2.Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 2.1.Mục đích của luận văn Nghiên cứu nội dung và PPDH nhằm giáo dục đạo đức kinh doanh cho HS thông qua dạy học phần công dân với kinh tế cho học sinh THPT ở TT GDTX Sóc Sơn 2.2.Nhiệm vụ của luận văn Làm rõ cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn việcgiáo dục đạo đức kinh doanh trong dạy học phần công dân với kinh tế cho học sinh THPT ở TT GDTX Sóc Sơn, Hà Nội. Phân tích thực trạng giáo dục đạo đức kinh doanh trong dạy học phần công dân với kinh tế cho học sinh THPT ở TT GDTX Sóc Sơn, Hà Nội. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảgiáo dục đạo đức kinh doanh trong dạy học phần công dân với kinh tế cho học sinh THPT ở TT GDTX Sóc Sơn, Hà Nội. Thực nghiệm giáo dục đạo đức kinh doanh trong dạy học phần công dân với kinh tế cho học sinh THPT ở TT GDTX Sóc Sơn, Hà Nội.
Trang 1MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang trong quá trình phát triển kinh tế thị trường bên cạnh những tác động tích cực còn có nhiều tác động tiêu cực nhất là suy thoái về đạo đức, trong đó có đạo đức kinh doanh biểu hiện ở tình trạng buôn bán hàng cấm, sản xuất hàng giả,hàng nhái, hàng kém chất lượng làm tổn hại đến sức khỏe người tiêu dùng hay tình trạng kinh doanh trái phép, trốn thuế gây tác động nghiêm trọng đến đời sống kinh tế xã hội
Học sinh THPT là lực lượng lao động quan trọng chuẩn bị tham gia vào nền sản xuất xã hội cần được bồi dưỡng nhiều khía cạnh đạo đức trong đó
có đạo đức kinh doanh thông qua các môn học khác nhau trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặc biệt là môn Giáo dục công dân.Ở cấp THPT, môn Giáo dục công dân là một trong những môn học góp phần giáo dục toàn diện nhân cách học sinh trong đó có nhiệm vụ giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức và pháp luật….được thực hiện thông qua các nội dung dạy học khác nhau Đây
là môn khoa học xã hội với những đặc thù tri thức nhằm đào tạo học sinh thành những người lao động mới, có phẩm chất tốt đẹp của người công dân trong tương lai
Tuy nhiên việc dạy học Giáo dục công dân ở trường THPT hiện nay vẫn chưa thực sự chú trọng đến vấn đề giáo dục đạo đức kinh doanh cho học sinh Việc dạy học mới chỉ dừng lại ở những nội dung cơ bản trong sách giáo khoa mà chưa giúp học sinh có những kiến thức thực tế từ thực tiễn đời sống
xã hội, nhất là kiến thức về những hoạt động kinh tế, về đạo đức kinh doanh
Từ đó học sinh chưa vận dụng được các kiến thức đã được học tập vào cuộc sống của bản thân, gia đình và xã hội của mình
Vì thế, cần nghiên cứu về cả nội dung cũng như phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân đặc biệt là tích hợp nội dung giáo dục đạo đức kinh doanh trong dạy học Giáo dục công dân cho học sinh THPT đáp ứng yêu cầu
đặt ra của thực tiễn phát triển của đất nước Vì vậy, tôi chọn đề tài “Giáo dục
Trang 2đạo đức kinh doanh trong dạy học phần công dân với kinh tế cho học sinh THPT ở trung tâm GDTX Sóc Sơn, Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa
học của mình
2.Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
2.1.Mục đích của luận văn
Nghiên cứu nội dung và PPDH nhằm giáo dục đạo đức kinh doanh cho
HS thông qua dạy học phần công dân với kinh tế cho học sinh THPT ở TT GDTX Sóc Sơn
2.2.Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rõ cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn việc giáo dục đạo đức kinh doanh trong dạy học phần công dân với kinh tế cho học sinh THPT ở TT GDTX Sóc Sơn, Hà Nội
- Phân tích thực trạng giáo dục đạo đức kinh doanh trong dạy học phần công dân với kinh tế cho học sinh THPT ở TT GDTX Sóc Sơn, Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức kinh doanh trong dạy học phần công dân với kinh tế cho học sinh THPT ở TT GDTX Sóc Sơn, Hà Nội
- Thực nghiệm giáo dục đạo đức kinh doanh trong dạy học phần công dân với kinh tế cho học sinh THPT ở TT GDTX Sóc Sơn, Hà Nội
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề giáo dục đạo đức kinh doanh trong dạy học phần công dân với kinh tế cho học sinh THPT ở trung tâm GDTX Sóc Sơn, Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu nội dung giáo dục đạo đức kinh doanh thông qua các bài giảng phần “công dân với kinh tế” ở môn GDCD lớp 11
- Phần khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm được tiến hành ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên Sóc Sơn – Hà Nội
Trang 34.Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lí luận của luận văn là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về Dạy học đạo đức, đặc biệt
là giáo dục đạo đức kinh doanh trong môn Giáo dục công dân ở trường THPT
- Luận văn sử dụng các phương pháp: logic – lịch sử, phân tích tổng hợp, đối chiếu, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa, thực nghiệm sư phạm, phỏng vấn chuyên gia…
5.Những đóng góp của luận văn
- Làm rõ cơ sở lí luận của việc giáo dục đạo đức kinh doanh trong dạy học phần công dân với kinh tế ở TT GDTX Sóc Sơn, Hà Nội
- Làm rõ thực trạng giáo dục đạo đức kinh doanh và những vấn đề đặt
ra trong dạy học phần công dân với kinh tế cho học sinh THPT ở TT GDTX Sóc Sơn, Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiêu quả giáo dục đạo đức kinh doanh trong dạy học phần công dân với kinh tế cho học sinh THPT ở TT GDTX Sóc Sơn, Hà Nội
6.Ý nghĩa của luận văn
- Góp phần nghiên cứu đạo đức kinh doanh thông qua dạy học phần công dân với kinh tế cho học sinh THPT
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho việc nghiên cứu và dạy học môn GDCD lớp 11, 12 và các chuyên đề giáo dục đạo đức kinh doanh
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia làm 3 chương
Chương 1: Cơ sở khoa học của giáo dục đạo đức kinh doanh trong dạy
học phần công dân với kinh tế cho học sinh THPT Ở trung tâm GDTX Sóc Sơn, HÀ Nội
Trang 4Chương 2: Biện pháp giáo dục đạo đức kinh doanh trong dạy học
phần công dân với kinh tế cho học sinh THPT ở trung tâm GDTX Sóc Sơn, Hà Nội
Chương 3: Thực nghiệm biện pháp giáo dục đạo đức kinh doanh trong
dạy học phần công dân với kinh tế cho học sinh THPT ở trung tâm GDTX Sóc Sơn, Hà Nội
Trang 5NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC KINH DOANH TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI KINH TẾ” CHO HỌC SINH THPT Ở TRUNG TÂM GDTX SÓC SƠN, HÀ NỘI 1.1 Đạo đức kinh doanh và giáo dục đạo đức kinh doanh trong dạy học phần “công dân với kinh tế” cho học sinh THPT ở trung tâm GDTX Sóc sơn, Hà Nội.
1.1.1 Đạo đức kinh doanh và giáo dục đạo đức kinh doanh
1.1.1.1 Khái niệm đạo đức kinh doanh
Nghiên cứu về đạo đức là một truyền thống lâu đời trong xã hội loài người, bắt nguồn từ những niềm tin về tôn giáo, văn hóa và tư tưởng triết học Đạo đức liên quan tới những cam kết về luân lí, trách nhiệm và công bằng xã hội Đạo đức trong tiếng anh là ethics, từ này bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp ethiko và ethos, nghĩa là phong tục hoặc tập quán Như Aristoteles đã nói, khái niệm trên bao gồm ý tưởng cả về tính chất và cách áp dụng Vì vậy, đạo đức phản ánh tính cách của cá nhân và trong thời đại ngày nay thì có thể nói lên cả tính chất của một doanh nghiệp, vì doanh nghiệp chính là tập hợp của các cá nhân
Đạo đức kinh doanh là một khái niệm không cũ mà cũng không mới Với tư cách là một khía cạnh luân lí trong hoạt động thương mại, đạo đức kinh doanh đã lâu đời như chính thương mại vậy Trong bộ luật Hammurabi
từ khoảng 1700 TCN đã có quy định về giá cả, thuế quan, cách thức hoạt động thương mại và những hình phạt hà khắc cho những kẻ không tuân thủ
Đó có thề được coi là bằng chứng cho sự nỗ lực đầu tiên của xã hội loài người
để phân định ranh giới đạo đức cho các hoạt động kinh doanh Trong tác phẩm “Plitics” (ra đời vào khoảng năm 300 TCN) Aristoteles đã chỉ ra rõ ràng những mối liên hệ thương mại khi bàn về quản lý gia đình Giáo lí của đạo Do Thái và Thiên chúa giáo, Ví dụ như trong Jalmud (năm 200 SCN) và 10 điều
Trang 6răn (Exodus 20:2 – 17; Deuteronomy 5:6 – 21), đều đã đưa ra những quy tắc đạo đức được áp dụng trong hoạt động thương mại.
Tuy nhiên, với tư cách là một khái niệm mang tính hàn lâm, đạo đức kinh doanh cũng chỉ mới tồn tại được khoảng hơn 40 năm trở lại đây Nhà nghiên cứu đạo đức kinh doanh nổi tiếng Norman Bowie là người đầu tiên đã đưa ra khái niệm này trong một Hội nghị Khoa học vào năm 1971 Kể từ đó, đạo đức kinh doanh đã trở thành một chủ đề phổ biến trong các cuộc tranh luận của các lãnh đạo trong giới kinh doanh, người lao động, các cổ đông, người tiêu dùng cũng như các giáo sư đại học ở Mỹ, và từ đó lan ra toàn thế giới Tuy nhiên, không phải tất cả những nhà nghiên cứu, các tác giả và diễn giả đều có chung quan điểm về đạo đức kinh doanh Trước hết, giữa kinh doanh và đạo đức luôn có sự mâu thuẫn Một mặt, xã hội luôn muốn các công
ty tạo ra nhiều việc làm lương cao, nhưng mặt khác, những công ty này lại mong muốn giảm bớt chi phí và nâng cao năng suất lao động Người tiêu dùng luôn mong muốn mua hàng với giá thấp còn các cơ sở thương mại lại muốn có lãi suất cao nhất Xã hội mong muốn giảm ô nhiễm môi trường , còn các công ty lại mong muốn tối đa chi phí phát sinh khi tuân thủ các quy định
về bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất của họ Chính từ đó đã nảy sinh những xung đột không thể tránh khỏi trong quan niệm về đạo đức kinh doanh Do khác biệt về lợi ích của công ty với lợi ích của người lao động, người tiêu dùng và toàn thể xã hội Vì tất cả những điều đối lập nói trên là tất yếu nên các nhà quản lí buộc phải làm sao để cân bằng lợi ích của các công ty với lợi ích của các cổ đông và những người có quyền lợi liên quan, bao gồm nhân viên, khách hàng và toàn thể cộng đồng
Cho đến nay, đã đưa ra kết luận về đạo đức kinh doanh, trong đó khái niệm sau có thể được coi là đơn giản nhất Đạo đức kinh doanh là những nguyên tắc được chấp nhận để phân định đúng sai, nhằm điều chỉnh hành vi của các nhà kinh doanh Định nghĩa này khá chung chung, vì thế cũng bỏ qua nhiều nhân tố quan trọng, ví dụ như: những loại hành vi nào những nguyên
Trang 7tắc đạo đức có thể điều chỉnh, hay những ai có thể được coi là “ nhà kinh doanh” và hành vi của họ cần được điều chỉnh như thế nào?
Ý thức được sự phức tạp của vấn đề giáo sư Philip V Levis từ trường đại học Abilence Christian Hoa Kỳ đã tiến hành điều tra và thu thập được 185 đinh nghĩa được đưa ra trong các sách giáo khoa và các bài nghiên cứu từ năm 1961 đến năm 1981 để tìm ra “đạo đức kinh doanh” được những định nghĩa ra sao trong các tài liệu nghiên cứu và trong ý thức của các nhà kinh doanh Sau khi tìm ra điểm chung của các khái niệm trên, ông tổng hợp lại và đưa ra khái niệm đạo đức kinh doanh như sau:
“ Đạo đức kinh doanh là tất cả những quy tắc, tiêu chuẩn, chuẩn mực đạo đức hoặc luật lệ để cung cấp chỉ dẫn về hành vi ứng xử chuẩn mực và sự trung thực của các chủ thể kinh doanh trong những trường hợp nhất định”.
Hoạt động kinh doanh luôn gắn liền với lợi ích kinh tế, nên đạo đức kinh doanh có những đặc trưng riêng của nó Chẳng hạn, tính trung thực, coi trọng hiệu quả kinh tế luôn là yêu cầu đặt ra đối với giới kinh doanh, thì đối với người khác đôi khi lại là biểu hiện không tốt Khi đánh giá về đạo đức kinh doanh, người ta thường dựa vào nguyên tắc và chuẩn mực về:
- Tính trung thực: Không dùng các thủ đoạn gian dối, xảo trá để kiếm lời Giữ lời hứa, giữ chữ tín trong kinh doanh Nhất quán trong nói và làm Trung thực trong chấp hành pháp luật của nhà nước, không làm ăn phi pháp như trốn thuế, lậu thuế, không sản xuất và buôn bán những mặt hàng quốc cấm, thực hiện nững dịch vụ có hại cho thuần phong mỹ tục Trung thực trong giao tiếp với bạn hàng (giao dịch, đàm phàn, kí kết) và người tiêu dùng Không làm hàng giả, khuyến mại giả, quảng cáo sai sự thật, sử dụng trái phép những nhãn hiệu nổi tiếng, vi phạm bản quyền, phá giá theo lối ăn cướp Trung thực ngay với bản thân, không hối lộ, tham ô, thụt két, “ chiếm công vô tư ”
- Tôn trọng con người: Đối với những người cộng sự và dưới quyền: tôn trọng phẩm giá, quyền lợi chính đáng, tôn trọng hạnh phúc, tôn trọng tiềm
Trang 8năng phát triển của nhân viên, quan tâm đúng mức, tôn trọng quyền tự do và các quyền hạn hợp pháp khác.
Đối với khách hàng: tôn trọng nhu vầu, sở thích và tâm lí khách hàng …vvĐối với đối thủ cạnh tranh: tôn trọng lợi ích của đối thủ và cạnh tranh lành mạnh
- Sự khiêm tốn và lòng dũng cảm: sự khiêm tốn và lòng dũng cảm là đức tính rất cần đối với mỗi người kinh doanh Nó giúp họ tránh được sự kiêu ngạo
và sự tự ti – những tình cảm cực đoan của chủ nghĩa cá nhân Qua đó, tạo điều kiện cho mỗi doanh nhân đương đầu với thử thách, dám làm dám chịu
- Tôn trọng bí mật thương mại: bí mật thương mại cần phải được bảo
vệ vì nó là một loại tài sản đặc biệt mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp Nếu
bí mật thương mại bị tiết lộ sẽ dẫn đến hậu quả làm mất lợi thế cạnh tranh trong kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1.2 Vai trò của giáo dục đạo đức kinh doanh
Đạo đức kinh doanh hiện diện trong mọi lĩnh vực hoạt động quản lý của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp không nhận diện rõ vấn đề đạo đức sẽ đưa ra những quyết định sai lầm gây thiệt hại cho doanh nghiệp và xã hội Do vậy, đạo đức kinh có vai trò rất lớn trong đời sống kinh tế xã hội
Đối với cá nhân: Giáo dục đạo đức kinh doanh sẽ làm cho mỗi cá nhân
ý thức được các hành vi kinh tế mình đang thực hiện có đúng với pháp luật không? Có được pháp luật chấp thuận không?
Giáo dục đạo đức kinh doanh còn hướng mỗi cá nhân thực hiện những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp như: tính trung thực, tôn trọng con người, sự khiêm tốn, lòng dũng cảm và tôn trọng những bí mật trong kinh doanh….Góp phần điều chỉnh hành vi của mỗi chủ thể trước khi tham gia vào quá trình kinh doanh Nhất là đối với các em học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường thì việc giáo dục đạo đức kinh doanh càng cần thiết Vì nó sẽ cung cấp cho các
em những kiến thức thực tiễn trong hoạt động sản xuất, buôn bán hàng hóa…
để các em nhận thức rõ hơn trong kinh doanh ngoài lợi nhuân kiếm được từ
Trang 9hoạt động sản xuất, buôn bán hàng hóa thì chưa đủ, mà phải có đạo đức kinh doanh ở trong nó, nếu không nó sẽ gây ảnh hưởng xấu đến đời sống của con người, trực tiếp là đến sức khỏe người tiêu dùng.
Đối với doanh nghiệp: Giáo dục đạo đức kinh doanh góp phần điều chỉnh hành vi của các chủ thể kinh doanh; vào chất lượng của doanh nghiệp; vào sự cam kết và tận tâm của nhân viên; làm hài lòng khách hàng; tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp và góp phần vào sự vững mạnh của nền kinh tế quốc gia
Đối với xã hội: Giáo dục đạo đức kinh doanh có vai trò làm tuân thủ luật pháp xã hội; nâng cao chất lượng hàng hóa cho người tiêu dùng; làm tăng khả năng cạnh tranh giữa các nhà sản xuất để đem lại sản phẩm tốt nhất cho người tiêu dùng; hơn nữa giáo dục đạo đức kinh doanh còn có vai trò bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và tham gia cứu trợ xã hội
1.1.2 Nội dung giáo dục đạo đức kinh doanh trong dạy học phần công dân với kinh tế
Trong chương trình dạy học môn Giáo dục công dân ở THPT, phần “ Công dân với kinh tế ” là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức về kinh tế chính trị học, cung cấp và trang bị những kiến thức cơ bản cho học sinh về sự hình thành, phát triển kinh tế hàng hóa, các khái niệm, quy luật kinh tế cơ bản trong nền kinh tế hàng hóa như: hàng hóa, tiền tệ, quy luật cung – cầu, cạnh tranh, quy luật giá trị…, cùng định hướng phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Phần “ Công dân với kinh tế ” được cấu trúc trong chương trình gồm 7 bài với gợi ý phân phối chương trình như sau:
Bài 1 (2 tiết): Công dân với sự phát triển kinh tế
Bài 2 (3 tiết): Hàng hóa - tiền tệ - thị trường
Bài 3 (2 tiết): Quy luật giá trị trong sản xuất và lưu thông hàng hóaBài 4 (1 tiết): Cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hóa
Bài 5 (1 tiết): Cung - cầu trong sản xuất và lưu thông hàng hóa
Trang 10Bài 6 (2 tiết): Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Bài 7 (2 tiết): Thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần và tăng cường vai trò quản lí của nhà nuớc
Các bài học trong chương trình đước cấu tạo theo một hệ thống lôgic
Mở đầu học phần là cái nhìn tổng quan về toàn bộ nền kinh tế, về vai trò quyết định của của cải vật chất đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Trong đó, bài học cũng chỉ ra những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và ý nghĩa của sự phát triển kinh tế Các yếu tố của quá trình sản xuất bao gồm: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động, trong đó yếu
tố sức lao động đóng vai trò quan trọng và quyết định các yếu tố còn lại Cùng với đó, sự phát triển kinh tế có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi
cá nhân, gia đình và xã hội (bài 1)
Tiếp theo là các vấn đề chung về phát triển kinh tế hàng hóa và các quy luật chi phối sự vận động của nền kinh tế hàng hóa (bài 2 – bài 5) Trong những bài này các khái niệm của nền kinh tế thị trường được làm rõ như: hàng hóa, tiền tệ, thị trường và nguồn gốc, vai trò của chúng trong nền kinh tế hàng hóa (bài 2) Đồng thời, bài học cũng nhắc đến các quy luật chi phối sự vận động của nền kinh tế hàng hóa như: quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu Quy luật giá trị chỉ ra rằng tronh nền sản xuất và lưu thông hàng hóa phải dựa trên cơ sở lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa, vì vậy quy luật giá trị có tác dung rất lớn đến việc sản xuất cũng như lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế (bài 3)
Nền kinh tế hàng hóa không chỉ chịu sự chi phối của quy luật giá trị mà còn chịu sự chi phối của quy luật cạnh tranh, quy luật cung – cầu Quy luật cạnh tranh đem lại những tích cực và hạn chế nhất định cho nền kinh tế Hiểu được bản chất của cạnh tranh sẽ giúp cho học sinh có cái nhìn đúng đắn về nền kinh tế và bắt đầu hình thành kĩ năng tư duy chấp nhận cạnh tranh và phải
có năng lực cạnh tranh để chiến thắng cạnh tranh thì mới tồn tại được trong nền kinh tế thị trường đầy tính cạnh tranh khốc liệt này (bài 4) Quy luật cung
Trang 11cầu giúp chủ thể sản xuất định hướng cụ thể cho kế hoạch sản xuất của mình, hình thành cho học sinh biết phân tích nhu cầu thị trường và khả năng cung của nền kinh tế xã hội từ đó cần cân nhắc trước khi sản xuất một hàng hóa nào đó (bài 5).
Hai bài cuối học phần đề cập tới định hướng phát triển nền kinh tế của đất nước Đó là việc tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần có sự quản lí của nhà nuớc (bài 6, 7)
Có thể thấy, học phần được sắp xếp lôgic với các kiến thức cơ bản nhất của bộ môn kinh tế chính trị nhằm cung cấp cho học sinh các kiến thức, kĩ năng và giúp hình thành thái độ tích cực cho học sinh trong cuộc sống
Về kiến thức: Giúp các em hiểu được một số phạm trù, quy luật kinh tế
cơ bản và phương hướng trong việc xây dựng, phát triển kinh tế trtrong thời
kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta Ngoài ra, học phần còn giúp các
em hiểu được trách nhiệm của công dân trong việc xây dựng, phát triển kinh
tế cá nhân, gia đình và xã hội
Về kĩ năng: Giúp các em có thể vận dụng được những kiến thức đã học
để lí giải một số vấn đề về phát triển kinh tế trong đời sống xã hội Bên cạnh
đó các em có kĩ năng nhận xét, đề xuất và tham gia giải quyết những hiện tượng kinh tế gần gũi, phù hợp với lứa tuổi, có kĩ năng định hướng nghề nghiệp phù hợp với bản thân và yêu cầu phát triển của xã hội, tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của gia đình phù hợp với khả năng của mình
Về thái độ: Giúp các em tin tưởng đường lối, chính sách phát triển kinh
tế của Đảng và Nhà nuớc Tin tưởng vào khả năng của bản thân trong việc xây dựng kinh tế gia đình và góp phần phát triển kinh tế đất nước
Như trên vừa phân tích, phần “ Công dân với kinh tế ” môn Giáo dục công dân lớp 11 trực tiếp cung cấp những kiến thức cơ bản góp phần hình thành, phát triển những kiến thức kinh doanh, đồng thời giáo dục đạo đức kinh doanh cho học sinh THPT Nhưng để giáo dục đạo đức kinh doanh và biến đạo đức kinh doanh trở thành nhận thức của mỗi học sinh cùng những kĩ
Trang 12năng vận dụng chúng vào thực tiễn cuộc sống cần có vai trò to lớn của giáo viên bộ môn trong việc tổ chức dạy học với các PPDH tích cực và phương pháp kiển tra đánh giá phù hợp.
Bên cạnh hoạt động tổ chức dạy học trên lớp, hoạt động tự học ở nhà của học sinh được chú ý nhiều hơn như việc tìm hiểu khảo sát thị trường, phân tích cung cầu về hàng hóa, tìm hiểu kinh nghiệm sản xuất kinh doanh của một số cơ sở sản xuất địa phương… là cơ hội để học sinh hiểu rõ hơn nội dung những kiến thức kinh tế trong bài học và dần dần hình thành kĩ năng tổ chức sản xuất kinh doanh cũng như đạo đức kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đầy biền động như hiện nay
Trong quá trình dạy học các kiến thức phần “ Công dân với kinh tế ” các giáo viên không chỉ sử dụng PPDH truyền thống như phương pháp thuyết trình mà còn sử dụng các phương pháp dạy học tích cực khác như: phương pháp nêu gương, phương pháp trường hợp, phương pháp dạy học tình huống
và đóng vai, phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề… Nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh Ngoài ra, giáo viên còn sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin như: máy chiếu, máy tính, video… bước đầu đem lại hứng thú cho người học
Như vậy có thể khẳng định, hoạt động dạy học môn giáo dục công dân phần “Công dân với kinh tế” đóng vai trò to lớn, trực tiếp trong việc hình thành
và kiến thức kinh doanh và giáo dục đạo đức kinh doanh cho học sinh THPT
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc giáo dục đạo đức kinh doanh trong dạy học phần “Công dân với kinh tế” cho học sinh THPT ở trung tâm GDTX Sóc sơn, Hà Nội
1.2.1 Thực trạng giáo dục đạo đức kinh doanh trong dạy học phần “ Công dân với kinh tế” ở trung tâm GDTX Sóc Sơn, Hà Nội
Để có thêm cơ sở thực tiễn của việc giáo dục đạo đức kinh doanh cho học sinh THPT trong dạy học môn Giáo dục công dân phần “ Công dân với kinh tế”,
Trang 13chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng dạy học phần này ở trung tâm Giáo dục thường xuyên Sóc Sơn, Hà Nội và tập trung vào một số vấn đề sau:
- Phương pháp dạy học của giáo viên trong quá trình dạy học Giáo dục công dân phần “ Công dân với kinh tế”
- Thái độ học tập môn Giáo dục công dân của học sinh
- Nhận thức của giáo viên về việc đổi mới phương pháp dạy học phần công dân với kinh tế
- Đánh giá của học sinh về việc thu nhận các kiến thức về giáo dục đạo đức kinh doanh sau khi được học phần “ Công dân với kinh tế”
Việc khảo sát được tiến hành với 4 giáo viên giảng dạy môn Giáo dục công dân và 200 học sinh khối 11 và học sinh khối 12 của trung tâm GDTX Sóc Sơn, Hà Nội
Phương pháp nghiên cứu : phỏng vấn giáo viên và học sinh trong trung tâm, dự giờ, quan sát hoạt động dạy và học; phát phiếu điều tra để thu thập thông tin; thống kê toán học để đánh giá kết quả phiếu điều tra Kết quả điều tra cho phép có thể rút ra một số nhận xét sau đây:
- Về phương pháp dạy học môn GDCD phần “Công dân với kinh tế”
Bảng 1.1: Mức độ sử dụng các PPDH trong quá trình dạy học GDCD
Các mức độ Thường
xuyên
Thỉnh thoảng
Chưa bao giờ
7 Phát hiện & giải quyết vấn đề 3/4 1/4
Trang 14Bảng 1.1 cho thấy: Phương pháp dạy học của giáo viên GDCD vẫn phổ biến là các PPDH truyền thống Mức độ sử dụng các PPDH truyền thống như thuyết trình, nêu vấn đề lên đến mức tối đa 4/4 Còn các phương pháp dạy học mới và hiện đại khác như: nêu gương, trường hợp, tình huống và đống vai, phát hiện và giải quyết vấn đề… mới chỉ sử dụng ở mức độ nhất định Thậm chí ở phương pháp sử dụng tình huống và đóng vai còn có giáo viên chưa bao giờ thực hiện Điều đó chứng tỏ, PPDH truyền thống vẫn chiếm ưu thế trong quá trình giảng dạy môn GDCD tại trung tâm GDTX Sóc Sơn, Hà Nội.
Bảng 1.2: Đánh giá của học sinh về cách thức dạy học của giáo viên
bộ môn
STT Đánh giá về cách thức dạy học của giáo viên Số HS Tỷ lệ %
3 Giảng dạy chủ yếu là lí thuyết, ít vận dụng thực tiễn 15 7,5%
có điều kiện thể hiện tích cực, chủ động trong hoạt động học tập của mình
- Về nhận thức, tinh thần học tập môn GDCD của học sinh
Điều tra khảo sát thái độ học tập và nhận thức của học sinh về môn học thu được kết quả như sau:
Trang 15+ Về nhận thức của học sinh về môn GDCD: chúng tôi đã tiến hành
gửi phiếu câu hỏi (phụ lục 2) cho 200 học sinh khối 11 và khối 12 trong trường và đạt đựoc kết quả như sau:
Bảng 1.3 Thực trạng nhận thức của học sinh về môn GDCD
STT Nhận thức về vị trí, vai trò của môn GDCD Số HS Tỷ lệ %
1 Là môn học cần thiết, thiết thực 150 75
2 Là môn học không cần thiết, không thiết thực 5 2,5
3 Là môn học cũng được, không học cũng không sao 20 10
Kết quả cho thấy, phần lớn học sinh có nhận thức đúng về môn học và
vị trí, vai trò của môn học Cũng có một số em coi đây chỉ là môn học phụ, không thiết thực (2,5%) không có liên quan gì đến kì thi tốt nghiệp Một bộ phận không nhỏ các em cho rằng đó là môn học nặng về lí luận, trừu tượng, khó hiểu, khó học, khó nhớ Do đó dẫn đến tình trạng trong quá trình học tập học sinh có những biểu hiện, thái độ học tập như sau:
Bảng 1.4 Thực trạng thái độ học tập môn GDCD của học sinh
Trang 16học chỉ mang tính chất đối phó là chủ yếu là học trong vở ghi, trong sách giáo khoa, ít có sự liên hệ với thực tiễn Cụ thể:
Bảng 1.5 Phương pháp học môn GDCD của học sinh
5 Học có liên hệ, vận dụng vào thực tiễn 30 15
6 Tự nghiên cứu, trao đổi trước theo hướng
dẫn của giáo viên
Theo kết quả thu được thì hầu hết học sinh đều nhận thức được tầm quan trọng của học phần “ Công dân với kinh tế” trong chương trình GDCD lớp 11 (83,5%) và (11,6%) Từ đó, cung cấp các kiến thức cơ bản để các em
có hiểu biết về nền kinh tế của đất nước và đồng thời cũng lồng ghép những nội dung giáo dục đạo đức kinh doanh cho từng học sinh Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận nhỏ học sinh cho rằng phần “ Công dân với kinh tế” là không cần thiết phải học chiếm 0,9% Nguyên nhân thực tế dẫn đến thực trạng này là
do trong quá trình học tập các em chưa chú ý nghe giảng và không biết cách
áp dụng những kiến thức thầy cô truyền đạt vào thực tế bài giảng Hoặc cũng
do giáo viên chưa truyền đạt tri thức đến học sinh một cách dễ hiểu, khoa học
Trang 17Qua điều tra, thăm dò, trao đổi và tổng hợp kết quả các phiếu điều tra đối với giáo viên giảng dạy bộ môn và học sinh trong trung tâm, tác giả luận văn nhận thấy rằng:
Trong hệ thống các môn học trong chương trình đào tạo bậc THPT ở Việt Nam hiện nay, học sinh thường quan niệm môn GDCD là môn học phụ
Sự quan tâm, chú ý, hứng thú và tích cực của học sinh đối với môn học là chưa nhiều Học sinh học GDCD với tâm lí học để cho qua, thậm chí không muốn học bộ môn này, nhất là đối với những em có thiên hướng học lệch Thực tế đó xuất phát từ những nguyên nhân sau: môn GDCD không nằm trong danh sách các bộ môn thi tốt nghiệp và thi đại học; nội dung chương trình môn GDCD ở trường THPT tương đối kho khan và trừu tượng với quá nhiều nội dung và liên quan đến nhiều lĩnh vực trong cuộc sống như triết học, đạo đức, kinh tế, chủ nghĩa xã hội khoa học, pháp luật….; đội ngũ giáo viên chưa được quan tâm đúng mức… Từ đó dẫn đến tình trạng , chất lượng dạy
và học bộ môn không có điều kiện được nâng cao
Hiện nay, việc ứng dụng phương pháp dạy học tích cực của giáo viên giảng dạy bộ môn GDCD trong nhà trường không thường xuyên, chỉ diễn ra chủ yếu ở những giờ có tham dự, đánh giá hoặc do những yếu tố khác chi phối nên khó có điều kiện thực hiện; lối truyền thụ một chiều còn khá phổ biến Chính điều đó đã dẫn đến sự đơn điệu, nhàm chán, khiến môn GDCD chưa thực sự thu hút sự chú ý của học sinh Vì vậy, nó cần được thay thế bằng những phương pháp tích cực hơn, hiệu quả hơn, chủ động hơn để có thể nâng cao hơn nữa chất luợng của môn học cũng qua thực tiễn, dạy học phần “ Công dân với kinh tế” ở trung tâm GTTX Sóc Sơn, chúng tôi cho rằng: Cần phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, trong đó có sự kết hợp giữa các phương pháp dạy học truyền thống với các phương pháp dạy học hiện đại nhằm phát huy tối đa ưu điểm và khắc phục hạn chế của từng phương pháp
Trang 181.2.2 Sự cần thiết phải giáo dục đạo đức kinh doanh trong dạy học phần công dân với kinh tế ở trung tâm GDTX Sóc Sơn, Hà Nội
Nhiệm vụ phải không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo đang đòi hỏi chúng ta nhanh chóng đổi mới nội dung cũng như tìm ra được phương pháp dạy học khoa học, mang lại chất lượng và hiệu quả như mong muốn Vì vậy, cần phải đổi mới phương pháp dạy học cũng như nội dung dạy hoc Trong dạy học mỗi học phần đều có khung kiến thức chung, bên cạnh đó giáo viên có thể lồng ghép những nội dung phù hợp để bài học hay hơn, dễ hiểu hơn và áp dụng được vào thực tiễn nhiều hơn Đặc biềt trong phần “ Công dân với kinh tế” cần phải tăng cường nội dung giáo dục đạo đức kinh doanh cho học sinh vì những lí do cơ bản sau đây:
Một là, những đòi hỏi từ sự phát triển của xã hội
Hiện nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, công nghệ thông tin… kiến thức không còn là tài sản riêng của trường học Học sinh có thể tiếp nhận thông tin từ nhiều kênh, nhiều nguồn khác nhau Các nguồn thông tin phong phú, đa chiều mà người học có thể tiếp nhận đã đặt giáo dục trước yêu cầu cấp bách là cần phải đổi mới cách dạy và cách học
Công nghệ thông tin không chỉ có chức năng cung cấp thông tin mà còn là công cụ hỗ trợ tích cực trong dạy học, là phương tiện dạy học hiện đại, hữu ích và hiệu quả Công nghệ thông tin giúp cho người học mở rộng hiểu biết với tầm nhìn xa trông rộng qua hệ thống internet kết nối thôngbtin trong nước và toàn thế giới
Vấn đề đặt ra với trung tâm là làm thế nào để học sinh có thể làm chủ,
tự lực chiếm lĩnh kiến thức, tích cực, chủ động, sáng tạo, có kĩ năng giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống Đó thực sự là những thách thức lớn đối với ngành giáo dục nói chung, trung tâm và giáo viên nói riêng Giáo viên không chỉ là người mang kiến thức đến cho học sinh mà cần dạy cho học sinh biết cách tìm kiếm, chiếm lĩnh kiến thức để đảm bảo cho việc tự học suốt đời
Hai là, xuất phát từ những yêu cầu của sự phát triển kinh tế.
Trang 19Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra:
từ nay đến năm 2020 chúng ta phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại Mục tiêu CNH, HĐH là xây dựng nước ta trở thành một nuớc công nghiệp có cơ sở vật chất – kĩ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lí, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh và xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa
Để thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đòi hỏi đất nước cần có nguồn nhân lực có trình độ học vấn rộng, có thể thực hiện được nhiều nhiệm vụ và chuyên môn hóa nhằm đảm bảo chất lượng công việc với hiệu quả cao
Đáp ứng yêu cầu trên, người lao động cần phải năng động, sáng tạo, có kiến thức và kĩ năng mang tính chuyên nghiệp, sẵn sàng gánh vác trách nhiệm Dám chịu trách nhiệm là một trong những yếu tố quan trọng của người lao động và là mối quan tâm hàng đầu của các tổ chức kinh doanh Yêu cầu đối với lao động không chỉ đơn thuần là kiến thức mà còn là năng lực giải quyết các vấn đề linh hoạt, sáng tạo trước các tình huống khó khăn phức tạp của cuộc sống và sự dám chịu trách nhiệm không phải là những phẩm chất sẵn có ở mỗi con người mà nó được hình thành và phát triển trong quá trình giáo dục Như vậy, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển Ngành giáo dục phải không ngừng đổi mới trong đó cần quan tâm đến đổi mới phương pháp dạy học để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, đất nước đã thu được nhiều thành tựu có ý nghĩa quan trọng, đồng thời cũng đặt ra nhiều vấn
đề cần tiếp tục đổi mới nhất là trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, đặc biệt là đào tạo phổ thông Các em là những người chủ nhân tương lai của đất nước, là nguồn nhân lực chủ yếu của nền kinh tế Vì vậy, việc trang bị cho các em
Trang 20những khái niệm cơ bản, những quy luật cơ bản của nền kinh tế, hơn nữa còn giáo dục cho các em đạo đức kinh doanh trong hoạt động kinh tế để các em có thể vận dụng vào thực tiễn, bởi các em chính là những chủ nhân tưuơng lai của đất nước Việc đổi mới phương pháp dạy học phần “ Công dân với kinh tế” nhằm góp phần tăng thêm niềm tin của các em vào đường lối, chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng nền kinh tế mới hiện nay trên cơ sở hiểu biết đầy đủ những chủ trương chính sách Đồng thời góp phần xây dựng thế giới quan khoa học, cách mạng, phẩm chất con người mới với môi trường mới trong sự nghiệp đổi mới của đất nước.
Trong quá trình đổi mới, đất nước ta đang “ hình thành hệ giá trị và chuẩn mực của xã hội phù hợp với truyền thống, bản sắc dân tộc và yêu cầu của thời đại” Những nét cơ bản về phương hướng giáo dục tư tưởng đạo đức được Đại hội Đảng lần thứ XIII xác định là: “tăng cường giáo dục công dân, giáo dục lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục đạo đức và nhân văn, lịch sử dân tộc và bản sacư văn hóa dân tộc, ý chí vươn lên của bản thân và tiền đồ của đất nước” Ngoài những nét cơ bản nói trên, con người mới thích ứng với thời đại hiện nay phải là những con người không cam chịu đói nghèo, thiếu thốn, có ý chí vươn lên làm giàu bằng sức lao động của mình, làm theo pháp luật Đó là những con người năng lao động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm, không thị động, có hiểu biết và kĩ năng về nhiều lĩnh vực, con người đa năng, có khả năng di chuyển nghề nghiệp, cơ động trong cơ chế thị trường luôn biến động
Đổi mới phương pháp dạy học phần “ Công dân với kinh tế” nhằm làm cho học sinh nhận thức được những đòi hỏi mới của thời đại và hướng về đó
để rèn luyện và học tập Nó đòi hỏi việc dạy học phần “ Công dân với kinh tế” phải gắn với thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội, gắn với đường lối, chính sách, biện pháp kinh tế của Đảng và Nhà nước, vừa có tác dụng giáo dục lí tưởng, tư duy kinh tế, vừa giáo dục đạo đức kinh doanh, đồng thời tạo hứng thú cho người học
Trang 21Sự phát triển nhanh, mạnh với tốc độ mang tính bùng nổ của khoa học công nghệ thể hiện qua các lí thuyết, các thành tựu mới và khả năng ứng dụng cao, rộng và nhanh vào thực tế buộc các chương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy học cần phải được xem xét, điều chỉnh và đổi mới Học vấn
mà nhà trường trang bị cho các em không thể thâu tóm được mọi tri thức mong muốn Vì vậy, phải coi trọng việc dạy phương pháp, dạy cách đi tới kiến thức của loài người trên cơ sở đó mà học tập suốt đời Xã hội hiện đại đòi hỏi người học có học vấn không chỉ có khả năng lấy ra từ trí nhớ các tri thức có dạng sẵn có đã lĩnh hội ở nhà trường mà còn có khả năng chiếm lĩnh,
sử dụng các tri thức mới một cách độc lập; khả năng đánh giá các sự kiện, các hiện tượng một cách thông minh, sáng suốt khi gặp trong cuộc sống, trong lao động và trong quan hệ với mọi người Nội dung được hình thành phổ biến trong nhà trường phải góp phần quan trọng để phát tiển hứnh thú và năng lực nhận thức của học sinh, cung cấp cho học sinh những kĩ năng cần thiết cho việc tự học, tự giáo dục sau này Để thực hiện các yêu cầu trên vào thực tiễn phát triển kinh tế xã hội, bên cạnh việc đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình…thì việc đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học là hết sức cần thiết
Ba là, phương pháp dạy học phần “ công dân với kinh tế” ở các trung tâm giáo dục thường xuyên hiện nay vẫn chủ yếu theo phương pháp truyền thống.
Những năm gần đây, bên cạnh việc đổi mới mục tiêu chương trình, nội dung thì phương pháp dạy học phần “ Công dân với kinh tế” diễn ra vẫn còn chậm chạp, phương pháp dạy học truyền thống vẫn đang được sử dụng phổ biến ở hầu hết các trung tâm và ngày càng bộc lộ rõ những mặt hạn chế của
nó dẫn đến việc chưa áp dụng được yêu cầu của sự nghiệp giáo dục đào tạo cũng như mục tiêu, nhiệm vụ phải giáo dục đạo đức, đặc biệt là giáo dục đạo đức kinh doanh cho học sinh THPT Trong đó một số hạn chế tiêu biểu là:
Đa số giáo viên vẫn chú trọng truyền thụ kiến thức theo kiểu thuyết trình xen kẽ hỏi đáp, nặng nề thông báo, giảng giải kiến thức, chưa phát huy
Trang 22được tính tích cực và phát triển tư duy học sinh, làm cho học sinh học tập một cách thụ động.
Hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu, giáo viên chưa tiến hành hiệu quả một số hình thức dạy học tích cực khác nhau như: nêu gương, trường hợp, thảo luận nhóm, tình huống và giải quyết vấn đề…
Cơ sở vật chất, các phương tiện dạy học còn thiếu thốn, chưa đồng bộ.Việc tạo động cơ học tập đúng đắn cho học sinh thông qua các phương pháp lượng giá thường xuyên còn rất hạn chế, vẫn còn tập trung chủ yếu vào các kì thi cuối kì
Bốn là, xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lí của người học.
Học sinh THPT nói chung và học sinh THPT ở trung tâm giáo dục thường xuyên nói riêng đều có thể cập nhật thông tin nhanh và chia sẻ thông tin trong xã hội một cách chóng mặt Tuy nhiên, về mặt nhận thức thì hai đối tuợng học sinh này có cách nhìn nhận hoàn toàn khác nhau Đối với học sinh
ở các trường THPT thì mục tiêu học tập của các em là để chuẩn bị kiến thức, hành trang để thi vào các trường đại học, cao đẳng hay trung cấp chuyên nghiệp Còn đối với các em học sinh phổ thông ở trung tâm giáo dục thường xuyên thì mục tiêu học tập của các em lại khác, mục tiêu của các em chính là
có được tấm bằng phổ thông, sau đó tìm việc làm, kinh doanh hay buôn bán… Nếu như uớc mơ của các em học sinh THPT là trở thành kĩ sư, bác sĩ, nhà khoa học… còn uớc mơ của các em học sinh ở trung tâm giáo dục thường xuyên thường đơn giản hơn vì chất luợng đầu vào của các em thấp hơn rất nhiều so với các em học sinh ở các trường THPT Vì vây, uớc mơ của các em
có thể đơn giản hơn, bình dị hơn… Uớc mơ ấy là tìm kiếm việc làm phù hợp với khả năng, trình đội của mình Vì thế có rất nhiều em lựa chọn tìm kiếm việc làm ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, hay nhiều em lại tìm kiếm con đường kinh doanh, buôn bán để làm giàu cho bant thân và gia đình Chính vì
lẽ đó, việc giáo dục đạo đức kinh doanh trong dạy học phần “ Công dân với kinh tế” cho học sinh ở các trung tâm giáo dục thường xuyên là rất cần thiết
Trang 24TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, chúng tôi đã đi vào phân tích những cơ sở khoa học của việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực trong dạy học phần “ Công dân với kinh tế” ở trung tâm GDTX Sóc Sơn, Hà Nội Dù áp dụng phương pháp dạy học nào đi nữa cũng không thể thay thế được những phương pháp dạy học truyền thống, tuy nhiên các phương pháp dạy học truyền thống không phải lúc nào cũng hoàn hảo Do điều kiện khách quan khiến chúng bộc lộ những hạn chế nhất định Vì vậy, để mục tiêu đào tạo đạt kết quả cao nhất cần phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng kết hợp các phương pháp dạy học theo hướng tích cực, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại để phát huy tối đa ưu điểm và hạn chế khuyết điểm của các phương pháp đó
Trên cơ sở phân tích những cơ sở khoa học của việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực trong phần “Công dân với kinh tế” chúng tôi tiến hành thực nghiệm đổi mới phương pháp ở trung tâm GDTX Sóc Sơn
để đề xuất với những giải pháp đổi mới hiện nay
Trang 25CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC KINH DOANH TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI KINH TẾ” CHO HỌC
SINH THPT Ở TRUNG TÂM GDTX SÓC SƠN, HÀ NỘI
2.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp giáo dục đạo đức kinh doanh trong dạy học phần “Công dân với kinh tế” cho học sinh THPT ở trung tâm GDTX Sóc Sơn, Hà Nội
2.1.1 Nguyên tắc tính thực tiễn
Các tri thức của môn GDCD ở trường THPT liên quan trực tiếp với những vấn đề đang diễn ra trong đời sống chính trị, kinh tế,xã hội…Do đó, nó tác động trực tiếp và thường xuyên tới nhận thức, cũng như hành động của học sinh, thông qua học sinh tác động trực tiếp tới mọi thành viên của xã hội
Vì vậy, việc giảng dạy và học tập môn GDCD gắn liền với cuộc sống sinh động của xã hội, làm cho những tri thức của bộ môn thực sự là cơ sở cho hành
vi và hoạt động của học sinh chính là bản chất của nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn GDCD ở trường THPT
Mọi tri thức khoa học suy cho cùng đề xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn, là kết quả nhận thức của con người trong quá trình hoạt động thực tiễn
Trong nhà trường, muốn học sinh tiếp thu được các tri thức khoa học, tranh được sự mò mẫm trong hoạt động nhận thức thì cần phải khái quát những tri thức khoa học sẽ trang bị cho học sinh bằng những kết quả thực tiễn, quá trình dạy học phải liên hệ với thực tiễn, với đời sống Tri thức được truyền thụ cho học sinh càng gần với cuộc sống sinh động, càng gắn bó với sự biến đổi không ngừng của hiện thực khách quan bao nhiêu thì giá trị và vai trò của nó đối với quá trình hình thành, phát triển nhân cách của học sinh càng cao bấy nhiêu
Trong dạy học, phải kết hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn tri thức của môn học với thực tiễn sinh động trong quá trình giảng dạy mới có thể khẳng định giá trị đích thực của môn GDCD, mới giúp cho học sinh hiểu róy nghĩa của
Trang 26môn học để từ đó tạo ra sự say mê, niềm tin vào tri thứcmà các em đã được trang bị.
Việc vận dụng nguyên tắc tính thực tiễn vào giáo dục đạo đức kinh doanh trong dạy học phần “Công dân với kinh tế” cho học sinh THPT ở trung tâm GDTX Sóc Sơn, Hà nội cần phải đảm bảo những yêu cầu cơ bản sau:
Thứ nhất, đảm bảo tính thực tiễn trong bài giảng
Trong chương trình GDCD lớp 11, phần “Công dân với kinh tế” tác giả
đã lựa chọn một số bài điển hình và phù hợp để tiến hành lồng ghép nội dung giáo dục đạo đức kinh doanh, đặc biệt như bài số 2: Hàng hóa - Tiền tệ - Thị trường; bài số 4: Cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hóa; bài số 5: cung cầu trong sản xuất và lưu thông hàng hóa…
Việc đảm bảo tính thực tiễn trong bài giảng phải căn cứ vào nội dungtri thức bài học, trình độ nhận thức và khả năng lĩnh hội tri thức của học sinh
Về nội dung tri thức, nội dung dạy học ở các trung tâm GDTX có những khác biệt lớn so với nội dung dạy học ở các truờng THPT Sự khác biệt
đó được thể hiện ở phân phối chuơng trình, ở nội dung, ở cách thức và phương pháp dạy học
Nếu như ở các trường THPT phân phối chương trình lớp 11 phần
“Công dân với kinh tế” được chia làm 15 tiết cụ thể như sau:
Bài Tiết Kiến thức trọng
tâm
Phương pháp
Đồ dùng dạy học
Ghi chú
Bảng biểu, tranh ảnh,
số liệu, máy chiếu…
Giảng giải, gợi mở nêu vấn đề
Đàm thoại, liên hệ thực tế
Sơ đồ về mối quan
hệ giữa các yếu tố của quá trình
Giảm tải theo Công văn
Trang 27sản xuất
Sơ đồ về nôi dung của phát triển kinh tế
của Bộ
3 Phát triển kinh tế và
ý nghĩa của phát triển kinh tế đối với
Sơ đồ về quan hệ giữa giá trịvà giá trị trao đổi
Giảm tải theo Công văn của Bộ
Sơ đồ biểu hiện nội dung quy luật giá trị
Giảm tải theo Công văn của Bộ
8 Tác động của quy
luật giá trịVận dụng quy luật giá trị
Tính hai mặt của cạnh tranh
Nêu vấn đề, hoạt động nhóm, giảng giải
Biểu bẳng
về mục đích
và tính hai mặt của cạnh tranh
Giảm tải theo Công văn của Bộ
và lưu thông hàng hóa
Đàm thoại kích thích tư duy
Bảng biểu
về sự vận dụng quan
hệ cung – cầu
Giảm tải theo Công văn của Bộ
11 Kiểm tra viết 1 tiết
Bài 6:
Công
nghiêphóa,
hiệnnđại
12 Khái niệm công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tính tất yếu khách
Nêu vấn đề, thuyết trình,
mô tả, biểu đồ
Sơ đồ cơ cấu kinh tế,
tỉ trọng các ngành kinh
Giảm tải theo Công
Trang 28hóa đất
nước
quan và tác dụng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
tế trong GDP
văn của Bộ
13 Nội dung cơ bản
của công nghiệp hóa, hiện đại hóaBài 7:
tế của nước ta
Đàm thoạiThuyết trìnhChia nhómNếu vấn đề
Sơ đồ khái quát cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần ở nước taBảng biểu
về trách nhiệm của công dân
Giảm tải theo Công văn của Bộ
15 Trách nhiệm của
công dân với việc thực hiện nền kinh
tế nhiều thành phầnVai trò quản lí kinh
Chuyên đề 1 Tìm hiểu vềLuật
giao thông
Thuyết trình, đàm thoại, trực quan, giải quyết tình huống
Bảng biểu, tranh ảnh,
sơ đồ, máy chiếu
Giảng giải,gợi
mở nêu vấn đềĐàm thoại, liên
hệ thực tế
Sơ đồ về mối quan
hệ giữa các yếu tố của quá trình sản xuất
Sơ đồ nội dung của phát triển kinh tế
Giảm tải theo Công văn của Bộ
3 Phát triển kinh tế
và ý nghĩa của phát triển kinh tế đối với cá nhân, gia đình và xã hộiBài 2:
Hàng hóa
4 Hàng hóa
Tiền tệ
Thuyết trình, giảng giải, so
Sơ đồ về quan hệ
Giảm tải
Trang 29- Tiền tệ -
Thị trường
sánh, gợi mở giữa giá trị
và giá trị trao đổi
theo Công văn của Bộ
Sơ đồ biểu hiện nội dung quy luật giá trị
Giảm tải theo Công văn của Bộ
7 Tác động của quy
luật giá trịVận dụng quy luật giá tri
Tính hai mặt của cạnh tranh
Nêu vấn đềHoạt động nhóm
Giảng giải
Biểu bảng
về mục đích và tính hai mặt của cạnh tranh
Giảm tải theo Công văn của BộBài 5: 9 Khái niệm cung
cầuMối quan hệ cung cầu trong sản xuất
và lưu thông hàng hóa
Đàm thoại kích thích tư duy
Bảng biểu
về sự vận dụng quan
hệ cung cầu
Giảm tải theo Công văn của Bộ
10 Kiểm tra 1 tiết
11 Khái niệm công
nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nướcTính tất yếu khách quan và tác dụng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nêu vấn đềThuyết trình
Mô hìnhBiểu đồĐàm thoại
Sơ đồ cơ cấu kinh
tế, tỉ trọng các ngành kinh tế trong GDP
Giảm tải theo Công văn của Bộ
12 Nội dung cơ bản
của CNH, HĐH đất nước
Khái niệm thành phần kinh tế và tính tất yếu khách quan của nền kinh
Trang 30tế nhiều thành phần
tế nhiều thành phần
Vai trò quản lí kinh
tế của nhà nuớc
Thuyết trìnhThảo luận nhómĐàm thoạiNêu vấn đề
Sơ đồ khái quát cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần
ở nước taBảng biểu trách
nhiệm của công dân
Giảm tải theo Công văn của Bộ
Từ bảng phân phối chương trình trên cho thấy, nội dung dạy học ở trung tâm GDTX đã được cắt ngắn và thu gọn vào nhiều so với nội dung dạy học ở các trường THPT Vì vậy, yêu cầu của giáo viên đói với học sinh cũng
có những sự khác biệt Yêu cầu ấy đôi khi đơn giản và vừa sức hơn với học sinh Trong bài giảng giáo viên phải chắt lọc tri thức và chỉ ra các nguồn gốc thực tiễn của tri thức
Trong bài 2: Hàng hóa - Tiền tệ - Thị trường (tiết 1: Hàng hóa và tiền tệ) ở phần thứ nhất hàng hóa, giáo viên cần vận dụng các kiến thức thực tế để chỉ ra khái niệm hàng hóa là gì? Bằng cách lấy những ví dụ từ thực tiễn cuộc sống về những vật phẩm khác nhau trong đời sống
Ví dụ: Người nông dân sản xuất ra lúa gạo, một phần để tiêu dùng cho bản thân và gia đình, phần còn lại đem bán, trao đổi lấy các sản phẩm tiêu dùng khác Vậy phần lúa gạo nào của người nông dân được coi là hàng hóa?
Từ đó học sinh sẽ đưa ra nhiều ý kiến trả lời khác nhau Giáo viên phân tích và giải thích cho học sinh hiểu: Một sản phẩm chỉ trở thành hàng hóa khi
nó là sản phẩm của lao động, thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người và phải thông qua trao đổi mua bán Như vậy, phần lúa gạo người nông dân sản xuất
Trang 31ra và đem bán được gọi là hàng hóa Phần lúa gạo để tiêu dùng cho bản thân
và gia đình không phải là hàng hóa
Việc giảng dạy tri thức của môn GDCD cần tới sự hỗ trợ đắc lực của các ví dụ đã được chon lọc từ người giáo viên Các ví dụ đó thích hợp với nội dung chương trình, trình độ nhận thức, đặc điểm tâm lí của học sinh Vì vậy,
ví dụ đưa ra phải chính xác, tin cậy và phù hợp với nội dung cần truyền thụ Các ví dụ đều lấy từ thực tiễn và gần gũi với cuộc sống làm cho bài học thú vị
và dễ hiểu hơn
Về trình độ nhận thức và khả năng lĩnh hội tri thức của học sinh So với học sinh ở các trường THPT thì học sinh ở các trung tâm GDTX có nhận thức và học lực kém hơn, đặc biệt là học sinh ở trung tâm GDTX Sóc Sơn, Hà Nội Chính vì vậy, người giáo viên không thể áp dụng cách dạy học giống như ở các trường phổ thông Cách dạy tự học, tích cực lấy người học làm trung tâm cũng phait thay đổi cho phù hợp với khả nang lĩnh hội tri thức của các em
Chẳng hạn, khi dạy bài 4: Cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hóa Nếu ở các trường phổ thông thì giáo viên sẽ dẫn dắt để sau khi học xong học sinh nắm được:
- Khái niệm cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hóa và nguyên nhân dẫn đến cạnh tranh
- Mục đích của cạnh tranh, các loại cạnh tranh và tính hai mặt của cạnh tranh
- Thông qua việc phân tích tính hai mặt của cạnh tranh, từ đó đưa ra những giải pháp phát huy mặt tích cực và khắc phục mặt hạn chế của cạnh tranh ở nước ta
Ngược lại, đối với học sinh ở trung tâm GDTX thì do hạn chế về mặt trình độ nhận thức vì vậy mà yêu cầu đặt ra đối với các em cũng đơn giản và vừa sức hơn rất nhiều Các em chỉ cần nắm rõ những nội dung cơ bản như:
- Cạnh tranh và nguyên nhân của cạnh tranh
- Mục đích của cạnh tranh
- Tính hai mặt của cạnh tranh
Trang 32Tuy nhiên để bổ sung kiến thức cho các em giáo viên cần lồng ghép và xây dựng thêm những nội dung kiến thức phù hợp với bài học Do đặc thù, phần vì điều kiện, hoàn cảnh gia đình khó khăn, phần vì nhận thức của các em còn hạn chế nên sau khi học xong phổ thông các em đều có dự định tạo dựng một cuộc sống khác cho riêng mình không phải bằng con đường vào đại học, cao đẳng hay các trường trung cấp chuyên nghiệp khác Mà đó là con đường
đi lao động kiếm sống Có thể là học nghề, làm công nhân tại các khu công nghiệp hay mở con đường làm ăn, buôn bán Vì vậy, việc định hướng và giáo dục đạo đức, nhất là đạo đức kinh doanh cho học sinh ở trung tâm GDTX là hết sức quan trọng
Thứ hai, đảm bảo tính thực tiễn trong các hình thức hoạt động khác của giáo viên và học sinh
Lí luận liên hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành là nguyên tắc chỉ đạo nội dung và phương pháp dạy học
Ở bài 2: Hàng hóa - Tiền tệ - Thị trường, phần Tiền tệ để làm rõ nguồn gốc và bản chất của tiền tệ giáo viên có thể tiến hành làm sơ đồ tư duy về các hình thái phát triển và ra đời của tiền tệ từ thấp đến cao để học sinh hiểu rõ hơn Bên cạnh đó, giáo viên cũng có thể sử dụng một số những hình ảnh và bảng biểu để kích thích và gây hứng thú cho học sinh Từ đó, học sinh sẽ tích cực nghiên cứu và xây dựng bài Kết quả là giáo viên sẽ dễ dàng truyền đạt kiến thức tới người học và thu được phản ứng tích cực từ phía học sinh
Thông qua nội dung bài học, giáo viên tiến hành lồng ghép những nội dung về giáo dục đạo đức kinh doanh như trong nền kinh tế thị trường việc kinh doanh kiếm lời là mục đích lớn nhất của chủ thể tham gia kinh doanh Tuy nhiên, người làm kinh doanh không thể vì đồng tiền mà thực hiện các hành vi phi pháp, trái với pháp luật như: kinh doanh tiền giả, sản xuất hàng nhái, hàng kém chất luợng….vv
Nếu cá nhân, tổ chức kinh doah vẫn cố tình thực hiện những hành vi sai trái đó thì đều bị xử lí và trừng trị theo quy định của pháp luật
Trang 33Như vậy là cùng một nội dung tri thức khi giáo viên kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa lí luận và thực tiễn, giữa lí thuyết và thực hành thì bài học
sẽ sinh động và đễ hiểu hơn rất nhiều Tuy nhiên, khi thực hiện yêu cầu này phải tùy theo khối lượng kiến thức, nội dung tri thức và khả năng lĩnh hội kiến thức của học sinh để thực hiện có thể nâng dần từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ cụ thể đến trừu tượng và khái quát
Nhưng dù thực hiện dưới hình thức nào, trước hết giáo viên cũng phải định hướng cho học sinh, phải chọn lọc, vạch ra nội dung và kế hoạch chi tiết, đồng thời phải khai thác vốn sống của học sinh để minh họa và giải quyết những vấn đề lí luận thì mới đạt hiệu quả cao trong dạy học
Chẳng hạn, sau khi đã phân tích bản chất và nguồn gốc của của tiền tệ, giáo viên phải xây dựng giáo án để phân tích các chức năng của tiền tệ Sử dụng từng hình ảnh phù hợp với từng chức năng của tiền tệ Từ những chức năng đã phân tích cho học sinh, yêu cầu các em tìm hiểu xem bản thân đã vận dụng những chức năng nào của tiền tệ vào đời sống? Sau đó lấy dẫn chứng minh họa để cả lớp cùng tham khảo
Bài giảng của giáo viên khi đã áp dụng nguyên tắc thực tiễn và đảm bảo tính thực tiễn trong bài giảng và tính thực tiễn trong các hình thức hoạt động của giáo viên và học sinh thì sẽ hiệu quả hơn rất nhiều, nhất là đối với học sinh ở trung tâm GDTX
2.1.2 Nguyên tắc tính khoa học
Cũng giống như các môn khoa học khác được giảng dạy trong các trường THPT, thì dạy học môn GDCD cũng cần phải đảm bảo tính khoa học Nguyên tắc tính khoa học là đảm bảo cung cấp đầy đủ, chính xác hệ thống tri thức cơ bản, thiết thực phù hợp thực tiễn của môn học và đặc điểm nhận thức của học sinh
Những yêu cầu cơ bản trong việc đảm bảo nguyên tắc tính khoa học:Một là, truyền thụ đầy đủ, chính xác các khái niệm, phạm trù, nguyên
lí, quy luật, luận điểm Truyền thụ đầy đủ, chính xác môn GDCD không phải
Trang 34là nhắc lại nguyên văn, từng câu chữ mà là phải nêu bật được bản chất, tức là làm rõ nội hàm và ngoại diên, sự phát sinh và phát triển của những khái niệm, phạm trù, nguyên lí, quy luật, luận điểm đó.
Hai là, nêu sự kiện phải chân thực, khái quát phải đúng, kết luận phải chính xác Trong quá trình học tập, các ví dụ, sự kiện của cả giáo viên và học sinh nêu cần phải làm rõ mức độ chân thực của chúng thì mới có thể rút ra được khái quát đúng đắn để kết luận chính xác, mới đem lại tính thuyết phục cao Vì vậy những sự kiện nêu ra cần được lựa chọn cẩn thận, đảm bảo tính chân thực Cần phải làm rõ nguồn gốc, nguyên nhân, các mối liên hệ của sự kiện nêu ra với những sự kiện khác, cần có thái độ tôn trọng các ý kiến do học sinh nêu ra, biết hướng dẫn gợi mở cho học sinh tự lí giải, phải đảm bảo tính chính xác, tính thuyết phục của kết luận, nếu có thể nên vạch ra xu hướng vận động và phát triển của những sự kiện
Ba là, đảm bảo hệ thống logic của bài học Để đảm bảo logic của bài học đòi hỏi giáo viên phải có trình độ khái quát cao, kiến thức khoa học chắc chắn, vốn sống và kinh nghiệm giảng dạy phong phú
Để tìm hiểu đựoc nguyên tắc tính khoa học trong dạy học phần “Công dân với kinh tế” trong môn GDCD lớp 11 chúng ta cần phải xem xét đến khối lượng kiến thức có phù hợp với tâm lí, trình độ nhận thức của học sinh và sự sắp xếp trình tự kiến thức, cấu trúc chương trình có khoa học, có logic hay không? Ở chương trình giảng dạy GDCD truớc đây, môn GDCD lớp 11 có phần kiến thức với tiêu đề là “thường thức kinh tế” với khối lượng kiến thức cao và rộng Không những thế các kiến thức về kinh tế lại được trình bày xen
kẽ, thiếu hệ thống, thiên về đường lối, chính sách trong một số bài GDCD ở các lớp Ví dụ như trong chương trình lớp 11 có hai bài về kinh tế là bài 1: Sản xuất hàng hóa và sự ra đời chủ nghĩa tư bản và bài 2: Nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và các quan hệ giai cấp trong xã hội tư bản Còn trong chương trình lớp 12 thì có hai bài Bài 2: Thực trạng kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay và bài 3: Xây dựng và phát triển kinh tế
Trang 35Chương trình GDCD hiện nay dựa trên cơ sở kế thừa những ưu điểm của chương trình cũ đồng thời có những điều chỉnh mới cho hoàn chỉnh và khoa học hơn Trong GDCD lớp 11, cách đặt vấn đề là “Công dân với kinh tế” phù hợp với trình độ nhận thức của lứa tuổi học sinh lớp 11, quán triệt mục tiêu phổ thông, giải quyết hài hòa giữa mục tiêu, kiến thức, kĩ năng và thái độ.
Về kiến thức: Cung cấp cho học sinh hiểu biết những kiến thức thông thường về kinh tế Từ đó giúp học sinh hiểu được trách nhiệm của công dân trong việc xây dựng và phát triển kinh tế cá nhân, gia đình và xã hội
Về kĩ năng: Giúp học sinh có thể vận dụng những tri thức đã học để lí giải được một số vấn đề xây dựng và phát triển kinh tế trong thực tế cuộc sống, trang bị cho học sinh kĩ năng nhận xét, đề xuất và tham gia giải quyết những hiện tượng kinh tế gần gũi với lứa tuổi và giúp học sinh có kĩ năng định hướng nghề nghiệp phù hợp với bản thân và yêu cầu của xã hội
Về thái độ: Giúp học sinh tin tưởng đường lối, chính sách xây dựng và phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, đồng thời tin tưởng khả năng của bản thân trong việc xây dựng và phát triển kinh tế cá nhân, gia đình và xã hội
Bên cạnh đó, trình tự sắp xếp nội dung kiến thức của phần “Công dân với kinh tế” một cách khoa học, có hệ thống và hợp logic đã thể hiện sự đảm bảo nguyên tắc tính khoa học trong giảng dạy
Bài 1: Công dân với sự phát triển kinh tế đã giới thiệu một cách khái quát nhất về sản xuất của cải vật chất, các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất vật chất, phát triển kinh tế và ý nghĩa của phát triển kinh tế đối với cá nhân, gia đình và xã hội Từ đó giúp học sinh bước đầu tiếp cận với các kiến thức về kinh tế một cách tự nhiên không quá đơn giản hay nặng nề về nội dung kiển thức Tiếp đó là các nội dung kiến thức cơ bản về các phạm trù, khái niệm và nội dung các quy luật kinh tế quan trọng Đó là các bài 2,3,4,5 với: Hàng hóa -tiền tệ - thị trường; quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh , quy luật cung cầu trong sản xuất và lưu thông hàng hóa Sau đó trong hai bài 6 và 7 là nội dung
Trang 36kiến thức có liên hệ thực tiễn với nền kinh tế của nước ta: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ; thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần và tăng cường vai trò quản lí kinh tế của nhà nước.
Hay nói khác đi, nội dung phần “Công dân với kinh tế” được trình bày theo hai mạch Phần đầu là nội dung của một số phạm trù, quy luật kinh tế cơ bản: Sản xuất vật chất, hàng hóa, tiền tệ, thị trường, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, cung – cầu trong sản xuất và lưu thông hàng hóa Phần này nêu lên những kiến thức cơ bản, phổ thông về kinh tế làm cơ sở lí luận cho phần sau
Phần hai là phương hướng phát triển kinh tế đất nước thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã đưa ra những đường lối, chương trình phát triển kinh tế của đất nước và trách nhiệm của công dân trong việc phát tiển kinh tế
cá nhân, gia đình và xã hội
Như vậy việc sắp xếp và trình bày nội dung kiến thức cùng với khối luợng kiến thức phù hợp đã góp phần đảm bảo nguyên tắc tính khoa học.Nhưng song song với nguyên tắc này đó là phải đảm bảo các thầy cô trong quá trình giảng dạy đáp ứng được các yêu cầu cơ bản trong việc đảm bảo nguyên tắc tính khoa học như đã nêu ở trên Có như vậy mới đảm bảo nguyên tắc tính khoa học trong giảng dạy phần “Công dân với kinh tế” cho học sinh ở trung tâm GDTX, đặc biệt là trung tâm GDTX Sóc Sơn, Hà nội
2.1.3 Nguyên tắc tính vừa sức
Trong thực tế dạy học nói chung, dạy học môn GDCD các thầy cô
có thể sẽ gặp phải những tình huống như: dạy những vấn đề quá mới, quá phức tạp khiến học sinh không thể tiếp thu được hoặc dạy những vấn đề dơn giản, sơ sài Cả hai trường hợp trên đều là biểu hiện dạy học vi phạm nguyên tắc tính vừa sức trong dạy học ở các trường THPT, đặc biệt là ở các trung tâm GDTX
Nguyên tắc tính vừa sức trong dạy học được quan niệm là quá trình dạy học phù hợp với trình độ tiếp thu tri thức mới của học sinh, kích thích, thúc
Trang 37đẩy và đi trước sự phát triển trí tuệ của học sinh Tức là trong quá trình dạy học khi lựa chọn nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, việc nâng cao dần mức độ khó khăn trong học tập tương ứng với giới hạn cao nhất của vùng phát triển trí tuệ gần nhất nhằm tạo nên sự căng thẳng về mặt trí lực, thể lực một cách phù hợp nhất với đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm cá biệt chính là bản chất của nguyên tác tính vừa sức trong dạy học.
Để đảm bảo nguyên tắc tính vừa sức thì cần phải thực hiện các yêu cầu
cơ bản sau:
Một là, xác định khối lượng, mức độ kiến thức trong dạy học Việc xác định khối lượng và mức độ kiến thức là rất qua trọng để đảm bảo cho học sinh tiếp nhận tri thức một cách hiệu quả trên cơ sở giải quyết các khó khăn vừa sức trong học tập dưới sự định hướng của giáo viên Để thực hiện được điều này trong quá trình chuẩn bị và dạy học, giáo viên cần chọn lọc các tri thức cơ bản và cần thiết, phải cân nhắc kĩ khối lượng, mức độ kiến thức và hệ thống câu hỏi
Hai là, giáo viên cần phải hiểu được đặc điểm tâ, sinh lí của học sinh, môi trường xã hội, những điều kiện sinh hoạt, phong tục tập quán, truyền thống của địa phương nơi học sinh cư trú và học tập, đồng thời phải nắm được khả năng lĩnh hội tri thức của học sinh Để từ đó giáo viên có thể chủ động truyền thụ tri thức từ việc xác điịnh tri thức, sử dụng ngôn ngữ, cách thức diễn đạt…cho đến việc lựa chọn phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá kết quả nhận thức… cho phù hợp nhận thức của học sinh Vì vậy khi giảng dạy các tri thức lí luận trừu tượng của môn GDCD, căn cứ vào đối tượng học sinh để nâng dần mức độ phức tạp, mở rộng dần phạm vi của tri thức sao cho học sinh
có thể từng bước thu nhận được tri thức và cuối cùng nắm được thực chất vấn
đề đã lĩnh hội
Ba là, việc đảm bảo nguyên tắc tính vừa sức trong dạy học môn GDCD đòi hỏi giáo viên phải chú ý tới đối tượng là học sinh cá biệt Trong quá trình dạy học giáo viên cần nhận biết được khả năng nhận thức của học sinh theo
Trang 38các thang độ yếu kém và khá giỏi…Đối với các học sinh kém cần kiên trì giúp đỡ để từng bước nâng dần trình độ của các em Đối với học sinh khá giỏi cần khuyến khích năng lực tư duy sáng tạo, độc lập và khả năng sử dụng tri thức vào hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Đặc điểm nhận thức và đặc điểm tâm sinh lí của học sinh ở trung tâm giáo dục thường xuyên có những đặc điểm khác biệt so với học sinh ở trường phổ thông Ở trung tâm giáo dục thường xuyên, hầu hết các em học sinh đều có hoàn cảnh và điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, cộng với những hạn chế về trình độ nhận thức còn tương đối chậm chạp so với các bạn bè cùng trang lứa
Xuất phát từ thực tế đó, trong hướng dẫn phân phối chương trình GDCD lớp 11, phần “Công dân với kinh tế”của Bộ giáo dục – đào tạo thì số tiếy cho phần này từ 15 tiết (hệ phổ thông) đã giảm xuống còn 13 tiết đối với
hệ GDTX Tức là để đảm bảo vừa sức với khả năng nhận thức của học sinh
hệ giáo dục thường xuyên thì có một số những nội dung kiến thức về kinh tế
đã được giảm tải hoặc cắt bỏ, kiến thức có phần nhẹ nhàng hơn so với khối THPT Các yêu cầu về nắm vững và hiểu nội dung các khái niệm, phạm trù, quy luật cơ bản một cách cơ bản, đạt yêu cầu về hiểu biết chung nhất
Như trong bài 2: Hàng hóa - Tiền ttệ - Thị trường theo phân phối chương trình cho hệ THPT bài này được chia làm 3 tiết với ba phần nội dung kiến thức: Hàng hóa, tiền tệ, thị trường Nhưng với hệ GDTX thì bài giảm xuốngcòn 2 tiết với nội dung kiến thức như sau: tiết 1: hàng hóa, tiền tệ; tiết 2: thị trường
Trong tiết 1 bài 2 của hệ THPT thì hoạt động đầu tiên là giáo viên gợi mở
để học sinh so sánh sự khác nhau giữa kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hóa ? tìm
ra sự khác nhau cơ bản giữa hai hình thức kinh tế này Sau đó, giáo viên mới dẫn dắt học sinh đi tìm hiểu khái niệm hàng hóa, các thuộc tính của hàng hóa Từ đó, lấy những ví dụ thực tiễn về các hàng hóa và thuộc tính của nó
Trang 39Sang tiết 2 là tìm hiểu về tiền tệ với từng hoạt động cụ thể là: tìm hiểu nguồn gốc và bản chất của tiền tệ; chức năng của tiền tệ và quy luật lưu thông tiền tệ.
Tiết 3 là tìm hiểu về thị trường với các nội dung như: khái niệm về thị trường, các chức năng cơ bản của thị trường Tư đó, đưa ra các hình thức thị trường cơ bản để học sinh so sánh và vận dụng tìm hiểu những loại thị trường đang diễn ra ở địa phương mình
Vẫn ở bài 2: Hàng hóa - Tiền tệ - Thị trường của hệ GDTX thì chỉ được chia làm 2 tiết Tiết 1 tìm hiểu cả 2 nội dung hàng hóa và tiền tệ, còn tiết
2 là tìm hiểu nội dung thị trường là gì? Các chức năng cơ bản của thị trường?
vì vậy mà hoạt động dạy học của giáo viên trong bài này cũng có nhiều khác biệt so với hệ phổ thông Cùng là nội dung tri thức ấy, các em học sinh phổ thông được học đầy đủ, mỗi nội dung bài học là 1 tiết khác nhau Nhưng các
em học sinh hệ giáo dục thường xuyên lại gộp 2 nội dung tri thức làm một
Đó là nội dung hàng hóa và tiền tệ Về mặt nhận thức và khả năng lĩnh hội của các em đều kém hơn so với các bạn phổ thông nên giáo viên phải cân đối
và điều chỉnh làm sao để các em có nắm rõ được nội dung bài học thông qua
45 phút của tiết học Bởi vậy, có nhiều phần kiến thức mở rông giáo viên phải hạn chế nếu không sẽ rơi vào tình trạng cháy giáo án
Ở bài 7: Thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần và tăng cường vai trò quản lí kinh tế nhà nước Theo phân phối, chương trình đối với hệ phổ thông
là 2 tiết, còn đối với hệ GDTX là 1 tiết
Với hệ THPT, tiết 1 là tìm hiểu về thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần với hoạt động 1: Tìm hiểu khái niệm thành phần kinh tế, tính tất yếu khách quan và lợi ích của nền kinh tế nhiều thành phần Hoạt động 2: Tìm hiểu các thành phần kinh tế ở nước ta Tiết 2 tìm hiểu về vai trò quản lí kinh tế của nhà nước với hoạt động 1 Sự cần thiết khách quan phải có vai trò quản lí kinh tế của nhà nước Hoạt động 3: Tăng cường vai trò và hiệu lực quản lí kinh tế của nhà nước
Trang 40Đối với hệ GDTX, thì bài 7 đựoc giảng dạy trong 1 tiết với các hoạt động cụ thể như sau: Hoạt động 1: tìm hiểu việc thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần và các thành phần kinh tế cơ bản ở nước ta hiện nay; hoạt động 2: trách nhiệm của công dân với việc thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần và vai trò quản lí của nhà nước Với 2 nội dung kiến thức tương đối dài và nặng như vậy, giáo viên phải khái quát ngắn gọn và đảm bảo nội dung cần đạt để học sinh nắm được Bên cạnh đó, giáo viên có thể liên hệ những kiến thức thực tế từ đời sống kinh tế xã hội làm cho bài học dễ hiểu, tuy nhiên không được vượt quá sức cảu học sinh, mà phải đảm bảo tính vừa sức trong dạy học.
Như vậy việc giảm tải một số nội dung kiến thức trong phần “Công dân với kinh tế” đối với hệ GDTX đã góp phần đảm bảo nguyên tắc tính vừa sức trong dạy học Nhưng song song với đó, trong quá trình giảng dạy, các thầy
cô phải thực hiện các yêu cầu cơ bản trong đảm bảo nguyên tắc tính vừa sức
để nguyên tắc này phát huy được hiệu quả của nó
2.2 Biện pháp dạy học theo hướng tăng cường giáo dục đạo đức kinh doanh trong dạy học phần “Công dân với kinh tế” cho học sinh THPT ở Trung tâm GDTX Sóc Sơn, Hà Nội.
2.2.1 Sử dụng phương pháp dạy học phù hợp nhằm giáo dục đạo đức kinh doanh trong dạy học phần “Công dân với kinh tế” cho học sinh THPT ở Trung tâm GDTX Sóc Sơn, Hà Nội.
2.2.1.1 Phương pháp nêu gương
Nêu gương là phương pháp sử dụng những điển hình, những tấm gương mẫu mực “người tốt, việc tốt” cụ thể sinh động trong đời sống để kích thích tính tích cực, tự giác của học sinh
Trong giáo dục, tấm gương được sử dụng như một phương tiện Nó làm cho chuẩn mực đạo đức trở nên trực quan hơn, cụ thể hơn, có sức thuyết phục hơn Lời nói sẽ giảm giá trị, giảm ảnh hưởng nếu nó không có các tấm gương thực tế sinh động, cụ thể của người khác chứng minh