1. Lý do chọn đề tài Thứ nhất, khi xã hội ngày càng phát triển, phương tiện truyền thông đại chúng ngày càng phát triển và có những ảnh hưởng to lớn hơn tới các mặt trong đời sống và sinh hoạt của con người trong việc cung cấp thông tin về văn hóa, khoa học, chính trị và đặc biệt là thông tin về sức khỏe. Vai trò của truyền thông đại chúng đối với cuộc sống của con người nói chung và sức khỏe sinh sản vị thành niên nói riêng có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc cung cấp cho các em những thông tin về sức khỏe sinh sản để giải đáp những thắc mắc của các em. Để có thể nắm bắt toàn diện những kiến thức về sức khỏe sinh sản đòi hỏi mỗi học sinh phải có kinh nghiệm trong việc tìm kiếm thông tin trên phương tiện truyền thông đại chúng như Internet, truyền hình, đài phát thanh, ấn phẩm... Truyền thông đại chúng đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các em tìm kiếm, giải đáp những thắc mắc về sức khỏe sinh sản của chính các em để từ đó có những biện pháp cũng như cách chăm sóc chính bản thân sao cho đúng đắn khoa học nhất. Thứ hai, công tác dân số và sức khỏe sinh sản là một nội dung quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế xã hội, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội. Đầu tư cho công tác dân số và sức khỏe sinh sản là đầu tư cho phát triển bền vững, mang lại hiệu quả trực tiếp về kinh tế, xã hội và môi trường. Ngay từ những năm 20 của thế kỉ XX, V.I.Lênin: “Cùng với việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề quan hệ giới tính, vấn đề hôn nhân gia đình cũng được coi là cấp bách”. Trong xu thế đổi mới, con người Việt Nam vừa là động lực, vừa là mục tiêu thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội. Vấn đề con người luôn là vấn đề được xã hội quan tâm và coi trọng ở mọi thời đại. Trong giai đoạn đổi mới hiện nay của đất nước ta, việc coi trọng chất lượng cuộc sống của con người Việt Nam đã và đang trở thành mục tiêu, chiến lược của sự phát triển kinh tế xã hội.Xã hội phát triển, kéo theo các mặt khác của xã hội cũng phát triển, đặc biệt là các phương tiện truyền thông địa chúng ngày càng phát triển và mở rộng với những nội dung phong phú và hấp dẫn hơn, ảnh hưởng mạnh mẽ tới tâm lý của các em học sinh nhất là khi các em đang trong độ tuổi vị thành niên nửa người lớn, nửa trẻ con,hình thành về nhân cách và có những thay đổi trong suy nghĩ và hành động.Chính vì lẽ đó sức khỏe sinh sản cũng là một mảng lớn mà truyền thông đại chúng đang hướng đến nhằm mục đích định hướng, cung cấp những thông tin về sức khỏe sinh sản mà các em đã và đang thắc mắc nhưng chưa có câu trả lời. Thứ ba, ở nước ta trẻ vị thành niên dưới 18 tuổi chiếm 23,8% triệu người tức là khoảng 31% dân số. Tuy nhiên, thanh thiếu niên Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức: mang thai ngoài ý muốn, các bệnh lây truyền qua đường tình dục….Theo thống kê của Hội gia đình Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, trong đó 20% thuộc lứa tuổi vị thành niên chính vì vậy truyền thông đại chúng về sức khỏe sinh sản cho các em học sinh ở lứa tuổi vị thành niên là điều vô cùng cần thiết để cung cấp sâu rộng các kiến thức về sức khỏe sinh sản tới các em.Tuổi vị thành niên nói chung, học sinh phổ thông trung học nói riêng rất cần có nhận thức đúng đắn về giới tính, tình yêu, cần được trang bị kiến thức về giới tính và tình dục cũng như các biện pháp tránh thai. Sức khỏe sinh sản có ý nghĩa rất quan trọng đối với học sinh THPT, nhất là trong thời đại đang có sự phát triển mạnh mẽ về thông tin, và sự giao thoa giữa các nền văn hóa. Như vậy, phương tiện truyền thông đại chúng đã và đang ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của con người và đặc biệt có ảnh hưởng sâu sắc tới lứa tuổi vị thành niên. Tích cực có mà tiêu cực cũng có. Nhưng lại chưa có một đề tài nào nghiên cứu tới vấn đề này. Trước tình hình đó, đề tài ra đời với nội dung “Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng tới sức khỏe sinh sản học sinh trường THPT Đại Mỗ”, sẽ phản ánh và làm rõ những ảnh hưởng của truyền thông đại chúng tới những kiến thức về sức khỏe sinh sản của học sinh THPT Đại Mỗ. Từ đó giúp các em có cái nhìn đúng đắn về truyền thông đại chúng và sử dụng chúng sao cho có hiệu quả và khoa học hơn.
Trang 1I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thứ nhất, khi xã hội ngày càng phát triển, phương tiện truyền thông đại chúng ngày càng phát triển và có những ảnh hưởng to lớn hơn tới các mặt trong đời sống và sinh hoạt của con người trong việc cung cấp thông tin về văn hóa, khoa học, chính trị và đặc biệt là thông tin về sức khỏe Vai trò của truyền thông đại chúng đối với cuộc sống của con người nói chung và sức khỏe sinh sản vị thành niên nói riêng có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc cung cấp cho các em những thông tin về sức khỏe sinh sản để giải đáp những thắc mắc của các em Để có thể nắm bắt toàn diện những kiến thức về sức khỏe sinh sản đòi hỏi mỗi học sinh phải có kinh nghiệm trong việc tìm kiếm thông tin trên phương tiện truyền thông đại chúng như Internet, truyền hình, đài phát thanh, ấn phẩm Truyền thông đại chúng đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các em tìm kiếm, giải đáp những thắc mắc
về sức khỏe sinh sản của chính các em để từ đó có những biện pháp cũng như cách chăm sóc chính bản thân sao cho đúng đắn khoa học nhất
Thứ hai, công tác dân số và sức khỏe sinh sản là một nội dung quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình
và toàn xã hội Đầu tư cho công tác dân số và sức khỏe sinh sản là đầu tư cho phát triển bền vững, mang lại hiệu quả trực tiếp về kinh tế, xã hội và môi
trường Ngay từ những năm 20 của thế kỉ XX, V.I.Lênin: “Cùng với việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề quan hệ giới tính, vấn đề hôn nhân gia đình cũng được coi là cấp bách” Trong xu thế đổi mới, con người Việt Nam vừa
là động lực, vừa là mục tiêu thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội Vấn đề con người luôn là vấn đề được xã hội quan tâm và coi trọng ở mọi thời đại Trong giai đoạn đổi mới hiện nay của đất nước ta, việc coi trọng chất lượng cuộc sống của con người Việt Nam đã và đang trở thành mục tiêu, chiến lược của sự phát triển kinh tế xã hội.Xã hội phát triển, kéo theo các mặt
Trang 2khác của xã hội cũng phát triển, đặc biệt là các phương tiện truyền thông địa chúng ngày càng phát triển và mở rộng với những nội dung phong phú và hấp dẫn hơn, ảnh hưởng mạnh mẽ tới tâm lý của các em học sinh nhất là khi các
em đang trong độ tuổi vị thành niên nửa người lớn, nửa trẻ con,hình thành về nhân cách và có những thay đổi trong suy nghĩ và hành động.Chính vì lẽ đó sức khỏe sinh sản cũng là một mảng lớn mà truyền thông đại chúng đang hướng đến nhằm mục đích định hướng, cung cấp những thông tin về sức khỏe sinh sản mà các em đã và đang thắc mắc nhưng chưa có câu trả lời
Thứ ba, ở nước ta trẻ vị thành niên dưới 18 tuổi chiếm 23,8% triệu người tức là khoảng 31% dân số Tuy nhiên, thanh thiếu niên Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức: mang thai ngoài ý muốn, các bệnh lây truyền qua đường tình dục….Theo thống kê của Hội gia đình Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, trong đó 20% thuộc lứa tuổi
vị thành niên chính vì vậy truyền thông đại chúng về sức khỏe sinh sản cho các em học sinh ở lứa tuổi vị thành niên là điều vô cùng cần thiết để cung cấp sâu rộng các kiến thức về sức khỏe sinh sản tới các em.Tuổi vị thành niên nói chung, học sinh phổ thông trung học nói riêng rất cần có nhận thức đúng đắn
về giới tính, tình yêu, cần được trang bị kiến thức về giới tính và tình dục cũng như các biện pháp tránh thai Sức khỏe sinh sản có ý nghĩa rất quan trọng đối với học sinh THPT, nhất là trong thời đại đang có sự phát triển mạnh mẽ về thông tin, và sự giao thoa giữa các nền văn hóa
Như vậy, phương tiện truyền thông đại chúng đã và đang ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của con người và đặc biệt có ảnh hưởng sâu sắc tới lứa tuổi vị thành niên Tích cực có mà tiêu cực cũng có Nhưng lại chưa có một
đề tài nào nghiên cứu tới vấn đề này Trước tình hình đó, đề tài ra đời với nội
dung “Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng tới sức khỏe sinh sản học
sinh trường THPT Đại Mỗ”, sẽ phản ánh và làm rõ những ảnh hưởng của
truyền thông đại chúng tới những kiến thức về sức khỏe sinh sản của học sinh THPT Đại Mỗ Từ đó giúp các em có cái nhìn đúng đắn về truyền thông đại chúng và sử dụng chúng sao cho có hiệu quả và khoa học hơn.
Trang 32 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu về truyền thông đại chúng để giúp cho các em học sinh có thêm những hiểu biết về truyền thông đại chúng nói chung và truyền thông đại chúng liên quan đến sức khỏe sinh sản nói riêng Và cũng để các
em biết được những tác động của truyền thông đại chúng đối với toàn xã hội, đặc biệt là đối với việc cung cấp cho các em những tri thức về sức khỏe sinh sản vị thành niên Từ đó các em có thể khắc phục những hạn chế khi tìm kiếm thông tin trên truyền thông đại chúng
Thực hiện đề tài này sẽ hướng đến 3 mục đích sau:
Thứ nhất, là đưa ra những nét khái quát về truyền thông đại chúng và sức khỏe sinh sản vị thành niên.
Thứ hai, tìm hiểu về việc tiếp nhận thông tin từ các phương tiện truyền thông đại chúng của học sinh trường THPT Đại Mỗ.
Thứ ba, nêu ra những ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến việc cung cấp cho các em học sinh trường THPT Đại Mỗ những kiến thức về sức khỏe sinh sản, các yếu tố tiêu cực, những nguyên nhân xuất hiện chúng để từ
đó đưa ra các giải pháp hữu ích để các em sử dụng phương tiện truyền thông đại chúng hiệu quả hơn, trang bị cho các em nhiều kiến thức hơn về sức khỏe
sinh sản để các em giải đáp những thắc mắc của bản thân, chuẩn bị cho cuộc sống hạnh phúc tương lai
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về truyền thông đại chúng và sức khỏe sinh sản
Khảo sát ảnh hưởng của truyền thông đại chúng tới nhận thức về sức khỏe sinh sản của các em trường THPT Đại Mỗ
Đưa ra các nguồn thông tin về ảnh hưởng của truyền thông địa chúng tới nhận thức, thái độ, hành vi của các em học sinh trường THPT Đại Mỗ về sức khỏe sinh sản
Đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm tăng cường ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe sinh sản của các em
Trang 44 Đối tượng, Khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng tới
sức khỏe sinh sản của học sinh THPT Đại Mỗ
- Làm rõ những khái niệm về truyền thông, truyền thông đại chúng, sự
hình thành và phát triển của truyền thông đại chúng
- Khái niệm sức khỏe sinh sản, khái niệm vị thành niên, đặc điểm tâm
lý lứa tuổi vị thành niên
- Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến những kiến thức về sự
phát triển của học sinh trường THPT Đại Mỗ
- Ảnh hưởng của truyền thông đại chú ng đến hành vi tình dục và văn
hóa tình dục của học sinh trường THPT Đại Mỗ
- Nội dung chủ yếu của đề tài là phân tích ảnh hưởng của truyền thông
đại chúng đến sức khỏe sinh sản của học sinh trường THPT Đại Mỗ
6 Phương pháp nghiên cứu
Bài viết có sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
+ Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết
Các phương pháp này được sử dụng chủ yếu để nghiên cứu chương 1
phần cơ sở lý luận Phần này dùng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết để thu thập những thông tin cơ sở lý luận nhằm giải thích và chỉ ra các khái niệm cơ bản về truyền thông đại chúng và sức khỏe sinh sản, tìm hiểu đặc điểm tâm ký lứa tuổi học sinh THPT, hệ thống, tổng hợp lại thông tin để trình bày quá trình ra đời và phát triển của phương tiện truyền thông đại chúng.
Trang 5- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp quan sát khoa học
+ Phương pháp điều tra an két
+ Phương pháp phỏng vấn
+ Phương pháp thống kê toán học
Các phương pháp này chủ yếu để nghiên cứu chương II, chương III của
đề tài Trong đó phương pháp nghiên cứu thực tiễn, phương pháp điều tra an két, phương pháp phỏng vấn sử dụng để lấy thông tin thực tiễn, phiếu điều tra
ở trường THPT Đại Mỗ Các phương pháp còn lại để phục vụ cho quá trình thu thập số liệu điều tra và lấy thông tin thực tiễn Tổng kết số liệu bằng phương pháp thống kê toán học.
Trong đó sử dụng phương pháp điều tra an két, phương pháp phỏng vấn, phương pháp phân tích-tổng hợp là phương pháp chủ đạo trong quá trình nghiên cứu
7 Đóng góp của đề tài
Đề tài hệ thống hóa các kiến thức cơ bản về phương tiện truyền thông đại chúng và các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản của học sinh trường THPT Đại Mỗ Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của truyền thông đại chúng Nhận thức được ảnh hưởng của phương tiện truyền thông đại chúng tới sức khỏe sinh sản của học sinh trường THPT Đại Mỗ
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết cấu khóa luận được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến những kiến thức
về sự phát triển của học sinh trường THPT Đại Mỗ
Chương 3: Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến hành vi tình dục
và văn hóa tình dục của học sinh trường THPT Đại Mỗ
Trang 6CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
1.1.1 Lý thuyết về truyền thông đại chúng
1.1.1.1 Khái niệm truyền thông
Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm… chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng
và xã hội
Khái niệm trên được trích từ cuốn “Truyền thông lý thuyết và kĩ năng
cơ bản” do PGS.TS Nguyễn Văn Dững chủ biên, nxb chính trị Quốc Gia
Khái niệm trên đã chỉ ra bản chất và mục đích của truyền thông như sau:
Về bản chất: Truyền thông là quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều, diễn
ra liên tục giữa chủ thể truyền thông và đối tượng truyền thông Quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều, diễn ra liên tục giữa chủ thể truyền thông và đối tượng truyền thông Quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều có thể hình dung qua nguyên tắc bình thông nhau Khi có sự chênh lệch trong nhận thức, hiểu biết… giữa chủ thể và đối tượng truyền thông gắn với nhu cầu chia sẻ, trao đổi thì hoạt động truyền thông diễn ra Quá trình truyền thông vì vậy chỉ kết thúc khi đã đạt được sự cân bằng trong nhận thức, hiểu biết… giữa chủ thể và đối tượng truyền thông
Về mục đích: Truyền thông hướng đến những hiểu biết chung nhằm thay đổi thái độ, nhận thức, hành vi của đối tượng truyền thông và tạo định hướn giá trị cho công chúng
Hay ta có thể nói một cách ngắn gọn truyền thông là quá trình truyền đạt thông tin Ngay trong một bầy ong hay một bầy kiến cũng có truyền thông Đám ong thợ thường truyền đạt cho nhau những thông tin về loài hoa
mà chúng tìm được cũng như về khoảng cách và phương hướng mà chúng phải bay tới để hút nhụy và đưa mật hoa về tổ
Trang 7Trong xã hội loài người truyền thông lại càng là một điều kiện tiên quyết để có thể hình thành nên một “xã hội” hoặc “cộng đồng” Sở dĩ người
ta có thể sống được với nhau, giao tiếp và tương tác được với nhau trước hết
là nhờ vào hành vi truyền thông Người ta gọi đây là truyền thông liên cá nhân, nghĩa là truyền đạt thông tin giữa người này với người khác Sự truyền thông này trước hết được thể hiện thông qua lời nói hoặc chữa viết, tức là thông qua ngôn ngữ, nhưng cũng có thể thông qua cử chỉ, điệu bộ hay hành vi
để bày tỏ thái độ hoặc cảm xúc Vì thế có thể có hai cách thức truyền thông: truyền thông bằng lời nói và truyền thông không bằng lời nói
Người ta thường phân biệt ba loại truyền thông như sau:
+ Truyền thông liên cá nhân (giữa người này với người khác)
+ Truyền thông tập thể (tức là truyền thông trong nội bộ một cơ quan, một công ty, một tổ chức đoàn thể hay một nhóm xã hội nào đó)
+ Truyền thông đại chúng
1.1.1.2 Khái niệm truyền thông đại chúng
Truyền thông đại chúng là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như: báo chí, phát thanh, truyền hình, internet
Các phương tiện truyền thông đại chúng là những công cụ kĩ thuật hay những kênh mà phải nhờ vào đó người ta mới có thể thực hiện quá trình truyền thông đại chúng, nghĩa là tiến hành việc phổ biến, loan truyền thông tin ra mọi người dân trong xã hội
Ở đây, ta cần phân biệt rõ ràng giữa hai thuật ngữ “Truyền thông đại chúng” và “phương tiện truyền thông đại chúng” mà người ta thường sử dụng
lẫn lộn một cách không chính xác Nói tới các “phương tiện truyền thông đại chúng” như báo chí, phát thanh, truyền hình, internet, radio là nói tới những công cụ kĩ thuật (hay các kênh) để nhờ đó người ta có thể thực hiện quá trình truyền thông đại chúng Còn khi nói tới “truyền thông đại chúng” là chúng ta muốn nói tới một quá trình xã hội: quá trình truyền tải thông tin ra công chúng thông qua các phương tiện ấy
Trang 8Ta mở Tivi xem cô dẫn chương trình đọc một câu truyện liên quan đến chủ đề về sức khỏe sinh sản hay xem một trận bóng đá đó là một hành vi được gọi là nằm trong quá trình truyền thông đại chúng Thế nhưng nếu chúng ta cũng mở màn hình tivi, nhưng lại để coi một cuốn băng video quay cảnh đám cưới của bạn thì hành động này không thể được coi là nằm trong quá trình truyền thông đại chúng, bởi lẽ đơn giản cuốn băn này chỉ được quay
và phát trong khuôn khổ sinh hoạt gia đình mà thôi Nhưng nếu chúng ta xem một cuốn băng quay video đám cưới của gia đình một diễn viên điện ảnh chẳng hạn được phát trên kênh truyền hình, thì đó lại là một hành vi nằm trong quá trình truyền thông đại chúng
Nói cách khác, điều mấu chốt để xác định xem một hành vi có nằm trong quá trình truyền thông đại chúng hay không không phải là cái màn hình tivi hay cái đầu máy video, mà là cần xem xét xem hành vi ấy có nằm trong quá tình truyền tải thông tin ra rộng rãi công chúng thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng hay không
Người ta thường liệt kê các hoạt động sau đây có thể nẳm trong lĩnh vực truyền thông đại chúng: báo chí, phát thanh, truyền hình, xuất bản… gần đây chúng ta có thể kể thêm cả Internet Tuy nhiên cần lưu ý rằng phương tiện Internet có đặc điểm là có thể sử dụng cho cả ba loại truyền thông: truyền thông liên cá nhân chẳng hạn gửi thư điện tử hay e-mail; truyền thông tập thể chẳng hạn trang website mà chỉ có những người trong nội bộ một cơ quan hay một công ty nới có thể truy cập được; truyền thông đại chúng chẳng hạn những trang website của báo Dân trí hay Báo Mới
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm chung của học sinh THPT
1.1.2.1 Khái niệm học sinh THPT
Học sinh THPT là những học sinh từ 15 tới 18 tuổi đây là độ tuổi có nhiều biến đổi mạnh mẽ về cả tâm và sinh lý, có nhiều quan niệm mới và hành động mới
Trang 91.1.2.2 Đặc điểm chung của học sinh THPT
Học sinh THPT là những em ở độ tuổi từ 16- 18 tuổi, các em đã có sự thay đổi to lớn về tâm sinh lý và tình cảm đặc biệt là tâm lý “ muốn làm người lớn” Đây là lứa tuổi đã trải qua tuổi dậy thì và đang ở giai đoạn đầu của thanh niên Ở độ tuổi này các em bắt đầu có sự rung cảm mạnh mẽ trước các bạn khác giới Cấu tạo cơ thể đang trong giai đoạn phát triển hoàn thiện nên các em có nhiều câu hỏi cần giải đáp Sự tò mò tìm tòi cần lời giải đáp đó của các em chính là động lực để các em tìm hiểu thông qua các kênh thông tin phương tiện truyền thông đại chúng như sách, báo nói về những thay đổi về
cơ thể của các em, các chương trình …cũng như các bộ phim…
Về cân nặng: Do có sự đột biến về cân nặng, ở nữ xảy ra hiện tượng tăng vọt cân nặng sớm hơn các em nam và thường đạt ở mức ổn định ở tuổi
19 đối với nữ và 20 đối với nam, các em đã không còn giữ lại dáng vẻ trẻ con nữa giữa các phần của cơ thể như thân mình, chân tay, vai đã có tỷ lệ cân đối hơn Ở các em gái bắt đầu có sự tích mỡ ở ngực, chậu hông và dằng sau vai tạo nên dáng vẻ nữ tính, mềm mại Các em trai đã có sự phát triển và tích tụ khối cơ làm cho thân thể trở nên cường tráng
Trang 10Cùng với sự biến đổi của chiều cao và cân nặng, cơ thể các em nam, nữ
ở độ tuổi dậy thì còn có một số biến đổi như: lông mu bắt đầu xuất hiện ở cả hai giới và hệ lông phát triển chủ yêu là lông ngực, lông nách, lông tay chân
và râu ria ở các em nam Ở nữ, vú chớm nở lúc 8 tuổi và tiếp tục phát triển cho tới 13- 18 tuổi Kinh nguyệt xuất hiện trong khoảng từ 9- 18 tuổi Ở các
em nam, dương vật và tinh hoàn cũng phát triển mạnh và đạt mức hoàn chỉnh vào khoảng 14-18 tuổi
Như vậy tuổi dậy thì là cái mốc đánh dấu sự trưởng thành về sinh học trong cơ thể vị thành niên Những thay đổi cơ thể, hình dáng, đặc biệt là cơ quan sinh dục làm phân biệt rõ giới tính nam hay nữ và các em bắt đầu có khả năng sinh sản nếu có hoạt động tình dục
• Đặc điểm tâm lý lứa tuổi vị thành niên.
Những biến đổi về mặt sinh lý đôi khi còn tác động đấn tâm lý của các
em, các em thường tò mò về cơ thể mình, về sự biến đổi nhanh chóng về hình dáng, các cảm giác mới lạ và có nhu cầu điều chỉnh về những thay đổi mới
đó Do không hiểu biết đầy đủ, các em thường không hài lòng với hình thể, trọng lượng, nước da của mình, với sự xuất hiện của các mụn trứng cá trên mặt , các em nhất là em gái thường tỏ ra sợ hãi, xấu hổ trước những biến đổi sinh lý diễn ra trong cơ thể
Do các đặc điểm về hệ thần kinh và nội tiết đang phát triển, các em dễ mất cân bằng về tâm lý và cảm xúc với các biểu hiện: nhịp tim nhanh, huyết
áp cao, hoa mắt chóng mặt, đau đầu, dễ nổi nóng Đôi khi chúng cảm thấy khó khăn trong việc tự kiểm soát khi bị kích động và gây ra những phản ứng không mong muốn Tuy vậy, sự mất cân bằng này chỉ là tạm thời, những hiện tượng này sẽ dần biến mất khi các em trưởng thành hơn
Cùng với những biến đổi về thể chất diễn ra ở tuổi dậy thì, đời sống tinh thần và tình cảm của tuổi vị thành niên cũng trải qua những biến đổi sâu sắc Các em có khả năng tự nhận thức và tự đánh giá cao Ở giai đoạn này các em không còn trò chuyện và tâm sự với cha mẹ thay vào đó các em muốn
Trang 11trò truyện với bạn bè và chia sẻ thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng Do vậy, các bậc cha mẹ và người lớn cần hiểu và tôn trọng cũng như định hướng cho những quyết định đúng đắn của các các em
Về mặt giao tiếp, các em thích giao tiếp với bạn bè cũng lứa hơn là với những người lớn hoặc ít tuổi hơn Phạm vi giao tiếp được mở rộng, nhu cầu
về tình bạn tâm tình cá nhân được tăng lên rõ rệt, bạn bè trở thành một phần rất quan trọng trong cuộc sống của các em
Cũng trong giai đoạn này, ở các em bắt đầu xuất hiện những cảm giác mới lạ, đó là sự nhạy cảm về giới và cảm xúc giới tính Các em có xu hướng tìm đến đối tượng khác giới và thích được họ chú ý đến mình Hiện nay, với
sự bùng nổ của công nghệ thông tin các em có thể tìm kiếm và kết bạn với bất
cứ ai và ở bất cứ nơi đâu chỉ cần có các phương tiện truyền thông đại chúng như internet, tivi, đài phát thanh Điều này khiến các em rất có ý thức về cơ thể, về giới của mình và có những rung cảm khi nghĩ đến những người bạn khác giới Các em bắt đầu thích đọc sách viết về những mối tình say mê, xúc động, thích bài hát, thích xem phim lãng mạn nói về tình yêu, quan tâm đến các nhân vật trong truyện, trong phim làm quen ra sao? Thích nhau như thế nào và học tập theo, thích tìm các clip nói về tình yêu hay các câu truyện được phát sóng trên đại phát thanh… Từ đó những rung cảm yêu đương được tạo nên trong suy nghĩ, trong tưởng tượng Trong một hoàn cảnh nào đó, các mối quan hệ với bạn khác giới bỗng tạo nên những cảm xúc giới tính mạnh mẽ khiến nhiều em ngộ nhận đó là tình yêu Tình yêu dường như là một mong muốn kì diệu trong giai đoạn này Một số em yêu sớm và khi lý trí chưa
đủ giúp các em làm chủ được những rung cảm, đôi khi là quá mãnh liệt khiến các em có thể có những hành vi sai trái trong quan hệ với bạn khác giới, không thể từ chối quan hệ tình dục với người mình yêu
Mặt khác, hiện nay trên các phương tiện truyền thông đại chúng các em
có thể nhanh chóng và dễ dàng tìm được những thông tin về sức khỏe sinh sản nếu các em có những kiến thức nền tảng tốt và lành mạnh về sức khỏe sinh
Trang 12sản thì các em sẽ dân hình thành những hành vi lành mạnh và có trách nhiệm đối với bản thân cũng như cộng đồng Ngược lại sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường, những hành vi có vấn đề làm ảnh hưởng hoặc gây tổn hại đến cuộc sống của bản thân hoặc nhứng người khác
Như vậy, do không đồng bộ về sự phát triển nhanh chóng về mặt cơ thế
và sự thiếu kinh nghiệm, chưa ổn định về mặt tâm lý xã hội cũng như chịu ảnh hưởng của các bộ phim, các clip, câu truyện trên các phương tiện truyền thông địa chúng khiến các em có những xáo trộn mãnh liệt ở giai đoạn này
1.1.3 Khái niệm sức khỏe sinh sản
Khái niệm sức khỏe sinh sản đã được chấp nhận và được chính thức
hóa trong phạm vi toàn thế giới từ “Hội nghị quốc tế lần thứ tư về dân số và phát triển” họp tại Cai - rô, thủ đô của Ai Cập tháng 9/1994 Trong chương trình hành động của Hội nghị Cai-rô đã viết “Sức khỏe sinh sản là một trạng thái hoàn hảo về thể chất, tinh thần và xã hội trong mọi khía cạnh liên quan đến hệ thống sinh sản, chức năng sinh sản và quá trình sinh sản”
Cụ thể hơn khái niệm sức khỏe sinh sản đó là:
- Sự đầy đủ về mặt thể lực, và một trạng thái sức khỏe, thể chất tốt.Đảm bảo rằng con người không bị bắt buộc làm những điều họ không muốn làm những điều có hại cho cơ thể họ và khả năng và năng lực sinh sản của họ, vì nhưng lí do như không hiểu biết, thông tin sai hay hành vi của người khác có ảnh hưởng đến họ Nó cũng có ý nghĩa là sự tự do không chịu một áp lực tâm lý nào dựa trên các đặc điểm sinh sản của họ
- Đạt được một sức khỏe xã hội cao nhất mà họ có thể đạt được
Sức khỏe sinh sản được cấu thành bởi nhiều yếu tố có liên quan chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau, trong đó kế hoạch hóa gia đình được coi là yếu tố quan trọng nhất trong các yếu tố của sức khỏe sinh sản Trong chương trình hành động của Hội nghị Cai- rô cũng có đề cập đến nội dung cơ bản của chăm sóc sức khỏe sinh sản bao gồm: Tư vấn, giáo dục truyền thông và dịch
vụ kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe phụ nữ, trẻ em sơ sinh, phòng
Trang 13ngừa và chữa trị vô sinh, nạo thai, điều trị bệnh lây truyền qua đường tình dục
và những tình trạng sức khỏe khác
Thông tin, tư vấn về tình dục của con người, sức khỏe sinh sản tiếp cận trực tiếp với đối tượng vị thành niên thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như tivi SKSS bao gồm những khía cạnh sau :
- Sức khỏe thể chất : cơ thể khỏe mạnh , các cơ quan sinh dục nam ,
nữ không bị tổn thương và đảm bảo cho việc thực hiện chức năng tình dục và sinh sản
- Sức khỏe tinh thần : cá nhân cảm thấy thoải mái với chính mình về
sức khỏe sinh sản và tình dục , biết thừa nhận những nhược điểm , không tự ti , sống đoàn kết với mọi người
- Sức khỏe xã hội : đảm bảo sự an toàn cho xã hội , có mối quan hệ
tốt với cộng đồng
(Trích từ cuốn "Vị thành niên/Thanh niên cùng tìm hiểu quyền SKSS và quyền SKTD")
• Nội dung sức khỏe sinh sản:
Theo chương trình hành động của hội nghị quốc tế về dân số và phát triển các vấn đề trọng tâm về SKSS được xác định ở những nội dung sau:
+ Làm mẹ an toàn, bao gồm cả việc chăm sóc khi mang thai, khi đẻ
và sau khi đẻ, cả mẹ và con đều an toàn
+ Thực hiện kế hoạch hóa gia đình làm cho mức sinh sản phù hợp với nhịp độ phát triển kinh tế giúp thực hiện quyền sinh sản
+ Giảm nạo hét thai và nạo hút thai an toàn
+ SKSS vị thành niên
+ Các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản như : viêm hố chậu, viêm
âm đạo, viêm cổ tử cung…
+ Các bệnh lây truyền qua đường tình dục: lậu, giang mai, trùng roi, viêm gan B, HIV/AIDS
+ Ung thư vú và các loại ung thư ở bộ phận sinh dục
Trang 14+ Vô sinh
+ Giáo dục tình dục
+ Thông tin- giáo dục- truyền thông về sức khỏe sinh sản
• Chăm sóc sức khỏe sinh sản
Theo chương trình của Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển, để phù hợp với những nội dung nêu trên, chăm sóc SKSS đề cập đến các biện pháp
kỹ thuật và dịch vụ góp phần cải thiện SKSS và phúc lợi bằng cách ngăn ngừa
và giải quyết các vấ đề có hại đối với SKSS Chăm sóc SKSS bao gồm cả việc chăm sóc sức khỏe tình dục với mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống
và các mối quan hệ cá nhân, chứ không đơn thuần chỉ là khám và điều trị các bệnh liên quan đến sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Chăm sóc sức khỏe sinh sản phải gồm: Tư vấn, thông tin giáo dục truyền thông về kế hoạch hóa gia đình và dịch vụ, giáo dục và cung cấp các dịch vụ khi mang thai, sinh đẻ an toàn và chăm sóc sau khi sinh, phòng ngừa điều trị vô sinh, nạo phá thai, hậu quả của nạo phá thai, điều trị các bệnh viêm nhiễm qua đường sinh dục, điều trị các biến chứng về thai sản, xây dựng chương trình để thông tin, tư vấn … Thông qua các kênh như phương tiện truyền thông đại chúng, gia đình, bạn bè…
Nội dung sức khỏe sinh sản của các em đang ở lứa tuổi 15 đến 18 cần tập trung vào những điểm sau:
- Những kiến thức về sự phát triển của con người
+ Giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể
+ Sức khỏe tình dục, phòng tránh thai, nạo phá thai
Trang 15Căn cứ vào đặc điểm lứa tuổi và đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi để chia thành những nội dung trọng tâm cần tập trung để truyền tải đến cho các em.
Từ đó, đề tài “Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến sức khỏe sinh sản của học sinh trường THPT Đại Mỗ” em xin được nghiên cứu về ảnh
hưởng của truyền thông đại chúng đến sức khỏe sinh sản trong hai nội dung
cụ thể như trên
1.1.4 Khái niệm vị thành niên
Theo từ điển tiếng Việt thì “Vị thành niên là những người chưa đến tuổi trưởng thành để chịu trách nhiệm về những hành động của mình”
Vị thành niên là một giai đoạn (một thời kì) trong quá trình phát triển của con người bao gồm cả hai giới nam và nữ với đặc điểm lớn nhất là sự tăng trưởng mạnh mẽ để đạt tới sự trưởng thành về cơ thể, sự tích lũy kiến thức, kinh nghiệm xã hội, định hình nhân cách, khả năng hào nhập cộng đồng
Giai đoạn này được hiểu một cách đơn giản là giai đoạn “Sau trẻ con và trước người lớn” là “giai đoạn chuyển tiếp giữa tuổi ấu thơ và tuổi trưởng thành” của mỗi cá thể được gọi là thời kì vị thành niên
Theo tổ chức Y tế thế giới, vị thành niên là những người nằm trong độ tuổi từ 10 – 19 tuổi Một số nước lại quy định tuổi từ 13-20 hoặc từ 15-24
Theo một số tài liệu, trong các thời kì phát triển của con người, tuổi vị thành niên được phân thành 3 nhóm:
+ Vị thành niên sớm: 10-14 tuổi
+ Vị thành niên trung bình: 15-17 tuổi
+ Vị thành niên muộn: 18-19 tuổi
Ở việt nam căn cứ vào tình hình thực tế và dựa vào cách phân loại trên,
Vụ Bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em và KHHGĐ thuộc Bộ Y tế đã đề nghị tuổi
vị thành niên nên xếp thành hai nhóm tuổi:
+ Nhóm từ 10- 14 tuôi
+ Nhóm từ 15- 19 tuổi
Trang 16Do mục đích nghiên cứu của đề tài, ở đây em chỉ nghiên cứu nhóm vị thành niên là học sinh THPT, tập trung ở nhóm 15- 19 tuổi, lứa tuổi mà theo một số tài liệu trong và ngoài nước đã và đang có hoạt động tình dục Bởi vậy, ở đề tài này em dùng thuật ngữ vị thành niên cũng là nhóm đối tượng học sinh THPT
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tổng quan các nghiên cứu về sức khỏe sinh sản
Trong những thập kỷ vừa qua thế giới kể cả Việt Nam, đã có những thay đổi đáng kể Những thay đổi này ảnh hưởng rất lớn đến thanh thiếu niên, những người có cuộc sống và tương lai không giống với cha mẹ họ Lớp trẻ ngày nay phải được chuẩn bị cho một tương lai với những thách thức lớn hơn
vì nhiều vấn đề và những mối quan tâm mới đã phát sinh, như HIV/AIDS, toàn cầu hóa, phân hóa mức sống… và những vấn đề khác Nhận thức về quan hệ tình dục, tình yêu, hôn nhân và sinh sản đang thay đổi Điều này đòi hỏi lớp trẻ phải có hiểu biết và được chuẩn bị kỹ càng trước khi đưa ra những quyết định có ảnh hưởng đến tương lai của mình
Có một thực tế là nhiều thanh thiếu niên bắt đầu quan hệ tình dục trong khi không hiểu biết đúng đắn về sức khỏe sinh sản Sự thiếu hiểu biết này có thể đẩy các em gái vào nguy cơ có thai ngoài ý muốn, hoặc mắc các bệnh lây truyền qua quan hệ tình dục, gồm cả HIV/AIDS Giáo dục sức khỏe sinh sản
vị thành niên hay giáo dục giới tính, có thể giúp lớp trẻ có một cuộc sống lành mạnh và hạnh phúc, ngăn ngừa những nguy cơ nói trên và nâng cao đời sống
và sức khỏe sinh sản sau này
Hiện nay, trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã bắt đầu có sự quan tâm hơn tới việc giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên Bởi, giáo dục giới tính là việc làm thiết yếu để giáo dục lớp trẻ sống lành mạnh và có ích hơn
• Trên thế giới
Ngay từ thế kỷ XX, có những công trình nghiên cứu vấn đề này như các công trình của V.V Phavrơ, D.N Zbancov, P.P Blonxki,…
Trang 17Những năm 30, sức khỏe sinh sản được nghiên cứu toàn diện hơn về nội dung, phương pháp và việc tổ chức thực hiện A.X Makarenko khẳng định vai trò cần thiết và quan trọng của giáo dục giới tính đồng thời đưa ra những nguyên tắc, nội dung, phương hướng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh
Riêng Thụy Điển lần đầu tiên vào năm 1942, Bộ giáo dục Thụy Điển quyết định thí điểm đưa giáo dục tình dục vào nhà trường đến năm 1956 thì dạy phổ cập cho tất cả các bậc học từ tiểu học đến trung học
Đến năm 1960, giáo dục giới tính mới được khẳng định, được nghiên cứu rộng rãi và hoàn chỉnh dần Giáo dục giới tính được nghiên cứu sâu về mục đích, nội dung, phương pháp… với các nhà khoa học nổi tiếng như I.X Côn, V.A Sukhomlinxki … Nội dung giáo dục giới tính không chỉ là vấn đề tình dục mà còn là các vấn đề của gia đình, giới tính, tình yêu… Tất cả bắt đầu được quan tâm nhiều hơn
Năm 1968, Đại hội đồng Liên hợp quốc bắt đầu có những hoạt động về giáo dục dân số và đi liền với hoạt động ấy, giáo dục giới tính lại được quan tâm hơn nữa với giáo dục dân số trong việc triển khai các nội dung ấy đến với học sinh các cấp
Khoảng những năm 1970, 1980 việc giáo dục giới tính được đưa vào trường học bắt đầu được quan tâm thực sự và từ đó bốn khuynh hướng về giáo dục giới tính xuất hiện
Đặc biệt đến năm 1981, hội đồng bộ trưởng Liên Xô (cũ) ra chỉ thị cho tất cả các trường phổ thông trong cả nước thực hiện chương trình giáo dục giới tính được biên soạn rất cụ thể cho các cấp Hơn thế nữa, trong nội dung chương trình giáo dục ở hai lớp cuối cấp III (lớp 9 và lớp 10) có thêm một môn học là Đạo đức học và Tâm lý học đời sống gia đình với thời lượng là 34 tiết cùng với những nội dung cũng khá phong phú và bổ ích
Kể từ khi Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển được tổ chức ở Cai – rô (Ai Cập) năm 1994, có thể nhận thấy sự thay đổi lớn về định hướng trong các chương trình giáo dục hiện hành tại các trường học ở khắp nơi trên thế giới Sự thay đổi này tập trung vào vấn đề dân số, giới tính và sức khỏe sinh sản, hay thường được gọi là giáo dục dân số
Trang 18• Ở Việt Nam
Do ảnh hưởng nhiều của tư tưởng phong kiến cho nên vấn đề sức khỏe sinh sản theo đúng nghĩa của nó hầu như bị “né tránh”, “thả nổi”, hay “lãng quên” hoặc có đề cập đến nhưng lại rất sơ lược, qua loa và nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản là một cái gì đó rất xa lạ với các em học sinh
Nội dung giáo dục giới tính được đề cập và phổ biến dưới nhiều hình thức khác nhau ở những năm 80 của thế kỷ XX như: báo cáo khoa học, chuyên đề, nội dung sinh hoạt ở các câu lạc bộ mà trong những người tham
dự có khá đông các em học sinh… dù rằng chưa chính thức và sâu sắc nhưng vấn đề giáo dục giới tính nói chung, nội dung giáo dục giới tính cho học sinh nói riêng bắt đầu là điểm nóng của nhiều ngành khoa học, nhiều nhà khoa học Đặc biệt hơn, vào ngày 24 tháng 12 năm 1984 chủ tịch hội đồng Bộ
trưởng Phạm Văn Đồng ký chỉ thị 176 a, trong đó nêu rõ: “Bộ giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan xây dựng chương trình chính khóa và ngoại khóa nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức khoa học về giới tính, về hôn nhân và gia đình, về nuôi dạy con”.
Bộ giáo dục đã ra chỉ thị về việc giáo dục dân số và giáo dục giới tính trong toàn bộ hệ thống trường học các cấp và các ngành học của cả nước với khối lượng nội dung và chương trình tương ứng
Đến năm 1985, các công trình nghiên cứu về giáo dục giới tính, nội dung giáo dục giới tính, tình yêu, hôn nhân gia đình lần lượt được thừa nhận Nhiều nhà khoa học như: Trần Trọng Thủy, Đặng Xuân Hoài, Đức Uy, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan… đã nghiên cứu những mặt khác nhau xung quanh giáo dục giới tính như: nhu cầu, nguyện vọng, dư luận xã hội, nội dung…Ngay sau đó, cũng năm 1985 Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp phối hợp với công đoàn nhành Đại học tổ chức hội thảo về giáo dục giới tình cho sinh viên các trường Đại học, tổ chức hai lớp tập huấn cho một số cán bộ Đoàn, cán bộ Tuyên huấn… ở các trường Đại học và Trung học chuyên
Trang 19nghiệp ở phía Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục giới tính nhằm hỗ trợ cho việc đưa các nội dung giáo dục giới tính đến với học sinh một cách chính xác, khoa học và hiệu quả Nổi bật nhất vẫn là việc khẳng định vai trò cần thiết của giáo dục giới tính với thanh niên nói chung và học sinh nói riêng Thế nhưng, nội dung giáo dục giới tính vẫn chưa thật sự đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của nhiều người vì điều kiện kinh phí, thời gian…
Trong thời gian này, Trung ương hội liên hiệp Phụ nữ đã triển khai
phong trào giáo dục “Ba triệu bà mẹ nuôi con khỏe, dạy con ngoan” trong đó
nội dung giáo dục giới tính được đề cập nhiều nhất đến việc giáo dục cho con cái ở lứa tuổi dậy thì Các tỉnh hội phụ nữ, thành hội phụ nữ quan tâm nhiều hơn đến nội dung giáo dục giới tính tuy nhiên hiệu quả cũng chỉ dừng lại
“tính chất phong trào” vì những khó khăn nhất định.
Từ năm 1986 đến năm 1991, PTS Bùi Ngọc Oánh với đề tài nghiên cứu
“ Những yếu tố tâm lý trong sự chấp nhận giáo dục giới tính của thanh niên học sinh” một lần nữa khẳng định sự cần thiết của giáo dục giới tính
trong nhà trường PTTH, phân tích một số yếu tố tâm lý trong sự chấp nhận giáo dục giới tính của các em, những biểu hiện trong đời sống giới tính của lứa tuổi cũng như bước đầu vạch ra một số biện pháp để nâng cao sự chấp nhận việc giáo dục giới tính của học sinh PTTH
Ngoài ra, cũng có một số đề tài khác nữa cũng nghiên cứu xung quanh vấn đề này như:
Đề tài nghiên cứu: “Nhận thức, thái độ của sinh viên trường sư phạm Phú Yên về những nội dung cơ bản của kế hoạch hóa gia đình” của tác giả
Đinh Thị Dậu cũng đề cập đến một số vấn đề trong nội đung giáo dục giới tính song đối tượng nghiên cứu là những sinh viên sư phạm và những nội dung giáo dục giới tính mà tác giả đề cập chỉ là những tri thức có liên quan với vấn đề kế hoạch hóa gia đình mà thôi
Cuốn sách “Sức khỏe vị thành niên” là tài liệu do trung tâm bảo vệ bà mẹ
trẻ em kế hoạch hóa gia đình hợp tác với Thụy Điển đem lại những thông tin quý giá giúp định hướng hành động GDGT và chăm sóc SKSS vị thành niên
Trang 20Cuốn sách “Giáo dục giới tính vì sự phát triển của vị thành niên” của
bác sĩ Đào Xuân Dũng, nxb Hà Nội, 2002 đã cho thấy sự cần thiết phải giáo dục giới tính cho trẻ ở độ tuổi vị thành niên
PGS.TS Hoàng Bá Thịnh chủ biên cuốn sách “Một số nghiên cứu về sức khỏe sinh sản ở Việt Nam sau Cai-rô” của NXB Chính trị quốc gia.
Trường Đại Học Y Thái Bình với báo cáo kết quả đề tài nghiên cứu sức khỏe sinh sản vị thành niên ở 5 tỉnh của Việt Nam nghiên cứu cho biết tỉ lệ trẻ
vị thành niên có được thông tin từ nhà trường trong các lĩnh vực sức khỏe sinh sản
Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến sức khỏe sinh sản của học sinh THPT Đại Mỗ Các phương tiện truyền thông đại chúng ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ, hành
vi của các em về sức khỏe sinh sản ra sao? Đề tài nghiên cứu của em sẽ làm
Truyền hình xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ XX và phát triển với tốc độ như vũ bão nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo ra một kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội Ngày nay, truyền hình là phương tiện thiết yếu cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia, dân tộc Truyền hình trở thành vũ khí, công cụ sắc bén trên mặt trận tư tưởng, văn hóa cũng như lĩnh vực kinh tế xã hội Ở thập kỉ 50 của thế kỉ XX, truyền hình chỉ được sử dụng như là công cụ giải trí, rồi thêm chức năng thông tin Dần dần truyền hình đã trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý và giám sát xã hội, tạo tập và định hướng dư luận, giáo dục và phổ biến kiến thức, phát triển văn hóa, quảng cáo và các dịch vụ khác
Trang 21Sự ra đời của truyền hình đã góp phần làm cho truyền thông đại chúng thêm hùng mạnh, không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng về chất lượng Công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo trên khắp hành tinh Với những ưu thế về kỹ thuật, công nghệ, truyền hình đã làm cho cuộc sống như được cô đọng lại, làm giàu thêm ý nghĩa, sáng tỏ hơn về hình thức và phong phú hơn về nội dung
Ngày 7/9/1970 là ngày phát sóng đầu tiên của chương trình truyền hình Việt Nam Ngày 7 tháng 9 trở thành ngày kỉ niệm truyền thống của truyền hình Việt Nam Từ ngày ấy đến nay, truyền hình Việt Nam đã trưởng thành nhanh chóng và có những tiến bộ vượt bậc, đến nay đài truyền hình Việt Nam phát với tổng số thời lượng là 200 giờ/ngày trên 5 kênh VTV1, VTV2, VTV3, VTV4, VTV5 cùng với 6 kênh truyền hình cáp hữu tuyến
Hiện nay, truyền hình là phương tiện truyền thông phổ biến nhất thế giới Hầu hết mọi người không có cơ hội trực tiếp gặp mặt các nguyên thủ quốc gia, du hành tới mặt trăng, chứng kiến một cuộc chiến hay xem một trận thi đấu thể thao,…với truyền hình, họ có cơ hội làm được những việc đó Không chỉ là một phương tiện truyền thông, phương tiện giải trí thuần túy, ngày nay truyền hình còn được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống hiện đại
Các chương trình truyền hình về sức khỏe con người cũng được giành riêng và phát sóng vào những khung giờ cố định trên các kênh truyền hình như VTV3, VTV1, VTV2… nội dung phong phú đa dạng với các chủ đề từ sức khỏe tim mạch, cho tới sức khỏe sinh sản với những vị khách mời am hiểu sâu sắc về từng chủ đề được mời tới trường quay và để khán giả có thể tương tác trực tiếp và giải đáp những thắc mắc của chính họ Các bạn trẻ ở lứa tuổi vị thành niên khi chăm chú theo dõi chương trình sức khỏe sinh sản, tình dục an toàn, các biện pháp tránh thai an toàn… Trên các chương trình truyền hình phát sóng theo khung giờ thì sẽ có thêm được rất nhiều kiến thức bổ ích cũng như tạo cho bản thân một vốn hiểu biết về sức khỏe sinh sản
Trang 22Như vậy, cùng với các phương tiện truyền thông đại chúng khác truyền hình là một kênh thông tin hữu hiệu cung cấp cho tất cả các đối tượng xem truyền hình đặc biệt là các bạn thanh thiếu niên những kiến thức bổ ích về sức khỏe sinh sản thông qua các chuyên đề được truyền tải dưới dạng tình huống hay hình ảnh, các kênh chữ hay quảng cáo.
• Internet
Xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra trên thế giới đã và đang tác động to lớn vào sự phát triển của ngành truyền thông nói chung Sự phát triển của Internet là một trong những yếu tố quan trọng làm cho việc chuyển tải thông tin tới các khu vực trên thế giới một cách dễ dàng và tiện lợi
Chúng ta hãy nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển của nó để thấy được xu hướng phát triển của Internet ngày nay là một sự tất yếu
Thời kỳ phôi thai của Internet bắt nguồn từ việc năm 1969 Bộ Quốc phòng Mĩ xây dựng dự án ARPANET đây là nghiên cứu tiên tiến, nghiên cứu về lĩnh vực mạng, với ý đồ là chia sẻ thông tin giữa các trung tâm nghiên cứu và sẽ có khả năng tự định đường truyền tin ngay sau khi 1 phần mạng đã được phá hủy
Trong 10 năm từ năm 1972 đến năm 1982, các nhà khao học cùng một
số các trường đại học tại Mĩ, Anh, Na-Uy… đã nhiều lần cải tiến, thay đổi, nâng cấp các đời mạng ARPANET liên kết 40 máy thông qua các bộ xử lí giao tiếp giữa các trạm cuối, thiết lập giao thức bắt tay, phát minh ra E- mail
để gửi thông điệp trên mạng Từ đó đến nay, E-mail là một trong những dịch
vụ được dùng nhiều nhất
Tại Việt Nam dịch vụ Internet bắt đầu được cung cấp chính thức từ năm 1997 Đây là dấu mốc quan trọng đối với việc toàn cầu hóa thông tin của Việt Nam ra thế giới Tuy nhiên phải nói rằng, việc tham gia vào lĩnh vực này tuy muộn nhưng đã tạo ra một “cuộc cách mạng” về công nghệ thông tin tạo
đà cho sự “thay da đổi thịt” của nền truyền thông đại chúng “đi hơi chậm” so với thế giới
Trang 23Ngày nay Internet đã “thâm nhập” vào cuộc sống với nhiều tiện ích thiết thực
Trong tương lai Web trở thành một thư viện khổng lồ của thế giới, và trên những giá sách của thư viện này mỗi người sử dụng Internet đều có thể đặt lên đấy những tư liệu muốn giới thiệu cho mọi người biết hoặc để thương mại hóa, cũng như tham khảo mọi cuốn sách đã được ghi nhớ vào bộ nhớ
• Đài tiếng nói Việt Nam
“ Phát thanh là một loại hình truyền thông đại chúng trong đó nội dung thông tin được truyền tải qua âm thanh”
Âm thanh bao gồm ba yếu tố: lời nói, âm nhạc và tiếng động
Phát thanh có hai loại hình: phát thanh qua sóng điện từ và phát thanh truyền qua dây dẫn
Đến thế kỉ XX, vệ tinh xuất hiện đã tạo ra một cuộc cách mạng lớn trong thông tin đại chúng, tín hiệu phát thanh và truyền hình được trưyền đi khắp thế giới một cách rộng khắp và mau lẹ Con người có thể ngồi trong nhà mình tiếp nhận thông tin về các sự kiện thuộc đủ các lĩnh vực và mọi nơi trên trái đất một cách trực tiếp
Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội là cơ quan truyền thông báo chí trực thuộc Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội Đài được thành lập ngày 14 tháng 10 năm 1954, sau ngày Hà Nội được chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản, khi đó chỉ có chức năng phát thanh Hiện nay, truyền hình Hà Nội có 6 bản tin thời sự về thành phố và 4 bản tin thế giới trong ngày
Kể từ ngày 10 tháng 10 năm 1998, hệ thống Phát thanh - Truyền hình Hà Nội phát sóng liên tục trên 18 giờ 30 phút mỗi ngày với trên 100 chuyên đề, chuyên mục Ngoài hai lĩnh vực chính là truyền thanh và truyền hình, đài còn
thành lập báo điện tử Hà Nội vào ngày 14 tháng 10 năm 2002.
Ngày 10 tháng 11 năm 2013, đài đưa vào sử dụng Trung tâm kĩ thuật TD-PS tại thôn Phú Đô, xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm với cột ăng ten cao 250m, phủ sóng toàn vùng Trung du và đồng bằng Bắc Bộ
Theo lộ trình số hóa Đài sẽ ngừng phát sóng Analog từ ngày
Trang 24Không chỉ dừng lại ở các bản tin về thể thao đài phát thanh truyền hình
Hà Nội còn có các mảng tin về kinh tế, mảng tin về giáo dục và pháp luật, mảng tin về phim truyện, âm nhạc, mảng tin về sức khỏe và đời sống, mảng tin về an ninh được chia thành các khung giờ phát song riêng để phủ song trong các bảng tin
Mảng tin về sức khỏe và đời sống và mảng tin về chuyên mục các câu truyện về tình yêu có lẽ là những mảng tin thu hút được phần đông sự chú ý của các độc giả ở độ tuổi vị thành niên Trong các bản tin này sẽ có các câu truyện về tình yêu, cũng như cung cấp cho các bạn thanh thiếu niên những thông tin bổ ích về sức khỏe sinh sản để các em có thể tích lũy lại làm kinh nghiệm cho bản thân mỗi khi mình gặp phải những tình huống như các nhân vật trong bản tin
• Ấn phẩm:
Là các sản phẩm của ngành in ấn
Theo tính chất phát hành: Ấn phẩm là xuất bản phẩm bao gồm các loại như sách, báo, tạp chí (xuất bản định kì, nhiều kì, không định kì); ấn phẩm tờ rời như bản nhạc, bản đồ, tranh ảnh
Xuất bản phẩm là tên gọi chung của những sản phẩm xuất bản được in thành nhiều bản để phát hành: sách, báo, tranh ảnh
Để đưa ra khái niệm "ấn phẩm" là gì, ngoại trừ việc xem xét ngữ nghĩa của khái niệm đó, chúng ta hãy mở rộng cách nhìn nhận Về ngữ nghĩa "ấn phẩm" gồm 2 từ đơn kết hợp "ấn" và "phẩm" 2 từ này có gốc hán tự, nghĩa nôm từ "ấn" là in, "phẩm" là những vật, đồ vật Với cách hiểu này thì tất cả những gì là sản phẩm được tạo ra bằng việc sử dụng công nghệ in thì gọi là
"ấn phẩm" Với cách hiểu này thì các loại sách báo, bản nhạc, bản đồ, bức tranh, nhãn hiệu bao bì, biểu mẫu, tài liệu, thiếp mời, danh thiếp, được sinh
Trang 25tranh ảnh điện tử, báo cáo điện tử, thiếp điện tử, bản thuyến minh, thuyết trình, catalogue được gọi là ấn phẩm điện tử.
Như vậy, lịch sử phương tiện truyền thông đại chúng về sức khỏe sinh sản giúp cho bạn đọc có thể hiểu về sự ra đời của phương tiện thông tin đại chúng cùng sự phát triển không ngừng của các phương tiện này và hiệu quả hoạt động của từng phương tiện trong lĩnh vực sức khỏe sinh sản nói riêng
1.2.3 Vài nét về đối tượng và địa bàn nghiên cứu
1.2.3.1 Địa bàn nghiên cứu
Trường THPT Đại Mỗ được thành lập theo Quyết định 5073/QĐ-UB ngày 27 tháng 4 năm 2002 của Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hà Nội Trường nằm trên địa bàn Thôn An Thái- xã Đại Mỗ - huyện Từ Liêm Hà Nội
Trường nằm trên địa bàn xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm, Hà Nội, một mảnh đất giàu truyền thống văn hóa và hiếu học, một khu vực có nền kinh tế đang trên đà phát triển mạnh mẽ
Là một trường THPT với tuổi đời còn non trẻ song thầy và trò nhà trường luôn cố gắng vươn lên trong học tập và giảng dạy với tiêu chí “Nhân cách - Học vấn - Năng lực” Nhà trường có 5 tổ chuyên môn với hơn 80 cán
Trang 26bộ, nhân viên giảng dạy hơn 800 học sinh Nhà trường rất chú trọng tới việc bồi dưỡng, nâng cao chất lượng chuyên môn cho học sinh Tạo điều kiện cho mọi giáo viên thuận lợi học tập, công tác
Với sự nỗ lực phấn đấu thầy và trò trường THPT Đại Mỗ đã đạt được một số thành tích, tạo tiền đề cho những năm học tiếp theo: Trong kỳ thi học sinh giỏi thành phố năm học 2002 - 2003 trường đã có 06 học sinh đạt vòng II học sinh giỏi thành phố, Kết thúc năm học đầu tiên trường có 106 học sinh giỏi và Tiên tiến, trong đó đạt tỷ lệ Khá Giỏi là 29,96% Học sinh đạt Hạnh kiểm Khá, Tốt là 90,43%
Các hoạt động tập thể được đẩy mạnh : văn nghệ ( thi hát ca khúc cách mạng : Quốc ca, Đoàn ca, những bài hát sống cùng năm tháng ), hoạt động TDTT ( giải bóng đá mini chào mừng ngày Nhà giáo Việt 20 -11, cắm trại truyền thống 26/3, giáo dục truyền thống tìm về cội nguồn, tham dự Trại hè học sinh phổ thông thành phố ) được tiến hành đều đặn góp phần tạo nên không khí vui tươi phấn khởi trong toàn trường, góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học Đoàn Thanh niên hoạt động sôi nổi, có kết quả trong việc xây dựng ý thức tự quản và giữ gìn nền nếp kỷ cương
Trường THPT Đại Mỗ đang dần khẳng định vị thế của mình trong hệ thống các trường phổ thông của Thủ đô và bước đầu có những tín hiệu đáng mừng về các mặt : Cở sở vật chất, Đội ngũ Giáo viên và Học sinh
Phát huy những thành tích của năm học 2013-2014 cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh trường THPT Đại Mỗ quyết tâm giữ vững danh hiệu trường Tiến tiến cấp thành phố năm học 214-2015
1.2.3.2 Đặc điểm học sinh THPT Đại Mỗ
Tuổi học sinh PTTH hay người ta vẫn hay gọi là lứa tuổi đầu thanh niên, là giai đoạn phát triển của trẻ em từ 15 đến 18 tuổi, tương đương với học sinh lớp 10, lớp 11 và lớp 12 ở nước ta hiện nay Tuổi học sinh PTTH là tuổi trưởng thành về mặt xã hội, là tuổi chuẩn bị quyết định cho sự tham gia vào cuộc sống tự lập, cuộc sống gia đình, là thời kỳ trưởng thành những phẩm
Trang 27chất tinh thần của một con người đúng nghĩa trong xã hội Về cơ bản, lứa tuổi này đang phát triển và hướng dần đến sự hoàn thiện như người lớn
Trường THPT Đại Mỗ với số lượng học sinh là hơn 800 em Trong đó
số lượng học sinh nam và học sinh nữ chênh lệch nhau rất lớn, phần lớn trong lớp là các học sinh nam, có những lớp chỉ có từ 5 đến 7 học sinh nữ trong tổng số 31 em học sinh Đa số là con nhà khá giả cho nên các em được trang
bị rất đầy đủ về mặt vật chất và tinh thần chính điều này tạo nên sự phát triển rất đồng đều giữa các học sinh Tập thể học sinh trong trường luôn ngoan ngoãn, lễ phép với thầy cô giáo, với cán bộ nhân viên của nhà trường; luôn đoàn kết, chan hòa với bạn bè Do đặc thù là điểm đầu vào của nhà trường gần như là thấp nhất trong tất cả các trường ở trong TP.Hà Nội nên trình độ nhận thức của các em còn nhiều hạn chế so với các ngôi trường khác như THPT Nguyễn Thị Minh Khai
Điều đáng nói là phần lớn các em tự tìm hiểu trên phương tiện truyền thông đại chúng như: Internet và truyền hình cụ thể trong các bộ phim tình cảm, vì vậy, những thông tin mà các em thu được thường độ chính xác là không cao, phần lớn các em đều chưa biết chắt lọc thông tin và nhận thức được thông tin nào là đúng và giúp ích cho bản thân nên thường dẫn tới tình trạng có những hiểu biết sai lệch về sức khỏe sinh sản qua những kênh thông tin không chính thống trên internet hay các trang quảng cáo
Bên cạnh đó, môi trường nhà trường mới chỉ dừng lại ở mức độ phát thanh đưa ra thông tin cho các em chứ chưa đi phân tích cụ thể và chính xác
từ nguyên nhân cho tới hậu quả và hướng giải quyết để khi gặp phải các vấn
đề về sức khỏe sinh sản của bản thân đó các em có thể vận dụng
1.2.4 Công tác truyền thông về sức khỏe sinh sản tại trường THPT Đại Mỗ
1.2.4.1 Nội dung truyền thông về sức khỏe sinh sản
• Khái niệm truyền thông đại chúng về sức khỏe sinh sản :
Truyền thông đại chúng về sức khỏe sinh sản là quá trình truyền đạt thông tin về sức khỏe sinh sản một cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội
Trang 28thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như: Ấn phẩm, đài phát thanh, truyền hình, internet.
• Những căn cứ lựa chọn nội dung truyền thông về sức khỏe sinh sản:
- Những kiến thức về sự phát triển của con người
+ Giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể
+ Sức khỏe tình dục, phòng tránh thai, nạo phá thai
Đề tài đã căn cứ vào đặc điểm lứa tuổi và đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi
để chia thành những nội dung trọng tâm cần tập trung để truyền tải đến cho các em Do thời gian nghiên cứu có hạn nên em xin giới hạn phạm vi nghiên cứu chỉ trong hai nội dung chính về sức khỏe sinh sản là:
+ Thứ nhất: những kiến thức về sự phát triển con người
+ Thứ hai: hành vi tình dục và văn hóa tình dục
Để tìm hiểu nội dung giáo dục giới tính trong trường THPT Đại Mỗ em
đã trao đổi trưc tiếp với thầy hiệu phó Vũ Văn Thành thầy cho biết
“ Thực trạng giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên ở trường không được trú trọng Phần lớn các em được tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao do nhà trường tổ chức tuy nhiên chưa có cuộc thi nào liên quan đến chủ đề sức khỏe sinh sản”
Các phương tiện truyền thông đại chúng có được trường ta sử dụng trong việc cung cấp cho các em học sinh những kiến thức về sức khỏe sinh sản không thưa Thầy?
Trang 29“ Phần lớn các phương tiện truyền thông đại chúng chỉ được nhà trường sử dụng vào việc truyền đạt kiến thức về các môn học tự nhiên và xã hội và tuyên truyền về phòng chống ma túy, an toàn giao thông
Lý do dẫn đến việc hạn chế sử dụng phương tiện truyền thông đại chúng trong cung cấp cho học sinh những kiế thức về sức khỏe sinh sản thưa Thầy?
“ Thời gian học sinh nghỉ sau mỗi một giờ học căng thẳng chỉ có từ 5 phút đến 10 phút vì vậy nhà trường ưu tiên những môn khoa học, tự nhiên Còn việc cung cấp kiến thức về sức khỏe sinh sản qua các phương tiện truyền thông tại nhà trường gần như là không có Ngoài giờ lên lớp các em có thể tự tìm hiểu trên phương tiện truyền thông khi ở nhà”
Theo Thầy, các em học sinh trường ta tiếp nhận thông tin về sức khỏe sinh sản qua kênh thông tin nào?
“Phần lớn các em đều tìm hiểu về sức khỏe sinh sản qua các phương tiện truyền thông đại chúng và gần gũi nhất là Internet”
Em có nghe nói một vài trường hợp học sinh trường ta kết hôn khi đang học lớp 10-11-12 có đúng không ạ thưa Thầy?
“ Theo như các giáo viên chủ nhiệm phản ánh lại thì tình trạng các em nghỉ học để lấy vợ, lấy chồng có một vài trường hợp điển hình là mới đây em N.T.L lớp 11a5 đã lấy chồng vì lý do em đã có bầu 5 tháng, chồng của em cũng là học sinh cấp ba Ngoài ra còn có môt trường hợp ở lớp 10a5 em H cũng sống chết đòi bố mẹ cho lấy chồng nếu không em sẽ bỏ đi với bạn trai ”
Sau khi các em lấy chồng, lấy vợ các em có được tiếp tục đến trường không ạ?
“Sau khi lấy chồng, lấy vợ nếu các em còn muốn tiếp tục theo thì nhà trường vẫn tạo điều kiện để các em có thể học tiếp”
Như vậy, em xin rút ra một vài kết luận như sau:
+ Thứ nhất: Các hoạt động của trường rất sôi nổi tuy nhiên nhà trường chưa trú trọng tới công tác truyền thông về sức khỏe sinh sản cho học sinh
Trang 30+ Thứ hai: truyền thông đại chúng về sức khỏe sinh sản cho các em học sinh mới chỉ dừng lại qua việc phát thanh một tuần một lần với các chủ đề khác nhau theo tháng chứ không có chuyên mục sức khẻo sinh sản nói riêng như vậy một năm học nội dung về sức khỏe sinh sản chỉ được phát thanh một lần thông qua các câu truyện.
+ Thứ ba: thấy được sự cần thiết của công tác đẩy mạnh truyền thông
về sức khỏe sinh sản trong thực tế nhà trường em đã mạnh dạn đưa ra một số điểm quan trọng của công tác truyền thông về sức khỏe sinh sản để nhằm mục đích giảm và chấm dứt tình trạng học sinh nghỉ học giữa chừng đề kết hôn
Công tác truyền thông về sức khỏe sinh sản ở trường THPT Đại Mỗ chưa được coi trọng và đẩy mạnh Vấn đề truyền thông về sức khỏe sinh sản
ở trường THPT Đại Mỗ mới chỉ dừng lại ở mức độ đưa ra và lướt qua chưa trú trọng nhiều tới nội dung cốt lõi
1.2.4.2 Hiệu quả công tác truyền thông về sức khỏe sinh sản của học sinh trường THPT Đại Mỗ
Về phía học sinh khi được hỏi về vấn đề sức khỏe sinh sản của chính bản thân các em đa số các em đều ngượng ngùng và né tránh Các em đều tỏ
ra không thích trao đổi về vấn đề này nên khi điều tra thực tế bản thân tác giả
đã gặp rất nhiều khó khăn để có thể lấy được những thông tin từ phía các em Phần lớn các thông tin các em đưa ra đều giống nhau và không có sự mới lạ
Hiệu quả của công tác truyền thông về sức khỏe sinh sản chưa cao Học sinh chỉ mới đạt tới việc nhận thức về những khái niệm, biểu hiện của một số vấn đề về sức khỏe sinh sản Đa phần các em chỉ thừa nhận rằng: mới biết chút ít hoặc biết chưa đầy đủ Trong khi đó khá nhiều nội dung khác của sức khỏe sinh sản học sinh cho là mình không biết như: các bệnh lây truyền qua đường tình dục các em chỉ biết được HIV còn rất nhiều bệnh nguy hiểm khác như lậu, giang mai, sùi mào gà hay heper sinh dục thì các em không biết hoặc rất ít em biết, các biện pháp tránh thai cũng vậy các em chỉ biết được các biện pháp phổ thông như sử dụng bao cao su hay uống thuốc tránh thai khẩn cấp
mà chưa biết đến các biện pháp như đình sản, tiêm cấy Noplant
Trang 31Từ đó, tình trạng học sinh đang học lớp 12, lớp 11 thậm chí có một vài trường hợp lớp 10 đang theo học đã xin nghỉ để lấy chồng và sinh con Điển hình trường hợp em N.T.N hện đang học tại lớp 11a5 của trường THPT Đại
Mỗ đã mang thai 5 tháng và kết hôn vào ngày 9/4/2015 vừa qua Sau khi kết hôn em vẫn tiếp tục đi học
Như vậy, phần lớn các em chưa nhận thức sâu sắc và đúng đắn về tầm quan trọng hay sự cần thiết về sức khỏe sinh sản dù rằng bước đầu đã quan tâm đến một số nội dung có liên quan đến nhu cầu của chính mình trong hiện thực
* *
*Chương I là toàn bộ cơ sở lý luận cũng như cơ sở thực tiễn của đề tài ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến sức khỏe sinh sản của học sinh trường THPT Đại Mỗ Làm tiền đề để Chương II, Chương III có thể nghiên cứu rõ ràng, cụ thể ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến sức khỏe sinh sản của các em Ngoài ra phần cơ sở lý luận đã làm rõ những lý thuyết về sức khỏe sinh sản và truyền thông đại chúng, cơ sở thực tiễn làm rõ nguyên nhân trên khảo sát thực tế các hoạt động ở trường, ở lớp của chính các em để từ đó thấy được nhận thức, thái độ, hành vi của các em về sức khỏe sinh sản của chính bản thân mình
Trang 32CHƯƠNG II: ẢNH HƯỞNG CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG ĐẾN NHỮNG KIẾN THỨC VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỌC SINH
TRƯỜNG THPT ĐẠI MỖ
Những kiến thức liên quan đến sự phát triển của con người là một trong những kiến thức quan trọng, không chỉ thu hút được sự quan tâm của những nhà nghiên cứu về tâm lý, sinh lý….mà còn được các em học sinh đang trong
độ tuổi vị thành niên đặc biệt quan tâm Điều đó được chứng minh qua việc các em tự tìm hiểu để giải đáp những thắc mắc bằng cách: tìm đọc những cuốn sách, xem những bài báo, nghe các chuyên gia phân tích, vào mạng Internet để tìm kiếm… với sự phát triển của phương tiện truyền thông đại chúng các em có thể dễ dàng tiếp cận những thông tin này một cách nhanh chóng Chính vì vậy, một trong những điều mà nghiên cứu này quan tâm đó là ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến những kiến thức về sự phát triển của học sinh trường THPT Đại Mỗ
Vì vậy, khi được hỏi “ Nguồn thông tin liên quan đến những kiến thức về
sự phát triển con người em nhận được từ đâu”đa số các em đều trả lời rằng em
nhận được từ phương tiện truyền thông đại chúng Chỉ một số ít các em nhận được thông qua truyền thông cá nhân như: gia đình, bạn bè, thầy cô, khác…
Biểu đồ thể hiện nguồn thông tin liên quan đến những kiến thức về
sự phát triển con người mà học sinh nhận được
Như vậy, ta thấy truyền thông đại chúng có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các
em học sinh trường THPT Đại Mỗ trong việc cung cấp cho các em những kiến thức về sự phát triển
Trang 33Từ đó, em xin nghiên cứu về ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến những kiến thức về sự phát triển của các em học sinh trường THPT Đại
Mỗ qua những khía cạnh sau:
Mặt khác, hầu hết các em học sinh trường THPT Đại Mỗ đều cho rằng giải phẫu cơ quan sinh dục nam, nữ là nghiên cứu về các hình thức cấu tạo,các bộ phận trên cơ thể của nam, nữ để hiểu về các bộ phận ấy cũng như chức năng của từng bộ phận trong cơ thể con người để tạo thành một cơ thể hoàn chỉnh, thống nhất cụ thể có 70% Một số em học sinh cho rằng giải phẫu cơ quan sinh dục nam hoặc nữ là cấu tạo của các bộ phận trên cơ thể con người với 23% và một số rất ít chỉ chiếm 7% cho rằng giải phẫu cơ quan sinh dục nam hoặc nữ là nghiên cứu về chức năng của các bộ phận trên cơ thể con người
Có 70/100 em hiểu đúng về giải phẫu Như vậy, các em cũng đã có những hiểu biết sơ bộ khá chính xác về giải phẫu cơ quan sinh sản của nam hoặc nữ Điều này chúng tỏ các em có tìm hiểu qua các kênh thông tin nào đó như bạn bè, gia đình, trường học và không thể thiếu là trên phương tiện truyền thông đại chúng
Biểu đồ 2.1.1: Tìm hiểu về giải phẫu qua kênh thông tin
Trang 34Như vậy, Internet đã ảnh hưởng mạnh mẽ và thường xuyên tới các em học sinh trường THPT Đại Mỗ với 89% Khi muốn biết thông tin gì về sức khỏe sinh sản của chính bản thân mình để giải đáp các thắc mắc cho bản thân các em đã lựa chọn Internet là nơi cung cấp thông tin cho mình Có lẽ vì thông tin trên internet luôn luôn sẵn sàng và gần gũi nhất với các em.
Tiếp đến là truyền hình các em thu nhận thông tin từ truyền hình với mức độ thấp hơn thường xuyên với 73% Truyền hình là kênh thông tin các
em lựa chọn nhiều thứ hai với mức độ thấp hơn thường xuyên để tìm hiểu về giải phẫu cơ quan sinh dục nam hoặc nữ với các mảng kênh đa dạng các em
có thể tìm hiểu trên kênh phim truyện, hay kênh khoa học và đời sống, kênh sức khỏe…
Đứng sau Internet và truyền hình là ấn phẩm với 82% Ấn phẩm được các em chọn ở mức độ tìm hiểu thỉnh thoảng về giải phẫu cơ quan sinh dục nam hoặc nữ Với các với các mảng sách về tâm lý, tình cảm, giải phẫu, truyện tranh hay các mảng tin về sức khỏe, đời sống, nhịp sống trẻ……Cuối cùng là đài phát thanh Đa số các em biết đến đài phát thanh và chỉ sử dụng đài phát thanh ở mức độ ít khi nên khi tìm hiểu về giải phẫu cơ quan sinh dục nam hoặc nữ cũng chỉ dừng lại ở mức độ ít khi
Như vậy, đài phát thanh truyền hình Hà Nội ngày nay đã được đổi mới cũng như phổ cập với lịch phát song đa dạng cùng nhiều kênh thông tin khác nhua như cung cấp thông tin về giáo dục, pháp luật, sức khỏe, đời sống, an ninh….xong lại không phải là lựa chọn hàng đầu của các em học sinh trường THPT Đại Mỗ trong việc cập nhật thông tin về sức khỏe sinh sản cụ thể là giải phẫu về cơ quan sinh dục nam hoặc nữ
Khi được hỏi “Em hãy đánh giá ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông đại chúng đến việc tìm hiểu về giải phẫu cơ quan sinh dục nam, nữ của chính bản thân em” đã thu được kết quả như sau:
Trang 35Biểu đồ 2.1.2: Đánh giá ảnh hưởng của phương tiện truyền thông
đại chúng đến việc tìm hiểu về giải phẫu.
Internet có ảnh hưởng mạnh nhất tới việc tìm hiểu về giải phẫu cơ quan sinh dục nam, nữ của các em học sinh trường THPT Đại Mỗ với 89% Truyền hình và ấn phẩm có ảnh hưởng trung bình lần lượt là 78% và 55% Đài phát thanh với ảnh hưởng yếu chiếm 93%
Như vậy, từ việc Internet có ảnh hưởng mạnh nhất tới mức độ tìm kiếm thông tin của các em chứng tỏ internet là kênh thông tin cung cấp cho các em nhiều thông tin nhất về giải phẫu cơ quan sinh dục nam, nữ Chỉ cần gõ cụm
từ “giải phẫu cơ quan sinh dục nam, nữ” sẽ có hàng trăm nghìn kết quả hiện
lên cho các em chỉ trong vòng 1giây
• So sánh ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến những kiến
thức về giải phẫu giữa khối lớp 10 – 11- 12
Biểu đồ 2.1.3: Biểu đồ thề hiện mức độ ảnh hưởng của phương tiện truyền thông đại chúng tới các em học sinh ba khối 10 -11-12
Trang 36Nhìn vào biểu đồ ta thấy sự khác nhau rõ nét về mức độ ảnh hưởng của truyền thông đại chúng tới các em học sinh ở ba khối 10-11-12 cụ thể:
Ở khối 10 truyền thông đại chúng ảnh hưởng tới các em trong việc tìm kiếm những kiến thức về giải phẫu với mức độ mạnh chiếm 77%, ở khối 11 là 82% và khối 12 là 96% Điều này chứng tỏ truyền thông đại chúng có ảnh hưởng vô cùng mạnh tới các em học sinh lớp 11 và đặc biệt là 12.Hầu hết internet là nguồn cung cấp thông tin chính cho các em, tác động to lớn tới nhận thức và dẫn đến hành động của các em sau này
2.2 Về cơ quan sinh dục
“Cơ quan sinh dục hay còn gọi là bộ phận sinh dục là phần cơ thể của mỗi người mà dựa vào đó ta biết được người đó là nam hay nữ Cơ quan sinh sản của nam giới khác với cơ quan sinh sản của nữ giới Chức năng cơ bản của cơ quan sinh sản là giúp cho người ta có thể sinh con và cũng chính là nơi đem lại những khoái cảm về tình dục cho mỗi người Bởi vì cơ quan sinh sản
có nhiệm vụ duy trì nòi giống và đây cũng là nơi được xem như là phần riêng
tư nhất của mỗi người, cơ quan sinh sản cần được chăm sóc và bảo vệ cẩn thận” Theo sổ tay cho người làm công tác sức khỏe cộng đồng về cơ quan sinh sản và những điều cần biết về các bệnh lây truyền qua đường tình dục của FHI phối hợp với USAIDS
Cơ quan sinh dục là bộ phận vô cùng quan trọng đối với mỗi người Biết và hiểu rõ về bộ phận sinh dục là cách để bảo vệ sức khỏe của chính bản thân mình
2.2.1 Cơ quan sinh dục nam:
• Dương vật: là bộ phận đa chức năng, được sử dụng cho cả đi tiểu, phóng tinh và sinh hoạt tình dục
• Quy đầu: Là phần đầu của dương vật Đầu niệu đạo mở ra ở đây để nước tiểu hoặc tinh dịch đi ra Quy đầu thường chứa nhiều đầu dây thần kinh, đặc biệt là phía bên dưới và phần phía sau nơi có bao quy đầu dính với quy đầu khiến cho phần này rất nhạy cảm khi được kích thích Kích thích phần này có thể dẫn đến cực khoái và xuất tinh
Trang 37• Bao quy đầu: Là nếp da mỏng bao phủ quy đầu Thường thì lớp da này bị cắt bỏ vì các lí do tôn giáo, văn hóa hoặc vệ sinh
• Bao tinh hoàn (bìu): là môt túi da mỏng bên trong có hai tinh hoàn hình trứng, hơi dẹt Từ khi dậy thì trở đi tinh hoàn sản sinh ra tinh trùng Các tinh hoàn sản xuất ra hóc môn sinh dục nam và tinh trùng Để đảm bảo chất lượng tinh trùng, tinh hoàn phải duy trì ở nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ cơ thể
Đó là lý do tại sao nó nằm ngoài cơ thể Hơn nữa bao tinh hoàn có sức đàn hồi, khi trời nóng nó chảy xuống cho mát hơn còn khi trời lạnh nó co lên cho
đỡ lạnh để duy trì nhiệt độ cần thiết,
• Mào tinh: Phía trên của tinh hoàn có 2 bộ phận nhỏ được gọi là mào tinh Tinh trùng được sản sinh trong tinh hoàn đi vào mào tinh chờ chín Hai mào tinh là "phân xưởng" cuối cùng trong quá trình sản xuất và cũng là nơi lưu trữ tinh trùng
• Ống dẫn tinh: Các đường ống dẫn tinh đi từ mào tinh đến túi tinh
• Túi tinh: các tuyến này tiết ra enzymes và chất dinh dưỡng nuôi tinh trùng trưởng thành Các tinh trùng này không thể bơi ngay lập tức sau khi sinh ra mà chỉ bơi được sau khi xuất tinh Trước đó chúng di chuyển được là nhờ sự trợ giúp của các tế bào có lông rât mịn trong ống dẫn tinh
• Tiền liệt tuyến: Tuyến tiền liệt sản xuất ra một phần tinh dịch và bắt đầu quá trình cương cứng Nó chứa các van nhỏ ngăn không cho tinh dịch từ tinh hoàn và nước tiểu từ bàng quang hòa lẫn với nhau khi xuất tinh
• Niệu đạo: Đây là một ống rất bé bên trong dương vật, có nhiệm vụ dẫn nước tiểu từ bàng quang ra ngoài khi đi tiểu hoặc dẫn tinh dịch từ tiền liệt tuyến ra ngoài khi xuất tinh Đây là bước cuối cùng trong cuộc hành trình trên đường thoát ra ngoài của tinh trùng
Khi được hỏi về cấu tạo của cơ quan sinh dục nam bao gồm những bộ phận nào? Đã có 52/100 em trả lời là bao gồm tất cả các bộ phận được kể ở trên, có 30/100 em trả lời là cơ quan sinh dục nam có dương vật, bao quy đầu, mào tinh, niệu đạo Có 7/100 em trả lời là cơ quan sinh dục nam bao gồm:
Trang 38dương vật, bao quy đầu, ống dẫn tinh, tiền liệt tuyến và có 12/100 em trả lời
cơ quan sinh dục nam bao gồm: quy đầu, bao quy đầu, ống dẫn tinh, niệu đạo
ta có thể khái quát thành biểu đồ sau:
Biểu đồ 2.2.1.1: Mức độ hiểu biết về cấu tạo của cơ quan sinh dục nam.
Nhìn vào biểu đồ ta thấy, tại trường THPT Đại Mỗ có 52 học sinh có hiểu biết đầy đủ về cấu tạo cơ quan sinh dục nam và có 48 học sinh hiểu biết
ít về cấu tạo cơ quan sinh dục nam Từ đó chứng tỏ các em đã có những hiểu biết tương đối về cấu tạo của cơ quan sinh dục nam, điều này sẽ giúp cho các
em rất nhiều trong việc vệ sinh cá nhân cơ quan sinh dục của mình hàng ngày
để tránh các bệnh về đường tình dục
Biểu đồ 2.2.1.2: Mức độ hiểu biết về chức năng của cơ quan sinh dục nam
Khi được hỏi về chức năng của cơ quan sinh dục nam đã có 46/100 em trả lời đúng và đầy đủ, 54/100 em chọn các đáp án khác chưa đầy đủ và chưa chính xác về chức năng của cơ quan sinh dục nam Điều này cho thấy vẫn còn
Trang 39một số lượng lớn các em chưa có hiểu biết đầy đủ và chính xác về chức năng của từng bộ phận trên cơ quan sinh dục nam Như vậy, các em cần tìm hiểu thêm trên các phương tiện thông tin đại chúng khác thay vì chỉ tìm hiểu qua một kênh thông tin sẽ mang lại kết quả không chính xác.
2.2.2 Cơ quan sinh dục nữ:
• Môi lớn và môi nhỏ: Hai môi lớn ở ngoài và hai môi nhỏ nằm phía trong Môi lớn và môi nhỏ có tác dụng che chắn bảo vệ toàn bộ phần trong của cơ quan sinh dục nữ Vùng da bên ngoài của môi lớn và môi nhỏ có màu tương tự như màu da của người nữ, còn phần bên trong có thể có màu hồng, hoặc màu ghi, màu nâu, tùy theo từng cơ thể Hai môi nhỏ gặp nhau ở giữa, bọc lên phía trên của âm vật
• Âm hộ: Âm hộ, hay còn gọi là cửa mình, nằm bên phía trong thành môi nhỏ, phía dưới lỗ niệu đạo và phía trên hậu môn, là cửa dẫn vào âm đạo
• Âm vật: Âm vật là một khối mô cứng dài khoảng 1,5 cm, nằm ở giữa
và phía trên của âm hộ, đầu âm vật được che một phần bởi nơi hai môi nhỏ hợp lại Cơ quan này tương đương với quy đầu của nam, chỉ khác là nó có kích thước nhỏ hơn nhiều Nó có thể chứa đầy máu khi có kích thích tình dục, giống như sự cương cứng của dương vật Nó chứa nhiều đầu dây thần kinh và rất nhạy cảm Kích thích âm vật có thể dẫn đến cực khoái
• Âm đạo: Là một ống dẹt được bao quanh bởi các cơ Các mô cơ thành âm đạo có tính đàn hồi cao Mỗi phụ nữ có chiều dài âm đạo khác nhau, thương là 9-10 cm Âm đạo nối từ cửa âm đạo đến cửa tử cung Âm đạo là nơi đưa dương vật vào khi giao hợp và là nơi em bé đi ra trong quá trình sinh
nở Các tuyến trên thành âm đạo tiết ra chất bôi trơn âm đạo khi có kích thích tình dục
• Tử cung: Là một cơ quan hình trái lê do các cơ tạo thành Tử cung
mở ra âm đạo từ cổ tử cung Chức năng chính của tử cung là bảo vệ thai nhi phát triển bên trong Sau giai đoạn dậy thì, hàng tháng lớp niêm mạc tử cung hoàn thiện sẵn sàng cho việc mang thai Nếu không xảy ra thụ thai, lớp niêm
Trang 40• Vòi trứng: Hai vòi trứng theo cơ chế đón nhận và vận chuyển trứng (tế bào trứng) từ buồng trứng đến tử cung Mỗi bên tử cung có một vòi trứng Tinh trùng của nam và trứng thường gặp nhau trong vòi trứng (khi giao hợp
mà không có biện pháp bảo vệ), đó cũng là nơi dễ thụ thai
• Buồng trứng: Có hai buồng trứng ở hai bên tử cung Đó là những tuyến sinh dục của người phụ nữ và là nơi sản xuất ra tế bào trứng hay hóc môn sinh dục ơstrogen Mỗi người phụ nữ có hàng nghìn trứng, và thường thì chỉ có một trứng rụng hàng tháng từ khi dậy thì cho đến khi mãn kinh Mỗi người phụ nữ trải qua khoảng 350 lần rụng trứng như vậy trong toàn bộ cuộc đời
Biểu đồ 2.2.2.1: Thể hiện sự hiểu biết về cấu tạo của cơ quan sinh dục nữ
Khi được hỏi về cấu tạo của cơ quan sinh dục nữ bao gồm những bộ phận nào có 13 học sinh chiếm 13% trả lời là có môi lớn và môi nhỏ, âm vật,
tử cung, buồng trứng Có 17 học sinh chiếm 17% trả lời là có âm hộ, âm đạo, vòi trứng Có 38 học sinh chiếm 38% trả lời là có âm hộ, âm vật, tử cung, buồng trứng Có 42 học sinh chiếm 42% trả lời là có tất cả các bộ phận kể trên Như vậy có 42% các em được hỏi trả lời đúng và đầy đủ về các bộ phận của cơ quan sinh dục nữ chứng tỏ có 42% các em hiểu biết nhiều, còn lại 58% chọn các đáp án thiếu hoặc chưa chính xác như vậy các em đã hiểu biết ít về cấu tạo của cơ quan sinh dục nữ