1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí

97 380 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 2,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu “Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí” nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, của HS trong học tập, góp phần đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học công nghệ ở THCS 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc “Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí” Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn công nghệ 8 phần cơ khí. Tiến hành thực nghiệm để kiểm chứng tính hiệu quả và tính khả thi của đề tài nghiên cứu. 4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu  Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Công nghệ 8 phần cơ khí ở THCS.  Đối tượng nghiên cứu: Xây dựng website và sử dụng hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần cơ khí  Phạm vi nghiên cứu của đề tài hướng tới việc: “Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần cơ khí” Phạm vi tiến hành thực nghiệm ở một số trường THCS trên địa bàn Hà Nội, Bắc Ninh

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Được sự phân công của khoa Sư phạm Kĩ thuật - Trường Đại học Sưphạm Hà Nội và được sự đồng ý của Thầy giáo hướng dẫn PGS - TS Lê HuyHoàng, tôi đã thực hiện đề tài: “Xây dựng và sử dụng Website hỗ trợ dạyhọc Công nghệ 8 phần Cơ khí”

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy cô giáo

đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu vàrèn luyện ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đối với PGS.TS

Lê Huy Hoàng - người thầy đã hướng dẫn, chỉ đạo tận tình cho tôi trong suốtquá trình thực hiện đề tài luận văn này

Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình,bạn bè và đồng nghiệp đã cổ vũ, độngviên và tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình học tập vàhoàn thành luận văn

Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất,song do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học cũng nhưnhững hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh được nhữngthiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được Tôi rất mong nhận được góp ýcủa Thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 09 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Hà

Trang 2

CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 3

DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ

1 Danh mục bảng

Bảng 1.1 Kích thước của các kênh dữ liệu trong trang Web Error: Reference source not found

Bảng 1.2: Khảo sát tình hình trang thiết bị tại các trường THCS trên địa bàn

Hà Nội, Bắc Ninh Error: Reference source not found Bảng 1.3: Mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học Error: Reference source not found

Bảng 3.1: Bảng phân phối xác suất (số HS Fi đạt điểm xi) Error: Reference source not found

Bảng 3.2: Bảng tần xuất xi, fi(%) Error: Reference source not found Bảng 3.3: Kết quả tính phương sai lớp đối chứng Error: Reference source not found

Bảng 3.4: Kết quả tính phương sai lớp thực nghiệm Error: Reference source not found

Bảng 3.5: Bảng so sánh kết quả lớp thực nghiệm và lớp đối chứng Error: Reference source not found

2 Danh mục hình vẽ

Hình 1.1: Mô hình TPACK 15

Hình 1.2: Các cấp độ sử dụng ICT trong dạy học 19

Hình 1.3: So sánh Web 1.0 và Web 2.0 27

Bảng 1.1 Kích thước của các kênh dữ liệu trong trang Web 30

Bảng 1.2: Khảo sát tình hình trang thiết bị tại các trường THCS trên địa bàn Hà Nội, Bắc Ninh 40

Bảng 1.3: Mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học 41

Hình 2.1 : Giao diện Microsoft Word 53

Hình 2.2 : Giao diện PowerPoint 54

Hình 2.3 : Giao diện Dreamweaver 56

Hình 2.4 : Giao diện BB Flashback pro 56

Trang 4

Sơ đồ 2.2: Cấu trúc Website dạy học 58

Hình 2.5: Giao diện Site Trang chủ 59

Hình 2.6: Giao diện Site Bài giảng 60

Bảng 3.1: Bảng phân phối xác suất (số HS Fi đạt điểm xi) 71

Bảng 3.2: Bảng tần xuất xi, fi(%) 71

Hình 3.1: Đồ thị đường tần suất (fi) 72

Bảng 3.3: Kết quả tính phương sai lớp đối chứng 72

Bảng 3.4: Kết quả tính phương sai lớp thực nghiệm 73

Bảng 3.5: Bảng so sánh kết quả lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 74

MỤC LỤC ND kiÕn thøc c¬ b¶n 85

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, công nghệ thông tin (CNTT) không ngừng tác động mạnh mẽ đến giáodục và đào tạo Làm thay đổi cách suy nghĩ của GV và HS Quá trình dạy họctrở nên tích cực hơn, sinh động hơn, linh hoạt hơn, trực quan hơn khi nó đượcgắn liền với những phương tiện nghe nhìn hiện đại Công nghệ thông tin vừanhư một phương tiện vừa như một nhân tố mới trong quá trình dạy học, chiphối toàn bộ quá trình này nhằm đạt đến mục tiêu nhanh nhất và hiệu quảnhất Với ưu thế của một nguồn thông tin khổng lồ, đầy màu sắc, sống độngphản ánh sự đa dạng của thế giới, Internet đã và đang trở thành một công cụ

hỗ trợ tích cực trong việc dạy và học Tuy nhiên làm thế nào để khai thácInternet một cách hiệu quả đang là vấn đề đặt ra đối với các GV

Trước những biến đổi về thời đại mới, một yêu cầu đặt ra đối với conngười đó là muốn chiếm lĩnh được tri thức của nhân loại phải tự chủ, sáng tạo

và có tư duy khoa học Trước tình hình đó đã đặt ra cho nền giáo dục nước taphải có những đổi mới căn bản, toàn diện và đồng bộ, vươn tới ngang tầm với

sự phát triển chung trên Thế giới và Khu vực Trong đó đổi mới phương phápdạy học là yếu tố quan trọng, cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu trên

Phát triển giáo dục là chìa khóa, là đòn bẩy tạo nên sự phát triển nhanhchóng và bền vững cho đất nước trong thời gian tới và lâu dài về sau Quanđiểm này đã được thể hiện rõ trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban chấphành Trung ương Đảng (khóa VIII) : “ Thực sự coi giáo dục – đào tạo làquốc sách hàng đầu” Trong những năm qua, giáo dục nước ta đã có nhiều đổimới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường vai trò chủ thể của HS.Phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo, trong đó việc giúp các em có khả năng

tự chiếm lĩnh tri thức là một trong những phương pháp cần thiết Vì dù GV có

Trang 6

truyền đạt kiến thức nhiều đến đâu cũng không thể hết được kho tàng kiếnthức của nhân loại.

Trong chương trình giáo dục phổ thông, có một số kiến thức, kháiniệm, hiện tượng khá trừu tượng HS gặp nhiều khó khăn khi phải tìm hiểubản chất của hiện tượng đó Tuy nhiên với những ưu thế về khả năng đồ họa,

mô phỏng mà các phương tiện dạy học đem lại sẽ hỗ trợ khắc phục những khókhăn trên Qua việc sử dụng Website trong dạy học, GV có thể phát huy tất cảcác giác quan của các em HS trong quá trình truyền thụ kiến thức, làm cho

HS nhận biết được các quan hệ giữa các hiện tượng, tái hiện những khái niệm,nguyên lý…làm cơ sở cho việc áp dụng kiến thức đã học vào trong thực tếđời sống sản xuất

Các website phục vụ cho công tác giáo dục xuất hiện ngày càng nhiều

Vì vậy theo dự đoán của các chuyên gia công nghệ thông tin Việt Nam, trongmột vài năm tới, bất kì tổ chức nào, đoàn thể nào không có Website hoặc cáchình thức đưa thông tin đến rộng rãi công chúng bằng các phương tiện ICT(Information and Communication Technology), thì tổ chức, đoàn thể đó sẽ trởnên lạc hậu

Từ những lí do trên, Tôi lựa chọn đề tài: “Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí”, mong rằng nội dung

này sẽ giúp thầy cô và các em HS thuận tiện hơn trong việc nghiên cứu vàtiếp cận với kiến thức mới

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc “Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí”

Trang 7

Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn công nghệ 8 phần

cơ khí

Tiến hành thực nghiệm để kiểm chứng tính hiệu quả và tính khả thi của

đề tài nghiên cứu

4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

− Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Công nghệ 8 phần cơkhí ở THCS

− Đối tượng nghiên cứu: Xây dựng website và sử dụng hỗ trợ dạy họcmôn Công nghệ 8 phần cơ khí

− Phạm vi nghiên cứu của đề tài hướng tới việc: “Xây dựng và sử dụngwebsite hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần cơ khí”

Phạm vi tiến hành thực nghiệm ở một số trường THCS trên địa bàn HàNội, Bắc Ninh

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nhiệm vụ trên, tôi sử dụng kết hợp một số phươngpháp sau:

5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

Phân tích, so sánh, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu liên quan đến

đề tài

5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

5.2.1 Phương pháp quan sát: Dự giờ, chủ động quan sát việc dạy và họcmôn Công nghệ của GV và HS

5.2.2 Phương pháp điều tra: Phương pháp điều tra nhằm tiếp cận tìnhhình thực tế, nắm được thực trạng của việc sử dụng hệ thống mạng máy tính

và máy tính phục vụ giảng dạy ở các trường THCS

Nhiệm vụ điều tra quan sát là tìm hiểu thái độ, tình hình của GV và HSthông qua việc trao đổi và phỏng vấn trực tiếp, dự giờ để đánh giá chính xácviệc sử dụng phương tiện dạy học, ứng dụng CNTT, mạng máy tính vào giờ

Trang 8

học Trên cơ sở đó xem xét những điều kiện cần và đủ, những thuận lợi cũngnhư những hạn chế của việc khai thác và ứng dụng website vào trong dạy-họclớp 8 của GV và HS

5.3 Phương pháp thống kê toán học:

Vận dụng lí thuyết xác suất và thống kê toán học để phân tích, xử lí cáckết quả thu được sau khi thực nghiệm sư phạm nhằm xác định xu hướng pháttriển của các đối tượng và làm tăng tính chính xác khách quan cho kết quảnghiên cứu của đề tài

5.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm:

Nhằm tiến hành kiểm nghiệm, kiểm chứng, điều tra, khảo sát lấy ýkiến, đánh giá về tính khả thi thực tiễn của việc xây dựng website

Sử dụng phiếu điều tra để lấy thông tin nhanh về việc ứng dụng CNTTtrong dạy học và sử dụng

Qua thực nghiệm rút ra những nhận xét cần thiết liên quan đến các giảipháp đề xuất trong nội dung của đề tài Kết quả thực nghiệm là cơ sở để kiểmchứng tính khả thi của đề tài

5.5 Phương pháp chuyên gia:

Dùng phương pháp này để đóng vai trò là người hướng dẫn thiết kế và

sử dụng website đúng với nguyên tắc, quy trình và nội dung chương trình,góp phần phát triển năng lực của HS và đổi mới phương pháp dạy hoc trongnhà trường phổ thông

5.6 Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn, trò chuyện:

Trò chuyện, đàm thoại với HS nhằm tìm hiểu thực trạng dạy và học môncông nghệ

5.7 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:

Trao đổi kinh nghiệm với các thầy, cô giáo, đồng nghiệp và của chínhbản thân

Trang 9

6 Giả thuyết khoa học

Nếu “Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí” đảm bảo nguyên tắc và quy trình hợp lí thì sẽ phát huy được

tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, góp phần đổi mới phương pháp,nâng cao chất lượng dạy học môn Công nghệ ở trường THCS

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungchính của luận văn gồm 3 chương là:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc “Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí”

Chương 2: “Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí”

Chương 3: Kiểm nghiệm và đánh giá

Trang 10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG WEBSITE

HỖ TRỢ DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ 8 PHẦN CƠ KHÍ

1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước có liên quan

Web xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1989 khi nhà vật lý học TimBerners-Lee muốn tìm ra một cách thức giúp các nhà khoa học trao đổi tài liệunghiên cứu thông qua Internet Berners-Lee muốn rằng đó không chỉ là cách incác văn bản trực tiếp trên Internet mà còn là cách hiển thị các đường dẫn đểđưa người đọc đến các phần khác của tài liệu, hoặc thậm chí là dẫn đến các tàiliệu được đặt ở một nơi khác trên mạng Internet

Thực ra thì Berners-Lee không phải là người đưa ra ý tưởng này đầutiên Ngay từ những năm 40, các nhà nghiên cứu khác cũng đã từng mô tả một

hệ thống tương tự, vào khoảng những năm 80, các ứng dụng như Ngôn ngữđánh dấu tổng quát chuẩn (SGML) cũng đã sử dụng một tập hợp phức tạp cácsiêu liên kết để kết nối các tài liệu lại với nhau Nhưng Berners-Lee đã pháttriển một hệ thống mà trong đó không đòi hỏi phải sử dụng các phần mềm mắctiền hay những kỹ năng lập trình cao Ông đã phát minh ra một giao thức cơbản cho việc chuyển tải các tài liệu lên mạng Internet, gọi là giao thức truyềnsiêu văn bản (HTTP) cũng như phát minh ra một bộ đơn giản các lệnh gọi làNgôn ngữ đánh dấu siêu văn bản (HTML) để mô tả cấu trúc của một tài liệu

Web đã bùng nổ vào năm 1993 khi một sinh viên tốt nghiệp trường Đạihọc Illinois tên là Marc Andreessen phát triển thành công một phần mềm giúphiển thị các trang Web dưới dạng đồ họa Phần mềm của Andreessen, được gọi

là một “trình duyệt”, cho phép người sử dụng có thể hiển thị hình ảnh cũng nhưvăn bản trên các trang web Kết quả là Web đã lớn mạnh nhanh chóng, vượt rakhỏi cả phạm vi sử dụng nhỏ hẹp ban đầu của các nhà khoa học Sau đó

Trang 11

Andreessen đã đồng sáng lập Netscape Communications, đánh dấu cho sựkhởi đầu của cuộc Cách mạng Internet.

Chỉ trong vài năm, Web đã phát triển lớn mạnh với một tốc độ theo cấp

số nhân Tính đến nay, có lẽ đã có tới một triệu mũ mười số trang Web đượcđặt trên hàng ngàn ngàn máy vi tính khắp thế giới Khởi nguyên của mạngthông tin toàn cầu WWW thực tế chỉ là một dịch vụ chia sẻ thông tin quaInternet, được phát triển bởi viện sĩ Viện Hàn lâm Anh Tim Berners-Lee vàRobert Cailliau (Bỉ) khi còn làm việc Hiệp hội nghiên cứu các vấn đề hạtnhân CERN thuộc thành phố Geneva (Thụy Sỹ) Tuy nhiên, với việc chia sẻthông tin một cách nhanh chóng, mạng thông tin toàn cầu WWW đã pháttriển rộng khắp

Cùng với việc ra đời và phổ biến của Internet, ngày nay việc thu thập

và xử lí thông tin trên mạng là một kĩ năng cần thiết trong nghiên cứu và họctập cũng như trong lao động nghề nghiệp

Trên thế giới việc ứng dụng CNTT vào dạy học đã được quan tâm từlâu nhất là các nước tư bản phát triển Từ những năm 1984, 1985 tổ chứcNSCU (National Sofwware – Cordination Unit) được thành lập, cung cấpchương trình giáo dục máy tính cho các trường trung học Các môn học đều

có phần mềm dạy học bao gồm: nông nghiệp, nghệ thuật, thương mại, giáodục kinh tế, tiếng anh, địa lý, kinh tế gia đình, công nghệ, kỹ thuật côngnghiệp, toán…

Ở Ấn độ, tổ chức NCERT (National Council of Education Resarch andTraining) ở New Dehli đã thực hiện đề án CLASS (Computer Literacy andSudies in School) Đề án xem xét việc sử dụng MVT hỗ trợ DH trong lớp,đồng thời quan tâm đến vai trò của máy tính hư là một công cụ ưu việt đánhdấu sự thay đổi về phương pháp luận DH

Năm 1985, các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Xrilanca,Malaysia tổ chức hội thảo về phần mềm dạy học ở Malaysia đã đưa ra tiêu

Trang 12

chuẩn đánh giá phần mềm gồm 3 yếu tố: đặt vấn đề, trình bày bày giảng, kỹthuật lập trình.

Ở Nhật,máy tính và các phần mềm được sử dụng làm công cụ để trìnhbày kiến thức,rèn luyện kĩ năng, tiếp thu bài mới và giải quyết những vấn đềđặt ra trong tiết học Nhật khẳng định việc sử dụng máy tính trong DH có tácdụng kích thích hứng thú học tập của HS Hiện nay, các nước trong khu vựcnhư Thái Lan, Singapo, việc ứng dụng CNTT trong dạy học cũng đã trở nênphổ biến

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước có liên quan

Vấn đề đưa CNTT vào giảng dạy ở các cấp học ở nước ta đã có nhiềucông trình nghiên cứu, đây là vấn đề quan trọng trong xu thế hội nhập vớigiáo dục thế giới Hiện nay có không ít các đề tài xây dựng website cũng nhưviệc ứng dụng CNTT vào dạy học trong chương trình môn kỹ thuật côngnghiệp Tuy nhiên, đa phần các công trình nghiên cứu đều chỉ tập trung vàochương trình ở bâc phổ thông và cao đẳng, đại học Một số đề tài nghiên cứu

sử dụng CNTT trong dạy học như “Sử dụng đồ họa máy tính để nâng cao chấtlượng dạy học môn Cơ kỹ thuật ở trường CĐSP” – Đinh Việt Hoàng (2004),

“Ứng dụng CNTT trong dạy học môn Trang bị điện ở trường Cao đẳng Côngnghiệp Việt –Hung” – Nguyễn Duy Huấn (2006), “ Ứng dụng CNTT trongdạy học Công nghệ 12 theo định hướng dạy học tích cực và tương tác” –Nguyễn Thị Xuân (2010)

Nội dung của các luận văn này đề cập đến vấn đề đổi mới PPDH trong

đó có việc đổi mới theo xu hướng sử dụng CNTT cụ thể là sử dụng cácchương trình, phần mềm máy tính để thiết kế các bài giảng hỗ trợ quá trìnhdạy học

Bên cạnh đó, một số đề tài nghiên cứu đề cập đến việc xây dựngwebsite hỗ trợ dạy học như “Thiết kế bài dạy dưới dạng trang WEB phầnđộng cơ đốt trong ở môn Công nghệ 11 ở trường THPT tỉnh Hải Dương” –

Trang 13

Bùi Văn Khiên (2005), “Xây dựng trang web tra cứu thuật ngữ kỹ thuật điệntrong chương trình Công nghệ 12 THPT” – Phạm Hồng Khoa (2008)…Nộidung của các luận văn đều mong muốn triển khai thiết kế bài dạy dưới dạngtrang Web ở “mức độ vi mô” nhằm tổ chức hoạt động nhận thức của HS, theođịnh hướng ứng dụng CNTT và các PTDH

Đề tài “Sử dụng máy vi tính trong dạy học KTCN 8 THCS” – MaiQuốc Khánh (2001) có đề cập đến việc ứng dụng sử dụng CNTT vào việc dạyhọc KTCN lớp 8 , nhưng ở mức độ sử dụng máy vi tính

Có thể thấy, các đề tài nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc ứng dụngCNTT và sử dụng website ở các trường THPT hoặc các trường cao đẳng,trung cấp chuyên nghiệp, chưa có đề tài nào nghiên cứu về xây dựng website

hỗ trợ việc thiết kế bài giảng môn công nghệ 8 phần cơ khí Điều này gây trởngại cho việc tìm kiếm tri thức không những của GV mà còn cả của HS khitiếp cận phần kỹ thuật cơ khí Do đó việc “Xây dựng và sử dụng Webstite hỗ trợ DH môn Công nghệ 8 phần Cơ khí” là cần thiết

1.2 Cơ sở lý luận của việc “Xây dựng và sử dụng Webstite hỗ trợ DH môn Công nghệ 8 phần Cơ khí”

1.2.1 Một số khái niệm

1.2.1.1 Công nghệ thông tin

Trên thế giới, thuật ngữ "Công nghệ Thông tin" xuất hiện lần đầu vàonăm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review Haitác giả của bài viết, Leavitt và Whisler đã bình luận: "Công nghệ mới chưathiết lập một tên riêng Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin (InformationTechnology - IT)."

Ở Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghịquyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993: "Công nghệ thông tin là tập hợpcác phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủyếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có

Trang 14

hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trongmọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội".[34]

Công nghệ thông tin là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học vàcông nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xử lý thông tin Theo quanniệm này thì công nghệ thông tin là một hệ thống các phương pháp khoa học,công nghệ, phương tiện, công cụ, chủ yếu là máy tính, mạng truyền thông và

hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sửdụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế,

xã hội, văn hoá [2]

Theo WikiPedia “Công nghệ Thông tin (CNTT) (InformationTechnology) là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máytính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin”

Theo tác giả Lê Tuấn Hạnh “Công nghệ thông tin là tập hợp cácphương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại, chủyếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông nhằm tổ chức khai thác và sử dụng

có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năngtrong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội” Công nghệ thôngtin được phát triển trên nền tảng của các công nghệ Tin học - Điện tử -Viễn thông và Tự động hoá Công nghệ thông tin mang một ý nghĩa baotrùm rộng rãi, nó vừa là khoa học, vừa là công nghệ, vừa là kỹ thuật, vừa

là tin học, viễn thông và tự động hoá.[4, tr12]

Thuật ngữ “công nghệ thông tin” được hiểu là các ứng dụng liên quanđến máy vi tính và được phân loại dựa trên phương thức chúng được sử dụngtrong lớp học chứ không dựa trên nguyên lý hoạt động của chúng (Means et

al, 1993)

Việc sử dụng máy vi tính, phương tiện truyền thông và internet… tronggiáo dục hiện nay đã phát triển nhanh chóng góp phần tạo ra nhiều hình thứcdạy học hết sức đa dạng và phong phú

Trang 15

Đứng trên góc độ giảng dạy, “ CNTT là một công nghệ giúp con người

có thêm khả năng trong hoạt động trí tuệ chứ không phải thay thế con ngườitrong hoạt động đó Có thêm nhiều phương tiên hỗ trợ trong việc dạy họcnghĩa là giúp cho GV có thêm thời gian và điều kiện để chăm lo những côngviệc đòi hỏi chất lượng trí tuệ cao hơn hoạt động dạy học theo phương pháptruyền thống”

Trong nền giáo dục mới, người học không chỉ đòi hỏi biết thêm nhiềutri thức, mà phải có năng lực tìm kiếm tri thức và tạo tri thức Vì vậy, người

GV phải làm tốt vai trò người hướng dẫn quá trình tìm kiếm tri thức, gợi mởnhững con đường phát hiện tri thức Qua đó trau dồi khả độc lập và tư duysáng tạo cho HS Để ứng dụng chất lượng và hiệu quả cao công nghệ thôngtin vào dạy học trong điều kiện của xã hội tri thức, khi mà khối lượng tri thứctăng lên nhanh chóng, những tri thức mà HS cần đến và sử dụng trong cuộcsống của mình trong tương lại có thể là những tri thức mà hiện tại nằm ngoàihiểu biết của GV Thì vốn quý của GV là truyền lại cho HS những phươngpháp suy nghĩ, độc lập tìm kiếm và phát hiện tri thức chứ không nhất thiết làtri thức và kỹ năng cụ thể của mình Theo nhà triết học Whitehead, có thểchúng ta là thế hệ đầu tiên trong lịch sử mà những hiểu biết của cha ông ít cógiá trị thực tiễn đối với cuộc sống của chúng ta nhưng những tri thức có giá trịlại được sản sinh ra trong quãng đời mà chúng ta sống

Với các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu “Công nghệ thông tin làmột lĩnh vực khoa học rộng lớn nghiên cứu các khả năng và phương pháp thuthập, lưu trữ, truyền và xử lý thông tin một cách tự động dựa trên các phươngtiện kỹ thuật như máy tính điện tử và các thiết bị thông tin khác”

1.2.1.2 Website

Website là một tập hợp các trang Web có liên quan với nhau, trên mỗiWebsite có một trang Web xuất phát gọi là trang chủ và các trang Web khácgọi chung là trang con Nơi trình diễn các trang Web được gọi là Site Tùy

Trang 16

theo số lượng thông tin trình bày mà trong một Website có thể có một hoặcnhiều Site.

Mạng Internet mang lại rất nhiều tiện ích hữu dụng cho người sử dụng,một trong các tiện ích phổ thông của Internet là hệ thống thư điện tử (Email),trò chuyện trực tuyến (chat), máy tính truy tìm dữ liệu (search engine), cácdịch vụ thương mại và chuyển ngân, và các dịch vụ về y tế, giáo dục như làchữa bệnh từ xa, hoặc tổ chức các lớp học ảo Chúng cung cấp một khốilượng thông tin và dịch vụ khổng lồ trên Internet

Một trang web là tập tin HTML hoặc XHTML có thể truy nhập dùnggiao thức HTTP hoặc HTTPS Website có thể được xây dựng từ các tệp tinHTML (trang mạng tĩnh) hoặc vận hành bằng các CMS chạy trên máy chủ(trang mạng động) Website có thể được xây dựng bằng nhiều ngôn ngữ lậptrình khác nhau (PHP,.NET, Java, Ruby on Rails )

Hiện nay, để một website có thể vận hành trên môi trường Word Wide,cần bắt buộc có 3 phần chính:

- Tên miền (là tên riêng và duy nhất của website)

- Hosting (là các máy chủ chứa các tệp tin nguồn)

- Source code (là các tệp tin html, xhtml, hoặc một bộ code/cms)

Website được tương tác và hiển thị đến với người dùng thông qua cácphần mềm gọi là "Trình duyệt web" với các văn bản, hình ảnh, đoạn phim,nhạc, trò chơi và các thông tin khác ở trên một trang web của một địa chỉ webtrên mạng toàn cầu hoặc mạng nội bộ Website được tạo nên bởi các nhà thiết

kế web (website developer).

Ngày nay, thuật ngữ website được sử dụng rất phổ thông, người người,nhà nhà đều có thể truy cập một website ở bất kì đâu có kết nối internet hoặc

có kết nối sóng di động Với các doanh nghiệp, cá nhân thường xuyên tươngtác với cộng đồng online thì website là công cụ tốt nhất và duy nhất giúp họ

Trang 17

quảng bá hình ảnh, sản phẩm, thông tin, của mình Và từ đó các dịch vụ thiết

kế web chuyên nghiệp ra đời nhằm đáp ứng điều đó

1.2.1.3 Website dạy - học

Dưới góc độ nghiên cứu khoa học giáo dục, theo tác giả Chu VĩnhQuyên : “Website dạy học là một phương tiện dạy học dưới dạng phần mềmmáy tính, được tạo ra bởi các siêu văn bản (là các tài liệu điện tử như bàigiảng, SGK ) trên đó bao gồm một tập hợp các công cụ tiện ích và các siêugiao diện (trình diễn các thông tin multimedia, văn bản âm thanh, hình ảnh)

để hỗ trợ việc dạy học và cung cấp cho những người sử dụng khác trên mạngmáy tính”.[35, Tr45]

Website DH sẽ hỗ trợ cho GV, HS, nhà quản lý trao đổi thông tin haichiều, nhằm giúp cho mọi người định hướng được cách tiếp cận kiến thứcmột cách hiệu quả nhât Đồng thời là diễn đàn trao đổi thông tin và chia sẻvới mọi người những vấn đề quan tâm trong công tác giảng dạy và học tập.Website DH góp phần tích cực trong việc đổi mới PPDH, sử dụng Website

DH đáp ứng được nhu cầu đa dạng hóa cách tiếp cận kiến thức cho HS, gópphần vào thành công chung của giáo dục hiện nay

Website dạy học còn được gọi là Giáo trình điện tử (GTĐT) hoặc họcliệu điện tử hay còn gọi là các phần mềm học tập hay phầm dạy và học nóichung là những giáo trình sử dụng CNTT để xây dựng [36]

Các website dạy học được sử dụng cho HS có gắn kết với nhà trường –

dù là theo loại hình học tập truyền thống hoặc loại hình vừa học vừa làm, học

từ xa và website dạy học sử dụng cho người tự học hoàn toàn là hai lĩnh vực

có những điểm khác biệt cơ bản

1.2.2 Một số vấn đề lí luận về ứng dụng CNTT trong dạy học

1.2.2.1 Mô hình TPACK

a Giới thiệu

Với sự xuất hiện của công nghệ kỹ thuật số, ngày nay công nghệ đã trởthành một phần không thể thiếu trong đời sống của các nhà giáo dục, của HS

Trang 18

sinh viên Nó làm thay đổi cách GV và sinh viên tương tác và học tập trongmột môi trường công nghệ phong phú.

Với yêu cầu đặt ra là người GV cần phải có một kiến thức để tích hợpcông nghệ một cách có hiệu quả trong công tác giảng dạy, các nhà nghiên cứu

đã bắt đầu sử dụng TPACK như một khuôn khổ (khung lý thuyết) cho việcthiết kế và phát triển chương trình để trang bị cho GV sự hiểu biết kiến thứccần thiết để tích hợp công nghệ hiệu quả (Mishra & Koehler, 2006)

Nói theo cách khác TPACK là một thuật ngữ được sử dụng ngày càngnhiều để mô tả những gì GV cần phải biết để có thể sử dụng hiệu quả côngnghệ vào thực tiễn giảng dạy của họ TPACK là mô hình nói lên sự tích hợpgiữa kiến thức chuyên môn của người dạy và kiến thức về công nghệ

Mô hình TPACK bàn đầu là các khuôn khổ TPCK từ viết tắt theoTechnological Pedagogical Content Knowledge, sau này được đổi tên thànhTPACK (phát âm "Tee-pack") với mục đích làm cho nó dễ dàng hơn để nhớ

Mô hình này được xây dựng dựa trên mô hình của ông Lee Shulman về kiếnthức chuyên môn sư phạm (PCK) và kiến thức về công nghệ(TK)

Mô hình TPACK là hình ảnh hóa các thành tố quan trọng của quá trìnhứng dụng Công nghệ thông tin(CNTT) trọng hoạt động dạy và học Mô hìnhđưa ra cái nhìn tổng quan về 3 dạng cơ bản của kiến thức mà một GV cần có

để ứng dụng CNTT vào việc dạy học của mình: Kiến thức công nghệ (TK),Kiến thức phương pháp sư phạm (PK) và kiến thức chuyên môn (CK), cũngnhư mối quan hệ và tương tác giữa chúng.[19]

b Lịch sử

TPACK không phải là một ý tưởng mới, rất nhiều các học giả khác đãlập luận rằng, kiến thức về công nghệ không phải là một bối cảnh, mà việcgiảng dạy tốt đòi hỏi một sự hiểu biết xem làm thế nào để kết hợp giữa côngnghệ, kiến thức chuyên môn và phương pháp sư phạm (Tpack.org)

Trang 19

Mô hình TPACK xây dựng trên mô tả của Lee Shulman (1987, 1986)

về PCK, mô tả làm thế nào để hiểu biết về công nghệ của GV trong giáo dục

và PCK tương tác với nhau để tạo thành một phương pháp giảng dạy ứngdụng công nghệ hiệu quả

TPACK xuất hiện trong các tài liệu nghiên cứu từ năm 1998 Mô hìnhTPACK là kết quả của một thí nghiệm thiết kế đã đang được tiến hành bởi cácGiáo sư: Matt Koehler & Punya Mishra thuộc trường Đại học bang Michigan– Mỹ và sau này có liên quan đến nhiều người khác như Kathryn Hershey,Lisa Peruski, Aman Yadav, Kurnia Yahya, và Yong Zhao

Matthew Koehler: Tiến sĩ Matthew J Koehler là biên tập viên củatpack.org, và tác giả của hơn 20 ấn phẩm liên quan đến TPACK, bao gồm:Mishra & Koehler (2006) Công nghệ nội dung kiến thức sư phạm; Mộtkhuôn khổ cho kiến thức GV GV trường Cao đẳng Record

c Các thành phần:

Hình 1.1: Mô hình TPACK

Technological Knowledge (TK): Kiến thức công nghệ.

“Kiến thức và cách thức nhất định để làm việc với công nghệ Điều nàybao gồm sự hiểu biết công nghệ thông tin một cách rộng rãi, đủ để áp dụnghiệu quả trong công việc và trong cuộc sống hàng ngày, có thể nhận ra khicông nghệ thông tin có thể giúp hoặc cản trở việc đạt được một mục tiêu, và

Trang 20

có thể tiếp tục thích ứng với những thay đổi trong công nghệ thông tin”(Koehler & Mishra, 2009).

Kiến thức công nghệ là kiến thức về những công nghệ tiêu chuẩn nhưsách, phấn viết và tấm bảng đen, cũng như nhiều kỹ thuật tiên tiến hơn nhưInternet và video kĩ thuật số Điều này đòi hỏi phải có những kĩ năng cần thiết

để có thể sử dụng các công nghệ đăc biệt đó

Sử dụng công nghệ kỹ thuật số thì kiến thức kĩ năng cần có là kiến thức

về hệ điều hành, phần cứng máy tính cũng như khả năng sử dụng các bộ công cụtiêu chuẩn của các phần mềm như xử lý văn bản, bảng tính, trình duyệt, email,…

Kiến thức công nghiệ bao gồm kiến thức về làm thế nào để cài đặt vàloại bỏ các thiết bị ngoại vi, cài đặt và gỡ bỏ các chương trình phần mềm, tạo

ra và lưu trữ các tài liệu

Pedagogical Knowledge (PK): Kiến thức phương pháp sư phạm.

"Kiến thức sâu của GV về các tiến trình thực hiện hoặc các phươngpháp giảng dạy và học tập Chúng bao gồm mục đích giáo dục tổng thể, giá trị

và mục tiêu Hình thức chung của kiến thức áp dụng đối với sự hiểu biết nhưthế nào của HS, kỹ năng chung quản lý lớp học, lập kế hoạch bài học, và đánhgiá HS" (Koehler & Mishra, 2009)

Content Knowledge (CK): Kiến thức chuyên môn.

Kiến thức của GV về các vấn đề được học hoặc giảng dạy GV phảibiết và hiểu được các đối tượng mà họ giảng dạy, bao các kiến thức về cáckhái niệm, lý thuyết, ý tưởng, khuôn khổ tổ chức, kiến thức về chứng cứ vàchứng minh Lee Shulman (1986)

GV cũng phải hiểu được bản chất của kiến thức và những yêu cầu trongcác lĩnh vực khác nhau Ví dụ, làm thế nào để một chứng minh trong toán họckhác nhau so với một lời giải thích trong lịch sử hoặc giải thích một tác phẩmvăn học? GV không có những hiểu biết có thể xuyên tạc những đối tượng khitruyền đạt đến HS của mình (Ball, McDiarmid, 1990)

Trang 21

Technological Pedagogical Knowledge (TPK): Kiến thức công nghệ và

phương pháp sư phạm

"Một sự hiểu biết về cách dạy và học có thể thay đổi khi công nghệ đặcbiệt được sử dụng trong những cách riêng Điều này bao gồm biết phươngpháp sư phạm và sự phù hợp hay hạn chế của nó với một loạt các công cụcông nghệ có liên quan, từ đó phát triển các thiết kế sư phạm phù hợp vàchiến lược "(Koehler & Mishra, 2009)

Technological Content Knowledge (TCK): Kiến thức chuyên môn và

Pedagogical Content Knowledge (PCK): Kiến thức chuyên môn và

PCK bao gồm cốt lõi của việc giảng dạy, học tập, chương trình giảngdạy, đánh giá và báo cáo, chẳng hạn như điều kiện thúc đẩy việc học tập vàcác liên kết giữa các chương trình giảng dạy, đánh giá và phương pháp sưphạm“ (Koehler & Mishra, 2009)

Trang 22

Technological Pedagogical Content Knowledge (TPACK): Kiến thức

nội dung chuyên môn, phương pháp sư phạm và công nghệ

Công nghệ nội dung kiến thức sư phạm đề cập đến kiến thức và sự hiểubiết về sự tương tác giữa CK, PK và TK khi sử dụng công nghệ để giảng dạy

và học tập (Schmidt, Thompson, Koehler, Shin, và Mishra, 2009)

Nó bao gồm một sự hiểu biết về sự phức tạp của các mối quan hệ giữa

HS, GV, nội dung, phương pháp và công nghệ (Archambault & Crippen, 2009)

d Yêu cầu hiểu biết của GV trên cơ sở tiếp cận TPACK

Con người là một trong những yếu tố hàng đầu quyết định sự thànhcông trong việc ứng dụng CNTT vào dạy học CNTT chỉ là công cụ hỗ trợcho việc giảng dạy và học tập, làm chủ công nghệ và quyết định lựa chọn sửdụng công nghệ như thế nào vẫn là do con người quyết định, mà cụ thể ở đây

là thầy cô giáo, người trực tiếp ứng dụng CNTT trong việc giảng dạy Do đó,

để ứng dụng CNTT thành công vào dạy học, cần có những điều kiện về conngười như có những kiến thức về công nghệ; kiến thức về phương pháp sưphạm; và vững vàng kiến thức chuyên môn kết hợp sử dụng công nghệ vàobài dạy Cụ thể hơn:

Thứ nhất, Kiến thức về công nghệ

− Biết cách giải quyết các vấn đề kỷ thuật máy tính

− Có thể học hỏi và áp dụng công nghệ dễ dàng

− Theo kịp các công nghệ mới quan trọng

− Thường xuyên sử dụng công nghệ

− Biết nhiều về các công nghệ khác nhau

− Có kỹ năng về kỹ thuật sử dụng công nghệ

− Có đủ cơ hội để làm việc với các công nghệ khác nhau

Thứ hai, Kiến thức phương pháp sư phạm

− Đánh giá việc học của HS trong lớp

− Điều chỉnh việc dạy dựa trên việc người học hiểu hay không hiểu

− Điều chỉnh cách dạy phù hợp với nhiều đối tượng người học

Trang 23

− Đánh giá việc học của người học theo nhiều cách.

− Sử dụng nhiều cách tiếp cận dạy học khác nhau trong bối cảnh lớp học

− Biết cách tổ chức và quản lý lớp học

Thứ ba, Kiến thức chuyên môn kết hợp sử dụng công nghệ

− Biết chọn công nghệ giúp tăng cường phương pháp dạy học và đạtđược mục tiêu bài dạy

− Biết chọn công nghệ giúp tăng cường việc học của người học

− Hiểu rõ mức ảnh hưởng của công nghệ tới các phương pháp dạy màmình đang sử dụng

− Hoàn thiện cách sử dụng công nghệ mà mình đang sử dụng trong lớp

− Dùng công nghệ để hỗ trợ trình bày nội dung bài dạy sinh động, hấpdẫn.[19]

1.2.2.2 Ba cấp độ sử dụng CNTT trong dạy học

Dựa trên mối quan hệ và tương tác giữa 3 thành phần là “GV”; “HS”;

và “ICT”, có thể đề xuất 3 cấp độ sử dụng công nghệ thông tin và truyềnthông trong dạy học Nội dung cụ thể được thể hiện trong hình 2 dưới đây:

Hình 1.2: Các cấp độ sử dụng ICT trong dạy học

Trang 24

Ở cấp độ 1: Việc dạy học được thực hiện trong môi trường giáp mặt

(thể hiện GV và HS tương tác trực tiếp với nhau); GV sử dụng ICT để tìmhiểu thông tin, tài nguyên, thiết kế các nội dung hỗ trợ dạy học, cũng như đểnâng cao chuyên môn và nghiệp vụ của bản thân; HS được tham gia các hoạtđộng do GV tổ chức với sự hỗ trợ của ICT Trong cấp độ này, HS không sửdụng ICT như là một công cụ hỗ trợ việc học tập của các em Với cấp độ này

GV thường sử dụng các phương pháp như thuyết trình, đàm thoại, trực quan,trình bày nêu vấn đề

Ở cấp độ 2: Ngoài những tương tác và ý nghĩa đã mô tả trong cấp độ

1, HS còn sử dụng ICT như là một công cụ hỗ trợ quá trình học tập củamình Với cấp độ này, GV thường sử dụng các phương pháp dạy học nhưdạy học dựa trên giải quyết vấn đề, dạy học dựa trên dự án, dạy học dựatrên sự khám phá

Ở cấp độ 3: Cả GV và HS đều sử dụng ICT trong hoạt động dạy học

của mình Tuy nhiên, hoạt động dạy học được thực hiện theo phương thứckhông giáp mặt Cấp độ này thể hiện các hình thức học tập trong môi trườngmạng (web based learning, e-learning, computer based learning) hay HS tựhọc với phần mềm với sự định hướng của GV Nội dung đề tài này thuộc cấp

độ 3 trong mô hình trên.[19]

1.2.2.3 Khả năng của CNTT trong dạy học

CNTT và truyền thông đã, đang và sẽ mang lại nhiều lợi ích to lớn chonhiều ngành nghề khác nhau trong xã hội với những khả năng đặc biệt và độcđáo của nó Dưới góc độ giáo dục, Công nghệ thông tin và truyền thông cónhững khả năng nổi bật dưới đây:

a Là kho dữ liệu: Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ lưu trữ

(từ, quang…), số lượng dữ liệu được lưu trữ ngày càng lớn, đặc biệt với sự rađời và phát triển của Internet Ngày nay, dữ liệu số đã thực sự chiếm ưu thế sovới các loại dữ liệu khác Với giáo dục, các dữ liệu đó có thể tồn tại dưới cácdạng như: bách khoa toàn thư, từ điển chuyên ngành, các cơ sở dữ liệu, hệ

Trang 25

thống website, các thư viện điện tử,…Với vai trò này, người dạy và người học

có được môi trường thông tin phong phú, hỗ trợ tích cực cho phát triểnchuyên môn của GV, hoạt động dạy học của cả thầy và trò, và phù hợp chonhững phương pháp dạy học dựa trên sự khám phá

b Là công cụ cho đa phương tiện: Đa phương tiện đã được nghiên

cứu và sử dụng trong dạy học từ lâu Nó đã khẳng định được vai trò và ýnghĩa của nó trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học Với côngnghệ thông tin, có rất nhiều công cụ cho phép người dạy, người học dễ dàngtạo ra đa phương tiện, chỉnh sửa đa phương tiện, và trình diễn đa phương tiện

hỗ trợ các hoạt động dạy học

c Là môi trường mô phỏng: Lý luận dạy học đã khẳng định rằng, mô

phỏng là một phương pháp không thể thiếu được trong quá trình dạy học khi

mà đối tượng nghiên cứu quá phức tạp, trừu tượng, nguy hiểm, đắt tiền hayđơn giản là không thể trực quan được…Công nghệ thông tin cho phép môphỏng các đối tượng, xây dựng các thí nghiệm, thực hành ảo sử dụng trongdạy học

d Là công cụ kết nối: Trong môi trường giáo dục hiện đại, việc học và

trao đổi thông tin giữa người dạy và người học, giữa người học với nhaukhông bó gọn trong không gian và thời gian của lớp học mà nên được thựchiện với phương thức “mọi lúc”, “mọi nơi” Công nghệ thông tin có nhiềuphương thức hỗ trợ rất tốt cho tương tác này như thư điện tử, diễn đàn thảoluận, tán ngẫu, hội thảo từ xa

e Là môi trường học tập trực tuyến: Với sự phát triển mạnh mẽ của

công nghệ thông tin, ngày càng nhiều hình thức học tập được phát triển dựatrên môi trường mạng với nền tảng sư phạm là phương pháp dạy học hợp tác,dạy học dựa trên giải quyết vấn đề, và dạy học dựa trên sự khám phá Vớicông nghệ thông tin, có hàng loạt các dịch vụ cho phép tạo các môi trườngnhư vậy như groups, wiki, blog…

Trang 26

1.2.3 Website dạy học

1.2.3.1 Vai trò của Website trong DH

a Cung cấp thông tin về nội dung khoa học cho các môn học:

Website DH là nơi lưu trữ thông tin, cập nhật kiến thức, trình bày có hệthống nội dung kiến thức chương trình và liên kết các nội dung liên quan nênphát huy khả năng tự học, tự tìm tòi phát hiện kiến thức mới của HS góp phầnđổi mới PPDH hiện nay

Thực tế giảng dạy ở các nước phát triển trên thế giới cho thấy MVT đãvượt qua các phương tiện truyền thông như bảng đen, phim ảnh thâm nhậpsâu vào một số bước của quá trình DH, những ưu thế của MVT nhờ vào khảnăng tính toán nhanh chóng và chính xác, biến đổi số liệu thành đồ họa vàngược lại, khả năng tương tác giữa người sử dụng và máy tính, truyền đạtthông tin dưới nhiều hình thức khác nhau

b Cung cấp học liệu đa phương tiện:

Cùng với sự phát triển rộng rãi của hệ thống đa phương tiện và mạnglưới Internet trong DH thì Website càng được phát huy hơn bao giờ hết.Website không chỉ cung cấp văn bản dưới dạng đơn thuần mà còn cung cấpvăn bản dưới dạng hình ảnh, âm thanh, video HS chỉ cần dùng các địa chỉquen thuộc hoặc tìm kiếm trên Internet là có thể tìm được nội dung cần thiết,cần tham khảo để học tập, khả năng phát huy tính tự học của HS được nângcao Thông tin được cung cấp trích từ nguồn dữ liệu phong phú từ cácWebsite có trên mạng, qua đó người học tìm kiếm, sắp xếp, phân loại, chọnlọc cho phù hợp với khả năng và trình độ của HS

Nếu tìm được thông tin thích hợp trên Website người học có thể điềuchỉnh, hoàn thiện và phát triển hoạt động học tập của mình, làm kích thíchđộng cơ hứng thú học tập của HS, kích thích tìm tòi phát hiện kiến thức mới,phát huy khả năng tự học của HS, góp phần nâng cao kết quả học tập của HS

Trang 27

Website cung cấp thông tin, hình ảnh, phim ảnh với số lượng lớn cũngnhư khả năng truy cập một cách nhanh chóng và có hệ thống các dữ liệu cótrong nó Sử dụng Website HS có thể xem thêm được hình ảnh các hiện tượngmột cách nhanh chóng, bên cạnh đó Website cung cấp những thí nghiệm môphỏng, những video, clip về các chuyển động, hoạt động kỹ thuật đời thườnggóp phần trực quan hóa những kiến thức mà các em được cung cấp trên lớphọc, ngoài ra các em còn được quan sát kỹ hơn trong quá trình tự học ở nhà.Nguồn kiến thức phong phú này có thể đến từ các nguồn khác nhau trên mạngInternet thông qua các Website Trực quan hóa cho phép HS nắm được quan

hệ của các đối tượng, đại lượng trong các hiện tượng, quá trình, trực quan hóagiúp HS hiểu sâu hơn về bản chất của quá trình và đặc biệt là nắm vững cáckhái niệm trừu tượng trong môn học

c Là môi trường thảo luận trao đổi giữa HS với nhau, giữa HS và GV:

Sự tương tác giữa GV và HS, giữa HS với nhau khi học tập trênwebsite thường thể hiện rất rõ trong quá trình dạy và học HS có thể dễ dàngnhận được sự hướng dẫn từ GV không những trên lớp mà còn tại nhà Hơnnữa trong quá trình học tập, HS tìm kiếm và cập nhật những thông tin, tài liệuliên quan đến bài học của mình, đồng thời trao đổi với nhau, chia sẻ các tàiliệu với nhau cùng nhau tìm ra tri thức mới

Học tập trên Website, HS không chỉ nghe bài giảng mà còn đượckhuyến khích đặt những câu hỏi và đưa ra những bình luận ý kiến của mình.Website là môi trường học tập giúp HS năng động và độc lập, hình thành ýthức làm việc nhóm ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường

d Là nơi thực hiện các bài tự kiểm tra – đánh giá

Dựa vào kết quả học tập của HS được cập nhật thường xuyên trongWebsite DH mà HS có thể điều chỉnh hoạt động học tập của mình cho thích

Trang 28

hợp, việc điều chỉnh đó được tiến hành với nội dung, phương pháp và tiếntrình học tập, dựa vào Website DH, HS có thể xác định đúng và nhanh chóngkiến thức nào cần phải ôn lại để bổ sung vào hệ thống kiến thức đã có.

Các nội dung luyện tập và kiểm tra dựa trên Website DH giúp cho HSphát huy khả năng tự học ở nhà của mình, từ những nội dung có sẵn trên Web

mà HS tự ôn tập, tự kiểm tra phù hợp với trình độ của bản thân trong quátrình học tập, có hướng điều chỉnh quá trình học tập cho phù hợp với trình độcủa bản thân trong quá trình học tập, có hướng điều chỉnh hoạt động học tậpcho phù hợp với yêu cầu của bộ môn Việc tự học và tự kiểm tra nên giúp cho

HS phát huy hết khả năng của bản thân và tìm tòi thêm nhiều hơn kiến thứcmới có được từ nội dung cung cấp từ các Website cho HS [7]

1.2.3.2 Phân loại Website

a Phân loại theo dữ liệu

Web tĩnh:

Web tĩnh ở đây được hiểu theo nghĩa là dữ liệu không thay đổi thườngxuyên Với dạng web này người để thay đổi nội dung trên trang web người sởhữu phải truy cập trực tiếp vào các mã lệnh để thay đổi thông tin Không có

cơ sở dữ liệu bên dưới hệ thống, không có công cụ để điều khiển nội dunggián tiếp Dạng File của web tĩnh thường là html, htm

Trang 29

Web động

Với web động khi xây dựng sẽ bao gồm 2 phần Một phần hiển thịtrên trình duyệt mà khi truy cập internet ta thường thấy và một phần ngầmbên dưới dùng để điều khiển nội dung của trang web, phần nội dung ngầmnày thường thì chỉ những người quản trị website đó mới có thể có quyềntruy cập vào

b Phân loại theo đối tượng sở hữu

Web cá nhân: các đối tượng như diễn viên, ca sĩ, người nổi tiếng,

người thiết kế đồ họa, hoặc bất kỳ cá nhân nào thích giới thiệu bản thân mìnhđều có thể tạo ra một website cho cá nhân mình

Web doanh nghiệp: doanh nghiệp thiết kế web với mục đích quản bá

công ty, giới thiệu các chức năng hoạt động, cập nhật những tin tức, sản phẩmmới của công ty nhằm dễ dàng tiếp cận đến khách hàng thông qua một sốkênh quản bá mới là internet Tất cả các loại hình doanh nghiệp đều có nhucầu quảng bá thương hiệu của mình vì vậy xây dựng một website cho công ty

là điều tất yếu

Web thương mại điện tử: là các dạng web cho phép bán hàng trực

tuyến, việc thanh toán có nhiều hình thức như: tiền mặt, chuyển khoản, thanhtoán bằng thẻ hoặc thông qua cổng thanh toán của các dịch vụ hỗ trợ Dạngweb này thường tập hợp rất nhiều loại hàng hóa và chủ sở hữu trực tiếp quản

lý việc bán buôn đây giống như dạng siêu thị bán hàng trong quầy tự chọn,ngoài ra cũng có thể là loại web mà chủ sở hữu chỉ xây dựng hệ thống web vàtạo ra những gian hàng riêng để cho thuê

Web tin tức: Đây là một dạng website cung cấp thông tin chính trị, xã

hội, kinh tế, khoa học, giáo dục, sức khỏe thể loại này được phát triển trênnền tảng từ các thể loại báo giấy truyền thống

Trang 30

Web dành cho các tổ chức, cơ quan nhà nước: các bộ, sở, ban ngành,

hiệp hội tổ chức là đối tượng sở hữu website dạng này Đây cũng là tiếng nói

là ngôi nhà để truyền tải thông tin đến người đọc

Diễn đàn: là dạng Web tương tác với người dùng mà bất kỳ người xem

nào cũng có thể đăng ký tham gia là thành viên và được quyền đăng tải bàiviết của mình và dĩ nhiên diễn đàn luôn có người kiểm soát thông tin ngườidùng đăng tải và có quyền can thiệp vào việc hiển thị thông tin đó hay không

Mạng xã hội (blog): là dạng web dành cho người sử dụng được quyền

tạo cho mình một không gian riêng gồm nhiều trang độc lập, ở đây ngườidùng có thể đăng tải thông tin cá nhân, sở thích, viết nhật ký tại trang củamình, các thành viên trong cùng một mạng xã hội có thể kết bạn liên lạc traođổi thông tin với nhau Các mạng xã hội nổi tiếng như yahoo, Facebook

Web giải trí: đăng tải phim ảnh, nhạc, game

c Phân loại theo sự tương tác với người dùng

Web 1.0: là web thế hệ đầu tiên, website thường chỉ một chiều thông

tin từ website đến người xem Người được ở vào thế bị động là tiếp nhậnthông tin và không có sự phản hồi trực tiếp lên website

Web 2.0:

Khái niệm Web 2.0 đầu tiên được Dale Dougherty, phó chủ tịch củaOReilly Media, đưa ra tại hội thảo Web 2.0 lần thứ nhất do OReilly Media vàMediaLive International tổ chức vào tháng 10/2004 Dougherty không đưa rađịnh nghĩa mà chỉ dùng các ví dụ so sánh phân biệt Web 1.0 và Web 2.0:

"DoubleClick là Web 1.0; Google AdSense là Web 2.0 Ofoto là Web 1.0;Flickr là Web 2.0 Britannica online là Web 1.0; Wikipedia là Web 2.0.v.v " Sau đó Tim OReilly, chủ tịch kiêm giám đốc điều hành OReillyMedia, đã đưa ra đặc tính của Web 2.0 là “Tập hợp trí tuệ cộng đồng, pháttriển ứng dụng dễ dàng và nhanh chóng, phần mềm có thể chạy trên nhiềuthiết bị và giao diện ứng dụng phong phú…” [Wikipedia.org]

Trang 31

Trên cơ sở so sánh với web 1.0, web 2.0 được hiểu là thế hệ thứ hai trong sự phát triển của dịch vụ World Wide Web (thế hệ thứ nhất được cho là web 1.0), là sự kết hợp các khái niệm, khuynh hướng, và công nghệ tập trung vào sự hợp tác của người dùng; sự chia sẻ nội dung do người dùng tạo ra; và các mạng xã hội 1

Hình 1.3: So sánh Web 1.0 và Web 2.0 Đặc điểm của Web 2.0

Lấy Internet làm nền tảng: các ứng dụng web 2.0 chạy trực tiếp trong

môi trường mạng Nghĩa là, người dùng không cần cài đặt, chỉ cần kết nốiInternet là có thể khai thác được ứng dụng web 2.0 Hiện nay, phần lớn cácứng dụng web 2.0 đều miễn phí với người sử dụng

Quản lý người dùng: web 2.0 quản lý người dùng theo tài khoản Việc

xem nội dung; bình luận về thông tin, sự kiện; hay tạo nội dung được kiểmsoát thông qua việc gán quyền cho tài khoản người dùng Với đặc điểm này,các sự kiện tham gia của người dùng, danh tính của người dùng sẽ được lưulại, thuận lợi cho các hoạt động thống kê, giám sát, và đánh giá mức độ thamgia của người dùng

1

Trang 32

Thể hiện hợp tác và chia sẻ: web 2.0 cho phép tăng cường sự hợp

tác của người dùng trong việc thực hiện một công việc, tạo ra một sảnphẩm, tăng cường góp ý và chia sẻ nội dung giữa cộng đồng người dùng.Đặc điểm này cho phép thực hiện nhiều ứng dụng trong đó có sự hợp táccủa nhiều người dùng cho một nhiệm vụ cụ thể nào đó mà không cần trựctiếp gặp mặt và trao đổi

Người dùng tạo nội dung: đây là đặc điểm nổi trội của web 2.0 Theo

đó, nhà cung cấp chỉ xây dựng môi trường, chức năng của trang web Nộidung, các sản phẩm được tạo ra đều do người dùng thực hiện Đặc điểm này

sẽ phát huy được trí tuệ tập thể, phát triển khả năng đóng góp, sự sáng tạo củacộng đồng trong việc công bố và phổ biến thông tin [19, Tr12]

Web 3.0: Đây sẽ là web thế hệ thứ 3, giai đoạn hiện nay dạng web này

trong thời kỳ đang hình thành và vẫn còn nhiều khái niệm chưa thống nhất.Tuy nhiên nếu nói một cách đơn giản dễ hiểu thì web 3.0 sẽ có bước đột phá

về băng thông kèm theo là sự phát triển mạnh mẽ về phim ảnh và truyền hìnhtrên internet

1.2.3.3 Đặc điểm của Website dạy học

Điểm khác biệt cơ bản giữa học tập theo lớp – có GV giảng dạy (face

to face) và học tập từ xa hay học qua website là: người tự học thiếu hẳn cáctương tác quan trọng sau đây trong quá trình học tập:

Tương tác thầy – trò

Tương tác trò – bạn đồng hành

Tương tác trò – môi trường học tập

Website dạy học sử dụng những thành tựu trong công nghệ nhằm cốgắng tạo ra những tương tác ảo để hỗ trợ người học trong quá trình tự học

Trong các lớp học truyền thống, GV chuẩn bị bài dạy, trực tiếp giảngdạy và đối thoại với HS, trả lời các câu hỏi của người học HS thường xuyênđược trao đổi thảo luận với nhau, khuyến khích động viên lẫn nhau

Trang 33

Ngoài ra, HS còn thường xuyên được nắm bắt các thông tin từ nhàtrường, lớp học, các tổ chức xã hội, điều này có tác dụng tích cực đến quátrình học tập Tất cả các giao tiếp trên đều được truyền tải dưới dạng truyềnthông: văn bản, âm thanh, hình ảnh, video

Để tạo điều kiện thuận lợi cho người học có thể học mọi nơi, mọi lúcphù hợp với điều kiện sinh hoạt của mình, các tài liệu sử dụng trên websitedạy học phải đạt được các yêu cầu: đơn giản, gọn nhẹ, dễ sử dụng, không đòihỏi hệ thống thiết bị phức tạp và đặc biệt giá thành rẻ, chi phí sử dụng thấp

Như vậy một website dạy học là tài liệu học được sử dụng thông quacác thiết bị điện tử, website dạy học này phải thay thế được các tài liệu thôngthường về nội dung kiến thức đồng thời phải thay thế được giáo án giảng dạycủa người GV – tức là website có thể thay người GV truyền đạt kiến thứcđồng thời người học có thể phần nào tìm kiếm được các giải đáp khi có thắcmắc cần hỏi Ngoài ra website DH cần có khả năng rèn luyện tư duy và kỹnăng cho người học, có thể tạo tương tác hai chiều người – máy

1.2.3.4 Các loại hình thông tin trên website

Trong trang Web thông tin có thể được hiển thị dưới dạng kênh chữ,kênh hình và kênh tiếng Tất cả chúng sẽ tạo tổng thể cho trang Web, đồngthời gắn kết với nhau, tạo ấn tượng Các kênh thông tin phải tuân theo qui tắcchung để đảm bảo chuẩn trong thiết kế, nhằm tạo trang Web có tính tươngthích cao

Quy tắc chung

−Nội dung text: số từ trong một trang 100- 500 từ

−Độ dài trang: 2 đến 4 màn hình

−Kích cỡ File không quá 50KB trên trang không có hoạt hình

−Nếu có Gif hoạt hình thì cho phép trên 500KB trên mỗi trang

−Tốc độ màn hình đầu tiên của Text và các hình xuất hiện dưới 3s

Trang 34

−Màu sắc trong một trang tối đa 4 màu

−Font không được quá 3Font trong cả text và đồ họa

−Độ tương phản: màu nền không được quá gần với màu của text

−Tất cả các Text và đồ họa phải đồng bộ về mặt trạng thái

Bên cạnh đó kích thước dữ liệu là yếu tố ảnh hưởng đến khả năng lưutrữ của sever cũng như tốc độ truyền và đọc dữ liệu, vì vậy mà các dữ liệu củatrang Web phải có kích thước nhỏ gọn Bảng sau cho kích thước của các kiểu

dữ liệu:

Bảng 1.1 Kích thước của các kênh dữ liệu trong trang Web

KIỂU DỮ LIỆU KÍCH THƯỚCVăn bản

Âm thanhHình ảnhVideo

1 trang cỡ 4KB1s cỡ 20KB – 200 KB

1 ảnh cỡ 20 KB – 9001s cỡ 0,2 – 2 MB

Định dạng tài liệu (Fomat)

a Kênh chữ

Để trình duyệt hiển thị văn bản bằng Tiếng Việt có dấu chỉ nên sử dụngFont Unicode và dạng chữ là Arial, Times New Roman để soạn thảo Vớicác tài liệu đã soạn thảo trước bằng các chương trình soạn thảo bình thường(MS Word) thì chúng ta nên chuyển sang File*.pdf bằng chức năng CreatePDF File của chương trình Adobe Acrobat Đây là văn bản được lưu dướidạng ảnh nên không thể sửa đổi, được các trình duyệt thể hiện rất chính xác

b Kênh hình

− Đối với ảnh sử dụng các định dạng ảnh thông thường như GIF,JPEG, BMP, có thể chỉnh sửa chuyển đổi thành dạng khác nhờ phần mềmACD See

− Đối với video sử dụng dạng File như MPEG, Quick time

Trang 35

− Đối với các hoạt hình sử dụng các định dạng GIF, Flash

c Kênh âm thanh

Sử dụng các File như MP3, MP 4, WMA

1.2.3.5 Tổ chức DH thông qua Website theo định hướng dạy học tích cực

PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt độngnhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực củangười học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của ngườidạy, tuy nhiên để dạy học theo PP tích cực thì GV phải nỗ lực nhiều so với dạytheo PP thụ động Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Cách dạy chỉđạo cách học, nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tớicách dạy của thầy Chẳng hạn, có trường hợp HS đòi hỏi cách dạy tích cực hoạtđộng nhưng GV chưa đáp ứng được, hoặc có trường hợp GV hăng hái áp dụngPPDH tích cực nhưng không thành công vì HS chưa thích ứng, vẫn quen vớilối học tập thụ động Vì vậy, GV phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dầndần xây dựng cho HS PP học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao.Trong đổi mới PPDH phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp nhịpnhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công

PPDH tích cực là dạy học lấy HS làm trung tâm còn có một số thuật ngữtương đương như: dạy học tập trung vào người học, dạy học căn cứ vào ngườihọc, dạy học hướng vào người học… Các thuật ngữ này có chung một nội hàm

là nhấn mạnh hoạt động học và vai trò của HS trong qúa trình dạy học, khácvới cách tiếp cận truyền thống lâu nay là nhấn mạnh hoạt động dạy và vai tròcủa GV Lịch sử phát triển giáo dục cho thấy, trong nhà trường một thầy dạycho một lớp đông học trò, cùng lứa tuổi và trình độ tương đối đồng đều thì GVkhó có điều kiện chăm lo cho từng HS nên đã hình thành kiểu dạy "thông báo -đồng loạt" GV quan tâm trước hết đến việc hoàn thành trách nhiệm của mình

là truyền đạt cho hết nội dung quy định trong chương trình và sách giáo khoa,

cố gắng làm cho mọi HS hiểu và nhớ những điều GV giảng Cách dạy này đẻ

Trang 36

ra cách học tập thụ động, thiên về ghi nhớ, ít chịu suy nghĩ, cho nên đã hạn chếchất lượng, hiệu quả dạy và học, không đáp ứng yêu cầu phát triển năng độngcủa xã hội hiện đại Để khắc phục tình trạng này, các nhà sư phạm kêu gọi phảiphát huy tính tích cực, chủ động của HS, thực hiện "dạy học phân hóa" quantâm đến nhu cầu, khả năng của mỗi cá nhân HS trong tập thể lớp PPDH tíchcực, dạy học lấy HS làm trung tâm ra đời từ bối cảnh đó.

Trên thực tế, trong quá trình dạy học người học vừa là đối tượng củahoạt động dạy, lại vừa là chủ thể của hoạt động học Thông qua hoạt động học,dưới sự chỉ đạo của thầy, người học phải tích cực chủ động cải biến chính mình

về kiến thức, kĩ năng, thái độ, hoàn thiện nhân cách, không ai làm thay chomình được Vì vậy, nếu người học không tự giác chủ động, không chịu học,không có PP học tốt thì hiệu quả của việc dạy sẽ rất hạn chế

Như vậy, khi đã coi trọng vị trí hoạt động và vai trò của người học thìđương nhiên phải phát huy TTC chủ động của người học Tuy nhiên, dạy họclấy HS làm trung tâm không phải là một PPDH cụ thể Đó là một tư tưởng,quan điểm giáo dục, một cách tiếp cận quá trình dạy học chi phối tất cả qúatrình dạy học về mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánhgiá… chứ không phải chỉ liên quan đến PP dạy và học

a Hình thức tự học

Trước sự biến đổi không ngừng của xã hội hiện tại, một trong những

kỹ năng không thể thiếu của người lao động là kỹ năng tự học Chỉ có sự nỗlực học tập và rèn luyện không ngừng mới giúp con người thích ứng với được

sự thay đổi không ngừng của xã hội

Phương pháp DH tích cực coi trọng việc rèn luyện PP tự học cho HSnhư một mục tiêu DH nhấn mạnh đến việc dạy phương pháp học để có thểphát triển khả năng tự học của HS trong những tiết học có người hướng dẫn

và cả những lúc không có người hướng dẫn

 Tổ chức cho HS tự học ở lớp

Trang 37

Có hai hình thức để HS tự học trên lớp đó là để bản thân các tự họcđộc lập trên lớp và để HS tự học theo nhóm

Bản thân HS tự học độc lập

Với hình thức này lớp học được học trong phòng máy tính của trường,mỗi HS được sử dụng một máy tính Khi đó nhiệm vụ của cả lớp được GV giaocho từng HS

Đặc điểm của hình thức: giúp cho HS tự tìm tòi, suy nghĩ, đòi hỏi pháthuy tối đa khả năng hiểu biết của từng cá nhân HS

Tổ chức cho HS cộng tác theo từng nhóm

Một lớp được chia thành các nhóm nhỏ không quá 7 HS một nhóm,mỗi nhóm được sử dụng ít nhất một máy tính, nhiệm vụ chung của lớp đượcchia nhỏ cho từng nhóm, do vậy mỗi thành viên trong nhóm phải ý thức đượctrách nhiệm của bản thân,thành công của bản thân là thành công của cả nhómcũng như cả lớp và ngược lại

Đặc điểm của hình thức này là GV giao nhiệm vụ cho các nhóm thôngqua các định hướng gợi mở hoặc các phiếu học tập Mỗi nhóm HS sử dụngchung ít nhất một máy tính, có trách nhiệm cộng tác, học hỏi trao đổi những ýtưởng của bản thân để từ đó hoàn thành nhiệm vụ chung của cả nhóm cũngnhư của mỗi thành viên trong nhóm Kết quả của nhóm có tốt hay không phụthuộc vào toàn bộ thành viên trong nhóm có hoàn thành mục tiêu học tập haykhông Như vậy đặc điểm của hình thức này là vai trò bình đẳng như nhau củacác thành viên trách nhiệm của mỗi cái nhân và kết quả của cả nhóm phụthuộc vào mỗi thành viên

 Giúp HS tự học ở nhà

Hình thức này chỉ áp dụng được khi trong điều kiện nhiều HS có trang

bị máy tính ở nhà riêng và được sử dụng đúng mục đích khi đây là một hìnhthức cần được khuyến khích và khai thác sử dụng vì thời gian các em học trên

Trang 38

lớp quá ít, do đó bắt buộc các em phải tự học ở ngoài phạm vi lớp học Mặtkhác, hình thức này không trói buộc HS về mặc thời gian, địa điểm.

Để HS có thể tự học ở nhà mang lại hiệu quả cao vẫn cần có sự giámsát của phụ huynh, thường xuyên khích lệ để HS có tinh thần tự giác cao hơn

vì trên thực tế, nhiều em có tinh thần tự giác chưa cao, sa đà vào các trò chơikhông bổ ích trên máy mất nhiều thời gian

Với hình thức này giúp HS có thể tự tra cứu tài liệu trực tuyến nhữngkiến thức liên quan đến bài học, tự do trao đổi với HS khác, những điều nàykhó có thể có ở phương thức học truyền thống

b Phối hợp Website với dạy học giáp mặt

Học giáp mặt là một loại hình học truyền thống, HS được GV trực tiếp

tổ chức hoạt động nhận thức nhằm đạt mục tiêu

Đặc trưng cơ bản của học giáp mặt:

− GV và HS gặp nhau trong suốt quá trình học tập

− Kế hoạch học tập được lập ra chi tiết, với nội dung cụ thể đến từngtiết học và được thực hiện thống nhất trong toàn ngành

− HS sử dụng SGK làm tài liệu học tập, GV sử dụng phương tiện kĩthuật, máy tính để tổ chức dạy học

− Có sự liên hệ hai chiều trực tiếp giữa GV và HS, điều này giúp GVnắm bắt ngay tình huống, diễn biến xảy ra và kịp thời xử lí

− Hoạt động dạy tiến hành trong một lớp học, với cùng một mục tiêu,cùng một thời gian, song khả năng của người học khác nhau do đó khó cá thểhóa động học tập

− Việc học tập thường được tổ chức theo quy mô lớp học, đòi hỏi cókinh phí lớn để xây dựng trường lớp và chi trả GV

Bài dạy được thiết kế dưới dạng trang Web với những đặc trưng của bàidạy giáp mặt dùng bảng đen truyền thống, do đó trang Web có thêm những

Trang 39

chuẩn riêng trong thiết kế như chữ, hình to hơn ở trang Web thông thường,tuân theo trình tự sư phạm Những tiêu chuẩn riêng để bài dạy phù hợp vớiviệc tổ chức hoạt động dạy trong không gian của lớp học, thích hợp với cácphương tiện được sử dụng như MVT kết hợp với máy chiếu đa phươngtiện Các bài dạy được bố trí theo phân phối chương trình, nội dung chính củabài dạy tuân theo kiến thức chuẩn trong SGK và được triển khai trong thờilượng nhất đinh

Kết hợp Website hỗ trợ dạy học với DH giáp mặt để đạt hiệu quả caotrong việc truyền đạt kiến thức cho HS Trong DH giáp mặt thì hạn chế của

nó là thiếu tính trực quan, chưa đi sâu vào việc ứng dụng thực tiễn, thìWebsite sẽ đóng vai trò là công cụ trực quan tạo nên niềm tin hơn của HS vàokiến thức mà GV truyền đạt, tạo nên động cơ hứng thú học tập cho HS

Phối hợp nội dung trang Web với DH giáp mặt sẽ hỗ trợ trong việctruyền thụ kiến thức cũng như rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cho HS bởi vì hệthống câu hỏi, bài kiểm tra để HS tự kiểm tra lại khả năng của bản thân để cóhướng điều chỉnh thích hợp cho hoạt động học tập của mình

1.3 Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng Website hỗ trợ DH môn Công nghệ 8 phần cơ khí

1.3.1 Thực trạng về việc sử dụng CNTT trong dạy học

Trong những năm gần đây, sự bùng nổ của CNTT nói riêng và Khoahọc công nghệ nói chung đã tác động mạnh mẽ, có tính chất quyết định đến

sự phát triển của tất cả các ngành trong đời sống xã hội Với xu thế chung nhưvậy, đối với ngành Giáo dục, việc ứng dụng CNTT vào dạy học là một trongnhững nhu cầu tất yếu của GV và HS

Từ năm học 2006 - 2007, đối với cấp THCS và Tiểu học, “Tin học” làmôn học tự chọn Mặc dù vậy, với sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, cácngành và phụ huynh HS, nhiều trường đã có phòng học “Tin học” phù hợpvới điều kiện cơ sở vật chất và kinh tế của địa phương, đáp ứng được nhu cầu

Trang 40

học của HS và tạo điều kiện thuận lợi cho GV có phương tiện hỗ trợ việcgiảng dạy được tốt hơn.

Trong những năm vừa qua, Bộ giáo dục & Đào tạo đã phát động phongtrào ứng dụng CNTT vào dạy học nhằm đáp ứng được mục tiêu đổi mớiphương pháp dạy học, nâng cao chất lượng đào đạo con người lao động mới

Hầu hết các giờ học có ứng dụng CNTT ít nhiều cũng đã gây được sựhứng thú học tập cho HS Nó đã giúp các em tiếp thu bài nhanh hơn, cập nhậtđược nhiều kiến thức thực tế hơn, đồng thời ý thức học tập cũng nghiêm túchơn Để có được những kết quả đáng khích lệ như vậy, mỗi GV đã phải đầu

tư rất nhiều thời gian và công sức vào bài soạn Ý thức tự nghiên cứu, học hỏi

để nâng cao trình độ tin học cũng như chuyên môn nghiệp vụ cao hơn trước.Trong những năm qua, dưới sự chỉ đạo của Bộ giáo dục và Đào tạo (BGD &ĐT), được sự ủng hộ của các cấp lãnh đạo ngành và chính quyền các địaphương, sự hướng dẫn chỉ đạo của Cục CNTT thuộc BGD& ĐT, nhiềutrường đã được kết nối mạng internet Đây là điều kiện thuận lợi cho thầy vàtrò các trường nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng mục tiêu đổi mới PPDH

đã đề ra Mặc dù vậy, để có được một tiết dạy có ứng dụng CNTT đạt yêucầu, GV còn gặp rất nhiều khó khăn như :

- Trình độ tin học của nhiều GV còn yếu và không đồng đều, nhất làđối với GV nữ ở ngoài 40 tuổi

- Tính đến thời điểm này, vẫn chưa có một loại giáo trình hay tài liệunào dùng để hướng dẫn sinh viên các trường sư phạm hoặc GV phổ thông vềviệc ứng dụng CNTT như thế nào để đạt hiệu quả cao trong giảng dạy

- Các lớp bồi dưỡng về CNTT còn ít và chất lượng chưa cao

Chính vì chưa được định hướng rõ ràng nên việc ứng dụng CNTT vàodạy học đã bị hiểu sai lệch Nhiều GV đã lạm dụng CNTT một cách tùy tiệndẫn đến mất tính sư phạm trong giảng dạy

Ngày đăng: 12/04/2016, 08:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2: Các cấp độ sử dụng ICT trong dạy học - Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí
Hình 1.2 Các cấp độ sử dụng ICT trong dạy học (Trang 23)
Hình 1.3: So sánh Web 1.0 và Web 2.0 - Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí
Hình 1.3 So sánh Web 1.0 và Web 2.0 (Trang 31)
Bảng 1.3: Mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học - Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí
Bảng 1.3 Mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học (Trang 45)
Sơ đồ 2.1: Quy trình thiết kế Website dạy  học - Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí
Sơ đồ 2.1 Quy trình thiết kế Website dạy học (Trang 54)
Hình 2.1 : Giao diện Microsoft Word - Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí
Hình 2.1 Giao diện Microsoft Word (Trang 57)
Hình 2.2 : Giao diện PowerPoint - Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí
Hình 2.2 Giao diện PowerPoint (Trang 58)
Hình 2.3 : Giao diện Dreamweaver - Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí
Hình 2.3 Giao diện Dreamweaver (Trang 60)
Hình 2.5:  Giao diện Site Trang chủ - Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí
Hình 2.5 Giao diện Site Trang chủ (Trang 63)
Hình 2.7: Giao diện Site Kiểm tra đánh giá - Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí
Hình 2.7 Giao diện Site Kiểm tra đánh giá (Trang 64)
Hình 2.8: Giao diện Site Tài liệu học tập - Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí
Hình 2.8 Giao diện Site Tài liệu học tập (Trang 65)
Hình 2.9: Giao diện Site Trao đổi – góp ý - Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí
Hình 2.9 Giao diện Site Trao đổi – góp ý (Trang 66)
Bảng 3.3: Kết quả tính phương sai lớp đối chứng - Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí
Bảng 3.3 Kết quả tính phương sai lớp đối chứng (Trang 76)
Hình 3.1: Đồ thị đường tần suất (f i) - Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí
Hình 3.1 Đồ thị đường tần suất (f i) (Trang 76)
Bảng 3.4: Kết quả tính phương sai lớp thực nghiệm - Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí
Bảng 3.4 Kết quả tính phương sai lớp thực nghiệm (Trang 77)
Hình để nhận xét và trả - Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ dạy học môn Công nghệ 8 phần Cơ khí
nh để nhận xét và trả (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w