còn quá hoang sơ, người dân địa phương còn khá lạ lẫm với loại hình kinh doanh mới chính vì vậy tôi thực hiện đề tài: “Tìm hiểu hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh th
Trang 1Lời Cảm Ơn
Với phương châm học đi đôi với hành, ngoài phần lý thuyết mỗi sinh viên phải thực tập cuối khoá để bổ sung kiến thức và tiếp cận với thực tế Đây là cơ sở kiểm tra kiến thức bốn năm học của sinh viên.
Được sự nhất trí của Khoa Lâm Nghiệp Trường Đại Học Nông Lâm Huế và sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại hồ Truồi, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế”.
Để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến cô giáo Ths Võ Thị Minh Phương đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành đề tài này
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến quý thầy cô giáo trong Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Huế đã chỉ bảo tận tình, đóng góp ý kiến, truyền đạt những kiến thức bổ ích cho tôi trong suốt thời gian học tập tại Trường và đã tạo điều kiện tốt cho tôi trong thời gian hoàn thành khóa luận
Xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị tại xã Lộc Hòa, UBND xã Lộc Hòa, trạm kiểm lâm xã Lộc Hòa và VQG Bạch Mã
đã tạo điều kiện và giúp đở tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình.
Với khả năng của bản thân và thời gian có hạn nên khóa luận không tránh khỏi những điều thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận được đóng góp ý kiến từ quý thầy cô để khóa luận hoàn thiện hơn.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Huế, ngày 15 tháng 5 năm 2015
Sinh viên Lương Thị Sâm
Trang 2TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Hồ Truồi một địa danh du lịch nổi tiếng ở tỉnh Thừa Thiên Huế Vớiphong cảnh thiên nhiên hùng vĩ bao trọn các công trình của Thiền Viện TrúcLâm, hệ sinh thái tự nhiên đa dạng Và đang là một trong những địa điểm du lịchsinh thái nổi tiếng ở Việt Nam nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng.Mang lại những lợi ích lớn cho phát triển kinh tế của tỉnh, đồng thời nângcao đời sống của nhân dân địa phương tại vùng hồ Tuy nhiên việc phát triển
du lịch sinh thái (DLST) tại hồ Truồi vẫn chưa phát huy hết tiềm năng của vùng
và còn nhiều vấn đề đặt ra như môi trường, giao thông, dịnh vụ nghỉ ngơi, ănuống phục vụ du khách còn quá hoang sơ, người dân địa phương còn khá lạ
lẫm với loại hình kinh doanh mới chính vì vậy tôi thực hiện đề tài: “Tìm hiểu
hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại hồ Truồi, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế”.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là xác định thực trạng quản lý phát triển
du lịch sinh thái và tác động của du lịch sinh thái đến tài nguyên rừng tại vùng
hồ Truồi nhằm nâng cao nhận thức, tạo cơ hội để người dân tham gia vào cáchoạt động du lịch sinh thái tăng thu nhập góp phần thúc đẩy quản lý bền vữngtài nguyên du lịch sinh thái
Đề tài sử dụng các phương pháp bao gồm: Thu thập thông tin, tài liệu thứcấp về lịch sử hình thành, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và đặc biệt là nét đặctrưng của hồ Truồi qua tài liệu sách báo, internet, người dân… Phỏng vấn cấutrúc, bán cấu trúc về thực trạng, nhu cầu nguyện vọng của người dân địaphương, của du khách về hình thức, mức độ hài lòng, hướng phát triển DLSThiệu quả tại địa phương Phương pháp phân tích tổng hợp thông tin và phươngpháp quan sát thực địa luôn được áp dụng
Đề tài thu được một số kết quả như sau: Khu du lịch sinh thái hồ Truồi làkhu du lịch mới, nằm trong phạm vi của VQG Bạch Mã, có rất nhiều tiềm năng
để phát triển du lịch sinh thái Các điểm du lịch ở đây bao gồm Thiền Viện TrúcLâm Bạch Mã, các suối du lịch Vũng Thùng, Ba Trại, Ông Viên và suối HợpHai Thực trạng tài nguyên, cơ sở vật chất kĩ thuật, hiện trạng môi trường, tìnhhình lao động phục vụ khách du lịch nơi đây còn mang tính tự phát chưa có quyhoạch Nhìn chung khu du lịch sinh thái hồ Truồi có nhiều thuận lợi và tiềmnăng lớn cho phát triển du lịch sinh thái bền vững Hiện tại khách du lịch kháhài lòng về khu du lịch sinh thái này, tuy nhiên các tuor du lịch đến đây cònngắn (thường là một buổi) cần đầu tư phát triển thêm cơ sở vật chất, dịch vụ lưutrú… để du khách có thể kéo dài thời gian du lịch khám phá tại các suối tự nhiên
Trang 3nơi đây Các hoạt động du lịch cũng có những tác động tích cực và tiêu cực đếnmôi trường và tài nguyên rừng tại địa bàn nghiên cứu được thể hiện trong bảng4.6 và bảng 4.7 Qua việc phân tích các vấn đề trên đề tài cũng đề xuất một sốgiải pháp chia sẻ công bằng lợi ích từ du lịch sinh thái đảm bảo quản lý bềnvững tài nguyên rừng tại hồ Truồi.
Dựa vào kết quả nghiên cứu đề tài đã rút ra một số kết luận: Khu DLST
hồ Truồi là một điểm đến hấp dẫn, thu hút rất nhiều khách du lịch trong và ngoàinước đến đây Các điểm du lịch ở hồ Truồi là tham quan lễ bái TVTL Bạch Mã,tham quan các suối thuộc VQG Bạch Mã gồm suối Ba Trại, Hợp Hai, VũngThùng, Ông Viên Khu du lịch hồ Truồi hiện đang được quản lý bởi HTX thanhniên xã Lộc Hòa Tuy có rất nhiều tiềm năng về phát triển du lịch sinh thái songhiện nay, hiện trạng của khu du lịch vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của khách
về các mặt trong quá trình tham gia vào hoạt động du lịch tại đây như: Ăn uống,nghỉ ngơi, vui chơi … Khu du lịch hồ Truồi nằm trong phạm vi VQG Bạch Mã,với rừng tự nhiên được bảo vệ nghiêm ngặt Các hoạt động du lịch sinh thái đâyđang còn mang tính tự phát, chưa có quy hoạch cụ thể Các hoạt động kinhdoanh ở khu DLST hồ Truồi được quan tâm và phát triển nhiều hơn trước tuynhiên vẫn còn khá đơn sơ và rất hạn chế
Qua quá trình nghiên cứu đề tài đã đưa ra một số kiến nghị sau: Thiết kế
và tổ chức mạng lưới du lịch thái hồ Truồi với những tiềm năng du lịch của nó.Cần quy hoạch, đưa ra phương án để phát triển du lịch sinh thái hồ Thống nhấtkhai thác và quản lý du lịch giữa UBND xã Lộc Hòa, VQG Bạch Mã Quan tâmnhiều hơn đến việc xử lý các vấn đề môi trường, bảo tồn bền vững tài nguyênrừng Hướng dẫn du khách có ý thức hơn trong việc giữ gìn vệ sinh nơi côngcộng
Trang 4PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Du lịch được mệnh danh là ngành công nghiệp không khói, một ngànhkinh tế phát triển nhanh hàng đầu thế giới Cuộc sống con người ngày càng pháttriển, nhu cầu được hưởng các dịch vụ du lịch ngày càng tăng, đặc biệt là du lịchsinh thái Chính vì vậy du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng đã vàđang là một ngành kinh tế mang lại hiệu quả cao và thân thiện với môi trường.Việt Nam là một quốc gia có tài nguyên thiên nhiên phong phú và hệ sinh thái
đa dạng điển hình Đây chính là tiềm năng lớn cho phát triển du lịch sinh thái.Trong chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam năm 2010-2020, du lịch sinh thái
là một trong những loại hình được Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định làhướng phát triển quan trọng nhất Đây cũng là hướng cơ bản và lâu dài nhằmkhai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên du lịch của Việt Nam
Hồ Truồi một địa danh du lịch nổi tiếng ở tỉnh Thừa Thiên Huế có diệntích khoảng 400ha, trước kia diện tích lòng hồ rất nhỏ, vì mục đích tưới tiêu chođồng ruộng các xã thuộc huyện Phú Lộc, tỉnh TT - Huế đã xây dựng đập Truồingăn nước, vì vậy mà hồ Truồi rộng lớn như bây giờ Đến hồ Truồi du khách sẽthấy một vùng nước trong xanh được bao bọc bởi các dãy núi xanh ngát, phongcảnh sơn thủy hữu tình Với phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ bao trọn các côngtrình của Thiền Viện Trúc Lâm, hệ sinh thái tự nhiên đa dạng vì vậy hồ Truồiđang là một trong những địa điểm du lịch sinh thái nổi tiếng ở Việt Nam nóichung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng Mang lại những lợi ích lớn chophát triển kinh tế của tỉnh, đồng thời nâng cao đời sống của nhân dân địaphương tại vùng hồ
Tuy nhiên việc phát triển du lịch sinh thái (DLST) tại hồ Truồi vẫn chưaphát huy hết tiềm năng của vùng và còn nhiều vấn đề đặt ra như môi trường,giao thông, dịnh vụ nghỉ ngơi, ăn uống, phục vụ du khách còn quá hoang sơ,người dân địa phương còn khá lạ lẫm với loại hình kinh doanh mới chính vì vậy
tôi thực hiện đề tài: "Tìm hiểu hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển du
lịch sinh thái tại hồ Truồi huyện Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế" trên cơ sở
phân tích hiện trạng du lịch sinh thái tại hồ Truồi và đưa ra một số khuyến nghịphát triển du lịch bền vững như vấn đề bảo vệ môi trường, bảo vệ sinh thái…Qua đề tài này hy vọng sẽ mang đến một số giải pháp phát triển du lịch sinh tháimới trên nguyên tắc bảo tồn được hệ sinh thái tự nhiên tại hồ Truồi
Trang 5PHẦN 2 TỔNG QUAN 2.1 Lược sử về du lịch sinh thái
Khái niệm sơ lược về sinh thái được nhà khoa học Hy Lạp Pharastus đềcập vào thế kỷ 3 trước công nguyên Pharastus là người quan tâm đến mối quan
hệ giữa vật chất sống và không sống Tuy nhiên, thuật ngữ sinh thái học thực sự
ra đời vào năm 1886 do Haeckel, tác giả cuốn “Hình thái học đại cương của các
cơ thể sống” (Haeckel Morphologie Gesneeraledes Organismes – 1886 ), đã nêulên một khái niệm mới trong sinh vật học nói lên mối quan hệ giữa sinh vật vàmôi trường sống
Năm 1971 cuốn sách “Cơ sở sinh thái học” (Fundamentals of ecology )của giáo sư Eugene P Odum thuộc trường Đại Học Georgy – Mỹ ra đời là một
sự kiện quan trọng trong nghiên cứu về sinh thái học Tác giả đã phát triển lýthuyết về sinh thái ở mức cao hơn và cũng trong thập niên 70 của thế kỷ này [1]
Ngày nay con người nhận thức được rằng không chỉ môi trường tự nhiêncủa động thực vật mà còn của cả con người và đang bị suy thoái một cáchnghiêm trọng mà con người chính là thủ phạm gây ra Và con người đang dầnquan tâm đến môi trường hơn, muốn bảo vệ bền vững tài nguyên thiên nhiên
Như chúng ta biết, từ thời Tomat Cook đến nay du lịch đã thay đổi rấtnhiều về cả mặt lý luận thực tiễn Du lịch trong thời gian này đang là là một hiệntượng đã và đang chi phối mạnh đến nền kinh tế của toàn nhân loại
Vào những năm 70 của thế kỉ 20, du lịch diễn ra với hình thức săn bắtđộng vật, phá hoại tài nguyên, tuy nhiên hình thức du lịch này không bền vững
Du khách cũng bắt đầu nhận thức được những tác hại sinh thái mà họ gây ra,nên các tour du lịch chuyên hóa đã bắt đầu có sự quản lý nghiêm ngặt DLSTdần dần định hình từ đây [1]
2.2 Khái niệm du lịch sinh thái trên thế giới
Trên thế giới có rất nhiều khái niệm về du lịch sinh thái, điển hình như:Hector Ceballos – Lascurain – một nhà nghiên cứu tiên phong về du lịch sinh
thái (DLST), định nghĩa DLST lần đầu tiên vào năm 1987 như sau: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với những mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, trân trọng và thưởng ngoạn phong cảnh và giới động – thực vật hoang dã, cũng như những biểu thị văn hoá (cả quá khứ và hiện tại) được khám phá trong những khu vực này” [3]
Trang 6Năm 1994 nước Úc đã đưa ra khái niệm “DLST là Du lịch dựa vào thiên nhiên, có liên quan đến sự giáo dục và diễn giải về môi trường thiên nhiên được quản lý bền vững về mặt sinh thái” [3].
Theo Hiệp hội DLST Hoa Kỳ, năm 1998 “DLST là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương” [3].
Theo Honey (1999) “DLST là du lịch hướng tới những khu vực nhạy cảm
và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra ít tác hại và với quy mô nhỏ nhất Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trường, nó trực tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho người dân địa phương
và nó khuyến khích tôn trọng các giá trị về văn hóa và quyền con người” [3].
Từ năm 1990 trở lại đây, các chương trình du lịch sinh thái khá phổ biến ởtrên thế giới Ta có thể kể đến một số chương trình nghiên cứu của hội du lịchsinh thái (1992-1993), chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (1979), tổ chức
du lịch thế giới (1994), đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Burns, Holden(1995), PATA (1993)… Đáng chú ý là công trình nghiên cứu “Du lịch sinh tháihướng dẫn cho các nhà lập kế hoạch và quản lý” của Kreg Lindberg (1999) vàcác chuyên gia của hội du lịch sinh thái quốc tế Những công trình nghiên cứutrên đã tạo cho con người những bước tiến mới trong du lịch sinh thái
2.3 Du lịch sinh thái ở Việt Nam
Ở Việt Nam vào năm 1999 trong khuôn khổ hội thảo xây dựng chiến lượcquốc gia về phát triển du lịch sinh thái đã đưa ra định nghĩa như sau: “Du lịchsinh thái là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái vàmôi trường có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trường và văn hóa, đảmbảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phương và có đóng gópcho các nỗ lực bảo tồn” [1]
Năm 2000, Lê Huy Bá cũng đưa ra khái niệm về du lịch sinh thái “DLST
là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng đểphục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức nhữngcảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái Đó cũng là hình thức kết hợp chặtchẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp củaquốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triền môi trường và tàinguyên thiên nhiên một cách bền vững” [1]
Trang 7Trong luật du lịch năm 2005, có một định nghĩa khá ngắn gọn “Du lịchsinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địaphương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” Theo quychế quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các VQG, khu bảo tồn thiênnhiên, do bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành năm 2007, thì Du lịch Sinh tháiđược hiểu “Du lịch sinh thái: Là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn vớibản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng dân cư ở địa phươngnhằm phát triển bền vững”.
Ngành du lịch sinh thái ở Việt Nam chỉ phát triển trong khoảng 20 nămtrở lại đây Chính vì vậy nghiên cứu du lịch sinh thái vẫn còn nhiều hạn chế
Trong những năm qua, một số công trình nghiên cứu như “Đánh giá tàinguyên du lịch Việt Nam” của Viện nghiên cứu và phát triển du lịch, “Đánh giá
và khai thác các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên huyện Ba Vì (HàTây) phục vụ mục đích du lịch” của Phó tiến sĩ Đặng Duy Lợi (1992); côngtrình “Những định hướng lớn về phát triển du lịch Việt Nam theo các vùng lãnhthổ” của Tổng cục du lịch (1993); và công trình “Thiết kế các tuyến điểm du lịchtrong và ngoài TP Hồ Chí Minh đến năm 2010” của công ty Du lịch Sài GònTourist (1995) chỉ mới phác họa lên bức tranh du lịch ở Việt Nam và một phầnnào đó đánh giá chung hiện trạng phát triển du lịch ở trong nước, nhưng chưanói rõ về loại hình du lịch sinh thái
Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, ở nước ta đã xuất hiện các côngtrình nghiên cứu về du lịch sinh thái Năm 1995, Viện nghiên cứu phát triển dulịch đã thực hiện đề tài “Hiện trạng và những định hướng cho công tác qui hoạchphát triển du lịch vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) (1996-2010)” vớimục tiêu xác lập cơ sở khoa học cho quy hoạch phát triển du lịch và đề xuấtphương hướng phát triển du lịch vùng ĐBSCL cùng các phương án phát triển cụthể Nghiên cứu này căn cứ vào tiềm năng du lịch đã đề xuất các loại hình dulịch vùng ĐBSCL như du lịch sinh thái, du lịch sông nước, tham quan, vui chơigiải trí và du lịch biển, nhưng chưa nghiên cứu sâu về loại hình du lịch sinh thái
cụ thể Cho đến năm 1998 đã có công trình nghiên cứu của Phan Huy Xu vàTrần Văn Thanh về “Đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên và định hướng khaithác du lịch sinh thái ở ĐBSCL” công trình nghiên cứu này đã xây dựng cơ sởkhoa học cho việc thiết kế các điểm, tuyến, cụm du lịch sinh thái ở vùngĐBSCL Các tác giả đã thiết kế các sản phẩm du lịch sinh thái đa dạng nhằmphát triển du lịch bền vững Năm 2000, bài báo cáo khoa học về “Định hướngqui hoạch du lịch sinh thái tự nhiên vùng ĐBSCL” của Trần Văn Thanh và
Trang 8Phạm Thị Ngọc đã điều tra bổ sung các điểm du lịch sinh thái, thiết kế cáctuyến, cụm du lịch sinh thái tự nhiên vùng ĐBSCL [1]
2.4 Các loại hình du lịch sinh thái ở Việt Nam
Nước Việt Nam có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Vịnh HạLong – di sản thiên nhiên thế giới, Cần Giờ - khu dự trữ sinh quyển thế giới, một
số Vườn Quốc Gia (VQG) có hệ sinh thái đa dạng như Phong Nha Kẻ Bàng,Bạch Mã, Cát Bà, Cát Tiên… Bên cạnh thiên nhiên hấp dẫn còn có những néttín ngưỡng đặc sắc, những di tích lịch sử văn hóa thu hút khách du lịch đến thamquan, tìm hiểu Nhưng mỗi nơi mỗi vẻ thích hợp cho từng loại hình DLST, dukhách có thể đến tham quan, nghiên cứu, học tập, hội họp, giải trí…
- Du lịch dã ngoại, tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, nghỉ dưỡng: Loại hình
du lịch này phục vụ du khách thuần túy chỉ đơn giản là tìm về với thiên nhiên cókhông khí trong lành tươi mát, để được hòa mình với thiên nhiên hoang dã, rừngxanh suối mát, bãi biển mênh mông, tha hồ đùa giỡn với sóng nước, thư giảntâm hồn sau những ngày học tập và làm việc vất vả, căng thẳng Loại hình này
có thể thu hút mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội trong và ngoài nước và thườngđến với những khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN), các khu vui chơi giải trí… cócảnh quan thơ mộng
- Du lịch tìm hiểu, nghiên cứu theo chuyên đề sinh thái, lịch sử khảo cổ,văn hóa: loại hình du lịch này dành cho các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học,sinh viên, học sinh yêu thích tìm hiểu về thiên nhiên, cho các cán bộ nghiên cứucác đề tài khoa học, các vấn đề liên quan đến lịch sử, văn hóa, sinh thái… Dukhách tham gia loại hình du lịch này thường đến với các KBTTN, VQG, có hệđộng thực vật phong phú….( Bạch Mã, Nam Cát Tiên, Cát Bà, Phú Quốc,…)
- Du lịch hội nghị hội thảo: Một số KBTTN có đa dạng sinh học, đặc biệt
là các loài thú quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng (Sao La ở VQG Bạch Mã, gàLôi lam mào trắng ở KBTTN Phong Điền ), một số di sản văn hóa thế giới(Phong Nha Kẻ Bàng…), thu hút các nhà đầu tư thế giới hoặc các nhà nghiêncứu sinh thái, thực vật, động vật đến để bàn luận về các vấn đề đang quan tâmgiúp Việt Nam trong quy hoạch bảo vệ những di sản thế giới
- Du lịch về thăm chiến trường xưa: Loại hình này dành cho những dukhách là những chiến sĩ trong và ngoài nước đã từng sống và chiến đấu ở cácvùng rừng núi, hải đảo trong chiến tranh Sau thời gian chuyển công tác hoặc đikinh tế mới ở nơi khác muốn trở về ôn lại những kỉ niệm một thời Hoặc dukhách ngưỡng mộ cuộc chiến đấu của dân tộc, hay sinh viên, học sinh đến đểnghe thuyết minh về những cuộc chiến đấu hay các chiến công hiển hách củaquân dân ta Du khách thường đến các địa điểm như VQG Bạch Mã, Nam CátTiên, Phú Quốc…
Trang 92.5 Du lịch sinh thái bền vững
“DLST bền vững về là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi đó vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên và phát triển du lịch trong tương lai” Du lịch bền vững đưa ra kế hoach quản lí các nguồn tài
nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, sự đa dạng sinh học, sựphát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho con người [1]
Phát triển DLST bền vững không những đóng góp tích cực cho sự pháttriển bền vững mà còn làm giảm tối thiểu các hoạt động của khách du lịch đếnvăn hóa và môi trường, đảm bảo cho địa phương được nguồn lợi tài nguyên do
du lịch mang lại và cần chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc BTTN.Phát triển DLST bền vững cần có sự cân bằng giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội
và môi trường trong khuôn khổ các nguyên tắc và các giá trị đạo đức (Allen K.,1993)
Theo đánh giá của các chuyên gia nghiên cứu về du lịch, muốn ngành dulịch thật sự có thể phát triển bền vững cần phải dựa vào 3 yếu tố:
- Thứ nhất là thị trường thế giới về những điểm du lịch mới và các sảnphẩm du lịch ngày càng gia tăng
- Thứ hai là phát triển phải coi trọng việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên
- Thứ ba là du lịch trực tiếp mang lại nhiều lợi ích về kinh tế và cải thiệnphúc lợi cho các cộng đồng
Trong nền công nghiệp du lịch đương đại, cả ba nhân tố trên gắn bó chặtchẽ với nhau, để cho người ta nhận biết như một ngành DLST, đảm bảo môitrường và cảnh quan cho mọi điểm du lịch Chính vì vậy, các chuyên gia du lịch
đã khẳng định “Cần chú ý sự tập trung vào du lịch bền vững cùng với vai trò của nó trong sự phát triển cộng đồng và bảo tồn là vô cùng quan trọng”.
Như chúng ta đã biết, du lịch dựa trên cơ sở khai thác các lợi thế từ tựnhiên là hình thức phát triển du lịch nhanh nhất trên thế giới Trong bối cảnhhiện nay những nước nào biết kết hợp giữa phát triển du lịch, bảo vệ môi trường
tự nhiên và bảo vệ quyền lợi của cộng đồng địa phương sẽ là những nước thuđược nhiều lợi ích nhất trong hoạt động du lịch Việt Nam có nhiều nguồn lợi tàinguyên thiên nhiên quý giá và nền văn hóa dân tộc đủ điều kiện để phát triển dulịch; song song với quá trình phát triển cần phải luôn nhấn mạnh đến yếu tố bềnvững theo nguyên tắc phù hợp với DLST, tức là phát triển du lịch theo hướng
Trang 10đẩy mạnh việc giữ gìn môi trường tự nhiên với đảm bảo lợi ích cộng đồng dân
cư trong vùng
Nguyên tắc DLST bền vững:
- DLST nên khởi đầu với sự giúp đỡ của những thông tin cơ bản nhưng đa
dạng của cộng đồng và cộng đồng nên duy trì việc kiểm soát sự phát triển của
du lịch
- Sử dụng và bảo vệ tài nguyên một cách bền vững: bao gồm cả tài nguyên
thiên nhiên, xã hội văn hóa Việc sử dụng bền vững tài nguyên là nền tảng cơbản nhất của việc phát triển DLST bền vững
- Chương trình giáo dục và huấn luyện để cải thiện, quản lý di sản và các
tài nguyên thiên nhiên nên được thành lập Giảm tiêu thụ, giảm chất thải mộtcách triệt để nhằm nâng cao chất lượng môi trường
- Duy trì tính đa dạng về tự nhiên, văn hóa… (chủng loài thực vật, động
vật, bản sắc văn hóa dân tộc )
- Lồng ghép các chiến lược phát triển du lịch của địa phương với quốc gia
- Phải hỗ trợ kinh tế địa phương, tránh gây thiệt hại cho các hệ sinh thái
ở đây
- Phải thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương Điều này không chỉ
đem lại lợi ích cho cộng đồng, cho môi trường sinh thái mà còn tăng cường khảnăng đáp ứng các thị hiếu của khách du lịch
- Phải biết tư vấn các nhóm quyền lợi và công chúng Tư vấn giữa các
công nghiệp du lịch và cộng đồng địa phương, các tổ chức và cơ quan nhằmđảm bảo cho sự hợp tác lâu dài cũng như giải quyết các xung đột có thể nảysinh
- Đào tạo các cán bộ, nhân viên phục vụ hoạt động kinh doanh du lịch
nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch [1]
2.6 Du lịch sinh thái ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Du lịch sinh thái là một ngành kinh tế tổng hợp mang lại lợi ích nhiềumặt Bên cạnh mang lại nguồn lợi về kinh tế nó còn mang lại nguồn lợi về sinhthái môi trường, bảo tồn về nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học Nhận thấy tầmquan trọng của du lịch sinh thái, Tỉnh Thừa Thiên Huế đưa ra quyết định quyhoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2015 và địnhhướng đến năm 2020 Với các quan điểm và mục tiêu sau:
Quan điểm phát triển:
- Phát triển du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế đảm bảo tính bền vững, gắn với
bảo vệ môi trường sinh thái, tôn tạo tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn; góp
Trang 11phần giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống; đảm bảo về an ninh, chínhtrị và an toàn xã hội.
- Phát triển du lịch dựa trên sự phát huy sức mạnh tổng hợp của các
ngành, các thành phần kinh tế và cộng đồng dân cư, tranh thủ nguồn lực từ bênngoài để đầu tư có hiệu quả cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất phục vụ du lịch
6 triệu lượt khách du lịch, trong đó có hơn 2,5 triệu lượt khách quốc tế
Tỉnh Thừa Thiên Huế là một trong những tỉnh miền trung chịu ảnh hưởngkhắc nghiệt của thời tiết khí hậu Thế nhưng thiên nhiên đã ưu đãi cho tỉnhThừa Thiên Huế tiềm năng du lịch sinh thái không nhỏ với nhiều không gian
du lịch sau :
Cụm du lịch:
- Cụm du lịch thành phố Huế – dải ven biển và phụ cận: bao gồm khuvực thành phố Huế, dải ven biển dọc theo phá Tam Giang và các xã lân cậnthuộc huyện Hương Thuỷ, Hương Trà và Phú Vang
- Cụm du lịch Cảnh Dương - Bạch Mã - Lăng Cô - Hải Vân: Trải dàitrong một không gian rộng lớn phía Đông Nam tỉnh Hạt nhân của cụm là cácđiểm du lịch bãi biển Cảnh Dương, điểm du lịch Lăng Cô, Vườn quốc gia Bạch
Mã, Đảo Sơn Chà, Hồ Truồi… Ngoài ra, trong cụm du lịch này còn có các điểm
du lịch khác như đỉnh đèo Hải Vân, đầm Cầu Hai
- Cụm du lịch A Lưới - đường mòn Hồ Chí Minh: Với tính chất là khuvực tập trung phát triển du lịch văn hoá, sinh thái
Đô thị du lịch: Thừa Thiên Huế có 01 đô thị du lịch là thành phố Huế
Khu du lịch:
- Khu du lịch quốc gia: Khu du lịch tổng hợp Lăng Cô
- Khu du lịch địa phương: Khu dịch vụ tổng hợp Sơn Chà; Khu du lịchtổng hợp Bạch Mã; Khu dịch vụ tổng hợp Tây Nam Thành phố Huế
Điểm du lịch
- Điểm du lịch quốc gia: Cố đô Huế, Vườn quốc gia Bạch Mã, Bãi tắm
Lăng Cô, Đèo Hải Vân
- Điểm du lịch địa phương: Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền, Suối
nước khoáng nóng Thanh Tân, Bãi biển Đông Dương - Hàm Rồng, Khu nướcnóng Mỹ An, Phá Tam Giang, Đầm Cầu Hai, Đầm Lập An, Bãi biển Thuận An,
Trang 12Bãi biển Điền Hải - Điền Hoà, Các hồ nước nhân tạo, các điểm du lịch khu vựcNam Đông, ALưới.
Tuyến du lịch
- Các tuyến du lịch nội tỉnh: Tuyến du lịch văn hoá Cố đô Huế; Thànhphố Huế - Cảnh Dương - Bạch Mã - Lăng Cô - Hải Vân; Thành phố Huế -Thuận An - Phá Tam Giang - Đầm Cầu Hai; Thành phố Huế - A Lưới - Đườngmòn Hồ Chí Minh; Thành phố Huế - Nam Đông; Thành phố Huế - Quảng Điền -Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền; Thành phố Huế qua cửa Tư Hiền đếnCảnh Dương - Chân Mây - Lăng Cô; Thành phố Huế - Bạch Mã - Hồ Truồi;Thành phố Huế - Làng cổ Phước Tích – Khu nước nóng Thanh Tân;
- Các tuyến du lịch liên tỉnh: Tuyến du lịch Huế - A Lưới - Đường mòn
Hồ Chí Minh - Khe Sanh - Lao Bảo; Tuyến du lịch Huế - Cảnh Dương - Bạch
Mã - Lăng Cô - Hải Vân - Đà Nẵng - Hội An; Tuyến du lịch con đường di sản(Quảng Bình - Huế - Quảng Nam); Tuyến du lịch thăm chiến trường xưa (DMZ)Huế - Quảng Trị - Quảng Bình
- Tuyến du lịch liên quốc gia: Tuyến du lịch theo cửa khẩu Lao Bảo: Huế
Lao Bảo Lào Thái Lan; Tuyến du lịch Huế A Lưới Cửa khẩu S 3 Saravan - Chăm Pasắc - Thái Lan; Tuyến du lịch A Lưới - Cửa khẩu S 10 - SêKông; Tuyến du lịch quốc tế qua sân bay Phú Bài
Tuyến du lịch biển:Tuyến du lịch biển với cảng Chân Mây là đầu mốiđưa đón khách du lịch đặc biệt là khách quốc tế theo tàu biển [6]
2.7 Du lịch sinh thái hồ Truồi
Từ thành phố Huế đi về phía nam chừng 30km sẽ gặp cầu Truồi Mentheo dòng sông thấp thoáng sau lũy tre làng chừng 10km, khách du lịch sẽ đến
hồ Truồi (xã Lộc Hòa, huyện Phú Lộc), công trình thủy lợi lớn nhất hiện nay củatỉnh Thừa Thiên - Huế
Quang cảnh nơi đây hùng vĩ, hoang sơ, núi ôm núi chập chùng nối dài từdãy Bạch Mã, cây cối xanh tươi, thấp thoáng trong mây trời, cùng các công trìnhThiền Viện Trúc Lâm soi mình xuống gương nước bao la, trong xanh cuốn hútlòng người Ngoài ra còn có các dòng suối trong xanh nằm giữa rừng núi hấpdẫn khách du lịch nhất là vào các ngày hè nóng bức Với tiềm năng du lịch hiện
có nếu được đầu tư xây dựng hồ Truồi sẽ trở thành một điểm hấp dẫn du kháchtrong và ngoài nước
Chính quyền xã Lộc Hòa đang có những chính sách cần thiết quan tâmđến sự phát triển DLST hồ Truồi Tuy là hình thức du lịch mới, nhưng đang dầnhoàn thiện hơn, mang lại những lợi ích to lớn cho người dân cũng như địaphương tỉnh nhà
Trang 13PHẦN 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định thực trạng quản lý phát triển du lịch sinh thái và tác động của dulịch sinh thái đến tài nguyên rừng tại vùng hồ Truồi nhằm nâng cao nhận thức,tạo cơ hội để người dân tham gia vào các hoạt động du lịch sinh thái tăng thunhập, góp phần thúc đẩy quản lý bền vững tài nguyên du lịch sinh thái
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu tình hình cơ bản của khu vực nghiên cứu
- Tìm hiểu khu DLST hồ Truồi:
o Sơ lược về khu du lịch sinh thái hồ Truồi
o Các tuyến du lịch sinh thái đã và đang khai thác
o Xem xét tiềm năng phát triển DLST tại hồ Truồi
- Thực trạng phát triển DLST tại hồ Truồi: Thực trạng tài nguyên, cơ sở
vật chất kĩ thuật, hiện trạng môi trường, tình hình lao động
- Thuận lợi và khó khăn trong quản lý và phát triển du lịch sinh thái
bền vững
- Đánh giá của du khách về khu DLST hồ Truồi.
- Phân tích tác động của du lịch sinh thái đến môi trường và tài nguyên
rừng tại địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất một số giải pháp chia sẻ công bằng lợi ích từ du lịch sinh thái
đảm bảo quản lý bền vững tài nguyên rừng tại hồ Truồi
3.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Hoạt động du lịch sinh thái hồ Truồi
- Phạm vi thời gian: 5/1 – 30/4/2015
- Phạm vi không gian: Hồ Truồi, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế 3.4 Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập thông tin, tài liệu thứ cấp về lịch sử hình thành điều kiện tự
nhiên, kinh tế xã hội và đặc biệt là nét đặc trưng của hồ Truồi qua tài liệu sáchbáo, internet, người dân…
- Phỏng vấn cấu trúc, bán cấu trúc về thực trạng, nhu cầu nguyện vọng của
người dân địa phương, của du khách về hình thức, mức độ hài lòng, hướng pháttriển DLST hiệu quả tại địa phương
- Phương pháp phân tích tổng hợp thông tin
- Phương pháp quan sát thực địa
Trang 14PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Tình hình cơ bản khu vực nghiên cứu
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Đặc điểm địa hình
Xã Lộc Hòa có địa hình nghiêng dần từ Tây sang Đông Từ trục đườngliên xã đi về phía Tây Nam của xã là vùng đồi núi, có độ dốc từ 1o– 30o thuậnlợi cho phát triển nông lâm nghiệp Với dạng địa hình được đồi núi bao bọc, địahình thấp dần về phía trung tâm tạo thành một khu vực bằng phẳng ở trung tâm.Như vậy địa hình xã Lộc Hòa được chia thành hai bộ phận chính:
- Vùng gò đồi xen vùng thấp trũng trung tâm xã có dạng lòng chảo
- Vùng núi thấp và trung bình chiếm diện tích lớn, phân bố phía Nam vàphía Tây
Nền địa chất ở khu vực này chịu tác động của nhiều hệ tầng với các phức
hệ khác nhau, tạo nên một miền đồi núi, thung lũng và sông suối với tầng đấtkhá dày thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp, lâm nghiệp
(Nguồn: google image)
Hình 4.1 Bản đồ vị trí xã Lộc Hòa – Huyện Phú Lộc
Trang 154.1.1.2 Khí hậu, thủy văn, đại chất thổ nhưỡng:
Khí hậu: Xã Lộc Hòa nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, khí hậukhắc nghiệt, mang những đặc điểm chính như sau:
Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm 24-26oC, nhiệt độ biến đổi theomùa:
- Mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 2 năm sau, do ảnh hưởng của gió mùaĐông Bắc nên mưa nhiều Nhiệt độ trung bình các tháng mùa mưa 20 – 22oC, cókhi xuống dưới 8 – 9oC, ảnh hưởng đến trồng trọt và chăn nuôi
- Mùa khô đến từ tháng 3 đến tháng 7, nhiệt độ trung bình các tháng mùakhô 35 – 37oC, có khi lên đến 44oC đồng thời chịu ảnh hưởng của gió mùa TâyNam nên gây khô hạn
Chế độ mưa ẩm: Lượng mưa trung bình năm từ 1.900 – 3.200mm Mưatập trung vào 3 tháng: tháng 9, 10, 11; chiếm tới trên 50% lượng mưa cả năm
Số ngày mưa trong năm lớn trên 164 ngày/năm
Độ ẩm cao nhất 98,2% (tháng 2), độ ẩm thấp nhất 47,6% (tháng 7)
Thủy văn: Là một xã miền núi có địa hình tương đối phức tạp cùng vớilượng mưa trung bình hàng năm lớn nên lượng nước ở đây trở nên dư thừa vàomùa mưa, gây ra lũ quét với lưu lượng dòng chảy mạnh dễ phá hỏng các côngtrình giao thông, thủy lợi và các công trình công cộng khác trên địa bàn xã.Thủy văn của xã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của hệ thống thủy lợi Hồ Truồi vàvùng thượng nguồn sông Truồi
4.1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên đất
Căn cứ vào đặc điểm địa hình, địa chất cho thấy xã Lộc Hòa đã hìnhthành các loại đất chính là đất Feralit vàng đỏ phát triển trên đá phiến sét Loạiđất này phân bố ở nhiều cấp địa hình khác nhau Đất này được hình thành do sảnphẩm phong hóa của đá sét (thuộc nhóm đá trầm tích) Đất có màu đỏ vàng,thành phần cơ giới trung bình đến nặng, độ phì tự nhiên trung bình, khả nănggiữ nước tốt Loại đất này hiện đang được sử dụng chủ yếu cho mục đích trồngcây công nghiệp và lâm nghiệp
Xã Lộc Hòa có tổng diện tích tự nhiên: 3.253,65ha bao gồm: Đất nôngnghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng, đất ở khu dân cư nông thôn đượcthể hiện dưới dạng phần trăm (%) ở Biểu đồ 4.1
Trang 16(Nguồn: Ủy ban nhân dân xã Lộc Hòa)
Biểu đồ 4.1 Diện tích đất của xã Lộc Hòa
Tài nguyên rừng
Hiện tại, trên địa bàn xã Lộc Hòa có 2.494,39ha diện tích đất lâm nghiệp,chiếm 88,75% diện tích đất tự nhiên của xã, trong đó đất rừng sản xuất có1.530,59ha và đất rừng phòng hộ có 469,80ha, đất rừng đặc dụng 494,00ha.Theo kết quả điều tra cho thấy các loại thực vật hiện có trên địa bàn xã vô cùngphong phú và đa dạng như: Lim, chò, sến, kiền, đào… Ngoài ra, còn có cácnguồn lâm sản ngoài gỗ như: mây, tre, đót, lá nón và một số loài cây dược liệu,cây cảnh… đây là nguồn tài nguyên đem lại thu nhập kinh tế đáng kể cho ngườidân địa phương
Sản xuất lâm nghiệp là ngành kinh tế có vai trò quan trọng trong chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường của xã Lộc Hòa nói riêng
và toàn huyện nói chung Chính vì vậy trong những năm qua, công tác quản lý,bảo vệ và trồng rừng đã được đầu tư tăng cường nhằm nâng cao hơn nữa độ chephủ của rừng Hiện nay, xã đã từng bước giao rừng cho từng nhóm hộ trực tiếpquản lý Đã hình thành nhiều mô hình kinh tế vườn rừng, vườn đồi nông lâm kếthợp làm ăn có hiệu quả
Tài nguyên nước
Tài nguyên nước xã Lộc Hòa khá phong phú và đa dạng, được cung cấp
từ nguồn nước mặt và nước ngầm
Trang 17Nguồn nước mặt của xã được cung cấp khá dồi dào từ các khe suối trênđịa bàn Tuy nhiên do địa hình của xã khá phức tạp và bị phân chia mạnh nên vềmùa mưa dễ xảy ra lũ quét trên diện rộng.
Nguồn nước ngầm theo kết quả thăm dò địa chất thủy văn cho thấy tầngnước ngầm của xã tương đối phong phú, nước ngầm ở khu vực trung tâm xãphong phú hơn vùng cao, mực nước dao động từ 5 – 6m, nguồn nước có đềuquanh năm và phân bố trên diện rộng là nguồn nước cung cấp cho nhu cầu sinhhoạt chủ yếu của người dân
Tiềm năng về nước của xã khá phong phú, có hồ Truồi và kênh chính đingang qua nhiều thôn phục vụ cho tưới tiêu, nguồn nước chủ yếu được cung cấp
từ hai nguồn chính là nước mưa và nước ngầm Nước mưa trực tiếp trên bề mặt,tích tụ trên hệ thống kênh mương
Diện tích mặt nước 80,32ha; trong đó, mặt nước sông, suối, ao hồ80,32ha; Lộc Hòa không có mặt nước đầm phá và mặt nước biển
Tài nguyên nhân văn
Nằm trong dải đất miền trung anh hùng, Lộc Hòa cũng giàu truyền thốngcách mạng và đang tiếp nối truyền thống xưa chuyển mình hòa nhập vào sự đổimới của Đảng, của huyện, của tỉnh và đất nước
Cảnh quan môi trường
Nhìn chung cảnh quan và môi trường xã chưa có thay đổi gì lớn Với sảnxuất lâm, nông nghiệp là chủ yếu, chưa có khu công nghiệp và các nhà máy nênchất lượng môi trường không khí còn khá tốt Quá trình sản xuất nông, lâm tuy
sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, nhưng cũng không ảnh hưởng lớn đến môitrường đất, môi trường nước
Về nguồn nước sinh hoạt, đa số dân sử dụng nước tự chảy, nước giếng,nước mưa, nước ao hồ, nước sông chưa qua xử lý nên ảnh hưởng trực tiếp đếnsức khỏe của người dân
Vấn đề cơ sở hạ tầng là một vấn đề khá phức tạp, một số tuyến đường trênđịa bàn xã đang xuống cấp đã ảnh hưởng không nhỏ đến cảnh quan môi trườngcủa xã
Trang 184.1.2 Hiện trạng kinh tế - xã hội
a Tình hình sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp chuyển biến tích cực theo hướng chuyển đổi cơcấu cây trồng, vật nuôi
Xã thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, ứng dụng các tiến bộ khoahọc kỹ thuật trong nông nghiệp được coi trọng, bảo đảm quy trình sản xuất,chuyển đổi cây trồng vật nuôi, xóa bỏ các tập tục canh tác lạc hậu tự cung, tựcấp Chú trọng sản xuất các loại cây công nghiệp mang tính hàng hóa như sắnKM94, lạc Đưa giống lúa cấp I vào sản xuất hàng năm đạt 100%: năng suấtbình quân đạt 45 tạ/ha
Phát triển nông, lâm nghiệp toàn diện, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyểndịch cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa có hiệu quả kinh tếcao hơn, kết hợp trồng rừng xen canh cây sắn, cây thuốc lá tăng giá trị sản phẩmtrên một đơn vị diện tích Trong đó:
Rau màu các loại tận dụng đất bồi lấp phù sa, có điều kiện tưới tiêu đểtrồng các loại rau màu phục vụ nhu cầu thị trường Việc phát triển kinh tế vườn,nhà có những mô hình cơ cấu cây trồng như cau, chuối, tiêu
- Lúa nước gieo trồng hàng năm đạt 102ha; năng suất lúa bình quân hàngnăm đạt 45 tạ/ha, sản lượng 459 tấn
- Diện tích trồng sắn hàng năm lên 150ha; năng suất 22 tấn/ha; sản lượng3.330 tấn
Rừng trồng đã chuyển biến mạnh mẽ, khai thác có hiệu quả thế mạnh củamột xã thuộc vùng gò đồi, trồng rừng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và làđộng lực phát triển kinh tế của địa phương, công tác trồng rừng không chỉ phủxanh đất trống đồi núi trọc mà trở thành trồng rừng kinh tế, kinh doanh nghềrừng với bảo vệ môi trường sinh thái
Chăn nuôi
Trong những năm qua đàn gia súc gia cầm có nhiều biến động do dịchbệnh nhưng do phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hóa, phòng chống dịch tốtnên đàn gia súc, gia cầm vẫn tiếp tục phát triển tốt
Trang 19b Tình hình phát triển ngành nghề phi nông nghiệp.
- Trong thời gian vừa qua, sản xuất ngành nghề tiểu thủ công nghiệp,dịch vụ có hướng phát triển mạnh Ngoài ra một số ngành nghề truyền thốngnhư: chế biến khai thác lâm sản, mộc dân dụng, xây dựng, trên địa bàn xã đang
mở rộng quy mô của các doanh nghiệp khai thác cát sạn,… đã góp phần tăngthêm thu nhập và giải quyết việc làm tại chỗ cho nhân dân
- Ngoài ra, các ngành nghề chế biến khai thác lâm sản, mộc dân dụngphát triển mạnh, phần lớn các hộ kinh doanh tiểu thủ công nghiệp nhỏ lẻ doanhthu thấp, lao động thủ công chủ yếu…
- Hiện nay xã đang khuyến khích mở rộng phát triển các ngành du lịchdịch vụ Tận dụng vị trí địa lý gần khu sinh thái hồ Truồi, Thiền Viện Trúc LâmBạch Mã để phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh, dịch vụ góp phần pháttriển kinh tế của toàn xã và các hộ kinh doanh
c Tình hình phát triển các hình thức tổ chức sản xuất
- Trên địa bàn xã có 01 hợp tác xã dịch vụ sản xuất nông nghiệp với 365
hộ xã viên nông nghiệp và hơn 600 lao động hoạt động có hiệu quả
b Thực trạng lao động và việc làm
Dân số trong độ tuổi lao động của xã Lộc Hòa là 1320 chiếm 48,5% tổngdân số toàn xã Trong đó lao động trong ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôitrồng thủy sản là 864 người chiếm 65,4% tổng dân số lao động Lao động trongcác ngành tiểu thủ công nghiệp là 79 người chiếm 5,98%, trong ngành dịch vụthương mại là 377 người chiếm 28,5% tổng dân số lao động toàn xã
Để sử dụng tốt về tiềm năng lao động, trong những năm qua xã đã xâydựng nhiều phương án, khuyến khích và tạo điều kiện về vốn để các thành phần
Trang 20kinh tế tham gia phát triển sản xuất, kinh doanh trên nhiều lĩnh vực Song thực
tế, tình trạng không có việc làm của lực lượng lao động nông nhàn trên khu vựcvẫn đang là vấn đề bức xúc Vì vậy trong điều kiện khi ngành nông nghiệp màđặc biệt là ngành trồng rừng vẫn là ngành kinh tế chiếm vai trò chủ đạo thì việcchuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng vật nuôi, đồng thời mở rộng phát triển cácngành nghề khác sẽ là vấn đề then chốt, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhậpcho người dân
c Thu nhập và mức sống
Thu nhập của người dân Lộc Hòa vẫn còn ở mức thấp
Thu nhập bình quân đầu người của người dân xã Lộc Hòa giai đoạn qua là6,07 triệu/người/năm
Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới còn 15,59% tổng số hộ toàn xã, hộ nghèothường là các hộ thuần nông, các hộ không có nghề nghiệp ổn định, thiếu vốnđầu tư cho sản xuất nông nghiệp, đông con và hộ neo đơn già yếu
d Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn
Khu dân cư trong xã tập trung phân bố tại 10 thôn, diện tích đất ở nôngthôn là 257,19ha Các điểm dân cư được hình thành với mật độ tập trung ởnhững nơi có đường giao thông thuận tiện, dịch vụ phát triển như đường liên xã,các tuyến đường liên thôn Nhìn chung, các khu dân cư không ngừng được cảitạo, mở rộng và nâng cấp cơ sở hạ tầng làm cho nhu cầu sử dụng đất vào cácmục đích phi nông nghiệp tăng lên Tuy vậy cũng còn nhiều vấn đề bất cập cầnphải tập trung giải quyết như: hầu hết các khu dân cư chưa có hệ thống thu gom
và xử lý rác, rác thải chủ yếu được xả tự phát trên bề mặt đường, sân vườn, cácbãi đất trống ,… đã phần nào gây ảnh hưởng xấu đến cảnh quan môi trường
4.1.3 Hiện trạng về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội
Trong những năm qua được sự quan tâm của các cấp chính quyền và cácban ngành, hệ thống cơ sở hạ tầng của xã Lộc Hòa có sự chyển biến so vớitrước, phần nào đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của người dân
4.1.3.1.Giao thông
a Đường dự án giao thông nông thôn
Gồm có 2 tuyến với tổng chiều dài 8,8km, cụ thể như sau:
- Tuyến Lương Điền Thượng 1: có chiều dài 4,8km Điểm đầu từ cầuNhà Khéo và điểm kết thúc ở cuối thôn 10 Mặt đường nhựa có chiều rộng là3,5m
Trang 21- Tuyến An Hòa: có chiều dài 4,0km Điểm đầu là cầu Khe Chai, điểmcuối là cầu Khe Dài Với 0,5km đường bê tông và 3,5km đường nhựa, mặtđường có chiều rộng 3,5m.
b Đường trục xã, liên xã:
Gồm có 5 tuyến với tổng chiều dài 22,4km, cụ thể từng tuyến như sau:
- Tuyến liên xã Lộc Hòa – Xuân Lộc: có chiều dài 8km Điểm đầu từthôn 10 và điểm kết thúc ở cuối thôn 3 (giáp với xã Xuân Lộc huyện NamĐông), bề rộng mặt đường 6m, bề rộng lòng đường là 3,5m và có kết cấu bằngđất đỏ
- Tuyến liên xã Lộc Hòa – Lộc Điền: có chiều dài 5km, điểm đầu từ thôn
8 và điểm kết thúc ở thôn 5, bề rộng mặt đường 6m, bề rộng lòng đường 3,5m
và có kết cấu bê tông
- Tuyến liên xã Lộc Hòa – Liên Điền Thượng (Lộc Điền): có chiều dài3km, điểm đầu từ thôn 9 và điểm kết thúc ở thôn 10,bề rộng mặt đường 6m, bềrộng lòng đường 3,5m và có kết cấu bằng nhựa
- Tuyến đường Lộc Hòa – Lộc An: có chiều dài 3km, điểm đầu ở thôn 1
và điểm kết thúc ở thôn 4, bề rộng mặt đường 6m, bề rộng lòng đương 3,5m và
có kết cấu bằng nhựa
- Tuyến Đập Truồi – Thôn Bạch Đằng (Lộc Điền): có chiều dài 3,4 km,điểm đầu ở thôn 10 và điểm kết thúc ở Đập Truồi, bề rộng mặt đường 6m, bềrộng lòng đường 3,5m và có kết cấu bê tông
c Đường trục thôn, liên thôn, đường xóm:
Gồm 4 tuyến với tổng chiều dài 5,7km
Đường xóm: Gồm 28 tuyến đường với tổng chiều dài 15,7 km, kết cấuđường chủ yếu bằng đất đỏ
d Đường trục chính nội đồng:
Trên địa bàn bàn gốm có 7 tuyến với tổng chiều dài 6,2km Tổng số cầu,cống, ngầm, đập tràng trên các trục đường có 13 cái
Trong đó: Cầu 4 cái, cống 5 cái, ngầm 2 cái, đập tràng 2 cái
4.1.3.2 Điện lưới nông thôn và nước sinh hoạt
Trên địa bàn có đường điện cao thế và hạ thế chạy qua Hiện nay hệ thốnglưới điện hạ thế đã xây dựng phủ khắp các thôn của xã, tỷ lệ hộ gia đình dùngđiện đạt 95%
Trang 22Nguồn nước sinh hoạt của người dân chủ yếu lấy từ nguồn nước tự chảy,nước giếng, bên cạnh đó còn có một số hộ còn dùng nước của các nhánh sôngsuối trong vùng chưa qua xử lý không đảm bảo nhu cầu vệ sinh.
4.1.3.3 Thủy lợi
Hiện trạng trên địa bàn xã ngoài hệ thống kênh mương thủy lợi hồ Truồi
và các tuyến kênh mương nhỏ lẻ (tổng chiều dài khoảng 5,2 km) đảm bảo nhucầu tưới tiêu phục vụ nông nghiệp trên địa bàn xã
4.1.3.4 Môi trường:
Nhìn chung công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn xã còn nhiều bất cập,
ý thức bảo vệ môi trường của người dân còn thấp
- Tỷ lệ hộ có công trình hợp vệ sinh: 45%
- Tỷ lệ hộ có cơ sở chăn nuôi hợp vệ sinh: 40%
- Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch hợp vệ sinh trên 95%, trong đó hộ sử dụngnước máy 60 hộ, chiếm 5.0%
- Có nghĩa trang liệt sỹ được xây dựng theo quy hoạch
- Chưa quy hoạch nghĩa địa và chưa có cơ chế quản lý các khu nghĩa địacủa xã
- Chưa quy hoach bãi thu gom rác để vận chuyển đến nơi xử lý rác thải
4.1.3.5 Bưu chính viễn thông:
- Xã có 01 điểm bưu điện văn hóa được xây dựng theo tiêu chuẩn củangành, tuy nhiên hướng tới cần nâng cấp cơ sở vật chất, mở rộng quy mô và cầnxây dựng thêm 1 bưu điện ở thôn 10 gắn với việc xây dựng thư viện để phục vụtốt hơn nhu cầu của người dân trong quá trình phát triển nông thôn mới
- Về hệ thống thông tin liên lạc, toàn xã ước tính có khoảng 800 điệnthoại di động, 200 điện thoại cố định, bình quân 3 hộ có 1 máy cố định Tổng sốmáy vi tính có hơn 100 cái, số máy tính có kết nối internet có hơn 100 máy, bìnhquân 5 hộ có 01 máy vi tính, 100 hộ có máy kết nối internet
4.1.3.6 Giáo dục đào đạo:
Cùng với việc phát triển kinh tế nâng cao đời sống vật chất đã coi trọngchăm lo các vấn đề xã hội ngày càng tốt hơn Công tác xã hội hóa giáo dục đượcđẩy mạnh, cơ sở vật chất trường lớp được đầu tư không còn tình trạng thiếuphòng học, phải học 3 ca Đội ngũ giáo viên thường xuyên được bồi dưỡng vềchính trị chuyên môn, cán bộ giáo viên đạt chuẩn đào tạo trong đó 80% trênchuẩn
4.1.3.7 Y tế
Trang 23Trong những năm qua, y tế đã có những bước tiến rõ rệt, công tác y tếngày càng được xã hội hóa Cơ sở vật chất, phương tiện khám chữa bệnh đượctăng cường Công tác xử lý bảo vệ sinh môi trường, vệ sinh thực phẩm, phòngcác bệnh dịch mùa được chú trọng Các chương trình tiêm chủng, chăm sóc bảo
vệ phòng chống suy dinh dưỡng đạt tỷ lệ cao
4.1.3.8 Văn hóa – thể thao
Trong nhiệm kỳ vừa qua, xã đã tăng cường phối hợp với các ngành cấptrên tăng cường công tác quản lý nhà nước về văn hóa, thể dục, thể thao; tổ chứctốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao chào mừng các ngày lễlớn
Thực hiện cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa.Đến nay, có 100% thôn và cơ quan đạt chuẩn văn hóa Các phương tiện nghenhìn, sách báo ngày càng tăng đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vui chơi giảitrí và phát triển thể dục thể tháo của nhân dân
- Nhìn chung người dân Lộc Hòa sống tại đây trên 25 năm, đất đai nhàcửa xây dựng mới Việc xây dựng nhà ở mang tính tự phát, không theo quyhoạch Do đó ảnh hưởng đến mỹ quan chung của nông thôn mới trong tương lai
4.1.3.10 Hệ thống tổ chức chính trị xã hội
- Hệ thống chính trị xã có một Đảng bộ gồm 13 chi bộ trực thuộc, với 71đảng viên Trong đó có 1 chi bộ quân sự, 10 chi bộ thôn, 2 chi bộ trường học.Kết quả đánh giá, phân loại Đảng bộ, chính quyền của xã trong 3 năm gần nhất
là Đảng bộ trong sạch vững mạnh nhiều năm liền, chính quyền và các đoàn thểluôn hoàn thành tốt nhiệm vụ
- Ủy ban nhân dân xã thực hiện mô hình “một cửa” liên thông về cải cáchhành chính, hoạt động có nề nếp Trình độ cán bộ công chức không ngừng đượcnâng cao
4.1.3.11 Quốc phòng – an ninh
Trang 24Xã thường xuyên phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh TổQuốc một cách sâu rộng, kịp thời ngăn chặn đẩy lùi các tội phạm, tệ nạn xã hội,
xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm pháp luật, vi phạm trật tự công cộng.thường xuyên phối hợp chặt chẽ cùng các lực lượng chức năng, các ban ngànhđoàn thể, lực lượng công an xã, công an huyện… tuần tra kiểm soát địa bàn xãkhông để vụ việc xảy ra lớn
4.1.4 Hiện trạng về sử dụng đất
Theo kết quả điều tra hiện trạng sử dụng đất thì diện tích đất tự nhiên củatoàn xã là 3.253,65ha và được thể hiện trong bảng 4.1
Bảng 4.1 Cơ cấu sử dụng đất của xã Lộc Hòa
(Nguồn: Ủy ban nhân dân xã Lộc Hòa)
4.1.5 Nhận xét chung về tình hình cơ bản của xã Lộc Hòa
Trang 25- Nằm gần khu du lịch sinh thái Hồ Truồi và Thiền Viện Trúc Lâm – Bạch
Mã nên có điều kiện phát triển loại hình dịch vụ thương mại, du lịch tâm linh,sinh thái
- Ngoài ra đội ngũ cán bộ lãnh đạo có kinh nghiệm, trình độ năng lực làmột thể mạnh cho quá trình phát triển xã nhà
- Lực lượng lao động khá dồi dào, cần cù và chịu khó, nhạy bén trong việc
áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kinh
tế - xã hội của xã thời gian tới
- Đại bộ phận quần chúng nhân dân địa phương tin tưởng vào đường lối,chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, người dân thông minh, cần cù,chịu khó, luôn có ý thức vươn lên và có ý thức làm giàu quê hương
Khó khăn:
- Xã Lộc Hòa có địa hình phức tạp, độ dốc lớn gây khó khăn cho quyhoạch, đầu tư hạ tầng kỹ thuật như: giao thông, điện, nước,…cũng như bố trí cáckhu dân cư tập trung
- Địa hình phức tạp, độ dốc lớn nên dễ gây ra lũ quét khi mùa lũ về
- Thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, hạn hán khô nóng vào mùa hè, mưa lớn lũlụt vào mùa mưa bão, gây ảnh hưởng không hề nhỏ đến quá trình sản xuất nôngnghiệp, cơ sở hạ tầng và đời sống của nhân dân
- Hầu hết các khu dân cư chưa có hệ thống thu gom và xử lý rác, rác thảichủ yếu được xả tự phát trên bề mặt đường, sân vườn, các bãi đất trống, … phầnnào gây ảnh hưởng xấu đến cảnh quan môi trường
- Tình trạng không có việc làm của lực lượng lao động nông nhàn trên khuvực vẫn đang là vấn đề bức xúc Một bộ phận dân trí còn thấp, lực lượng laođộng nhiều nhưng chủ yếu là lao động phổ thông
- Thu nhập người dân còn thấp so với mặt bằng chung của tỉnh
- Dân cư phân bố phân tán gây khó khăn cho việc đầu tư cơ sở hạ tầng
4.2 Tìm hiểu về du lịch sinh thái tại hồ Truồi
Trang 264.2.1 Sơ lược về khu du lịch sinh thái hồ Truồi
Khu du lịch sinh thái hồ Truồi cách thành phố Huế khoảng 30km về phíaNam Nơi đây có khung cảnh non nước hữu tình, với không khí thoáng mát, tạocảm giác mát mẻ cho du khách nhất là vào mùa hè nóng nực Đặc biệt hồ Truồinằm trong phạm vi VQG Bạch Mã có những khu rừng tự nhiên hoang sơ, thuhút khách du lịch đến đây khám phá thiên nhiên
Trước kia hồ Truồi có diện tích lòng hồ rất nhỏ, vì mục đích tưới tiêu chocho đồng ruộng các xã thuộc huyện Phú Lộc và các xã phía nam thành phố Huế,năm 1996 tỉnh TT – Huế đã xây dựng đập hồ Truồi ngăn nước, vì vậy mà hồTruồi rộng lớn như bây giờ Diện tích hồ hiện nay khoảng 400ha, dung tích lòng
hồ đến 60 triệu m3 nước, là công trình thủy lợi lớn nhất tỉnh TT – Huế Mặt nước
hồ phẳng lặng, trong xanh soi bóng những dãy núi cao trùng điệp thơ mộng làđiều đầu tiên thu hút khách du lịch khi đến đây tham quan
Du lịch hồ Truồi đã diễn ra từ rất lâu, thu hút không ít khách đến thamquan ngắm cảnh Tuy nhiên phải kể từ năm 2006 khi thiền viện Trúc Lâm(TVTL) được khởi công xây dựng trên khu vực hồ Truồi, thì du khách trongnước cũng như du khách ngoài nước về đây tham quan ngày càng đông Đặcbiệt là du lịch tâm linh đi hành hương chiêm bái để cầu an đem mọi sự tốt lànhđến với họ, kể từ đó du lịch hồ Truồi được biết đến nhiều hơn và được quản lýquy hoạch cụ thể hơn Hiện nay khu du lịch hồ Truồi được HTX thanh niên xãLộc Hòa quản lý
Tuy vậy rất nhiều du khách khi đến với hồ Truồi không biết ở Truồi còn
có những con suối rất đẹp và thơ mộng, là sự lựa chọn lý tưởng của những ngườiyêu thích khám phá Đây là dịch vụ tham quan dã ngoại mới được hình thành vàngày càng được rất nhiều du khách biết đến Một số người dân lái thuyền phục
vụ các chuyến đi suối cho biết: “Mùa hè nắng nóng, mỗi ngày ở đây có hàngtrăm khách tham quan và dã ngoại suối”
Có tất cả bốn con suối chính đổ vào hồ là suối: suối Hợp Hai, VũngThùng, Ông Viên và Ba Trại, mỗi suối đều có vẻ đẹp riêng Vào suối du khách
có thể câu cá, thả lưới hết sực hấp dẫn và thú vị cùng với sự hướng dẫn tận tìnhcủa người dẫn đường Và được tắm, ngâm mình vào dòng nước suối trong xanh.Đặc biệt các dòng suối đều nằm giữa những cánh rừng tự nhiên Bạch Mã, khiến
du khách đắm chìm hoàn toàn vào thiên nhiên
Trang 27Hình 4.2 Bản đồ khu du lịch sinh thái hồ Truồi
Hiện nay, khu du lịch sinh thái chỉ mới đi vào hoạt động còn rất đơn sơ,các dịch vụ du lịch còn rất ít Khách khi đến với hồ Truồi hầu như chủ yếu là đitham quan TVTL Hiện xã Lộc Hòa đã có sự đầu tư để phát triển du lịch hồTruồi đem lại lợi ích to lớn, tuy nhiên để phát huy hết tiềm năng DLST hồ Truồithì đòi hỏi cơ quan quản lý và chính quyền địa phương có những chính sách thuhút đầu tư để hồ Truồi phát huy được giá trị của nó
4.2.2 Giới thiệu về các điểm du lịch hồ Truồi
4.2.2.1 Thiền Viện Trúc Lâm Bạch Mã
Sau chiến tranh do bị tàn phá, Bạch Mã tưởng chừng đã ngủ yên tronglòng dân Huế Nhưng Bạch Mã đã hồi sinh trở lại Thiền viện Trúc Lâm Bạch
Mã – ngôi thiền viện đầu tiên được xây dựng ở miền Trung, thuộc thiền pháiTrúc Lâm Yên Tử do Hòa Thượng Tôn Sư Thượng Thanh Hạ Từ sáng lập – đãchính thức cử hành Lễ Đặt Đá, khởi công xây dựng vào ngày 30/3/2006 (nhằmngày mùng 2 tháng 3 năm Bính Tuất), là ngày giỗ Đệ nhị Tổ thiền phái TrúcLâm Thiền viện được bố trí dàn trải trên một sườn đồi giữa hồ Truồi thơ mộngvới tổng diện tích 1,9ha, gồm 14 hạng mục chính, như tổ đường, chánh điện,phương trượng, tăng đường, thiền đường, trai đường, lầu chuông, tháp xá lợi,nhà khách ni viện, thiền đường ni viện, trai đường ni viện Khu tổ đường cótượng Bồ Đề Đạt Ma đứng giữa cao 3,5m, bên dưới là tượng ba vị tổ Trúc Lâm
Trang 28đang ngồi cao 2m Ngoài ra khi đứng trên cổng tam quan nhìn ra xa sẽ thấy hìnhmột tượng phật Thích Ca đang ngồi trên một đảo nhỏ xanh biếc giữa hồ.
Khi đến với TVTL Bạch Mã, du khách không chỉ có dịp thưởng thức mộtkhông khí trong lành, yên tĩnh đậm chất thiền mà còn thấy tận mắt “bộ ngựamột” với chiều rộng 2,2m, chiều dài 3,2m, dày 0,2m (do một tín chủ phát tâmcúng dường trị giá lên tới 1,3 tỷ đồng) được bài trí ngay trung tâm Tổ Đường
Kể từ khi được xây dựng xong (năm 2007), TVTL Bạch Mã đã thu hút rấtđông du khách khắp bốn phương về đây tham quan, dâng hương, lễ bái, cầuchúc mọi điều yên bình Đây là địa điểm tham quan chính của du khách khi đếnvới khu du lịch sinh thái hồ Truồi
4.2.2.2 Suối Ba Trại thuộc VQG Bạch Mã
Suối Ba Trại là suối xa nhất trong hành trình du lịch tại hồ Truồi, mấtkhoảng 20 phút lênh đênh trên hồ Truồi là đến suối Ngược theo đuờng mònkhoảng 500m để vào bên trong suối lên gần giữa cánh rừng tự nhiên Suối BaTrại đẹp như tranh vẽ với những lèn đá, cây rừng và dòng nước mát lạnh, trongvắt Sở dĩ có tên Ba Trại vì những năm sau giải phóng, người dân bên kia pháTam Giang băng phá lội đồng sang đây phá rừng vừa lấy củi gỗ, vừa trồng sắn
và dựng lên ba cái trại lớn để ở Giai đoạn đó rừng còn rậm với muôn vàn cây cổthụ Ngày nay cây có đã thưa thớt dần tuy nhiên vẫn giữ được nét hoang sơ tựnhiên của nó
Suối Ba Trại là suối được du khách lựa chọn nhiều nhất khi đến thamquan, tắm mát, nghỉ ngơi tại khu du lịch hồ Truồi này Dòng nước suối tronglành, với rất nhiều loài cá như cá xanh, cá choạc, cá sao, cá bống… là đặc trưng
mà chỉ có suối ở hồ Truồi mới có được
4.2.2.3 Suối Vũng Thùng thuộc VQG Bạch Mã
Suối Vũng Thùng là suối gần nhất trong các suối ở hồ Truồi, nằm ở phíabên trái TVTL Dòng suối chảy mạnh, trong xanh với những lèn đá rất to có thểngồi nghỉ hàng chục người Suối kéo dài có thể tiếp hàng trăm du khách cùngmột lúc Là suối được các nhân viên du lịch giới thiệu cho khách nhiều nhất.Được gọi tên là Vũng Thùng bởi vì nơi thác nước đổ xuống cái vũng đá rộng lớnmang hình cái thùng nước
Dịch vụ bắt cá ở suối này được khách du lịch rất ưa thích, vì suối rất cạn,
cá nhiều nên khá an toàn và thu hút khách đến đây nghỉ ngơi, bắt cá Tuy đã đầu
tư hơn so với các suối khác tuy nhiên vẫn còn khá đơn giản chưa đáp ứng được
Trang 29nhu cầu của khách du lịch khi đến đây Trong suối chỉ có hai sạp đơn giản, chưa
có dịch vụ gì thêm khi khách đến đây vui chơi và nghỉ ngơi
4.2.2.4 Suối Ông Viên thuộc VQG Bạch Mã
Khi đến với hồ Truồi ngoài chiêm ngưỡng TVTL hùng vĩ, mặt nước hồphẳng lặng trong xanh thì du khách còn được đắm chìm vào thiên nhiên ở đây
Có thác, có suối nằm giữa những cánh rừng tự nhiên
Suối Ông Viên lấy tên theo người bao thầu khai thác gỗ rừng trong khuvực những năm 1980 Suối Ông Viên là dòng suối nhỏ chảy dài từ trên đỉnh núicao xuống, nằm giữa rừng tự nhiên, với những dải đá gồ ghề to lớn cho dukhách nghỉ chân Dòng nước suối trong xanh, bên trong là những đàn cá suối bơilội Suối vẫn giữ được nét tự nhiên vốn có của mình Gần đó, nhìn lên nhữngdãy núi kỳ vĩ trước mặt, một ngọn thác đổ từ lưng chừng núi dựng đứng cao cảtrăm mét như vắt ngang trời, đó là thác Trại Lính Theo người dân ở đây chobiết, nơi đó ngày xưa là một đồn lính của chế độ cũ trú đóng
Tuy nhiên suối Ông Viên vẫn chưa được chú trọng khai thác tiềm năng
du lịch, chính vì vậy khách du lịch chưa thường xuyên lựa chọn điểm đến này
4.2.2.5 Suối Hợp Hai thuộc VQG Bạch Mã
Suối Hợp Hai là suối rất ít được khách du lịch lựa chọn Bởi suối hơi nhỏ,dòng nước chảy êm ả không lớn và hay cạn nước vào mùa hè nắng nóng Tuynhiên suối rất thích hợp cho những ai ưa thích cảm giác an toàn và khám phá.Đồng thời trong suối có nhiều cá lớn, dễ câu và giăng lưới bắt cá Tuy nhiênsuối Hợp Hai chưa được chú trọng đầu tư để phát huy giá trị tiềm năng du lịchsinh thái
4.2.3 Tiềm năng về du lịch sinh thái, du lịch tâm linh của hồ Truồi
Du khách đến với hồ Truồi ngoài du lịch tâm linh, chiêm bái lễ chùa tại
Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã, nơi đây còn là điểm DLST lý tưởng, với nhiều cảnh đẹp hoang sơ, mang đậm chất thiên nhiên sơn thủy hữu tình Tuy nhiên để
khai thác hết lợi thế tiềm năng của vùng hồ Truồi thì cần có nhiều nghiên cứuphân tích về điểm mạnh, điểm yếu để khai thác hợp lý và có trách nhiệm vớithiên nhiên góp phần bảo vệ môi trường và tăng thu nhập cho địa phương
Trang 30Bảng 4.2 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT) về
tiềm năng du lịch của hồ Truồi
Điểm mạnh ( S – Strengths ) Điểm yếu ( W – Weaknesses )
- Cảnh quan thiên nhiên đẹp, có tiềm
năng du lịch, điều kiện nghỉ ngơi lý
- Các hình thức du lịch còn đơn giản,các loại hình vui chơi, giải trí ít, chưađáp ứng được du khách
- Chưa khai thác hiệu quả các tiềmnăng du lịch
- Quảng bá khu du lịch với du kháchcòn chưa tốt
- Đội ngũ nhân viên thiếu, chưa đượcđào tạo sâu về chuyên môn
- Ý thức bảo vệ môi trường của cán bộnhân viên chưa thực sự cao
Cơ hội ( O – Opportunities ) Thách thức ( T – Threats)
- Xu hướng DLST, tâm linh, du lịch
trải nghiệm ngày càng được ưa
thích, thu hút khách du lịch
- Khách quốc tế ngày càng có xu thế
sang việt nam tham gia DLST
- Thực trạng ô nhiễm môi trường ởtỉnh, địa phương diễn ra ngày càng lớn
- Ý thức bảo vệ môi trường và tàinguyên rừng của người dân và dukhách chưa cao
- Hồ Truồi nằm trong phạm vi VQGBạch Mã, được bảo vệ một cáchnghiêm ngặt
- Nhu cầu của khách du lịch ngàycàng cao
- Lượng khách tập trung vào các ngày
lễ, tết dễ xảy ra tình trạng quá tải
- Sự cạnh tranh của các khu DLSTkhác
- Ảnh hưởng của thời tiết, và chế độnước của hồ Truồi
Trang 31Qua bảng phân tích trên chúng ta thấy rằng bên cạnh những điểm mạnh và
cơ hội phát triển DLST tại hồ Truồi thì có nhiều thách thức lớn cho việc pháttriển DLST tại đây là: Khu du lịch hồ Truồi thuộc địa phận quản lý của VQGBạch Mã, nơi mà việc quản lý tài nguyên động thực vật khá nghiêm ngặt; lượng
du khách tập trung vào một số dịp lễ, tết gây quá tải cho địa phương, nơi mà độingũ phục vụ du lịch chưa qua đào tạo vừa thiếu lại yếu; mực nước lòng hồ luôn
bị ảnh hưởng bởi thời tiết và mục đích tưới tiêu (thủy lợi) của địa phương
4.3 Thực trạng phát triển du lịch sinh thái tại hồ Truồi
4.3.1 Thực trạng tài nguyên rừng
Khu DLST hồ truồi thuộc VQG Bạch Mã, diện tích rừng tự nhiên ở đâytương đối lớn Tổng diện tích rừng của khu vực là 4.101 ha được quản lý bảo vệbởi trạm kiểm lâm xã Lộc Hòa Trực thuộc VQG Bạch Mã Theo kết quả điều tracho thấy các loại động, thực vật hiện có trên địa bàn vô cùng phong phú và đadạng
4.3.1.1 Thảm thực vật
Thảm thực vật tự nhiên: Rừng rậm thường xanh nhiệt đới ưa mưa thuộcđai thấp dưới 900m: Gồm có 4 trạng thái rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo
và rừng non phục hồi, có các quần xã chính:
- Rừng rậm thường xanh nhiệt đới ưa mưa cây lá rộng ít bị tác động, ưu
thế các loài như: Chò (Parashorea stellata), Ươi (Scaphium macropodium), Sâng (Pometia pinnata), Huỷnh (Heritiera cochinchinensis), Kiền kiền (Hopea siamensis)…
- Rừng rậm thường xanh nhiệt đới ưa mưa cây lá rộng, thứ sinh bị tác
động mạnh, ưu thế các loài như: Ràng ràng (Ormosia dasycarpa), Lá nến (Macaranga denticulate), Thành ngạnh (Cratoxylon formosum), Vạng (Endospermum chinense), Ba bét (Mallotus paniculatus)…
- Trảng cây bụi thứ sinh, thường xanh cây lá rộng, ưu thế các loài như:
Sim (Rhodomyrtus tomentosa), Thành ngạnh (Cratoxylon formosum), Ba bét (Mallotus paniculatus), Cỏ lào (Eupatorium odoratum), Mắc cở (Mimosa pudica)…
- Trảng cỏ nhiệt đới thứ sinh, ưu thế các loài như: Lau (Saccharum spontaneum), Cỏ tranh (Imperata cylindrical)…
Các kiểu thảm thực vật nhân tạo: Là diện tích trồng cây lâm nghiệp củacác hộ dân trong xã được giao đất trồng rừng, chủ yếu các loài như, Keo tai
tượng (Acacia maginum), keo Lai …
Trang 324.3.1.2 Hệ động vật
Hệ động vật ở đây rất đa dạng, đặc trưng cho hệ động vật của VQGBạch Mã
4.3.2 Hiện trạng về cơ sở vật chất kĩ thuật tại khu du lịch
Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tạo ra
và thực hiện sản phẩm du lịch, cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng
du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch Chính vì vậy nên sự pháttriển của ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ
sở vật chất kỹ thuật
Khu du lịch sinh thái hồ Truồi cũng vậy, nơi đây đã có hệ thống cơ sở vậtchất kỹ thuật phục vụ nhu cầu của khách du lịch khá tốt Đặc biệt là dịch vụ dichuyển tham quan bằng thuyền của du khách
Tuyến đường giao thông từ cầu Truồi trên đường QL IA nối liền với hồTruồi là tuyến đường giao thông thuận lợi nhất cho việc đi lại của khách du lịchkhi đến tham quan hồ Truồi Chiều dài tuyến đường là hơn 10km, vời kết cấu ximăng, thuận tiện cho các phương tiện khi đến hồ Truồi
Ở khu du lịch có bãi đỗ xe rộng, với sức chứa hàng trăm chiếc xe Đápứng nhu cầu vào các mùa du lịch với lượng khách rất lớn
Thuyền phục vụ di chuyển tham quan của khách du lịch: Toàn bộ khu dulịch có 12 chiếc thuyền, thuyền được đăng ký đăng kiểm do sở Giao Thông tỉnhThừa Thiên Huế cấp giấp phép hoạt động Toàn bộ thuyền còn mới, được trang
bị đầy đủ áo phao cho khách du lịch, ghế ngồi cho du khách khi di chuyển ngắmcảnh Thuyền có thể chở số lượng khách khoảng 12 - 15 người trên một lượt, và
có thể di chuyển liên tục đáp ứng nhu cầu khách qua lại, nhất là vào các ngàyđông khách
Bến thuyền được xây dựng chắc chắn trên bờ hồ có bậc thang cho dukhách di chuyển khi lên xuống thuyền Phía trên bến thuyền là nhà nghỉ ngơi,uống nước và mua vé của du khách trước khi tham quan Được xây dựng trên bờ
hồ, không gian thoáng mát, sạch sẽ có ghế ngồi phục vụ đầy đủ cho du khách
Khu vệ sinh được xây dựng hiện đại, rộng rãi có thể phục vụ lượng kháchlớn Được nhân viên dọn vệ sinh sạch sẽ hàng ngày đáp ứng yêu cầu của du khách
Trong các suối ở Khu du lịch có bố trí các sạp dành cho khách du lịchnghỉ ngơi tắm rửa Các thùng rác được bố trí để du khách có thể để rác đúng nơiquy định, đồng thời kèm theo các biển báo nhắc nhở du khách cấm vứt rác trongrừng, cấm bẻ cành…