1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VĂN CHÍNH LUẬN TRUNG ĐẠI VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC – TIẾP BIẾN VÀ PHÁT TRIỂN

140 446 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 3,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN CHÍNH LUẬN TRUNG ĐẠI VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC 2.1 Văn chính luận trung đại Việt Nam và Trung Quốc trên bình diện văn hóa xã hội ...5 2.1.1 Thời trung đại Trung Q

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

KHOA SƯ PHẠM

VĂN CHÍNH LUẬN TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

VÀ TRUNG QUỐC – TIẾP BIẾN VÀ PHÁT TRIỂN

NGUYỄN ĐỨC THĂNG

AN GIANG, 4-2014

Trang 2

Đề tài nghiên cứu khoa học “Văn chính luận trung đại Việt Nam và Trung Quốc – tiếp biến và phát triển”, do tác giả Nguyễn Đức Thăng, công tác tại Khoa Sư phạm thực hiện Tác giả đã báo cáo kết quả nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học An Giang thông qua ngày 27 tháng 5 năm 2015

Trang 3

Về nội dung, tư tưởng yêu nước trong văn chính luận trung đại Việt Nam thể hiện nhận thức, quyết tâm bảo vệ chủ quyền độc lập của tổ quốc và tự do dân tộc Thực thi sứ mệnh thiêng liêng, cao

cả và khó này, văn chính luận kêu gọi, ngợi ca dân tộc đoàn kết, tướng sĩ một lòng quyết tâm đánh bại quân thù Thậm chí, chúng ta còn mở những cuộc chinh phạt Trung Quốc nhằm phá tan âm mưu xâm chiếm tổ quốc Việt Nam của kẻ thù

Về nghệ thuật, văn chính luận trung đại Việt Nam chủ yếu sử dụng ngôn ngữ chữ Hán để truyền đạt tư tưởng, bày tỏ lập trường và tranh biện nhằm khẳng định và thực thi chân lí Vì thế, thông qua những áng văn chính luận, các nhà ngoại giao vừa thể hiện trình độ Hán học uyên thâm vừa thể hiện sự sáng tạo, linh hoạt, sâu sắc trong sử dụng Hán ngữ tạo sức mạnh, sức thuyết phục trong tranh biện Đặc biệt dưới thời Tây Sơn, xuất hiện một số văn bản chính luận viết bằng chữ Nôm rất giàu cảm xúc và hình tượng; đồng thời thể hiện sâu sắc chính kiến, tư tưởng và có tính chiến đấu cao

Tóm lại, văn chính luận trung đại Việt Nam không chỉ có ý nghĩa trong bồi dưỡng, phát triển

tư tưởng dân tộc mà còn có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình văn học sử Việt Nam

Từ khóa: Văn chính luận trung đại, tiếp biến và phát triển, tư tưởng, thể loại, tiến trình

Trang 4

ABSTRACT

Name of the thesis

“The literature of Political Commentary in the medieval times of Vietnam and China – acculturation and development”

The implement of themes “The literature of Political Commentary in the medieval times of

Vietnam and China – acculturation and development” to cultural development of medieval holistic Vietnam from medieval literature Chinese To had used rhetorical aproach, methodology history, interdisciplinary methods, synthetic methods of analysis to confirm these objectives

In term of the content, patriotism thoughts in Vietnamese literature of political commentary

in the medieval times showed cognition and resolution in protecting the independent sovereignty of the country as well as the freedom of Vietnamese people To implement this holy, noble and tough mission, literature of political commentary both praised and appealed for people’s solidarity, the military all together had a determination to defeat the enemy We even extended many conquests in order to smash the Chinese invasion conspiracy

In term of art, literature of political commentary in the medieval times of Vietnam mainly used Han language to propagandize thoughts, to express viewpoint and debate in an attempt to declare and enforce the universal truth Therefore, by means of the political literary work, diplomats represented both their thoughtful qualification of sinology, their creation, flexibility and profound thinking in using Han language as a strength and convincingness during their debates Especially, during the times of the Tay Son Dynasty, the appearances of some political written texts using Nom language were conveying enormous emotion, rich in images and they represented deeply political views, nature, and had a highly heroic fighting spirit

In conclusion, not only has the literature of political commentary in the medieval times of Vietnam been playing a significant role in fostering, developing our people’s thoughts, it is also a specially important part in the history of Vietnamese literature

Keywords: holistic medieval literature, acculturation and development, thoughts, category, privatization process

Trang 5

CAM KẾT KẾT QUẢ

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các tài liệu, cũng như các kết quả nghiên cứu trong công trình là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

Trang 6

MỤC LỤC

Chương 1: GIỚI THIỆU

1.1 Tính cần thiết của đề tài .1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu .2

1.3 Đối tượng nghiên cứu .2

1.4 Nội dung nghiên cứu 2

1.5 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3

1.6 Phương pháp nghiên cứu……… ……… 4

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN CHÍNH LUẬN TRUNG ĐẠI VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC 2.1 Văn chính luận trung đại Việt Nam và Trung Quốc trên bình diện văn hóa xã hội .5

2.1.1 Thời trung đại Trung Quốc và Việt Nam đều lấy Nho giáo làm chỉ nam xây dựng đời sống tinh thần, thiết chế xã hội, nền nếp gia phong 5

2.1.2 Nội chiến và chiến tranh chống ngoại xâm, văn chính luận thể hiện tính ưu việt trong truyền bá tư tưởng, tập hợp lực lượng, công kích đối phương 12

2.1.3 Chiến tranh kết thúc, văn chính luận tiếp tục sứ mệnh lịch sử đối ngoại và đối nội 21

2.2 Văn chính luận trung đại Việt Nam và Trung Quốc trên bình diện lí thuyết lịch sử 27

2.2.1 Khái niệm về văn chính luận 27

2.2.2 Nguồn gốc, sự phát triển của văn chính luận .30

2.3 Văn chính luận trung đại Việt Nam qua các thời kì ……….….31

2.3.1 Văn chính luận trung đại Việt Nam trước thời khởi nghĩa Lam Sơn…… 31

2.3.2 Văn chính luận trung đại Việt Nam thời khởi nghĩa Lam Sơn………… ……… 32

2.3.3 Văn chính luận trung đại Việt Nam thời khởi nghĩa Tây Sơn.………… ……… 33

2.3.4 Văn chính luận trung đại Việt Nam thời thuộc Pháp……… ………… ……… 33

* Tiểu kết .34

Trang 7

Chương 3 VĂN CHÍNH LUẬN TRUNG ĐẠI VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC TIẾP BIẾN VÀ PHÁT TRIỂN Ở PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG TƯ TƯỞNG

3.1 Khẳng định tổ quốc dân tộc 35

3.2 Khẳng định văn hiến, đề cao nhân nghĩa .44

3.3 Khẳng định trí dũng, đề cao nhân dân .55

3.4 Luận bàn về phương cách nhằm phát triển kinh tế, tăng cường sức mạnh quân sự chiến thắng quân thù 63

* Tiểu kết 67

Chương 4 VĂN CHÍNH LUẬN TRUNG ĐẠI VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC TIẾP BIẾN VÀ PHÁT TRIỂN Ở PHƯƠNG DIỆN NGÔN NGỮ, THỂ LOẠI 4.1 Tiếp nhận Hán ngữ, phát triển ngôn ngữ dân tộc 69

4.2 Văn chính luận trung đại Việt Nam tiếp biến một số thể loại văn học trung đại Trung Quốc 73

4.2.1 Thể loại chiếu, cáo 73

4.2.2 Thể loại hịch 79

4.2.3 Thể loại biểu 84

4.3 Thư, luận, thuyết thành tựu độc đáo của văn chính luận Việt Nam 84

* Tiểu kết ……94

KẾT LUẬN .………95

TÀI LIỆU THAM KHẢO……….……… 98

PHỤ LỤC………103

Bài 1: Nam quốc sơn hà, Lí Thường Kiệt……….103

Bài 2: Phạt Tống lộ bố văn, Lí Thường Kiệt……….103

Bài 3: Hịch Tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn……….……103

Bài 4: Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi……… 111

Bài 5: Luân đài tội kỉ chiếu, Hán Vũ Đế……… 124

Bài 6: Lưu Hầu Luận, Tô Thức……… …127

Bài 7: Quá Tần luận, Giả Nghị………130

Bài 8: Cầu hiền chiếu, Hán Cao Đế……… … 135

Trang 8

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

Văn chính luận trung đại Việt Nam là một mảng quan trọng của văn học Việt Nam thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX nói riêng và toàn bộ nền văn học Việt Nam nói chung Nó góp phần quan trọng trong đấu tranh dựng nước, giữ nước và thể hiện sâu sắc tư tưởng của con người Việt Nam

Văn chính luận là một thể loại văn học, một thể tài báo chí; thường nêu các vấn đề có tính thời

sự về chính trị, kinh tế xã hội văn hóa, văn học, tư tưởng…Nhìn tổng quát có thể thấy:

Mục tiêu của văn chính luận là tác động đến dư luận xã hội đương thời, đến lối sống, đến các quyền lợi chính trị hiện hành; đề xuất việc củng cố hoặc thay đổi chúng cho phù hợp với quyền lợi giai cấp hoặc với lí tưởng xã hội, đạo đức Đối tượng của văn chính luận là toàn bộ cuộc sống quá khứ và hiện tại, cuộc sống cá nhân, đời sống thực và đời sống được phản ánh trong báo chí, nghệ thuật…chính luận là hành vi tranh đấu (ngấm ngầm hoặc công khai) về chính trị, tôn giáo triết học, tư tưởng; nó luôn mang tính định hướng phe nhóm, đảng phái, ý thức hệ Phong cách văn chính luận nổi bật ở tính luận chiến, tính cảm xúc; nó gần gũi với giọng điệu, kết cấu, chức năng của lời diễn thuyết”

(Nhiều tác giả, 2014, tr.1941-1942) Lịch sử văn học chính luận Việt Nam ghi lại nhiều tên tuổi lớn, như: Nguyễn Trãi, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Trường Tộ Lại có những tác giả văn chính luận viết không nhiều nhưng để lại những

tác phẩm xuất sắc, như Lý Thái Tổ với Chiếu dời đô, Lý Thường Kiệt với Nam quốc sơn hà, Phan Châu Trinh với Thư thất điều, Hồ Chí Minh với Tuyên ngôn độc lập Đó là những áng văn chính luận

bất hủ với thời gian

Khảo sát đề tài: “Văn chính luận Việt Nam và Trung Quốc- tiếp biến và phát triển”, chủ yếu nghiên cứu những đóng góp về nội dung - tư tưởng và nghệ thuật của văn chính luận trung đại Việt Nam Nghiên cứu những tiếp biến và phát triển chủ yếu đi đến luận bàn, khẳng định những tiếp biến

về tư tưởng, thể loại văn chính luận trung đại Việt Nam từ tư tưởng, thể loại văn chính luận trung đại Trung Quốc Những so sánh sát sao từng áng văn chương, từng giai đoạn của văn chính luận trung đại Trung Quốc và văn chính luận trung đại Việt Nam thì chưa thực hiện được như mong muốn vì hạn chế bởi thời gian, tư liệu Những công việc này sẽ được nghiên cứu trong thời gian tiếp theo

1.1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài nghiên cứu là một mảng quan trọng thuộc văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX

Tư tưởng văn học cổ trung đại có tầm quan trọng đối với đời sống văn hóa dân tộc, trong đó, phần đóng góp của văn chính luận rất lớn lao Đặc biệt, việc tiếp thu văn hóa Trung Quốc một cách chủ động, chọn lọc, sáng tạo; vận dụng Nho giáo chống phong kiến phương Bắc xâm lược đã làm nên những chiến tích trong lịch sử giữ nước và dựng nước Những điểm này đã làm nên màu sắc riêng biệt

và tính luận chiến sắc sảo của văn chính luận Việt Nam

Văn chính luận trung đại Việt Nam có tầm quan trọng đặc biệt trong giáo dục thế hệ trẻ nhận thức về chủ quyền độc lập, vun đắp, bồi dưỡng tinh thần yêu nước, khí phách anh hùng, rèn luyện

nhân cách Vì vậy, những bài văn chính luận tiêu biểu như: Chiếu dời đô của Lí Thái Tổ, Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm, Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi đã được đưa vào giảng dạy ở bậc PTCS

và PTTH Bộ phận văn chính luận này còn được nghiên cứu sâu trong chuyên đề Tác giả văn học trung đại Việt Nam ở bậc đại học Song song với việc nghiên cứu trong nhà trường, các học giả, các

nhà nghiên cứu tiếp tục có những phát hiện mới, những giá trị mới của văn chính luận cổ trung đại

Việt Nam Đến thời kháng Pháp, Nguyễn Đình Chiểu còn viết một số bài hịch nổi tiếng như: Thảo thử

Trang 9

hịch (Hịch đánh chuột), Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây (Hịch đánh Tây) Đặc biệt những bài luận thuyết Thiên hạ phân hợp đại thế luận của Nguyễn Trường Tộ, Thiên hạ đại thế luận của Nguyễn Lộ

Trạch thu hút sự chú ý giới trí thức cả nước Thể tài văn chính luận còn tiếp tục tồn tại, phát triển trong dòng văn học hiện đại sau này

Đề tài “Văn chính luận trung đạiViệt Nam và Trung Quốc- tiếp biến và phát triển” được tập trung nghiên cứu để khẳng định cha ông tiếp nhận văn hóa và những thể tài văn học của Trung Quốc, song trên tinh thần chủ động, chọn lọc, sáng tạo, và đặc biệt ý thức về sức mạnh của “đao bút” trong công cuộc chống ngoại xâm bảo vệ hòa bình, độc lập và xây dựng đất nước, văn chính luận đã trở thành công cụ chiến đấu bảo vệ trời Nam, dẹp yên cõi Bắc Đồng thời nghiên cứu còn đi đến khẳng định những đóng góp mới về tư tưởng và nghệ thuật của văn chính luận trung đại Việt Nam

Đề tài nghiên cứu thành công sẽ là một tài liệu cần thiết để học sinh, sinh viên, giáo viên THCS và THPT tham khảo

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu đề tài hướng tới các mục tiêu:

Văn chính luận trung đại Việt Nam tiếp nhận, kế thừa truyền thống của văn chính luận Trung Quốc Tuy nhiên, văn chính luận trung đại Việt Nam trong quá trình phát triển đã có những khác biệt văn chính luận của Trung Quốc

Những áng văn chính luận của Trung Quốc thường chỉ là những văn kiện chính luận, hành chính không hoặc có ít có giá trị văn học Văn chính luận của Việt Nam, tư tưởng chính trị, tinh thần chiến đấu và giá trị văn chương hòa quyện Vì vậy, nhiều tác phẩm văn chính luận của Việt Nam vừa

là những văn kiện lịch sử quan trọng lại vừa là những áng văn chương bất hủ

Đặc biệt, các thư từ luận chiến của Nguyễn Trãi với hàng tướng tá nhà Minh; thư từ bang giao của Ngô Thì Nhậm với nhà Thanh thể hiện sự tinh tế, sắc sảo, tầm vóc và vẻ đẹp tâm hồn, trí tuệ của con người Việt Nam Những áng văn đó được đánh giá mang vẻ đẹp thâm trầm, tinh tế, tích chứa sức mạnh và có giá trị triết lí sâu sắc

Như vậy, thực hiện đề tài nhằm hướng tới mục tiêu:

- Làm rõ những khác biệt của văn chính luận Trung Quốc và văn chính luận Việt Nam

- Khẳng định những đóng góp của văn chính luận Việt Nam trong lịch sử văn học dân tộc

- Khẳng định những giá trị về phương diện tư tưởng của văn chính luận Việt Nam trong xây dựng, vun đắp tình cảm yêu nước, tự hào và trong tranh biện, chiến thắng ngoại xâm

- Khẳng định những giá trị văn chương đặc sắc của văn chính luận Việt Nam

1.3 ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là mảng văn chính luận trung đại Việt Nam Cụ thể là những tác phẩm văn chính luận của các tác giả ở các giai đoạn chống quân Minh (tác giả Nguyễn Trãi); giai đoạn chống quân Thanh (tác giả Ngô Thì Nhậm); giai đoạn chống Pháp (các tác giả Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Đình Chiểu) Bên cạnh đó, một số bài văn chính luận trung đại của Trung Quốc cũng được đề cập, nghiên cứu để so sánh, đối chiếu

1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Nội dung nghiên cứu gồm 3 mục:

Trang 10

Những vấn đề chung về văn chính luận trung đại Việt Nam và Trung Quốc (chương 2) Văn chính luận trung đại Việt Nam và Trung Quốc tiếp biến và phát triển ở phương

diện nội dung - tư tưởng (chương 3)

Văn chính luận trung đại Việt Nam và Trung Quốc tiếp biến và phát triển ở phương diện ngôn ngữ - thể loại (chương 4)

1.5 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Đề tài “Văn chính luận trung đại Việt Nam và Trung Quốc- tiếp biến và phát triển” chưa được nghiên cứu tập trung ở trong nước cũng như ở nước ngoài

Tuy nhiên, những vấn đề liên quan đến nội dung đề tài, trong các công trình ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài đã có đề cập

1.5.1 Ở Việt Nam

Nghiên cứu văn chính luận của Nguyễn Trãi có thể kể đến các bài:

Trần Huy Liệu, “Quân trung từ mệnh tập”, bài viết đánh giá khái quát giá trị của hơn 40 bức

thư trong Quân trung từ mệnh của Nguyễn Trãi (ở thời điểm đó, năm 1960, mới chỉ phát hiện số thư

trong Quân trung từ mệnh là 40 bức thư)

Bùi Duy Tân, “Nguyễn Trãi- nhà văn chính luận kiệt xuất” (Tạp chí Văn học, số 4-1980) Bùi Văn Nguyên, “Quân trung từ mệnh, tập văn chiến đấu có ý nghĩa lịch sử quan trong ở thế

kỉ XV” (Văn chương Nguyễn Trãi, NXB ĐH & THCN, H.1984)

Phạm Tuấn Vũ, Văn chính luận Việt Nam thời trung đại, NXB KHXH, 2010 Đây là công

trình nghiên cứu khái quát về văn chính luận trung đại Việt Nam Công trình này chưa chú trọng tính chất tiếp biến phát triển của văn chính luận trung đại Việt Nam- Trung Quốc

Nghiên cứu văn chính luận thời Tây Sơn , có thể kể đến các bài:

Mai Quốc Liên, Ngô Thì Nhậm (1746-1803) nhân vật lịch sử và văn hóa kiệt xuất, Luận án tiến sĩ (in

lại trong sách Ngô Thì Nhậm tác phẩm, NXB Văn học, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, 2001)

Nguyễn Đức Thăng, “Những áng văn chính luận đặc sắc thời Tây Sơn”, Chuyên đề tiến sĩ (Trường ĐHKH XH & NV đưa lên trang mạng w.w.w.Slideshare.net/hieplt)

Nguyễn Đức Thăng, “Văn chương bang giao Việt Nam- Trung Quốc thời Tây Sơn”, Kỉ yếu Hội thảo Những vấn đề lịch sử văn hóa Việt Nam và Trung Quốc, tháng 12 năm 2010

1.5.2 Ở nước ngoài

Sử kí Tư Mã Thiên, Nhữ Thành (dịch), NXB Văn học, H.1988 Đây là tác phẩm đồ sộ, một kì

thư của Trung Quốc, một trong những quyển cổ sử có tiếng nhất thế giới, gồm 52 vạn chữ, 130 thiên chia thành 5 phần: bản kỉ, biểu, thư, thế gia và liệt truyện Trong 5 phần này, những tư tưởng triết học, nhất là tư tưởng Nho giáo được tác giả ghi lại và các tác giả văn chính luận vận dụng trong sáng tác văn chính luận Trung Quốc và văn chính luận Việt Nam

Lixêvich (học giả người Nga, sinh năm 1932), Tư tưởng văn học cổ Trung Quốc, NXB Giáo

Dục, 2000 Sách tập trung nghiên cứu về tư tưởng văn học cổ Trung Quốc Tuy nhiên, sách có những chương thể hiện những tư tưởng triết lí quan trong, như: Chương 1 Đại đạo- con đường vũ trụ / Đức-

sự thể hiện của Đạo/ Văn- sự thể hiện của đạo trong ngôn từ Chương 2 Khí – sinh tạo và sáng tạo nghệ thuật Những chương này góp phần làm nền tư tưởng giúp người đọc hiểu sâu tư tưởng triết lí trong văn chính luận

Ngoài ra, những quyển sử quan trọng của Trung Quốc, như: Minh thực lục (ghi chép về mối quan hệ Trung Quốc và Việt Nam, TK XIV đến TK XVII), và Thanh thực lục (Ghi chép về mối quan

hệ nhà Thanh với Tây Sơn những năm cuối TK XVIII đầu TK XIX) là những quyển sử rất quan trọng

Trang 11

của Trung Quốc trong đó có ghi chép một số bài chiếu, hịch liên quan đến việc nhà Minh và nhà Thanh mở cuộc xâm lược Việt Nam

1.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp văn bản học: đối tượng nghiên cứu là những tác phẩm văn bản cố nên việc

nghiên cứu văn bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Nghiên cứu kĩ văn bản để hiểu rõ nguyên ngữ, văn cảnh, ý nghĩa của tư tưởng những học thuyết Trung Hoa trong truyền thống và sự di thực của những

tư tưởng ấy vào văn hóa Việt Nam, cho đến việc chí sĩ yêu nước Việt Nam vận dụng tư tưởng ấy một cách sáng tạo, độc đáo để bảo vệ nền độc lập và xây dựng đất nước

Đây là công việc rất khó trong tìm kiếm và khảo cứu tư liệu, cần thiết có sự hỗ trợ của các thư viện quốc gia và các nhà nghiên cứu đầu ngành Dự kiến công việc nghiên cứu như sau:

Phương pháp thực chứng lịch sử; nghiên cứu những sự kiện lịch sử để làm rõ văn chính luận

vừa phản ánh, soi sáng vừa dẫn dắt sự chuyển mình, vận động, định hướng đi của lịch sử thời đại

Phương pháp nghiên cứu liên ngành; vận dụng kiến thức liên ngành ngôn ngữ, văn hóa, triết

học văn học để khảo cứu những vấn đề khái quát và cụ thể của đề tài

Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích làm rõ những giá trị tư tưởng, nghệ thuật và

những đóng góp mới của văn chính luận Việt Nam, đồng thời tổng hợp, nhận định, đúc kết thành luận điểm

Phương pháp so sánh: so sánh tổng quát để ghi nhận những tương đồng và khác biệt của văn

chính luận Việt Nam và Trung Quốc

Trang 12

Nghiên cứu triết lí Nho giáo trong đời sống tư tưởng dân tộc Trung Quốc và dân tộc Việt

Nam, rất đáng chú ý đến là phần Hình nhi thượng- phần triết lí siêu hình, gồm những tư tưởng về sự

biến hóa huyền diệu của vũ trụ Ban sơ, vũ trụ chỉ là một khối hỗn mang, sinh hóa ra thái cực, thái cực phân chia sinh ra lưỡng nghi (âm dương), lưỡng nghi sinh tứ tượng, bát quái, ngũ hành, tương sinh tương khắc mà sinh ra vạn vật Con người cũng được sinh ra từ thiên lí ấy, nên sống phải hiểu mệnh trời, tuân mệnh trời (“Bất tri mệnh vô dĩ vi quân tử”- Khổng Tử) Nhưng mệnh trời là khối vô hình vĩ đại, nên có thể cải được mệnh trời Tóm lại, nội dung đề tài nghiên cứu sâu tư tưởng mệnh trời trong

Hình nhi thượng Hình nhi hạ dạy về đạo làm người rất chi tiết, sâu sắc với những điểm chính:

Quân tử - tiểu nhân: Nho giáo chia con người xã hội thành 2 hạng là quân tử và tiểu nhân Con người cần biết lễ, học và thực thi lễ vì nhờ lễ mà những tình cảm tốt đẹp của con người được khơi lên

và giúp con người sống tốt

Giữ “lễ” là biết sống đạo trung dung Trung dung là không thái quá, không bất cập Sống trung dung, tinh thần và thể xác con người luôn quân bình, mực thước; hành động luôn sáng suốt, đúng mực

Giữ “lễ” để biết định lẽ phải trái, tình thân sơ, trật tự trên dưới: trong đối nhân xử thế, biết phân định phải trái sáng suốt là việc làm hợp lễ; hiểu rõ tình thân sơ để có cách sống hợp đạo cũng là việc làm của lễ; biết vị trí của mình để xác lập tôn ti, trật tự trong gia đình và ngoài xã hội là sống trong vẻ đẹp của lễ Nhờ đó mà có tình yêu thương chan hòa, sự gắn kết con người không ngừng vun đắp, bản thân biết khắc chế để sống hòa hợp với mọi người, cách ứng xử này đúng tinh thần “khắc kỉ phục lễ”

Giữ “lễ” con người khắc chế lòng dục Dục vọng luôn thôi thúc con người tìm cách thỏa mãn

nó Chiều theo dụng vọng, con người sẽ đến bên bờ của hư hỏng Khắc chế dục vọng là con người đi vào cuộc chiến thường xuyên, trường kì với bàn thân Trong cuộc chiến này, nỗ lực của con người sẽ đưa chính họ đi trên con đường của lễ và tâm hồn sẽ thư thái, thảnh thơi “Lễ” không những đủ sức khắc chế dục vọng mà còn hướng dục vọng vào con đường cao thượng Như vậy, lễ và luật pháp đều nhằm ngăn chặn con người phạm điều xấu, tránh sự hư hỏng Con người dùng luật pháp để ngăn chặn

và trừng trị người phạm tội, trong khi có lễ có vẻ đẹp và chiều sâu lí tưởng của sự giáo hóa Đó chính

là tính ưu việt của lễ Hữu Tử, một đồ đệ của Khổng Tử nói: "Lễ chi dụng, hòa vi quý Tiên vương chi đạo, tư vi mỹ; tiểu đại do chi Hữu sở bất hành Tri hòa nhi hòa, bất dĩ lễ tiết chi, diệc bất khả hành dã" (Luận Ngữ, 1: 12 (Học Nhi) Chu Hi chú giải Việt ngữ: "Công năng của lễ cốt ở thực dụng tạo ra hòa hợp là điểm quý nhất Chính vì vậy mà các bậc tiên vương đã coi việc áp dụng lễ như là một sự cao quý, và giải quyết mọi việc lớn bé theo nghi lễ quy định Nếu chỉ có tinh thần hòa hợp mà không

có lễ thì khó mà thành công được) Mặt khác, lễ cũng có công năng giúp con người biết tiết dục: "Lễ

dã, nhân nhân chi tình nhi vi chi tiết văn, dĩ vi dân phòng giả dã (Tạm dịch: Từ tình cảm của con người, lễ khiến ta tiết độ, và như vậy, giúp người dân biết phòng ngừa)

Điểm quan trọng khác, “lễ” còn có vai trò lớn để quốc gia ổn định Tuân Tử coi công năng của

lễ như thể là quy tắc để ban phát bổng lộc, quyền lợi, cũng như trách nhiệm: "Người có đức, thì lẽ

Trang 13

đương nhiên phải có một địa vị tương xứng Và có địa vị, thì lẽ dĩ nhiên phải có bổng lộc xứng hợp

Mà bổng lộc thì phải tương xứng với cái công làm ra Lễ đối với việc quốc gia như quả cân và cán cân đối với sự nặng nhẹ, như dây và mực đối với đường thẳng và đường cong Cho nên người mà không

có lễ thì không sinh, việc mà không có lễ thì không nên, quốc gia mà không có lễ thì không yên (“Lễ chi ư chính quốc gia dã, như quyền hành chi ư khinh trọng dã, như thằng mặc chi ư khúc trực dã Có nhân vô lễ bất sinh, sự vô lễ bất thành, quốc gia vô lễ bất ninh” (Giản Chi & Nguyễn Hiến Lê, 2013,

Q Hạ, tr.563)

Bàn đôi nét về “lễ” không thể không nói đến chữ “nghĩa” Hơn nữa, Nho giáo của Trung Quốc

du nhập vào Việt Nam đã trở thành “Nho giáo Việt Nam” và chữ “nghĩa” có vị trí quan trọng đặc biệt Giáo sư Lương Duy Thứ cũng tán thành ý này và góp thêm suy nghĩ về phạm trù chữ “nghĩa” Ông viết:

Có thể chấp nhận quan điểm của giáo sư Nhật Bản Tsuboi Yoshiharu mà cũng là quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam rằng Nho giáo Việt Nam lấy chữ Nghĩa làm đầu (trong lúc đó Nho giáo Trung Quốc lấy chữ Trung làm đầu, Nho giáo Hàn Quốc lấy chữ Thuần làm đầu Tôi không hiểu Nho giáo ở Nhật Bản, ở Hàn Quốc nhưng tôi bày tỏ lòng kính trọng đối với giáo sư Tsuboi Yoshiharu vì ông đã thông cảm với người Việt Nam trong hoàn cảnh khác người Nhật, người Hàn là luôn luôn bị phương Bắc đe doạ và Nho giáo đến với dân tộc chúng tôi như một lý thuyết của thể chế cai trị và người Việt Nam đã khôn khéo tiếp biến nó để chống lại sự xâm lược, tăng thêm nội lực của nền văn hoá dân tộc Chính vì được sản sinh trong hoàn cảnh như vậy cho nên người Việt Nam đề cao chữ “nghĩa”, là một phạm trù đạo đức của Nho giáo và cả của Mặc gia trong đó nhấn mạnh sự đoàn kết tương thân tương ái và còn nhấn mạnh cả kỷ cương trong quan hệ giữa cộng đồng và cá nhân Chữ nghĩa gồm phần trên là chữ “Dương” với thuộc tính cộng đồng, phần dưới là chữ “Ngã” với thuộc tính cá thể Như vậy “nghĩa” là một phạm trù đạo đức xác định sự gắn kết giữa người với người trong yêu cầu đặt lợi ích cá nhân dưới lợi ích cộng đồng

(Nhiều tác giả, 1990, tr.355)

Các triết gia Trung Quốc như Khổng Tử, Mạnh Tử…đều có đề cập đến phạm trù “nghĩa” Khổng Tử coi “nghĩa” gần với “nhân”, “nghĩa” gắn liền với “nhân” Nếu như “nhân” là yêu người muốn yêu người thì phải hiểu người Nội dung của “nghĩa” nhấn mạnh ở việc cư xử cho thích hợp (với người) Như vậy phải hiểu người để yêu người như là điều kiện bắt buộc Mạnh Tử, người kế tục

tư tưởng của Khổng Tử về nhân, nghĩa để hướng đến thực hiện công bằng Mối quan hệ nhân nghĩa đối với Mạnh Tử, đó là sự hòa quyện thâm sâu từ bên trong nhưng hướng ra bên ngoài, biểu lộ cụ thể

để thực hiện “nghĩa” Trong chương Cáo Tử, ông nói:

“Có tước của trời, có tước của người Nhân, nghĩa, trung, tín, vui làm điều thiện mà không thấy mệt, đó là tước của trời Công khanh, đại phu, đó là tước của người Người đời xưa sửa tước của trời (tức là sửa đức hạnh) mà tước của người tự nhiên tới; người đời nay sửa cái tước của trời để cầu cái tước của người rồi lại bỏ cái tước của trời đi, mê muội đến thế là cùng, thế nào rồi cũng mất mà thôi”

Như vậy, thực hiện nhân, nghĩa, trung tín là tác động đến Thiên mệnh, phù hợp Thiên mệnh tạo ra những chuyển biến tích cực tạo sự hòa điệu giữa bộ máy đất trời Mạnh Tử cũng khẳng định

Trang 14

nhân, nghĩa được biểu lộ bằng đức độ và định hướng, điều khiển việc làm Có lần ông thẳng thắn mắng những kẻ tước cao mà đức thấp: Kẻ kia cậy ở sự giàu có của nó, ta đây cậy ở cái nhân của ta; kẻ kia cậy ở cái tước của nó, ta đây cậy ở cái nghĩa của ta; ta có điều gì thua kém đâu: “Bỉ dĩ kì phú, ngã

dĩ ngô nhân; bỉ dĩ kì tước, ngã dĩ ngô nghĩa; ngô hà khiểm hồ tai?” (Giản Chi & Nguyễn Hiến Lê, tr.582-583)

Nếu như Mặc Tử muốn duy trì một trật tự xã hội đã đề xuất qui tắc “thiên hạ có ba bậc đáng tôn”: tước, tuổi và đức Ở triều đình không gì đáng tôn bằng tước Ở hương đảng không gì đáng tôn bằng tuổi Giúp đời mà trị dân không gì đáng tôn bằng đức Mạnh Tử không cho như vậy là đúng, ông quan niệm đức phải đặc biệt được coi trong để duy trì xã hội Khi một môn đệ là Đào Ứng hỏi:

Vua Thuấn làm thiên tử, ông Cao Dao coi về hình phạt, nếu ông Cổ Tẩu là cha vua Thuấn giết người thì xử cách nào?

Mạnh Tử đáp:

Cứ theo phép mà thi hành chứ có gì đâu! Vậy vua Thuấn không cấm ư?

Vua Thuấn cấm làm sao được? Phép truyền thụ từ đời nọ sang đời kia là phép công mà

Như vậy, dường như trên hai ngàn năm trước để thực hiện nghĩa tạo lập xã hội công bằng, Mạnh Tử muốn đề nghị chủ nghĩa “tam quyền phân lập”, chủ nghĩa bình đẳng trước pháp luật và tinh thần lập hiến trong chính thể quân chủ Đó là một tư tưởng mới, tiến bộ

Trong Hình nhi hạ, con người phải hiểu rõ tam cương, bao gồm:

Tam cương: ba giềng mối kết hợp các cá nhân để tạo nên một xã hội có trật tự Đó là:

Quân thần cương (đạo vua tôi): vua phải xứng đáng làm giềng mối để muôn dân nương tựa

Dân chúng phải tuyệt đối trung thành với nhà vua

Phụ tử cương (đạo cha con): cha phải hết lòng yêu thương con cái, là chỗ dựa vững chắc,

xứng đáng để con cái nương tựa Con cái phải yêu kính, hiếu thảo với cha mẹ

Phu thê cương (đạo vợ chồng): người chồng phải yêu thương, bao dung, chở che, nâng đỡ

người vợ Vợ có bổn phận thủy chung, yêu thương, chăm sóc chồng

Ngũ luân: đó là năm cách ăn ở cho hợp với nhân luân, thực hiện đạo làm người, gồm:

Đạo vua - tôi: vua hiền, tôi trung

Đạo cha - con: cha từ, con hiếu

Đạo vợ chồng: chồng xướng, vợ tùy

Tình nghĩa anh em: anh nhường, em kính

Trang 15

Tình bằng hữu: tin tưởng, giúp đỡ lẫn nhau

Ngũ thường: năm đức tính thiết yếu mỗi cá nhân phải trau giồi và thực hiện tốt trong cuộc

sống, gồm:

Nhân: là lòng thương người, thương mình; thái độ khoan dung, độ lượng trong cư xử giữa con

người với con người Sống với đức nhân là con người sống trong vẻ đẹp của đạo

Nghĩa: cách cư xử đúng phép với mọi người trong mọi hoàn cảnh; làm việc nghĩa là gắn với thi ân nên thường kèm theo sự tri ân Do vậy, trong thi ân, con người cần suy nghĩ, cân nhắc biết chọn chữ nghĩa làm đầu

Lễ: là sự cúng tế, tôn kính trời, tôn kính thần Lễ còn là nghi thức con người cần giữ trong giao

tế với người khác

Trí: là dùng sự hiểu biết, kinh nghiệm sống để xét người, xét hiện tượng, sự vật để có cách

hành xử khôn ngoan, hiệu quả

Tín: là sự thành thật với mình, với người để xây dựng lòng tin với người khác

Tam tòng: ba điều phải theo

Tại gia tòng phụ: khi ở nhà, người con gái chịu sự dạy dỗ và phụng dưỡng cha mẹ

Xuất giá tòng phu: khi lấy chồng, người phụ nữ phải theo chồng, phải làm tròn nhiệm vụ của

người vợ

Phu tử tòng tử: khi chồng chết, người phụ nữ phải thủ tiết nuôi con để giữ gìn phẩm hạnh cho

mình và cho con

Tứ đức: bốn đức tính người phụ nữ cần học ở nhà để chuẩn bị đi lấy chồng

Công: khéo léo trong công việc nội trợ Dung: vẻ mặt hiền hậu, dịu dàng Ngôn: nói năng nhỏ nhẹ, nghiêm trang Hạnh: tính tình thuần hậu, kín đáo

Trên là sự khái quát những điểm chính của Nho giáo Nho giáo Trung Quốc truyền vào Việt Nam từ đầu công nguyên trải qua các triều đại Lý, Trần càng ngày càng có ảnh hưởng sâu sắc Nhưng thế kỷ XV về sau, vào các triều Hậu Lê và Nguyễn mới hình thành một đội ngũ đông đảo các văn nhân học sĩ giải thích, bàn luận về Nho giáo Có thể thấy khuynh hướng chung là có cội nguồn Tống Nho nhưng cũng có cả Hán Nho, Đường Nho Tuy nhiên, chúng ta cũng cần lưu ý: đời Hán có số lượng nhà nho nhiều nhất và có khuynh hướng trọng sử, đề cao kinh Xuân Thu Đổng Trọng Thư là

Trang 16

người luận giải Xuân Thu kỹ càng nhất Ngoài ra còn có Tư Mã Thiên, Lưu Hướng, Lưu Hâm, Dương Hùng, Vương Sung… Vào thời Lê, các học giả Ngô Thì Du, Phạm Đình Hổ, Phan Huy Chú, Cao Bát Quát và sau đó Lý Văn Phức, Nguyễn Văn Siêu đều có xu hướng trọng Hán Nho, đề cao Xuân Thu học tập Sử Ký Mặt khác, nghiên cứu lịch sử triết học Trung Quốc, tác giả Giản Chi và Nguyễn Hiến

Lê ghi nhận:

“Tới thời Hán Vũ Đế (140-87), nhờ một danh nho là Đổng Trọng Thư ảnh hưởng Khổng học càng mạnh Vũ Đế nghe lời Đổng đặt ra nhà Đại học, nhưng vẫn không tin dùng hẳn Đổng Từ lúc đó, nhà Hán nửa dùng hình pháp của Thương Ưởng, Hàn Phi nửa dùng nhân chính của Khổng - Mạnh Chúng ta cần nhớ điều đó, vì từ trước người ta thường tin lầm rằng từ Hán cho tới Thanh, Trung Hoa chỉ dùng chính sách chính trị của Khổng Tử”

(Giản Chi & Nguyễn Hiến Lê, 2013, tr.537)

Thực ra ảnh hưởng của Nho giáo đến đời sống tư tưởng chính trị Trung Quốc rất lớn Nhưng sau Khổng Tử, tư tưởng của Lão Tử, Mặc Tử cũng đã đưa ra những giải pháp khác thảo luận, tranh biện, phản bác với Khổng Tử, đề xuất đường lối chính trị riêng của mình Lão Tử với chính sách “vô vi”, “bất thượng hiền”, “thực phú”…Triết học của Mặc Tử đậm màu sắc chính trị thể hiện qua các thiên: “Thiên chi”, “Kiêm ái”, “Thượng quỷ”, “Phi mệnh”, Tiết táng”, “Phi nhạc”, “Quí nghĩa”,

“Thượng hiền”, …nhất là chương “Thượng đồng” bàn nhiều về chính trị Tựu trung lại đường lối trị nước, trị dân của Khổng, Lão, Mặc và Thương Ưởng khác biệt ở chỗ cai trị bằng “vương đạo” hay

“bá đạo” Vương đạo là dùng đức trị Bá đạo là dùng lực trị “dĩ lực phục nhơn giả bá, dĩ đức phục nhơn giả vương” (Mạnh Tử, Công Tôn Sửu) Giáo sư triết gia Kim Định (1914-1997) trả lời câu hỏi: quyền bính thuộc về ai? Người có tài đức hay võ lực? Hoặc dòng tộc đã dựa vào năm nguyên tắc để phân định, đánh giá (Kim Định, Vương đạo hay bá đạo, Triết Việt- Tư tưởng VN, http:// new viettart)

Về nguyên tắc Thƣợng hiền:

Chủ trương chọn người hiền đức lo việc quân quốc là cách hành xử theo vương đạo trong thiên “Thượng hiền”, Mặc Tử quan niệm: “Thượng hiền sự năng vi chính” (tôn trọng người có đức, dùng người có tài năng làm chính sách là họ Mặc tỏ ra đồng tình với Khổng ở phương diện này Nhưng Lão Tử quan niệm khác hẳn Trong chương 3 của Đạo đức kinh, Lão Tử viết: “Bất thượng hiền, sử dân bất tranh; Bất quí nan đắc chi hoá, sử dân bất vi đạo Bất kiến khả dục, Sử dân tâm bất loạn Thị dĩ thánh nhân chi trị, Hư kì tâm, Thực kì phúc, Nhược kì chí, Cường kì cốt, Thường sử dân

vô tri vô dục, Sử phù trí giả bất cảm vi dã Vi vô vi, Tắc vô bất trị” (Nguyên văn chữ Hán:不尚賢, 使民不爭; 不貴難得之貨, 使民不爲盜; 不見可欲, 使 民心不亂 是以聖人之治, 虛其心, 實其腹; 弱其志, 强其骨 常使民無知無欲, 使夫智者不敢爲也, 爲無爲, 則無不治)

(Không đề cao bậc hiền tài, khiến cho dân không tranh giành; Không quí của khó đặng, khiến cho dân không trộm cướp không phô điều ham muốn, khiến cho lòng dân không loạn Vì vậy cái trị của thánh nhân, hư lòng, No dạ, yếu chí, mạnh xương, thường khiến cho dân không biết, không ham, khiến cho kẻ trí không dám dùng đến cái khôn của mình Làm theo vô vi, ắt không có gì là không trị)

Trang 17

Nho giáo bàn sâu về tư tưởng trọng hiền Mạnh Tử còn nói “lập hiền vô phương” (cắt đặt người hiền thì không kể đến phương, đến nơi xuất xứ) Mạnh Tử còn viết: “Tam đại chi đắc thiên hạ giả dĩ nhân, kì thất thiên hạ giả dĩ bất nhân (三代 之 得 天 下 也 以 仁 , 其 失 天 下 也 以 不 仁, ba đời vua trước được thiên hạ vì có đức nhân, mà mất thiên hạ vì không có đức nhân Những vị vua nhân đức là: nhà Hạ với vua Vũ, nhà Thương với vua Thành Thang, nhà Chu với Châu Công Những vị vua thất nhân mất nước là: vua Kiệt, vua Văn Võ, và vua U, Lệ)

Song song tư tưởng trọng hiền, Khổng Tử còn đề cao sự quan trọng của chức quan đại thần

Có người đặt vấn đề: Tại sao Vệ Linh Công vô đạo mà nước còn? Ông trả lời: Tại Linh Công biết giao cho quan đại thần cai trị Cụ thể Trọng Thúc Ngữ giữ ngoại giao Chúc Đà giữ nội vụ Vương Tôn Giả giữ bộ binh…vì thế mà nước còn Đó là tư tưởng quan cai trị, vua kiểm soát Tính chất quan trọng trong việc bảo tồn, chấn hưng dân nước đặt nơi quan không đặt nơi vua Do vậy, quan phải trung với đạo chứ không phải trung với cá nhân vua Sách Luận ngữ ghi rõ: “Dĩ đạo sự quân, bất khả tắc chỉ” (以道 事 君, 不 可 則止 , L.N,XI 23). Chủ trương này của Khổng được Mạnh Tử thể hiện mạnh

mẽ trong nhận định: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” Hoặc Tuân Tử cũng thẳng thắn: “Tru bạo quốc chi quân nhược tru độc phu” (giết ông vua tàn bạo một nước cũng giống như giết một kẻ độc phu)

Về nguyên tắc Giáo chi:

Khổng Tử có quan điểm mới mẻ, tiến bộ về giáo dục Ông khẳng định mọi người phải được học tập Đối với xã hội phong kiến đương thời, quan điểm này tạo một dư chấn mạnh nhằm xóa bỏ thực tế bất công, phi lí: giai cấp quyền quý độc quyền trong học tập Câu nói xuất sắc thể hiện quan điểm độc đáo của Khổng Tử về giáo dục: “Hữu giáo vô loài” (有教 無 類, LN, XV.38). Câu nói khẳng định trong việc giáo hóa không phân biệt giai cấp sang quý hoặc hèn hạ Nhận thức và đề xuất của Khổng Tử không chỉ đáng ghi nhận, biểu dương ở Trung Quốc đương thời mà đặt nó trong bối cảnh thế giới vẫn không thể không ngợi ca sự tiến bộ vượt bậc về tính cấp thiết toàn dân phải được học tập

Ở phương Tây cũng phải tới năm 1850, giáo dục mới mở cửa cho toàn dân Trái với tư tưởng của Khổng Tử, Lão Tử lại cho rằng dân không cần học, vì dân khó cai trị là do nó học biết “dân chi nan trị, dĩ kì trí dã” (Đạo Đức Kinh, chương 65, nguyên văn: 古之善爲道者, 非以明民, 將以愚之 民之難治, 以其智多 故以智治國, 國之賊, 不以智治國, 國之福 知此兩者, 亦稽式 常知稽式, 是謂玄徳 玄徳深矣, 遠矣, 與物反矣! 然後乃至大順. (Cổ chi thiện vi Đạo giả, phi dĩ minh dân, tương dĩ ngu chi Dân chi nan trị dĩ kì trí đa Cố dĩ trí trị quốc, quốc chi tặc; bât dĩ trí trị quốc, quốc chi phúc Trì thử lưỡng giả diệc kê thức Thường tri kê thức thị vị huyền đức Huyền đức thâm hĩ, viễn hĩ; dữ vật phản

hĩ, nhiên hậu nãi chí đại thuận)

Về nguyên tắc Phú chi:

Khổng Tử quan niệm chính quyền phải chăm lo cho dân Dân cần phải giàu lên: “Bá tánh bất túc quân thục dữ túc” (百姓 不 足 , 君 孰 與 足 (L.N.XII.9). Bá tánh không đủ ăn thì vua đủ ăn với ai? Mạnh Tử luôn đau đáu nỗi lo làm sao cho dân giàu? Tuy nhiên, điểm này Pháp gia có quan niệm trái ngược Họ chủ trương làm cho chúa giàu và dân yếu để dễ bề cai trị

Về nguyên tắc Lễ trị:

Trang 18

Khổng Tử đặt lễ ở góc độ đạo đức trong chủ trương coi trọng con người và không phân biệt quý tiện Giữ lễ là thể hiện đức của người quân tử: “Quân tử vô chúng quả, vô tiểu đại” (君子 無 眾 寡,

無 小 大, Người quân tử không phân biệt ít hay đông, lớn hay nhỏ, ở đâu cũng phải cư xử cung kính, trung tín LN, XX, 20) Một cách tổng quát, cách xử sự của người quân tử phải tuân thủ: "Cư xử cung, chấp sự kính Dữ nhân trung Tuy chi Di Địch, bất khả khí dã, 居處 恭, 執事 敬, 與人 忠, 雖之 夷 狄, 不

可 棄也 " (L.N XIII 19) Người quân tử cư xử phải tự trọng, khi thi hành việc (với người khác) phải kính tôn Đối với tha nhân phải trung tín Dầu có sang miền Di, Địch (mường rợ) cũng không thể bỏ được những nguyên tắc đó (Không được phân biệt Kinh với Thượng trong lối cư xử Ở đâu cũng là người cả)

Về nguyên tắc chữ Tín:

Trong sách Luận ngữ, Tử Cống hỏi Khổng Tử về việc chính trị nên như thế nào? Khổng Tử dạy: “Túc thực, túc binh, dân tín chi hỹ” (đủ ăn, đủ binh, dân tin mình vậy) Nhược bằng trong ba điều

ấy, bất đắc dĩ phải bỏ một điều, nên bỏ điều nào?- Bỏ việc binh

Còn hai điều nữa mà bất đắc dĩ phải bỏ đi một điều nữa thì nên bỏ điều nào trước?- Bỏ ăn Vì

bỏ ăn thì chết, nhưng xưa nay người ta vẫn chết, chứ dân mà không tin thì không sao đứng được” (Nguyễn Khắc Viện, 2000, tr.67) (L.N, XII,7) Theo Khổng Tử, lễ trị là lối cai trị coi trọng người dân, vì dân là người cộng tác với chính quyền Con người cộng tác với nhau chữ tín phải được tôn trọng, đề cao Người trên càng phải ý thức và tuyệt đối giữ chữ tín để có được sự cộng tác nhiệt tình của mọi người: “Thượng háo Tín tắc dân mạc cảm bất dụng tình” (上好 信 則 民 莫 敢 不 用 情, L.N, XIII)

Nhìn tổng quát vấn đề và như đã nói, đạo Nho vào Việt Nam đã có những biến đổi thành một

“Nho giáo Việt Nam” Giáo sư Trần Nghĩa đã có bài phân tích kĩ về “Quá trình hội nhập Nho – Phật – Lão hay sự hình thành tư tưởng Tam giáo Đồng nguyên ở Việt Nam” (Trần Nghĩa: http://www.vientriethoc.com.vn)

Bài viết đánh giá tổng quát tư tưởng Nho, Phật Lão hội nhập Việt Nam trong 20 thế kỉ (TK I đến hết TK XIX) Quá trình đó điễn ra như sau:

Nho giáo truyền vào Việt Nam từ đầu thế kỷ I Đến thế kỷ II, ngoài Nho giáo, Việt Nam còn

có Phật giáo Sang thế kỷ III, Lão giáo cũng đến Việt Nam Tuy nhiên, ba thế kỷ đầu, sự hội nhập của Nho, Phật, Lão vào Việt Nam nhưng ở thế “tam giáo đỉnh lập” (Nho, Phật, Lão tồn tại ở cái thế chân vạc; tồn tại độc lập, phân lập và có công kích nhau nhằm khẳng định tôn giáo của mình)

Đến thời nhà Đinh (bắt đầu từ năm 968 sau khi Đinh Tiên Hoàng dẹp yên loạn 12 sứ quân) đã

có vụ án phạm nhân bị kết tội “không trung hiếu thờ cha và trưởng huynh, lại có ác tâm Như vậy, phạm nhân bị kết tội và hành hình dựa trên lập trường của Nho và Phật

Đến triều Tiền Lê, nhà sư Pháp Thuận (915-990) trả lời vua Lê Đại Hành về phương cách giữ

ngôi báu bằng bài kệ Quốc Tộ Nội dung bài kệ nhấn mạnh: muốn xây dựng cuộc thái bình thì người

người ở chốn cung điện phải giữ thái độ vô vi, tức “vô vi nhi vô bất vi” (không làm gì mà không gì không làm – tức là làm tất cả trừ những việc trái đạo) Như vậy, từ đời Đinh, Tiền Lê đã có những dấu chỉ cho thấy Nho, Phật, Lão đã có sự dung hợp Có nhiều cách người ta diễn tả thực tại này: Tam giáo dung hợp, tam giáo hỗn dung, tam giáo nhất gia…

Sang đời Lý, đời Trần, đời Lê sơ…tùy thuộc tình hình xã hội và nhận thức của giai cấp thống trị mà vị thế của tôn giáo được đề cao Đời Lý tư tưởng của Phật Giáo, Lão giáo đặc biệt được chú

Trang 19

trọng Chẳng hạn thuyết “chân như diệu tính” được quan niệm như là bản thể của vũ trụ Hoặc từ đời

Lê Sơ, do nhu cầu xây dựng một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, Nho giáo được triều đình trọng dụng Nhưng Nho giáo Việt Nam ở thời điểm này có đặc điểm của Tống Nho Nếu như đời Hán (Hán Nho), Sách Đại học và Trung dung được gộp vào Lễ ký, Hán Vũ Đế đưa Nho giáo lên hàng quốc giáo và Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm thì đến đời Tống, Đại học và Trung dung được tách ra khỏi Lễ ký và cùng với Luận ngữ và Mạnh Tử tạo thành Tứ thư Tứ thư và Ngũ kinh là sách gối đầu giường của nhà nho Thời Tống nho có những tên tuổi lớn như: Chu Hy, Trình Hạo, Trình Di Phương Tây gọi Tống Nho

là Tân Khổng giáo Điểm khác biệt của Tống Nho với Nho giáo trước đó là việc bổ sung các yếu tố

“tâm linh” (lấy từ Phật giáo) và các yếu tố “siêu hình” (lấy từ Đạo giáo) phục vụ cho việc đào tạo quan lại cai trị

Nhận xét tổng quát về ảnh hưởng của Nho giáo đối với đời sống tư tưởng con người Việt Nam, có thể thấy:

Nỗ lực tìm hiểu, nghiên cứu Nho giáo Trung Hoa, nho sĩ Việt Nam hiểu sâu sắc triết lý về vũ trụ thể hiện trong hình nhi thượng và triết lý về nhân sinh thể hiện trong hình nhi hạ, từ đó có thể vận dụng những tinh túy của nho giáo vào chính sự cũng như trong sinh hoạt cuộc sống thường ngày trong gia đình và ngoài xã hội

Nho giáo Trung Quốc giao thoa với văn hóa Việt Nam – nền văn hóa trọng nghĩa tình đã biến

Nho giáo Trung Hoa vốn đặt chữ Trung làm tâm điểm thành Nho giáo Việt Nam coi chữ Nghĩa là cứu cánh

Tư tưởng Nho giáo Việt Nam chủ yếu là Tống nho, sắc màu đã có sự dung hợp giữa Nho - Phật - Đạo giáo; đồng thời Tống nho lại chịu ảnh hưởng bởi đời sống văn hóa Việt Nam nhất là lòng

ân tình nhân nghĩa sâu nặng của con người Việt Nam

Vì vậy, nghiên cứu văn chính luận trung đại Việt Nam dễ dàng nhận thấy các nhà ngoại giao như Nguyễn Trãi, Ngô Thì Nhậm đã vận dụng Nho giáo để chống xâm lược Song đồng thời cũng phải khẳng định phần đóng góp, sáng tạo lớn lao của các nhà nho- nhà ngoại giao đã có ý nghĩa sâu sắc trong đời sống tư tưởng của nho sĩ Việt Nam

2.1.2 Nội chiến và chiến tranh chống ngoại xâm, văn chính luận thể hiện tính ưu việt trong truyền bá tư tưởng, tập hợp quần chúng, công kích đối phương

Đối với Trung Quốc, trong văn chương có truyền thống quan niệm văn bắt nguồn từ tồn tại khách quan Đó chính là “Nguyên đạo”

Bàn về “Nguyên đạo”, nên bắt đầu từ Khổng Tử Trong Luận ngữ, ta thấy Khổng Tử đề cập

nhiều lần về Đạo, nhưng với lối giải thích hơi khác Đạo không huyền bí Đó là con Đường mà con người cần tuân theo, chính đạo đem đến hạnh phúc cho nhân loại Nếu Lễ là những qui định đạo đức

và nghi lễ, thì Đạo bao gồm cả những qui tắc về đạo đức của từng cá nhân và khuôn mẫu chính trị, những khuôn mẫu này sẽ tạo được phúc lợi cũng như sự tự hiện thực hoá bản thân cho từng cá nhân Khổng Tử nói “Sáng mà nghe Đạo, chiều chết cũng cam” Một khi con người biết Đạo rồi, tức

ta tự biết cái ngôi vị cao nhất của kiếp người Và giác ngộ - biết Đạo và nhập Đạo, đó là quá đủ, nếu

Trang 20

kỹ sự khác biệt giữa Đạo của Khổng Tử và Đạo theo quan điểm Đạo giáo về sau Trong bài “Nguyên Đạo” (bàn về nguồn gốc của Đạo), Hàn Dũ viết: “Bác Ái (yêu khắp mọi người) gọi là Nhân thi hành

ra cho đúng thì gọi là Nghĩa, theo đó mà làm thì gọi là Đạo Lòng mình đầy đủ không trông đợi bên ngoài thì gọi là Đức” Điều mà Lão Tử gọi là Đạo khác với cái Đạo Khổng Tử nói, điều mà ông gọi

là Đức thì khác với cái Đức các nhà nho gọi Đạo Đức theo Lão Tử là loại bỏ Nhân Nghĩa

Theo Hàn Dũ, cái Đạo lý tưởng ấy đã truyền thừa từ Nghiêu, Thuấn mãi đến Chu Công và rồi

đến Khổng Tử, Mạnh Tử Đạo ấy không phải là cái Đạo bất biến và cố định, mà là cái Đạo uyển chuyển thay đổi theo cá nhân và hoàn cảnh

Khổng Tử xem Đạo là uyển chuyển như vậy nên ông không buộc môn đệ phải trung thành mù quáng với vua chúa Một vị đại thần là phụng sự vua, nhưng việc phụng sự này xuất phát từ Đạo, chứ không phải vì bản thân nhà vua Nếu vị đại thần không thể khuyên bảo vua theo Đạo lý, thì vị ấy nên

từ quan: “Người được gọi là đại thần thì lấy Đạo mà phụng sự vua Nếu không được như vậy, thì hãy rút lui từ quan”

Tìm hiểu thêm về “Nguyên đạo”, Nguyễn Phúc Anh có bài viết “Thông diễn mới về thiên

nguyên đạo” trong Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp (Bài đã đăng kỉ yếu Hội thảo “Nghiên cứu và

đào tạo khoa học xã hội nhân văn ở Việt Nam: Thành tựu và kinh nghiệm”, Trường Đại học khoa học

xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội, tháng 11 năm 2010)

Trước hết, tác giả luận về khái niệm “nguyên” và “nguyên đạo” của Lưu Hiệp Hai chữ

“Nguyên đạo”xuất hiện đầu tiên trong sách Hoài Nam Tử 淮南子 (còn gọi là Hoài Nam Hồng Liệt 淮南鴻烈) do Hoài Nam vương Lưu An 淮南王劉安, người Đông Hán 東漢, và các môn khách của ông đứng ra biên soạn Ở đầu sách có một thiên tên là Nguyên Đạo huấn 原道訓 trình bày những ý tưởng của tác giả về Đạo Cao Dụ 高誘 chú thích cho hai chữ này: Chữ “nguyên” (原) trong “nguyên đạo” được sử dụng như chữ bản (本) nghĩa là gốc vậy Lấy gốc ở Đạo, bắt rễ ở Chân, ôm gọn cả thiên địa để xét khắp vạn vật cho nên mới gọi là “nguyên đạo”, nhân đó mới lấy hai chữ “nguyên đạo” để đặt tên cho thiên “Nguyên đạo huấn” ” Nội dung tư tưởng trong Nguyên đạo rất hàm súc: “Đạo cao đến mức không thể nào vươn đến được chiều cao của nó, nó sâu đến mức người ta không có cách nào lường được độ sâu của nó Đạo ôm gọn trong mình nó cả trời và đất, vạn vật đều được sự vô hình của

nó phú bẩm cho một hình hài Những nguồn nước chảy trên mặt đất, những dòng suối vọt ra từ các khe, ban đầu tất cả đều rỗng không, sau rồi mới dần dần đầy lên, ào ạt, gấp gáp, tuôn chảy không ngừng Cho nên đạo có thể lấp đầy khoảng giữa trời và đất, có thể đổ đầy bốn bể, lan xa đến tận cõi

vô cùng mà siêu việt thời gian không hề biết thế nào là sớm là muộn”

Tuy nhiên, vấn đề cần được quan tâm hơn đó là việc diễn dịch tổng thể về “Nguyên đạo” Trong Văn tâm điêu long Lưu Hiệp viết: “Tầm quan trọng Đức của văn thực là to lớn vậy Văn cũng ra dời một

lần với trời đất Tại sao lại nói như vậy? Từ khi trời (cái thắm sắc xanh), đất (cái thắm sắc vàng) từ chỗ còn hỗn độn đã tách ra làm cái thế vuông (đất) và cái thế tròn (trời), thì đã xuất hiện hai viên ngọc

là mặt trời và mặt trăng, nhằm nêu lên cái vẻ xán lạn của trời, cùng cái cảnh gấm vóc của núi sông để phơi bày cảnh tượng uy nghi của đất Những cái này đều là cái Văn của tự nhiên- tức là Đạo” (Lưu Hiệp, 1999, tr 125) Như vậy, Đức phát lộ từ văn thật lớn lao thay Mặt khác, trong muôn loài chỉ có con người mới có thể can dự vào sự hóa dục của đất trời; cũng chỉ có con người được hun đúc từ cái tính linh diệu của vũ trụ Vì vậy, con người được sánh ngang cùng trời đất trở thành một “tiểu vũ trụ”

và chung ngự cùng một hệ thống” Thiên - Địa - Nhân Từ cái lí tự nhiên đó, con người được tạo nên

Trang 21

từ cái khí thiêng của trời đất; cái khí thiêng ấy điều khiển các yếu tố ngũ hành hợp lại và con người hiện hữu (Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật

thiên lí ấy nên con người đã mang cái Tâm của trời đất (Dịch viết: Vô cực mà là Thái cực Thái cực động thì sinh dương; tĩnh thì sinh âm; tĩnh cực lại động, một động một tĩnh, cùng làm căn bản cho nhau Rồi khi đã phân chia ra âm, dương thì Lưỡng nghi thành lập Và đến lúc dương biến, âm lập thì thủy, hỏa, mọc, kim, thổ sinh ra…ngũ hành sinh hóa đều có tính duy nhất Cái chân không của vô cực, cái tinh chất của âm dương và ngũ hành tất cả phối hợp một cách kì diệu và kết tụ lại với nhau Thế rồi Đạo Kiến làm thành trai, Đạo Khôn làm thành gái…(Nguyễn Hữu Lương, 1992, tr.34)

Và khi cái Tâm của trời đất hình thành trong ta thì ngôn ngữ được sinh ra, đến khi cái Văn của con người có một hình thức biểu hiện là một diễn trình tự nhiên

Nhìn tổng quát nền văn chương cổ Trung Quốc có thể thấy: những câu chuyện về Thần Nông, Phục Hi được ghi lại trong Tam phần, nhưng năm tháng xa xôi nay đã thất truyền Văn chương đời Nghiêu, Thuấn ghi lại sự hưng thịnh của hai triều Đời Thương, đời Chu văn phát triển cực thịnh Đặc biệt thời kỳ này xuất hiện Chu Công là người đa tài đã ghi lại sự nghiệp chói lọi của nhà Chu Đến Khổng Tử, ông sửa sang tính tình, tu sức văn chương, giống như tiếng mộc đạc kêu vang, thiên hạ mọi người hưởng ứng Ông được ghi nhận là người luôn làm mới mẻ cái đức của đất trời, cảm hóa muôn dân trong thiên hạ

Xuyên suốt thời gian lưu giữ, phát triển, các bậc thánh nhân nỗ lực lấy cái văn bảo bọc cái đức, xem xét thiên văn để hiểu đến cùng cực lí trời, chiêm nghiệm cái thần linh diệu, tích tụ sức mạnh của nó trong giáo hóa thiên hạ và tác động sự vận hành vũ trụ theo nguyên lí của Dịch: “Cổ thiên hạ chi động giả tồn hồ từ” Từ chi sở dĩ năng cổ thiên hạ giả, nãi đạo chi văn dã “易”曰: 鼓天下之動者存乎辭 辭之所以能鼓天下者, 迺道之文也 Câu văn: “ Cổ thiên hạ chi động giả tồn hồ từ”, Lưu Hiệp trích dẫn từ trong “Hệ từ thượng” của Chu dịch: “Cực thiên hạ chi trách giả tồn hồ quái, cổ thiên hạ chi động giả tồn hồ từ 極天下之賾者, 存乎卦; 鼓天下之動者, 存乎辭” nghĩa “cái có thể cùng cực được đến những nơi bí ẩn nhất của thiên hạ nằm trong các quẻ của Dịch, cái có thể thúc đẩy sự biến động của toàn thiên hạ nằm trong những lời bình luận cho các quẻ của Dịch (Nguyễn Phúc Anh, 2011, Thông diễn mới về nguyên đạo)

Như vậy, Văn chứa Đạo là đạo của vũ trụ, tâm của đất trời nên tích chứa sức mạnh, sự vi diệu Chính vì vậy, nên trong văn chương còn lưu giữ bài văn tế sấu của Hàn Dũ, sáng tác năm 830, đại lược nội dung: bài văn nói về một thế giới hoang dã Và chúng ta có quyền uy hơn ngươi (chỉ loài sấu), hãy hiểu như vậy và hãy rời đi, nếu không chúng ta sẽ hủy hoại các ngươi Ở Việt Nam, năm

1282, thời vua Trần Nhân Tông (1279-1298), trong lúc nền ngoại giao Đại Việt và Mông Cổ có những đợt “sóng ngầm” (do cuộc chiến năm 1257, quân Mông Cổ bị thua trận phải rút về), nhưng chúng luôn có dã tâm xâm chiếm Đại Việt…Thời điểm đó, một sự việc xảy ra tại khúc sông Phú Lương (sông Hồng), một con cá sấu to lớn xuất hiện, phá phách thuyền bè và giết hại dân chài Vua Trần Nhân Tông bèn sai ông Nguyễn Thuyên làm bài văn tế bằng chữ Nôm thả xuống sông để đuổi sấu Quả nhiên, sấu bỏ đi nơi khác! (Bài văn có những câu: Thánh thần nối dĩ bản triều nay / Dấy từ Hải Ấp ngôi trời thay / Võ công lừng lẫy bốn phương tịnh / Biễn lặng, sông trong mới có rày Hùm thiêng xa dấu dân cày cấy / Nhân vật đều yên đâu ở đấy / Ta vâng đế mạng bảo cho mày / Hãy vào biển đông mà vùng vẫy– Nguyễn Thuyên)

Trang 22

Có lẽ xuất phát từ những quẻ của “Dịch” và “Dịch” với tính chất huyền vi, sâu kín; điểm đặc biệt của Dịch lại có thể vận dụng những “biến dịch” để giải thích, xây dựng những triết lí nhân sinh

Do vậy, con người nhận thấy việc nghiên cứu ứng dụng của Dịch dường như vô cùng Các nhà khoa học phương Tây cũng từng nghiên cứu Kinh Dịch và khẳng định những đóng góp lớn lao của Dịch Xin đề cập đến một số trường hợp:

Người thực hiện sớm nhất có lẽ là Leibniz, triết gia và toán học gia người Đức (1646-1716) Ông đã quan sát “Bát quái”, nghĩ ra phép nhị phân thay cho phép thập phân bằng cách chỉ dùng hai con số: 1 làm dương và 0 làm âm để mã vào máy tính điện tử Hai con số này thành mỗi nhóm 6 số và gồm 64 nhóm, khi có điện vào đèn bật là 1 và khi điện tắt là 0, cứ như thế để truyền tín hiệu

C.G.Jung- nhà phân tâm học người gốc Thụy Sĩ đã cùng với S.Freud lập khoa Phân tâm học (Psychanalyse) Ông cũng là bạn thân của R Wilhem, người đã dịch Kinh Dịch ra tiếng Đức Jung cho là có thể sử dụng Kinh Dịch để tìm hiểu tiềm thức con người

Lưu Tử Hoa, một nhà bác học người Trung Quốc sống ở Anh cũng đã vận dụng nguyên lí

“Bát quái” từ năm 1930, đã tìm ra quỹ đạo hành tinh thứ 10 trong hệ Mặt trời

Hai nhà vật lí học người Mĩ gốc Trung Hoa là Lí Chính Đạo (Tsung Tao Lee) giáo sư Đại học Princeton và Dương Chấn Ninh (Tchen Ning Ang) giáo sư Đại học Colombia đã tuyên bố nhờ nghiên cứu Kinh Dịch mà biết rằng trong thế giới điện tử, phía trái và phía phải không như nhau, dương thì 9

mà âm thì 6, có tỉ số là 3/2 Hai ông chứng minh khi hạt nguyên tử nổ thì làm bắn ra những li tử âm và

li tử dương, tia dương bắn xa hơn tia âm theo tỉ lệ 3/2 tạo ra định luật cơ ngẫu Hai ông đã được giải Nobel vật lí năm 1957

Các bác sĩ Tây Âu ngày nay muốn học qua Đông y đều phải thuộc lí thuyết sinh khắc của âm dương ngũ hành, đặc biệt là khoa châm cứu Họ đều ngạc nhiên về kinh huyệt có thể châm tê để giải phẫu một cách không đau cho người bệnh” (Nguyễn Hữu Lương, (1992), tr.15)

Dịch không chỉ tác động mạnh trong nghiên cứu khoa học và đặc biệt- như đã nói Dịch chi phối, tác động, dùng để giải thích, xây dựng những triết lí nhân sinh Nhân tử Nguyễn Văn Thọ và Huyền Linh Yến Lê đã bàn khá lí thú về vấn đề này trong Kinh Dịch Đại Toàn (http://nhantu.net/ )

Ta biết rằng Dịch có Thái Cực, Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái, Bát Quái sinh 64 Quái

Trang 23

giáng bản lưu mạt. Từ Vạn Vật, trở ngược về Bản thể, hay nói cách khác từ 64 quẻ trở về Tứ

Tượng, Âm Dương, Thái Cực gọi là chiều nghịch Đạo gia gọi thế là từ ngọn trở về gốc, là tự mạt phản bản

Như vậy chiều thuận sẽ sinh nhân, sinh vật, chiều nghịch sẽ sinh Thánh, sinh Thần

Vẽ ra đồ bản, ta thấy hai chiều thuận nghịch như sau:

Nhìn vào Tiên Thiên Bát Quái ta thấy hai chiều thuận nghịch như sau;

a)- Chiều thuận:

(Chiều thuận: từ Thái Cực tới Vạn Vật, từ khinh thanh (Càn) tới trọng trọc (Khôn)

b)- Chiều nghịch

(Chiều nghịch, từ Vạn Hữu trở về Thái Cực, từ trọng trọc (Khôn) trở về khinh thanh (Càn), từ khinh- thanh trở về Thái Cực) (Nguồn: http://nhantu.net/ )

Trang 24

Tác giả nghiên cứu, đúc kết và nhận xét bằng đồ bản sau:

Chiều nghịch:

Âm tiêu Dương trưởng Vật chất thoái Tinh thần tiến Thiên lý thắng Nhân dục vong Định luật cứu cánh (Từ quẻ Phục đến quẻ Kiền

để trở về Trung cung Thái Cực)

Chiều thuận:

Âm trưởng Dương tiêu Vật chất tiến Tinh thần thoái Nhân dục thắng Thiên lý vong Định luật nhân duyên chi phối (Từ Trung cung ra quẻ Cấn đến quẻ Khôn)

Vấn đề sẽ cụ thể hơn khi nghiên cứu Dịch tác động đến nhân sinh Nghiên cứu quẻ thứ 30 trong số 64, đó là quẻ Ly (離 li: Li vi hỏa), được cắt nghĩa là: sáng sủa, trống trải, trống trơn, tỏa ra, bám váo, phụ bám, phô trương ra ngoài

Giải thích rõ hơn:

Ly ở nơi quẻ Đơn, có nghĩa là lửa Nơi quẻ Kép có nghĩa là dựa nương Ly là dựa nương Mà

điểm tựa của con người là sự trung chính

Ly trong hư, ngoài cương; trong nhu thuận (Âm), ngoài văn minh, sáng láng Nếu tâm hồn con người luôn luôn thuận phục luật Trời, luôn luôn dựa nương vào sự công chính, thì sẽ một ngày một trở nên sáng láng Nếu xét về căn cơ nội tại thì:

Ly trong có 1 hào Âm, nên chính là Chân Âm, Tượng trưng cho Hồn, cho Tâm (cho lòng người)

Khảm trong có 1 hào Dương, nên chính là Chân Dương, tượng trưng cho Đạo Tâm, cho Thần (lòng Trời)

Trang 25

(Quẻ Ly đơn, hào giữa là Âm Tu luyện là biến Ly thành Kiền = thành Trời, tức là phải lấy

hào Dương của quẻ Khảm đơn, mà thay thế vào Hào Âm của quẻ Ly, vì Hào Dương của Khảm tượng

trưng cho Đạo tâm Phương pháp này gọi là Dĩ Khảm điền Ly.)

Như vậy rõ ràng Dịch chứa cái tâm của đất trời và có tác động sâu rộng, mạnh mẽ đến nhân sinh Còn “Văn” chứa Đạo là đạo của vũ trụ, tâm của đất trời nên tích chứa sức mạnh Quan niệm về văn ngày xưa đều thể hiện nội dung tư tưởng này

Đây chính là sự lặp lại của tư tưởng “Văn dĩ tải đạo” từ các nhà Lý học Trung Quốc Vấn đề này được bàn đến từ thời Tiên Tần Trong Kinh Dịch có quan niệm coi chữ viết là do thánh nhân làm

ra, thể hiện “đạo” Hệ từ hạ chương II – tiết 1 trong kinh Dịch chép:

Vua Phục Hy ngửa xem tượng trời, cúi xem phép tắc dưới đất, xem các văn vẻ của chim muông cùng những thích nghi của trời đất Gần thì lấy thân mình, xa thì lấy ở vật, thế rồi mới làm ra

Bát quái để thông suốt cái đức của thần minh và phân loại các tính của vạn vật

Thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, Lưu Hiệp (465 - 520) trong sách Văn tâm điêu long đã dành

chương “Nguyên đạo” bàn về mối quan hệ này Tác giả viết: “Đạo nhờ các thánh nhân mà thành văn chương, ngược lại các thánh nhân dùng văn để làm sáng tỏ đạo Làm như thế thì ở đâu cũng thông

suốt, không bị bế tắc, ngày nào cũng dùng mà không thấy thiếu” (Aristote, 1999, tr.125)

Thời Đường- Tống đã dấy lên một cuộc tranh luận về mối quan hệ giữa văn và đạo: Liễu Khai cho rằng: “Văn là cái nơm của Đạo”, Thạch Giới cho rằng: “Văn là cái dụng của đạo”, Lý Hán phát biểu: “Văn là khí cụ để quán triệt đạo” (Văn giả quán đạo chi khí dã) Liễu Tông Nguyên nói: “Văn là

để sáng tỏ đạo” (“Văn dĩ minh đạo”)

Các nhà Lý học đời Tống đã kết lại cuộc tranh luận này bằng quan điểm “Văn là phương tiện

chở đạo” (“Văn sở dĩ tải đạo dã”) Chu Đôn Di viết: Văn là để chở đạo Bánh xe, càng xe được trang

sức mà không dùng thì chỉ là đồ trang sức phí công, huống chi là chiếc xe không chở gì? Văn từ chỉ là

nghệ thuật thôi, đạo đức mới là thực Dốc sức vào cái thực rồi dùng nghệ thuật viết ra nó”, khẳng định

“Đạo là gốc rễ của văn Văn là cành lá của đạo Gốc rễ của nó là ở đạo, cho nên phát ra từ văn đều là đạo” (Theo Đoàn Lê Giang, 2008, TL giảng dạy Cao học)

Về tính ích dụng của văn chương, Vương Sung, đời Hán quan niệm: “Vi thế dụng giả, bách thiên vô hại; bất vi dụng giả, nhất chương vô bổ” (Có ích dụng cho đời thì văn chương trăm thiên cũng vô hại; không ích dụng cho đời thì một chương cũng vô ích) (Khâu Chấn Thanh, 1992, tr.9) Văn chương phải góp phần xây dựng con người và xã hội, chống cái ác, đem lại công bằng, hạnh phúc cho con người

Trong nền văn chương cổ Việt Nam, Nguyễn Trãi từng quan niệm về văn chương:

Văn chương chép lấy đôi câu thánh

Sự nghiệp tua gìn phải đạo trung Trừ độc, trừ gian, trừ bạo ngược

Có nhân, có trí, có anh hùng

Trang 26

(Bảo kính cảnh giới, bài 5)

Có thể xem bài thơ trên thể hiện quan niệm của Nguyễn Trãi về văn chương Văn chương phải làm nhiệm vụ “trừ độc, trừ gian, trừ bạo ngược; nên khi dùng “đao bút” thì phải dốc toàn tâm, toàn lực phát huy sức mạnh, sự linh diệu của văn chương trong trận chiến chính nghĩa khả dĩ bảo vệ vững chắc trời Nam và dẹp yên cõi Bắc Tư tưởng này Nguyễn Trãi đã bộc lộ trong cảm xúc của mình qua áng thơ:

Đao bút phải dùng tài đã vẹn Chỉ thư nấy chép việc càng chuyên

Vệ Nam mãi mãi ra tay thước Điện Bắc đà đà yên phận tiên (Bảo kính cảnh giới, bài 56)

Đến Ngô Thì Nhậm, không có những phát biểu trực tiếp của ông về văn chương, nhưng qua những đối thoại, những tư tưởng được bộc lộ ở thơ văn, ta thấy rõ Ngô Thì Nhậm ý thức về “văn chở đạo” và chức năng “đao bút” của văn thơ

Vốn xuất thân từ dòng dõi chưa bao giờ hết tiến sĩ, tài năng của Ngô Thì Nhậm được đánh giá

rất cao Phan Huy Ích trong bài tựa tập “Ngô Gia văn phái” hết lới ca tụng ông bạn tiến sĩ đồng khoa

và cũng là anh vợ mình: “Văn ông có ý tứ diễm lệ, vừa hàm súc, vừa phóng khoáng, càng ra nhiều lại càng hay, bao quát được bách gia, khu khiển được cửu lưu, tài uyên bác thông đạt trở thành ngọn cờ

chót vót giữa rừng nho chúng ta” Xét về tư tưởng của Ngô Thì Nhậm, trong bài Cô Châu, ông viết:

Nhân nghĩa vị cao, trung tín đà Niên niên phiếm tác Đẩu quang xa Tải đạo khứ lai, nhàn áp lãng Bình tâm hành chỉ, đẳng doanh khoa

(Nhân nghĩa làm con sào, trung tín làm bánh lái Đóng thành một chiếc bè, hàng năm giong lên vùng sao đẩu Chở đạo thánh hiền ung dung đè làn sóng mà qua lại

Khi bơi, khi nghỉ, vững lòng đợi nước đầy mà vững tiến)

Cộng tác với Tây Sơn, ngay những ngày đầu Ngô Thì Nhậm đã có vai trò rất quan trọng Khi

29 vạn quân Thanh tràn vào nước ta (ngày 28 thánh 10 năm Mậu Thân, 1788), Tôn Sĩ Nghị với chiêu bài phò Lê, chiêu bài nhân nghĩa “hưng diệt, kế tuyệt” (dấy nước đã diệt, nối dòng đã tuyệt); đồng thời phát “hịch” kêu gọi tướng sĩ Tây Sơn chống lại Tây Sơn dưới sự chi viện của quân “thiên triều” Tướng Tây Sơn Nguyễn Văn Diệm và Phan Khải Đức đóng ở Lạng Sơn, thấy hịch kinh sợ, quân lính

bỏ trốn quá nửa Khải Đức hèn nhát đưa thư đền cửa ải xin hàng Nguyễn Văn Diệm lui binh về Kinh Bắc đưa thư cấp báo

Ngày 25 tháng 11, quân Tôn Sĩ Nghị tiến đến Thị Cấu uy hiếp trực tiếp Thăng Long

Ngô Thì Nhậm thảo cho Ngô Văn Sở một bức thư (dưới tên Ngô Hồng Chấn), do Nguyễn Quí Nha, Trần Bá Lãm, Võ Huy Tấn…đem đến Nam Quan đề nghị “hoãn binh” Mặt khác, Ngô Văn Sở họp tướng lĩnh bàn cách đánh giữ Chưởng phủ Ngô Văn Dụng đem kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Minh, Nguyễn Trãi thường dùng kế “dĩ dật đãi lao” (lấy nhàn để đối phó với quân mỏi mệt) lập nên chiến công rạng rỡ muôn đời ngợi khen Ngô Văn Sở bối rối chưa biết quyết định thế nào Ngô Thì Nhậm phân tích thời cuộc bác lại ý kiến Nguyễn Văn Dụng Tuy nhiên, vấn đề thực không đơn giản, chỉ khi nội hầu Lân “một mình một ngựa thoát chết” từ bến Như Nguyệt về thì kế hoạch lui binh bảo vệ toàn quân “cho chúng ngủ trọ ở Thăng Long một đêm rồi lại đuổi đi” mới được Ngô Văn Sở tích cực thực hiện Sau này Nguyễn Huệ đã không tiếc lời khen ngợi: “Chịu nhịn để tránh sức mạnh ban đầu của chúng, đành hãy chỉnh đốn đội ngũ, rút về giữ chỗ hiểm yếu, trong thì khiến cho lòng

Trang 27

quân kích thích, ngoài thì khiến cho lòng giặc kiêu căng, đó là một kế rất hay” (Nguyễn Đức Vân & Kiều Thu Hoạch, (dịch) (1987), tr.305-306) Quả nhiên, quân Thanh vào Thăng Long bộc lộ rõ bản chất xâm lược và thái độ khinh thường Tây Sơn Cuối cùng, đội quân hùng hậu của Tôn Sĩ Nghị bị đòn phản công thần tốc của Quang Trung và đại bại thảm hại Trong chiến công chống giặc năm Kỷ Dậu (1789) có phần đóng góp quan trọng về chiến lược của Ngô Thì Nhậm

Quả thực, văn của Ngô Thì Nhậm “chở đạo thánh hiền, thong dong đè sóng mà đi lại” Và với chất đạo trong văn “lấy nhân nghĩa làm con sào, lấy trung tín làm bánh lái”, Ngô Thì Nhậm gián tiếp bộc lộ quan niệm “văn dĩ tải đạo” khá tiêu biểu cho quan niệm văn chương thời trung đại

Sau này Nguyễn Đình Chiểu cũng từng nhận định về văn chương phải chuyên chở đạo lí,

chống lại cái ác: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm / Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” (Than đạo)

Những tác phẩm tập hợp sức mạnh đoàn kết dân tộc và chống ngoại xâm có thể kể đến: Lộ bố văn (lời hịch của Lí Thường Kiệt trong cuộc Bắc phạt, năm 1075), Nam quốc sơn hà, Lí Thường Kiệt; Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn; Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi; Hịch Tây Sơn của Nguyễn Hữu Chỉnh, Hịch đánh Thanh, Hịch truyền quan lại, quân dân hai tỉnh Quảng Ngãi, Qui Nhơn của vua

Quang Trung…đều là những áng văn chính luận chan chứa tinh thần yêu nước, giàu giá trị nhân bản, rất đáng tự hào Tiêu biểu có thể nhắc lại Lời hiểu dụ của vua Quang Trung đọc tại Lễ Thệ sư, tổ chức

ở Thọ Hạc, Thanh Hóa, 1788:

“Đánh cho để dài tóc Đánh cho để răng đen Đánh cho chúng chích luân bất phản Đánh cho chúng phiến giáp bất hoàn

Đánh cho sử tri Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ”

Tƣợng đài Vua Quang Trung

Trang 28

2.1.3 Chiến tranh kết thúc, văn chính luận tiếp tục sứ mệnh lịch sử đối ngoại và đối nội

- Chính sách đối ngoại mềm mỏng, nhún nhường, linh hoạt nhưng kiên quyết dựa trên nền tảng văn hóa “chữ trí’, “chữ nhân”

Một nhận xét chung mà ai cũng thừa nhận là nước ta giáp ranh giới với Trung Quốc-một nước lớn gấp hàng chục lần Việt Nam nên việc bang giao vô cùng phức tạp Chẳng hạn, khi từ chối việc

vua nhà Nguyên bắt ép sang chầu, vua Trần Nhân Tông nước ta đã dùng câu thành ngữ “Phổ thiên chi

hạ, mạc phi Vương thổ, suất thổ chi tân, mạc phi Vương thần” để khéo léo từ chối, qua câu trả lời

trực tiếp với viên Sứ thần Thượng thư Trương Lập Ðạo: “Phàm suốt cõi trời nầy , chẳng có đất nào không phải là đất của Thiên tử; chẳng có dân nào không phải là dân của Thiên tử; vậy nước An Nam

là dân của Thiên tử, không có chí hướng nào khác Bởi vậy bốn biển là nhà của Thiên tử, tuy Cô

không đến chầu, nhưng cũng là thần dân của Thiên tử vậy” (Lê Tắc, 1012, quyển 3, chương Thượng

(Dẫn theo Hồ Bạch Thảo, Thanh thực lục, phần Thế Tông thực lục, quyển 31, tr 28-31)

Cuối cùng thì vua Ung Chính chấp nhận, nhưng không tuyên bố trả lại đất, mà nói rằng đem đất này thưởng cho An Nam Lời vua Ung Chính như sau: “Xem lời tâu của Vương, cảm ơn và hối lỗi, lời ý cung kính; khiến Trẫm đặc cách ban ơn lớn, lệnh Tổng đốc Vân Nam lấy 40 dặm đất, thưởng cho An Nam” (Dẫn theo Hồ Bạch Thảo, Thanh thực lục, phần Thế Tông thực lục, quyển 65, tr 12-17) Tuy nhiên, vấn đề không dừng lại ở đó Vì khi đã được Ung Chính trả đất, triều đình nhà Lê cũng không muốn có thêm những ghi nhận bằng giấy tờ để tránh căng thẳng Có ai ngờ sau 150 năm sau mấy từ “đặc cách ban ơn lớn” của vua Ung Chính còn gây hệ lụy

Sau hòa ước Thiên Tân, (Bản hòa ước được chính phủ Pháp và nhà Thanh kí vào năm 1885, sau chiến tranh Pháp – Thanh) Hai nước này đều tranh giành ảnh hưởng ở Việt Nam Pháp buộc quân Thanh phải rút khỏi Bắc kì và công nhận việc Pháp bảo hộ Việt Nam Hòa ước này cũng chấm dứt lệ triều cống của triều đình Huế ở địa vị phiên quốc đối với nhà Thanh.) Hai phái đoàn Pháp và Trung Quốc họp để xác định đường biên giới Phía Trung Quốc, Tổng đốc Vân Nam là Quí Châu Sầm Dục Anh bèn tâu về triều, viện lẽ trước kia Việt Nam là phiên thuộc của Trung Quốc, bấy giờ vua Ung Chính ban cho đất để làm phên dậu chế ngự các Di bốn phương; nay Việt Nam không còn là nước phiên của Trung Quốc nữa, nên cần phải lấy đất về:

Ngày 19 tháng 10 năm Quang Tự thứ 11 (25/11/1885)

Ngành ngoại giao thuộc Quân Cơ trao bản sao tờ tấu của Tổng đốc Vân Quí Sầm Dục Anh, xưng rằng:

Trang 29

Thần tra lại từ quan ải Mã Bạch là con đường trọng yếu đi vào Việt Nam, chỉ có đồn tấn gần biên giới, cách sông Tiểu Ðổ Chú khoảng vài dặm Ngoài ra vùng này địa hình bằng phẳng, ngã tư giao lộ, không có địa hình hiểm yếu để chặn giữ Từ Mã Bạch qua biên giới Việt Nam mấy chục dặm

có một địa danh là ngã tư mới Ðô Long địa hình vô cùng hiểm yếu, là một quan ải quan trọng bên ngoài biên giới Chốn này vốn nằm bên trong sông Ðại Ðổ Chú, biên giới cũ của Vân Nam bị mất vào cuối đời Minh Vào năm Ung Chính triều ta, viên Tổng đốc Cao Kỳ Trác, tâu xin tra khám, phụng chỉ thu về nội địa Sau vì nước Việt Nam đòi lại nên đã phụng chỉ ban cho 40 dặm ngoài đồn tấn Mã Bạch, nên Ðô Long lại thuộc Việt Nam, tỉnh Vân Nam thì lấy sông Tiểu Ðổ Chú làm biên giới

Thần nghĩ rằng khi Việt Nam là nước ngoại phiên của Trung Quốc, việc đem đất đai quan trọng cho nước phiên, là để giúp trấn giữ các di bốn phương, nên không cần phải thu về Hiện nay nước Việt không thể tự bảo vệ được mình, làm sao có thể giữ chỗ hiểm cho nước ta Nên chăng khi khám định biên giới, bàn việc lấy Ðô Long, Nam Ðan trở về, để làm vững bờ cõi cùng nhờ vào đó làm chỗ chặn giữ Cúi xin Thánh thượng phán xét, cùng kính cẩn kèm theo phụ bản tâu trình đầy đủ của Tuần phủ Trương Khải Tung cúi xin Thánh chỉ Cẩn tấu

Cuối cùng như ta đã biết, vùng đất rộng nằm giữa 2 con sông Ðỗ Chú thật (Sầm Dục Anh gọi

là Tiểu Ðổ Chú) và Ðổ Chú giả (S.D.A gọi là Ðại Ðổ Chú) đã bị đưa vào lãnh thổ Trung Quốc (Dẫn theo Hồ Bạch Thảo, Văn từ ngoại giao/ tp://www.vanchuongviet.org/index)

(Trước đây, đất biên giới tại hai châu Vị Xuyên và Thủy Vĩ bị Thổ ty Khai Hóa nhà Thanh xâm chiếm gồm 120 dặm Năm Ung Chính thứ 3 [1725] Cao Kỳ Trác, Tổng đốc Vân Nam nhà Thanh, lại tâu với vua Thanh là cương giới An Nam có chỗ xâm lấn vào biên cảnh nội địa, xin thi hành việc tra xét rõ ràng Việc này triều đình nhà Lê đã đưa thư sang biện bạch ; Khổng Dục Tuân, Tổng đốc Quảng Tây tâu bày đề đạt giúp, được vua nhà Thanh y cho Triều đình bèn hạ lệnh cho Hồ Phi Tích

và Vũ Công Tể hội đồng với viên quan phái ủy của nhà Thanh là Phan Doãn Mẫn đi đến nơi khám xét, hai bên vẫn giằng co nhau không giải quyết được Ðến nay có tờ dụ của vua Thanh đưa sang, triều đình bèn sai Ðình Ân đi hội đồng lập giới mốc ở dưới núi Xưởng Chì Ðất nước ta được nhà Thanh trả 80 dặm, còn 40 dặm là chỗ xưởng đồng vẫn còn chìm đắm vào phủ Khai Hóa” (Phan Thanh Giản, 1960, tr.456-457)

Bang giao với Trung Quốc là vấn đề phức tạp, nhiều tấm gương can trường, dũng cảm, tài trí trong ngoại giao để lại sự yêu mến kính phục và những bài học quý cho hậu thế về ngoại giao với Trung Quốc (những gương như Giang Văn Minh khi đi sứ nhà Minh, Minh Tư Tông muốn làm nhục

An Nam đã nêu vế đối: “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục” Giang Văn Minh dõng dạc đối lại: “Đằng giang

tự cổ huyết do hồng” Hoặc Trần Quốc Tuấn đã “gọt đầu dóc tóc” để gặp Sài Thung, và khi hiểu sự thật, một tên hầu của Sài Thung đã đâm mũi tên vào đầu Trần Quốc Tuấn đến chảy máu Trần Quốc Tuấn sắc mặt không đổi vẫn tiếp tục nghị sự)

Cha ông xưa đã đúc kết kinh nghiệm ngoại giao với phương Bắc “nên kinh thời kinh, nên quyền thời quyền”, nhưng nguyên tắc phải giữ, đó là: danh dự quốc gia không thể xúc phạm và quyền lợi quốc gia không thể xâm phạm”, nhất là lãnh thổ phải giữ gìn tuyệt đối Lời vua Lê Thánh Tông đã căn dặn: “Một thước núi, một tấc sông của ta lẽ nào tự tiện vất bỏ đi được Phải kiên quyết tranh đấu không để cho họ lấn dần Nếu họ không theo, còn có thể sai sứ sang tận triều đình cũa họ để biện bạch

rõ lẽ phải trái Nếu người nào dám đem một tấc, một thước đất của vua Lê Thái Tổ để làm mồi cho

Trang 30

giặc thì người ấy sẽ bị trừng trị nặng” (vietnamthuquan.net; Đại Việt sử kí thực lục, quyển 3a, nhà Hậu Lê, Lê Thánh Tông Hồng Đức năm thứ 4)

Những tác phẩm tiêu biểu: Biểu xin phong, Nguyễn Trãi, Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi), Biểu trần tình (Ngô Thì Nhậm),…

Một số trích dẫn để thấy chính sách đối ngoại mềm mỏng nhằm giữ hàa bình với phương Bắc

Chúng ta biết, từ khi được cử làm Tổng binh đàn áp lực lượng Lam Sơn, Vương Thông ba lần

bị đại nhục:

Lần thứ nhất: Mùa Đông năm Bính Ngọ (1426), quân Minh trên đất nước ta lâm vào tình thế rất khốn quẫn Để cứu nguy, tháng 10 năm đó, vua Minh liền sai Thành sơn hầu Vương Thông làm tổng binh, cùng với bọn tham tướng Mã Anh, đem năm vạn quân và năm ngàn con ngựa, tiến thẳng sang Thăng Long Nhưng, vừa sang đến nơi, Vương Thông đã bị thất bại thảm hại trong trận Tốt Động – Chúc Động Vương Thông bị trọng thương, sau đó, cố thủ trong thành Thăng Long và kêu cứu thảm thiết

“Vua (chỉ Lê Lợi) thân đốc suất tướng sĩ vây đánh thành Đông Quan (tức thành Thăng Long) suốt cả ngày đêm Bọn tướng nhà Minh là Vương Thông, Sơn Thọ đánh trận nào thua trận đó, lấy làm

lo sợ lắm Thấy hết cả mưu hay chước lạ, viện binh thì không đến, chúng bèn cho người mang thư tới xin hoà, mong được an toàn về nước Vua nói:

- Lời ấy đúng với ý ta Vả chẳng, binh pháp nói là không đánh mà khuất phục được đối thủ mới là kế hay nhất”.(Đại Việt Sử kí Toàn thư, Bản kỉ, quyển 10, tờ 25 a-b)

Lần thứ hai: Sau giảng hòa, Bấy giờ, bọn nguỵ quan là Đô ti Trần Phong, Tham chính Lương Nhữ Hốt, Đô chỉ huy Trần An Vinh… đã can tội bán nước làm tay sai cho giặc, sợ rằng sau khi quân Minh rút về, chúng sẽ không còn đất sống, nên cố ngấm ngầm làm kế phá hoại Chúng nói với quân Minh rằng:

- Trước kia, Ô Mã Nhi bị thua ở sông Bạch Đằng, phải đem quân về hàng Hưng Đạo Vương cũng cho hàng, nhưng lập mưu dùng thuyền lớn chở họ về nước, xong, lấy người giỏi bơi lặn làm phu chèo thuyền Thuyền ra đến ngoài biển, nhân lúc mọi người ngủ say, đang đêm, bọn phu thuyền lặn xuống, đục thủng đáy thuyền, làm cho những người đầu hàng đều bị chết đuối cả, không một ai sống sót trở về

Bọn Vương Thông tin lời ấy, bèn ngờ vực mà nảy ý khác, sai quân đắp thêm thành luỹ, đào hào và thả chông để tính kế chống đỡ, ngoài mặt nói hoà hiếu nhưng bên trong thì toan đánh lại Chúng bí mật sai người mang thư bọc sáp, theo lối tắt mà về nước để xin viện binh Vua bắt được người đưa thư, ghét chúng nuôi lòng tráo trở, liền bí mật mai phục khắp bốn phía thành Đông Quan, đón bọn giặc do thám, bắt được hơn ba ngàn tên và hơn năm ngàn con ngựa Từ đấy, quân Minh đóng chặt cửa thành, không dám ra ngoài, sứ giả hai bên qua lại cũng dứt”

Trang 31

Lần thứ ba: Cuối năm 1427, sau Hội thề, Vương Thông đã phải kí vào văn bản đầu hàng vô điều kiện và rút quân về nước Nguyễn Trãi theo lệnh Lê Lợi đã viết Đại cáo bình Ngô thuật lại chiến thắng oanh liệt của nghĩa quân Lam Sơn và sự thất bại thảm hại của quân giặc

Bình Ngô đại cáo thuật lại, Lê lợi chiến thắng quân Minh oanh liệt đến mức “Đô đốc Thôi Tụ

lê gối dâng tờ tạ tội, Thượng thư Hoàng Phúc trói tay tự xin hàng…Bắt tướng giặc mang về, nó đã vẫy đuôi phục tội, thể lòng trời bất sát, ta cũng mở đường hiếu sinh Mã Kì, Phương Chính cấp cho năm trăm chiếc thuyền ra đến bể vẩn hồn xiêu phách lạc Vương Thông, Mã Anh phát cho vài ngàn cỗ

ngựa về đến nước vẫn tim đập chân run…” (Cáo bình Ngô, Nguyễn Trãi)

Nhưng, sau đó khi xin nhà Minh sắc phong, ở bài Biểu cầu phong có lời lẽ khiêm tốn, nhún

nhường Trần Cao là người đứng tên bài biểu, đại lược nội dung có những đoạn:

“Khi vua Thái Tổ Cao Hoàng Đế mới nối ngôi, tổ tiên tôi là Nhật Khuê vào triều cống trước nhất, bấy giờ ngài có ban thưởng, phong cho tước vương Từ đó nhà tôi vẫn nối đời giữ bờ cõi, không

bỏ thiếu lễ triều cống bao giờ

…Nguyên lúc trước, vì trong nước có loạn, chạy trốn vào xứ Lão Qua, cũng là muốn làm chỗ yên thân mà thôi Không ngờ người trong nước, vẫn quen thói mọi, nhớ đến ân trạch nhà tôi thuở trước, lại cố ý ép tôi phải về Bất đắc dĩ, tôi phải theo

Dẫu rằng trong khi vội vàng, bị người trong nước cố ép, nhưng cũng là cái tội tôi không biết liệu xử Mới đây, tôi đã có xin lỗi trước hàng quân, nhưng không ai chịu nghe Bấy giờ người nước tôi

sợ phải tai vạ, liền đem nhau ra phòng bị ở các cửa ải, cũng là một kế giữ mình

Ngờ đâu quan quân xa xôi mới đến thấy voi sợ hãi, tức khắc vỡ tan Việc đã xảy ra như vậy, dẫu bởi sự bất đắc dĩ của người trong nước cũng là lỗi của tôi Nhưng bao nhiêu quân và ngựa bắt được, đều phải thu dưỡng tử tế, không dám xâm phạm một thứ gì

Dám xin hoàng thượng ngày nay lại theo như lời chiếu của vua Thái Tông văn hoàng đế, tìm lấy con cháu họ Trần, nghĩ đến cái lòng thành vào triều cống trước nhất của tổ tiên tôi ngày xưa, mà

xá cái tội to như gò núi ấy, không bắt phải cái phạt nặng bằng búa rìu, khiến cho tôi được nối nghiệp ở

xứ nam, để giữ triều cống…” (Biểu cầu phong, Nguyễn Trãi) (Trần Trọng Kim, 1962, tr.222)

Vua nhà Minh lúc bấy giờ là Tuyên Tông xem biểu biết rằng giả dối, nhưng cũng muốn nhân việc ấy kết thúc chiến tranh Tờ biểu được đưa xuống cho quần thần xem Mọi người đều tán thành Vua Minh sai quan Lễ bộ Thị lang là Lí Kì đưa chiếu sang phong cho Trần Cao

Đối chiếu nội dung bài biểu với quá trình kháng chiến và chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn

dễ dàng nhận thấy tính chất linh hoạt của văn từ mệnh Lời lẽ trong văn từ bang giao với thực tế lịch

sử đã có những “điểm uốn mềm mại” nhắm tới sự hòa hiếu và mục đích hòa bình bền vững Thực tế ở thời điểm này, ta là người chiến thắng, ta đã thu hoạch hoa trái từ cuộc chiến trải vô vàn đau thương, những “đau lòng nhức óc, nếm mật nằm gai”, những tình cảnh hiểm nghèo Lê Lai phải liều thân cứu chủ, những ngày tháng bị vây khốn trên núi Chí Linh phải giết voi chiến, ngựa trận cho quân sĩ cầm hơi…Dấu vết cuộc chiến, nỗi đau sinh li tử biệt…và bây giờ chúng ta cần nghỉ ngơi, cần xây dựng,

Trang 32

cần hòa bình, những áng văn từ mệnh phải thực thi cho được sứ mệnh thiêng liêng ấy dù cho chúng ta phải nén lòng, nhường nhịn ở văn từ

Sau này, trong những áng văn chương bang giao thời Tây Sơn khi đại thắng quân Thanh chúng ta cũng gặp cách ứng xử tương tự như vậy Vì đứng trước một tình thế phức tạp, bị thua nhục

nhã, Càn Long có thể huy động đại binh đánh phục thù Biểu trần tình của Ngô Thì Nhậm đã khéo

dẫn dắt để bắt Càn Long và triều thần phải “chuyển binh giáp thành hội áo xiêm” Quả thực, những áng văn từ mệnh thâm sâu, uyên áo, tinh tế của Ngô Thì Nhậm đã dẫn dắt đại cuộc một cách khéo léo, tài tình Từ việc ngăn chặn Càn Long động binh chín tỉnh kinh lí việc An Nam đến việc phong vương cho Quang Trung, an trí bè lũ Lê Chiêu Thống, đó là những cuộc đấu trí căng thẳng về ngoại giao mà Ngô Thì Nhậm đã đảm nhận thành công Trong sắc phong vua Quang Trung, chính Càn Long còn viết bài thơ ngự chế ban tặng tỏ lòng yêu quí vua Nam:

Bản dịch:

Ba lần dụng võ chẳng ưa binh, Năm ngoái An Nam lại viễn chinh

Không thể phò Lê, Lê kém đức, Đành phong họ Nguyễn, Nguyễn chân thành

Biên cương chớ để lờn ngoại tộc, Con cháu đời đời phụng Đại Thanh

Tắm gội ơn trên bền những gốc,

Trang 33

Giữ gìn thành nghiệp rạng công danh

(Nguyễn Thế Long, 2005, tr.45)

(Trích Cao Tông thực lục, Bản chữ Hán, tr.381 Bản dịch của Hồ Bạch Thảo)

- Chính sách đối nội nhân ái, bao dung, chú trọng xây dựng tình đoàn kết dân tộc, phát triển, nâng cao dân trí nhằm phát triển đất nước, tạo sức mạnh chống thù trong giặc ngoài

Chiến tranh gian khổ và việc kết thúc những cuộc chiến với Trung Quốc luôn vô cùng phức tạp Tình thế thêm một lần phức tạp vì dưới thời phong kiến các phe đảng rất nhiều nên công cuộc đối nội sau chiến tranh không hề đơn giản

Lịch sử ghi lại nhiều trang cảm động viết về tấm lòng nhân ái yêu thương dân của những vị vua đức hạnh Lê Thánh Tông là vị vua thánh đức ở ngai vàng gần bốn mươi năm (1469-1497), hai lần đổi niên hiệu [(niên hiệu Quang Thuận, từ 1460 đến 1469); niên hiệu Hồng Đức, từ 1470-1497)] Triều đại vua Lê Thánh Tông đã đưa đất nước phát triển đến đỉnh cao về nhiều mặt: chính trị, xã hội, kinh tế, quốc phòng, văn hóa Sử gia Ngô Sĩ Liên khen Lê Thánh Tông là “vua sáng lập chế độ, mở mang đất đai, bờ cõi khá rộng, văn vật tốt đẹp, thật là vị vua anh hùng tài lược”

Lịch sử ghi lại nhiều câu chuyện cảm động về lòng nhân ái của nhà vua

Mùa đông, tháng 10 (1b), vua bảo quan tả hữu: “Trẫm ở trong cung, sưởi than xương thú, mặc

áo lông chồn còn rét thế này, nghĩ đến người tù bị giam trong ngục, khổ sở vì gông cùm, chưa rõ gian ngay, ăn không no bụng, mặc không kín thân, khốn khổ vì gió rét, hoặc có kẻ chết không đáng tội, trẫm rất thương xót Vậy, lệnh cho Hữu ty phát chăn chiếu và cấp cơm ăn ngày hai bữa

Mùa hạ, tháng 4 (4b), vua ngự ở Điện Thiên Khánh xử kiện, khi thấy công chúa Đông Thiên đứng hầu bên cạnh, vua chỉ vào công chúa, bảo ngục quan: “Ta yêu con ta cũng như lòng ta là cha mẹ dân, dân không hiểu biết mà mắc vào vòng hình pháp, trẫm rất thương xót Từ nay về sau, không cứ tội nặng hay nhẹ, đều nhất luật khoan giảm” (Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử kí toàn thư, quyển 3a)

Lê Thánh Tông làm vua lúc 19 tuổi Một năm sau, khi trách lỗi cựu thần Ngô Sĩ Liên, Nghiêm Nhân Thọ, vị hoàng đế 20 tuổi bảo họ: "Ta mới coi chính sự, sửa mới đức tính, ngươi bảo nước ta là hàng phiên bang của Trung Quốc thời xưa, thế là ngươi theo đường chết, mang lòng không vua" Đó

là tiếng nói của một ý chí tự cường dân tộc, động lực mãnh liệt đưa Lê Thánh Tông đạt tới vinh quang trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước Việt Nam hồi thế kỷ 15

Đứng đầu Hội Tao Đàn, vua Lê Thánh Tông có những vần thơ vô cùng hào sảng, thể hiện khí phách một thời:

Nắng ấm nghi trượng tỏa trên ngọn cờ,

Khí thế ba quân át cày cáo

Phương đông mặt trời mọc, áng mây nhẹ trôi,

Trang 34

Phóng mắt ngắm núi sông muôn dặm

(Buổi sớm từ sông Cấm đi tuần biển Đông, Lê Thánh Tông)

Đến thời Tây Sơn, lịch sử ghi lại những nét đẹp về người anh hùng Nguyễn Huệ: “Ông

Nguyễn Huệ (sau đổi là Nguyễn Quang Bình) là một người có sức khỏe tuyệt trần, lại mưu trí, quyền biến, mẹo lược như thần, khởi binh ở đất Tây Sơn, giúp anh là Nguyễn Nhạc lập nên nghiệp lớn, được phong làm Bắc Bình Vương, đóng đô ở Phú Xuân” (Trần Trọng Kim, 1962, tr 369)

Năm 1788, quân Thanh dưới sự chỉ huy của Tôn Sĩ Nghị tràn vào nước ta, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế trực tiếp chỉ huy quân đội Tây Sơn đánh tan 29 vạn quân Thanh xâm lược Trong tờ

Chiếu lên ngôi, nhà vua thể hiện rõ thái độ thân dân, gần dân: “Trẫm là người áo vải ở Tây Sơn,

không có một tấc đất, vốn không có chí làm vua Chỉ vì lòng người chán ghét loạn lạc, mong có vị minh chúa để cứu đời yên dân Cho nên tập hợp nghĩa quân, xông pha chông gai, phá núi mở rừng, giúp Hoàng đại huynh giong ruổi binh mã, gây dựng nước ở cõi Tây, dẹp Tiêm La, Cao Miên ở phía Nam, rồi hạ thành Phú Xuân, lấy thành Thăng Long…” (Mai Quốc Liên (chủ biên) (2004) tr.172)

Bài chiếu mở ra ở tâm tình hoàng đế thân dân Đó là một vị vua áo vải, không tấc đất cắm dùi, nhưng đồng thời đó cũng là con người hùng võ có tài kinh bang tế thế Đặc biệt tấm lòng thương dân của nhà vua được biểu lộ bằng việc làm cụ thể Trong 5 điều nhà vua sẽ thực thi với dân để thống nhất lòng người, đánh đuổi ngoại bang, bước đầu xây dựng triều đại mới tiến bộ, thì điều thứ nhất:

“Các địa phương trong 13 đạo, thuế ruộng, thuế thân, thuế lực dịch về vụ đông năm nay, mười phần tha cho năm phần Những nơi bị binh hỏa làm điêu tàn, cho quan phân trì khám thực, tha miễn cho cả”

Sau Chiếu lên ngôi, các bài chiếu: Chiếu về việc ban ơn, Chiếu hiểu dụ các quan văn võ triều

cũ, Chiếu khuyến nông, Chiếu về việc lập nhà học, Chiếu cầu hiền, Chiếu về việc phát phối hàng binh người nội địa, Chiếu dụ giặc Tàu Ô,…Tất cả đều toát lên tình cảm thân dân, nỗ lực thống nhất đất

nước, tấm lòng nhân ái của nhà vua và những việc làm cụ thể để gìn giữ và phát triển văn hóa, nâng cao sự hiểu biết cho người dân

2.2 VĂN CHÍNH LUẬN TRUNG ĐẠI VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC, TRÊN BÌNH DIỆN LÍ THUYẾT LỊCH SỬ

2.2.1 Khái niệm về văn chính luận

Văn chính luận là “thể văn nghị luận viết về những vấn đề nóng bỏng thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau: chính trị, kinh tế, triết học, văn hóa Mục đích của văn chính luận là bàn bạc, thảo luận, phê phán hay truyền bá tức thời một tư tưởng, một quan điểm nào đó nhằm phục vụ trực tiếp cho lợi ích của một tầng lớp, một giai cấp nhất định Chính vì thế, tác phẩm chính luận bao giờ cũng thể hiện khuynh hướng tư tưởng, lập trường công dân rõ ràng Tình cảm sục sôi, luận chiến quyết liệt và tính khuynh hướng công khai là những dấu hiệu quan trọng của phong cách chính luận Tất cả những cái đó làm cho giọng điệu, cấu trúc và chức năng của lời văn chính luận gần gũi với giọng điệu, cấu trúc và chức năng của lời văn tuyên truyền, hùng biện

Đặc trưng cơ bản của văn chính luận là tính chất luận thuyết Văn chính luận trình bày tư tưởng và thuyết phục người đọc chủ yếu bằng lập luận, lí lẽ Văn chính luận đôi khi cũng tái hiện đời sống, miêu tả các tính cách và số phận chỉ nhằm mục đích đưa ra những ví dụ sinh động làm cơ sở cho lập luận thường là những hình tượng minh họa, nó chỉ chứa đựng nội dung

Trang 35

phổ quát của chủng loại, chứ không phải là hiện tượng tiêu biểu cho cái độc đáo không lập lại”

( Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, (2010), tr 400-401)

Các khái niệm về văn chính luận đã chỉ rõ những đặc điểm như tính chất luận thuyết, tính tư tưởng, thuyết phục người đọc bằng lo gich lập luận Trong lịch sử văn học Trung Quốc cũng như lịch

sử văn học Việt Nam, có thể thấy loại hình văn chính luận xuất hiện dưới những dạng sau:

1 Thư từ ngoại giao: những bức thư của Nguyễn Trãi trong Quân trung từ mệnh; những bức thư ngoại giao thời Tây Sơn

2 Các vấn đề đối nội với các thể văn hành chính: chiếu, cáo, hịch, tấu, biểu, bi văn (văn bia của Thân Nhân Trung)

3 Tập trung là loại luận, thuyết, nghị, sách (cũng thuộc thể loại văn chức năng nói trên nhưng tách ra): Thiên hạ đại thế luận và các điều trần của Nguyễn Trường Tộ; Thời vụ sách và các điều trần của Nguyễn Lộ Trạch

Để nhận xét những khác biệt giữa văn chính luận và văn xuôi tự sự (văn hình tượng), có thể so sánh tổng quát hai tác phẩm chữ Hán cùng xuất hiện vào thời nhà Trần Đó là tác phẩm chính luận

Hịch tướng sĩ văn của Trần Quốc Tuấn và tác phẩm văn xuôi tự sự Việt điện u linh của Lí Tế Xuyên

Tháng 12 năm Giáp Thân (1284), đời Trần Nhân Tông, đại binh Thoát Hoan tiến đánh Chi Lăng, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn thất thế đưa quân chạy về Vạn Kiếp Tại đây, Hưng Đạo Vương chiêu tập quân các đạo được hơn 20 vạn quân, thế lại nổi to Bấy giờ Hưng Đạo Vương soạn

quyển Binh thư yếu lược (兵書要略); đồng thời thảo bài Dụ chư tì tướng hịch văn (諭諸裨將檄文) thường gọi là bài Hịch tướng sĩ

Việt điện u linh của Lí Tế Xuyên viết năm 1329, ghi chép những truyền thuyết về các vị nhân

thần được thờ phụng tại các đền miếu ở Việt Nam Năm 1777, Lê Quý Đôn đếm được khoảng hơn 20 truyện trong Việt điện u linh tập, ông viết: “Đầu niên hiệu Khải Hiệu nhà Trần, Lí Tế Xuyên phụng

ngự chỉ soạn quyển Việt điện u linh, chép các việc thần dị, đền miếu, lịch đại đế vương 8 truyện, nhân thần 12 truyện và hạo khí linh tính” (Việt điện u linh, Lí Tế Xuyên, tr.8 Nguồn http://wwwlichsuvn)

Xét nội dung của Việt điện u linh, tác phẩm có giá trị tôn giáo, tác giả thể hiện niềm tin tưởng

vào linh hồn bất diệt của con người Theo tác giả thì thánh không xa lạ với chúng ta Thánh là những con người đã sống một đời sống siêu phàm, trong cần lao gian khổ, trong phục vụ tích cực và nỗ lực chống lại cái xấu trong xã hội và lòng dục quyến rũ bản thân mỗi người Thánh là những người đã sống trọn kiếp người, nỗ lực vươn tới tận cùng khả năng, giá trị của con người Đến mức độ đó thì giá trị con người tự nhiên vượt lên, siêu thăng vô hạn, họ nhập vào thế giới thiêng liêng, họ là thánh tiếp tục quảng bá, thi ân những giá trị nhân ái, cương thường Như vậy, những anh hùng là thánh, họ xứng đáng nhận được sự ngưỡng mộ thờ kính của người dân

Bên cạnh giá trị tôn giáo, Việt điện u linh còn có giá trị luân lí, giá trị lịch sử Lí Tế Xuyên tin

vào một quan niệm luân lí phổ biến: mỗi người có hoàn cảnh riêng, cách sống riêng, nhưng bao giờ

họ cũng đặt những giá trị tinh thần lên trên hết Ý thức cá nhân cao độ, con người phấn đấu sống khoan dung, nâng cao học vấn; kẻ sĩ rèn luyện nhân cách, khí chất, trau dồi văn hóa, tham gia chính trị làm việc ích quốc lợi dân

Truyện viết về Lí Thường Kiệt:

Tông bái chức Hiệu úy Thái bảo Ông làm quan kính cẩn, hành động đều tuân theo lễ pháp, không một mảy may lầm lỗi, ơn vua trao cho Tiết Việt, được đi kinh lí hai quận Thanh Hóa và Nghệ

An, coi dân đến năm huyện, nếu có kẻ nghịch mệnh thì ủy thác cho quan trấn trừng trị; riêng có nước Chiêm Thành nhác bỏ chức cống, vua phải thân hành chinh phạt”

Trang 36

Một đoạn văn ngắn chứa đựng rõ rệt những giá trị luân lí Lí Thường Kiệt đã nêu cao tấm gương ưu bác về học vấn, đồng thời ông cũng là con người mẫu mực, khuôn phép không bao giờ sai sót Ông hết lòng trong bổn phận, dốc hết khả năng phục vụ và cũng biết dừng lại trước những việc vượt khả năng mình Những bài học luân lí này luôn có giá trị và tính thời sự

Sau cùng, giá trị lịch sử: đó chính là việc quyển sách của Lí Tế Xuyên đã giúp chúng ta hiểu biết thêm về lịch sử đời Lí Trần

Về nghệ thuật miêu tả, tự sự, Lê Hữu Mục cũng đã có những nhận xét phù hợp (Việt điện u linh tập- Lí học Đông phương Nguồn: wwwlihocdongphuong.org.vn)

Kĩ thuật mô tả và tự sự, đây là điểm mạnh của tác phẩm: “Một phong cảnh đẹp, một ngôi đền

ẩn trong đám lá xanh, một dòng sông quanh co hay bóng dáng e ấp của một thiếu nữ, vẻ bệ vệ của một tiên ông, cách đi đứng hùng hổ của một võ tướng, Lí Tế Xuyên đều ghi chú trong một vài nét tinh tế”

Về tả cảnh, “cảnh thường có công dụng làm khung cho câu chuyện được xảy ra một cách tự nhiên Lí Tế Xuyên có một kĩ thuật tả cảnh nhịp nhàng Đây là cảnh Dâm Đàm (Hồ Tây), nơi đã xảy

ra câu chuyện Lê Văn Thịnh hóa cọp định hãm hại Lí Nhân Tông: Một hôm vua Nhân Tông ngự ra Tây Hồ xem cá, thuyền rồng thung dung, mái chèo khoan nhặt lượn chơi trên hồ rất vui vẻ; hốt nhiên thấy mây mù kéo đến trên mặt hồ mù mịt, đối diện không trông thấy nhau, vắng vẻ nghe tiếng cọc chèo vùn vụt lướt mù tiến đến, thấp thoáng có một con hổ lớn đang hé mồm nhe răng” (chuyện Mục Thận)…Hoặc cảnh hoang phế được Lí Tế Xuyên miêu tả với một niềm ngậm ngùi làm cho người đọc phải bâng khuâng Đây là ngôi nhà đổ nát của Lí Ông Trọng: “Nhân đó Triệu Xương mới hỏi thăm ngôi nhà cũ của Vương hồi xưa, chỉ thấy mù khói ngang trời; sông nước mênh mông, rêu phong đường xá, xanh rơi cụm hoang, một mảnh nhàn vân phất phơ trên đám cỏ thôn hoa rụng” (Chuyện Lí Ông Trọng)

Về tả người, Lí Tế Xuyên tả người qua dáng điệu linh động và mỗi người có ngôn ngữ riêng:

“Đêm ấy, Nguyễn Hỉ đang yên lặng nằm bên cửa sổ, hốt nhiên một trận thanh phong ào ào thổi đến, bụi cuốn cát bay, rèm lay án động, có một người cưỡi một con hươu trắng từ trên không chạy xuống, mày râu bạc phơ, áo xiêm sặc sỡ…” (Chuyện Tô Lịch) Y phục cũng đầy màu sắc: “Một người trạc chừng 60, đội mão giải trai, bận áo tử hà, thắt lưng, tay cầm đao Thanh Long Yển Nguyệt đến trước mặt vái chào…” (Chuyện Lí Hoằng) Đặc biệt tác giả có cảm hứng khi miêu tả vẻ đẹp, sức mạnh của người anh hùng lúc sinh thời Đây là hình ảnh oai hùng của Phùng Hưng: “Vương gia tư hào hữu, sức lực dũng mãnh, đánh được hổ, vật được trâu; người em tên là Hãi cũng có sức mạnh kì dị, vác được tảng đá nặng mười nghìn cân hay một chiếc thuyền con chở nghìn hộc mà đi hơn mười dặm” (Chuyện

Bố Cái Đại Vương) Tả sức mạnh của Lê Phụng Hiểu: “Vương thân hình cao đại kì dị; mày dài và rậm, sức mạnh hơn người…, Vương lấy tay nhổ cả khóm trúc mà đánh, không một người nào dám chống cự…” (Chuyện Lê Phụng Hiểu)

Về tả tình, Lê Hữu Mục qua nghiên cứu đã có nhận xét rất xác đáng: “Nghệ thuật tả tình của

Lí Tế Xuyên có nhiều điểm đặc sắc Tác giả chú trọng đến sự tương quan giữa thể chất và tâm hồn, sự thuần nhất của tình cảm trong thời gian, sự biểu hiện của tình cảm qua cử chỉ và ngôn ngữ” Mặt khác, sự sắp xếp tình tiết của truyện cho phù hợp với sự phát lộ của tình cảm

Nghệ thuật xây dựng đối thoại giữa các nhân vật cũng góp phần đáng kể tạo nét sinh động, linh hoạt của nhân vật

Đó là những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm văn xuôi tự sự (lối văn hình hình tượng) được viết bằng chữ Hán ở thời nhà Trần Nếu tiếp tục bàn về lối văn này ở thời nhà Lê tác

phẩm tiêu biểu là Hoàng Lê nhất thống chí của nhóm tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì chúng ta càng

thấy rõ những đặc sắc của lối văn hình tượng với thế mạnh của nghệ thuật tả cảnh, tả tình, dựng

những đoạn đối thoại Song ở thể văn chính luận lại hoàn toàn khác Tiêu biểu là bài Hịch tướng sĩ

Trang 37

của Trần Quốc Tuấn- tác phẩm viết dưới triều Trần, cùng thời với Việt điện u linh tập của Lí Tế Xuyên

Mấy lới giới thiệu của tác giả Trần Đình Sử về bài Hịch tướng sĩ đã cho thấy rõ về tính chất

khác biệt của hịch- thể văn chính luận với những tác phẩm văn xuôi tự sự (văn xuôi hình tượng):

“Hịch là thể văn nghị luận cổ xưa dùng để tập hợp lực lượng, lên án kẻ thù, kêu gọi hành động, răn dạy, vỗ về quân sĩ, dân chúng Người ta cũng gọi hịch là lộ bố, nghĩa là ban bố công khai cho mọi người ai nấy đều hay Hịch không phải là thể văn của thời bình, càng không phải

là thể văn của sinh hoạt đời thường Đó là thể văn được viết ra vào những thời khắc khủng hoảng, khi tổ quốc lâm nguy, gian đảng tiếm quyền hay tai họa khủng khiếp đe dọa tính mạng dân chúng, đòi hỏi mọi người đồng sức đồng lòng đứng lên khắc phục Để tập hợp mọi người, hịch phải có lập trường chính trực, quan điểm rõ ràng, chứng cớ xác thực, lời lẽ đanh thép Để kêu gọi hành động, hịch phải biết kích động tình cảm, lời lẽ thống thiết, gây niềm công phẫn, đau đớn, khiến người đọc có lương tâm không thể ngồi yên Xét các yêu cầu đó, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn là một kiệt tác vô song”

(Trần Đình Sử, 2001, tr.26-27)

Lời giới thiệu của Trần Đình Sử vầ tác phẩm Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, một áng văn

chính luận mẫu mực, xuất sắc đã chỉ rõ mục đích viết, nhất là phong cách chính luận với hệ thống luận điểm, luận cứ, cách luận chứng sắc sảo, đanh thép để phê phán, kết tội cái ác; nêu cao chính nghĩa, kêu gọi con người hành động, nó là sản phẩm của tư duy logic khác hẳn lối văn hình tượng như

Việt điện u linh là sản phẩm của tư duy hình tượng

2.2.2 Nguồn gốc, sự phát triển của văn chính luận

Văn chính luận có nguồn gốc từ đời sống xã hội và văn hóa Trung Quốc

Đối chiếu lịch sử văn học ở Trung Quốc: căn cứ một số bộ giáo trình lịch sử văn học, văn hóa

Trung Quốc, tiêu biểu như bộ Văn học sử Trung Quốc do Du Quốc Ân chủ trì, có thể thấy tiến trình

lịch sử văn học và sự xuất hiện các loại thể văn học như sau:

Thời Tiên Tần: thần thoại, kinh thi, văn xuôi lịch sử, văn xuôi chư tử, sở từ, li tao, phú

Thời Tần Hán: tản văn lịch sử (Lã Thị, Ban Cố), văn chính luận (Giả Nghị), từ phú, sử kí, phê bình văn học, nhạc phủ, thơ ngũ ngôn

Thời Ngụy Tấn: ca từ nhạc phủ, từ phú, thơ nhạc phủ, thơ điền viên, thơ sơn thủy, biền văn, văn xuôi, chí quái, dật sử, phê bình văn học

Thời Tùy Đường Ngũ Đại: thơ cổ thể, luật thi, cổ văn, truyện truyền kì, biến văn, tục phú, thoại bản, từ

Thời Tống: thơ, từ, luận văn, thi thoại, thoại bản

Thời Nguyên: tạp kịch, ca dao, thơ, tản văn

Thời Minh: tiểu thuyết chương hồi, thơ, văn, hí kịch, mô phỏng thoại bản

Thời Thanh: thơ, tản văn, hí, kịch, truyện ngắn, văn văn ngôn, tiểu thuyết chương hồi (dẫn

theo Trần Đình Sử, Trung Quốc Văn học sử, 4 tập, NXB Nhân dân văn học, Bắc Kinh, 1981)

Ở Việt Nam, Theo một số bộ giáo trình văn học sử Trung Quốc, như: Lịch sử văn học Trung Quốc của Trần Xuân Đề, Giáo trình lịch sử văn học Trung Quốc (2 tập) của nhóm tác giả Trương

Chính, Trần Xuân Đề, Nguyễn Khắc Phi (NXB Giáo Dục năm 1961-1962) cũng có ghi nhận tương tự những bộ giáo trình văn học sử của Trung Quốc xuất bản những thập niên gần đây

Từ tiến trình lịch sử văn học và lịch sử văn hóa Trung Quốc, bước đầu chúng tôi nhận định:

Trang 38

Thượng Thư là bộ sách lịch sử sớm nhất của Trung Quốc Về ngôn ngữ, sách Thượng Thư ngôn ngữ tác phẩm có khí phách, sảng khoái, và có vần điệu, có cái đẹp lẫm liệt phi thường” Tản văn chư tử thời trước Tần có “tính xã hội phong phú, có tính triết lí sâu sắc, có tính thời đại rõ nét và tính hình tượng văn học đậm đà”

Bộ Luận ngữ ghi chép lời nói, việc làm của Khổng Tử thuộc thể văn ngũ lục “ngôn ngữ giản luyện, hàm súc, u mua và giàu giá trị triết lí”

Sang thời Tần Hán (năm 221 tr.CN), văn chương chủ yếu là bộ Giản trục khách thư- một bộ

sách chính luận của Lí Tư Văn phong của sách này có tính chất thuyết lí sinh động mạnh mẽ, có phong độ hùng biện đời chiến quốc

Đầu đời Tây Hán, Giả Nghị viết sách Tân thư, tác phẩm quan trọng của ông là Quá Tần luận (gồm 3 bài) bàn bài học kinh nghiệm về sự thành bại của nhà Tần, thể hiện tư tưởng dân bản của ông

Văn chương có khí thế mạnh, tình cảm dồi dào, giữ lại được văn phong thời Chiến Quốc

Đến thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, thơ ca phát triển mạnh mẽ Văn học Kiến An có các đại biểu là “Tam Tào” (Tào Tháo, Tào Phi, Tào thực); nhóm “Kiến An thất tử”, gồm Khổng Dung, Vương Xán, Trần Lâm, Lưu Trinh, Nguyễn Vũ, Tử Cán, Ứng Sướng đã góp phần làm nên “phong cốt Kiến An” thể hiện tình cảm hào sảng, ý chí bi tráng Cuối đời Tấn, đầu Lưu Tống, xuất hiện nhà thơ

vĩ đại Đào Tiềm với tác phẩm bất hủ Đào hoa nguyên đã hư cấu một “đào nguyên ngoài trần thế”

không áp bức, ai cũng lao động hồn nhiên tự tại

Tản văn thời kì này có Hậu Hán thư, Lý Đạo Nguyên có Thủy kinh chú giỏi Nhìn chung, thời

kì này thơ là thành tựu nổi bật Văn chính luận thời kì này cũng như thời Tùy Đường dường như không có thành tựu đáng kể

Ở Việt Nam, thư từ bang giao giữa nước ta và các nước láng giềng, nhất là Trung Quốc là hình thức quen thuộc từ xưa đến nay Triệu Đà khi chiếm được Âu Lạc của An Dương Vương, lập nước Nam Việt đã có thư từ trao đổi với Hán Văn Đế Trải các triều Đinh, Tiền Lê, Lí, Trần các vua ta đều

có thư từ bang giao với các vua Trung Quốc; nhưng các văn bản này chỉ mang tính chất giao thiệp thông thường, chưa phải là loại văn từ chiến đấu được coi là một mũi giáp công phản kích lợi hại

2.3 VĂN CHÍNH LUẬN TRUNG ĐẠI VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KÌ

2.3.1 Văn chính luận trung đại Việt Nam trước thời khởi nghĩa Lam Sơn

Trong khoảng mười thế kỉ đầu Tây lịch, nước ta đã ba lần Bắc thuộc:

Bắc thuộc lần thứ nhất (111 tr.TL đến năm 39 sau TL): Mùa xuân năm 40, Trưng Trắc và Trưng Nhị khởi binh đánh Thái thú Tô Định Hai bà làm vua được ba năm, đóng đô ở Mê Linh Sau

Mã Viện sang đánh, hai bà thua phải tự trầm Nước ta lại thuộc Tàu

Bắc thuộc lần thứ hai (43-544): Mã Viện đánh được Trưng Vương đem đất Giao Chỉ về nhà Hán như cũ cho đến thời Tiền Lí

Thời Tiền Lí (544-602), có Lí Bôn (tục gọi là Lí Bí) vốn dòng dõi người Tàu, tổ tiên ông vào đời Tây Hán, tránh loạn chạy sang Giao Châu Đến đời nhà Lương bên Tàu, ông Lí Bôn tự xưng là Nam Việt Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân Trước tình hình đó, năm Ất Sửu (545), nhà Lương sai Dương Phiên sang làm Thứ sử Giao Châu và sai Trần Bà Tiên đem quân sang đánh Nam Việt, Lí Nam Đế thua phải bỏ Long Biên về Gia Ninh Năm sau, Lí Nam Đế đem hai vạn quân ra đánh Trần

Bà lại bị thua nên giao binh quyền cho Tả tướng quân là Triệu Quang Phục, Lí Nam Đế về nghỉ ở Khuất Liêu Đến năm Mậu Thìn (458) thì Lí Nam Đế qua đời

Bắc thuộc lần thứ ba (603-939): Được tin vua Lí mất, Triệu Quang Phục xưng vương tức Triệu Việt Vương Việt Vương quyết đánh quân Tàu lấy lại được thành Long Biên Trong khi đó, Lí Phật Tử, người cháu họ của Lí Nam Đế đã nắm toàn binh quyền đem quân từ động Dã Năng (thuộc Lào) về chống Triệu Việt Vương nhưng không thành Sau mấy trận đánh, Lí Phật Tử xin chia đất và giảng hòa Đến năm Tân Mão (571), Lí Phật Tử bất ngờ đem quân đánh Triệu Việt Vương Việt

Trang 39

Vương thua, chạy đến sông Đại Nha thì nhảy xuống sông tự tử Lí Phật Tử lên làm vua Trong khi, Lí Phật Tử làm vua Nam Việt (nhà hậu Lí, 571-602), vua Văn Đế nhà Tùy đã thống nhất đất nước Văn

Đế sai tướng là Lưu Phương đem quân sang đánh Nam Việt, Lí Phật Tử sợ hãi phải xin hàng Từ đó Giao Châu lại nước Tàu đô hộ, thời gian này đúng 336 năm

Đến đời nhà Ngô, Ngô Quyền, năm 938, lãnh đạo nhân dân đánh tan quân Nam Hán trong trận Bạch Đằng nổi tiếng, chính thức kết thúc hơn một thiên niên kỉ Bắc thuộc, mở ra thời kì độc lập lâu dài của Việt Nam Nhưng Ngô Quyền chỉ làm vua được sáu năm (938-944) thì mất Đến đời Ngô Xương Xí, loạn 12 sứ quân (945-967) gây cảnh nội loạn kéo dài hơn 20 năm Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên 12 sứ quân, lên ngôi hoàng đế tức là Tiên Hoàng Đế Đinh Tiên Hoàng làm vua được 12 năm thì mất Vệ Vương lên ngôi khi mới 6 tuổi, quyền chính nằm trong tay Thập đạo tướng quân Lê Hoàn

Và trước tình thế nhà Tống đưa quân vào An Nam, Lê Hoàn được tôn làm vua lãnh đạo cuộc kháng Tống thành công Nhà Tiền Lê làm vua được 3 đời, gồm 29 năm Đến đời Lê Long Đĩnh, vì sống trụy lạc ông mất năm 24 tuổi và con còn quá nhỏ, triều đình tôn Lí Công Uẩn lên ngôi vua, lập nên nhà Lí (1010-1025)

Triều đại nhà Lí (1010-1225): khởi nghiệp là Lí Công Uẩn, lên ngôi tức Lí Thái Tổ, nhà vua

đã dời Thủ đô từ Hoa Lư về Thăng Long Bài Chiếu dời đô của Lí Thái Tổ, có lẽ là áng văn chính

luận đầu tiên của Việt Nam được sử sách ghi lại Nhà Lí trị vì được 216 năm, truyền ngôi được 9 đời Đến đời vua Lí Huệ Tông, nhà vua nhu nhược, bỏ việc chính trị đem giang sơn phó vào tay người con gái còn thơ dại (Lí Chiêu Hoàng), khiến cơ nghiệp nhà Lí tiêu vong, mở ra triều đại mới: nhà Trần

Nhà Trần (1225-1400): vua đầu tiên của nhà Trần là Trần Thái Tông (1225-1258) tức Trần Cảnh là chồng của Lí Chiêu Hoàng Với ý định thoán ngôi nhà Trần, Trần Thủ Độ đã ép Lí Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng Nhà vua cuối cùng của nhà Trần Là Trần Thiếu Đế (1398-1400) Triều đại nhà Trần truyền ngôi vua được 12 đời, trị nước 175 năm

Tác phẩm văn chính luận trước thời khởi nghĩa Lam Sơn có thể kể đến: Chiếu dời đô của Lí Thái Tổ, Phạt Tống lộ bố văn, Phạt Tống của Lí Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ văn của Trần Quốc

Tuấn,…

2.3.2 Văn chính luận trung đại Việt Nam thời khởi nghĩa Lam Sơn

Bối cảnh lịch sử của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427):

Đây là cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh xâm lược do Lê Lợi lãnh đạo và kết thúc bằng việc giành lại độc lập cho nước Đại Việt và sự thành lập nhà Hậu Lê

Khởi nghĩa Lam Sơn gồm ba giai đoạn lớn: hoạt động ở vùng núi Thanh Hoá (1418-1423), tiến vào phía nam (1424-1425) và giải phóng Đông Quan (1426-1427) Trong giai đoạn đầu, nghĩa quân Lam Sơn gặp rất nhiều khó khăn, thường phải hứng chịu các cuộc càn quét của quân Minh Quân khởi nghĩa bắt đầu giành thế thắng khi Lê Lợi tiến quân ra đất Nghệ An vào năm 1424 Năm

1426, quân khởi nghĩa tiến đánh thành Đông Quan, và đánh tan nát quân Minh trong trận Tốt Chúc Động Sang năm 1427, nghĩa quân đánh tan tác 10 vạn viện binh giết chết viên chỉ huy quân Minh là Liễu Thăng, buộc viên Tổng chỉ huy quân Thanh là Vương Thông phải giảng hòa, thực chất

Động-là đầu hàng Nguyễn Trãi thừa lệnh của Lê Lợi đã viết bài Bình Ngô đại cáo để tuyên cáo cho toàn

quốc biết về chiến thắng vẻ vang của nghĩa quân Lam Sơn

Tác phẩm văn chính luận thời khởi nghĩa Lam Sơn

Những tác phẩm tiêu biểu: thời Lê Lợi chống quân Minh xâm lược, văn chính luận có tập

Quân trung từ mệnh (gồm 68 văn kiện chính luận) Đó là những thư từ Nguyễn Trãi thay mặt Lê Lợi

viết gửi các tướng lĩnh nhà Minh - những bức thư luận chiến hùng hồn, đanh thép góp phần quan

Trang 40

trọng làm nên chiến thắng ít đổ xương máu “chẳng đánh mà lòng người tự khuất, ta đây mưu phạt tâm công” Sau chiến thắng, Lê Lợi sai Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo, áng văn chính luận này được xem là hùng văn thiên cổ

2.3.3 Văn chính luận trung đại Việt Nam thời khởi nghĩa Tây Sơn

Bối cảnh lịch sử của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn:

Trong thế kỷ 18, nước Đại Việt nằm dưới quyền cai trị tượng trưng của vua Lê, có danh mà không có quyền hành chính trị Quyền lực thực sự nằm trong tay hai gia đình phong kiến, các chúa Trịnh ở phía bắc, kiểm soát nhà vua, điều khiển triều đình ở Thăng Long và các chúa Nguyễn ở phía nam, đóng đô tại thành Phú Xuân Hai bên từng đánh lẫn nhau để giành quyền kiểm soát toàn bộ đất nước trong suốt 45 năm Trong những năm này, hai phe Trịnh- Nguyễn đều tuyên bố trung thành với nhà Lê để củng cố quyền lực cho mình

Tây Sơn khởi nghĩa: Khởi phát từ đất Tây Sơn, lực lượng ban đầu chủ yếu là người thượng tập hợp dưới cờ, đứng lên khởi nghĩa, lấy danh nghĩa chống lại quốc phó Trương Phúc Loan

Năm 1773, Nguyễn Nhạc tự xưng là đệ nhất trại chủ, dùng mưu chiếm được thành Qui Nhơn

Từ Qui Nhơn, quân Tây Sơn tỏa đánh xuống phía Nam kiểm soát vùng đất rộng lớn từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận

Sau khi quân Trịnh tham chiến, có quân Nguyễn hợp sức, lúc đầu thế áp đảo Tây Sơn Nhưng đến tháng 7 năm 1775, Nguyễn Huệ đánh tan quân Nguyễn ở Phú Yên do tướng Nguyễn là Tống Phúc Hiệp chỉ huy Thế Tây Sơn rất mạnh, tướng Trịnh là Hoàng Ngũ Phúc phải xin chúa Trịnh Sâm phong cho Nguyễn Nhạc làm trấn thủ Quảng Nam

Tạm yên mặt Bắc, Tây Sơn tập trung đánh Gia Định Trong gần 10 năm (1776-1783), Tây Sơn

4 lần đánh Gia Định và Gia Định đều thất thủ [ lần I (tháng 3/1776); lần II (tháng 3/1777); lần III (tháng 4/1777); lần IV (tháng 3/1782)] Lần 1, quân Tây Sơn do Nguyễn Lữ chỉ huy; 3 lần sau quân Tây Sơn dưới quyền chỉ huy của danh tướng Nguyễn Huệ Lần cuối cùng, Nguyễn Ánh phải trốn chạy

ra tận đảo Phú Quốc

Năm 1786, Nguyễn Huệ ra Bắc diệt Trịnh

Cuối năm 1788, vua Càn Long sai Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị đem 29 vạn quân sang xâm lựơc An Nam núp dưới danh nghĩa phù Lê

Ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (ngày 22.12.1788), Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế lấy hiệu

là Quang Trung, thống lĩnh quân thủy bộ xuất quân ra Bắc đánh đuổi quân Thanh

Ngày 29 tháng 11 năm Mậu Thân, vua Quang Trung đến Nghệ An, tam dừng quân để tuyển thêm lính

Ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân, vua Quang Trung đến núi Tam Điệp, Ninh Bình Quan sát tình hình, vua Quang Trung nói với tướng quân: chỉ trong 10 ngày ta sẽ đánh tan quân Thanh Thực tế chỉ 6 ngày, từ đêm 30 tháng chạp năm Mậu Tuất đến ngày mồng 5 tết năm Kỷ Dậu, vua Quang Trung đã đánh tan quân Thanh và tiến vào làm chủ Thăng Long Tôn Sĩ Nghị nửa đêm được tin cấp báo, người không kịp mặc giáp, ngựa không kịp đóng yên, tháo chạy bỏ lại cả ấn tín

Văn chính luận thời Tây Sơn:

Thời Tây Sơn, văn chính luận gồm 5 bức thư bằng chữ Nôm do vua Quang Trung viết và những áng văn chương bang giao của Ngô Thì Nhậm trong “Bang giao hảo thoại” (gồm 53 văn kiện) viết thay vua Quang Trung gửi nhà vua và triều đình Mãn Thanh đã tạo được sự hòa hiếu với phương Bắc, cũng như sự vị nể đặc biệt của nhà Thanh đối với vương triều Tây Sơn

2.3.4 Văn chính luận trung đại Việt Nam thời thuộc Pháp

Ngày đăng: 12/04/2016, 00:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w