1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn luyện cho học sinh kĩ năng khai thác và sử dụng kênh hình trong dạy học phần Sinh học tế bào Sinh học 10 THPT

96 582 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 3,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2. Mục đích nghiên cứu Xác lập hệ thống các kĩ năng khai thác, sử dụng kênh hình và đề xuất các biện pháp rèn luyện cho học sinh các kĩ năng đó trong quá trình dạy họcphần Sinh học tế bào Sinh học 10 THPT. 3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu Đối tượng :Các kĩ năng khai thác, sử dụngkênh hình và biện pháp rèn luyện cho học sinh trong dạy học phầnSinh học tế bào thuộc Sinh học lớp 10 THPT. Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Sinh học 10 ở một số trường THPT tỉnh Bắc Giang. 4. Giả thuyết khoa học Nếu xác lập được hệ thống kĩ năng và tìm ra các biện pháp rèn luyện cho học sinh các kĩ năng khai thác, sử dụng kênh hình thì sẽ hình thành được cho học sinh các kĩ năng đó trong dạy học phần Sinh học tế bào, góp phần nâng cao chất lượng dạy vàhọc tập bộ môn.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

- -ĐỖ THỊ HƯƠNG

RÌN LUYÖN CHO HäC SINH KÜ N¡NG KHAI TH¸C

Vµ Sö DôNG K£NH H×NH TRONG D¹Y HäC PHÇN

SINH HäC TÕ BµO SINH HäC 10 THPT

Chuyên ngành : Lí luận và phương pháp dạy học Sinh học

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRỊNH NGUYÊN GIAO

Trang 2

Hà Nội, 2015

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn: PGS.TS.Trịnh Nguyên Giao

đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.

Em xin chân thành cảm ơn tập thể bộ môn Lí luận và Phương pháp dạy học Sinh học, khoa Sinh học, phòng sau đại học, Ban giám hiệu trường Đại học sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện để em nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.

Em cũng xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu, các thầy cô trong tổ Sinh học trường THPT Chuyên Bắc Giang và trường THPT Việt Yên 1 tỉnh Bắc Giang; các giáo viên cộng tác, các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện và giúp đỡ em hoàn thành quá trình thực nghiệm trong luận văn.

Em xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm, động viên, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện luận văn.

Hà Nội, tháng 09 năm 2015

Tác giả

Đỗ Thị Hương

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ

Trang 5

Phần I MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Do yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

Trong những năm gần đây, chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang tập trung vào đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người học tức là “Lấy người học làm trung tâm” Điều này đòi hỏi phải có sự thay đổi về phương pháp trong công tác giảng dạy của người giáo viên, trong đó phương pháp trực quan và phương pháp thực hành là các phương pháp dạy học tích cực đang được nhiều giáo viên quan tâm áp dụng

1.2.Do tầm quan trọng của việc sử dụng kênh hình trong dạy học phát huy tính tích cực của học sinh

Sử dụng KH sẽ làm tăng hiệu quả của nội dung và phương pháp dạy học Kênh hình là một công cụ trực quan vô cùng hữu hiệu trong việc giảng dạy Ngoài chức năng đóng vai trò là phương tiện trực quan minh hoạ cho kênh chữ kênh hình còn là một nguồn tri thức lớn có khả năng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập Thông qua kênh hình, con đường nhận thức của học sinh được hình thành, học sinh dễ tiếp thu hơn, giảm tính trừu tượng của kiến thức, từ đó giúp học sinh tự mình phát hiện và khắc sâu kiến thức Sử dụng kênh hình còn giúp cho giáo viên tổ chức việc dạy và học theo đặc trưng bộ môn nhằm đạt hiệu quả cao, giảm thiểu tính chất giảng dạy mang tính thông báo một chiều, giúp đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh

1.3.Đặc điểm của phần Sinh học tế bào

Sinh học là một bộ môn khoa học thực nghiệm, kiến thức sinh học được hình thành theo phương thức quan sát và thí nghiệm Tuy nhiên phần Sinh học tế bào lại

đề cập đến cấp độ tổ chức sống vô cùng nhỏ bé đó là tế bào với cấu trúc và hoạt động sống rất phức tạp, học sinh khó có thể có điều kiện quan sát trực tiếp, mà phần lớn các kiến thức chỉ được hình dung qua các tranh ảnh, mô hình

Trang 6

Trong thời gian gần đây sách giáo khoa Sinh học nói chung và phần Sinh học

tế bào nói riêng cũng đã có nhiều thay đổi để phù hợp hơn với nhu cầu đổi mới dạy

và học Đặc biệt số lượng kênh hình chiếm tỉ lệ khá cao với nội dung phong phú, màu sắc hấp dẫn, đa dạng Tuy nhiênlàm thế nào để khai thác tối đa hiệu quả của kênh hình đồng thời tích cực hóa hoạt động học của học sinh vẫn còn là vấn đề băn khoăn của nhiều giáo viên Về phía học sinh, trong nhiều năm giảng dạy và trao đổi với đồng nghiệp chúng tôi nhận thấy việc sử dụng tranh vẽ của học sinh còn chưa được thành thục Mặt khác các em còn chưa chú ý học, chưa sử dụng tranh để ôn tập kiến thức và xây dựng kiến thức mới

Vì vậy, để phù hợp với đặc trưng môn học và thực hiện tốt quá trình đổi mới phương pháp dạy học thì việc tìm ra các biện pháp giúp học sinh tự chiếm lĩnh tri thức từ việc khai thác kênh hình là điều cần thiết Đó là lí do chúng tôi chọn đề tài

nghiên cứu: “Rèn luyện cho học sinh kĩ năng khai thác và sử dụng kênh hình trong dạy học phần Sinh học tế bào Sinh học 10 THPT”

2 Mục đích nghiên cứu

Xác lập hệ thống các kĩ năng khai thác, sử dụng kênh hình và đề xuất các biện pháp rèn luyện cho học sinh các kĩ năng đó trong quá trình dạy học phần Sinh học tế bào Sinh học 10 THPT

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng : Các kĩ năng khai thác, sử dụng kênh hình và biện pháp rèn luyện cho học sinh trong dạy học phần Sinh học tế bào thuộc Sinh học lớp 10 THPT

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Sinh học 10 ở một số trường THPT tỉnh Bắc Giang

4 Giả thuyết khoa học

Nếu xác lập được hệ thống kĩ năng và tìm ra các biện pháp rèn luyện cho học sinh các kĩ năng khai thác, sử dụng kênh hình thì sẽ hình thành được cho học sinh các kĩ năng đó trong dạy học phần Sinh học tế bào, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học tập bộ môn

Trang 7

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu các tài liệu tâm lí học, giáo dục họcvà các tài liệu liên quan

để xây dựng cơ sở lí luận của đề tài

5.2 Điều tra, tìm hiểu về tình hình sử dụng kênh hình trong dạy học Sinh học nói chung và Sinh học tế bào nói riêng

5.3 Phân tích cấu trúc nội dung phần Sinh học tế bào

5.4 Xác lập hệ thống các kĩ năng khai thác và sử dụng kênh hình

5.5 Xây dựng quy trình khai thác và sử dụng kênh hình

5.6 Đề xuất các biện pháp rèn luyện kĩ năng khai thác và sử dụng kênh hình phù hợp với nội dung phần Sinh học tế bào

5.7 Xây dựng các tiêu chí đánh giá kĩ năng khai thác và sử dụng kênh hình

Phần Sinh học tế bào Sinh học 10 THPT

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Nghiên cứu các chính sách, đường lối điều luật của Đảng và Chính phủ về đổi mới giáo dục và yêu cầu của giáo dục trong thời đại mới

- Các tài liệu khoa học, các bài báo, tạp chí liên quan đến đề tài

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra bằng phiếu và phỏng vấn

- Tham khảo ý kiến chuyên gia

- Thực nghiệm để kiểm tra và đánh giá kết quả

7.3 Phương pháp thống kê toán học:

- Các số liệu thu thập được được xử lí bằng toán thống kê

Trang 8

8 Đóng góp mới của đề tài

8.1 Hệ thống hóa cơ sở lí luận về rèn luyện kĩ năng khai thác và sử dụng kênh hình trong dạy học Sinh học

8.2 Xác định thực trạng khai thác và sử dụng kênh hình làm phương tiện dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học phần Sinh học tế bào

8.3 Xác lập được hệ thống kĩ năng khai thác và sử dụng kênh hình phù hợp với nội dung phần Sinh học tế bào

8.4 Xây dựng quy trình khai thác và sử dụng kênh hình phù hợp để nâng cao chất lượng dạy và học phần này

8.5 Đề xuất biện pháp rèn luyện cho học sinh kĩ năng khai thác và sử dụng kênh hình

8.6 Thiết kế một số giáo án có vận dụng các kĩ năng khai thác và sử dụng kênh hình đã đề xuất

9 Cấu trúc luận văn: Luận văn gồm ba phần chính

Phần I : Mở đầu

Phần II : Nội dung

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Rèn luyện cho học sinh kĩ năng khai thác và sử dụng kênh hình

để tích cực hóa hoạt động học của học sinh trong dạy học phần Sinh học tế bào

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Phần III: Kết luận và kiến nghị

Trang 9

Phần II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Lịch sử nghiên cứu đề tài

1.1.1 Trên thế giới

Jan Amot Komensky ( 1592 -1670) nhà giáo dục Cộng hòa Séc được coi là một trong những ông tổ sư phạm của châu Âu và thế giới Ông chủ trương giảng dạy bằng hoạt động, bằng sự quan sát trực tiếp, bằng sự tiếp xúc với sự vật trong cuộc sống hàng ngày Ông cho rằng những cảm giác không thể sai được và là nguồn gốc của mọi kiến thức Khoa học tự nhiên là khoa học quan sát và thực nghiệm

Nguyễn Quang Vinh (1973), trong Luận án tiến sĩ giáo dục học của mình [14] [30] đã viết về quan điểm trong dạy học của M.A Đanhilôp, cho rằng nguyên tắc tính trực quan là nguyên tắc giữ vai trò to lớn trong quá trình dạy học, trong sự

tác động qua lại với nguyên tắc phát triển tư duy trừu tượng; còn G.Pestalossi (1746

- 1827) cho rằng điểm tựa để biến những biểu tượng chưa rõ ràng thành những biểu

tượng rõ ràng qua đó hướng tới sự phát triển tư duy bằng quan sát trực quan

ND Lêvitốp (1978), nêu lên quan niệm về hình ảnh : Ngay sau khi giáo viên

đã mô tả rõ ràng một sự vật, hiện tượng nào đó, việc cho các em xem lại hình ảnh của vật vẫn đem lại cho các em những cảm giác mới Cho dù nghệ thuật miêu tả có điêu luyện đến đâu chăng nữa cũng không thể ấn tượng bằng quan sát trực tiếp hình ảnh của chúng

Cuốn “Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào”, NXB Giáo dục, (1979) I.F.Kharlamop đã từng khẳng định vai trò của đồ dùng trực quan khi dạy Lịch sử ở trường phổ thông Theo tác giả, việc dạy học trực quan không những làm cho quá trình học tập thêm sinh động nó còn góp phần rèn luyện tư duy phân tích, tập cho các em nhìn thấy bản chất của sự kiện ẩn sau hình thức và biểu hiện bên ngoài Kích thích tính ham hiểu biết cho các em

1.1.2 Trong nước

Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về sử dụng kênh hình ởnhiều

Trang 10

KH được tạo ra từ sơ đồ, đồ thị (grap) được nghiên cứu sâu ở các công trình của nhiều tác giả Năm 1971, Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang là người đầu tiên đã nghiên cứu chuyển hoá graptoán học thành grap dạy học [14].

Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt trong cuốn “Giáo dục học”, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1978, đã nêu lên ý nghĩa, phân loại đồ dùng trực quan và việc sử dụng một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh

Nguyễn Văn Phán năm 2000, vận dụng phương phát sơ đồ (grap) trong dạy học các môn Khoa học xã hội và nhân văn ở Đại học quân sự Trong đó tác giả đã nêu được các cách sử dụng sơ đồ thiết kế nội dung, sơ đồ hóa nội dung bài học để dạy học[25]

Phan Trọng Ngọ, Lê Tràng Định, Dương Diệu Hoa năm 2000 [20] Những vấn đề trực quan trong dạy học được nghiên cứu dưới phương phápluận biện chứng của triết học Mac- Lênin, “Trực quan theo đúng nghĩa của nó không đơn giản chỉ là quan sát sự vật bằng các giác quan, mà là hành độngtác động lên sự vật, làm biến đổi các dấu hiệu bề ngoài của chúng, làm cho cái bản chất, các mối liên hệ, quan hệ

có tính quy luật của chúng được phơibày một cách cảm tính”

Năm 2002, trong dạy học lịch sử PGS.TS Nguyễn Thị Côi đã khẳng định rằng: học tập thông qua các phương tiện tạo kênh hình giúp học sinh cónhững biểu tượng chân thực, chính xác về sự vật hiện tượng Những hình ảnhđược tạo ra từ kênh hình ở SGK không chỉ là điểm tựa của nhận thức cảm tính mà còn là nguồn gốc của tư duy Sự có mặt của những phương tiện tạo hìnhtrước mắt học sinh (tranh ảnh, biểu đồ, sơ đồ ) sẽ tạo ra điều kiện thuận lợi cho các hoạt động phân tích, so sánh, tổng hợp nội dung của chúng từ đó học sinh lĩnh hội những mối liên hệ mới giữa các sự vật được dễ dàng hơn Đặc biệt kênh hình giúp học sinh dễ hiểu, dễ nhớ, nhớ lâu các kiến thức được nghiên cứu [3]

Năm 2005, tác giả Nguyễn Phúc Chỉnh với luận án Tiến sĩ giáo dục học đã rất thành công trong việc nghiên cứu một cách hệ thống và sâu sắc về lí thuyết grap

và ứng dụng grap trong dạy học Giải phẫu sinh lí người ở trung học cơ sở, hay “Cơ

sở lí thuyết của bản đồ khái niệm” [2]

Trang 11

Năm 2006 trong luận án Tiến sĩ của mình, Văn Thị Thanh Nhung lại khẳng định, rèn luyện kĩ năng dạy học cho sinh viên bằng băng hình là một phương pháp dạy học có hiệu quả Điều này nói lên rằng KH là một phương tiện dạy học hết sức quan trọng trong quá trình dạy học[21].

Năm 2009 trong luận án Tiến sĩ của mình, Nguyễn Văn Thắng đã chứng minh vai trò quan trọng của việc thiết kế và sử dụng kênh hình nhằm nâng cao nhận thức tích cực cho học sinh dân tộc ít người vùng Tây Nguyên trong dạy học Sinh học 8 [24]

Năm 2012, với đề tài “ Thiết kế và sử dụng bài giảng điện tử đa phương tiện trong dạy học chương Cảm ứng – Sinh học 11 bằng phần mềm Lecture maker 2.0” tác giả Nguyễn Thị hải Yến đã khẳng định bài giảng điện tử đa phương tiện với những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình, kênh chữ,

âm thanh sống động làm cho HS dễ thấy, hứng thú, dễ tiếp thu và bằng suy luận có

lí HS thể có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới Đây là một công dụng lớn của công nghệ thông tin, truyền thông trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học, chắc chắn có tác động tích cực tới sự phát triển trí tuệ của HS[32]

Tất cả các tác giả trên đều khẳng định phương tiện trực quan có ý nghĩa rất quan trọng trong dạy học, không những cung cấp các dữ liệu cho quá trình nhận thức mà còn là cơ sở để tư duy, rèn luyện phương pháp tư duy Tuy nhiên hiệu quảcủa phương tiện trực quan trong dạy học còn tùy thuộc nhiều vào quá trình xử lí

sư phạm của người giáo viên khi sử dụng nó

1.2 Cơ sở lí luận về rèn luyện kĩ năng khai thác và sử dụng kênh hình trong dạy học

1.2.1 Kênh hình

Trong quá trình dạy học, phương tiện trực quan và những đồ dùng trực quan nói chung là một trong những nguồn thông tin cung cấp kiến thức quan trọng, nó có tác dụng tạo nên hình ảnh giúp cho học sinh nhận thức kiến thức dễ dàng và bền vững

Hình là toàn thể nói chung những đường nét giới hạn của một vật thể trong không gian, làm phân biệt rõ vật đó với xung quanh

Trang 12

Kênh hình là một vật thể hoặc một nhóm các vật thể mà giáo viên sử dụng trong quá trình dạy học để nâng cao hiệu quả của quá trình này giúp cho học sinh lĩnh hội được những khái niệm, những định luật[15] hình thành ở các em những kĩ năng, kĩ xảo, thái độ cần thiết Đồng thời kênh hình còn là phương tiện kết nối giữa giáo viên và học sinh trong quá trình thực hiện các hoạt động dạy và học.

1.2.2 Phân loại kênh hình

Hiện nay có nhiều cách phân loại kênh hình Tuy nhiên các cách phân loại này chưa thực sự thống nhất với nhau

Một số tác giả phân thành 2 loại chính:

- Các vật tạo hình: tranh ảnh, hình vẽ, băng hình

- Các vật tượng trưng: sơ đồ, lược đồ, bản đồ giáo khoa

Mỗi loại kênh hình này lại có những ưu, nhược điểm khác nhau Cho nên tuỳ vào nội dung, cũng như tuỳ vào yêu cầu kiến thức mà ta tiến hành lựa chọn kênh hình và sử dụng sao cho phù hợp nhằm đạt được hiệu quả cao nhất

1.2 3.Vai trò kênh hình đối với việc phát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình dạy học

1.2.3.1 Vai trò của kênh hình theo quan điểm triết học

Xét về mặt triết học, con đường nhận thức được diễn ra: Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lí, nhận thức thực tại khách quan Do đó trực quan sinh động là xuất phát điểm của nhận thức Tư duy bắt đầu bằng cảm giác, tri giác các đối tượng và các hiện tượng

Quá trình nhận thức thường bắt đầu từ cảm nhận các đối tượng trong một tình huống xác định Không có sự nhận thức cảm tính này thì không thể có tư duy của HS Từ đây rút ra nhiệm vụ quan trọng của dạy học Sinh học trong việc phát triển tư duy là kích thích sự quan sát các hiện tượng, các quá trình và các đối tượng một cách chăm chú và có định hướng Muốn cho sự quan sát này góp phần phát triển tư duy thì phải đặt ra trước HS mục đích quan sát

Trang 13

Quá trình nhận thức thường được chia thành giai đoạn nhận thức cảm tính và giai đoạn nhận thức lí tính Nhận thức cảm tính là quá trình phản ánh thực tế dưới dạng cảm giác, tri giác và biểu tượng Nhờ có cảm giác và tri giác mà mối liên hệ trực tiếp giữa ý thức của con người và thế giới bên ngoài được thực hiện Trong các biểu tượng đã xuất hiện các yếu tố của sự khái quát, nhưng kiến thức vẫn còn trực quan và cụ thể Đối với giai đoạn nhận thức cảm tính, quan trọng là các hành động của HS với các đối tượng như quan sát các hiện tượng, nghe, giải thích, thực hiện

sự mô tả ở đây phương tiện trực quan (hình ảnh, tranh vẽ, phim ) giữ vai trò quan trọng đặc biệt Những phương tiện ấy tạo biểu tượng rõ ràng và đúng đắn về đối tượng giúp học sinh có những nhận xét cơ bản để rút ra các dấu hiệu bản chất, chúng là cơ sở cho trình độ nhận thức lí tính

Giai đoạn nhận thức lí tính là hoạt động gia công trí tuệ các thông tin đã thu được từ hoạt động tri giác, cảm giác trực tiếp với đối tượng để tìm ra những tính chất, những mối liên hệ và những quan hệ bản chất của sự vật hiện tượng Ở trình

độ này, HS khái quát những dữ liệu tri giác cảm tính của mình, bằng cách hệ thống hoá và thiết lập những mối liên hệ giữa chúng và đi tới hiểu bản chất của chúng

1.2.3.2.Vai trò của kênh hình theo quan điểm của lí thuyết thông tin

Việc áp dụng lí thuyết thông tin và các thành tựu công nghệ thông tin và truyền thông vào quá trình dạy học giúp các nhà sư phạm có cách tiếp cận mới về vai trò của kênh hình trong dạy học

Theo lí thuyết thông tin trong quá trình dạy học, thông tin truyền giữa thầy

và trò; giữa phương tiện học tập với trò; giữa trò với trò qua các đường (kênh) đó là: kênh thị giác (kênh hình); kênh thính giác (kênh tiếng); kênh khứu giác Trong đó, kênh thị giác có năng lực chuyển tải thông tin nhanh nhất, hiệu quả nhất[12]

Như vậy kênh là một hệ thống qua đó các thông điệp được truyền đi từ nơi phát đến nơi nhận Kênh có 2 nghĩa, nghĩa thứ nhất được xem xét trong mối quan hệ với các phương tiện được dùng để truyền thông, nghĩa thứ 2 được xem xét trong mối quan hệ với các giác quan của con người được gọi là kênh cảm giác [12] Kênh được coi như một phương tiện, nó bao gồm các phương tiện như hình tĩnh, ảnh

Trang 14

động, phim, ; Kênh được coi như một kĩ năng cảm giác qua đó người học thu nhận nội dung tốt nhất.

Trong dạy học người giáo viên cần cân nhắc khi thực hiện:

- Về nội dung:

Nội dung nào sẽ được truyền cho người học bằng lời?

Nội dung nào sẽ được truyền bằng hình ảnh?

Nội dung nào sẽ được truyền bằng các giác quan khác?

- Về đặc tính của học sinh như kĩ năng cảm giác, trình độ kiến thức, hệthống văn hóa xã hội Từ sự cân nhắc đó, người GV phải lựa chọn những phương tiện thíchhợp để kích thích vào giác quan HS nhằm tăng hiệu quả dạy học

Như vậy, KH được tạo ra khi sử dụng các phương tiện trực quan nhìnphù hợp với kĩ năng cảm giác (kĩ năng quan sát bằng mắt), trình độ kiến thứchiện tại, đặc điểm tư duycủa học sinh, nội dung kiến thức và phương phápdạy học

Yếu tố quyết định tạo được KH trong dạy học không chỉ là dạy học bằngphương tiện trực quan nào? mà còn sử dụng phương tiện trực quan đó như thếnào? Cho đối tượng học sinh nào (kĩ năng tư duy, phương tiện ngôn ngữ,truyền thống văn hóa )?

Có thể hiểu KH = Phương tiện trực quan + Phương pháp sử dụng + kĩnăng cảm giác của học sinh

Trực quan còn là một biện pháp dạy học sinh học được sử dụng phổ biếntrong các phương pháp dạy học dùng lời để minh họa sinh động cho ngôn ngữlời nói của thầy, của trò hay chữ viết của sách Trong trường hợp này PTTQ làkênh hình được kết hợp với kênh lời- kênh chữ (có thể là nguồn cung cấpthông tin hay là sự dẫn dắt về phương pháp nhận thức đối với HS)

1.2.3.3.Vai trò của kênh hình theo lí luận dạy học

Theo quan điểm tiếp cận hệ thống quá trình dạy học gồm 6 thành tố cơbản: mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá tạo thành một chỉnh thể, vận hành trong môi trường giáo dục của nhà trường và môi trường kinh

tế, xã hội của cộng đồng

Trang 15

Trong các thành phần tham gia quá trình dạy học, phương tiện chở thông điệp đi theo một phương pháp dạy học nào đó Các phương tiện tạo KH thay thế hay đại diện cho những sự vật, hiện tượng, quá trình sinh học mà GV và HS không thể tiếp cận trực tiếp hay tiếp xúc toàn bộ được Ví dụ như: hoạt động vận chuyển các chất qua màng tế bào hay quá trình hô hấp, quang hợp diễn ra trong các bào quan ti thể , lục lạp….

Trong thực tế, KH cung cấp cho HS các kiến thức một cách trực quan, cụ thể, do đó HS tiếp thu kiến thức dễ dàng, nhanh và nhớ kiến thức được lâu hơn KH

có thể đơn giản hóa các thông tin phức tạp, bỏ đi những chi tiết không bản chất làm cho việc dạy học trở nên dễ dàng hơn, vì vậy tăng thêm khả năng tiếp thu kiến thức trừu tượng mà bình thường HS khó hiểu, khó nhớ được KH dễ dàng gây được cảm tình và hứng thú khi theo dõi bài giảng KH nhấn mạnh các nội dung quan trọng bằng các bố cục, trình diễn và màu sắc phù hợp KH giúp HS hệ thống hóa các kiến thức đã học, giải thích các nguyên lí tốt hơn nói và viết KH hỗ trợ giáo viên kiểm tra đánh giá khả năng tiếp thu kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của HS

KH đóng vai trò chủ yếu và tích cực trong quá trình nhận thức khi chúng được sử dụng như nguồn dẫn đến kiến thức Ở đây HS độc lập quan sát dưới sự tổ chức và chỉ đạo của giáo viên để đi tới những kết luận, đó cũng chính là những kiến thức cần lĩnh hội Quan sát lúc này mang tính chất tìm tòi, phát hiện Nó có tác dụng phát huy tính chủ động, độc lập, phát triển năng lực quan sát, phát triển

tư duy của HS

Để hình ảnh trực quan về đối tượng học tập trở thành kênh thông tin, một

mặt quan trọng và rất cần thiết đó là sự hoạt động của HS, để giúp HS đọc và hiểu được KH thì người GV cần có phương pháp phù hợp với đối tượng HS, tuỳ theo từng vấn đề, mặt khác hình ảnh trực quan ấy phải tác động phù hợp với cơ quan cảm giác và nằm trong vùng ngưỡng tri giác của nó

Như vậy trong dạy học Sinh học, hình ảnh vừa là điểm xuất phát của quá trình nhận thức vừa là công cụ cụ thể hóa kiến thức để học sinh lĩnh hội vững chắc kiến thức

Trang 16

1.2.4 Kĩ năng

Kĩ năng là khả năng chuyên biệt của con người về một hoặc một vài khía cạnh nào đó nhằm được sử dụng để giải quyết các tình huống hoặc công việc nào đó trong cuộc sống

Trong dạy học, việc hình thành kiến thức và kĩ năng luôn đi song hành với nhau Đối với người học, việc lĩnh hội kiến thức không chỉ dừng lại ở nội dung tri thức mà cả con đường tìm ra kiến thức, cách học cùng với các kĩ năng cần thiết.Từ

đó, cách học, tri thức và kĩ năng hòa quyện vào nhau để tạo thành năng lực ở người học Như vậy giữa kiến thức và kĩ năng luôn có mối quan hệ hữu cơ với nhau, đồng thời luôn tương tác để cùng phát triển

Với đặc trưng đó trong quá trình dạy học, người dạy cần xác định thành phần kiến thức và kĩ năng mà người học đã nắm được cũng như cần đạt được để có kế hoạch tổ chức hướng dẫn theo trình tự độ khó tăng dần Nắm chắc được nguyên lý tương quan giữa kiến thức và kỹ năng, người thầy sẽ thấy được mối liên quan thường xuyên khi soạn bài để có kế hoạch tổ chức dạy học.Việc xác định thành phần kiến thức và kĩ năng mà học sinh cần nắm là vô cùng quan trọng để người dạy

có kế hoạch hướng dẫn, tổ chức thực hiện đúng mục tiêu đề ra Kế hoạch đó sẽ giúp giáo viên nhìn nhận một cách tổng thể và bao quát toàn bộ quá trình dạy học và vạch ra các hình thức tổ chức sao cho đạt hiệu quả tối ưu

1.2.5 Kĩ năng khai thác kênh hình

Với đặc trưng của bộ môn Sinh học, việc tiếp xúc với các KH trong quá trình dạy và học là điều rất thường xuyên, nhưng hiệu quả tri thức mà KH mang đến lại phụ thuộc rất lớn vào kĩ năng khai thác KH của cả GV và HS

Về phía GV, muốn sử dụng có hiệu quả trong quá trình dạy học, đòi hỏi GV phải có kĩ năng thành thạo khai thác mỗi loại KH, khai thác tối đa vai trò, chức năng, nội dung biểu hiện của mỗi đối tượng trên từng loại KH, thông qua đó không những giúp GV tự bồi dưỡng và nâng cao năng lực mà còn có một nguồn tư liệu phong phú để xây dựng và thiết kế bài toán nhận thức rèn luyện các kĩ năng Sinh học cho học sinh

Trang 17

Về phía học sinh, kĩ năng khai thác KH được thể hiện ở cách thức học sinh tương tác với KH, sự chủ động tích cực của học sinh trong quá trình làm việc với

KH để tìm ra tri thức Việc HS có tận dụng triệt để các thông tin có trong KH để rút

ra tri thức hay không phụ thuộc rất lớn vào sự định hướng của người giáo viên

1.2.6 Kĩ năng sử dụng kênh hình.

Kênh hình trong dạy học Sinh học, vừa có chức năng nhận thức, vừa có chức năng điều khiển hoạt động nhận thức của HS, do đó có vai trò quan trọng ở nhiều góc độ khác nhau: Phương tiện, tri thức, kĩ năng, phương pháp…Cụ thể KH được

sử dụng rộng rãi ở tất cả các khâu của quá trình dạy học Sinh học: định hướng, hình thành kiến thức mới, củng cố, ra bài tập về nhà, ôn tập kiểm tra đánh giá Và rất hữu ích trong việc dùng để tổ chức các hoạt động nhận thức cho học sinh, chiếm lĩnh tri thức rèn luyện kĩ năng kĩ xảo cho HS Tuy nhiên, mỗi loại KH có tính ưu việt và cách sử dụng riêng, để sử dụng hiệu quả GV cần phải:

- Làm mẫu cho học sinh

- Đặt cáccâu hỏi gợi mở gắn với KH thường có dạng như : Cái gì?, như thế

nào?, ở đâu?, tại sao?

- Thường xuyên phải sử dụng KH trong dạy học, nhất là tổ chức các hoạt

động nhận thức cho HS

- Đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học thông qua KH.

- Tạo môi trường học tập tốt (phòng học, máy tính, máy chiếu ) để nâng cao hiệu quả sử dụng KH

1.3 Cơ sở thực tiễn

1.3.1 Thực trạng sử dụng kênh hình trong dạy và học phần Sinh học tế bào Sinh học 10 THPT

1.3.1.1 Nội dung điều tra

Nhằm xác định cơ sở thực tiễn cho việc thực hiện đề tài chúng tôi đã tiến hành điều tra các nội dung dưới đây tại một số trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

Trang 18

Thứ nhất : Đặc điểm đội ngũ giáo viên, học sinh và cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình dạy học ở một số trường THPT tỉnh Bắc Giang.

Thứ hai : Tình hình dạy và học Sinh học hiện nay ở các trường THPT tỉnh Bắc Giang

Thứ ba : Tình hình sử dụng kênh hình trong quá trình dạy học Sinh học ở tỉnh Bắc Giang

1.3.1.2 Phương pháp điều tra

a Sử dụng các phiếu điều tra : Đây là phương pháp chủ yếu mà chúng tôi sử

dụng trong quá trình điều tra Chúng tôi tiến hành xây dựng một số phiếu điều tra đối với giáo viên và học sinh nhằm thu thập thông tin

b Dự giờ: Được sự đồng ý của lãnh đạo nhà trường và các giáo viên đứng

lớp chúng tôi đã tiến hành dự một số giờ dạy tại các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bên cạnh đó, hàng năm tỉnh Bắc Giang còn tổ chức hội thi giáo viên giỏi cấp tỉnh, đây cũng là những cơ hội để chúng tôi được học hỏi và rút ra những kinh nghiệm thực tiễn cho việc giảng dạy của bản thân và cho quá trình viết đề tài Trong quá trình dự giờ chúng tôi đặc biệt chú ý đến phương tiện mà giáo viên sử dụng, cách khai thác phương tiệncũng như hứng thú của học sinh khi được trải nghiệm các phương tiện đó

c Phỏng vấn: Trong các lần đi sinh hoạt cụm chuyên môn được sở giáo dục

tổ chức thường niên hàng năm, chúng tôi đã mạnh dạn trao đổi với giáo viên ở các trường trong đó có cả những thầy cô giáo đã nhiều năm công tác và những giáo viên mới ra trường về vấn đề sử dụng kênh hình trong dạy học Sinh học Điều đó giúp tôi có một sự so sánh về điểm mạnh và điểm yếu giữa các thế hệ giáo viên trong việc tiếp cận phương pháp dạy học với kênh hình

d Xử lí số liệu bằng phương pháp thống kê toán học

1.3.1.3 Kết quả điều tra

a Đặc điểm đội ngũ giáo viên, học sinh và cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình dạy học ở một số trường THPT tỉnh Bắc Giang.

Trang 19

*Về phía học sinh :

Nhìn chung do đặc điểm tâm lí học lứa tuổi (Từ 16- 18 tuổi), nên ở đa số các

em sự tập trung chú ý và độ bền trí nhớ cao hơn, ghi nhớ có tính khái quát, mang tính chọn lọc và phê phán hơn lứa tuổi HS cấp THCS

Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, sự nhạy bén, năng động của học sinh cũng không ngừng tăng lên, sự phân hóa giữa học sinh ở khu vực thành thị và khu vực nông thôn cũng giảm Điều này đỏi hỏi người giáo viên phải có ý thức nâng cao chuyên môn, không ngừng học hỏi, đầu tư giáo án để nâng cao chất lượng giờ dạy, nâng cao hứng thú học tập của học sinh tránh tình trạng dạy chay, dạy áp đặt… dễ dẫn đến học sinh nhàm chán và thờ ơ với môn học

*Cơ sở vật chất:

Với mong muốn có một cái nhìn tổng thể, một đánh giá khách quan nhất về tình hình trang thiết bị trong dạy học Sinh học ở các trường phổ thôngchúng tôi đã tiến hành thu thập số liệu ở một số trường thuộc các địa bàn khác nhau ở tỉnh Bắc Giang Đó là các trường THPT Chuyên Bắc Giang, trường THPT Thái Thuận thuộc khu vực thành phố Bắc Giang, trường THPT Việt Yên 1 và 2 thuộc huyện Việt Yên

- tỉnh Bắc Giang

Qua điều tra chúng tôi thống kê được bảng số liệu sau :

Trang 20

Bảng 1.1 : Điều tra thiết bị, phương tiện dạy học ở một số trường THPT

tỉnh Bắc Giang Thiết bị THPT

Chuyên Bắc Giang

THPT Thái Thuận

THPT Việt Yên 1

THPT Việt Yên 2

Tranh, ảnh treo tường 140 89 128 110

Qua bảng số liệu có thể thấy, cơ sở vật chất và phương tiện dạy học Sinh học

ở các trường phổ thông trong những năm gần đây đặc biệt là ở những trường thuộc khu vực thành phố, thị xã đã được chú ý đầu tư rất nhiều đáp ứng được nhu cầu dạy

và học bộ môn

Riêng với các tranh ảnh phục vụ cho phần Sinh học tế bào cũng rất phong phú, với tất cả các bài, các mục đều có các tư liệu tranh ảnh, video, hoặc mô hình phù hợp, giúp giáo viên có nhiều sự lựa chọn cho việc giảng dạy của mình Ngoài

ra, nhiều giáo viên cũng đã tiến hành xây dựng các đồ dùng hỗ trợ thêm cho việc giảng dạy (như các mô hình, các tranh ảnh sưu tầm ) làm phong phú thêm cho nguồn phương tiện phục vụ cho quá trình giảng dạy Với điều kiện cơ sở vật chất như vậy có thể hoàn toàn tiến hành các giờ dạy theo yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học

Tuy nhiên, Bắc Giang là một tỉnh có diện tích khá lớn, có những trường ở cách

xa thành phố tới hàng trăm kilomet, ở những trường thuộc các huyện vùng sâu vùng

xa này thì số lượng các phương tiện trực quan còn thiếu về số lượng và chưa đa dạng

về chủng loại Đây là một khó khăn đối với người giáo viên khi thiết kế và tiến hành một giờ dạy theo phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh

b Tình hình giảng dạy và học tập môn Sinh học hiện nay ở các trường THPT tỉnh Bắc Giang.

* Tình hình giảng dạy:

Trang 21

Sinh học là một bộ môn có khối lượng kiến thức khá lớn, tuy nhiên thời lượng giảng dạy theo phân phối chương trình lại không nhiều, mỗi lớp chỉ có từ 1-2 tiết học / tuần Điều này đòi hỏi mỗi người giáo viên phải tìm cho mình một cách dạy tốt nhất đảm bảo tiến trình dạy học mà không gây nặng nề, nhàm chán cho học sinh Đa số các GV đã và đang làm điều đó, nhiều GV đã rất công phu trong việc chuẩn bị bài lên lớp, tìm tòi học hỏi từ đồng nghiệp, tương tác với học sinh từ đó có thể điều chỉnh phương pháp dạy của mình nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giờ dạy Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận nhỏ GV chưa thực sự tâm huyết với nghề,

và chưa có sự đầu tư đúng mức nên các tiết học còn mang tính lí thuyết, đơn điệu và kém hấp dẫn đối với học sinh

*Tình hình học tập: Chúng tôi sử dụng phiếu điều tra tham vấn ý kiến của 355 HS

từ đó thống kê được bảng số liệu sau:

Bảng1.2 : Hứng thú của học sinh đối với môn Sinh học (điều tra HS)

là môn phụ, không quan tâm thậm chí ghét học Khi được hỏi về lí do thì nhiều em cho rằng đây là môn học khó, kiến thức trừu tượng, khó hiểu

Với PPDH truyền thống GV là trung tâm của quá trình dạy học, GV dùng phương pháp giảng giải là chủ yếu, hạn chế về sử dụng các phương tiện dạy học hỗ trợ cho việc lĩnh hội kiến thức Dẫn đến việc truyền thụ kiến thức từ GV đến HS diễn ra một cách thụ động, yêu cầu ở HS chủ yếu là sự nhắc lại một cách máy móc kiến thức, chưa khuyến khích sự tìm tòi sáng tạo ở HS trong quá trình học Trong thực tế dạy học các bộ môn nói chung và dạy học Sinh học nói riêng còn bộc lộ rất nhiều hạn chế Kiến thức quá trình sinh học là kiến thức phức

Trang 22

tạp, trừu tượng gây khó khăn trong quá trình dạy và học của GV và HS, nếu như không có phương tiện dạy học hỗ trợ thì việc lĩnh hội kiến thức này của HS rất khó khăn, ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh

c Tình hình sử dụng kênh hình trong quá trình dạy học Sinh học ở tỉnh Bắc Giang.

Chúng tôi sử dụng phiếu điều tra tham vấn ý kiến của 65GV, phân tích kết quả cho thấy:

- Về mức độ sử dụng kênh hình trong quá trình dạy học sinh học:

+ 100% GV đều cho rằng việc sử dụng kênh hình trong quá trình dạy học Sinh học là cần thiết Việc sử dụng các hình ảnh sinh động sẽ gây được hứng thú ở học sinh, việc truyển tải kiến thức trở nên dễ dàng hơn

+ Hơn 90% GV thường xuyên sử dụng kênh hình trong quá trình dạy học Tuy nhiên các kênh hình mà họ sử dụng chủ yếu là các tranh ảnh có sẵn trong sách giáo khoa chứ chưa có sự chủ động trong việc tìm kiếm và lựa chọn các tư liệu hình ảnh phù hợp hơn với ý tưởng dạy học của mình Đặc biệt là các video, mô hình còn

ít được sử dụng bởi họ còn ngần ngại khi sử dụng vì lí do chưa thành thạo, tốn công chuẩn bị, hay bị phụ thuộc nội dung trình chiếu hoặc không đủ thời gian để sử dụng

- Về mục đích sử dụng kênh hình trong quá trình dạy học Sinh học

Bảng 1.3: Mục đích sử dụng kênh hình (Điều tra 65 GV)

Mục đích Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ

Kiểm tra bài cũ 0 0% 12 18,5% 53 81,5%Minh họa kiến thức mới 41 63,1% 19 29,2% 5 7,7%Phát hiện kiến thức mới 29 44,6% 31 47,7% 5 7,7%Củng cố 0 0% 15 23,1% 50 76,9%Kiểm tra đánh giá 0 0% 21 32,3% 44 67,7%

Như vậy, kĩ năng giảng dạy và hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình nhìn chung còn nhiều hạn chế Giáo viên đã biết lợi ích của việc sử dụng kênh hình nhưng không thường xuyên cho nên còn thiếu thành thạo dẫn đến học sinh cũng lúng túng không biết cách tiếp cận để khai thác kiến thức từ kênh hình

Trang 23

Bên cạnh đó có một số giáo viên coi nhẹ việc sử dụng phương tiện dạy học, phần lớn các giáo viên chỉ sử dụng kênh hình với chức năng minh hoạ kiến thức chứ chưa khai thác nội dung cũng như hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức từ kênh hình Đặc biệt, việc sử dụng KH trong các khâu củng cố hoặc kiểm tra đánh giá học sinh còn rất hiếm nên quá trình dạy học Sinh học hiện nay còn chưa thực sự khai thác hết tiềm năng của tư liệu KH.

1.3.2 Nguyên nhân thực trạng

Hiện nay, cùng với việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa tạo điều kiện cho học sinh có thể tự học và tự nghiên cứu nhiều hơn thì việc đổi mới phương pháp cũng đang được các giáo viên chú ý và thực hiện Một loạt các phương pháp dạy học “lấy học sinh làm trung tâm” đã và đang được giáo viên sử dụng trong quá trình dạy học

Đối với môn Sinh học, việc đổi mới phương pháp dạy học để phát huy tính tích cực, chủ động tìm tòi kiến thức càng có ý nghĩa quan trọng Trong thực tế giảng dạy Sinh học hiện nay có thể thấy việc sử dụng kênh hình ngày càng phổ biến và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc cung cấp kiến thức cho học sinh Đây

là một phương tiện dạy học tích cực, nó không chỉ có chức năng là minh hoạ cho bài giảng mà còn góp phần là nguồn cung cấp kiến thức mới lạ, hiệu quả sinh động, hấp dẫn Kênh hình còn giúp cho giáo viên thuận lợi và tiết kiệm thời gian trong quá trình giảng dạy Sinh học

Tuy nhiên, việc khai thác và sử dụng kênh hình Sinh học vẫn còn nhiều hạn chế Nguyên nhân là do một số giáo viên chưa nhận thức được đầy đủ vai trò của hệ thống kênh hình, cho rằng kênh hình chỉ là đồ dùng trực quan nên việc sử dụng kênh hình chỉ mang tính chất minh hoạ cho kênh chữ Bên cạnh đó không ít giáo viên lại quá lạm dụng kênh hình, tung các kênh hình ra với số lượng nhiều nhưng chỉ mang tính chất trình chiếu,không làm rõ được trọng tâm bài học cũng như các kiến thức cốt lõi Ngược lại một số giáo viên đứng tuổi, những giáo viên ở vùng sâu, vùng xa thường ít hoặc không sử dụng đồ dùng trực quan để tạo nhu cầu và hứng thú cho học sinh

Trang 24

Về phía học sinh, mặc dù được tiếp xúc với khá nhiều kênh hình trong quá trình học tập do GV cung cấp nhưng chỉ dừng lại ở việc quan sát một cách thụ động

mà bản thân các em chưa có nhiều cơ hội trải nghiệm tự mình tìm ra tri thức mới

Vì vậy kĩ năng khai thác và sử dụng kênh hình của học sinh còn yếu Mặt khác, nhiều học sinh vẫn coi Sinh học là môn phụ cho nên học tập không nghiêm túc, mang tính chống đối và ít khi duy trì được hứng thú lâu dài với môn học

Vấn đề đặt ra là phải có những phương pháp rèn luyện cho học sinh cách khai thác và sử dụng kênh hình cụ thể, đảm bảo đúng vai trò và chức năng của KH trong dạy học Sinh học

Kết luận chương 1

Trang 25

1 Trong lịch sử nghiên cứu khoa học đã chứng minh vai trò củaphương tiện trực quan trong dạy học phù hợp với lí thuyết về nhận thức.Trong đó, KH được xem

là thành tố có vai trò rất quan trọng trong dạyhọc Trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều tác giả nghiên cứu dạy họcbằng các phương tiện trực quan tạo kênh hình khác nhau trong những lĩnhvực khác nhau Kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước làcơ sở thực tế của việc dạy học bằng kênh hình.Theo hướng này, có nhiều tác giả đã thànhcông trong việc nghiên cứu và vận dụng một số phương tiện trực quannhư: Grap, bản đồ khái niệm, tranh ảnh, băng hình, thí nghiệm, vào dạyhọc một số môn học ở trường phổ thông

2 Trong thực tế giảng dạy tại địa phương việc sử dụng KH của giáo viên còn nhiều hạn chế chủ yếu với mục đích minh họa kiến thức, chưa gây được sự hấp dẫn với học sinh Một số GV chưa thực sự quan tâm đến việc sử dụng kênh hình một số khác lại quá lạm dụng KH trong quá trình dạy học nên hiệu quả sử dụng KH chưa cao, chưa tận dụng hết tiềm năng mà phương tiện này đem lại cho quá trình dạy học Học sinh chưa có nhiều cơ hội tự tìm ra tri thức từ việc khai thác KH nên kĩ năng còn yếu Nếu GV có các biện pháp vận dụng KH một cách đúng đắn và học sinh có kĩ năng khai thác tốt các loại KH thì chắc chắn việc sử dụng KH sẽ đem lại hiệu quả cao trong dạy và học Sinh học ở trường phổ thông hiện nay

3 Ở Việt Nam, các nghiên cứu về vấn sử dụng kênh hình cũng khá nhiều trong các bộ môn như Lịch sử, Địa lí nhưng với bộ môn Sinh học thì còn ít và chưa

có tính hệ thống Đặc biệt với phần SHTB vẫn chưa có tác giả nào nghiên cứu về vấn đề này

Trang 26

Chương 2 RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH KĨ NĂNG KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG KÊNH HÌNH ĐỂ TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC TẾ BÀO SINH HỌC 10 THPT 2.1 Đặc điểm kênh hình trong phần Sinh học tế bàoSinh học 10 THPT

2.1.1 Đặc điểm chung của hệ thống kênh hình

Sinh học là một môn khoa học thực nghiệm nên các phương pháp dạy học có ý nghĩa quan trọng Hiện nay, trong mỗi giờ học Sinh học, các kênh hình được tạo ra từ phương tiện dạy học luôn được sử dụng thường xuyên và có vai trò không nhỏ trong việc điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên Đồng thời nó cũng là nguồn tri thức phong phú để học sinh độc lập tìm tòi và rèn luyện các kĩ năng cần thiết Để nâng cao hiệu quả của việc khai thác kênh hình trong quá trình dạy học Sinh học thì bản thân kênh hình phải đảm bảo các yêu cầu sau:

2.1.1.1 Tính khoa học

Các kênh hình được sử dụng trong dạy học phải đảm bảo tính khoa học Một trong những yêu cầu khoa học đầu tiên là kênh hình phải đảm bảo tính chính xác về đối tượng, các hiện tượng và các quá trình sinh học

Tính khoa học của kênh hình còn được thể hiện ở lượng thông tin mà nó truyền tải Dựa vào nội dung cụ thể cũng như trình độ nhận thức của học sinh mà ta tiến hành xây dựng kênh hình theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh

2.1.1.2 Tính trực quan

Đảm bảo tính trực quan là một trong những nguyên tắc quan trọng của kênh hình Tính trực quan của kênh hình thể hiện ở khả năng nhận biết nhanh của học sinh đối với các đối tượng và quá trình sinh học được biểu hiện trên kênh hình

Hệ thống kênh hình nên sử dụng những màu sắc đẹp, các kí hiệu gần gũi, các hình ảnh trực quan nhằm kích thích hứng thú học tập của học sinh

Tuy nhiên do đặc thù của môn học cho nên hệ thống kênh hình không chỉ dễ nhìn mà phải gọn nhẹ,dễ di chuyển Ngoài ra để đảm bảo các nguyên tắc trực quan thì kênh hình được trình bày trong SGK phải có một sự nhất quán với kênh chữ, nội

Trang 27

dung biểu hiện phải tập trung vào nội dung quan trọng, tránh lồng ghép quá nhiều nội dung vào một đơn vị hình làm rối kênh hình.

2.1.1.3 Tính sư phạm

Để đảm bảo được tính sư phạm thì kênh hình được xây dựng phải có sự nghiên cứu kĩ về nội dung và về phương pháp cũng như đặc điểm tâm lí lứa tuổi của học sinh

Bản thân học sinh cũng giống như trang giấy trắng, chính quá trình học tập rèn luyện trong nhà trường phổ thông đã góp phần hình thành nên nhân cách và phẩm chất của các em Do vậy, khi lựa chọn, thiết kế kênh hình phục vụ quá trình dạy học, tính sư phạm còn thể hiện ở sự thống nhất về kí hiệu, phương pháp thể hiện

2.1.1.4 Tính thẩm mĩ

Kênh hình được sử dụng trong giảng dạy nói chung và trong dạy học Sinh học nói riêng phải đảm bảo tính thẩm mĩ cao, các đường nét, màu sắc phải hài hoà, cân đối Tính thẩm mĩ vừa có tác dụng thu hút sự chú ý của HS vừa có tác dụng giáo dục óc thẩm mĩ cho HS

2.1.2 Đặc điểm của hệ thống kênh hình trong phần Sinh học tế bào

Nếu như trước đây, SGK với khổ nhỏ, chủ yếu là kênh chữ, kênh hình rất hiếm hoi Hiện nay, với việc cải cách chương trình và SGK, kênh hình đã được chú trọng hơn, trung bình mỗi bài có 2- 3 kênh hình Chất lượng của kênh hình cũng được tăng lên rõ rệt và phù hợp với hệ thống kênh chữ, tạo điều kiện cho giáo viên tiến hành giảng dạy và hướng dẫn học sinh khai thác tri thức sinh học thông qua kênh hình

Nhìn chung các kênh hình được bố trí trên khổ giấy tương đối rộng cho nên không những đảm bảo tính trực quan, thẩm mĩ mà còn kích thích hứng thú học tập của học sinh Dựa vào hệ thống kênh hình được cung cấp, học sinh tri giác nhanh, phát hiện ra các xu thế chính, các đặc điểm chủ yếu của sự vật hiện tượng Ngoài ra một số hình vẽ , sơ đồ, còn thể hiện cả mối quan hệ qua lại giữa các cấu trúc, các quá trình sinh học

Trang 28

Kênh hình được bố trí không những trong các bài học lí thuyết mà còn được thể hiện trong các bài thực hành nên việc rèn luyện kĩ năng thực hành thí nghiệm với kênh hình cũng chiếm một vị trí quan trọng Ngoài ra, ngay dưới mỗi kênh hình đều có những câu hỏi đòi hỏi mức độ tư duy của học sinh Qua hệ thống câu hỏi này khi quan sát kênh hình học sinh có được những định hướng cụ thể cho việc tự lực tìm ra tri thức sinh học.

Hệ KH trong SGK Sinh học 10 nói chung và các kênh hình trong phần SHTB nói riêng đã được các tác giả lựa chọn công phu, có nội dung phù hợp, tính trực quan cao, chứa đựng lượng thông tin cần thiết, có vai trò trong định hướng tư duy, tổ chức nhận thức KH là ảnh chụp, hình vẽ mô tả nội dung học tập có tính trực quan cao, nhờ loại KH này HS biết được quá trình, nội dung, vị trí, mối quan

hệ giữa các dạng kiến thức

Hệ thống các kênh hình của phần SHTB trong SGK Sinh học 10 THPT bao gồm:

Bảng 3: Tỉ lệ % về khối lượng của các nguyên tố hóa học cấu tạo nên cơ thể người

Hình 3.1 Cấu trúc phân tử của nướcHình 3.2 Mật độ của các phân tử nước ở trạng thái rắn và lỏng

Bài 4: Cacbohidrat và lipit

Hình 4.1 Cách sắp xếp các phân tử glucozo trong tế bào thực vật

Hình 4.2 Cấu trúc phân tử mỡBài 5: Protein Hình 5.1 Các bậc cấu của proteinBài 6: Axitnucleic Hình 6.1 Mô hình cấu trúc của phân tử

ADNHình 6.2 Mô hình cấu trúc của phân tử t ARN

Bài 7: Tế bào nhân sơ Hình 7.1 Độ lớn các bậc cấu trúc của thế

giới sốngHình 7.2 Sơ đồ cấu trúc điển hình của

Trang 29

II Cấu trúc

của tế bào

một trực khuẩnBài 8: Tế bào nhân thực Hình 8.1 Cấu trúc tổng thể của tế bào

nhân thựcHình 8.2 Cấu trúc và chức năng của bộ máy Gongi

Bài 9: Tế bào nhân thực ( tiếp theo)

Hình 9.1 Cấu trúc của ti thểHình 9.2 Cấu trúc của lụclapBài 10: Tế bào nhân

thực ( tiếp theo)

Hình 10.1 Khung xương tế bàoHình 10.2 Cấu trúc màng sinh chất theo

mô hình khảm độngBài 11: Vận chuyển các

III Chuyển

hóa vật chất

Bài 13: Khái quát về năng lượng và chuyển hóa vật chất

Hình 13.1 Cấu trúc của phân tử ATP

Hình 13.2 Quá trình tổng hợp và phân giải ATP

Hình 13.3 Các con đom đóm đang nhấp nháy để thu hút bạn tình

Bài 14: Enzim và vai trò của enzim trong quá trình chuyển hóa vật chất

Hình 14.1.Sơ đồ mô tả cơ chế tác động của enzim saccaraza

Hình 14.2 Sơ đồ minh họa sự điều hòa quá trình chuyển hóa bằng chất ức chế ngược

Trang 30

Hình 16.3 Sơ đồ tóm tắt chu trình CrepBài 17: Quang hợp Hình 17.1 Hai pha của quá trình quang

hợpHình 17.2 Sơ đồ giản lược của chu trình

C3

IV Phân bào

Bài 18: Chu kì tế bào và quá trình nguyên phân

Hình 18.1 Chu kì tế bàoHình 18.2 Nguyên phân ở tế bào động vật

Bài 19: Giảm phân

Hình 19.1 Các kì của giảm phân 1Hình 19.2 Các kì của giảm phân 2Bài 20: Thực hành:

Quan sát các kì nguyên phân trên tiêu bản rễ hành

Hình 20 Ảnh chụp các kì của nguyên phân ở rễ hành

Bài 21: Ôn tập phần sinh học tế bào

Qua bảng thống kê có thể thấy, các kênh hình trong phần SHTB chủ yếu là tranh ảnh mô tả cấu trúc sinh học (cấu trúc các đại phân tử, cấu trúc các bào quan…) và sơ đồ mô tả các quá trình sinh học (quá trình hô hấp tế bào, quá trình quang hợp, hay quá trình nguyên phân và giảm phân…) Đây chính là nguồn tri thức thứ hai sau kênh chữ Các hình có thể được trình bày độc lập hay gắn liền với các câu lệnh định hướng khai thác hình Đây cũng là những gợi ý mà giáo viên có thể lựa chọn để tổ chức bài dạy của mình Tuy nhiên hệ thống các kênh hình phục

vụ cho giảng dạy phần SHTB không chỉ dừng lại ở các tranh ảnh trong SGK mà còn phương tiện khác như : mô hình, bộ ảnh bản trong… và đặc biệt để bổ sung thêm

Trang 31

cho kho kênh hình này giáo viên có thể khác thác thêm các tranh ảnh, video khác trên internet hoặc “chế biến” lại các KH sẵn có, nhờ đó mà có nhiều sự lựa chọn hơn trong việc tìm kiếm các kênh hình phù hợp với ý tưởng dạy học của mình.

Như vậy, với những đổi mới về chương trình và sách giáo khoa theo quan điểm dạy học tích cực tạo ra nhiều tình huống học tập Kiến thức được trình bày bằng nhiều hình thức khác nhau thông qua kênh hình và kênh chữ Điều này tạo nên hứng thú học tập bộ môn, kích thích lòng ham hiểu biết giúp việc dạy và học trở nên nhẹ nhàng, dễ dàng hơn

2.2 Rèn luyện kĩ năng khai thác và sử dụng kênh hình để tích cực hóa hoạt động học của học sinh trong dạy học phần Sinh học tế bào

2.2.1 Các kĩ năng cơ bản trong quá trình khai thác kênh hình

Cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống thói quen học tập thụ động Trong quá trình dạy học, HS không chỉ được trang bị kiến thức mà còn được trang bị cách chiếm lĩnh kiến thức, đó là các KN tư duy Thực tế hiện nay, GV chú trọng cung cấp tri thức mà chưa chú ý đến dạy cách học cho HS, do đó chưa hình thành được các năng lực tư duy trong quá trình chiếm lĩnh và vận dụng tri thức

Để khắc phục các mặt hạn chế đó, trong dạy học hiện nay cần phải coi trọng việc rèn luyện các KN cho HS đặc biệt lưu ý đến KN học tập là một trong những vấn đề cấp bách nhằm góp phần đào tạo được lớp người năng động, sáng tạo đáp ứng yêu cầu của người lao động mới trong thời đại ngày nay

2.2.1.1 Kĩ năng quan sát kênh hình

Một trong những kĩ năng chủ đạo để giúp học sinh có thể khai thác và sử dụng kênh hình (tranh vẽ) có hiệu quả là kĩ năng quan sát kênh hình

Quan sát là một hoạt động của trí tuệ và diễn ra theo một quá trình, k ĩ năng quan sát rất quan trọng đối với con người trong cuộc sống Quan sát đòi hỏi sự chú

ý và nhận thức của người quan sát Quan sát bổ sung cho lắng nghe trong việc tiếp nhận thông tin từ bên ngoài Một sự quan sát chính xác và nhạy bén có thể cung cấp thêm thông tin về những gì tiềm ẩn bên trong sự vật hiện tượng được nói đến

Trang 32

Để rèn luyện được kĩ năng này người giáo viên phải biết lựa chọn kênh hình phù hợp và hướng dẫn học sinh theo trình tự sau:

- Xác định mục tiêu quan sát, lí do tiến hành quan sát, và có thể đặt ra các tiêu chí quan sát

- Học sinh theo dõi các nội dung về cấu trúc hay hoạt động diễn ra và cách thức diễn ra (diễn ra như thế nào) có trong kênh hình quan sát dựa trên các tiêu chí

đã nêu và lưu các thông tin trong đầu hay bằng cách ghi chép

- Học sinh sử dụng các thông tin lưu lại để hoàn tất quá trình quan sát đã chủ định

Ví dụ: Khi dạy về bào quan ti thể của tế bào nhân thực, giáo viên có thể rèn cho

học sinh kĩ năng quan sát hình trong sách giáo khoa bằng các hoạt động như sau:

- Xác định mục tiêu quan sát: Nêu được các thành phần cấu tạo của ti thể

- Xác định các tiêu chí quan sát:

+ Kể được đầy đủ tên các thành phần cấu tạo của bào quan này theo trình tự

từ ngoài vào trong hoặc từ trong ra ngoài

+ Đặc điểm của mỗi thành phần

- Học sinh quan sát và ghi lại những thông tin thu được dựa trên tiêu chí quan sát:

Cấu tạo ti thể :

+ Ngoài : Bao bọc bởi 2 lớp màng (màng kép) , màng ngoài trơn nhẵn, màng trong gấp nếp

+ Trong : Chất nền chứa : AND dạng vòng, riboxom 70 S…

- Hoàn thiện các thông tin quan sát và báo cáo kết quả

Như vậy quan sát là một kĩ năng giúp học sinh thu thập thông tin Đây là khởi đầu của quá trình nhận thức Nếu biết cách quan sát tốt học sinh sẽ có một lượng thông tin đầy đủ, phong phú nhằm phục vụ cho quá trình xử lí tiếp theo

2.2.1.2 Kĩ năng phân tích kênh hình

Trang 33

Phân tích có nghĩa là chẻ vấn đề ra thành từng mảnh nhỏ, để hiểu từng chi tiết, từng khía cạnh nhỏ, và từ đó hiểu được vấn đề Rèn luyện kĩ năng phân tích là hình thành cho học sinh thói quen tìm hiểu sự vật hiện tượng có chiều sâu.

Để giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức cùng với việc hướng dẫn học sinh quan sát kênh hình người giáo viên còn phải giúp học sinh phân tích các thông tin thu thập được bằng cách đưa ra được hệ thống các câu hỏi gợi mở để hướng dẫn học sinh khai thác triệt để từng khía cạnh nội dung kiến thức chứa trong tranh Mặt khác nhờ câu hỏi gợi mở của giáo viên học sinh dễ định hướng được những nội dung cần phải quan sát, từ đó kích thích trí tìm tòi, phát triển tư duy cho học sinh giúp học sinh dễ nhớ và nhớ lâu kiến thức

Ví dụ: Khi dạy cấu tạo ti thể giáo viên khi yêu cầu học sinh quan sát có thể kết

hợp đưa ra các câu hỏi gợi mở để định hướng việc khai thác kiến thức từ kênh hình

- Ti thể được cấu tạo gồm những bộ phận nào?

- So sánh diện tích màng ngoài và màng trong ti thể ? Ý nghĩa của sự khác nhau đó?

- Những cấu trúc nào đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng của ti thể?

Qua việc trả lời các câu hỏi gợi mở học sinh sẽ dần dần khai thác tranh từ nhiều khía cạnh khác nhau, không chỉ dùng tranh để tìm những bộ phận cấu thành nên ti thể mà quan trọng hơn là tìm hiểu được các bộ phận đó có đặc điểm gì,thực hiện chức năng ra sao từ đó thấy được vai trò của bào quan này trong hoạt động sống của tế bào và toàn bộ cơ thể

2.2.1.3 Kĩ năng so sánh kênh hình

So sánh là sự phân tích điểm giống và khác nhau giữa các đối tượng nhằm phân loại sự vật hiện tượng thành những loại khác nhau hoặc làm nổi bật những tính chất cơ bản của chúng Nhận ra được sự giống hay khác nhau được xem là cốt lõi của quá trình dạy học Tùy theo mục đích so sánh mà sự so sánh có thể thiên về sự giống nhau hay khác nhau

Để rèn kĩ năng so sánh có thể tiến hành theo các bước sau đây:

Trang 34

+ B1 : Nêu định nghĩa đối tượng được so sánh.

+ B2 : Phân tích đối tượng, tìm ra dấu hiệu, bản chất của mỗi đối tượng.+ B3 : Xác định những điểm giống nhau giữa các đối tượng

+ B4: Xác định những điểm khác nhau giữa các đối tượng

+ B5 : Khái quát những dấu hiệu giống và khác nhau của các đối tượng được

so sánh

Ví dụ:Khi học “Bài 8 : Tế bào nhân thực” , trước khi tìm hiểu cấu tạo chi

tiết của tế bào nhân thực giáo viên cần cho học sinh thấy được sự khác nhau cơ bản giữa cấu tạo tế bào nhân thực và tế bào nhân sơ Ở đây, GV cần sử dụng hình ảnh về cấu tạo hai loại tế bào này và hướng dẫn học sinh so sánh theo các bước:

Tế bào nhân sơ Tế bào nhân thực (Tế bào thực vật)

+ B1: Nêu định nghĩa đối tượng được so sánh: GV giúp học sinh xác định rõ các hình ảnh mô tả từng loại tế bào

- Tế bào nhân thực

- Tế bào nhân sơ

+ B2 : Phân tích đối tượng, tìm ra dấu hiệu, bản chất của mỗi đối tượng: Giáo viên định hướng cho HS về các tiêu chí quan trọng cần quan sát và so sánh:

- Thể thức cấu tạo chung

- Nhân

- Các cấu trúc trong tế bào chất ( sự xoang hóa)

Trang 35

- Rút ra mức độ tiến hóa của hai loại tế bào.

+ B3 : Xác định những điểm giống nhau giữa các đối tượng:

- Đều có thể thức cấu tạo chung : Màng sinh chất, chất tế bào, nhân ( hoặc vùng nhân) chứa vật chất di truyền

+ B4: Xác định những điểm khác nhau giữa các đối tượng:

- Tế bào nhân sơ : Chưa có màng nhân, chưa có hệ thống nội màng và các bào quan có màng bao bọc, mức độ tiến hóa thấp

- Tế bào nhân thực : Có màng nhân phân hóa, ngăn cách vật chất di truyền với tế bào chất Trong tế bào chất có hệ thống nội màng và các bào quan

có màng bao bọc (đã có sự xoang hóa), mức độ tiến hóa cao hơn

+ B5: Khái quát những dấu hiệu giống và khác nhau của các đối tượng được so sánh: Thấy được điểm giống và khác nhau cơ bản giữa tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực, học sinh sẽ rút ra được những kết luận về nguồn gốc và mức độ tiến hóa của các sinh vật ở cấp độ tế bào

2.2.1.4 Kĩ năng chiếm lĩnh tri thức

Đây có thể coi là kĩ năng tự học của học sinh, thể hiện sự tự giác, độc lập, tích cực sử dụng các năng lực trí tuệ, phẩm chất của bản thân người học để chiếm lĩnh được tri thức của nhân loại và những kinh nghiệm xã hội, để biến những tri thức đó thành sở hữu của mình, hình thành kĩ năng thái độ và ngày càng hoàn thiện nhân cách cá nhân Trong quá trình làm việc với KH, hiệu quả của việc khai thác và

sử dụng KH phụ thuộc vào sự tổ chức, sự định hướng của giáo viên đồng thời cũng phụ thuộc sự chủ động, tích cực, và năng lực trí tuệ của HS

Như vậy trong quá trình học tập với kênh hình có thể dùng nhiều kĩ năng khác nhau Tuy nhiên, để có thể khai thác và sử dụng hiệu quả cần lựa chọn và phối hợp các kĩ năng một cách hợp lí phù hợp với từng loại kênh hình, với từng đơn vị kiến thức và mức độ nhận thức của học sinh

2.2.2 Quy trình rèn luyện cho học sinh kĩ năng khai thác và sử dụng KH

* Để khai thác triệt để “công lực” của kênh hình, giáo viên phải nắm được một số nguyên tắc có tính bắt buộc sau:

Trang 36

Nguyên tắc sử dụng đúng loại KH:Cần lựa chọn các KH mang tính thiết thực

đối với nội dung bài học, đồng thời sử dụng tối đa các nội dung đã được thể hiện trên mỗi kênh hình

Nguyên tắc sử dụng đúng lúc: Sự xuất hiện đúng lúc làm tăng thêm thế mạnh

của kênh hình, nhất là trong sự háo hức chờ đợi của HS Yếu tố bất ngờ khi kênh hình xuất hiện càng kích thích tính hấp dẫn và hứng thú từ người xem Nếu cho các

em xem trước thì dễ nhàm chán và phân tán sự chú ý của cả lớp Kênh hình xuất hiện đúng lúc nội dung và phương pháp dạy học cần đến nó

Nguyên tắc sử dụng đúng chỗ: Tìm vị trí để giới thiệu phương tiện trực quan

một cách hợp lí nhất Có như vậy HS mới huy động được nhiều giác quan nhất, dù ngồi ở mọi vị trí trong lớp ai cũng có thể tiếp xúc phương tiện một cách rõ ràng và đồng đều

Nguyên tắc sử dụng đủ cường độ: Hiệu quả của kênh hình sẽ giảm sút nếu

kéo dài việc sử dụng một loại phương tiện hoặc hình ảnh cứ lặp đi lặp lại một cách đơn điệu

* Ngoài ra khi sử dụng KH trong quá trình dạy học người GV còn phải lưu ý: -Kênh hình phải được sử dụng có hiệu quả cao, tập trung vào việc sử dụngcác kênh hình như một nguồn kiến thức, hạn chế dùng chúng theo cách minh hoạcho kiến thức

-Giáo viên cần có kế hoạch chuẩn bị trước các kênh hình Nghiên cứu kĩcác kênh hình để hiểu rõ nội dung, tác dụng của từng loại kênh hình, tránh tìnhtrạng khi lên lớp mới cùng HS tiếp xúc với kênh hình

-Khi soạn bài cũng như khi lên lớp GV cần phải xây dựng được hệ thốngcâu hỏi, bài tập chuẩn xác rõ ràng để HS làm việc với các loại kênhhình nhằm lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng

Trang 37

Hình 2.1 : Quy trình rèn luyện cho HS kĩ năng khai thác và sử dụng KH

2.2.2.1 Bước 1: Thiết kế bài giảng

a Xác định mục tiêu dạy học

Mục tiêu dạy - học được xác định cho HS thực hiện bằng các hoạt động tự lực, tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo và hình thành nhân cách dưới sự chỉ đạo, tổ chức, điều khiển của thầy Mục tiêu phải được diễn đạt bằng một động từ hành động để có thể lượng hoá mức độ hoàn thành công việc học tập của HS Thực chất của việc xác định mục tiêu bài học là trả lời câu hỏi: sau khi học xong một bài, một phần nào đó thì HS phải có được những kiến thức gì, những kỹ năng gì, hoặc hình thành được thái độ gì và với mức độ đạt được như thế nào? Xác định mục tiêu không phải là việc mô tả những yêu cầu của nội dung, chương trình học; nó không phải đơn thuần là chủ đề của bài học mà là cái đích bài học phải đạt tới; nó chỉ rõ cách thức hoàn thành nhiệm vụ học tập của HS

Muốn phát triển kĩ năng xácđịnh mục tiêu cần phải tuân thủ một số quy tắc,

Trang 38

học Mục tiêu đặt ra càng cụ thể, sát hợp với yêu cầu của nội dung và với điều kiện dạy - học thì càng thuận lợi cho việc đánh giá hiệu quả và điều chỉnh hợp lý quá trình dạy - học để từng bước thực hiện mục đích dạy - học một cách vững chắc

b Phân tích nội dung dạy học

Toàn bộ nội dung của môn học, của từng bài học đều có mối liên hệ lôgíc với nhau Nếu như mối liên hệ này bị vi phạm, thì việc tiếp thu tri thức gặp rất nhiều khó khăn và HS sẽ không hiểu được; vì muốn hiểu được một điều gì đấy, có nghĩa

là gắn cái chưa biết với cái đã biết Phân tích lôgíc nội dung dạy - học là cơ sở quan trọng cho việc lựa chọn và sử dụng KH để tổ chức hoạt động nhận thức cho HS

Khi tiến hành phân tích lôgic cấu trúc nội dung chương trình Sinh học tế bào,

có thể theo hai hướng khác nhau: hoặc là đi từ cấp độ tổ chức sống thấp đến các cấp độ tổ chức sống cao hơn, hay ngược lại từ cấp độ tổ chức sống cao đến các cấp

độ tổ chức sống thấp hơn Tuy nhiên, dù theo cách cấu trúc lôgicnội dung nào, thì khi nghiên cứu Sinh học tế bào phải vận dụng phương pháp luận tiếp cận cấu trúc –

hệ thống Tức là chúng ta tiếp cận theo hướng sau:

- Chương thành phần hóa học của tế bào được giới thiệu theo cấp tổ chức từ nguyên tử đến phân tử rồi đến các đại phân tử hữu cơ như cacbohidrat, lipit, protein

và các axit nucleic Đặc điểm của sự sống ở cấp độ tế bào là do các đặc điểm của các đại phân tử cấu tạo nên tế bào quy định

- Chương cấu trúc của tế bào được mở đầu bằng việc giới thiệu về tế bào nhân sơ và sau đó là tế bào nhân thực

- Chương chuyển hóa vật chất và năng lượng bắt đầu bằng việc giới thiệu các khái niệm cơ bản như năng lượng, nguyên lí chuyển hóa năng lượng trong tế bào và đồng tiền năng lượng của tế bào Tiếp đến, giới thiệu về enzim và vai trò của enzim trong quá trình trao đổi chất và năng lượng của tế bào Cuối cùng là hai quá trình chuyển đổi vật chất và năng lượng điển hình trong tế bào là quá trình hô hấp tế bào

và quang hợp

- Chương phân bào giới thiệu một cách khái quát về chu kì tế bào, quá trình nguyên phân và giảm phân ở sinh vật nhân thực

Trang 39

Việc phân tích nội dung dạy học là căn cứ quan trọng cho việc lựa chọn KH Người giáo viên cần phải xác định được trong các đơn vị kiến thức đó đơn vị nào nên dạy bằng KH, sử dụng KH nào là phù hợp và hiệu quả hơn Mặt khác phân tích nội dung dạy học còn là cơ sở để thiết kế các câu hỏi định hướng cho việc khai thác KH

c Xác định và lựa chọn KH phù hợp với nội dung kiến thức cần truyền tải

Hiệu quả của việc sử dụng KH trong dạy học phụ thuộc trước tiên vào bản thân KH Do đó việc lựa chọn KH phù hợp để tổ chức các hoạt động nhận thức là nhiệm vụ rất quan trọng của người giáo viên.Đây cũng là một kĩ năng mà mỗi GV hướng tới

Khi lựa chọn kênh hình GV cần phải phân tích và sử dụng triệt để hệ thống

KH của bài học sẵn có trong SGK Sở dĩ hệ thống kênh hình này đã được các tác giả viết sách lựa chọn công phu có nội dung phù hợp, màu sắc đẹp có tính trực quan cao, chứa lượng thông tin lớn có vai trò định hướng tư duy, tổ chức hoạt động nhận thức…Để mang lại hiệu quả khi sử dụng, GV cần phân tích các KH đó dựa trên các tiêu chí như:

- Hình chứa nội dung gì?

- Gắn với mục tiêu dạy học nào?

- Sử dụng loại KH này có thể tạo ra những loại tương tác nào trong hoạt động dạy và học…

Tuy nhiên, do khuôn khổ có hạn của SGK và đặc điểm của các đối tượng Sinh học luôn có sự vận động và biến đổi theo không gian và thời gian nên giáo viên có thể thiết kế, sưu tầm thêm một số KH nhằm làm cho các đối tượng Sinh học

có tính cập nhật, sống động và phong phú hơn Đặc biệt hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và những ứng dụng của nó, người GV có nhiều thuận lợi hơn trong việc thiết kế và sưu tầm nhiều loại KH khác nhau để phục vụ cho giảng dạy

d Lập kế hoạch cho việc đưa kênh hình vào tiến trình bài dạy (Ví trí, thời điểm, cách giới thiệu KH với HS)

Trang 40

Saukhi lựa chọn được KH phù hợp với đơn vị kiến thức cần truyền tải thì việc xác định vị trí, thời điểm đưa KH cho HS quan sát cũng góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả của quá trình học tập Hình phải được đặt ở những vị trí dễ quan sát, tất cả các học sinh đều có thể quan sát được, thời điểm sử dụng phải phù hợp với ý đồ dạy học, cách “ tung” kênh hình phải khéo léo, hấp dẫn thu hút sự chú ý của học sinh.

e Thiết lập hệ thống câu hỏi gợi mở định hướng học sinh tương tác với KH

Hệ thống câu hỏi gợi mở là yếu tố quan trọng giúp định hướng và khai thác triệt để kênh hình Các câu hỏi đưa ra phải theo logic hợp lí, đảm bảo sự phát triển

hệ thống khái niệm theo logic của bản thân khoa học Tế bào học, phát huy tính tích cực của học sinh Giáo viên phải xác định vị trí của bài học trong toàn chương, toàn phần trong hệ thống chương trình để thấy mối liên hệ giữa những kiến thức của bài đó với nhau, với kiến thức của bài trước và bài sau, nó là cơ sở để đặt câu hỏi khai thác KH Mặt khác thông qua xây dựng hệ thống câu hỏi khai thác KH, giáo viên còn có cơ hội tìm hiểu xem những kiến thức nào học sinh còn nhớ, những kiến thức nào học sinh đã quên, phần nào học sinh dễ tiếp thu, phần nào khó tiếp thu, chỗ nào học sinh dễ mắc sai

2.2.2.2 Bước 2 :Tổ chức cho học sinh sử dụng và khai thác kênh hình để chiếm lĩnh tri thức phần SHTB

Đây chính là quá trình GV triển khai các hoạt động học tập để học sinh lĩnh hội tri thức thông qua tương tác với KH Để tổ chức cho học sinh sử dụng và khai thác kênh hình chiếm lĩnh tri thức phần SHTB một cách có hiệu quả thì GV cần xây dựng được các bài toán nhận thức gắn với kênh hình

Việc xây dựng các bài toán nhận thức trong dạy học Sinh học là tạo ra cho học sinh “các tình huống có vấn đề”, đưa học sinh vào các “ tình thế” và “định hướng hành động giải quyết” cho HS Thông qua các bài toán nhận thức, HS thấy được “cái cho”, “cái cần tìm”, thấy được “cái đã biết” và “cái chưa biết” trong quá trình chiếm lĩnh tri thức mới Do đó khi sử dụng KH để tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh cần phải thể hiện được “cái đã biết” và “cái chưa biết”, sao cho

Ngày đăng: 12/04/2016, 08:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành (1996), Lý luận dạy học Sinh học ( phần đại cương), NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học Sinh học
Tác giả: Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1996
2. Nguyễn Phúc Chỉnh (2005), Phương pháp grap trong dạy học Sinh học, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp grap trong dạy học Sinh học
Tác giả: Nguyễn Phúc Chỉnh
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2005
3. Nguyễn Thị Côi (2002), “ Kênh hình – Một nguồn kiến thức quan trọng trong dạy học Lịch sử”, Tạp chí giáo dụcsố 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kênh hình – Một nguồn kiến thức quan trọng trong dạy học Lịch sử”
Tác giả: Nguyễn Thị Côi
Năm: 2002
4. Phan Khắc Chương (1997), Komensky ông tổ của nền sư phạm cận đại, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Komensky ông tổ của nền sư phạm cận đại
Tác giả: Phan Khắc Chương
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1997
5. Trần Ngọc Danh (chủ biên), Đỗ Ngọc Âu, Lại Thị Phương Ánh (2008), Luyện tập và nâng cao kiến thức Sinh học 10, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luyện tập và nâng cao kiến thức Sinh học 10
Tác giả: Trần Ngọc Danh (chủ biên), Đỗ Ngọc Âu, Lại Thị Phương Ánh
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2008
6. Lâm Quang Dốc, Nguyễn Quốc Lập (2010), Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa Địa lí 12, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa Địa lí 12
Tác giả: Lâm Quang Dốc, Nguyễn Quốc Lập
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2010
7. Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên), Phạm Văn Lập, Trần Dụ Chi, Trịnh Nguyên Giao, Phạm Văn Ty (2010), Sách giáo khoa Sinh học 10, NXB Giáo Dục, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Sinh học 10
Tác giả: Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên), Phạm Văn Lập, Trần Dụ Chi, Trịnh Nguyên Giao, Phạm Văn Ty
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2010
8. Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên), Phạm Văn Lập, Trần Dụ Chi, Trịnh Nguyên Giao, Phạm Văn Ty (2010), Sách giáo viên Sinh học 10, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Sinh học 10
Tác giả: Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên), Phạm Văn Lập, Trần Dụ Chi, Trịnh Nguyên Giao, Phạm Văn Ty
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2010
9. Trịnh Nguyên Giao, Nguyễn Văn Tư (2006), Bài tập trắc nghiệm Sinh học 10, NXB Giáo Dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập trắc nghiệm Sinh học 10
Tác giả: Trịnh Nguyên Giao, Nguyễn Văn Tư
Nhà XB: NXB Giáo Dục Hà Nội
Năm: 2006
10. PGS. TS.Trịnh Nguyên Giao (2007), Lí thuyết và bài tập Sinh học 10, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí thuyết và bài tập Sinh học 10
Tác giả: PGS. TS.Trịnh Nguyên Giao
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2007
11. PGS. TS.Trịnh Nguyên Giao, PGS.TS. Lê Đình Trung (2007), Sinh học tế bào và Sinh học vi sinh vật, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học tế bào và Sinh học vi sinh vật
Tác giả: PGS. TS.Trịnh Nguyên Giao, PGS.TS. Lê Đình Trung
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2007
13. Đoàn Thanh Hà (2013), Nâng cao hiệu quả dạy học Sinh học tế bào bằng sử dụng hệ thống câu hỏi bài tập, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Đại học sư phạm – Đại Học Thái Nguyên, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả dạy học Sinh học tế bào bằng sử dụng hệ thống câu hỏi bài tập
Tác giả: Đoàn Thanh Hà
Năm: 2013
14. Lý Thái Hảo (2009), Rèn luyện cho học sinh dân tộc thiểu số kĩ năng khai thác kênh hình và tự xây dựng một số dạng kênh hình đơn giản góp phần nâng cao chất lượng dạy học Sinh học 11, Luận văn thạc sĩ, Đại học sư phạm – Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện cho học sinh dân tộc thiểu số kĩ năng khai thác kênh hình và tự xây dựng một số dạng kênh hình đơn giản góp phần nâng cao chất lượng dạy học Sinh học 11
Tác giả: Lý Thái Hảo
Năm: 2009
15. Trần Thị Hiền (2011), Phương pháp khai thác kênh hình trong dạy học Địa lí 12, Luận văn thạc sĩ, Đại học sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp khai thác kênh hình trong dạy học Địa lí 12
Tác giả: Trần Thị Hiền
Năm: 2011
16. Phan Thị Thanh Hội (2015), Hình thành và phát triển phương pháp nghiên cứu khoa học cho học sinh trong dạy học Sinh học 11 Trung học phổ thông, Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp trường, Trường Đại học sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành và phát triển phương pháp nghiên cứu khoa học cho học sinh trong dạy học Sinh học 11 Trung học phổ thông
Tác giả: Phan Thị Thanh Hội
Năm: 2015
17. Ngô Văn Hưng ( chủ biên), Hoàng Công Cương, Lương Thị Mộng Diệp, Ngô Thu Trang (2006), Giới thiệu giáo án Sinh học 10, NXB Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu giáo án Sinh học 10
Tác giả: Ngô Văn Hưng ( chủ biên), Hoàng Công Cương, Lương Thị Mộng Diệp, Ngô Thu Trang
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2006
18. Giang Hồng Liễu, Một số phương pháp rèn kĩ năng sử dụng kênh hình môn Sinh học, Sáng kiến kinh nghiệm, THCS Trần Văn Thời, Cà Mau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phương pháp rèn kĩ năng sử dụng kênh hình môn Sinh học
20. Phan Trọng Ngọ, Lê Tràng Định, Dương Diệu Hoa ( 2000), Vấn đề trực quan trong dạy học, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề trực quan trong dạy học
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
21. Văn Thị Thanh Nhung (2006), Sử dụng băng hình và tài liệu hướng dẫn để hình thành cho sinh viên kĩ năng dạy học kĩ thuất chăn nuôi ở trường trung học phổ thông, Luận án tiến sĩ, Trường đại học sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng băng hình và tài liệu hướng dẫn để hình thành cho sinh viên kĩ năng dạy học kĩ thuất chăn nuôi ở trường trung học phổ thông
Tác giả: Văn Thị Thanh Nhung
Năm: 2006
22. Nguyễn Đức Thành (chủ biên), Dương Tiến Sỹ, Nguyễn Văn Duệ(2002), Dạy học Sinh học ở trường Trung học phổ thông, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học Sinh học ở trường Trung học phổ thông
Tác giả: Nguyễn Đức Thành (chủ biên), Dương Tiến Sỹ, Nguyễn Văn Duệ
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 : Điều tra thiết bị, phương tiện dạy học ở một số trường THPT - Rèn luyện cho học sinh kĩ năng khai thác và sử dụng kênh hình trong dạy học phần Sinh học tế bào Sinh học 10 THPT
Bảng 1.1 Điều tra thiết bị, phương tiện dạy học ở một số trường THPT (Trang 20)
Bài 16: Hô hấp tế bào Hình 16.1. Sơ đồ tóm tắt quá trình hô - Rèn luyện cho học sinh kĩ năng khai thác và sử dụng kênh hình trong dạy học phần Sinh học tế bào Sinh học 10 THPT
i 16: Hô hấp tế bào Hình 16.1. Sơ đồ tóm tắt quá trình hô (Trang 30)
Hình 2.1 : Quy trình rèn luyện cho HS kĩ năng khai thác và sử dụng KH - Rèn luyện cho học sinh kĩ năng khai thác và sử dụng kênh hình trong dạy học phần Sinh học tế bào Sinh học 10 THPT
Hình 2.1 Quy trình rèn luyện cho HS kĩ năng khai thác và sử dụng KH (Trang 37)
Hình kết hợp với  đọc phần 3  để trả lời các - Rèn luyện cho học sinh kĩ năng khai thác và sử dụng kênh hình trong dạy học phần Sinh học tế bào Sinh học 10 THPT
Hình k ết hợp với đọc phần 3 để trả lời các (Trang 65)
Bảng 3.1: Thống kê điểm số các bài kiểm tra trong thực nghiệm - Rèn luyện cho học sinh kĩ năng khai thác và sử dụng kênh hình trong dạy học phần Sinh học tế bào Sinh học 10 THPT
Bảng 3.1 Thống kê điểm số các bài kiểm tra trong thực nghiệm (Trang 70)
Hình 3.1: Biểu đồ tần suất điểm các bài kiểm tra trong TN - Rèn luyện cho học sinh kĩ năng khai thác và sử dụng kênh hình trong dạy học phần Sinh học tế bào Sinh học 10 THPT
Hình 3.1 Biểu đồ tần suất điểm các bài kiểm tra trong TN (Trang 71)
Bảng 3.2: Bảng tần suất điểm các bài kiểm tra trong TN (%) - Rèn luyện cho học sinh kĩ năng khai thác và sử dụng kênh hình trong dạy học phần Sinh học tế bào Sinh học 10 THPT
Bảng 3.2 Bảng tần suất điểm các bài kiểm tra trong TN (%) (Trang 71)
Bảng 3.7: Tần suất hội tụ tiến điểm bài kiểm tra sau TN (%) - Rèn luyện cho học sinh kĩ năng khai thác và sử dụng kênh hình trong dạy học phần Sinh học tế bào Sinh học 10 THPT
Bảng 3.7 Tần suất hội tụ tiến điểm bài kiểm tra sau TN (%) (Trang 74)
Hình 3.3 : Biểu đồ tần suất điểm bài kiểm tra sau thực nghiệm - Rèn luyện cho học sinh kĩ năng khai thác và sử dụng kênh hình trong dạy học phần Sinh học tế bào Sinh học 10 THPT
Hình 3.3 Biểu đồ tần suất điểm bài kiểm tra sau thực nghiệm (Trang 74)
Bảng 3.8: Bảng các tham số đặc trưng của các bài kiểm tra sau TN - Rèn luyện cho học sinh kĩ năng khai thác và sử dụng kênh hình trong dạy học phần Sinh học tế bào Sinh học 10 THPT
Bảng 3.8 Bảng các tham số đặc trưng của các bài kiểm tra sau TN (Trang 75)
Hình ảnh trên cho thấy bề sao Hoả có nhiều đặc điểm giống như cảnh quan - Rèn luyện cho học sinh kĩ năng khai thác và sử dụng kênh hình trong dạy học phần Sinh học tế bào Sinh học 10 THPT
nh ảnh trên cho thấy bề sao Hoả có nhiều đặc điểm giống như cảnh quan (Trang 96)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w