1. Lý do chọn đề tài Triết học vốn là một ngành khoa học giữ vai trò là nền tảng lý luận, định hướng về mặt thế giới quan và phương pháp luận cho nhiều ngành khoa học cụ thể. Điều đó có nghĩa rằng triết học không đi sâu giải quyết các vấn đề khoa học cụ thể, mà đi sâu giải quyết các vấn đề thuộc về lý luận nhận thức mang tính phổ quát. Phát triển song hành cùng các khoa học cụ thể, triết học đã vạch ra lôgíc của các quá trình nhận thức, trở thành phương pháp luận của nhận thức khoa học ngay từ khi mới ra đời mặc dù chỉ là những tư tưởng còn mang nặng tính trực quan, cảm tính. Triết học Trung Quốc cổ đại với những thành tựu đáng kể cũng đã định hướng cho sự phát triển của nhiều ngành khoa học khác nhau, trong đó chịu ảnh hưởng nhiều nhất, trực tiếp nhất có thể nói đến là Đông y hay Y học cổ truyền. Đông y học có sự gắn bó mật thiết với sự phát triển của các tư tưởng Triết học Trung Quốc thời kỳ cổ đại, mối quan hệ này được biểu hiện ngay từ trong quá trình hình thành nên những học thuyết cơ bản đầu tiên của Đông y, trong đó triết học giữ vai trò là nền tảng về mặt lý luận, định hướng cho quá trình nghiên cứu các vấn đề quan trọng của lý luận Đông y như: phương pháp dưỡng sinh; biện chứng luận trị; phương pháp trị bệnh theo thời; … Mối quan hệ giữa triết học với Đông y với tư cách là một ngành khoa học tự nhiên độc lập có thể được lý giải như sau: Khoa học tự nhiên có liên quan đến hệ thống tri thức lý luận của quy luật vận động vật chất. Triết học có liên quan đến học thuyết của thế giới quan, hệ thống quan điểm căn bản của con người đối với chỉnh thể tự nhiên giới. Sự phát triển và hình thành của bất cứ một môn khoa học tự nhiên nào cũng không rời khỏi triết học, mà Đông y học lại thuộc phạm trù khoa học tự nhiên, nên hệ thống lý luận trước sau vẫn không tách rời khỏi triết học cổ đại. Đông y học vận dụng phạm trù khái niệm của triết học để quan sát sự vật, nhờ đó làm sáng tỏ được các vấn đề, đồng thời quán xuyến tất cả các phương diện hệ thống lý luận Đông y, khiến cho hệ thống này trở thành một bộ phận quan trọng của hệ thống lý luận Đông y. Các khái niệm và phạm trù này, thông qua thực tiễn chẩn đoán trị liệu lâm sàng mà có được sự tìm tòi, nghiệm chứng và đào sâu, từ đó làm cho phong phú và phát triển thêm lý luận triết học cổ đại. Như vậy, sự hình thành và phát triển của Đông y, về mặt lý luận, gắn liền với sự tồn tại và phát triển các học thuyết triết học cơ bản của Triết học Trung Quốc thời kỳ cổ đại như: tư tưởng thiên nhân hợp nhất; học thuyết Âm dương – Ngũ hành; học thuyết về Khí; một số nội dung triết học được thể hiện trong Chu dịch;… Đây là những tư tưởng triết học xuất hiện từ rất sớm với nội dung phong phú, chứa đựng tư tưởng biện chứng sâu sắc trong quan niệm cũng như sự đánh giá về mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan, điều này ảnh hưởng rất lớn đối với sự hình thành lý luận Đông y với tư cách là một ngành khoa học nghiên cứu về con người ở phương diện điều trị bệnh tật và chăm sóc sức khỏe. Trên thực tế hiện nay, việc kết hợp điều trị bệnh học giữa Tây y hiện đại với Đông y đã và đang mang lại hiệu quả tương đối rõ rệt, do đó sự kết hợp này đã trở thành mục tiêu hướng đến trong chính sách y tế của Đảng và Nhà nước ta. Tuy nhiên, cũng có một thực tế không thể tránh khỏi đang diễn ra ở nước ta từ khi xuất hiện Đông y cho đến nay chính là sự hiểu biết chưa đầy đủ, hoặc hiểu sai lệch về Đông y. Có nhiều người cho rằng, việc chữa bệnh theo Đông y chỉ đơn giản là kinh nghiệm dân gian được tích lũy, hoặc đó chỉ là những bài thuốc đơn giản từ những loài thảo dược dân gian. Hơn thế nữa, có nhiều thầy thuốc chữa bệnh theo Đông y cũng chưa thực sự hiểu biết đúng đắn về lĩnh vực này với tư cách là một ngành khoa học, dẫn đến những sai lầm không đáng có trong việc xác định nguyên nhân cũng như phương pháp điều trị bệnh. Điều này không chỉ hạn chế sự phát triển của Đông y mà còn mang lại những tác hại rất lớn đối với sức khỏe của con người. Vấn đề đặt ra lúc này là cần phải có những cơ sở xác thực rằng Đông y không đơn giản chỉ là một phương pháp chữa bệnh dân gian mà hơn thế, nó đã trở thành một ngành khoa học có vị trí không nhỏ trong hệ thống các ngành khoa học cụ thể nói chung và trong lĩnh vực Y học nói riêng. Một ngành khoa học sẽ không được thừa nhận nếu như không có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn chặt chẽ, xác thực. Chính vì vậy, để có thể giải quyết được vấn đề đã nêu trên đối với Đông y thì việc đi tìm cái cơ sở lý luận đầu tiên hình thành nên hệ thống lý luận Đông y là một việc làm cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt ra. Từ đó, góp phần mang lại sự hiểu biết đúng đắn về Đông y, duy trì và phát huy những giá trị tích cực vốn có của ngành khoa học này trong công tác chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe, đồng thời cũng chứng minh và làm rõ ý nghĩa ứng dụng của triết học trong các lĩnh vực nghiên cứu cụ thể. Khi bàn về sự ảnh hưởng của các tư tưởng Triết học Trung Quốc cổ đại đối với sự hình thành và phát triển lý luận Đông y đã có rất nhiều tác phẩm và những công trình khác nhau, trong đó nổi bật lên là tác phẩm Hoàng Đế nội kinh – một trong “Tứ đại kỳ thư” của nền văn hóa phương Đông. Hoàng Đế nội kinh được coi là nền tảng của toàn bộ lý luận Đông y, tác phẩm là kết quả của sự vận dụng một cách nhuần nhuyễn các tư tưởng cơ bản như: học thuyết Âm dương Ngũ hành, học thuyết về Khí, tư tưởng Thiên nhân hợp nhất vào việc xác định nguyên nhân gây bệnh, cách phòng và chữa bệnh sao cho phù hợp với sự sinh hóa của trời đất từ đó góp phần lý giải về nguồn gốc hình thành nên lý luận cơ bản của Đông y học. Những giá trị mà Hoàng Đế nội kinh mang lại cho Y học đến nay vẫn còn giữ nguyên, đồng thời đang được củng cố và tiếp tục vận dụng phát triển ở mức độ cao hơn, phù hợp hơn với mục tiêu mà xã hội hiện đại đặt ra đối với vấn đề sức khỏe con người. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết đến Hoàng Đế nội kinh, cũng như những nội dung, giá trị mà tác phẩm mang lại và hầu như các công trình nghiên cứu về tác phẩm này ở góc độ triết học còn rất hạn chế. Vì vậy, việc nghiên cứu và tìm hiểu những tư tưởng y học cơ bản được thể hiện ở Hoàng Đế nội kinh trong mối quan hệ với các học thuyết triết học từ đó góp phần làm rõ cơ sở triết học của Đông y, đồng thời khẳng định những giá trị thiết thực mà Hoàng Đế nội kinh mang lại cho Y học hiện đại đã trở thành một vấn đề mang tính thời sự, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi vấn đề sức khỏe của con người đang được quan tâm hàng đầu. Xuất phát từ những lý do trên đây chúng tôi chọn vấn đề Cơ sở Triết học của Đông y qua nghiên cứu tác phẩm Hoàng Đế nội kinh làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
- -NGUYỄN THỊ PHƯỢNG
CƠ SỞ TRIẾT HỌC CỦA ĐÔNG Y QUA NGHIÊN CỨU
TÁC PHẨM HOÀNG ĐẾ NỘI KINH
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Quỳnh
HÀ NỘI - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi với
sự hướng dẫn khoa học của TS Phạm Quỳnh.
Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học dựa trên những kết quả thu thập được từ các tư liệu và các tài liệu tham khảo có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, tháng 9 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Phượng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn, cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn khoa học TS Phạm Quỳnh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ để luận văn có thể hoàn thành.
Đồng thời, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn tới Ban chủ nhiệm khoa Triết học, các thầy cô giáo trong khoa Triết học – trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, tác giả xin được gửi lời cảm ơn tới bạn bè, gia đình đã luôn động viên, giúp đỡ tác giả hoàn thành khóa học.
Hà Nội, tháng 9 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Phượng
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Lịch sử nghiên cứu 4
3.Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 7
4.Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn 7
5.Phương pháp nghiên cứu 8
6.Kết cấu của luận văn 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1 KHÁI LUẬN VỀ MỘT SỐ TRƯỜNG PHÁI TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VÀ TÁC PHẨM HOÀNG ĐẾ NỘI KINH 9
1.1 Một số trường phái triết học Trung Quốc cổ đại có ảnh hưởng trực tiếp đối với sự hình thành lý luận Đông y 9
1.1.1 Âm dương gia 9
1.1.2 Nho gia 19
1.1.3.Đạo gia 28
1.2.Khái luận về tác phẩm Hoàng Đế nội kinh 37
1.2.1.Hoàn cảnh ra đời 37
1.2.2.Vị trí của tác phẩm Hoàng Đế nội kinh trong Đông y học 41
1.2.3 Nội dung cơ bản và cấu trúc tác phẩm 43
Kết luận chương 1 50
CHƯƠNG 2 NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC LÀM NỀN TẢNG TRONG TÁC PHẨM HOÀNG ĐẾ NỘI KINH 51
2.1 Tư tưởng Thiên nhân hợp nhất 51
2.1.1 Tư tưởng Thiên nhân hợp nhất xác lập mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên 51
2.1.2 Tư tưởng Thiên nhân hợp nhất đối với phương pháp dưỡng sinh, phòng bệnh trong Đông y 57
Trang 52.2 Học thuyết Âm dương – Ngũ hành 65
2.2.1 Học thuyết Âm dương – Ngũ hành với quan niệm về nhân thể 65
2.2.2 Học thuyết Âm dương – Ngũ hành với việc xác định triệu chứng, nguyên nhân gây bệnh và phương pháp điều trị 71
2.2.2.1 Triệu chứng và nguyên nhân gây bệnh 71
2.2.2.2 Thuyết Âm dương – Ngũ hành trong xác định phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh 76
2.3 Học thuyết về Khí 85
2.3.1 Khí hoá – quá trình trao đổi chất giữa cơ thể và môi trường 85
2.3.2 Ngũ vận lục khí và phương pháp trị bệnh theo thời 89
2.4 Một số phương pháp tư duy điển hình trong Hoàng Đế Nội Kinh 97
2.4.1 Phương pháp tư duy tượng, số 98
2.4.2 Phương pháp tư duy trực giác 105
2.4.3 Phương pháp tư duy chỉnh thể hệ thống 109
Kết luận chương 2 113
KẾT LUẬN 114
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Triết học vốn là một ngành khoa học giữ vai trò là nền tảng lý luận, địnhhướng về mặt thế giới quan và phương pháp luận cho nhiều ngành khoa học cụ thể.Điều đó có nghĩa rằng triết học không đi sâu giải quyết các vấn đề khoa học cụ thể,
mà đi sâu giải quyết các vấn đề thuộc về lý luận nhận thức mang tính phổ quát Pháttriển song hành cùng các khoa học cụ thể, triết học đã vạch ra lôgíc của các quátrình nhận thức, trở thành phương pháp luận của nhận thức khoa học ngay từ khimới ra đời mặc dù chỉ là những tư tưởng còn mang nặng tính trực quan, cảm tính.Triết học Trung Quốc cổ đại với những thành tựu đáng kể cũng đã định hướng cho
sự phát triển của nhiều ngành khoa học khác nhau, trong đó chịu ảnh hưởng nhiềunhất, trực tiếp nhất có thể nói đến là Đông y hay Y học cổ truyền
Đông y học có sự gắn bó mật thiết với sự phát triển của các tư tưởng Triếthọc Trung Quốc thời kỳ cổ đại, mối quan hệ này được biểu hiện ngay từ trong quátrình hình thành nên những học thuyết cơ bản đầu tiên của Đông y, trong đó triếthọc giữ vai trò là nền tảng về mặt lý luận, định hướng cho quá trình nghiên cứu cácvấn đề quan trọng của lý luận Đông y như: phương pháp dưỡng sinh; biện chứngluận trị; phương pháp trị bệnh theo thời; … Mối quan hệ giữa triết học với Đông yvới tư cách là một ngành khoa học tự nhiên độc lập có thể được lý giải như sau:Khoa học tự nhiên có liên quan đến hệ thống tri thức lý luận của quy luật vận độngvật chất Triết học có liên quan đến học thuyết của thế giới quan, hệ thống quanđiểm căn bản của con người đối với chỉnh thể tự nhiên giới Sự phát triển và hìnhthành của bất cứ một môn khoa học tự nhiên nào cũng không rời khỏi triết học, màĐông y học lại thuộc phạm trù khoa học tự nhiên, nên hệ thống lý luận trước sauvẫn không tách rời khỏi triết học cổ đại Đông y học vận dụng phạm trù khái niệmcủa triết học để quan sát sự vật, nhờ đó làm sáng tỏ được các vấn đề, đồng thời quánxuyến tất cả các phương diện hệ thống lý luận Đông y, khiến cho hệ thống này trởthành một bộ phận quan trọng của hệ thống lý luận Đông y Các khái niệm và phạmtrù này, thông qua thực tiễn chẩn đoán trị liệu lâm sàng mà có được sự tìm tòi,
Trang 7nghiệm chứng và đào sâu, từ đó làm cho phong phú và phát triển thêm lý luận triếthọc cổ đại Như vậy, sự hình thành và phát triển của Đông y, về mặt lý luận, gắnliền với sự tồn tại và phát triển các học thuyết triết học cơ bản của Triết học TrungQuốc thời kỳ cổ đại như: tư tưởng thiên nhân hợp nhất; học thuyết Âm dương –
Ngũ hành; học thuyết về Khí; một số nội dung triết học được thể hiện trong Chu
dịch;… Đây là những tư tưởng triết học xuất hiện từ rất sớm với nội dung phong
phú, chứa đựng tư tưởng biện chứng sâu sắc trong quan niệm cũng như sự đánh giá
về mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan, điều này ảnh hưởng rất lớnđối với sự hình thành lý luận Đông y với tư cách là một ngành khoa học nghiên cứu
về con người ở phương diện điều trị bệnh tật và chăm sóc sức khỏe
Trên thực tế hiện nay, việc kết hợp điều trị bệnh học giữa Tây y hiện đại vớiĐông y đã và đang mang lại hiệu quả tương đối rõ rệt, do đó sự kết hợp này đã trởthành mục tiêu hướng đến trong chính sách y tế của Đảng và Nhà nước ta Tuynhiên, cũng có một thực tế không thể tránh khỏi đang diễn ra ở nước ta từ khi xuấthiện Đông y cho đến nay chính là sự hiểu biết chưa đầy đủ, hoặc hiểu sai lệch vềĐông y Có nhiều người cho rằng, việc chữa bệnh theo Đông y chỉ đơn giản là kinhnghiệm dân gian được tích lũy, hoặc đó chỉ là những bài thuốc đơn giản từ nhữngloài thảo dược dân gian Hơn thế nữa, có nhiều thầy thuốc chữa bệnh theo Đông ycũng chưa thực sự hiểu biết đúng đắn về lĩnh vực này với tư cách là một ngành khoahọc, dẫn đến những sai lầm không đáng có trong việc xác định nguyên nhân cũngnhư phương pháp điều trị bệnh Điều này không chỉ hạn chế sự phát triển của Đông
y mà còn mang lại những tác hại rất lớn đối với sức khỏe của con người Vấn đề đặt
ra lúc này là cần phải có những cơ sở xác thực rằng Đông y không đơn giản chỉ làmột phương pháp chữa bệnh dân gian mà hơn thế, nó đã trở thành một ngành khoahọc có vị trí không nhỏ trong hệ thống các ngành khoa học cụ thể nói chung vàtrong lĩnh vực Y học nói riêng Một ngành khoa học sẽ không được thừa nhận nếunhư không có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn chặt chẽ, xác thực Chính vì vậy,
để có thể giải quyết được vấn đề đã nêu trên đối với Đông y thì việc đi tìm cái cơ sở
lý luận đầu tiên hình thành nên hệ thống lý luận Đông y là một việc làm cần thiết
Trang 8nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt ra Từ đó, góp phần mang lại sự hiểu biết đúngđắn về Đông y, duy trì và phát huy những giá trị tích cực vốn có của ngành khoahọc này trong công tác chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe, đồng thời cũng chứngminh và làm rõ ý nghĩa ứng dụng của triết học trong các lĩnh vực nghiên cứu cụ thể.
Khi bàn về sự ảnh hưởng của các tư tưởng Triết học Trung Quốc cổ đại đốivới sự hình thành và phát triển lý luận Đông y đã có rất nhiều tác phẩm và những
công trình khác nhau, trong đó nổi bật lên là tác phẩm Hoàng Đế nội kinh – một trong “Tứ đại kỳ thư” của nền văn hóa phương Đông Hoàng Đế nội kinh được coi
là nền tảng của toàn bộ lý luận Đông y, tác phẩm là kết quả của sự vận dụng mộtcách nhuần nhuyễn các tư tưởng cơ bản như: học thuyết Âm dương - Ngũ hành, họcthuyết về Khí, tư tưởng Thiên nhân hợp nhất vào việc xác định nguyên nhân gâybệnh, cách phòng và chữa bệnh sao cho phù hợp với sự sinh hóa của trời đất từ đógóp phần lý giải về nguồn gốc hình thành nên lý luận cơ bản của Đông y học
Những giá trị mà Hoàng Đế nội kinh mang lại cho Y học đến nay vẫn còn giữ
nguyên, đồng thời đang được củng cố và tiếp tục vận dụng phát triển ở mức độ caohơn, phù hợp hơn với mục tiêu mà xã hội hiện đại đặt ra đối với vấn đề sức khỏecon người
Tuy nhiên, không phải ai cũng biết đến Hoàng Đế nội kinh, cũng như những nội dung, giá trị mà tác phẩm mang lại và hầu như các công trình nghiên cứu về tác
phẩm này ở góc độ triết học còn rất hạn chế Vì vậy, việc nghiên cứu và tìm hiểu
những tư tưởng y học cơ bản được thể hiện ở Hoàng Đế nội kinh trong mối quan hệ
với các học thuyết triết học từ đó góp phần làm rõ cơ sở triết học của Đông y, đồng
thời khẳng định những giá trị thiết thực mà Hoàng Đế nội kinh mang lại cho Y học
hiện đại đã trở thành một vấn đề mang tính thời sự, nhất là trong giai đoạn hiện nay,khi vấn đề sức khỏe của con người đang được quan tâm hàng đầu
Xuất phát từ những lý do trên đây chúng tôi chọn vấn đề Cơ sở Triết học của
Đông y qua nghiên cứu tác phẩm Hoàng Đế nội kinh làm đề tài nghiên cứu cho luận
văn của mình
Trang 92 Lịch sử nghiên cứu
Cho đến nay, khi nói về sự ảnh hưởng cũng như vai trò của Triết học TrungQuốc thời kỳ cổ đại trong các lĩnh vực của đời sống xã hội hay đối với các ngànhkhoa học cụ thể đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, từ các công trình như đề tàinghiên khoa học, các công trình chuyên khảo đến các đề tài luận án tiến sĩ, luận vănthạc sĩ hay các bài đăng trên các tạp chí chuyên ngành Liên quan đến một số vấn đề
lý luận của Đông y học từ đó góp phần làm rõ cơ sở triết học của những lý luận ấy đã
có không ít công trình nghiên cứu mang lại ý nghĩa to lớn cả trong nhận thức và hoạtđộng thực tiễn Kể đến các công trình đã đã được công bố có liên quan đến vấn đềnghiên cứu mà luận văn đang hướng đến có thể chia làm các nhóm như sau:
Nhóm thứ nhất các công trình nghiên cứu về những tư tưởng cơ bản của Triết
học Trung Quốc cổ đại với tư cách là những học thuyết triết học đầu tiên, chứađựng trong đó nội dung triết lý sâu sắc và có ảnh hưởng to lớn đối với sự tồn tại,phát triển của lịch sử Triết học nói chung và Triết học phương Đông nói riêng Nói
về triết học Trung Quốc, đặc biệt là triết học Trung Quốc thời kỳ cổ đại cho đến nay
đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, trong đó có thể kể đến các tác phẩm như:
Doãn Chính (chủ biên - 2009), Đại cương lịch sử Triết học Trung Quốc; Phùng Hữu Lan (2006), Lịch sử Triết học Trung Quốc, do Lê Anh Minh dịch; Trương Lập Văn (2000), Khí - Triết học phương Đông; Giản Chi/Nguyễn Hiến Lê (1992), Đại
cương Triết học Trung Quốc,… đã trình bày tương đối khái quát và đầy đủ những
nội dung cơ bản của hầu hết các tư tưởng Triết học Trung Quốc thời kỳ cổ đại.Trong công trình của mình các tác giả đã trình bày được một cách rõ ràng về nộidung cũng như nguồn gốc của những tư tưởng triết học đầu tiên giữ vai trò làm cơ
sở của thế giới quan duy vật và phép biện chứng cho sự phát triển của triết học cũngnhư các ngành khoa học cụ thể sau này như: Học thuyết Âm dương – Ngũ hành củatrường phái Âm dương gia; học thuyết về Đạo của Lão Tử; tư tưởng Thiên nhânhợp nhất của Nho gia Ngoài ra còn có các công trình ứng dụng cụ thể như: Nguyễn
Hữu Lương (1971) Kinh dịch với vũ trụ quan phương Đông; Hoàng Tuấn (2009),
Trang 10Nguyên lý chọn ngày theo lịch Can chi; Lê Văn Quán (1995), Chu dịch vũ trụ quan;
Nguyễn Đình Phủ với các công trình: Tìm hiểu và ứng dụng triết lý Âm dương và
Tìm hiểu và ứng dụng học thuyết Ngũ hành,… Ở các công trình này các tác giả đã
trình bày một cách có hệ thống các nguyên lý triết học được thể hiện trong Chu dịch
cũng như vai trò của những nguyên lý ấy trong các lĩnh vực nghiên cứu cụ thể manglại ý nghĩa thực tiễn to lớn, từ đó cho thấy ảnh hưởng sâu rộng và trường tồn củaTriết học Trung Hoa cổ đại
Nhóm thứ hai, các công trình nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các tư tưởng
triết học Trung Quốc thời kỳ cổ đại đối với sự hình thành lý luận cơ bản của Đông y.Đầu tiên có thể kể đến các công trình nghiên cứu trực tiếp về vấn đề này như:
Nguyễn Tài Thu và Vũ Xuân Quang (1963), Một số đặc điểm cơ bản về lý luận Đông
y; Nguyễn Trung Hòa (2000), Đông y toàn tập; Bành Văn Khừu và Đặng Quốc
Khánh (2002), Những học thuyết cơ bản của Đông y; Hoàng Bảo Châu (2009), Lý
luận cơ bản y học cổ truyền; … Trong các công trình này về cơ bản các tác giả đã
trình một cách khái quát về các học thuyết triết học cơ bản có ảnh hưởng trực tiếp đốivới sự hình thành lý luận Đông y, đồng thời cũng chỉ ra và phân tích sự vận dụng củanhững học thuyết ấy vào trong quá trình xác định nguyên nhân gây bệnh, phương
pháp chẩn đoán và điều trị bệnh Ví dụ như trong cuốn Những học thuyết cơ bản của
y học cổ truyền, các tác giả đã chỉ ra được cơ sở triết học của Đông y thông qua việc
phân tích các học thuyết triết học ảnh hưởng trực tiếp đến Đông y một cách logic khi
đi từ nguồn gốc, nội dung học thuyết đến sự vận dụng những học thuyết ấy vào Đông
y Ngoài ra còn có tác phẩm Nội Kinh của GS Trần Thúy (2001) đã trình bày các vấn
đề cơ bản được đề cập đến trong tác phẩm Hoàng Đế nội kinh như: Phép dưỡng sinh,
sự vận dụng học thuyết Âm dương - Ngũ hành, học thuyết tạng tượng, học thuyếtkinh lạc, … trong việc xác định bệnh chứng, chẩn đoán học, phép tắc trị liệu,
Ngoài các công trình chuyên khảo nêu trên còn có một số luận án tiến sĩ vàluận văn thạc sĩ cũng nghiên cứu về một số vấn đề liên quan đến luận văn
Luận án tiến sĩ triết học: “Bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh” với sự vận dụng
những tư tưởng Triết học Trung Quốc thời cổ của tác giả Trần Văn Thụy (1996) và
Trang 11Thuyết âm dương – ngũ hành với tác phẩm “Hoàng Đế nội kinh” và “Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh” của tác giả Trần Thị Huyền (2002) Đây là hai công trình nổi bật nhất,
trình bày một cách có hệ thống những nội dung cơ bản về quá trình hình thành, pháttriển của học thuyết Âm dương – Ngũ hành cũng như sự vận dụng những nội dung ấyvào Đông y thể hiện trong những trước tác kinh điển của Đông y
Nhóm thứ ba, một số bài tạp chí có nội dung liên quan đến luận văn Nguyễn
Đức Sự với Cơ sở Triết học của bộ Lãn Ông tâm lĩnh và hiện thực lịch sử nước ta thế
kỷ XVIII (Tạp chí Triết học số 1 – 1974) và Bước đầu tìm hiểu y lý của Hải Thượng Lãn Ông qua tập: “Ngoại cảm thông trị” (Tạp chí Đông y, số 110 – 111,1970); Trần
Sĩ Nghi với Học thuyết thủy hỏa của Đại y tôn Hải Thượng Lãn Ông (Tạp chí Đông
y, số 1, 1971); Nguyễn Văn Thọ với Quan niệm về thận của Hải Thượng Lãn Ông
đối chiếu với Tây y (Tạp chí Đông y, số 17, 1952); Trần Thị Huyền với Những biểu hiện của học thuyết Âm dương – Ngũ hành trong lý luận kinh điển của y học cổ truyền Trung Quốc và Việt Nam (Tạp chí Triết học, số 5, năm 1997, tr 41 - 44).
Nhìn chung, hầu hết các công trình kể trên đã trình bày tương đối rõ ràng sựảnh hưởng của các học thuyết triết học Trung Quốc thời kỳ cổ đại, đặc biệt là họcthuyết Âm dương – Ngũ hành đối với quá trình hình thành và phát triển của lý luậnĐông y ở những khía cạnh khác nhau thể hiện những trình độ khác nhau trong quátrình nghiên cứu Tuy nhiên, ở hầu hết các công trình đã được công bố chưa có côngtrình nào nghiên cứu một cách cụ thể về cơ sở triết học của Đông y hoặc mới chỉ ởdạng những bài viết mang tính đề cập Cho nên, việc nghiên cứu và tìm hiểu về vấn
đề này cho đến nay vẫn luôn luôn là một vấn đề mang tính thời sự, đặc biệt tronggiai đoạn hiện nay khi sự kết hợp điều trị Đông Tây y kết hợp đang là mục tiêuhướng tới trong chính sách Y tế của Đảng và Nhà nước ta Với mục đích góp phần
đi sâu và làm rõ hơn nữa nền tảng lý luận triết học của Đông y tác giả đã lựa chọn
tác phẩm Hoàng Đế nội kinh làm giới hạn nghiên cứu cho đề tài của mình từ đó tìm
ra và lý giải những nội dung triết học cơ bản giữ vai trò làm cơ sở triết học đối với
sự hình thành lý luận Đông y phục vụ cho hướng nghiên cứu đã chọn
Trang 123 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn.
Mục đích của luận văn là làm rõ vai trò của một số tư tưởng triết học Trung
Quốc cổ đại đối với sự hình thành lý luận Đông y được thể hiện trong tác phẩm
Hoàng Đế nội kinh.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những tư tưởng triết học Trung
Quốc thời kỳ cổ đại có ảnh hưởng trực tiếp đối với sự hình thành và phát triểncủa lý luận Đông y
Phạm vi nghiên cứu, hiện nay Hoàng Đế nội kinh đã có rất nhiều bản dịch
của nhiều tác giả khác nhau như: Hoàng Đế nội kinh Tố vấn của tác giả Nguyễn Tử Siêu, Hoàng Đế nội kinh Linh khu của GS Huỳnh Minh Đức, Hoàng Đế nội kinh
của tác giả Minh Tân, … Trong đó, chúng tôi chọn bản dịch của tác giả Minh Tânlàm tài liệu chính và là giới hạn chủ yếu của luận văn, các bản dịch còn lại được sửdụng làm tài liệu tham khảo Vì hai lí do sau:
Thứ nhất, đây là bản dịch toàn tập, bao gồm cả hai phần Tố vấn và Linh khu,
do đó, rất thuận tiện cho việc tra cứu và trích dẫn
Thứ hai, trong bản dịch này, nội dung tác phẩm được trình bày tương đối rõ
ràng và dễ hiểu, mỗi chương đều được chia làm hai phần: phần tóm lược nội dungchính của chương (thiên) và phần dịch nghĩa, do đó khắc phục được những khókhăn trong quá trình phân tích nội dung tác phẩm
4 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
Những luận điểm cơ bản
Trình bày được quá trình hình thành và phát triển của các tư tưởng triết học
cơ bản của Trung Quốc thời kỳ cổ đại có ảnh hưởng trực tiếp đối với sự hình thành
và phát triển của lý luận Đông y
Khái quát những nội dung cơ bản tác phẩm Hoàng Đế nội kinh, từ đó phân
tích sự ảnh hưởng của những tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại đối với nhữngvấn đề thuộc lý luận Đông y với tư cách là cở sở lý luận về mặt triết học được thểhiện trong tác phẩm
Trang 13Rút ra được ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu vấn đề được lựa chọn đốivới sự phát triển lý luận Đông y học trong giai đoạn hiện nay.
Đóng góp mới của luận văn
Về mặt lý luận, đề tài góp phần làm rõ cơ sở triết học của lý luận Đông y trên
cơ sở nghiên cứu các học thuyết cơ bản được vận dụng trong tác phẩm Hoàng Đế
nội kinh từ đó góp phần nâng cao nhận thức của mọi người về Đông y với tư cách là
một ngành khoa học cụ thể
Về mặt thực tiễn, đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên
cứu, giảng dạy triết học và Đông y hay Y học cổ truyền
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử triết học, dựa trên phươngpháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đóchú trọng kết hợp các phương pháp: logic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, khái quáthóa, so sánh, đối chiếu,…
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn đượcchia làm 2 chương, 6 tiết
Trang 14NỘI DUNGCHƯƠNG 1 KHÁI LUẬN VỀ MỘT SỐ TRƯỜNG PHÁI TRIẾT HỌC
TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VÀ TÁC PHẨM HOÀNG ĐẾ NỘI KINH
1.1 Một số trường phái triết học Trung Quốc cổ đại có ảnh hưởng trực tiếp đối với sự hình thành lý luận Đông y
1.1.1 Âm dương gia
Một trong những trào lưu triết học xưa nhất của Trung Quốc thời kỳ cổ đại là
cố gắng tìm hiểu, giải thích căn nguyên, cơ cấu và sự tác động qua lại của mọi sựvật trong vũ trụ với quan điểm duy vật chất phác và tư tưởng biện chứng tự phát, lấychính tự nhiên để giải thích các hiện tượng tự nhiên, đó là thuyết Âm dương – Ngũhành của trường phái Âm dương gia, một trường phái triết học Trung Quốc cổ đại
ra đời vào thời Chiến Quốc
Học thuyết Âm dương – Ngũ hành là kết quả của quá trình khái quát nhữngkinh nghiệm thực tiễn lâu dài trong lao động sản xuất và đấu tranh chinh phục tự nhiêncủa nhân dân Trung Hoa cổ xưa Mới đầu, tư tưởng triết học của Âm dương gia chỉ lànhững quan niệm sơ khai phát sinh trong thời nhà Thương – Chu, từ thời Chiến quốctrở về sau học thuyết này đã được các nhà tư tưởng Trung Quốc phát triển, làm phongphú hơn, sâu sắc hơn với những nội dung và khuynh hướng khác nhau
Trước hết nói về học thuyết Âm dương, là học thuyết nghiên cứu sự liên hệ,tác động lẫn nhau giữa các mặt đối lập, hai thế lực vật chất cơ bản của thế giới âm
và dương từ đó lý giải nguồn gốc và sự biến hóa của vạn vật Là một trong nhữngquan điểm về vũ trụ quan quan trọng nhất của triết học Trung Quốc cổ đại, họcthuyết Âm dương không chỉ ảnh hưởng sâu rộng đến quan niệm, đời sống của nhândân Trung Hoa thời cổ mà còn ảnh hưởng rất lớn đối với quan niệm nhân sinh quan
và vũ trụ quan của người phương Đông ngày nay
Trong cuộc sống hàng ngày, dân tộc nào cũng va chạm với những cặp đốilập “đực – cái”, “nóng – lạnh”, “cao – thấp”, riêng đối với những nước có truyền
Trang 15thống sản xuất nông nghiệp thì sự va chạm này còn được thể hiện sâu sắc hơn vàdường như đã đi vào tiềm thức của mỗi người dân Bởi họ luôn mong sao cho mùamàng bội thu, gia đình đông đúc, tức là quan tâm tới sự sinh sôi nảy nở của hoa màu
và con người, từ đó hình thành nên hai cặp đối lập Mẹ - Cha, Trời – Đất Việc kếthợp hai mặt Mẹ - Cha, Trời – Đất chính là sự khái quát đầu tiên trên con đường dẫntới sự ra đời của triết lý Âm Dương, triết lý này được thấy hầu hết ở các dân tộcphương Đông, trong đó Trung Quốc được coi là vùng đất màu mỡ cho triết lý nàyphát triển, mở rộng hơn nữa để trở thành một học thuyết hoàn bị hơn, đầy đủ hơn
Với tư cách là một trong những cặp phạm trù cơ bản nhất của triết học Trung
Quốc cổ đại, quan điểm Âm dương được phản ánh sớm nhất trong Chu dịch – một
tác phẩm ghi chép thành văn đầu tiên về âm dương, đồng thời là một tác phẩm cổđiển vĩ đại nhất của người Trung Hoa Dịch vốn là sách dùng để bói toán, xem điềucát hung, may rủi của người Trung Quốc cổ, nhưng trong đó đã bao hàm những tư
tưởng triết học với ý nghĩa triết lý về vũ trụ, nhân sinh hết sức đặc sắc Chu dịch
như ta thấy ngày nay gồm hai phần: Kinh và Truyện Kinh bao gồm các quẻ tượng,quái từ và hào từ được sáng tác vào khoảng thời kỳ Thương – Chu Truyện là lờiluận chú, giải thích quái từ và hào từ có thể được hình thành vào thời Xuân Thu –
Chiến Quốc Chu dịch – Hệ từ hạ, viết: “Đạo dịch dấy lên vào cuối đời nhà Ân, lúc
đức của nhà Chu đang hưng thịnh” [30, tr 1304]
Xét về nguồn gốc, theo truyền thuyết thì Chu dịch khởi thủy từ thời vua Phục Hy
(4477 – 4363 Tr CN) còn gọi là Đào Hy hay Thái Cao hoặc Thái Hạo, một vị vuaTrung Quốc thời thượng cổ Thời này, có một con long mã hiện lên trên sôngHoàng Hà, khi nhìn thấy 9 vân trên lưng con Long mã, vua Phục Hy đã lấy đó làmcăn cứ để lập nên Hà đồ, vạch ra Tiên thiên bát quái bằng cách coi một vạch liền làdương, một vạch đứt là âm Hai vạch âm dương ấy là hai nghi biểu thị cho trời đấtgọi là Lưỡng nghi Trên mỗi nghi lại thêm hai vạch nữa thành tứ tượng, gồm thái
dương (=), thái âm (= =), thiếu dương ( ), thiếu âm ( ) biểu thị cho bốn mùa.
Tứ tượng biến hóa mà sinh ra bát quái (tám quẻ), mỗi quẻ gồm ba vạch đứt hoặc ba
vạch liền chồng lên nhau theo thứ tự: Càn (☰) là trời, Khôn (☷) là đất, Chấn (☳) là
Trang 16sấm, Tốn (☴) là gió, Khảm ( ☵) là nước, Ly (☲) là lửa, Cấn (☶) là núi và Đoài (☱) làđầm Lại lấy mỗi quẻ trong tám quẻ chồng lên nhau theo kiểu hoán vị để tạo thành
64 “quẻ kép” gọi là trùng quái, mỗi quẻ kép có sáu vạch, mỗi vạch là một hào; ba
vạch trên gọi là ngoại quẻ, ba vạch dưới gọi là nội quẻ, tổng cộng là 384 hào Chu
dịch – Hệ từ thượng viết: “Dịch có thái cực, thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi
sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái định cát hung, cát hung sinh nghiệplớn” [30, tr 92 - 93] Chữ sinh ở đây không chỉ đơn thuần là sản sinh mà còn là sựbiến hóa của thái cực mà thành, dịch khởi đầu từ một điểm gọi là thái cực với bảnchất luôn sinh thành và phát triển mà tạo ra thế giới
Như vậy, tác giả của Chu dịch đã quan niệm vũ trụ, vạn vật đều có bản thể
động Trong thái cực, thiếu dương vận động đến thái dương thì trong lòng tháidương lại nảy sinh thiếu âm, thiếu âm vận động đến thái âm thì trong lòng thái âmlại nảy sinh thiếu dương Cứ như thế, âm dương biến hoá liên tục, tạo thành vòng
biến hóa không bao giờ ngừng nghỉ Trong Chu dịch, âm dương được quan niệm là
những mặt, những hiện tượng đối lập, như trong tự nhiên: sáng - tối, trời - đất, đông– tây; trong xã hội: quân tử - tiểu nhân, chồng - vợ, vua – tôi, Qua các hiện tượng
tự nhiên, xã hội, các tác giả Chu dịch đã bước đầu phát hiện được những mặt đối lập
tồn tại trong các hiện tượng đó và khẳng định vật nào cũng bao hàm âm dươngtrong nó; âm dương là hai yếu tố tồn tại trong mọi bản thể bao gồm cả con người
Có thể nói, vấn đề âm dương trong trời đất, trong vạn vật và trong sự sốngcủa con người ở Trung Quốc thời kỳ cổ đại được bàn đến trong hầu hết các lĩnh vựcnghiên cứu cụ thể, song nhiều nhất có lẽ là lĩnh vực Y học Biểu hiện của âm dươngtrong Y học, cụ thể là Đông y được thể hiện trên nhiều phương diện và chủ yếu
thông qua những nội dung trao đổi về y học, y thuật giữa Hoàng đế (vị vua đầu tiên
của dân tộc Trung Hoa, một nhân vật đại biểu có vị trí đặc biệt trong truyền thuyếtcủa Trung Quốc và được người đời sau suy tôn làm thủy tổ của nhân văn) và Kỳ Bá(một nhà y học trứ danh cùng thời với Hoàng Đế, là người thầy hướng dẫn Hoàng
Đế học tập y dược và được người đời sau tôn xưng là thủy tổ của ngành y học
Trung Quốc) được nói đến trong tác phẩm Hoàng Đế nội kinh Hoàng Đế nội kinh
Trang 17đã lấy âm dương để xem xét nguồn gốc của tật bệnh, đồng thời chỉ ra phương phápchẩn trị thích hợp Âm dương, đó là cái đạo của trời đất, kỷ cương của vạn vật, cha
mẹ của sự biến hóa, gốc ngọn của sự sinh sát, phủ tạng của thần minh, trị bệnh phảicần ở gốc, cho nên tích luỹ dương làm trời, tích lũy âm làm đất, âm tĩnh dươngđộng, dương sinh âm trưởng, dương sát âm tàng, dương hóa khí, âm tàng hình
Ngoài ra, Hoàng Đế nội kinh cũng bàn đến tính phổ biến của khái niệm âm
dương, theo đó thì trời thuộc dương, đất thuộc âm, mặt trời thuộc dương, mặt trăngthuộc âm Âm dương là khái niệm phổ biến của trời đất, mọi sự vật, hiện tượng trong
vũ trụ đều có thể lấy âm dương làm đại biểu Thông qua quy luật biến đổi âm dươngtrong tự nhiên mà có thể suy diễn, phân tích luật âm dương trong cơ thể con người
Từ những quan niệm trên về âm dương, người xưa đã khái quát thành các
quy luật để khẳng định tính phổ biến của học thuyết này bao gồm: Âm dương đối
lập nhau; âm dương hỗ căn; âm dương tiêu trưởng; âm dương bình hành.
Thứ nhất, quy luật âm dương đối lập Âm dương là hai mặt đối lập với nhau
nhưng lại thống nhất với nhau, cùng tồn tại phổ biến trong các sự vật, hiện tượngcủa giới tự nhiên Âm dương đối lập, mâu thuẫn nhau trên nhiều phương diện,chẳng hạn như, về tính chất: dương thì cứng, nóng, âm thì mềm, lạnh; về đường đilối về: dương là thăng (đi lên), âm là giáng (đi xuống), cái này đi ra thì cái kia đivào, cái này dịch sang bên trái, thì cái kia dịch sang bên phải Âm dương còn đối
lập nhau cả ở phương vị, như trong Hoàng Đế nội kinh có nói: khí dương lấy phía
Nam làm phương vị, lấy phía Bắc làm nơi tàng thế Khí âm lấy phía Bắc làmphương vị, lấy phía Nam làm nơi tiềm phục
Thứ hai, âm dương hỗ căn Âm dương tuy là hai mặt đối lập nhau, song lại
không tách rời nhau mà chúng tồn tại trong trạng thái vừa đấu tranh vừa thống nhấtvới nhau, nương tựa vào nhau để cùng tồn tại Trong vũ trụ, mọi sự vật hiện tượngnếu chỉ một mình dương hay một mình âm thì không thể sinh thành, biến hóa được
và nếu mặt này mất đi thì mặt kia cũng mất theo, “dương cô thì âm tuyệt”, âm dươngphải lấy nhau để làm tiền đề tồn tại cho mình Ngay cả cái gọi là âm dương cũng chỉ
có ý nghĩa tương đối, vì trong dương bao giờ cũng có âm, trong âm bao giờ cũng có
Trang 18dương Khi dương phát triển đến thái dương thì trong lòng nó đã xuất hiện thiếudương rồi, khi âm phát triển đến thái âm thì trong lòng nó đã xuất hiện thiếu âm rồi.
Sở dĩ gọi là âm vì trong nó phần âm lấn phần dương, sở dĩ gọi là dương vì trong nóphần dương lấn phần âm và âm dương bao giờ cũng nương tựa vào nhau
Thứ ba, âm dương tiêu trưởng Bên cạnh quy luật âm dương đối lập, thống
nhất còn có quy luật tiêu trưởng và thăng bằng của âm dương nhằm nói lên sự vậnđộng không ngừng, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai mặt âm dương để duy trì tìnhtrạng thăng bằng tương đối của sự vật Nếu mặt này phát triển thái quá sẽ làm chomặt khác suy kém và ngược lại, từ đó làm cho hai mặt âm dương của sự vật biếnđộng không ngừng và sự thắng phục, tiêu trưởng của âm dương tuân theo quy luật
“vật cùng tắc biến, vật cực tắc phản” Theo đó thì sự vận động của hai mặt âmdương đến mức độ nào đó sẽ chuyển hóa cho nhau gọi là “dương cực sinh âm, âmcực sinh dương”, sự tác động lẫn nhau giữa hai mặt âm dương luôn nảy sinh hiệntượng bên này kém, bên kia hơn, bên này tiến, bên kia lùi Đó chính là quá trình vậnđộng, biến hóa và phát triển của sự vật, đồng thời cũng là quá trình đấu tranh tiêutrưởng của âm dương
Thứ tư, âm dương bình hành Hai mặt âm dương tuy đối lập, vận động không
ngừng nhưng luôn luôn lập lại thế thăng bằng, quân bình giữa hai mặt Trong cơ thểcon người, sự mất thăng bằng giữa hai mặt âm dương sẽ phát sinh ra bệnh tật vàphương pháp điều trị phù hợp chính là lặp lại thế cân bằng của âm dương
Những quy luật cơ bản này của âm dương đã nói lên sự mâu thuẫn, thốngnhất, vận động và phát triển của mọi dạng vật chất tồn tại trong thế giới, âm dương
tương tác với nhau tạo nên mọi sự biến hóa của vũ trụ, như trong Hoàng Đế nội
kinh Tố vấn – Âm dương ứng tượng đại luận, các tác giả có viết: “Âm dương là quy
luật nói chung trong vũ trụ, là kỷ cương của mọi vật, là khởi nguồn của sự biến hóavạn vật, là căn bản của sự hủy diệt sinh trưởng, có quy luật rất lớn nằm trong đó.”[52, tr 17] Như vậy, học thuyết Âm dương là một học thuyết triết học về thế giớiquan, vũ trụ quan, có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển của triết học Trung Quốccũng như đến sự phát triển của khoa học tự nhiên, và Đông y có lẽ là lĩnh vực chịu
Trang 19ảnh hưởng trực tiếp nhất những tư tưởng cơ bản của học thuyết này Thêm vào đó,Đông y học cũng đồng thời là phương tiện thể hiện tính ứng dụng sâu sắc hơn cả họcthuyết này vào các lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội Trên cơ sở khái quát mốitương quan giữa học thuyết Âm dương với quá trình hình thành và phát triển của
Đông y, các tác giả Hoàng Đế nội kinh đã dung hợp một cách tinh tế những nội dung
y học, y thuật với các quy luật cơ bản của thuyết này, từ đó hình thành nên một hệthống lý luận Đông y bao gồm tất thảy các vấn đề cụ thể như: phương pháp tư duy,phương pháp chẩn đoán, phương pháp điều trị, … cho mọi phép chữa trị được luậnbàn trong tác phẩm Từ sự vận dụng học thuyết Âm dương vào biện chứng luận trị,
tác giả Hoàng Đế nội kinh đã đưa ra quan điểm cho rằng: muốn trị được bệnh tốt, cần
phải đi từ những vấn đề căn bản nhất – đó là giải quyết được từ âm dương, tật bệnhphát sinh, phát triển trong cơ thể cũng không nằm ngoài đạo lý âm dương Bởi vậy,cần phải nắm bắt được quá trình phát triển của bệnh tật, tìm được bản chất của bệnhtật bằng cách vận dụng các quy luật cơ bản của âm dương để tìm hiểu những tìnhhuống biến hóa trong cơ thể, từ đó chỉ đạo các bước chẩn trị thích hợp Đây cũngchính là nội dung cốt lõi của vấn đề mà chúng tôi đang nghiên cứu và sẽ được trìnhbày chi tiết, cụ thể hơn ở chương 2 của luận văn
Cùng tồn tại và phát triển với học thuyết Âm dương là học thuyết Ngũ hành.Nếu như học thuyết Âm dương được coi là phương tiện lý giải nguồn gốc và sựbiến hóa của vạn vật thì học thuyết Ngũ hành chính là công cụ chủ yếu mà ngườixưa sử dụng để giải thích cơ cấu của vũ trụ, tìm hiểu bản thể của thế giới Đồng thờicũng là học thuyết biểu thị quy luật vận động của thế giới, của vũ trụ; cụ thể hóa và
bổ sung cho thuyết âm dương trở nên hoàn bị
Sự đề cập đầu tiên về ngũ hành được thấy trong tác phẩm Kinh thư ở thiên
Hồng phạm qua lời Cổ Tử nói với Vua Vũ nhà Chu Theo lời tác giả thiên Hồng phạm thì Ngũ hành là năm yếu tố vật chất đầu tiên hay năm thứ khí cơ bản của vũ
trụ vạn vật, gồm: Kim (kim khí), Mộc (gỗ), Thủy (nước), Hỏa (lửa), Thổ (đất) Theocác Âm dương gia, mỗi yếu tố trong Ngũ hành đều có những tính chất và đặc trưngriêng, những thuộc tính vốn có ấy của năm hành gọi là “năm đức” Nước thì lạnh và
Trang 20luôn chảy xuống thấp; lửa thì nóng và bốc lên cao; gỗ có tính chất cong lại và thẳngra; kim khí có tính chất phụ thuộc và biến đổi bởi sự tác động bên ngoài; đất thì tiếpnhận hạt giống và làm mùa Trong đó nước tạo nên vị mặn, lửa tạo nên vị đắng, gỗtạo nên vị chua, kim khí tạo nên vị cay và đất tạo nên vị ngọt Là những yếu tố cănbản, đầu tiên của vũ trụ, những tính năng của năm loại vật chất ấy quy định tínhchất, chủng loại và nguồn gốc của tất thảy mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới.Hỏa có tính nóng nên chủ và hành mạnh phương Nam, mùa Hạ và màu đỏ; Mộctượng trưng cho thực vật có năng tính sinh trưởng nên chủ và hành mạnh phươngĐông, mùa Xuân và màu xanh; Kim chủ và hành mạnh phương Tây, mùa Thu vàmàu trắng, vì kim khí có tính chất cứng và khô khan; Thủy có tính chất ẩm ướt vàchảy xuống dưới nên chủ và hành mạnh ở phương bắc, mùa Đông và ứng với màuđen; Thổ dưỡng tồn cho các hành khác nên được coi là vị trí trung tâm, thổ hànhmạnh vào khoảng giữa mùa Hạ và mùa Thu.
Các yếu tố của Ngũ hành không tồn tại một cách tĩnh tại, biệt lập, thụ động
mà luôn luôn vận động trong mối liên hệ tương tác lẫn nhau, các Âm dương gia gọi
sự liên hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các hành ấy là quá trình “Ngũ hành tươngsinh” và “Ngũ hành tương khắc” Sinh là chỉ sự tương tác, nuôi dưỡng và giúp đỡnhau để tồn tại và phát triển; khắc là ngăn trở, loại trừ và chế ước lẫn nhau, kìmhãm sự phát triển của nhau
Ngũ hành tương sinh là quá trình các yếu tố của ngũ hành liên hệ, thúc đẩy
và chuyển hóa lẫn nhau, hành này làm tiền đề cho hành kia tạo nên sự biến chuyểnkhông ngừng có tính chất tuần hoàn trong vũ trụ Điều này được lý giải như sau:Mộc sinh Hỏa là do gỗ có thể bắt lửa, Hỏa sinh Tthổ là do lửa thiêu cháy mọi vậtsinh ra tro đất, Thổ sinh Kim là do đất tạo thành các thể rắn, trong đó có kim loại,Kim sinh Thủy là do các vật thể rắn như kim loại có thể nóng chảy sinh ra thể lỏng.Nước lại là thành phần cơ bản của mọi sinh vật, trong đó có cây cối, từ đây lại bắtđầu một quá trình tương sinh mới giữa các yếu tố của Ngũ hành, cứ như vậy quátrình sinh thành của vạn vật diễn ra liên tục không dứt
Ngũ hành tương khắc, là quá trình các yếu tố của Ngũ hành chế ước, chống
đối và bài trừ lẫn nhau Mộc khắc Thổ vì rễ cây ăn vào đất, Thổ khắc Thủy vì đất có
Trang 21thể thấm nước và ngăn chặn dòng nước, Thủy khắc Hỏa vì nước lạnh có thể làm hạnhiệt và dập tắt lửa, Hỏa khắc Kim vì lửa nóng có thể làm nóng chảy kim loại, Kimkhắc Mộc vì đồ kim khí có thể chặt được cây cối Quá trình Ngũ hành tương khắccũng diễn ra liên tục không ngừng tạo thành quá trình tuần hoàn, phản ánh sự chếhóa lẫn nhau giữa các mặt đối lập
Hai quá trình tương sinh và tương khắc của Ngũ hành không tách rời nhau
mà trái lại chúng tồn tại song hành, xen kẽ lẫn nhau, làm tiền đề cho nhau tồn tại.Trong ngũ hành tương sinh cũng chứa đựng tương khắc, trong tương khắc cũngngụ có tương sinh, đó là quy luật chung về sự vận động, biến hóa của giới tựnhiên Nếu chỉ có tương sinh mà không có tương khắc thì không thể giữ gìn đượcthăng bằng, có tương khắc mà không có tương sinh thì vạn vật không thể có sựsinh hóa Vì vậy, tương sinh, tương khắc là hai điều kiện không thể thiếu để duytrì thăng bằng tương đối của hết thảy mọi sự vật
Quá trình tương sinh, tương khắc của Ngũ hành có thể biểu diễn theo đồhình dưới đây:
Nhìn vào đồ hình Ngũ hành sinh khắc ta thấy, Ngũ hành liên hệ với nhaumột cách chặt chẽ và biện chứng Nhưng ở đây, quy luật tương sinh tương khắc làchỉ vào quan hệ của ngũ hành ở trạng thái bình thường còn nếu giữa Ngũ hành vớinhau mà sinh ra thiên thịnh hoặc thiên suy, không thể giữ gìn được thăng bằng, cânđối mà xảy ra trạng thái bất thường thì gọi là “tương thừa”, “tương vũ”
Tương thừa (Thừa: thừa thế lấn áp): Trong điều kiện bất thường, hành này
Trang 22tương thừa hay còn gọi là tình trạng “thái quá” Chẳng hạn: bình thường Mộc khắcThổ, nếu có một lý do nào đó mà Mộc tăng khắc Thổ, lúc đó gọi là Mộc thừa Thổ,hoặc một ví dụ cụ thể trong Đông y như: Trong chứng lao phổi, người bệnh hay sốt
về chiều, phổi bệnh do Phế Kim suy yếu Theo Ngũ hành, Hỏa khắc Kim, nay Kimsuy yếu, Hỏa nhân cơ hội Kim suy, khắc mạnh hơn gây sốt kéo dài, nhất là từ trưađến chiều tối (là giờ của Hỏa vượng, Kim suy) Khi điều trị, chủ yếu phải điều trị ởPhế Kim chứ không phải ở Tâm Hỏa, cho dù có dấu hiệu của Tâm Hỏa
Tương vũ (Vũ: hàm ý khinh nhờn): Nếu hành này không khắc được hành kia
thì quan hệ tương khắc trở thành quan hệ tương vũ hay còn gọi là tình trạng “bấtcập” Chẳng hạn: bình thường Thủy khắc Hỏa, nếu vì một lý do nào đó làm Thủygiảm khắc Hỏa (nói cách khác: Hỏa “khinh nhờn” Thủy) thì lúc đó gọi là Hỏa vũThủy Đông y thuyết mình quy luật này như sau: Trong trường hợp trụy mạch, Hỏasuy kém gây lạnh người, huyết áp thấp, Kim nhân cơ hội Hỏa suy, bùng lên khắcngược trở lại Hỏa, làm cho thở nhanh hơn, tim đập chậm hơn, có khi gây ngưng đập
Như vậy, từ việc phân tích nội dung cơ bản của học thuyết Ngũ hành, có thểthấy rằng, vạn vật trong vũ trụ luôn vận động và biến đổi không ngừng; sự sinhkhắc chế hóa của Ngũ hành chính là nguồn gốc của sự chế hóa trong vũ trụ Hợpvới nhau là sinh, sinh ra lại tiếp tục biến hóa, còn trái với nhau là khắc làm cho sựsinh sôi và biến hóa bị hạn chế lại và sinh khắc mục đích là để giữ trạng thái cânbằng cho sự sinh hóa của vạn vật Âm dương có hóa, Ngũ hành có bình thì trời đấtmới yên và muôn loài phát triển
Hành có nghĩa là đi, vì vậy Ngũ hành phải luôn luôn vận động, chuyển hóa,tác động lẫn nhau một cách linh động để duy trì sự cân bằng về phương diện khíhóa trong sự sinh tồn của vạn vật Trong Ngũ hành, Thủy Hỏa là hai yếu tố quantrọng nhất, mọi sự vật hiện tượng sinh hóa trong vũ trụ đều liên quan đến Thủy Hỏa,hai yếu tố này luôn mâu thuẫn và thống nhất với nhau Thủy tượng trưng cho trời,Hỏa tượng trưng cho đất, ví như nước cần thiết cho sự sống của sinh vật thì ánhsáng mặt trời cũng là yếu tố không thể thiếu đối với sự tồn tại và phát triển củanhững sinh vật ấy Còn trong con người, nước chiếm 60 – 70% trọng lượng cơ thể,
Trang 23nước là môi trường rất cần thiết cho quá trình sinh hóa, trao đổi chất, điều hòa nộimôi; thân nhiệt của người là 37oC, khi thân nhiệt thay đổi thì sẽ ảnh hưởng khôngtốt đến sức khỏe Như vậy, Ngũ hành không chỉ là sự vận động, chuyển hoá của cácvật chất trong thiên nhiên mà còn là những yếu tố cấu thành nên nhân thể, sự hoạtđộng của ngũ hành theo quy luật cũng đồng thời là sự hoạt động của tạng phủ trong
cơ thể tạo nên mối liên hệ giữa cơ thể với môi trường xung quanh Mối liên hệ ấyđược thể hiện thông qua bảng quy nạp của Ngũ hành trong thiên nhiên và trong cơthể con người dưới đây:
Hiện
tượng
Ngũ hành
Vật chất Gỗ, cây Lửa Đất Kim loại Nước
Trang 24thành nên lý luận về Tạng tượng – một học thuyết tiêu biểu của Đông y nói về côngnăng sinh lý của cơ thể, được xây dựng dựa trên mối liên hệ giữa Ngũ hành và Ngũtạng trong cơ thể người Đây cũng là một học thuyết Đông y được các tác giả
Hoàng Đế nội kinh nghiên cứu và trình bày tương đối rõ ràng và hệ thống.
Như vậy, cả học thuyết Âm dương và Ngũ hành đều có vai trò rất quan trọngđối với các lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội, nhất là đối với Y học, vai trò ấy cònđược phát huy tích cực hơn khi hai học thuyết này được kết hợp lại với nhau và gọichung là học thuyết Âm dương – Ngũ hành Sự kết hợp giữa Âm dương và Ngũhành được coi là một hợp lý tất yếu Bởi sự tồn tại của thế giới vật chất chính là sựmâu thuẫn và thống nhất giữa các mặt đối lập, và để thuyết minh cho vấn đề nàyphải cần đến thuyết Âm dương, nhưng nếu chỉ có học thuyết Âm dương thì sự lýgiải ấy không đủ rõ ràng mà phải có một công cụ hữu hiệu có thể cụ thể hóa đượcnhững biến hóa phức tạp của thế giới và về chính bản thân con người, công cụ đóchính là học thuyết Ngũ hành – sự cụ thể hóa của học thuyết Âm dương Cho nên,
Âm dương và Ngũ hành nhìn theo tên gọi thì có thể chia tách thành hai nhưng trênquan hệ vận dụng hai thuyết ấy không những không thể cắt rời được mà trái lại cònphối hợp với nhau, tương trợ và tồn tại đan xen vào nhau Điều này là hoàn toànphù hợp và đã được chứng minh bằng thực tiễn ứng dụng trong các lĩnh vực khoahọc cụ thể và những vấn đề của Đông y học mà chúng tôi trình bày ở nội dungchương 2 sẽ là những minh chứng thiết thực nhất cho những điều đã nói trên đây
1.1.2 Nho gia
Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đónggóp của Chu Công Đán còn gọi là Chu Công, về sau này đến thời Xuân Thu(khoảng giữa thế kỷ thứ VI Tr CN), Khổng Tử là người đã phát triển tư tưởngcủa Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó vào xã hội TrungQuốc đương thời Chính vì thế mà người đời sau coi ông là người sáng lập ra họcphái Nho gia
Khổng Tử tên gọi là Khâu, tự là Trọng Ni, người làng Xương Bình, huyệnKhúc Phụ, tỉnh Sơn Đông ngay nay Ông sinh năm 551 Tr CN đời Lỗ Tương Công
Trang 25năm 22, Chu Linh Vương năm 21 tại ấp Trâu, nước Lỗ và mất năm 479 Tr CN vàođời Lỗ Ai Công năm 16, Chu Kính Vương năm 41, thọ khoảng 72 tuổi.
Khổng Tử là người san định sách Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc của đời trước để lại, và viết thêm sách Xuân Thu để trình bày quan điểm của mình Do đó, khi nghiên cứu hệ thống tư tưởng của Nho gia, của Khổng tử thì tài liệu chủ yếu là Tứ thư và
Ngũ Kinh.
Khi nói đến Khổng Tử, không ít người trong chúng ta chỉ nói đến, bàn đếnhọc thuyết của ông với tư cách là một học thuyết chính trị xã hội mà quên rằng,trong toàn bộ hệ thống tư tưởng của mình, ông cũng đã dành ra một khoảng đủ đểđưa những quan điểm về triết học, tiêu biểu cho tư tưởng triết học của Khổng Tử
nói riêng và của trường phái triết học Nho gia nói chung chính là tư tưởng “Thiên
nhân hợp nhất” Đây là tư tưởng được nói đến trong nhiều trường phái triết học
Trung Quốc cổ đại khác nhau, song nó lại là tư tưởng được khởi thủy từ Nho gia,đồng thời là tư tưởng xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống triết học ấy khi bàn về vấn
đề mối quan hệ giữa trời và người, rằng trời và người là một, con người sống là phảituân theo mệnh trời; con người là một tiểu thiên địa; … điều đó đồng nghĩa với sựkhẳng định giữa con người với trời đất luôn có một mối liên hệ thống nhất với nhau,một mối liên hệ tất yếu và có quy luật
Thiên nhân hợp nhất được biết đến với tư cách là một mệnh đề trung tâm
biểu thị quan hệ giữa con người với tự nhiên trong Nho học truyền thống TrungQuốc Nó nhấn mạnh sự thống nhất hài hòa giữa con người với tự nhiên, bởi theocác Nho gia thì trời và người mỗi thứ là một vũ trụ, không có sự phân biệt nàogiữa hai thực thể ấy, nếu có khác nhau thì chỉ là sự khác nhau về mặt quy mô lớnnhỏ Sự tương ứng giữa con người với trời đất cũng đã được lý giải thông qua
những minh chứng cụ thể, chẳng hạn như trong Hoàng Đế nội kinh các tác giả đã
kế thừa và khái quát lại như sau: “Trời và người mỗi thứ là một vũ trụ, không có
sự phân biệt đây đó, chỉ khác nhau ở quy mô lớn và nhỏ Do trời có hình tròn, đất
có hình vuông; nên con người đầu thì hình tròn mà bàn chân lại mang hình vuông.Trời có mặt trời, mặt trăng, các vì sao và gió mưa sấm chớp, nên con người cũng
Trang 26có tai, mắt, mũi, mồm và thất tình lục dục Trên đất có chín châu lục, nên conngười cũng có chín khiếu Một vòng tròn chia làm 360 độ, nên con người cũng có
360 đốt xương Trung Quốc có mười hai sông lớn mà cơ thể cũng có 12 kinh mạchchính.” [52, tr 40]
Quan điểm phôi thai của tư tưởng Thiên nhân hợp nhất được đề cập trong
Kinh thi và Quốc ngữ Trong Kinh Thi, Đại nhã, thiên Văn vương có viết: “Tinh
thần của Văn vương khi lên xuống, ở bên cạnh Thượng đế” [6, tr 686] Sách Quốc
ngữ, Việt ngữ nói: “Trời của người, thánh nhân noi theo trời Sự tự sinh ra của
người, hình của trời đất, thánh nhân noi theo mà thành” “Phàm việc của con ngườiphải cùng với trời đất tham dự với nhau, sau đó mới có thể thành công.” [6, tr 686]
Trong Luận ngữ, thiên Thái Bá 19, Khổng Tử viết: “Đức Khổng Tử khen rằng: ông
Nghiêu làm vua đức nghiệp lớn thay! Vời vợi thay! Chỉ có trời là lớn, chỉ có vua
Nghiêu sánh với trời thôi” Sách Lã thị xuân thu – Dục, viết: “Trời đất không thể là
hai, huống chi loài người Con người đồng với trời đất… Cho nên việc trị thiên hạtất phải theo trời đất vậy” [6, tr 687] Như vậy, tư tưởng Thiên nhân hợp nhất trongNho giáo nguyên thủy được hiểu là sự hòa hợp giữa trời với người; theo đó, trời vớingười cùng một gốc, cùng một tâm, cùng một lý; trời và người giao cảm với nhau
về cả vật chất lẫn tinh thần Về sau nội hàm của tư tưởng Thiên nhân hợp nhất được
trình bày sâu sát hơn trong Chu dịch, cũng là một trong tác phẩm xếp vào hàng kinh điển của Nho gia Trong Chu Dịch mặc dù không nói rõ mối quan hệ thiên – nhân
nhưng đã hàm chứa quan niệm dung hợp xã hội loài người với giới tự nhiên thànhmột thể thống nhất Trong các quái từ, hào từ không chỉ có nhiều nội dung ghi chép
về nhân sự, về các hiện tượng tự nhiên, về quan hệ cát hung giữa các hiện tượng tựnhiên và con người mà khi đoán quẻ cũng thường lấy quái từ, hào từ để bàn về cáchiện tượng tự nhiên, từ đó trả lời các vấn đề về con người, xem các vấn đề về tự
nhiên và các vấn đề về nhân sự là cùng loại Khi Khổng Tử viết Dịch truyện, trong
đó cũng đã chứa đựng nội hàm của tư tưởng Thiên nhân hợp nhất, từ đó phát triển
và trình bày thêm, trong đó bao hàm những tư tưởng đơn giản nhưng sâu sắc, có thểkhái quát thành các nội dung cơ bản sau:
Trang 27Thứ nhất, con người là một bộ phận của giới tự nhiên Trong Dịch truyện
cũng đã giải thích rất cụ thể về tính chất của bát quái, kết cấu của sáu hào và sự sắpđặt của 64 quẻ đều thể hiện mối quan hệ thiên, địa, nhân Ví dụ, trong bát quái, tínhchất của Càn là kiện, kiện cũng chính là tính chất của thiên (trời); tính chất củaKhôn là thuận, thuận cũng chính là tính chất của địa (đất) Mặc dù bát quái thủtượng có thể đa dạng, linh hoạt song hai quẻ Càn, Khôn chủ yếu của thủ tượng trờiđất Bát quái chồng lên nhau thành 64 quẻ, ba vạch thành sáu vạch, cũng chính là sựbiểu hiện ý nghĩa của thiên, địa nhân Trong sáu nét sơ, nhị, tam, tứ, ngũ, thượng thìngũ, thượng ở trên đại diện cho thiên; sơ, nhị ở dưới đại diện cho địa; tam, tứ ở giữa
đại diện cho nhân Do đó, Chu dịch – Hệ từ truyện giải thích nghĩa của lục hào như
sau: “Dịch là sách có phạm vi bao quát đầy đủ, rộng lớn, trong đó có đạo trời, đạongười, đạo đất Nó kết hợp tam tài và gấp đôi nên thành sáu hào Sáu hào này vẫn là
nó, là đạo tam tài thôi” [30, tr 1199]
Việc sắp xếp kết cấu của 64 quẻ càng biểu hiện ý nghĩa của tam tài thiên, địa,nhân Hai quẻ Càn, Khôn đặt ở đầu, đại diện cho sự sản sinh, nuôi dưỡng vạn vật củatrời đất, còn lại 62 quẻ đại diện cho vạn vật và con người thì được bao hàm trong vạn
vật Từ đó, Chu Dịch đi đến khẳng định con người và vạn vật cùng một loại, do đó
con người cũng như vạn vật là sản vật của trời đất, là một bộ phận không tách rời của
giới tự nhiên, thành một bộ phận của tam tài, sánh ngang hàng với trời đất Hoàng Đế
nội kinh đã vận dụng tư tưởng này để thuyết minh cho mối quan hệ giữa con người
với môi trường tự nhiên, sự tương tác giữa cơ thể với môi trường, từ đó đưa ra nhữngphương pháp phòng và điều trị bệnh phù hợp, chủ yếu là phòng bệnh
Thứ hai, nhấn mạnh vai trò chủ thể của con người trong mối quan hệ với tự
nhiên giới Xuất phát từ việc cho rằng giữa con người và trời đất tuy là thống nhất,song về mặt nhận thức thì lại hoàn toàn khác biệt, trong đó con người được coi là
chủ thể nhận thức, Chu dịch đã đi đến tiền đề cơ bản về sự hài hòa giữa trời và
người Tuy con người là sản vật của trời đất, là bộ phận không thể tách rời của giới
tự nhiên nhưng đến cùng thì giữa con người và trời đất cũng có sự khác biệt Chu
dịch cho rằng sự khác biệt chính là ở chỗ, trong mối quan hệ ấy, con người giữ vai
Trang 28trò là chủ thể nhận thức còn trời đất là khách thể nhận thức và nhiệm vụ của Chu
dịch là làm trung giới giữa chủ thể và khách thể, giúp chủ thể nhận thức được khách
thể, từ đó lý giải đạo của trời đất cũng như sự vận dụng quy luật ấy của con người
thông qua quá trình nhận thức Giải thích điều này, Chu dịch – Hệ từ thượng, viết:
“Nguyên thủy phản chung, cố tri tử sinh chi thuyết - nguyên” [30, tr 1200], cónghĩa là, con người với tư cách là chủ thể nhận thức, dùng “Dịch” lý để truy đếncùng sự khởi đầu của sự vật, đưa ngược trở lại sự tận cùng của sự vật Đầu cuối, cáthung, tất thảy đều bao quát cả; biết được nguyên cớ này là biết được số mệnh sinh
tử Lại nói: “Dịch là cái mà thánh nhân dùng để nghiên cứu cái thâm sâu và tinh vicủa mọi vật Do thâm sâu, nên hiểu ý chí của thiên hạ; do tinh vi nên có thể giúphoàn thành công việc của thiên hạ” [30, tr 1239] Ở đây nói, Thánh nhân dùng Dịch
để nhận thức thế giới, thánh nhân có nghĩ, có làm, có ý thức tự giác, tư tưởng củathánh nhân cũng là nhận thức về thiên địa tự nhiên, đồng thời thông qua Dịch thểhiện và truyền đạt cho mọi người Do đó, chỉ có chú trọng tính chủ thể của conngười, phát huy hết tính năng động chủ quan của con người có ý thức, chú trọng trờicàng chú trọng con người, xem trọng con người trong địa vị chủ yếu của họ vớithiên địa, mới có thể đạt tới sự hài hòa thiên, địa, nhân
Thứ ba, cùng với việc khẳng định con người là một bộ phận của giới tự
nhiên, tác giả Chu Dịch cũng nhấn mạnh rằng, giới tự nhiên có quy luật phổ biến
khách quan, hoạt động của con người cũng có quy luật khách quan, con người cần
phục tùng quy luật khách quan ấy, trong Thoán truyện, quẻ Dự nói: “Trời đất thuận
theo tính chất của mọi vật mà vận động, nên ngày đêm không sai khác, bốn mùakhông thay đổi; Thánh nhân theo dân tình mà hành động, nên hình phạt nhẹ mà dânphục” [30, tr 408] Hoạt động của con người và sự vận động của trời đất đều có quy
luật nhất định và giữa chúng lại có sự tương thông, trong Thoán truyện, quẻ Di viết:
“trời đất nuôi dưỡng vạn vật, thánh nhân nuôi dưỡng người hiền và vạn dân; Trờiđất cảm mà vạn vật hóa sinh, thánh nhân cảm nhân tâm mà thiên hạ hòa bình” [30,
tr 574] Như vậy, Chu Dịch xem thiên, địa, nhân là một chỉnh thể thống nhất, trong
quá trình vận động chỉnh thể ấy tự bộc lộ theo quy luật tự thân đó là thiên đạo, địa
Trang 29đạo và nhân đạo tức là đạo tam tài Điều này cũng đồng nghĩa với việc, con ngườitrong quá trình tồn tại và phát triển của mình cần phải luôn tuân theo phép tắc, quyluật tự nhiên nhưng không hoàn toàn bị động mà luôn cố gắng không ngừng nghỉ
“tự lực bất cường”, có chủ kiến, trên cơ sở nhận thức quy luật tự nhiên để tiết chế
và điều chỉnh tự nhiên phù hợp với nhu cầu của nhân loại
Từ những nội dung cơ bản này có thể thấy rằng, Chu Dịch đã góp phần làm
sâu sắc thêm tư tưởng Thiên nhân hợp nhất trong hệ thống triết học của phái Nhogia về mặt nội dung và ý nghĩa, từ đó làm cho học thuyết này được mở rộng và cótính ứng dụng cao hơn Những nội dung này về sau đã được vận dụng tương đốirộng rãi trong các lĩnh vực cụ thể Các y gia Trung Quốc đương thời cũng đã vậndụng những nội dung tư tưởng này để xây dựng nên lý luận về phương pháp phòng
và chữa bệnh trong Đông y, mang lại những hiệu quả đáng kể trong vấn đề chữabệnh cứu người, đặc biệt là trong công tác dưỡng sinh phòng bệnh
Đối với Đông y mà nói, sự kế thừa một học thuyết, một tư tưởng triết họcnhất định sẽ không đủ để lý giải cả một hệ thống lý luận và mang tính chuyên môncao, do đó trong hệ thống tư tưởng triết học của trường phái Nho gia thì ngoài tưtưởng Thiên nhân hợp nhất ra còn có tư tưởng về Khí cũng có vai trò rất lớn đối với
lý luận Đông y nói chung Nếu như tư tưởng Thiên nhân hợp nhất giữ vai trò chỉđạo nội dung phương pháp phòng và chữa bệnh thì học thuyết về Khí góp phầnquan trọng trong việc chỉ ra sự tương ứng giữa con người với trời đất,đồng thờiphân tích sự ảnh hưởng của thời khí đối với sức khỏe của con người, từ đó giúpngười thầy thuốc xác định được nguyên nhân gây bệnh và lựa chọn phương pháp trịliệu thích hợp
Khí là một phạm trù quan trọng, bao hàm nhiều nội dung và ý nghĩa trong hệthống phạm trù triết học Trung Quốc, nó tồn tại trong mọi hoạt động trao đổi chấtcủa tất cả các sinh vật Xét về phương diện nào đó, có thể khẳng định rằng, một khi
ta nhận thức và nắm vững được phạm trù Khí thì sẽ hiểu được quan điểm cơ bảncủa triết học Trung Quốc, bởi phạm trù Khí và tư tưởng Khí luận giữ địa vị trọngyếu trong tư tưởng của các triết gia Khí trong triết học Trung Quốc được hiểu theo
Trang 30nhiều nghĩa khác nhau, chẳng hạn như: Khí là khí hạo nhiên; Khí là tinh khí; Khí lànguyên khí; …
Phạm trù “Khí” trong triết học Nho gia thời tiên Tần được thể hiện thông qua
tư tưởng của Khổng Tử về sau là Mạnh Tử và Tuân Tử và được thâu tóm lại thànhhai quan niệm cơ bản là “tinh khí tạo ra muôn vật” và “khí hạo nhiên”
Khổng tử - người sáng lập nên trường phái Nho gia, bên cạnh các quan điểm
về chính trị - xã hội, triết học, đạo đức, giáo dục,… cũng đã đưa ra một số quanniệm về Khí như: Khí là khí tức (hơi thở); Khí là huyết khí; Khí là từ khí; Khí làphong khí Tuy nhiên, do giới hạn của đề tài, nên ở đây tác giả chỉ trình bày một sốnét nổi bật trong tư tưởng về Khí của Khổng Tử với quan niệm cho rằng Khí làhuyết khí
Khi nói đến “huyết khí”, có thể hiểu ngay rằng khái niệm Khí trong trườnghợp này được dùng để chỉ công năng sinh lý của cơ thể người Khổng Tử nói, ngườiquân tử phải chú ý tránh ba điều: Lúc thiếu thời, khí huyết chưa ổn định, cần phảitránh gần gũi nữ sắc, khi trưởng thành, huyết khí vừa căng đầy, cần tránh tranh chấpmột cách tùy tiện, đến tuổi già, khí huyết suy nhược, cần tránh thói tham lam vô độ.Nội dung này đã được Đông y kế thừa và vận dụng để phân tích quá trình trao đổichất giữa cơ thể với môi trường tự nhiên Như vậy, Khí trong quan niệm của Khổng
Tử chính là vật chất căn bản cấu tạo nên cơ thể và duy trì hoạt động sống của conngười; là sự hoạt động của các tạng phủ, khí quan trong cơ thể: Tâm khí, Phế khí,
Tỳ khí,… Vai trò của Khí là thúc đẩy quá trình chuyển hóa giữa vật chất và cơ năng(trao đổi chất trong cơ thể và quá trình chuyển hóa năng lượng, chuyển hóa vậtchất) để tạo nên hoạt động sống Đồng thời sự hình thành và phát triển của khíhuyết trong cơ thể là sự biểu hiện các giai đoạn khác nhau trong cuộc đời mỗi conngười, công năng sinh lý của cơ thể cũng theo đó mà thay đổi theo từng giai đoạn.Chính vì vậy, con người muốn duy trì được trạng thái của huyết khí thì cần phảihành động thuận ứng với quy luật tự nhiên Như vậy, mặc dù còn được hiểu ở quanniệm thông thường và mang tính tự phát song quan niệm về huyết khí của Khổng
Trang 31Tử đã có những giá trị nhất định mà sau này các Nho gia, đặc biệt là Y gia kế thừa,phát huy và vận dụng.
Kế thừa tư tưởng “huyết khí” của Khổng Tử, Mạnh Tử đã đưa ra quan niệm
về “khí hạo nhiên”, tạo cơ sở cho tư tưởng dưỡng khí chính tâm, kiên trì hành đạocủa phạm trù Khí trong triết học Trung Quốc cổ đại
Khí hạo nhiên, theo Mạnh Tử là Khí, nó lớn nhất, mạnh nhất, nếu biết dưỡng
nó mà không làm tổn hại đến nó thì nó sung đầy trong khoảng trời đất và khí ấy sẽ
bị suy tàn nếu không được phối hợp với Đạo của trời đất Tuy nhiên, theo Mạnh Tửthì Khí hạo nhiên không phải là khí trời, khí đất trong giới tự nhiên, cũng khôngphải là khí âm dương trong cơ thể con người, mà là thứ chính khí tiềm tàng trongTâm của con người, là thứ đạo đức tinh thần có thể làm cho sung mãn và lớn mạnhbằng con đường “thiện dưỡng” Từ đó, Mạnh Tử nhấn mạnh quan hệ giúp nhau, bổtrợ cho nhau giữa ba phạm trù Tâm, Chí và Khí, ông giải thích về điều này như sau:
cơ thể con người là nơi hàm chứa khí, mà ý chí của con người lại chi phối khí, khi ýchí của con người kiên định thì chính khí sung đầy Vì vậy, cần phải làm cho ý chí
mình kiên định mà không nên làm nhụt ý chí của bản thân Trong Mạnh Tử - Công
Tôn Sửu có viết: “Chí mà chuyên nhất thì tác động đến Khí, Khí mà chuyên nhất thì
tác động đến chí, chạy nhảy thì khí tác động đến tim.” [69, tr 69] Ý chí của conngười mà chuyên nhất, kiên định thì chính khí sẽ phục tùng ý chí, nếu chính khí ổnđịnh thì ý chí sẽ phục tùng chính khí và để kiên trì “Chí”, “Khí”, “Tâm” thống nhấttrong một cơ thể thì cách làm đúng đắn là “thiện dưỡng”, quan niệm này xuất phát
từ học thuyết về tính thiện của Mạnh Tử, xét về khía cạnh nào đó thì tư tưởng nàycủa ông cũng rất hữu ích trong xã hội đương thời và về sau những giá trị tích cựctrong tư tưởng ấy cũng đã được kế thừa, vận dụng trong một số lĩnh vực, trong đó
có Đông y
Phạm trù Khí trong hệ tư tưởng của học phái Nho gia còn được mở rộngthêm bởi quan niệm Khí tự nhiên của Tuân Tử Trên cơ sở kế thừa học thuyết Khícủa Khổng Tử và Mạnh Tử, Tuân Tử khẳng định rằng: mọi thứ trong trời đất đều có
Trang 32khí; sự biến hóa của vạn vật có được là do khí âm dương giao cảm Từ đó ông chỉ ravai trò của phương pháp điều dưỡng tinh thần là phải điều khí dưỡng tâm.
Tuân Tử cho rằng, Khí là khí tự nhiên, là nguyên tố vật chất mà muôn vật
trong trời đất, con người và mọi sinh linh đều có Trong Tuân Tử - Vương Chế, viết:
“Nước và lửa có khí mà vô sinh, thảo mộc hữu sinh mà vô trị, cầm thú hữu tri mà
vô nghĩa, con người hữu khí, hữu sinh, hữu tri và hữu nghĩa, do đó con người là bậctôn quý trong thiên hạ” [69, tr 70] Con người cũng giống vạn vật là do Khí tạonên, nhưng là sản phẩm quý giá nhất của tạo hóa và con người khác hẳn vạn vật,muôn loài trong trời đất, bởi con người không chỉ có sinh mệnh, ý thức mà hơn thếnữa con người còn biết lễ nghĩa Tuy nhiên, sự khác biệt này chỉ dùng để nhấnmạnh vị trí của con người trong trời đất chứ không làm thay đổi nguồn gốc chungcủa vạn vật, muôn loài bao gồm cả con người là nhờ vào sự giao cảm hai khí âm
dương, vậy nên trong Thiên luận, Tuân Tử viết: “Trời đất hòa hợp để muôn vật sinh
sôi, âm dương giao cảm làm cho muôn vật biến hóa”, hay như “Sao sa nối nhau đổingôi, nhật nguyệt xoay vần tỏ sáng, bốn mùa tuần hoàn không nghỉ, âm dương đạihóa, mưa sa gió cuốn, ở đó cái hòa khiến cho vạn vật sinh sôi, sự dưỡng làm chomuôn vật trưởng thành” [69, tr 71] Khí trời đất, khí âm dương giao cảm, hòa hợp
mà sinh thành muôn vật, khiến cho chúng chuyển vần biến hóa Sự biến đổi trongtrời đất, vạn vật là một quá trình liên tục, không ngừng nghỉ, bốn mùa Xuân, Hạ,Thu, Đông cứ tuần hoàn hết năm này qua năm khác, đó đều là kết quả của sự vậnđộng biến hóa của khí âm dương, nó chi phối hết thảy mọi quá trình, mọi hiệntượng của vũ trụ
Như vậy, theo quan niệm của Tuân Tử thì Khí chính là vật chất nguyên thủycấu thành loài người và muôn vật trong giới tự nhiên, sự chuyển động và biến hóacủa trời đất, muôn vật là do khí âm dương giao cảm mà có Đó là quy luật chungcủa trời đất, do đó trong quá trình hoạt động cần phải điều chỉnh sao cho âm dươngcân bằng, và phương pháp mà Tuân Tử đưa ra là Điều tâm dưỡng khí Phương phápnày được Tuân Tử trình bày như sau: “Khi huyết khí cương cường thì dùng nhu màđiều hòa, khi sa vào tư duy thâm trầm thì uốn nắn bằng sự cởi mở thẳng thắn…”
Trang 33[69, tr 72] Đó là cách lấy cái âm điều chỉnh cái dương hoặc lấy cái dương điềuchỉnh cái âm, làm cho huyết khí trở nên bình hòa Có thể coi đây là cách điều dưỡng
về mặt tinh thần rất cần thiết trong công tác phòng bệnh bằng phương pháp dưỡng
sinh mà Hoàng Đế nội kinh luận bàn, điều này cho thấy mặc dù còn mang tính chủ
quan cá nhân, song tư tưởng về Khí tự nhiên của Tuân Tử cũng có giá trị nhất định,
đặc biệt là đối với hệ thống lý luận Đông y mà Hoàng Đế nội kinh đã xây dựng.
Trong Chu Dịch, các tác giả cũng đã xác định nội hàm của Khí là Tinh khí,
từ đó đi đến khẳng định Khí chính là vật chất nguyên thủy đầu tiên tạo nên vạn vật
trong vũ trụ và cả con người Nói về điều này, trong Chu Dịch – Hệ từ thượng, viết:
“Tinh khí vi vật, du hồn vi biến, thị cố tri quỷ thần chi tình trạng – tinh khí” [30, tr.1200] Câu này có nghĩa là khí tinh linh âm dương mờ mịt tích tụ lại mà thànhmuôn vật, sau khi đã tích tụ đến cùng cực thì sẽ dẫn đến sự phân tán, khi sắp phântán thì “tinh hồn” trôi nổi, rời khỏi vật hình mà biến cải đi Thần ở đây là do tinh khí
âm dương tụ lại, là nhân tố bản chất để sinh mệnh tồn tại, còn quỷ là do tinh hồn dután biến thành, là tượng trưng cho sự tiêu vong của sinh mệnh
Như vậy, từ việc nghiên cứu quan niệm về Khí của Nho gia có thể kết luậnrằng, mặc dù còn nhiều điểm khác nhau, song định hướng luận bàn cuối cùng vẫn lànghiên cứu phạm trù Khí trong mối tương quan thống nhất giữa chủ thể và kháchthể, sự thống nhất giữa trời đất và con người Tư tưởng về Khí của Nho gia tiên Tần
từ Khổng Tử đến Tuân Tử và những lý giải trong Chu Dịch đã dần được hoàn thiện
về cả nội hàm và ngoại diên Các Nho gia đã làm phong phú thêm nội dung triết họccủa phạm trù Khí, từ đó mở hướng phát triển cho phạm trù ấy trong tương lai, đặcbiệt là về mặt ứng dụng trong đời sống xã hội và các lĩnh vực nghiên cứu cụ thể
1.1.3 Đạo gia
Người sáng lập Đạo gia là Lão Tử nên trường phái triết học này còn gọi làđạo Lão Sau Lão Tử là Dương Chu và Trang Tử là người tiếp tục xây dựng và pháttriển làm phong phú thêm những tư tưởng của Đạo gia
Danh từ Đạo gia bắt đầu do người Hán đặt ra để gọi chung Lão và Trang.Tuy cái học của hai nhà khác nhau, nhưng họ được xem là cùng một phái vì phảnđối mọi chế độ tư tưởng truyền thống bấy giờ Ngoài ra, hai quan niệm căn bản về
Trang 34Đạo và Đức trong Lão học và Trang học cũng tương đồng nên người đời Hán gọi họbằng một tên chung là Đạo gia.
Trước hết nói về Lão Tử - người sáng lập ra trường phái triết học Đạo gia,một trong ba trường phái triết học lớn tiêu biểu thời Xuân Thu – Chiến Quốc Cuộcđời và sự nghiệp của Lão Tử mang đầy tính huyền thoại, cũng thấp thoáng, mập
mờ, nửa hư nửa thực như triết lý của ông nên người đời khó xác định được một
cách chính xác Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên thì Lão Tử họ Lý, tên Nhĩ, tự là Bá
Dương, thụy là Đam, còn gọi là Lão Đam, vốn là người làng Khúc Nhân, hương Lệ,huyện Hỗ, nước Sở (nay thuộc miền nam tỉnh Hà Nam) Ông làm quan sử giữ khochứa sách, tàng trữ thất sử nhà Chu Toàn bộ tư tưởng của ông được trình bày ngắn
gọn và súc tích trong cuốn Đạo đức kinh, gồm 81 chương, chia làm hai thiên:
thượng và hạ Về niên đại của cuốn sách, đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng nó
là tác phẩm được các môn đệ của trường phái Đạo gia viết về sau này, ghi lại tưtưởng của Lão Tử chứ không phải là trước tác của chính Lão Tử
Triết học Lão Tử được ví như một kim tự tháp lớn trong triết học TrungQuốc, cùng với Nho gia, nó trở thành cái bóng bao trùm và dẫn dắt các quá trình và
tư tưởng của Trung Hoa cổ đại, tác động không nhỏ đối với sự phát triển của cácngành khoa học đương thời, trong đó có Y học Trong hệ thống triết học Lão Tử,học thuyết về Đạo giữ vị trí trung tâm, nó là nền tảng chi phối xuyên suốt các vấn
đề trong triết học của ông và hầu hết các quan điểm về vũ trụ, nhân sinh của ngườiTrung Quốc cổ đại Thuật ngữ “đạo” đã xuất hiện từ rất sớm, trước thời Lão Tử,trong các văn bản cổ của Trung Hoa như Thượng thư, Kinh thi,… thường nói đến
“đạo” với nhiều ý nghĩa khác nhau như “thiên đạo”, “nhân đạo”, “địa đạo”,… Tuynhiên, đến Lão Tử thì “đạo” trở thành một khái niệm có nội dung sâu sắc và hệthống hơn và được coi là một phạm trù triết học cơ bản trong triết học của ông
Phần quý giá nhất trong triết học của Lão Tử đó là biện chứng pháp Trongtriết học của mình Lão Tử đã đã đề cập đến nguồn gốc, cách thức và khuynh hướngvận động biến đổi của vạn vật Mặc dù còn mang tính tự phát, ngây thơ, không có
Trang 35sự thâm nhập và phủ định biện chứng nhưng cũng đã vẽ lên bức tranh muôn hìnhvạn trạng, đa dạng và phong phú về vũ trụ, vạn vật với các mặt đối lập, các mối liên
hệ phổ biến và sự vận hành thống nhất của Đạo
Theo đó, Lão Tử cũng khẳng định rằng toàn bộ vũ trụ vạn vật do sự chi phốicủa “đạo” luôn luôn trong quá trình vận động, biến hóa không ngừng nghỉ Ông nói:
“Có những vật tiến lên phía trước, có những vật rơi lại phía sau, có những vật lớnlên, có những vật suy đi, có những vật đang hình thành, có những vật đang đi tớichỗ tiêu diệt…” [34, tr 208] Theo Lão Tử, mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ đềubao hàm hai mặt đối lập dựa vào nhau, liên hệ, tương tác lẫn nhau, từ đó đi đếnquan điểm cho rằng, chính sự liên hệ, tác động giữa các mặt, các khuynh hướng đốilập nhau trong sự vật, hiện tượng đã tạo ra sự vận động, biến đổi của vũ trụ, vạn vậtkhông hề hỗn loạn, mà chúng tuân theo quy luật tất yếu của tự nhiên,quy luật ấy gọi
là “đạo” Đây là những quy luật nghiêm ngặt, không có sự vật nào có thể tồn tại màđứng ngoài quy luật đó, kể cả trời đất, thần linh Tác dụng của Đạo hoàn toàn không
có ý chí, chỉ là theo tự nhiên mà thôi; cho nên Lão Tử nói: “Người bắt chước đất,đất bắt chước trời; trời bắt trước đạo; đạo bắt trước tự nhiên.” [34, tr 65] Đạo lànguyên lý chung sinh ra vạn vật, tác dụng của Đạo cũng là tác dụng của vạn vật,nhưng vạn vật sở dĩ thành vạn vật cũng là do ở Đạo, cho nên nói: “Đạo thườngkhông làm gì, nhưng qua nó cái gì cũng được làm” [31, tr 243] Do đó, có thể nói:Đạo là nguyên lý sinh ra vạn vật nhưng nó khác với sự vật mà nó sinh ra Sự vật cóthể gọi tên thì gọi là Hữu, còn Đạo không phải là sự vật, nên chỉ có thể gọi là Vô;nhưng Đạo có thể sinh ra trời đất và vạn vật nên Đạo cũng có thể gọi là Hữu Nhưvậy, có thể nói Đạo vừa Hữu lại vừa Vô, trong đó, Vô là thể của Đạo còn Hữu chính
là dụng của Đạo
Thể của Đạo là nguồn gốc tối sơ, nguyên thủy của vũ trụ vạn vật, nó chi phối
sự sinh thành và biến hóa của trời đất Lão Tử viết: “Có vật gì hỗn độn mà nên, sinh
ra trước trời đất, vừa trống không, vừa lặng yên, đứng một mình không thay đổi, lưuhành khắp mọi nơi mà không mỏi, là mẹ của thiên hạ.” [34, tr 161] Đạo là cái gốcban đầu của toàn vũ trụ, tuyệt đối vĩnh hằng, có trước trời đất Nó chỉ là một, uyên
Trang 36nguyên, chứa đựng và viên đồng hết thảy cái hữu và vô, cái tĩnh lặng và biến đổi,cái siêu hình và hữu hình.
Dụng tất là công dụng, năng lực của Đạo Đạo là cái sáng tạo, nó là khởinguồn của vũ trụ, vạn vật Từ trong sự trống rỗng của Đạo, khi vận động, vạn vậtsinh sôi nảy nở, Lão Tử viết: “Cái khoảng không giữa trời đất, giống như ống bể,tuy trống không mà vô tận, càng động lại càng ra hơi Càng nói nhiều lại càng khốncùng, không bằng giữ sự hư tĩnh” [34, tr 171] Đạo bao trùm, che chở và nuôidưỡng vạn vật nhưng nó thản nhiên (tự nhiên) như không làm gì Ông viết: “Đạothường không làm nhưng không gì không làm” [34, tr 243] Như vậy năng lực củađạo là ở trạng thái “tĩnh” nhưng không gì là không nhờ đến Đạo để phát sinh, tồn tại
và phát triển
Tư tưởng biện chứng trong triết học Lão Tử còn được thể hiện thông quaquan niệm về hai quy luật cơ bản chi phối toàn bộ vũ trụ, vạn vật: quy luật quânbình và phản phục Luật quân bình bắt nguồn từ tư tưởng của Dịch học, lấy đó làmthế cân bằng, thuận với quy luật của tự nhiên Luật này được thể hiện trong quẻThái của Dịch, đó là trạng thái mà trời đất giao hòa, muôn vật hanh thông Phát triển
tư tưởng trên, Lão Tử cho rằng luật quân bình làm cho vạn vật, vũ trụ vận động,biến hóa trong trạng thái cân bằng, theo một trật tự điều hòa tự nhiên, không có cái
gì thái quá, không có cái gì bất cập Cái gì khuyết ắt sẽ được tròn đầy, cái gì cong sẽđược thẳng, cái gì vơi sẽ được bù đắp cho đầy, cái gì cũ sẽ được đổi mới Ông viết:
“Gãy thì liền, cong thì thẳng, trống thì đầy, cũ thì mới, ít thì được, nhiều thì mất.”[34, tr 198] Nếu vi phạm luật quân bình, phá vỡ trạng thái vận động cân bằng của
vũ trụ, thì vạn vật sẽ rối loạn, trì trệ và có nguy cơ bị phá hoại: “Nhón gót chân lênthì không đứng vững Xoạc chân ra thì không bước được Tự xem là sáng thì khôngsáng Tự xem là phải thì không chói.” [34, tr 201] Đến đây có thể thấy rất rõ mốiliên hệ mật thiết giữa những quan điểm triết học toàn bộ hệ thống triết học của Lão
Tử, bởi suy cho cùng thì mọi quan niệm mà ông đưa đều hướng con người, vạn vậttrở về với Đạo, cũng là trở về với lẽ tự nhiên, thể hiện quan điểm “Tự nhiên vô vi”.Nội dung này có ảnh hưởng rất lớn đối với quan điểm dưỡng sinh học trong Đông y
Trang 37và Hoàng Đế nội kinh chịu ảnh hưởng rất lớn tư tưởng này, thiên Thượng cổ thiên
chân luận viết: “Con người thời thượng cổ đã biết về thuật dưỡng sinh, có thể học
theo thuyết biến hóa tự nhiên âm dương Thiên Địa mà thích ứng theo, phương phápđiều hòa dưỡng sinh đã giúp họ đạt được tiêu chuẩn đúng đắn.” [52, tr 5]
Cùng với quy luật quân bình, vũ trụ vạn vật theo Lão Tử còn cần phải tuântheo luật phản phục Theo luật phản phục, cái gì phát triển đến tột đỉnh thì tất sẽ trởthành cái đối lập với nó; sự vật khi phát triển đến cực điểm các tính chất của nó thìnhững tính chất ấy sẽ đi ngược để trở thành tính chất tương phản Phản phục, theo
Lão Tử được hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất, phản phục là sự vận động, biến
hóa có tính chất tuần hoàn, đều đặn, nhịp nhàng và tự nhiên của vạn vật Như hếtngày lại đến đêm, trăng tròn rồi lại khuyết, trăng khuyết rồi lại tròn, đó là quy luật
bất di bất dịch của tự nhiên Nghĩa thứ hai, phản phục là sự vận động trở về với
“đạo” của vạn vật, gọi là sự “phản giả đạo chi động” Sự trở về với Đạo của vạn vật
ở trạng thái nguyên sơ, tĩnh lặng, trống rỗng và tự nhiên được coi là tất yếu, bởitheo Lão Tử: “Nặng là gốc của nhẹ, tĩnh là chủ của náo động – Trọng vi khinh căn,tĩnh vi táo quân” [34, tr 203] Chỉ có trở về với Đạo thì vạn vật mới tồn tại, pháttriển, điều hòa, hanh thông
Từ quy luật quân bình và phản phục của vũ trụ, vạn vật, Lão Tử đã nâng lên
thành nghệ thuật sống của con người, khuyên răn con người sống phải “tri túc” tức là
biết đủ và “tri chỉ” tức biết ngừng Biết đủ và biết ngừng thì không bao giờ làm cái gìthái quá hay bất cập đối với đạo tự nhiên, và tất nhiên sẽ không bao giờ bị tai họa.Trong cuộc sống hàng ngày cũng vậy, “tri túc” sẽ giúp cho tinh thần thanh thản,không mưu cầu những gì không thuộc về mình, biết cách hòa nhập, thích nghi vớithực tại, với hoàn cảnh Tư tưởng này về sau đã được các Y gia ứng dụng để xâydựng nên phương pháp dưỡng sinh phòng bệnh chủ động, tích cực Khi nói về sự ảnhhưởng tư tưởng của Đạo gia, Tư Mã Đàm nói: “Đạo gia khiến cho tinh thần người tachuyên nhất, mọi hành động đều phải hòa hợp với cái vô hình, với sự phóng khoángđối với vạn vật Họ theo sự thay đổi của thời tiết và ứng với sự vật mà biến hóa Họhành động ở đời chẳng có điểm nào mà không thích nghi.” [31, tr 235]
Trang 38Đạo Gia tôn thờ Lão Tử, lấy Đạo đức kinh làm một tác phẩm kinh điển, dạy
tu nhân, đạo dẫn, vận khí, những phương pháp dưỡng sinh, cho là hễ tu thành công
là thành Tiên, như ông Bành Tổ thành Tiên gọi là Thái cực Chân Nhân Các bậc
phương sĩ đời Tần Hán, có ảnh hưởng rất lớn đối với việc biên soạn Hoàng Đế nội
kinh hầu hết là những người theo trường phái Đạo gia Đời Tây Tấn, đời Nam Bắc
triều, các tín đồ Đạo giáo có nhiều người rất thâm sâu Y thuật như Ân Trọng Kham,Cát Hồng, Đào Hoằng Cảnh đều là những học giả trong Đạo giáo Các Y gia đờisau vô số thầy thuốc Trung y theo thờ Đạo Lão và đều có đạo danh, điều này chothấy mối quan hệ giữa Đạo giáo với Đông y là rất lớn Mối quan hệ ấy còn được thểhiện rõ nét hơn khi nói đến tư tưởng về Khí của Đạo gia Lão Trang Luận về Khí,
trong Đạo đức kinh Lão Tử đã lý giải phạm trù này như sau:
Thứ nhất, Khí là Xung khí Lão Tử nói: “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị
sinh tam, tam sinh vạn vật Vạn vật phụ âm nhi bão dương, trùng khí dĩ vi hòa” [34,
tr 228] Nhất chính là nguyên khí, chưa có sự phân chia, là yếu tố không thể thiếucấu thành nên vạn vật, đồng thời cũng là khâu trung gian trong quá trình hóa sinhcủa Đạo thành vạn vật Lão Tử nhận thức được rằng, quá trình sinh ra vạn vật trong
vũ trụ là do Đạo hóa sinh ra khí hỗn độn, khí hóa sinh khí âm dương, khí âm dươnghóa sinh thiên, địa, nhân và hóa sinh muôn vật Như vậy, nội tại của vạn vật đềuhàm chứa trong nó khí âm dương, hai khí âm dương giao cảm, chuyển vần làm chovạn vật hài hòa sinh trưởng Trùng khí được nói đến ở đây chính là sự vận động,luân chuyển liên tục không ngừng của khí âm dương Do đó mà Khí trong quanniệm của Lão Tử có hai đặc tính: tính vật chất và tính chuyển động của khí tức
“trùng khí” Khí có khí âm và khí dương, âm dương lại là hai thế lực vừa đối lậpnhau vừa thống nhất với nhau, chúng tác động lẫn nhau để tạo nên quá trình sinhdiệt, biến hóa của vạn vật
Thứ hai, Khí là huyết khí tức khí tồn tại trong cơ thể con người Con người
muốn tồn tại thì cần phải duy trì và giữ gìn cho được “huyết khí”, ở quan niệm này,Lão Tử có sự lý giải tương tự như quan niệm về huyết khí của Khổng Tử khi gắn nó
Trang 39với công năng sinh lý của cơ thể người, đòi hỏi lẽ sống thuận theo tự nhiên tức trở
về với Đạo Chỉ khác ở chỗ, nếu như Khổng Tử đề cao sự tiết chế ham muốn, dụcvọng của chính chủ thể (con người) nhằm duy trì huyết khí thì Lão Tử lại nhấnmạnh hơn tính hài hòa của khí một cách tự nhiên theo tư tưởng “vô vi”, ông coi đâyđây là một phương pháp dưỡng sinh cho người đời
Ngoài ra, Khí trong Đạo đức kinh của Lão Tử còn được hiểu là Khí lực, ý
muốn nói đến thể lực của con người Theo Lão Tử thì con người đắc đạo có cái đức
cao dày, luôn giữ được trạng thái thuần hòa, trong chương 55, Đạo đức kinh, ông
viết: “Tri hòa viết thường, tri thường viết minh, ích sinh viết tường Tâm sứ Khícường Vật tráng tắc lão, vị chi bất Đạo, bất Đạo tảo dĩ” [69, tr 80] Câu này cónghĩa là, con người hiểu được hòa thì gọi là thường; hiểu được thường thì minh;ham sống phóng túng gọi là tường, muốn sử dụng lực khí gọi là cường; cường trángquá sẽ già nua suy kiệt thì gọi là không hợp với Đạo, không hợp với Đạo thì nhanhchóng diệt vong
Suy đến cùng thì mọi vấn đề triết học của Lão Tử đều xoay quanh Đạo Đạo
là phạm trù trung tâm trong toàn bộ hệ thống triết học của ông, đồng thời cũng làphạm trù cao nhất trong quan niệm triết học về Khí Đạo là bản thể của muôn vànthứ vô hình, vô tượng trong vũ trụ, cũng là quy luật chung của mọi sự chuyển độngbiến hóa Khí là nguyên tố vật chất cấu thành cả hình thể lẫn thuộc tính của vạn vật
và con người trong trời đất Giữa Đạo và Khí về logic rõ ràng có một sự ràng buộctất yếu, trong đó phạm trù Khí phụ thuộc vào phạm trù Đạo bởi Khí là do Đạo hóasinh mà ra
Cùng với Lão Tử thì Trang Tử cũng là một đại biểu tiêu biểu của trường pháitriết học Đạo gia, ông đã có đóng góp to lớn đối với sự phát triển rực rỡ tư tưởngtriết học Đạo gia thời kỳ Chiến Quốc Quan điểm triết học của Trang Tử là sự tiếptục những tư tưởng triết học truyền thống Trung Quốc cổ đại
Trong quan niệm về bản thể, không giống Lão Tử, Trang Tử coi học thuyếtcủa mình không phải là sự triết lý thâm trầm về Đạo mà là sự thực hành bằng chínhbản thân cuộc sống theo Đạo, bởi theo ông, sở dĩ con người có được là nhờ vào đạo
Trang 40Khi nói về cái chết của vợ mình, ông viết: “… trước thì vốn là không sinh, chẳngnhững không có sinh mà vốn lại không có hình, chẳng những không có hình mà vốnlại không có khí Con người ta chẳng qua là tạp chất biến hóa ra có khí, khí biến hóa
mà có hình, hình biến hóa mà có sinh…” [5, tr 156] Từ đây hình thành nên quanniệm của Trang Tử về bản thể luận, và đây cũng là quan niệm được các tác giả của
Hoàng Đế nội kinh chú ý vận dụng trong quá trình xây dựng hệ thống lý luận y học
cổ truyền Theo Trang Tử thì tiến trình vận động của sự vật hiện tượng được bắt đầu
từ “đạo”, “đạo” biến mà có khí, khí biến mà có hình, hình biến mà có sinh, sinhbiến mà có tử, tử để trở về với “đạo”
Trong quan niệm về Khí, kế thừa và phát triển quan điểm của Lão Tử, Trang
Tử luận Khí theo quan điểm âm dương và ấn định nội hàm của phạm trù Khí trênhai phương diện “khí âm dương” và “thần khí” Ở đề tài này, tác giả chỉ luận bànđến phạm trù Khí về phương diện “khí âm dương”
Trang Tử cho rằng, Khí là thứ vật chất nguyên thủy tinh vi do Đạo sản sinh
ra, Khí cấu thành muôn vật trong vũ trụ, bao gồm cả hình thể của trời đất và con
người Trong Nam Hoa kinh – Trí Bắc du, ông viết: “Người ta sinh ra là do khí tụ lại Khí tụ lại thì sinh, khí tán thì chết” [6, tr 284], trong Nam Hoa kinh – Chí lạc,
Trang Tử cũng nói: “… lúc đầu… vốn không có sinh mệnh; chẳng những không cóhình thể mà đến cái khí cũng không có nữa Hỗn độn ở trong cái khoảng thấpthoáng mập mờ, biến hóa mà có khí, khí biến hóa ra mà thành hình, hình biến hóa rathành sinh mệnh… ” [6, tr 284] Trang Tử đi tìm cái gốc chung của trời và đất, củangười và vạn vật trong Khí, dùng Khí để giải thích bản chất của sự sống và cái chết,của cái hay, cái dở,… Nếu như với Lão Tử, Đạo là phạm trù cao nhất của Khí thìTrang Tử coi âm dương là đặc trưng lớn nhất của Khí Ông cho rằng, Khí có thểngưng tụ, phát tán mà hình thành nên sự sinh diệt của vạn vật là nhờ vào sự giaocảm, biến hóa của hai khí âm dương Trong cơ thể con người, trong vạn vật đềuhàm chứa khí âm dương Khí âm, dương điều hòa thì nguyên khí trong cơ thể bìnhhòa, con người và vạn vật sẽ sinh trưởng bình thường, ngược lại nếu khí âm dươngmất thăng bằng, con người và vạn vật sẽ méo mó, biến dạng rồi diệt vong Do đó, cần