sách đào tạo Hiện nay Bộ LĐ-TBXH đang nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc
tế, công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước cũng như phù hợp với đặc điểm LĐ Việt Nam Chiến lược này sẽ được trình Chính phủ, Quốc hội trong năm tới gắn với chiến lược phát triển kinh tế xã hội chung
1.3.2.2 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
Nghiên cứu và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để quản
lý, điều hành thống nhất hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN, thực hiện QLNN bằng pháp luật, như : Bộ Luật Lao động, Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở NN theo hợp đồng, Nghị định, Thông tư, Quyết định , tổ chức chỉ
Trang 27đạo, điều hành hệ thống pháp luật đó
Nội dung của công việc này là việc thể chế hóa đường lối kinh tế thành pháp luật và thể chế của nhà nước, có tác dụng:
- Thiết lập khuôn khổ pháp lý thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở
NN, tạo ra môi trường pháp lý cho hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN;
- Tạo niềm tin cho công dân, làm cho công dân yên chí làm giầu về kinh tế, toàn tâm, toàn ý lập thân, lập nghiệp khi nhà nước đã có đường lối chính trị - kinh tế rõ ràng Tạo ra một trong những tiền đề cho “sân chơi” kinh
tế Kinh tế thị trường là một cuộc chơi lớn, quyết liệt để giành phần thắng
Đến nay hệ thống văn bản pháp luật về hoạt động đưa NLĐ đi làm việc
ở NN cơ bản đã được hoàn thiện và cụ thể hoá, bao gồm: Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và các văn bản dưới Luật hướng dẫn thi hành (03 Nghị định của Chính phủ, 01 Quyết định của Thủ trướng Chính phủ; 03 Thông tư liên Bộ và nhiều Quyết định của Bộ trưởng Bộ LĐTBXH)
Ngoài ra còn một số văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn các qui định của Luật và Nghị định nêu trên đang được Bộ LĐTBXH hoàn thiện
1.3.2.3 Xây dựng bộ máy quản lý, phân cấp và phối hợp thực hiện hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
Chính phủ thống nhất thực hiện QLNN về hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN và giao nhiệm vụ trực tiếp cho Bộ LĐTBXH QLNN về lĩnh vực hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN trong cả nước
Bộ LĐTBXH giao đơn vị trực tiếp là Cục Quản lý Lao động ngoài nước trực tiếp tham mưu thực hiện chức năng QLNN về lĩnh vực hoạt động đưa NLĐ
đi làm việc ở NN Các cơ quan nhà nước liên quan có trách nhiệm phối hợp với
Bộ LĐTBXH ban hành xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật và các văn
Trang 28bản hướng dẫn liên quan đến QLNN về hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN, bao gồm:
- Bộ Ngoại giao: phối hợp với Bộ LĐTBXH trong việc QLNN ở nước ngoài thiết lập quan hệ hợp tác quốc tế; bảo hộ các quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của NLĐ, doanh nghiệp XKLĐ Việt Nam ở nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam;
- Bộ Tài chính: chủ trì quy định chính sách tài chính về hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN, về lệ phí cấp phép, phí dịch vụ, thuế thu nhập, thể thức quản lý tiền đặt cọc và bảo hiểm xã hội;
- Bộ Công an: hướng dẫn việc cấp hộ chiếu phổ thông cho NLĐ theo quy định của pháp luật, phối hợp với Bộ LĐTBXH trong việc phòng ngừa và chống các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN;
- Bộ Công thương và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: nghiên cứu trình Chính phủ ban hành theo thẩm quyền các chính sách để doanh nghiệp và NLĐ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng
Trang 29phát sinh nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng cho NLĐ;
- Các địa phương, ở cấp tỉnh đơn vị trực tiếp QLNN về hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN là Sở LĐTBXH Ngoài ra, ở các cấp từ tỉnh đến huyện đều thành lập Ban Chỉ đạo hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN thường do một đồng chí Phó Chủ tịch làm trưởng ban, các thành viên thuộc các ngành: LĐTBXH, Liên đoàn LĐ, Nội vụ, Ngân hàng, Công an để trực tiếp chỉ đạo công tác đưa NLĐ đi làm việc ở NN trên địa bàn
Vai trò trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương đã được nâng cao, tạo cơ sở cho việc ban hành các chính sách, cơ chế, văn bản pháp luật kịp thời
để điều chỉnh các quan hệ, vấn đề phát sinh trong quá trình vận động phát triển hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN Cơ chế, môi trường thông thoáng tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN
và NLĐ tự tìm kiếm việc làm ngoài nước
1.3.2.4 Chính sách hỗ trợ và khai thác thị trường lao động ngoài nước
Nhà nước hỗ trợ cho các DN về thông tin, tài chính, kết cấu hạ tầng của thị trường và bảo vệ kinh tế Nhà nước đúng pháp luật nhằm chống thất thoát, đảm bảo sinh lợi và tăng thu cho nhân sách Nhà nước
Về phía quản lý chung, nhà nước ta đã đưa nội dung hợp tác LĐ vào chương trình làm việc tại các nước, gặp gỡ, đàm phán cấp cao giữa Chính phủ
ta với Chính phủ các nước, lồng ghép nội dung hợp tác sử dụng nguồn nhân lực Việt Nam vào các hiệp định, văn kiện hợp tác kinh tế song phương cấp Chính phủ, những chương trình hoạt động của các Ủy ban hỗn hợp, các tổ chức phi Chính phủ Chính phủ thường xuyên cử các đoàn công tác liên ngành cùng các doanh nghiệp XKLĐ tới các nước và khu vực đang có LĐ của
ta làm việc hoặc tới các địa bàn có khả năng tiếp nhận LĐ và chuyên gia để cùng phía bạn khảo sát, củng cố tình hình LĐ ở các nước, tìm hiểu khả năng hợp tác, trao đổi nội dung, giải pháp mở rộng thị trường Việc mở rộng thị
Trang 30trường, gắn thị trường với việc tạo nguồn LĐ, quan tâm tổ chức, phát triển đội ngũ doanh nghiệp, xây dựng kế hoạch tìm thị trường, thúc đẩy hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN trong phạm vi Bộ, ngành và địa phương Hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN bằng ngân sách nhà nước như đào tạo bằng nguồn đưa NLĐ đi làm việc ở NN, nghiên cứu và tìm kiếm thị trường LĐ, cấp giấy phép và quản lý hoạt động của các DN theo quy định
Về việc cấp giấy phép hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN cho doanh nghiệp dịch vụ Đây là loại hình kinh doanh dịch vụ có điều kiện, tính chất phức tạp, liên quan đến lợi ích nhiều người, cụ thể là lợi ích của NLĐ, lợi ích quốc gia và lợi ích chung cho tất cả các doanh nghiệp Bởi vậy, để được tham gia kinh doanh trong lĩnh vực này, doanh nghiệp phải được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động, khi không còn hoạt động hoặc bị dừng, bị thu hồi giấy phép thì doanh nghiệp không được phép kinh doanh trong lĩnh vực này Theo quy định tại Nghị định số 126/2007/NĐ-CP ngày 01/8/2007 của Chính phủ thì doanh nghiệp được xem xét cấp phép hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN là:
- Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo Luật DN có 100% vốn điều lệ của các tổ chức, cá nhân Việt Nam;
- Doanh nghiệp có đề án hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN; có vốn điều lệ từ 5 tỷ đồng trở lên; có trụ sở làm việc ổn định và cở sở đào tạo cho NLĐ; có ít nhất 7 cán bộ chuyên trách có trình độ từ cao đẳng trở lên thuộc các chuyên ngành kinh tế, pháp luật và ngoại ngữ Cán bộ chuyên trách này phải có lý lịch rõ ràng, phẩm chất đạo đức tốt, không có tiền án, không bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên trong hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN; DN ký quỹ 1 tỷ đồng tại ngân hàng để giải quyết những trường hợp khẩn cấp đối với NLĐ
Trang 31Về công tác tuyển chọn, đào tạo LĐ:
- Doanh nghiệp có trách nhiệm tổ chức đào tạo cho NLĐ đã được tuyển chọn tại cơ sở đào tạo của doanh nghiệp theo quy chế của Bộ LĐTBXH Học ngoại ngữ: NLĐ phải đạt yêu cầu của nước tiếp nhận LĐ theo hợp đồng, hiểu biết kiến thức cần thiết có liên quan như: Luật LĐ, Hình sự, Dân sự, Xuất nhập cảnh và cư trú của người Việt Nam ở NN, pháp luật nước sử dụng LĐ, nghĩa vụ chấp hành và tuân thủ pháp luật, phong tục, tập quán, điều kiện làm việc và sinh hoạt, quan hệ chủ thợ, kinh nghiệm giao tiếp, nội dung hợp đồng mà doanh nghiệp đã ký, trách nhiệm của NLĐ và của doanh nghiệp, những quy định về an toàn LĐ, vệ sinh LĐ… Ngoài ra, trong trường hợp cần thiết, NLĐ còn được dạy nghề, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề theo hợp đồng cung ứng LĐ với từng nước Các doanh nghiệp XKLĐ thường có trung tâm đào tạo trực thuộc doanh nghiệp để thuận lợi cho việc đáp ứng nguồn LĐ cần thiết, kịp thời và đầy đủ
Về công tác tổ chức đưa đi và quản lý NLĐ ở NN:
- Đây là hoạt động kinh tế mang tính dịch vụ, doanh nghiệp XKLĐ là người chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc tuyển chọn, đào tạo NLĐ để đáp ứng được yêu cầu của bên NN (bên sử dụng LĐ), đồng thời việc tổ chức đưa những NLĐ này ra NN, quản lý họ trong thời gian làm việc ở đó cũng thuộc trách nhiệm của doanh nghiệp XKLĐ Trong thời gian này, doanh nghiệp phải theo dõi, giám sát việc thực hiện hợp đồng (giữa NLĐ và người sử dụng LĐ),
cử cán bộ quản lý tại chỗ theo hướng dẫn của Cục Quản lý LĐ ngoài nước (tại thị trường LĐ đặc thù, các nước, khu vực DN đưa nhiều NLĐ sang làm việc) Giải quyết kịp thời các phát sinh vượt quá khả năng tự giải quyết của NLĐ hoặc khi NLĐ yêu cầu trợ giúp Phối hợp với bên NN (công ty môi giới, người sử dụng LĐ) giải quyết các vấn đề phát sinh khi NLĐ chết, bị tai nạn
LĐ, tai nạn rủi ro, bị bệnh nghề nghiệp, bị xâm hại tính mạng, sức khoẻ, danh
dự, nhân phẩm, tài sản và giải quyết tranh chấp liên quan đến NLĐ Báo cáo
Trang 32và phối hợp với cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở NN quản lý
và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ trong thời gian làm việc (đặc biệt
là với những vụ việc vượt quá khả năng của doanh nghiệp)
- DN cũng có trách nhiệm giải quyết các trường hợp như: NLĐ bỏ hợp đồng LĐ ra ngoài làm việc cho chủ sử dụng LĐ khác hoặc đưa NLĐ về nước khi LĐ bị sa thải, doanh nghiệp phá sản NLĐ không tìm kiếm được công việc khác
- Khi doanh nghiệp XKLĐ bị đình chỉ hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN, không có đủ điều kiện cấp đổi giấy phép, nộp lại hoặc bị thu hồi Giấy phép, bị giải thể thì doanh nghiệp đó vẫn phải có trách nhiệm tiếp tục quản lý số LĐ đó đưa đi cho đến khi họ về nước và thanh lý hợp đồng Trường hợp doanh nghiệp phá sản chuyển giao quyền và nghĩa vụ cho doanh nghiệp khác có Giấy phép hoặc bàn giao cho Bộ LĐTBXH theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở NN theo hợp đồng
Về quản lý tài chính đối với DN và NLĐ:
- Thứ nhất, đối với doanh nghiệp: doanh nghiệp XKLĐ chỉ được phép thu tiền đặt cọc, phí dịch vụ, phí môi giới sau khi NLĐ được phía NN chấp nhận vào làm việc hoặc cấp visa Doanh nghiệp sử dụng phí dịch vụ để chi cho hoạt động làm dịch vụ của mình theo chế độ quản lý tài chính do Liên Bộ Tài chính và Bộ LĐTBXH ban hành, kể cả chi phí cho kiểm tra ngoại ngữ, kiểm tra tay nghề NLĐ theo yêu cầu đối tác NN và đào tạo cho NLĐ trước khi đi làm việc ở NN; doanh nghiệp khi xin Giấy phép hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN phải đóng một khoản lệ phí cho việc thẩm định các hồ sơ liên quan và được hạch toán vào chi phí hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN của doanh nghiệp;
- Thứ hai, Người đi làm việc ở NN thông qua doanh nghiệp XKLĐ có
Trang 33nghĩa vụ nộp tiền đặt cọc để đảm bảo thực hiện hợp đồng đã ký kết và phí dịch vụ cho doanh nghiệp đưa đi Mức tiền đặt cọc cụ thể do doanh nghiệp và NLĐ thỏa thuận trong hợp đồng trên cơ sở mức lương NLĐ đến làm việc nhưng không vượt quá mức quy định chung Sau khi hoàn thành hợp đồng về nước, NLĐ được doanh nghiệp thanh lý hợp đồng để nhận lại số tiền đã đặt cọc, kể cả tiền lãi
Ngoài ra, NLĐ phải chi đầu tư ban đầu để tạo việc làm ở NN bao gồm: tiền vé máy bay từ Việt Nam đến nước làm việc (trừ trường hợp phía chủ sử dụng LĐ đài thọ), chi phí khám sức khỏe, chi phí làm hồ sơ theo quy định của nhà nước
Việc thu tiền đặt cọc của NLĐ nhằm đảm bảo thực hiện hợp đồng đã
ký kết được thực hiện trên căn cứ vào từng thị trường, từng hợp đồng và từng đối tượng LĐ cụ thể trên cơ sở thỏa thuận với NLĐ về số tiền, cách thức thu, nộp theo quy định của nhà nước NLĐ hoàn thành hợp đồng đã ký với doanh nghiệp cung ứng LĐ, không gây thiệt hại cho chủ sử dụng LĐ được nhận lại toàn bộ số tiền đặt cọc cả gốc lẫn lãi Trong trường hợp vi phạm hợp đồng đã ký, NLĐ phải bồi thường thiệt hại về vật chất do NLĐ gây ra cho chủ sử dụng LĐ và doanh nghiệp đưa đi
1.3.2.5 Thanh kiểm tra và xử lý hành vi vi phạm trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
Việc thanh tra, kiểm tra được thực hiện trong phạm vi các doanh nghiệp được cấp phép hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN, các đơn vị, tổ chức cung cấp LĐ cho các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân khác có liên quan và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo có liên quan theo hình thức định kỳ, theo chuyên đề, theo vụ việc hoặc thanh kiểm tra trọng điểm
Trong quá trình thanh tra, kiểm tra nếu phát hiện doanh nghiệp có vi phạm thì doanh nghiệp sẽ bị xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh
Trang 34cáo và phạt tiền, trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng có thể áp dụng biện pháp phạt bổ sung như đình chỉ hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN hoặc thu hồi giấy phép
Đối với NLĐ làm ở việc ở NN, nếu bỏ hợp đồng ra ngoài làm ăn, cư trú bất hợp pháp sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả “buộc về nước” và nếu cố tình vi phạm, ở lại NN trái phép thì sẽ
bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh “ở lại NN trái phép” có thể phạt tiền tới 50 triệu đồng hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm
Đồng thời, phối hợp với các cơ quan thông tấn, báo chí thường xuyên thông tin, tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân để hạn chế tình trạng NLĐ do thiếu thông tin phải qua trung gian môi giới mới đến được doanh nghiệp XKLĐ, gây thiệt hại về kinh tế của NLĐ
Trong quá trình tổ chức hoạt động thanh tra, kiểm tra, Bộ LĐ-TBXH đã
có sự phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành có liên quan và chính quyền các địa phương, trong đó nâng cao trách nhiệm, vai trò của cơ quan LĐ địa phương đối với hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN tại địa bàn
Bộ LĐTBXH đã chủ động lập đường dây nóng, tiếp nhận thông tin
từ nhân dân, phát hiện nhiều dấu hiệu lừa đảo cung cấp cho cơ quan công
an để điều tra và xử lý Các cơ quan thuộc ngành Công an đã tích cực phát hiện, ngăn chặn và xử lý các tổ chức và cá nhân không có chức năng đưa NLĐ đi làm việc ở NN, lừa đảo tuyển chọn LĐ đi làm việc ở NN và thu tiền trái pháp luật
1.4 Các nhân tố tác động tới quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động
1.4.1 Quan hệ cung – cầu về lao động trên thị trường lao động quốc
tế
Cũng giống như mọi hoạt động kinh tế khác, xuất khẩu lao động cũng
Trang 35bị chi phối bởi quan hệ cung - cầu trên thị trường
Ban đầu, khi chưa có xuất khẩu lao động:
Đường cung - cầu lao động ở hai quốc gia 1 và quốc gia 2 lần lượt là (S1, D1) và (S2, D2) Mức lương tương ứng là W1 và W2 (W1>W2)
Khi có hiện tượng xuất khẩu lao động:
Sự di chuyển lao động giữa hai quốc gia (từ quốc gia 2 sang quốc gia 1, do
có sự chênh lệch về mức lương) khiến cho tại quốc gia 1, đường cung lao động dịch chuyển sang phải từ S1 sang S1’, và tại quốc gia 2, đường cung lao động dịch chuyển sang trái, từ S2 sang S2’ Khi đó, mức lương ở cả hai nước cân bằng tại
WE
Hình 1.1: Cung – cầu lao động tại hai quốc gia xuất khẩu và nhập khẩu lao động
Như vậy, không chỉ cung - cầu lao động ở từng nước mà chính tương quan trong cung - cầu lao động giữa hai nước đã tác động trực tiếp tới hoạt động xuất khẩu lao động Mở rộng hơn, ta thấy chính cung - cầu lao động thế giới tác động tới hoạt động xuất khẩu lao động Khi cầu lao động mở rộng sẽ làm gia tăng lượng lao động xuất khẩu, ngược lại, khi cầu lao động thu hẹp sẽ làm giảm lượng lao động xuất khẩu
L1’ L1 E1’
E1
Trang 36lao động của các quốc gia xuất khẩu lao động hay cạnh tranh giữa các nguồn cung lao động xuất khẩu Thứ hai là cạnh tranh giữa lao động xuất khẩu và lao động tại quốc gia nhập khẩu lao động Cả hai hình thức cạnh tranh kể trên đều tác động tới xuất khẩu lao động, tuy nhiên hình thức cạnh tranh thứ nhất thường diễn ra mạnh hơn, do lượng cầu lao động thường nhỏ hơn lượng cung lao động
Hiện tại trên thế giới có hơn một trăm quốc gia có lao động xuất khẩu, trong đó ở khu vực châu Á có những quốc gia xuất khẩu lao động lớn như Trung Quốc, Malaysia, Việt Nam, và dẫn đầu là Phillippines Việc cạnh tranh trong xuất khẩu lao động là hoàn toàn phù hợp với quy luật khách quan, khi
mà lượng cung dư thừa quá nhiều và sức hút từ khoản thu nhập cao ở các quốc gia xuất khẩu lao động quá lớn Đặc biệt khi áp lực thất nghiệp tại các quốc gia xuất khẩu lao động không ngừng gia tăng
Một quốc gia khi tham gia vào hoạt động đưa lao động đi xuất khẩu sẽ phải chịu áp lực cạnh tranh từ các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới Khi càng có nhiều nước tham gia xuất khẩu lao động trên một thị trường thì mức độ cạnh tranh càng cao, cơ hội đưa lao động tới thị trường đó càng thấp và ngược lại Bên cạnh đó, trên một thị trường càng tập trung nhiều quốc gia xuất khẩu lao động lớn và lâu năm thì áp lực cạnh tranh sẽ càng gia tăng, nhất là đối với những nước mới tham gia thị trường
1.4.3 Chất lượng nguồn lao động xuất khẩu
Như đã trình bày ở trên, mức độ cạnh tranh giữa các quốc gia xuất khẩu lao động là rất lớn và tác động trực tiếp tới hoạt động xuất khẩu lao động của các quốc gia Nhưng nhân tố chính tạo nên mức độ cạnh tranh giữa các nguồn lao động lại nằm ở chất lượng lao động Khi mà mức lương, thủ tục xuất, nhập lao động đang dần đi tới sự chuẩn hóa thì nhân tố quyết định chủ yếu còn lại là chất lượng của nguồn lao động Chất lượng được đánh giá thông
Trang 37qua những tiêu chí cơ bản như: sức khỏe, khả năng ngoại ngữ (khả năng sử dụng ngôn ngữ của quốc gia nhập khẩu lao động), kỹ năng hay tay nghề trong công việc, khả năng học hỏi và thích nghi với môi trường làm việc mới, thái
độ và kỷ luật khi làm việc cũng như trong cuộc sống,… Chất lượng nguồn lao động ở một nước được đánh giá tốt đồng nghĩa với việc cơ hội và số lượng lao động của nước đó được xuất khẩu sẽ cao và ngược lại, một nước sẽ khó có thể đưa lao động đi xuất khẩu nếu chất lượng nguồn lao động tại nước đó bị đánh giá thấp
1.4.4 Thể chế, luật pháp và định hướng của quốc gia xuất khẩu và nhập khẩu lao động
Thể chế, luật pháp của các quốc gia xuất khẩu và nhập khẩu lao động cũng có tác động trực tiếp tới hoạt động xuất khẩu lao động Nếu giữa hai quốc gia có chung các cam kết, đồng thời có các văn bản pháp luật quy định
về việc cho phép thực hiện hoạt động xuất khẩu lao động, thì hoạt động này mới có thể diễn ra Bên cạnh đó, thông qua các hiệp định chung được ký kết,
sẽ tạo ra hành lang pháp lý cho việc mở rộng hoạt động trao đổi lao động giữa hai nước Đặc biệt, nếu có sự đồng nhất trong thể chế và hệ thống pháp luật giữa hai quốc gia thì hoạt động xuất khẩu lao động sẽ diễn ra dễ dàng hơn, và người lao động cũng sẽ thích nghi nhanh hơn với môi trường mới tại quốc gia nhập khẩu lao động, do được tạo những điều kiện thuận lợi về mặt pháp lý
Ngày nay, bên cạnh thể chế và pháp luật, các kế hoạch định hướng và nhận định của hai quốc gia, đặc biệt là quốc gia tiếp nhận lao động cũng tác động mạnh tới hoạt động xuất khẩu lao động Cụ thể như, trong những năm gần đây, có nhiều thị trường xuất khẩu lao động bị thu hẹp, nguyên nhân lớn nhất xuất phát từ sự bảo hộ việc làm trong nước của các quốc gia này Hay khi nước tiếp nhận lao động nhận định hoạt động này có thể làm ảnh hưởng không tốt tới tình hình chính trị, xã hội chung thì cũng sẽ có tác động nhằm
Trang 38giảm lượng lao động nhập khẩu vào quốc gia mình Ngược lại, nếu trong kế hoạch phát triển quốc gia khuyến khích tiếp nhận lao động nước ngoài, thì sẽ
có tác động kích thích cho hoạt động này và mở rộng cơ hội đối với các thị trường xuất khẩu lao động có liên quan
1.4.5 Các yếu tố truyền thống văn hóa và con người
Các chính sách tuyển dụng LĐ NN của bất kỳ quốc gia nào cũng hàm chứa sự bảo tồn và gìn giữ các giá trị truyền thống văn hóa và phù hợp với tôn giáo của quốc gia đó Vì vậy, một quốc gia sẽ có chủ trương ưu đãi hơn đối với lao động đến từ các nước có nền văn hóa tương quan
1.4.6 Các yếu tố khác
Tổ chức và quản lý hoạt động xuất khẩu lao động Đây là yếu tố tích cực và có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả và sự phát triển của xuất khẩu lao động
Với tính chất phức tạp, nhạy cảm và tính chất quốc tế cao của XKLĐ,
sự quản lý của Nhà nước vào hoạt động này với tư cách hỗ trợ, giám sát và định hướng cho công tác XKLĐ là cần thiết, ứng với mỗi giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước, phải có một phương thức tổ chức và quản lý hiệu quả kinh tế- xã hội Việc vận dụng, khai thác tốt các nhân tố mới có ảnh hưởng đến XKLĐ sẽ giúp cho chúng ta có cơ hội thực hiện thành công chiến lược xuất khẩu lao động Việt Nam trong những năm tới góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa, hội nhập sâu rộng với các nước trong khu vực và trên thế giới
1.5 Kinh nghiệm của một số nước trong khu vực về XKLĐ
Nhiều nước trong khu vực như: Philippines, Indonesia, đều là những nước đã tiến hành chương trình XKLĐ từ lâu và đạt được nhiều thành tựu quan trọng Để đạt được kết quả đó, các nước này có các chủ trương, kế hoạch
Trang 39cũng như các chính sách quản lý khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh kinh tế - xã hội ở mỗi nước
1.5.1 Kinh nghiệm của Philippines
Philippines là nước trong khu vực thành công nhất về xuất khẩu lao động Philippines xem xuất khẩu lao động là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, có nhiều đóng góp cho sự phát triển kinh tế Họ xem mình như một
“Công ty toàn cầu” về cho thuê, cho mướn lao động Theo đó luôn nỗ lực xây dựng một “ Kế hoạch kinh doanh” phù hợp với mục đích chính trị và kinh tế của mình Mục tiêu tạo việc làm được xây dựng trong chiến lược kinh tế xã hội thường niên và chiến lược đào tạo nhân công có trình độ cao
Hiện nay có hơn 5 triệu lao động Philippines đang sống và làm việc tại gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ Bình quân mỗi năm có gần 1 triệu người Philippines ra nước ngoài làm việc Trong số đó các lao động ra nước ngoài làm việc có gần 85% là thanh niên bắt đầu tham gia vào lực lượng lao động vì vậy đã tiết kiệm cho đất nước hàng tỷ USD đầu tư giải quyết việc làm, ngoài
ra số tiền lao động hàng năm gửi về cho đất nước chiếm hơn 12% GDP (năm
2008 là 19 tỷ USD), gấp 5 lần vốn đầu tư từ nước ngoài và bằng 25% nguồn thu xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, là lượng ngoại tệ đáng kể để phát triển kinh tế đất nước
Philippines khuyến khích xuất khẩu lao động hợp pháp, có thời hạn đồng thời hạn chế tối đa việc người lao động đi làm việc ở nước ngoài bất hợp pháp Chính phủ Philippines đã ban hành Đạo Luật về lao động di cư và người Philippines ở nước ngoài (1995), phê chuẩn công ước quốc tế về bảo vệ quyền lợi của người lao động và di cư và đồng thời đã ký kết được 60 văn bản thỏa thuận và hiệp định lao động với 50 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới
Ở Philippines xuất khẩu lao động do nhà nước quản lý thống nhất thông qua Cục Việc làm ngoài nước thuộc Bộ Lao động và Việc làm, việc tuyển dụng và
Trang 40đưa lao động ra nước ngoài làm việc được cả các cơ quan nhà nước và các tổ chức tư nhân đảm trách Người lao động muốn đi xuất khẩu lao động phải được một trong các tổ chức này tuyển mộ hoặc phải có hợp đồng lao động cá nhân và được Cục Việc làm ngoài nước công nhận phù hợp với bản thân mình
và lợi ích quốc gia Philippines chỉ chấp nhận cho lao động của mình đến làm việc ở các nước có Luật Bảo vệ quyền lợi của người lao động nước ngoài
Tại Philippines nhà nước bắt buộc và khuyến khích các doanh nghiệp lập quỹ đào tạo và không được thu lệ phí của người lao động nhằm nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu Các trung tâm đào tạo lớn thuộc Cục quản lý lao động và việc làm được thành lập nhằm đào tạo lại, bổ túc ngoại ngữ, kiến thức pháp luật cho người lao động Nhà nước cho phép các doanh nghiệp, các trung tâm đào tạo liên kết với nước ngoài, nhất là nước tiếp nhận lao động để đào tạo người lao động Có thể nói đào tạo giáo dục định hướng là nhân tố cơ bản làm cho xuất khẩu lao động của Philippines trong nhiều năm qua đã đạt được kết quả cao nhất so với các nước trong khu vực
Mặc dù đã giao quyền tự chủ và trách nhiệm tuyển mộ lao động cho các doanh nghiệp lao động nhưng Chính phủ vẫn duy trì vai trò quản lý và kiểm soát nhằm bảo vệ người lao động khi làm việc tại nước ngoài Hiện nay Philippines có hơn 80 văn phòng đại diện tại các nước đứng đầu là ủy viên lao động, ngoài ra người lao động còn được trợ giúp bởi các tổ chức Chính phủ
và phi Chính phủ khác như: Cục phúc lợi lao động di cư, Ban phát triển việc làm ngoài nước, Văn phòng dịch vụ việc làm, Tổ chức Chữ Thập Đỏ, các hiệp hội xuất khẩu lao động, Ban bảo trợ xã hội và bảo vệ người lao động ở nước ngoài với 27 chi nhánh làm việc tại 30 nước, chịu trách nhiệm giải quyết mọi liên quan đến người lao động Ngoài ra còn có Bộ ngoại giao, Văn phòng nhập cư, các tổ chức nghiệp đoàn cùng hỗ trợ người lao động Lao động xuất khẩu được quản lý theo hệ thống thông tin dữ liệu tại đại sứ quán Philippines