Luận văn được xây dựng trên cơ sở: * Về mục đích nghiên cứu: - Phân tích thực trạng tình hình tài chính doanh nghiệp để từ đó đề xuất một số giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả ho
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, sức ép cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp không ngừng nâng cao năng lực và hiệu quả kinh doanh Để làm được điều đó, một trong những giải pháp được doanh nghiệp quan tâm hàng đầu, đó là nâng cao chất lượng của công tác quản lý tài chính Bởi lẽ, hoạt động tài chính có quan hệ trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh và là một bộ phận của hoạt động sản xuất kinh doanh Tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình kinh doanh Do đó, việc phân tích tài chính doanh nghiệp để có được cái nhìn tổng quan và rõ ràng về tình hình tài chính của doanh nghiệp là vô cùng cần thiết Trên thực tế, phân tích tài chính doanh nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng trong công tác quản lý doanh nghiệp, cả trên cấp độ quản lý vi mô và quản lý vĩ mô Đối với cấp độ quản lý vi mô, phân tích tài chính giúp doanh nghiệp đánh giá được thực trạng tài chính của doanh nghiệp mình, từ đó đề xuất ra những giải pháp đúng đắn góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Còn ở cấp độ quản lý vĩ
mô, phân tích tài chính cung cấp những thông tin chuẩn xác về tình hình tài chính doanh nghiệp để phục vụ công tác quản lý của Nhà nước và việc ra quyết định của nhà đầu tư.
Nền kinh tế nước ta trong một vài năm gần đây đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng mở ra cho các doanh nghiệp Việt Nam không ít cơ hội nhưng cũng đặt các doanh nghiệp trước khá nhiều khó khăn, thách thức Thực tế trên đòi hỏi các doanh nghiệp buộc phải đẩy mạnh công tác phân tích tài chính doanh nghiệp để thông qua đó đưa ra các dự báo và các quyết định tài chính đúng đắn cả trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, qua thời gian thực tập tại công ty TNHH Công nghiệp Quang Minh, em mạnh dạn đi sâu vào nghiên cứu và hoàn thành
luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp và
một số giải pháp tài chính nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty TNHH Công Nghiệp Quang Minh”
Nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về phân tích tài chính doanh nghiệp.
Trang 2Chương II: Đánh giá thực trạng tài chính của Công ty TNHH Công nghiệp Quang Minh.
Chương III: Một số giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Công nghiệp Quang Minh.
Luận văn được xây dựng trên cơ sở:
* Về mục đích nghiên cứu:
- Phân tích thực trạng tình hình tài chính doanh nghiệp để từ đó đề xuất một số giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH Công nghiệp Quang Minh.
- Tăng cường kỹ năng tư duy và phân tích tài chính cho bản thân với tư cách là một sinh viên chuyên ngành tài chính doanh nghiệp.
* Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Luận văn có đối tượng nghiên cứu là thực trạng công tác phân tích tài chính doanh nghiệp tại Công ty TNHH Công nghiệp Quang Minh.
Phạm vi nghiên cứu là các nội dung về phân tích tài chính doanh nghiệp gắn liền với tình hình tài chính thực tế của Công ty TNHH Công nghiệp Quang Minh.
* Về phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong đề tài là phương pháp so sánh và tổng hợp số liệu thu thập được trong quá trình thực tập để thấy được mức độ ảnh hưởng và
xu hướng biến động của các chỉ tiêu, từ đó đưa ra các nhận xét Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp khác như: phương pháp thay thế liên hoàn, phân tích các tỷ số, phương pháp liên hệ, cân đối.
Mặc dù đã cố gắng hết sức, song do trình độ nhận thức lý luận và thực tiễn còn hạn chế, thời gian thực tập có hạn nên bài luận văn không tránh khỏi còn một vài thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp quý báu từ thầy cô, bạn bè và những người quan tâm để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn
Hà Nội, tháng 4 năm 2008
Sinh viên thực hiện: Lý Quỳnh Trang
Trang 3MỤC LỤC CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP 6
1.1 Những vấn đề cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp 6
1.1.1 Bản chất của tài chính doanh nghiệp 6
1.1.2 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp 6
1.1.3 Tầm quan trọng của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 7
1.2 Đối tượng sử dụng thông tin phân tích và nguồn số liệu sử dụng để phân tích 8
1.2.1 Đối tượng sử dụng thông tin phân tích 8
1.2.2 Nguồn số liệu sử dụng để phân tích 9
1.3 Nội dung và phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 9
1.3.1 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 9
1.3.1.1 Phân tích khái quát về tình hình tài chính của doanh nghiệp 9
1.3.1.2 Phân tích nguồn vốn và diễn biến sử dụng vốn 10
1.3.1.3 Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các hệ số tài chính 11 1.3.2 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 23
1.3.2.1 Phương pháp so sánh 24
1.3.2.2 Phương pháp chi tiết 25
1.3.2.3 Phương pháp tỷ lệ 25
1.3.2.4 Phương pháp phân tích mối liên hệ tương tác giữa các hệ số tài chính 25
1.4 Một số giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 26
1.4.1 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác huy động vốn 26
1.4.2 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp 27
1.4.2.1 Bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định 27
1.4.2.2 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động 28
1.4.3 Các giải pháp nhằm gia tăng lợi nhuận, nâng cao tỷ suất sinh lời của doanh nghiệp 29
1.4.3.1 Tăng cường công tác quản lý chi phí và hạ giá thành sản phẩm 29
1.4.3.2 Đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm, gia tăng doanh thu 30
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH CÔNG NGHIỆP QUANG MINH 31
2.1 Khái quát về Công ty TNHH Công nghiệp Quang Minh 31
Trang 42.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH Công nghiệp Quang
Minh 31
2.1.2 Ngành nghề kinh doanh và sản phẩm chủ yếu của công ty 33
2.1.3 Tổ chức nhân sự và tổ chức bộ máy quản lý của công ty 34
2.1.3.1 Tổ chức nhân sự của công ty 34
2.1.3.2 Tổ chức bộ máy quản lý của công ty 34
2.1.3.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán của công ty 37
2.1.4 Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty 37
2.1.4.1 Đặc điểm về tổ chức bộ máy sản xuất và quy trình công nghệ chế tạo sản phẩm 37
2.1.4.2 Các yếu tố đầu vào và thị trường các yếu tố đầu vào 38
2.1.4.3 Thị trường đầu ra và vị thế cạnh tranh của công ty 39
2.2 Tổng quan về tình hình hoạt động của Công ty TNHH Công nghiệp Quang Minh .40
2.2.1 Thuận lợi 40
2.2.2 Khó khăn 41
2.2.3 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một số năm qua 42 2.3 Đánh giá thực trạng tài chính của Công ty TNHH Công nghiệp Quang Minh 45
2.3.1 Khái quát về tình hình tài chính của công ty 45
2.3.1.1 Khái quát về tình hình tài sản và nguồn vốn của công ty 45
2.3.1.2 Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn 48
2.3.1.3 Khái quát về kết quả hoạt động kinh doanh của công ty 51
2.3.2 Phân tích tình hình tài chính của công ty 54
2.3.2.1 Về khả năng thanh toán 54
2.3.2.2 Về cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản 60
2.3.2.3 Về hiệu suất hoạt động của công ty 63
2.3.2.4 Về khả năng sinh lời của công ty 69
2.3.3 Những vấn đề rút ra từ công tác quản lý tài chính của công ty 73
2.3.3.1 Những kết quả đạt được 73
2.3.3.2 Những vấn đề đặt ra cần giải quyết 74
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY TNHH CÔNG NGHIỆP QUANG MINH 76
3.1 Định hướng phát triển của Công ty trong thời gian tới 76
3.1.1 Định hướng phát triển của Công ty trong thời gian tới 76
Trang 53.1.2 Đánh giá một số rủi ro mà Công ty có thể gặp phải trong thời gian tới 79
3.1.2.1 Rủi ro về cơ chế chính sách 79
3.1.2.2 Rủi ro liên quan đến các yếu tố kinh tế vĩ mô 79
3.1.2.3 Rủi ro về tỷ giá hối đoái 79
3.2 Một số giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Công nghiệp Quang Minh 79
3.2.1 Nhóm các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác tổ chức huy động vốn 80
3.2.2 Nhóm các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh 81
3.2.2.1 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động 81
3.2.2.2 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định 85
3.2.3 Nhóm các giải pháp nhằm cải thiện khả năng thanh toán của doanh nghiệp 86 3.2.4 Nhóm các giải pháp nhằm gia tăng khả năng sinh lời của doanh nghiệp 87
3.2.4.1 Tăng cường công tác quản lý chi phí và hạ giá thành sản phẩm 87
3.2.4.2 Đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm và gia tăng doanh thu 88
3.2.4.3 Đầu tư đổi mới và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 91
Trang 6CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP
1.1 Những vấn đề cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Bản chất của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là một khâu quan trọng trong hệ thống tài chính củanền kinh tế Xét về mặt bản chất, tài chính doanh nghiệp là các mối quan hệkinh tế dưới hình thức giá trị gắn liền với việc tạo lập, phân phối và sử dụngquỹ tiền tệ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Xét về mặthình thức, tài chính doanh nghiệp phản ánh sự vận động và chuyển hóa của cácnguồn lực tài chính trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệcủa doanh nghiệp
Như vậy, các mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối
và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp hợp thành các quan hệ tài chínhtrong doanh nghiệp Các quan hệ này phản ánh bản chất của tài chính doanhnghiệp Cụ thể, đó là các mối quan hệ tài chính sau:
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với nhà nước
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế và các tổchức xã hội khác
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với người lao động trong doanhnghiệp
- Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp là quá trình xem xét, phân tích một cáchtoàn diện trên tất cả các mặt hoạt động của tài chính doanh nghiệp Qua đó,doanh nghiệp có thể xác định được điểm mạnh và điểm yếu, những nhân tốảnh hưởng cũng như mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến tình hình tàichính và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Quan trọng hơn là
từ những đánh giá, phân tích đó, doanh nghiệp có thể đưa ra những giải phápđúng đắn để định hướng cho hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ tới
Trang 7Như vậy, phân tích tài chính doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở việc đánhgiá những gì đã làm được mà còn phải dự kiến những gì sẽ xảy ra thông quakết quả đánh giá đó Phân tích tài chính doanh nghiệp là làm sao cho các con
số, các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính “biết nói” để người sử dụng chúng có thểhiểu rõ tình hình tài chính của doanh nghiệp cũng như các mục tiêu và cácphương pháp hành động của những nhà quản lý doanh nghiệp đó
1.1.3 Tầm quan trọng của công tác phân tích tài chính doanh
nghiệp
Hoạt động tài chính là một bộ phận cấu thành và có tác động trực tiếp đếnhoạt động sản xuất kinh doanh Hiệu quả của hoạt động tài chính quyết định rấtlớn đến hiệu quả của các mặt hoạt động khác trong doanh nghiệp, bởi vì mọihoạt động của doanh nghiệp muốn thực hiện được thì đều cần phải có nguồntài trợ Chính vì vậy, công tác phân tích tài chính có ý nghĩa vô cùng quantrọng đối với mỗi doanh nghiệp
Trước hết, công tác phân tích tài chính cho phép doanh nghiệp nhận biếtmột cách đầy đủ và chính xác năng lực tài chính hiện tại của doanh nghiệp.Trên cơ sở đó, nhà quản trị doanh nghiệp có thể đưa những giải pháp và địnhhướng phát triển đúng đắn để nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính của doanhnghiệp mình
Bên cạnh đó, phân tích tài chính doanh nghiệp còn là một công cụ khôngthể thiếu phục vụ cho công tác quản lý của cơ quan Nhà nước và việc ra quyếtđịnh của các nhà đầu tư Phân tích tài chính giúp các cơ quan quản lý nhà nướcđánh giá tình hình thực hiện chế độ chính sách về tài chính của doanh nghiệp.Ngoài ra, phân tích tài chính còn giúp nhà đầu tư có được những thông tinchuẩn xác về tình hình tài chính của doanh nghiệp, làm cơ sở để đưa ra nhữngquyết định đầu tư đúng đắn và có hiệu quả
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, cạnh tranh giữa các doanhnghiệp ngày càng khốc liệt Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đem đến chodoanh nghiệp nhiều cơ hội mới nhưng cũng tiềm ẩn không ít rủi ro Do vậy,nếu một doanh nghiệp không nắm bắt được thông tin và dự đoán được về tìnhhình tài chính của mình thì tất yếu sẽ bị thị trường đào thải Chính vì lẽ đó mànhững thông tin về tài chính doanh nghiệp ngày càng trở nên quan trọng đối
Trang 8với mỗi nhà quản trị tài chính Phân tích tài chính thực sự trở thành một công
cụ kiểm tra giám sát có hiệu lực đối với mọi hoạt động trong doanh nghiệp
1.2 Đối tượng sử dụng thông tin phân tích và nguồn số liệu sử dụng để phân tích
1.2.1 Đối tượng sử dụng thông tin phân tích
Trên thực tế có rất nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng thông tin kinh tếtài chính của doanh nghiệp:
Nhà quản trị doanh nghiệp:
Những thông tin có được từ quá trình phân tích tài chính doanh nghiệp sẽgiúp nhà quản trị doanh nghiệp đánh giá được tình hình thực hiện các mục tiêutài chính của doanh nghiệp trong quá khứ và hiện tại, từ đó định hướng choviệc ra quyết định quản trị và lập kế hoạch tài chính cho tương lai
Chủ sở hữu doanh nghiệp:
Điều mà chủ sở hữu doanh nghiệp quan tâm là khả năng sinh lời của vốnchủ sở hữu Do đó, họ rất chú ý đến hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanhcũng như những quyết định về việc phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp
Các chủ nợ (Ngân hàng, các nhà cung cấp, những người cho vay ):
Mối quan tâm của nhóm đối tượng này lại hướng vào khả năng trả nợ củadoanh nghiệp Do đó, họ rất chú ý đến khả năng thanh toán, tỷ lệ vốn chủ sởhữu trên tổng nguồn vốn cũng như khả năng sinh lời của doanh nghiệp để từ đóđưa ra quyết định cho vay hay bán chịu sản phẩm cho doanh nghiệp
Các nhà đầu tư trong tương lai:
Điều mà họ quan tâm là mức độ an toàn và sinh lời của vốn đầu tư, thờigian hoàn vốn đầu tư Vì vậy, họ cần những thông tin về tình hình tài chính,kết quả hoạt động kinh doanh, tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp qua cácthời kỳ Từ đó đưa ra quyết định có nên đầu tư vào doanh nghiệp hay không,đầu tư dưới hình thức nào và đầu tư vào lĩnh vực nào
Đối với các cơ quan chức năng:
Thông qua các chỉ tiêu và thông tin trên báo cáo tài chính, cơ quan thuế có
Trang 9Nhà nước Cơ quan thống kê có thể tổng hợp thông tin phân tích để hình thànhnên số liệu thống kê, chỉ số thống kê.
1.2.2 Nguồn số liệu sử dụng để phân tích
Để phân tích tình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp, về cơ bản tàiliệu sử dụng là hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp Ngoài ra, cònphải dựa vào các tài liệu thực tế cũng như các tài liệu kế hoạch của công ty, cácchỉ tiêu chung của ngành, của đối thủ cạnh để tiến hành phân tích, đánh giánhằm đưa ra những kết luận sát thực về tình hình tài chính của công ty
1.3 Nội dung và phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.1 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.3.1.1 Phân tích khái quát về tình hình tài chính của doanh nghiệp
Dựa trên cơ sở số liệu của bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạtđộng kinh doanh, phân tích tài chính doanh nghiệp giúp nhà quản trị có đượccái nhìn tổng quan ban đầu về tình hình tài chính của doanh nghiệp Thôngthường, cần xem xét một số biến động chủ yếu sau giữa số cuối năm và số đầunăm:
- Xem xét sự biến động về vốn và nguồn vốn cả về số tuyệt đối lẫn số tươngđối Qua đó cho thấy được sự thay đổi về quy mô và năng lực kinh doanh củadoanh nghiệp
- Xem xét sự biến động về cơ cấu vốn kinh doanh Từ đó có thể đánh giáđược tính hợp lý trong cơ cấu vốn và sự tác động của cơ cấu đó đến quá trìnhhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Xem xét sự biến động về cơ cấu nguồn vốn cả về số tuyệt đối lẫn số tươngđối để đánh giá khái quát mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp.Nếu nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng lớn và có xu hướng tăng, điều đócho thấy khả năng tự chủ về mặt tài chính cao, mức độ phụ thuộc về mặt tàichính đối với các chủ nợ thấp và ngược lại
- Xem xét mối quan hệ cân đối giữa các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán:
sự cân đối giữa nguồn tài trợ ngắn hạn so với tài sản ngắn hạn; giữa nguồn tài
Trang 10trợ dài hạn so với tài sản dài hạn Từ đó, đánh giá xem doanh nghiệp đã đảmbảo được nguyên tắc cân bằng tài chính hay chưa.
- Ngoài ra, cần xem xét sự biến động của doanh thu thuần, giá vốn hàngbán, chi phí quản lý doanh nghiệp, và lợi nhuận (bao gồm cả chỉ tiêu lợi nhuậntrước thuế và lợi nhuận sau thuế) giữa năm nay so với năm trước Trên cơ sở
đó, doanh nghiệp đánh giá được khái quát về tình hình kinh doanh trong kỳthực hiện để từ đó có thể đưa ra được những dự báo đúng đắn cho hoạt độngcủa doanh nghiệp trong tương lai
1.3.1.2 Phân tích nguồn vốn và diễn biến sử dụng vốn
Phân tích nguồn vốn và diễn biến sử dụng vốn cho phép đánh giá một cáchkhái quát những thay đổi của nguồn vốn và tình hình sử dụng vốn của doanhnghiệp trong một thời kỳ nhất định giữa hai thời điểm lập bảng cân đối kế toán,
từ đó định hướng cho việc huy động vốn và sử dụng vốn ở các kỳ tiếp theo.Mục đích của việc phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn là phải trảlời được 3 câu hỏi sau:
- Vốn lấy từ đâu?
- Sử dụng vốn vào việc gì?
- Việc sử dụng vốn như vậy đã hợp lý hay chưa?
Việc phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn được thực hiện theotrình tự sau đây:
Bước 1: Tổng hợp sự thay đổi của các khoản mục trên bảng cân đối kế toán
Căn cứ vào bảng cân đối kế toán, tiến hành so sánh số liệu các khoản mụcgiữa cuối kỳ với đầu kỳ để tìm ra số chênh lệch
Bước 2: Đưa kết quả vừa tổng hợp vào bảng phân tích diễn biến nguồn vốn
và sử dụng vốn.
Với mỗi sự thay đổi của từng khoản mục đã tổng hợp được từ bước một,chúng ta sẽ xem xét để phản ánh vào cột số tiền của một trong hai phần: phầndiễn biến nguồn vốn và phần sử dụng vốn theo nguyên tắc:
- Cột số tiền của phần sử dụng vốn phản ánh số liệu của việc tăng tài sản,giảm nguồn vốn
Trang 11- Cột số tiền của phần diễn biến nguồn vốn phản ánh số liệu của việc giảmtài sản, tăng nguồn vốn.
Bước 3: Tính tỷ trọng của từng khoản mục trên bảng phân tích diễn biến
Đưa ra những phân tích, đánh giá tổng quát và trả lời những câu hỏi đặt ra
để làm rõ tính hiệu quả, hợp lý trong việc tổ chức sử dụng vốn của doanhnghiệp
Khi phân tích diễn biễn nguồn vốn, chúng ta phải trả lời được câu hỏi: “Vốnlấy từ đâu?”, số vốn tăng lên được lấy từ nguồn nào, việc giảm tài sản để thuhồi vốn về sẽ làm tăng nguồn nào
Khi phân tích tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp tức là chúng ta phảitrả lời được câu hỏi : “Sử dụng vốn vào việc gì?”, nguồn vốn nào được sử dụng
để hình thành nên tài sản tăng thêm, nguyên nhân nào làm cho nguồn vốngiảm
Từ kết quả về việc phân tích nguồn vốn và diễn biễn sử dụng vốn, các nhàquản lý tài chính có thể đưa ra những giải pháp hữu hiệu để nhằm khai thác vànâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn hiện có của doanh nghiệp Mặt khác,thông tin về diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn còn rất hữu ích cho các nhàđầu tư để họ có thể biết doanh nghiệp đã làm gì với số vốn của họ
1.3.1.3 Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các hệ số tài
chính
Các hệ số tài chính được coi là những biểu hiện đặc trưng nhất về tình hìnhtài chính của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định Mỗi một doanh nghiệpkhác nhau tại những thời điểm khác nhau sẽ có các hệ số tài chính khác nhau.Các hệ số tài chính này sẽ lột tả một cách rõ nét và cụ thể về thực trạng tàichính của doanh nghiệp Do đó, việc phân tích các hệ số tài chính là một nộidung quan trọng trong quá trình phân tích tài chính doanh nghiệp
Trang 12Tình hình tài chính mạnh hay yếu trước hết thể hiện ở khả năng chi trả Vìvậy, trước tiên, chúng ta sẽ đi vào phân tích khả năng thanh toán của doanhnghiệp.
1.3.1.3.1Các hệ số về khả năng thanh toán
Để đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp, chúng ta sử dụng các
hệ số tài chính sau đây:
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát
Hệ số này biểu hiện mối quan hệ giữa tổng tài sản hiện có của doanh nghiệpvới tổng nợ phải trả (bao gồm cả nợ ngắn hạn và nợ dài hạn)
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát được xác định theo công thức sau:
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát =
Hệ số này phản ánh một đồng nợ của doanh nghiệp được đảm bảo bằng baonhiêu đồng tài sản Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 cho thấy: tổng tài sản hiện có (baogồm cả tài sản lưu động và tài sản cố định) không đủ để trả hết số nợ mà doanhnghiệp phải thanh toán, vốn chủ sở hữu bị âm Điều này báo hiệu nguy cơ phásản của doanh nghiệp Ngược lại, nếu hệ số này lớn hơn 1 chứng tỏ tổng giá trịtài sản của doanh nghiệp thừa để thanh toán hết các khoản nợ hiện tại củadoanh nghiệp Tuy nhiên, không phải tài sản nào hiện có cũng sẵn sàng đượcdùng để trả nợ và không phải khoản nợ nào cũng phải trả ngay Vì vậy, việcđánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp là tốt hay xấu còn tùy thuộcvào khả năng chuyển đổi thành tiền của số tài sản mà doanh nghiệp hiện có vàgiá trị các khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời (hay hệ số khả năng thanh toán
nợ ngắn hạn)
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời được xác định theo công thức sau:
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời =
Hệ số này phản ánh khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để trang trải cáckhoản nợ ngắn hạn (các khoản nợ có thời hạn dưới 1 năm) Vì thế, hệ số nàycũng thể hiện mức độ đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanhnghiệp
Trang 13Thông thường, khi hệ số này thấp, ở mức nhỏ hơn 1, thể hiện khả năngthanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là yếu, đây là dấu hiệubáo trước những khó khăn tiềm ẩn về mặt tài chính mà doanh nghiệp có thểgặp phải trong việc trả nợ.
Ngược lại, nếu hệ số này ở mức cao, lớn hơn 1, cho thấy khả năng thanhtoán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là tương đối tốt Song khôngphải hệ số này càng lớn thì càng tốt, vì điều này sẽ phản ánh lượng tài sản lưuđộng tồn trữ là quá lớn và bộ phận tài sản này không vận động, không sinh lời,chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp chưa cao
Hệ số này lớn hay nhỏ còn phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh của doanhnghiệp Chẳng hạn, đối với các doanh nghiệp thương mại, tài sản lưu độngthường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản nên hệ số này tương đối lớn Do
đó, khi đánh giá hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn cần phải dựa vào hệ sốtrung bình của các doanh nghiệp trong cùng ngành
Tuy nhiên, chỉ tiêu này chỉ phản ánh một cách tạm thời tình hình thanh toáncủa doanh nghiệp Bởi vì, tài sản ngắn hạn bao gồm cả: các khoản phải thu vàhàng tồn kho Mà trong số các khoản phải thu có một bộ phận là nợ quá hạn và
nợ khó đòi Mặt khác, hàng tồn kho là vật tư, sản phẩm làm dở và thành phẩmchưa tiêu thụ nên những loại tài sản này rất khó giải phóng để chuyển đổithành tiền Chính vì vậy, để đánh giá chính xác hơn về khả năng thanh toán củadoanh nghiệp, chúng ta cần phải đi sâu phân tích thêm một số chỉ tiêu thanhtoán nữa
Hệ số thanh toán nhanh
Hệ số thanh toán nhanh là một chỉ tiêu đánh giá sát hơn khả năng thanhtoán của doanh nghiệp Khi tính hệ số này cần phải loại trừ hàng tồn kho vìtrong tài sản lưu động thì hàng tồn kho là loại tài sản không dễ dàng chuyểnđổi thành tiền Hệ số thanh toán nhanh được xác định theo công thức sau:
Hệ số thanh toán nhanh =
Hệ số thanh toán nhanh được xem như là thước đo phản ánh khả năng trảngay các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp trong kỳ không dựa vào việcphải bán các loại vật tư, hàng hóa trong kho Đây là chỉ tiêu được các chủ nợngắn hạn rất quan tâm vì thông qua chỉ tiêu này, các chủ nợ có thể đánh giá
Trang 14được tại thời điểm phân tích doanh nghiệp có khả năng thanh toán ngay cáckhoản nợ ngắn hạn hay không Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chỉ tiêunay chưa phản ánh một cách chính xác khả năng thanh toán của doanh nghiệp,đặc biệt là những doanh nghiệp có các khoản phải thu chiếm tỷ trọng lớn trongtổng tài sản lưu động.
Do đó, để đánh giá một cách chặt chẽ hơn khả năng thanh toán của doanhnghiệp, người ta còn sử dụng hệ số thanh toán tức thời
Hệ số thanh toán tức thời
Hệ số thanh toán tức thời được xác định theo công thức sau:
Hệ số thanh toán tức thời =
Trong đó, tiền bao gồm: tiền mặt, tiền gửi, tiền đang chuyển Các khoảntương đương tiền là các khoản có thể chuyển đổi nhanh thành một lượng tiềnbiết trước bất kỳ lúc nào như: chứng khoán ngắn hạn, thương phiếu, nợ phảithu ngắn hạn và các khoản đầu tư ngắn hạn khác Đây là những loại tài sản cótính thanh khoản cao và rủi ro thấp
Hệ số thanh toán tức thời phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ đếnhạn của doanh nghiệp ở bất kỳ thời điểm nào, bởi vì nguồn trang trải cho cáckhoản nợ của doanh nghiệp là hết sức linh hoạt
Hệ số thanh toán lãi vay
Lãi vay phải trả là khoản chi phí sử dụng vốn vay mà doanh nghiệp cónghĩa vụ trả đúng hạn cho các chủ nợ Nguồn để trả lãi vay là lợi nhuận trướclãi vay và trước thuế Hệ số thanh toán lãi vay phản ánh mối quan hệ giữa lợinhuận trước lãi vay và trước thuế với lãi vay phải trả Hệ số này được xác địnhtheo công thức sau:
Hệ số thanh toán lãi vay =
Như vậy, hệ số thanh toán lãi vay phản ánh số lợi nhuận trước lãi vay vàthuế mà doanh nghiệp có được đủ để bù đắp số lãi tiền vay phải trả trong kỳ tớimức độ nào Nếu hệ số này cao cho thấy doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả,mức sinh lời của đồng vốn cao đủ để đảm bảo thanh toán tiền lãi vay đúng hạn
và ngược lại
Trang 151.3.1.3.2 Các hệ số phản ánh cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản
a) Hệ số phản ánh cơ cấu nguồn vốn
Cơ cấu nguồn vốn phản ánh bình quân trong một đồng vốn kinh doanh hiệnnay doanh nghiệp đang sử dụng có mấy đồng vay nợ, có mấy đồng vốn chủ sởhữu Các hệ số phản ánh cơ cấu nguồn vốn là những chỉ tiêu tài chính hết sứcquan trọng cho phép đánh giá khả năng tự chủ về mặt tài chính của doanhnghiệp
Trong số các hệ số phản ánh cơ cấu nguồn vốn, hệ số nợ và hệ số vốn chủ
sở hữu là hai chỉ tiêu quan trọng nhất Căn cứ vào hai chỉ tiêu này, chúng ta cóthể thấy được mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp đối với các chủ nợ cũngnhư mức độ tự tài trợ của doanh nghiệp đối với nguồn vốn kinh doanh củamình
* Tác động tích cực:
- Hệ số nợ cao sẽ làm gia tăng giá trị sử dụng của doanh nghiệp vì doanhnghiệp được sử dụng một lượng tài sản lớn mà chỉ phải đầu tư một lượng vốnnhỏ
- Bên cạnh đó, hệ số nợ cao còn có tác dụng khuếch đại doanh lợi vốn chủ
sở hữu, góp phần làm gia tăng lợi ích của chủ doanh nghiệp
- Mặt khác, lãi tiền vay được coi như một khoản chi phí hợp lý và đượctrừ vào thu nhập chịu thuế Do đó, việc sử dụng nợ vay được xem như mộtphương thức giúp doanh nghiệp tiết kiệm thuế thu nhập doanh nghiệp
Trang 16* Tác động tiêu cực:
- Nếu hệ số nợ quá cao sẽ làm gia tăng nguy cơ mất khả năng thanh toán,
đe dọa đến sự an toàn về mặt tài chính của doanh nghiệp
- Hơn nữa, trong trường hợp tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản nhỏ hơn lãisuất tiền vay thì việc sử dụng đòn bẩy tài chính sẽ có tác dụng ngược chiều.Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp càng sử dụng nợ vay lớn sẽ càng làm giảmsút doanh lợi vốn chủ sở hữu, lợi ích của chủ doanh nghiệp bị sụt giảm
Việc xác định hệ số nợ và hệ số vốn chủ sở hữu là bao nhiêu để xây dựngđược một cơ cấu vốn hợp lý còn tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi doanhnghiệp, song trong bất kỳ trường hợp nào vẫn phải đảm bảo nguyên tắc: tốithiểu hóa chi phí sử dụng vốn trên cơ sở có tính đến các yếu tố rủi ro tài chính
b) Hệ số phản ánh cơ cấu tài sản
Các hệ số về cơ cấu tài sản phản ánh mức độ đầu tư vào các loại tài sản củadoanh nghiệp: tài sản lưu động và tài sản ngắn hạn khác, tài sản cố định và tàisản dài hạn khác Để đánh giá về cơ cấu tài sản của doanh nghiệp, chúng ta đisâu vào phân tích hai chỉ tiêu cơ bản sau:
Trang 17 Tỷ suất đầu tư vào tài sản ngắn hạn
Tỷ suất đầu tư vào tài sản ngắn hạn =
Chỉ tiêu này phản ánh trong một đồng vốn kinh doanh mà doanh nghiệp bỏ
ra thì có bao nhiêu đồng được dùng để hình thành nên tài sản ngắn hạn Thôngqua đó, cho thấy mức độ đầu tư vào các loại tài sản ngắn hạn của doanh nghiệpnhư: tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, các khoản phải thu
Tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn
Tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn =
Chỉ tiêu này phản ánh trong một đồng vốn kinh doanh mà doanh nghiệp bỏ
ra thì có bao nhiêu đồng được dùng để hình thành nên tài sản dài hạn Đồngthời, chỉ tiêu này còn phản ánh mức độ đầu tư vào tài sản cố định và tình hìnhtrang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất hiện có và xu hướng pháttriển lâu dài của doanh nghiệp trong tương lai
Nhìn chung, khi đánh giá về cơ cấu tài sản của doanh nghiệp, cần căn cứvào đặc điểm của từng ngành nghề kinh doanh để xem xét tính hợp lý trongviệc đầu tư vào các loại tài sản của doanh nghiệp
Số vòng quay hàng tồn kho
Số vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng tồn kho bình quân luânchuyển trong kỳ Số vòng quay hàng tồn kho được xác định theo công thứcsau:
Số vòng quay hàng tồn kho =
Thông thường, nếu số vòng quay hàng tồn kho cao hơn so với các doanhnghiệp trong ngành cho thấy việc tổ chức và quản lý dự trữ hàng tồn kho củadoanh nghiệp là tốt, doanh nghiệp có thể rút ngắn được chu kỳ kinh doanh vàgiảm được lượng vốn bỏ vào hàng tồn kho
Trang 18Ngược lại, nếu số vòng quay hàng tồn kho thấp thì điều đó chứng tỏ hàngtồn kho chậm luân chuyển, vốn bị ứ đọng, sản phẩm chậm được đem đi tiêuthụ nên làm giảm khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, khi số vòng quay hàng tồn kho bị giảm, doanh nghiệp cần xemxét nguyên nhân dẫn đến tình trạng nói trên Chẳng hạn, nếu nguyên nhân là dodoanh nghiệp tăng dự trữ nguyên vật liệu vì biết trước giá nguyên vật liệu sẽtăng hoặc nguyên vật liệu sẽ trở nên khan hiếm trong tương lai thì điều này làhoàn toàn hợp lý
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho được xác định theo công thức:
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho =
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày trung bình để thực hiện một vòng quay hàngtồn kho Nói cách khác, chỉ tiêu này cho biết số ngày hàng tồn kho nằm trongkho Nếu số ngày này càng ngắn thì điều đó chứng tỏ hàng tồn kho quay vòngcàng nhanh, doanh nghiệp nhanh chóng thu hồi được vốn về, hiệu quả kinhdoanh của doanh nghiệp được đánh giá là tốt và ngược lại
Vòng quay các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phảithu thành tiền mặt của doanh nghiệp và được xác định theo công thức:
Vòng quay các khoản phải thu =
Vòng quay các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoảnphải thu nhanh Điều này chứng tỏ tình hình về tài sản lưu động của doanhnghiệp là tốt vì doanh nghiệp không phải đầu tư nhiều vào các khoản phải thu,tức là không phải cấp tín dụng cho khách hàng Ngược lại, vòng quay cáckhoản phải thu càng nhỏ chứng tỏ trong kỳ một phần vốn của doanh nghiệp đã
bị khách hàng chiếm dụng
Kỳ thu tiền bình quân
Trang 19Kỳ thu tiền bình quân là chỉ tiêu phản ánh số ngày cần thiết để thu được cáckhoản phải thu Số ngày này chính là khoảng thời gian thu tiền bán hàng củadoanh nghiệp kể từ lúc xuất giao hàng cho đến khi thu được tiền bán hàng
Kỳ thu tiền bình quân được xác định theo công thức sau đây:
Kỳ thu tiền bình quân =
Kỳ thu tiền bình quân của doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào chính sáchtín dụng cũng như mục tiêu mở rộng thị trường của doanh nghiệp Do vậy, khixem xét đến chỉ tiêu này cần đặt trong mối liên hệ với sự tăng trưởng doanhthu của doanh nghiệp Nếu việc chấp nhận thời gian bán chịu dài hơn chokhách hàng làm tăng doanh số hàng bán ra, tăng doanh thu và từ đó gia tăng lợinhuận thì chứng tỏ chính sách bán chịu của doanh nghiệp là có hiệu quả.Ngược lại, nếu không tăng được doanh số bán ra, không tăng được doanh thuthì đó là biểu hiện xấu và như vậy rủi ro tài chính sẽ tăng lên Tuy nhiên, nhìnchung, doanh nghiệp không nên để kỳ thu tiền bình quân quá dài so với cácdoanh nghiệp khác trong ngành vì như vậy sẽ rất dễ dẫn đến tình trạng nợ khóđòi
Vòng quay vốn lưu động
Chỉ tiêu này phản ánh số lần luân chuyển vốn lưu động hay số vòng quaycủa vốn lưu động thực hiện được trong một thời kỳ nhất định (thường là mộtnăm)
Công thức xác định như sau:
Vòng quay vốn lưu động =
Chỉ tiêu này cho thấy một đồng vốn lưu động đầu tư trong kỳ sẽ tạo ra baonhiêu đồng doanh thu Như vậy, nếu trong kỳ, vốn lưu động quay vòng càngnhanh, tức là bình quân một đồng vốn lưu động bỏ ra sẽ tạo ra càng nhiềudoanh thu, thì điều đó chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanhnghiệp càng cao
Kỳ luân chuyển vốn lưu động
Trang 20Chỉ tiêu kỳ luân chuyển vốn lưu động phản ánh số ngày bình quân cần thiết
để vốn lưu động thực hiện một lần luân chuyển hay độ dài thời gian một vòngquay của vốn lưu động ở trong kỳ Công thức xác định chỉ tiêu này như sau:
Kỳ luân chuyển vốn lưu động =
Như vậy, kỳ luân chuyển vốn lưu động tỷ lệ nghịch với số vòng quay vốnlưu động Nếu doanh nghiệp phấn đấu rút ngắn kỳ luân chuyển vốn lưu độngthì sẽ làm tăng vòng quay vốn lưu động, từ đó nâng cao được hiệu suất sử dụngvốn lưu động của doanh nghiệp
Hiệu suất sử dụng vốn cố định và vốn dài hạn khác
Hiệu suất sử dụng vốn cố định và vốn dài hạn khác là chỉ tiêu đo lường hiệuquả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp Chỉ tiêu này được xác định nhưsau:
Hiệu suất sử dụng = VCĐ và vốn dài hạn khác
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn cố định và vốn dài hạn khác thamgia vào quá trình sản xuất kinh doanh thì sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thuthuần
1.3.1.3.4Các chỉ tiêu sinh lời
Đây là những chỉ số được các nhà quản trị quan tâm nhất bởi đó là thước đocăn bản để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, là kếtquả tổng hợp của hàng loạt các biện pháp và các quyết định quản lý doanh
Trang 21nghiệp Đồng thời, đó cũng là cơ sở quan trọng để các nhà quản trị doanhnghiệp đưa ra những dự đoán tài chính đúng đắn cho tương lai
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu hay hệ số lãi ròng
Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế và doanh thuthuần trong kỳ của doanh nghiệp Nó cho thấy trong một đồng doanh thu màdoanh nghiệp thực hiện trong kỳ có mấy đồng lợi nhuận sau thuế Tỷ suất lợinhuận sau thuế trên doanh thu được xác định theo công thức sau:
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế =
trên doanh thu (hệ số lãi ròng)
Thông thường, tỷ suất nói trên cao là tốt nhưng khi đánh giá cần so sánh với
tỷ suất của các doanh nghiệp trong cùng ngành cũng như bản thân doanhnghiệp đó trong các kỳ khác nhau để thấy được xu hướng tăng giảm của tỷ suấtlợi nhuận, từ đó đưa ra kết luận chính xác hơn
Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh hay tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (ROA E )
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản hay vốn kinh doanhkhông tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và nguồn gốc củavốn kinh doanh Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Tỷ suất sinh lời kinh =
tế của tài sản (ROA E )
Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản không chỉ có ý nghĩa để đánh giákhả năng sinh lời của đồng vốn đối với bản thân doanh nghiệp mà còn cho thấygiá trị mà doanh nghiệp đem lại cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng vốn kinh doanh trong kỳ có khả năng tạo rabao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trang trải lãi tiền vay và chưa tính đến ảnhhưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp Chỉ tiêu này được xác định theo côngthức sau:
Trang 22Tỷ suất lợi nhuận trước =
thuế trên vốn kinh doanh
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh hay tỷ suất sinh lời ròng của tài sản (ROA)
Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng vốn kinh doanh sử dụng trong kỳ tạo ra baonhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Công thức xác định chỉ tiêu này như sau:
Tỷ suất lợi nhuận sau =
thuế trên vốn kinh doanh
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh còn được xác định theophương pháp Dupont như sau:
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế = Tỷ suất lợi nhuận sau thuế x Vòng quay trên vốn kinh doanh (ROI) trên doanh thu toàn bộ vốn
Như vậy, cứ một đồng vốn tham gia vào quá trình kinh doanh tạo ra baonhiêu đồng lợi nhuận là do:
- Một đồng vốn tham gia vào quá trình kinh doanh thì tạo ra được mấyđồng doanh thu thuần
- Trong một đồng doanh thu thuần thì có mấy đồng lợi nhuận
Thông qua công thức trên, ta có thể thấy được tác động của hai yếu tố tỷsuất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu và hiệu suất sử dụng toàn bộ vốn đến tỷsuất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh Trên cơ sở đó, nhà quản lý doanhnghiệp đề ra các biện pháp thích hợp để tăng tỷ suất lợi nhuận sau thuế trênvốn kinh doanh
Trong hai chỉ tiêu: tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh và tỷsuất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh thì tỷ suất lợi nhuận sau thuế trênvốn kinh doanh được các nhà quản trị tài chính sử dụng nhiều hơn, bởi lẽ nóphản ánh số lợi nhuận còn lại (sau khi đã trả lãi vay ngân hàng và thực hiệnnghĩa vụ thuế với Nhà nước) được sinh ra do sử dụng bình quân một đồng vốnkinh doanh
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE)
Trang 23Mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận ròng cho các chủdoanh nghiệp Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu đánh giá mức độthực hiện mục tiêu này Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn chủ sở hữu đầu
tư thì mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu còn được xác định theo phươngpháp Dupont như sau:
Tỷ suất lợi nhuận = Tỷ suất lợi nhuận x Vòng quay toàn bộ vốn x Thừa số sau thuế VCSH sau thuế doanh thu VCSH Thừa số VCSH =
Như vậy, trong một đồng vốn chủ sở hữu bình quân mà chủ doanh nghiệp
bỏ ra sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận là do:
- Trong một đồng vốn kinh doanh bình quân có bao nhiêu đồng hìnhthành từ nợ vay
- Trong một đồng vốn kinh doanh bình quân tham gia vào quá trình kinhdoanh thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần
- Trong một đồng doanh thu bình quân có bao nhiêu đồng lợi nhuận sauthuế
1.3.2 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp là các cách thức, kỹ thuật đểđánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp ở quá khứ, hiện tại và dự đoántình hình tài chính của doanh nghiệp trong tương lai Để phân tích tài chínhdoanh nghiệp, chúng ta sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp khác nhau trong
hệ thống các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp Sau đây là một sốphương pháp chủ yếu được sử dụng phổ biến trong thực tế:
1.3.2.1 Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong phân tích kinh tế nóichung và trong phân tích tài chính nói riêng Khi sử dụng phương pháp này cầnđảm bảo những nội dung sau đây:
Về điều kiện so sánh:
- Phải đảm bảo tồn tại ít nhất hai đại lượng để so sánh
Trang 24- Các đại lượng phải đảm bảo tính chất so sánh được Đó là sự thống nhất
về nội dung kinh tế, phương pháp tính toán , thời gian và đơn vị đolường
Cách xác định gốc để so sánh:
Tùy thuộc vào mục đích phân tích cụ thể để xác định kỳ gốc so sánh Cụthể:
- Khi xác định xu hướng và tốc độ phát triển của chỉ tiêu phân tích thì gốc
so sánh được xác định là trị số của chỉ tiêu phân tích ở kỳ trước hoặchàng loạt kỳ trước (năm trước)
- Khi đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra thì gốc sosánh là trị số kế hoạch của chỉ tiêu phân tích
- Khi xác định vị trí của doanh nghiệp thì gốc so sánh được xác định là giátrị trung bình của ngành hay chỉ tiêu phân tích của đối thủ cạnh tranh
Kỹ thuật so sánh:
Thông thường, người ta sử dụng hai kỹ thuật so sánh cơ bản sau:
- So sánh về số tuyệt đối: là việc xác định số chênh lệch giữa giá trị củachỉ tiêu kỳ phân tích với giá trị của chỉ tiêu kỳ gốc Kết quả so sánh phảnánh sự biến động về số tuyệt đối của chỉ tiêu phân tích
- So sánh về số tương đối: là việc xác định tỷ lệ tăng (giảm) của chỉ tiêuphân tích giữa thực tế so với kỳ gốc Qua đó, đánh giá được tốc độ pháttriển hoặc kết cấu của chỉ tiêu này
Ngoài ra, người ta còn sử dụng kỹ thuật phân tích theo chiều dọc và kỹthuật phân tích theo chiều ngang Trong đó:
Kỹ thuật phân tích theo chiều dọc là việc xem xét xác định tỷ trọng củatừng chỉ tiêu trong tổng thể chung qua đó thấy được mức độ quan trọng củatừng chỉ tiêu trong tổng thể
Kỹ thuật phân tích theo chiều ngang là việc so sánh về lượng trên cùng mộtchỉ tiêu Thực chất, đây là việc áp dụng phương pháp so sánh cả về số tuyệt đối
và số tương đối với những thông tin thu thập được sau khi xử lý và thiết kếdưới dạng bảng
Trang 251.3.2.2 Phương pháp chi tiết
Thông thường, trong quá trình phân tích tài chính doanh nghiệp, người tathường chi tiết quá trình phát sinh và kết quả đạt được qua những chỉ tiêu kinh
tế theo những tiêu thức sau:
- Chi tiết theo yếu tố cấu thành: là việc chia nhỏ chỉ tiêu nghiên cứu thànhcác bộ phận cấu thành nên bản thân chỉ tiêu đó
- Chi tiết theo thời gian phát sinh: là việc chia nhỏ quá trình và kết quảkinh tế theo trình tự thời gian phát sinh và phát triển
- Chi tiết theo không gian phát sinh: là việc chia nhỏ quá trình và kết quảkinh tế theo địa điểm phát sinh và phát triển của chỉ tiêu nghiên cứu
1.3.2.3 Phương pháp tỷ lệ
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các hệ số tài chính thường đượcxác định bằng cách đem chia trực tiếp một chỉ tiêu này với một chỉ tiêu khác đểthấy được mức độ ảnh hưởng cụ thể của từng chỉ tiêu thành phần đến chỉ tiêucần phân tích Do đó, ngoài những phương pháp nêu trên, người ta còn sử dụngphương pháp tỷ lệ như một phương pháp có tính hiện thực cao trong việc phântích các hệ số tài chính doanh nghiệp Những tỷ lệ tài chính được phân thànhcác nhóm tỷ lệ đặc trưng phản ánh những nội dung cơ bản theo từng mục tiêuhoạt động của doanh nghiệp Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, tỷ
lệ về cơ cấu vốn, tỷ lệ về năng lực hoạt động và tỷ lệ về khả năng sinh lời
1.3.2.4 Phương pháp phân tích mối liên hệ tương tác giữa các hệ số tài
chính
Mức sinh lời của vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp là kết quả tổng hợpcủa hàng loạt các biện pháp và quyết định quản lý của doanh nghiệp Để thấyđược sự tác động của mối quan hệ giữa việc tổ chức sử dụng vốn và tổ chứctiêu thụ sản phẩm tới mức sinh lời của doanh nghiệp, người ta đã xây dựng hệthống các chỉ tiêu để phân tích sự tác động đó Dupont là công ty đầu tiên ở
Mỹ đã thiết lập và phân tích mối quan hệ tương tác giữa các hệ số tài chính.Phương pháp này có ý nghĩa thực tiễn rất cao
Những mối quan hệ chủ yếu được xem xét trong phương pháp Dupont là:
Trang 26- Mối quan hệ tương tác giữa tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinhdoanh với hiệu suất sử dụng toàn bộ vốn và tỷ suất lợi nhuận.
- Các mối quan hệ tương tác với tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
Ngoài những phương pháp cơ bản nêu trên, trong phân tích tài chính doanhnghiệp, người ta còn sử dụng một số phương pháp khác như: phương pháp biểu
đồ, đồ thị, phương pháp tương quan hồi quy, phương pháp quy hoạch quyếntính, phương pháp sử dụng mô hình kinh tế lượng
Như vậy, để đánh giá đúng đắn về tình hình tài chính của doanh nghiệp thìngoài việc xác định rõ mục tiêu và đối tượng phân tích, chúng ta còn phải biếtlựa chọn phương pháp phân tích phù hợp, kết hợp sử dụng nhiều phương pháp
để có thể đưa ra những kết luận phân tích đầy đủ và chính xác
1.4 Một số giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
huy động vốn
Tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp muốn thực hiện được thì đều đòihỏi phải có đủ vốn Do đó, các nhà quản trị tài chính cần xác định rõ nhu cầuvốn cần thiết cho từng hoạt động của doanh nghiệp trong cả ngắn hạn và dàihạn Tiếp đó, doanh nghiệp cần tổ chức huy động vốn đầy đủ, kịp thời và có lợinhất cho doanh nghiệp
Trên thực tế, doanh nghiệp có thể huy động vốn từ rất nhiều nguồn:
- Vay vốn từ các tổ chức tín dụng
- Vay vốn từ người thân, bạn bè
- Sử dụng tín dụng thương mại của nhà cung cấp
- Nhận góp vốn liên doanh, liên kết
- Xin cấp vốn từ ngân sách Nhà nước
- Phát hành cổ phiếu, trái phiếu
- Thuê tài sản (bao gồm: thuê vận hành và thuê tài chính)
Trang 27Để lựa chọn phương thức huy động vốn phù hợp, cần xem xét và căn cứvào:
- Hình thức pháp lý của doanh nghiệp
- Kết cấu nguồn vốn của doanh nghiệp
- Những điểm lợi và bất lợi của từng hình thức huy động vốn
- Chi phí cho việc huy động vốn
Sự thành công hay thất bại trong kinh doanh của doanh nghiệp một phầnlớn được quyết định bởi chính sách tài trợ hay huy động vốn của doanh nghiệp
đó Do vậy, tổ chức tốt công tác huy động vốn là tiền đề quan trọng để giúpdoanh nghiệp thành công trong kinh doanh
kinh doanh của doanh nghiệp
1.4.2.1 Bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định
Để bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định, doanh nghiệp có thể
sử dụng một số giải pháp sau:
Đánh giá, lựa chọn và thực hiện tốt các dự án đầu tư vào tài sản cố định.Khi đầu tư vào tài sản cố định, doanh nghiệp phải ứng ra một lượng vốn cốđịnh tương đối lớn Số vốn này chỉ được thu hồi giá trị dần dần từng phần một
Do đó, khi quyết định đầu tư vào tài sản cố định, cần đánh giá kỹ lưỡng tínhkhả thi của dự án, cân đối với năng lực sản xuất hiện có của doanh nghiệp đểtránh đầu tư sai lầm, gây lãng phí nguồn lực và làm giảm hiệu quả sản xuấtkinh doanh
Quản lý chặt chẽ và huy động tối đa tài sản cố định hiện có vào hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu suất sử dụng vốn kinhdoanh Cần lập hồ sơ, mở sổ theo dõi, quản lý đối với từng tài sản cố định,nhượng bán thanh lý những tài sản cố định không cần dùng, bị hỏng hoặc đãquá lạc hậu, phân định rõ trách nhiệm đối với người sử dụng, người quản lý tàisản cố định
Lựa chọn phương pháp khấu hao và mức khấu hao hợp lý, đảm bảo thu hồiđầy đủ vốn cố định Quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả quỹ khấu hao tàisản cố định
Trang 28Thực hiện tốt việc bảo dưỡng, sửa chữa tài sản cố định, tránh tình trạng tàisản cố định hỏng trước thời hạn sử dụng.
Chú trọng đổi mới, cải tiến tài sản cố định một cách kịp thời, thích hợp đểtăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
1.4.2.2 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Để quản trị vốn lưu động, cần phải quản lý một số khoản mục chủ yếu sau:
Quản trị vốn bằng tiền:
Để quản lý tốt vốn bằng tiền, trước tiên, doanh nghiệp cần xác định mức dựtrữ tiền mặt một cách hợp lý Điều này sẽ giúp doanh nghiệp đảm bảo khả năngthanh toán, nắm bắt kịp thời những cơ hội đầu tư tốt cũng như ứng phó đượcđối với các rủi ro bất thường
Kiểm soát chặt chẽ các khoản thu chi bằng tiền Doanh nghiệp cần xâydựng các nội quy, quy chế về quản lý các khoản thu chi bằng tiền, phân định rõtrách nhiệm trong việc quản lý tiền mặt giữa thủ quỹ và nhân viên kế toán tiềnmặt nhằm tránh tình trạng lạm dụng tiền mặt để mưu lợi cá nhân
Tất cả các khoản chi tiêu bằng tiền đều phải thông qua quỹ, không được chitiêu ngoài quỹ
Tăng quá trình thu tiền và làm chậm đi quá trình chi tiền, dự đoán được thờigian chi trả để tận dụng vốn bằng tiền dư thừa trong những khoảng thời giannhất định, thực hiện đầu tư ngắn hạn để gia tăng mức sinh lời của đồng vốn
Quản trị vốn tồn kho dự trữ:
Để quản trị tốt vốn tồn kho dự trữ, doanh nghiệp cần:
Xác định đúng lượng vật tư, hàng hóa cần dự trữ trong kỳ, tránh tình trạnggián đoạn kinh doanh do thiếu vật tư, hàng hóa
Lựa chọn mô hình quản lý hàng tồn kho phù hợp, từ nguồn cung cấp vật tư,hàng hóa đến khâu dự trữ, bảo quản hàng tồn kho
Thường xuyên theo dõi sự biến động của thị trường đầu vào, đưa ra những
dự đoán về diễn biến của thị trường này để kịp thời có biện pháp phòng ngừarủi ro như: trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, mua bảo hiểm hànghóa
Trang 29Nắm vững tình hình dự trữ hàng tồn kho, phát hiện kịp thời tình trạng ứđọng vật tư, hàng hóa để có biện pháp giải phóng vật tư bị ứ đọng.
Quản lý các khoản phải thu:
Để quản lý tốt các khoản phải thu, doanh nghiệp cần thực hiện các biệnpháp sau:
Căn cứ vào tình hình thực tế của doanh nghiệp, xây dựng chính sách tíndụng hợp lý, xác định rõ mức độ nợ phải thu
Phân tích khách hàng, xác định đối tượng bán chịu cũng như những điềukiện thanh toán cụ thể
Thường xuyên theo dõi các khoản nợ phải thu, thực hiện phân loại nợ Đônđốc khách hàng thanh toán nợ đúng hạn, thậm chí cần có những biện phápcứng rắn khi cần thiết để tránh tình trạng vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụnglớn, tình trạng nợ xấu, nợ khó đòi
Thực hiện các hình thức khuyến khích khách hàng thanh toán sớm như:giảm giá hàng bán, chiết khấu bán hàng
Trích lập dự phòng đối với các khoản nợ phải thu khó đòi phát sinh để thựchiện việc bảo toàn vốn
sinh lời của doanh nghiệp
1.4.3.1 Tăng cường công tác quản lý chi phí và hạ giá thành sản phẩm
Để tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm, doanh nghiệp cầnthực hiện một số biện pháp chủ yếu sau đây:
Cải tiến dây chuyền công nghệ, đầu tư đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, ứngdụng những thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Xây dựng hệ thống hạn mức chi phí phù hợp với điều kiện cụ thể của doanhnghiệp và đặc điểm chung của ngành nghề kinh doanh
Tích cực nghiên cứu thị trường đầu vào để tìm những nguồn nguyên liệuvừa rẻ, vừa đảm bảo chất lượng
Trang 30Nâng cao trình độ tổ chức sản xuất, năng lực quản lý và trình độ tay nghềcủa người lao động, hạn chế tối đa những thiệt hại, tổn thất trong quá trình sảnxuất kinh doanh.
Định kỳ tổ chức phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nhằmphát hiện ra những yếu kém trong công tác quản lý chi phí và giá thành sảnphẩm để từ đó có biện pháp khắc phục kịp thời
1.4.3.2 Đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm, gia tăng doanh thu
Một là, nâng cao chất lượng sản phẩm Đây là giải pháp mang tính chất
chiến lược và có ý nghĩa lâu dài đối với doanh nghiệp Chất lượng sản phẩm làmột trong những yếu tố quan trọng để nâng cao uy tín và thương hiệu củadoanh nghiệp Mà uy tín và thương hiệu là điều kiện quyết định đến sự thànhbại của doanh nghiệp trong cạnh tranh, từ đó đảm bảo cho doanh thu tiêu thụsản phẩm tăng lên
Hai là, xây dựng chính sách giá cả hợp lý, linh hoạt Giá bán ngoài việc bù
đắp chi phí còn phải bao hàm cả mức lợi nhuận mong muốn của doanh nghiệp.Tuy nhiên, trong từng giai đoạn nhất định, căn cứ vào điều kiện cụ thể củadoanh nghiệp cũng như diễn biến của thị trường đầu ra, các nhà quản trị doanhnghiệp cần xây dựng một chính sách giá cả phù hợp để vừa thu hút được kháchhàng song vẫn đảm bảo doanh nghiệp làm ăn có lãi
Ba là, theo dõi, bám sát thị trường đầu ra: nghiên cứu kỹ nhu cầu của thị
trường, phân tích diễn biến thị trường để đưa ra những định hướng phát triểnsản phẩm đúng đắn Đa dạng hóa sản phẩm tiêu thụ nhằm đáp ứng tối đa nhucầu của thị trường, tích cực mở rộng thị trường tiêu thụ
Bốn là, tổ chức tốt công tác bán hàng: tổ chức mạng lưới tiêu thụ rộng
khắp, đẩy mạnh công tác tiếp thị, quảng bá sản phẩm đến tất cả các đối tượngkhách hàng
Trên đây là một số giải pháp tài chính cơ bản nhằm góp phần nâng cao hiệuquả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, việc lựa chọn biện phápnào còn cần tùy thuộc vào tình hình tài chính cụ thể của doanh nghiệp Điềunày đòi hỏi nhà quản trị tài chính doanh nghiệp ngoài kiến thức nghề nghiệpcòn phải thật mềm dẻo, linh hoạt và nhạy bén với tình hình thực tế bởi lẽ quản
lý tài chính không chỉ là khoa học mà còn là nghệ thuật, “nghệ thuật quản lý”
Trang 31CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH CỦA
CÔNG TY TNHH CÔNG NGHIỆP QUANG MINH
1.1 Khái quát về Công ty TNHH Công nghiệp Quang Minh
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH
Công nghiệp Quang Minh
Công ty Công nghiệp Quang Minh là doanh nghiệp thuộc loại hình công tytrách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên Công ty được thành lập ngày03/07/2000 với ngành nghề chính là sản xuất và kinh doanh các mặt hàng kimkhí, giấy chứng nhận kinh doanh số: 0101000105
Là một pháp nhân kinh tế hoạt động theo các quy định của pháp luật có liênquan, công ty thực hiện hạch toán kinh doanh độc lập, tự chủ về tài chính, tựchịu trách nhiệm về các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Công ty cócon dấu riêng, có tài khoản tiền Việt Nam và ngoại tệ tại nhiều ngân hàngthương mại
Tên đầy đủ của công ty là: Công ty TNHH Công nghiệp Quang Minh
Tên giao dịch quốc tế là: Quang Minh Industrial Co, Ldt
Trụ sở chính: 53 Đức Giang, phường Đức Giang, quận Long Biên, TP HàNội
Khi mới bắt đầu đi vào hoạt động, số vốn điều lệ của công ty còn vô cùnghạn hẹp, chỉ dừng lại ở con số 1,4 tỷ đồng, cơ sở vật chất còn thiếu thốn vềnhiều mặt, quy mô kinh doanh còn rất nhỏ bé Hoạt động của công ty vẫn chỉđơn thuần là cung cấp các sản phẩm thép lá và thép cuộn cho thị trường nội địa
mà chủ yếu là thị trường miền Bắc
Tuy nhiên, trải qua nhiều năm phát triển, nhờ có sự nỗ lực không ngừng củađội ngũ lãnh đạo và toàn thể các cán bộ và công nhân của công ty mà công ty
đã vượt qua được những khó khăn ban đầu, không ngừng mở rộng quy mô vànâng cao hiệu quả hoạt động Số vốn điều lệ của công ty liên tục tăng nhanhqua năm lần thay đổi giấy phép kinh doanh
Cụ thể:
Trang 32Năm 2000, vốn điều lệ của công ty chỉ dừng lại ở 1.400.000.000 đồng.Đến năm 2003, vốn điều lệ của công ty tăng lên là: 4.200.000.000 đồng.Sang năm 2005, vốn điều lệ của công ty là: 5.400.000.000 đồng
Đến năm 2006, vốn điều lệ của công ty tăng lên là: 7.000.000.000 đồng
Và đến cuối năm 2007, vốn điều lệ của công ty đã tăng lên gấp đôi, đạt16.000.000.000 đồng
Bên cạnh đó, thị trường tiêu thụ của công ty ngày càng được mở rộng Nếunhư trong những năm đầu mới thành lập, thị trường tiêu thụ chỉ bó hẹp ở HàNội và một số tỉnh lân cận thì trong một vài năm gần đây, công ty đã mở rộngthị trường tiêu thụ sang các nước láng giềng như: Lào, Campuchia Đặc biệt,công ty còn liên doanh với nhà máy thép KhamHoung để thành lập nên Công
ty liên doanh thép Quang Minh – Vientiane tại Khu Công Nghiệp, LàngSaphakhanong, Huyện Saythany, Viênchăn, Lào Với công suất lên đến 12.000tấn/năm, công ty liên doanh thép Quang Minh – Vientiane không chỉ cung cấpcác sản phẩm thép hình cho thị trường Lào mà cung cấp cả cho thị trường miềnBắc Thái Lan, Myamar và Campuchia Sự ra đời của công ty liên doanh thépQuang Minh – Vientiane là một trong những thành công bước đầu của Công tyQuang Minh trong quá trình thâm nhập vào thị trường thép của Đông Nam Á Trong quá trình phát triển, công ty đã có một lần thay đổi trụ sở làm việc.Khi mới thành lập vào năm 2000, công ty đặt trụ sở tại 216, đường Âu Cơ,phường Quảng An, Tây Hồ, Hà Nội Đến năm 2005, nhận thấy Đức Giang làmột trong những khu công nghiệp có tiềm năng phát triển, công ty quyết địnhchuyển trụ sở làm việc từ Tây Hồ sang khu vực Long Biên Từ đó cho đến này,trụ trở làm việc của công ty vẫn được đặt tại khu vực Đức Giang, Long Biên.Mặc dù được thành lập chưa lâu, tuổi đời còn non trẻ so với nhiều doanhnghiệp trong cùng ngành song cho đến nay, sau hơn bảy năm đi vào hoạt động,Công ty Công nghiệp Quang Minh đã xây dựng được cho mình một cơ sở vậtchất kỹ thuật tương đối vững chắc, ngày càng khẳng định được uy tín với cácbạn hàng trong nước và quốc tế, thị trường tiêu thụ ngày càng được mở rộngvới doanh số lên đến hàng trăm tỷ đồng mỗi năm Những kết quả nêu trên đãphần nào chứng minh được hướng đi đúng đắn của công ty đồng thời khẳng
Trang 33định được vị thế và sự phát triển không ngừng của công ty trong điều kiện nềnkinh tế thị trường.
- Kinh doanh các mặt hàng tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng
- Nhập khẩu các mặt hàng thép (tấm, lá, U, I), phôi thép để phục vụ chohoạt động kinh doanh của công ty
- Sản xuất, nhận gia công các mặt hàng thép ống đen
Công ty hoạt động trên cả hai lĩnh vực: lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực kinhdoanh thương mại:
Đối với lĩnh vực sản xuất:
Có thể nói hoạt động sản xuất vẫn là hoạt động chính của công ty, chiếm tỷtrọng khoảng 70% doanh số toàn công ty
Mặt hàng sản xuất chủ yếu của nhà máy sản xuất thép ống Quang Minh cácsản phẩm thép hình (ống tròn, ống chữ nhật, ống vuông) với đường kính hoặckích cỡ tiết diện tương đương từ 12mm đến 114mm (đối với ống tròn), từ14mm đến 114mm (đối với ống vuông), từ 14mm x 20mm đến 60mm x120mm (đối với ống chữ nhật) Đây là mặt hàng có nhu cầu tiêu dùng ngàycàng tăng thay thế được nhiều mặt hàng mà từ trước vẫn quen dùng như: thépgóc, thép I, thép U So với một số mặt hàng thép khác thì thép ống vừa rẻ lạivừa có hình thái đẹp hơn Nhìn chung, các mặt hàng của công ty tương đối đadạng về chủng loại và phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của xã hội
Nguyên liệu chủ yếu cho quá trình sản xuất là thép lá cuộn, được nhập khẩu
từ các nước như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nam Phi, Nga và cácnước SNG, chiếm tỷ trọng 90 – 95% chi phí nguyên vật liệu Các nguyên liệuphụ chiếm từ 5% đến 10%
Trang 34Đối với lĩnh vực kinh doanh thương mại:
Bên cạnh hoạt động sản xuất, công ty còn thực hiện các hoạt động kinhdoanh thương mại Mặc dù hoạt động này chỉ chiếm tỷ trọng khoảng 30%doanh số toàn công ty song lại có tác dụng bổ trợ rất lớn cho hoạt động sảnxuất Những mặt hàng kinh doanh chủ yếu là nguyên vật liệu cho các côngđoạn sản xuất tiếp theo như: thép xây dựng, thép tấm lá, thép chữ U – I, thựchiện nhập khẩu trực tiếp hoặc ủy thác nhập khẩu Công ty còn là đơn vị nhậpkhẩu và phân phối các sản phẩm thép: phôi, thép tấm, lá thép chế tạo từ cácnước: Nga – SNG, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nam Phi, Trung Quốc
1.1.3 Tổ chức nhân sự và tổ chức bộ máy quản lý của công
ty
1.1.3.1 Tổ chức nhân sự của công ty
Hiện tại, công ty có 80 lao động, trong đó có 55 lao động trực tiếp và 25 laođộng gián tiếp Như vậy, số lao động trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn gấp đôi sovới số lao động gián tiếp Điều này là hoàn toàn hợp lý bởi Quang Minh là mộtcông ty hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp nặng, hơn nữa, đặc điểm sảnxuất kinh doanh của công ty lại theo quy trình công nghệ bán tự động nên đòihỏi số lượng lao động trực tiếp lớn Một trăm phần trăm cán bộ công nhân viêncủa công ty đều có trình độ văn hóa từ 12/12 trở lên Đội ngũ quản lý hầu hết
có trình độ đại học hoặc trên đại học, tỷ lệ công nhân được đào tạo chuyênngành chiếm tỷ trọng khá cao so với các doanh nghiệp trong cùng ngành
Cụ thể, trình độ nguồn nhân lực của công ty được thống kế qua bảng sau:
1.1.3.2 Tổ chức bộ máy quản lý của công ty
Bộ máy quản lý của Công ty Công nghiệp Quang Minh được tổ chức theo
mô hình trực tuyến chức năng Đứng đầu bộ máy quản lý là giám đốc và các
Trang 35phó giám đốc Tiếp đến là các phòng ban chức năng bao gồm: phòng kinhdoanh, phòng tài chính kế toán, phòng kỹ thuật và phòng tổ chức hành chính.Công ty có hai tổ sản xuất chính là tổ pha băng và tổ cuốn ống Ngoài ra, công
ty còn có thêm ba tổ phụ là: tổ điện, tổ cẩu và tổ cơ
Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty TNHH Công nghiệp Quang Minh nhưsau:
Giámđốc
Phòng
TC-Hành
chính
PhòngKinhdoanh
PhòngTài chính
Hội đồng thành viên:
Công ty Công nghiệp Quang Minh thuộc loại hình công ty trách nhiệm hữuhạn hai thành viên trở nên Do đó, hội đồng thành viên bao gồm tất cả cácthành viên là cơ quan quyết định cao nhất của công ty, có quyền trực tiếp racác quyết định về sản xuất và đầu tư cũng như quyết định về chiến lược pháttriển lâu dài đối với công ty
Trang 36Ban giám đốc:
Người đứng đầu bộ máy quản lý của công ty là giám đốc, giữ vai trò chỉđạo chung toàn bộ hoạt động của công ty Đồng thời giám đốc cũng là ngườiđại diện theo pháp luật của công ty, chịu trách nhiệm trước các cơ quan chứcnăng, các bạn hàng và toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty về hoạtđộng sản xuất kinh doanh của công ty
Giúp việc cho giám đốc là hai phó giám đốc: một phó giám đốc phụ tráchkinh doanh và một phó giám đốc phụ trách sản xuất
Hệ thống các phòng ban chức năng:
Các phòng ban chức năng trong doanh nghiệp được tổ chức theo yêu cầuquản lý sản xuất kinh doanh của Công ty và chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Bangiám đốc Hệ thống các phòng ban chức năng bao gồm:
- Phòng tổ chức hành chính: có nhiệm vụ tổ chức sắp xếp và quản lý lựclượng lao động của công ty Theo dõi, đảm bảo các chế độ có liên quanđến người lao động như: tiền lương, bảo hiểm xã hội và các chế độ chínhsách khác
- Phòng tài chính kế toán: thực hiện chức năng quản lý, chỉ đạo và tổ chứcthực hiện công tác tài chính kế toán trong công ty, đồng thời tham mưucho Ban giám đốc trong việc đưa ra các quy định, chiến lược kinhdoanh
- Phòng kinh doanh: có nhiệm vụ theo dõi thực tế hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp, nghiên cứu thị trường, tìm kiếm bạn hàng, hỗtrợ ban giám đốc trong việc ký kết các hợp đồng kinh tế với các đối táctrong và ngoài nước Ngoài ra, phòng kinh doanh còn có chức năng thammưu cho ban giám đốc trong việc xây dựng các kế hoạch sản xuất kinhdoanh và kế hoạch đầu tư hàng năm
- Phòng kỹ thuật: có chức năng chuyên kiểm tra, sửa chữa các loại máymóc thiết bị, đảm bảo yêu cầu về tình trạng kỹ thuật của tài sản cố địnhphục vụ cho sản xuất Bên cạnh đó, phòng kỹ thuật còn thực hiện nhiệm
Trang 37vụ kiểm tra các yêu cầu về chất lượng và mẫu mã của sản phẩm sau khihoàn thành
1.1.3.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán của công ty
Bộ máy kế toán của công ty được tổ chức theo hình thức kế toán tập trungbao gồm 6 nhân viên, trong đó có 1 kế toán trưởng, 4 kế toán viên và 1 thủquỹ
Kế toán trưởng làm nhiệm vụ theo dõi các loại tài khoản, điều hành hoạtđộng trong phòng kế toán, lập các bảng biểu và các báo cáo theo dõi tình hìnhtài chính của công ty để báo cáo lên cấp trên
Các kế toán viên chịu sự điều hành trực tiếp của kế toán trưởng, bao gồm:
- Kế toán tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, công nợ
- Kế toán vật tư hàng hóa
- Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương
- Kế toán chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm
Công ty áp dụng hình thức kế toán nhật ký chứng từ Đây là hình thức kếtoán phù hợp đối với những doanh nghiệp có quy mô vừa, đồng thời cũng làmột hình thức kế toán đơn giản, dễ kiểm tra, cung cấp số liệu, kịp thời đáp ứngđược yêu cầu quản lý của doanh nghiệp
Công ty thực hiện kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thườngxuyên, kế toán khấu hao tài sản cố định theo phương pháp đường thẳng, tínhkhấu hao theo QĐ 206 Công ty nộp thuế giá trị gia tăng theo phương phápkhấu trừ
Trang 38Quy trình sản xuất sản phẩm được thực hiện như sau:
Nguyên vật liệu chính của quy trình sản xuất sản phẩm là thép lá cuộn đượcnhập khẩu từ nước ngoài Thép lá cuộn sau được khi được nhập kho tôn cuộn(kho 1) sẽ được xuất dùng cho tổ pha băng Tổ pha băng thực hiện nhiệm vụcắt thép lá cuộn thành tép tôn bằng máy pha băng Khi cắt xong, cùng với téptôn mua ngoài được xuất từ kho tép tôn (kho 2) tất cả được cuốn ống thànhthành phẩm ở tổ cuốn ống Ngoài hai tổ chính trên, công ty còn có 3 tổ phụ là
tổ điện, tổ cẩu và tổ cơ làm hoàn thiện quy trình sản xuất kinh doanh của côngty
Sơ đồ quy trình sản xuất như sau:
Tổ pha băng Tổ cuốn ống
T«n cuén TÐp t«n ThÐp èng
Như vậy, có thể thấy quy trình sản xuất của Công ty tương đối đơn giản và
rõ ràng Nhờ đó, công tác quản lý hoạt động sản xuất trở nên thuận tiện hơn.Tuy nhiên, ngành sản xuất thép là ngành công nghiệp nặng , yêu cầu phải đượctrang bị đầy đủ máy móc trang thiết bị hiện đại Hơn nữa, nguồn nguyên liệuđầu vào của ngành thép có giá trị lớn Chính vì vậy, ngành sản xuất thép có chiphí đầu tư và chi phí cố định rất cao Mặt khác, ngành thép có chu kỳ sản xuấtkinh doanh tương đối dài nên nhu cầu vốn để dự trữ vật tư – bán thành phẩmtồn kho là tương đối lớn
Nhìn chung, dây truyền thiết bị công nghệ của Công ty Quang Minh tươngđối đảm bảo về an toàn lao động và chất lượng sản phẩm Hệ thống dây truyềnthiết bị bao gồm một dàn máy xả băng, một dàn máy cuốn ống và một dàn máy
để ép khuôn dạng và hàn các tép tôn sau khi cuốn ống thành các sản phẩm théphình
1.1.4.2 Các yếu tố đầu vào và thị trường các yếu tố đầu vào
Nguyên liệu đầu vào chủ yếu của qui trình sản xuất là thép lá cuộn, đượcnhập khẩu từ các nước: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nam Phi, Nga vàcác nước SNG, chiếm tỷ trọng 90 – 95 % chi phí nguyên vật liệu Các nguyênvật liệu khác chiếm từ 5- 10%
Trang 39Thị trường yếu tố đầu vào của Công ty Quang Minh trong một vài năm gầnđây có nhiều biến động Giá thép cuộn liên tục tăng cao Nguyên nhân chủ yếu
là do:
- Thứ nhất, nhu cầu thép ở hầu hết các khu vực trong nước tăng
- Thứ hai, nguồn cung về phôi thép cũng rất khan hiếm, vì thế nhiều nhàcung cấp đã tạm ngừng hoặc giảm xuất khẩu phôi thép
- Thứ ba, giá các chi phí đầu vào như dầu, than cốc, than mỡ, cước vậnchuyển cũng tăng cao
Những cơn sốt về giá nguyên liệu đầu vào trong thời gian vừa qua đã khiếncho công ty gặp phải không ít khó khăn Song do Công ty đã ký hợp đồng dàihạn với nhiều nhà cung cấp có uy tín và chất lượng, đồng thời thực hiện phântán rủi ro bằng cách mua hàng từ nhiều nguồn cung cấp nên vẫn đảm bảo có đủnguyên liệu đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất
1.1.4.3 Thị trường đầu ra và vị thế cạnh tranh của công ty
Thị trường tiêu thụ của công ty Quang Minh chủ yếu là thị trường trongnước với hệ thống phân phối rộng khắp ở cả ba miền Bắc – Trung – Nam Tuynhiên, thị trường chủ yếu của công ty vẫn là các đại lý phân phối thép ở cáctỉnh phía Bắc như Hà Nội, Thái Nguyên, Lạng Sơn Bên cạnh thị trường trongnước, công ty còn chủ động mở rộng sang các thị trường lân cận như: Lào,Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Myamar
Sản phẩm thép hình của công ty vừa rẻ lại vừa đẹp nên được sử dụng khárộng rãi trong nhiều ngành như: xây lắp, xây dựng, đóng tàu cũng như tiêudùng dân dụng Sản phẩm này đang ngày càng chiếm ưu thế và cạnh tranhđược với rất nhiều mặt hàng mà trước đây người dân vẫn quen dùng như thépgóc, thép I, thép U Với tốc độ phát triển kinh tế cao như hiện nay, hàng loạtcác khu công nghiệp và khu đô thị đang được triển khai xây dựng thì nhu cầu
về sản phẩm thép của công ty sẽ có xu hướng gia tăng, mở ra rất nhiều cơ hộiphát triển mới cho công ty
Tuy nhiên, ngành sản xuất sắt thép là ngành có mức độ cạnh tranh tươngđối cao, đặc biệt là cạnh tranh về giá Chính vì vậy, là một doanh nghiệp cóquy mô vừa, lại mới đi vào hoạt động, Quang Minh phải chịu không ít sức ép
từ các doanh nghiệp lớn Bên cạnh đó, công ty còn phải đối mặt với khá nhiều
Trang 40đối thủ cạnh tranh hoạt động trên cùng địa bàn như: Công ty cổ phần thép ViệtHưng, Công ty cổ phần thép Thăng Long, Công ty cổ phần thép NhậtViệt, Mặt khác, trong bối cảnh nền kinh tế đất nước đang hội nhập ngày càngsâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viênthứ 150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì những biến động trên thịtrường thế giới và khu vực lại càng ảnh hưởng mạnh mẽ hơn đến hoạt độngcủa mỗi doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp có hoạt động xuất nhậpkhẩu như Công ty Quang Minh Do đó, để có thể đứng vững và chiến thắngtrong cạnh tranh, Công ty Quang Minh đang từng bước cải tiến mẫu mã vànâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh doanh, dần dần xâydựng uy tín và thương hiệu đối với người tiêu dùng trong cả nước.
1.2 Tổng quan về tình hình hoạt động của Công ty TNHH Công nghiệp Quang Minh
1.2.1 Thuận lợi
Trước hết, Công ty Quang Minh có vị trí kinh doanh tương đối thuận lợi.
Trụ sở chính của công ty được đặt tại 53, Đức Giang, Long Biên, Hà Nội Đây
là khu vực có tốc độ đô thị hóa cao, nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm thép làtương đối lớn Hơn nữa, nhà kho và xưởng sản xuất của công ty nằm ngay trêntrục đường chính, rất thuận lợi cho việc vận chuyển sản phẩm đến từng kháchhàng và đại lý phân phối
Hai là, công ty đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ nhân viên năng động,
nhiệt tình, có chuyên môn và nhạy bén với thực tế thị trường Số lượng nguồnnhân lực có trình độ cao đẳng và đại học chiếm tới 63% tổng số lao động, cáccán bộ quản lý của công ty đều có nhiều năm kinh nghiệm Chất lượng nguồnlao động tốt là một trong những động lực quan trọng góp phần thúc đẩy hiệuquả sản xuất kinh doanh của công ty
Ba là, hiện nay, trong bối cảnh nền kinh tế đất nước đang trên đà tăng
trưởng với tốc độ chóng mặt, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nướcdiễn ra nhanh chóng trên diện rộng thì nhu cầu về thép phục vụ cho ngànhcông nghiệp và xây dựng có xu hướng tăng cao Đây là một tín hiệu tốt chothấy thị trường đầu ra của công ty là tương đối khả quan Bên cạnh đó, banlãnh đạo công ty đã tìm ra được hướng đi đúng đắn cho công ty, đó là tiếp cận