1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Rừng ngập mặn là hệ sinh thái quan trọng có năng suất sinh học cao ở vùng cửa sông ven biển nhiệt đới. Trong việc bảo vệ môi trường, rừng ngập mặn được biết đến như là “lá phổi xanh” rất quan trọng đối với các thành phố. Ngoài ra, rừng ngập mặn còn nhiều vai trò quan trọng, có tác dụng phòng hộ trước gió và sóng biển, làm chậm dòng chảy và phát tán rộng nước triều, hạn chế xâm nhập nước mặn và bảo vệ nước ngầm. Rừng ngập mặn không những là nơi cung cấp nhiều lâm sản có giá trị, mà còn là nơi sinh sống và ương giống của nhiều loại thủy hải sản, chim nước, chim di cư và một số động vật cạn như khỉ, cá sấu…. Đối với kinh tế xã hội, rừng ngập mặn còn được khai thác dưới hình thức du lịch sinh thái như rừng ngập mặn Cần Giờ, Xuân Thuỷ Nam Định… và còn cung cấp gỗ, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, chất đốt… Rừng ngập mặn có vai trò hết sức to lớn về sinh thái cũng như về mặt kinh tế nhưng diện tích rừng ngập mặn ngày càng bị thu hẹp, môi trường rừng ngày càng bị đe doạ. Năm 1943 cả nước có 408.500 ha rừng ngập mặn, đến năm 2007 diện tích còn 209.741 ha. Như vậy, sau hơn 60 năm, rừng ngập mặn nước ta đã bị suy giảm gần 13 diện tích. Bình quân mỗi năm mất khoảng 3.105,6ha rừng ngập mặn. Sự thu hẹp về diện tích rừng ngập mặn là do nhiều nguyên nhân khác nhau như: Chuyển đổi đất rừng ngập mặn sang sản xuất nông nghiệp, sự huỷ diệt của chất độc hoá học do chiến tranh, quá trình đô thị hoá, người dân tự ý phá rừng làm đầm nuôi tôm, cua… Trước tình trạng trên, đòi hòi phải có sự gắn kết giữa hệ sinh thái rừng ngập mặn với phát triển bền vững nhằm duy trì phát huy được hết những chức năng vốn có của rừng ngập mặn. Rừng ngập mặn ven biển huyện Kim Sơn được hình thành trên vùng Châu thổ rộng 1300 ha của các cửa sông Đáy, sông Càn. Nơi đây và toàn bộ vùng đất phía Nam vĩ tuyến 20 của Ninh Bình vinh dự được UNESCO công nhận là vùng đệm và vùng chuyển tiếp của Khu dự trữ sinh quyển Châu thổ sông Hồng với hệ động thực vật đa dạng độc đáo điển hình của rừng ngập mặn. Giá trị nổi bật của khu vực được thể hiện ở tính đa dạng sinh học cao, có các hoạt động kiến tạo địa chất diễn ra mạnh mẽ tạo thành một môi trường sống của các loài động thực vật đang bị đe dọa. Rừng ngập mặn ven biển huyện Kim Sơn chịu nhiều tác động về mặt tự nhiên cũng như xã hội, trong đó có khu vực thuộc xã Kim Hải huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình. Cho đến nay các nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên thường mang tính đơn lẻ, hoặc đứng trên quan điểm xã hội hoặc đứng trên quan điểm sinh thái học. Vì vậy việc nghiên cứu mối tác động qua lại giữa con người và hệ tự nhiên vùng rừng ngập mặn sẽ kết nối giữa sinh thái học và xã hội học góp phần vào phát triển bền vững vùng rừng ngập mặn này. Với những lý do trên, mà chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu sự tác động qua lại giữa con người và vùng rừng ngập mặn xã Kim Hải, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình”.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới GS.TS.Nguyễn Hoàng Trí – người thầy đã dành nhiều thời gian và tâm huyếthướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa sinh học, cùngvới các thầy cô giáo trường Đại học sư phạm Hà Nội đã quan tâm, giúp đỡ,tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ lãnh đạo Uỷ ban Nhândân huyện Kim Sơn, phòng Nông nghiệp huyện Kim Sơn, Hội chữ thập đỏtỉnh Ninh Bình, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Kim Sơn Luận văn đượchoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt tình, quý báu của bà con và lãnh đạo xã KimHải, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình
Tôi muốn tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, những người thân và bạn
bè của tôi đã luôn giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành công trình nghiên cứucủa mình
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Vân
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 2
3 MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU, 20
4 TÓM TẮT CÁC LUẬN ĐIỂM CƠ BẢN 20
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
PHẦN NỘI DUNG 24
CHƯƠNG I MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HỆ TỰ NHIÊN 24
1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ 24
1.2 ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU 24
1.2.1.Nhiệt độ 24
1.2.2 Độ ẩm 25
1.2.3 Chế độ mưa 25
1.2.4 Gió, bão 26
1.3 CHẾ ĐỘ THUỶ VĂN 27
1.4 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NGẬP MẶN VEN BIỂN 27
1.5 THẢM THỰC VẬT 29
1.5.1 Cây bần chua (Sonneratia caseolaris) 29
1.5.2 Cây trang (Kandelia obovata) 30
1.6 HỆ ĐỘNG VẬT 31
CHƯƠNG II MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HỆ XÃ HỘI 33
2.1 ĐẶC ĐIỂM LỊCH SỬ 33
2.2 HỆ THỐNG TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN VÀ THỂ CHẾ XÃ HỘI 36
2.3 CƠ SỞ HẠ TẦNG 37
2.3.1 Giao thông 37
2.3.2 Các công trình khác 38
2.4 CÔNG TÁC Y TẾ 38
2.5 DÂN SỐ VÀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH 38
2.6 GIÁO DỤC 39
2.7 HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA 39
2.8 HOẠT ĐỘNG KINH TẾ 40
Trang 32.8.1 Nuôi trồng thuỷ sản 40
2.8.2 Nông nghiệp 43
2.8.3 Nghề trồng cói 44
2.8.4 Tiểu thủ công nghiệp 45
2.8.5 Dịch vụ 45
2.8.6 Cơ cấu kinh tế 46
CHƯƠNG III SỰ TÁC ĐỘNG QUA LẠI GIỮA CON NGƯỜI VÀ RỪNG NGẬP MẶN 47
3.1 TÁC ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI LÊN RỪNG NGẬP MẶN 47
3.1.1 Tác động tích cực 47
3.1.2 Tác động tiêu cực 50
3.2 TÁC ĐỘNG CỦA RỪNG NGẬP MẶN LÊN ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI 52 3.2.1 Rừng ngập mặn cung cấp nguồn thuỷ sản phong phú 52
3.2.2 Rừng ngập mặn có tác dụng phòng hộ 54
3.2.3 Rừng ngập mặn góp phần phát triển kinh tế hộ gia đình 56
3.2.4 Rừng ngập mặn là nơi du lịch, giải trí và nghiên cứu khoa học 56
3.3 SỰ TÁC ĐỘNG QUA LẠI GIỮA CON NGƯỜI VÀ VÙNG RỪNG NGẬP MẶN 57
CHƯƠNG IV ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 60
4.1 GIẢI PHÁP CHUNG 60
4.2 GIẢI PHÁP CỤ THỂ 61
4.2.1 Công tác tuyên truyền 61
4.2.2 Giải pháp về cơ chế chính sách 62
4.2.3 Giải pháp về khoa học công nghệ: 62
4.2.4 Giải pháp về quản lý, quy hoạch sử dụng đất rừng ngập mặn 63
4.2.5 Giải pháp về đầu tư 64
4.2.6 Cho thuê, giao khoán đất lâm nghiệp 64
4.2.7 Chính sách hưởng lợi 64
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC 70
DANH MỤC BẢNG
Trang 4Bảng 1 Nhiệt độ các tháng 24
Bảng 2 Độ ẩm không khí 25
Bảng 3 Lượng mưa các tháng 25
Bảng 4 Tốc độ gió và hướng gió 26
Bảng 5 Hiện trạng sử dụng đất 28
Bảng 6 Chi phí xây dựng cơ bản 41
Bảng 7 Chi phí sản xuất nuôi tôm, cua 41
Bảng 8.Diện tích trồng rừng ngập mặn theo kế hoạch từ năm 1997 – 1999 48
Bảng 9 Diện tích trồng dặm và đa dạng hoá rừng ngập mặn từ năm 2000 – 2010 48
Bảng 10 Tốc độ tiến ra biển của vùng bãi bồi Kim Sơn 55
Trang 5DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
Hình 1 Bản đồ rừng ngập mặn ven biển Kim Sơn 23Hình 2 Biến động đất nuôi trồng thuỷ sản xã Kim Hải thời kì 2000 – 2013 40Hình 3 : Biểu đồ biểu thị tỉ lệ trung bình các nguồn thu của các hộ gia đình 46Hình 4 Sơ đồ biểu thị mối tác động qua lại giữa con người và vùng rừng ngậpmặn xã Kim Hải 59
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Rừng ngập mặn là hệ sinh thái quan trọng có năng suất sinh học cao ởvùng cửa sông ven biển nhiệt đới Trong việc bảo vệ môi trường, rừng ngậpmặn được biết đến như là “lá phổi xanh” rất quan trọng đối với các thành phố.Ngoài ra, rừng ngập mặn còn nhiều vai trò quan trọng, có tác dụng phòng hộtrước gió và sóng biển, làm chậm dòng chảy và phát tán rộng nước triều, hạnchế xâm nhập nước mặn và bảo vệ nước ngầm Rừng ngập mặn không những
là nơi cung cấp nhiều lâm sản có giá trị, mà còn là nơi sinh sống và ươnggiống của nhiều loại thủy hải sản, chim nước, chim di cư và một số động vậtcạn như khỉ, cá sấu…
Đối với kinh tế - xã hội, rừng ngập mặn còn được khai thác dưới hìnhthức du lịch sinh thái như rừng ngập mặn Cần Giờ, Xuân Thuỷ - Nam Định…
và còn cung cấp gỗ, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, chất đốt…
Rừng ngập mặn có vai trò hết sức to lớn về sinh thái cũng như về mặtkinh tế nhưng diện tích rừng ngập mặn ngày càng bị thu hẹp, môi trường rừngngày càng bị đe doạ Năm 1943 cả nước có 408.500 ha rừng ngập mặn, đếnnăm 2007 diện tích còn 209.741 ha Như vậy, sau hơn 60 năm, rừng ngậpmặn nước ta đã bị suy giảm gần 1/3 diện tích Bình quân mỗi năm mất khoảng3.105,6ha rừng ngập mặn
Sự thu hẹp về diện tích rừng ngập mặn là do nhiều nguyên nhân khácnhau như: Chuyển đổi đất rừng ngập mặn sang sản xuất nông nghiệp, sự huỷdiệt của chất độc hoá học do chiến tranh, quá trình đô thị hoá, người dân tự ýphá rừng làm đầm nuôi tôm, cua… Trước tình trạng trên, đòi hòi phải có sựgắn kết giữa hệ sinh thái rừng ngập mặn với phát triển bền vững nhằm duy trìphát huy được hết những chức năng vốn có của rừng ngập mặn
Trang 7Rừng ngập mặn ven biển huyện Kim Sơn được hình thành trên vùngChâu thổ rộng 1300 ha của các cửa sông Đáy, sông Càn Nơi đây và toàn bộvùng đất phía Nam vĩ tuyến 20 của Ninh Bình vinh dự được UNESCO côngnhận là vùng đệm và vùng chuyển tiếp của Khu dự trữ sinh quyển Châu thổsông Hồng với hệ động thực vật đa dạng độc đáo điển hình của rừng ngậpmặn Giá trị nổi bật của khu vực được thể hiện ở tính đa dạng sinh học cao, cócác hoạt động kiến tạo địa chất diễn ra mạnh mẽ tạo thành một môi trườngsống của các loài động thực vật đang bị đe dọa.
Rừng ngập mặn ven biển huyện Kim Sơn chịu nhiều tác động về mặt tựnhiên cũng như xã hội, trong đó có khu vực thuộc xã Kim Hải huyện KimSơn tỉnh Ninh Bình Cho đến nay các nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý, sửdụng tài nguyên thiên nhiên thường mang tính đơn lẻ, hoặc đứng trên quanđiểm xã hội hoặc đứng trên quan điểm sinh thái học Vì vậy việc nghiên cứumối tác động qua lại giữa con người và hệ tự nhiên vùng rừng ngập mặn sẽkết nối giữa sinh thái học và xã hội học góp phần vào phát triển bền vữngvùng rừng ngập mặn này Với những lý do trên, mà chúng tôi đã lựa chọn đề
tài: “Nghiên cứu sự tác động qua lại giữa con người và vùng rừng ngập mặn xã Kim Hải, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình”.
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
2.1 Nghiên cứu về sinh thái nhân văn
Sinh thái học là khoa học nghiên cứu các quần thể, quần xã trong mốitương tác và với môi trường xung quanh Sau khi trở thành một bộ môn khoahọc thực thụ, sinh thái học đang cung cấp những cơ sở khoa học cơ bản nhấtcho sự ra đời và phát triển của các ngành khoa học mới xuất hiện trong nhữngnăm gần đây trong đó có sinh thái nhân văn Theo A.S.Boughey (1975) thìsinh thái nhân văn là khoa học nghiên cứu về phát triển của xã hội và quần thểngười trong mối tác động qua lại với nhau và với toàn bộ môi trường của
Trang 8chúng Một định nghĩa khác đơn giản hơn, bao quát những ý tưởng mà sinhthái nhân văn đề cập đến là: Sinh thái nhân văn là những nghiên cứu mối vềmối quan hệ giữa con người và với thế giới tự nhiên mà con người đang sống(Rambo và Sajie,1994) (Trích dẫn từ Nguyễn Hoàng Trí,2001)[19].
Một số tác giả cho rằng những khủng hoảng môi trường gần đây khôngphải luôn luôn là kết quả của sự tác động qua lại trực tiếp hoặc gián tiếp củacác quần thể người với tự nhiên, đôi khi rất phức tạp và không phải lúc nàocũng làm rõ ngay được Xã hội loài người cũng hết sức đa dạng, không thểchỉ thấy một số tác động trong thời gian ngắn mà quy kết xem xét cho cả mộtthời gian dài Sinh thái nhân văn không phải là những nghiên cứu đi giảiquyết làm rõ những vấn đề này mà nó đi sâu tìm hiểu về nguồn gốc, chỉ ranhững mối quan hệ nhân quả nhằm cung cấp những kiến thức tổng hợp hơnnhững vấn đề kĩ thuật để đề ra những giải pháp hợp lý mang tính khoa họckhông chỉ cho thế hệ ngày nay mà cho cả những thế hệ mai sau sống trênhành tinh này
Giá trị của sinh thái nhân văn là ở chỗ, nó giúp con người thấy đượcnhững mối quan hệ không được thừa nhận trước đây giữa con người và môitrường Nó giúp con người nhận thức sâu sắc về vị trí của con người trong thếgiới và suy nghĩ của con người về môi trường của họ
Các hệ sinh thái là những hệ thống thống nhất không thể tách rời JanSmuts là người đầu tiên đưa ra luận điểm “tiếp cận hệ thống” Điều này làm
cơ sở cho các ngành khoa học trong nghiên cứu tổng hợp với yêu cầu nhấtthiết phải nghiên cứu kết hợp cả quần thể, quần xã và hệ sinh thái với sự thamgia của nhiều ngành khoa học khác nhau cả tự nhiên và cả xã hội Quan điểm
hệ thống cho rằng, một hệ thống được đặc trưng bằng các mối tác động qualại bên trong mỗi thành phần và giữa các thành phần với nhau Các nhà sinhthái học đã đón nhận và phát triển thành kĩ thuật phân tích hệ thống đang
Trang 9được áp dụng rộng rãi trong các công trình nghiên cứu liên ngành mang tínhtổng hợp cao hiện nay.
Tiếp cận hệ thống cũng được áp dụng trong nghiên cứu sinh thái nhânvăn Hệ sinh thái nhân văn bao gồm hệ thống xã hội và hệ sinh thái nôngnghiệp (hệ tự nhiên), trong đó các thành phần của hệ tự nhiên, hệ xã hội liênquan đến nhau bởi các chức năng thông qua dòng năng lượng, vật chất vàthông tin
Mối quan hệ giữa hệ xã hội và hệ sinh thái là mối quan hệ biện chứng
mà trong đó sự thay đổi của hệ thống này tiếp tục ảnh hưởng đến cơ cấu vàchức năng của hệ thống khác Các hệ sinh thái cũng như các hệ xã hội đềukhông phải là những hệ thống kín mà mỗi hệ thống luôn luôn có mối tác độngqua lại với các hệ thống kế cận và với các hệ thống cao hơn hoặc thấp hơn(A.S.Boughey, 1975)[25] Hệ sinh thái và hệ xã hội hướng tới tính thống nhấttheo thời gian mà mỗi thành phần trở nên thích nghi hơn với sự tác động, ảnhhưởng bởi các thành phần khác
Khái niệm sinh thái nhân văn được áp dụng vào một số nghiên cứu ởViệt Nam từ năm 1989, tập trung vào 3 vấn đề cơ bản như sau (Lê Trọng Cúc
và cs, 1990)[28]
1 Các dòng năng lượng, vật chất thông tin chuyển từ hệ tự nhiên đến
hệ thống xã hội và từ hệ thống xã hội đến hệ tự nhiên như thế nào?
2 Hệ thống xã hội thích nghi và phản ứng như thế nào trước nhữngthay đổi trong hệ tự nhiên?
3 Những hoạt động của con người đã gây nên những tác động gì đốivới hệ tự nhiên?
Kết quả nghiên cứu hệ sinh thái nông nghiệp trung du miền Bắc ViệtNam đã chứng minh giá trị của việc áp dụng sinh thái nhân văn trong quátrình phân tích, tìm ra những mối quan hệ giữa các yếu tố xã hội và sinh thái
Trang 10(Lê Trọng Cúc và cs, 1990)[28] Các yếu tố xã hội như như thể chế, chínhsách ảnh hưởng rõ nét đến tài nguyên đất thông qua việc quản lý, sử dụng lạitài nguyên này Khi nguyên cứu sinh thái nhân văn tại các làng trồng lúa nước
ở đồng bằng sông Hồng, Việt Nam, các nhà khoa học đã chỉ ra tác động củacon người đến hệ sinh thái: mật độ dân số cao ở vùng này gây áp lực lớn lên
hệ sinh thái nông nghiệp Hoạt động của con người dẫn đến đa dạng loài,quần xã, hệ sinh thấp ở vùng này Những người nông dân quen sinh sống ởvùng đồng bằng thâm canh lúa nước, khi chuyển lên định cư ở vùng đồng núicũng ứng dụng một phần nào phương thức canh tác ở vùng đồng bằng gâynên xói mòn trầm trọng, tàn phá thiên nhiên mạnh mẽ hơn, nhanh chóng hơn.Trong khi đó, phương thức canh tác của đồng bào các dân tộc tỏ ra có hiệuquả trong công việc chống xói mòn đất Tri thức địa phương rất được chútrọng trong các công trình nghiên cứu sinh thái nhân văn (Phan Thị AnhĐào,1998)[5] Sinh thái nhân văn dần trở thành một hướng mới trong nghiêncứu sinh thái học ở Việt Nam Những kết quả nghiên cứu sinh thái nhân vănbước đầu đã có đóng góp ban đầu đối với công tác quản lý, quy hoạch, sửdụng hợp lý một số hệ sinh thái ở nước ta Nó biểu thị mối quan hệ tác độngqua lại giữa con người và môi trường Chính vì lẽ đó, chúng tôi đã lấy lýthuyết sinh thái nhân văn để làm cơ sở khoa học khi nghiên cứu luận văn này
Trang 11triệu ha, chiếm tới 46% tổng diện tích rừng ngập mặn thế giới: riêng 7 nướcĐông Nam Á, diện tích rừng ngập mặn chiếm tới 36% tổng diện tích rừngngập mặn thế giới (Mark Spalding và cộng sự, 1997), (Trích dẫn từ Tô VănVượng, 2009)[22].
Từ lâu các ngành khoa học đã nghiên cứu về rừng ngập mặn trên nhiềulĩnh vực khác nhau vì những giá trị to lớn mà rừng ngập mặn mang lại chocon người cũng như cho sinh quyển Trong đó các công trình nghiên cứu chủyếu tập trung vào các vấn đề sau:
+ Nghiên cứu về các nhân tố sinh thái :
Các nhân tố sinh thái có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển củacây ngập mặn Theo V.J.Chapman (1975) có 7 yếu tố sinh thái cơ bản ảnhhưởng đến sự phát triển rừng ngập mặn là: Nhiệt độ, thế nền đất bùn, sự bảo
vệ, độ mặn, thuỷ triểu, dòng hải lưu, biển nông [26]
Tổ chức UNESCO (1979) và FAO (1982) khi nghiên cứu về rừng vàđất rừng ngập mặn ở vùng châu Á Thái Bình Dương cho rằng: Hệ sinh tháirừng ngập mặn trong khu vực này đã và đang bị đe doạ nghiêm trọng bởinhiều nguyên nhân khác nhau Trong đó nguyên nhân chính là do việc khaithác tài nguyên rừng, đất rừng ngập mặn không hợp lý gây ra các biến đổi tiêucực đối với môi trường đất và nước Các tổ chức này đã khuyến cáo các quốcgia có rừng và đất ngập mặn, cần phải có những biện pháp hữu hiệu để khắcphục tình trạng này bằng các giải pháp như: Xây dựng các hệ thống chínhsách, văn bản pháp luật về quản lý sử dụng đất, rừng ngập mặn và nghiên cứucác biện pháp kỹ thuật trồng, khoanh nuôi bảo vệ rừng kết hợp với việc xâydựng các mô hình lâm ngư kết hợp
Theo V.J Chapman (1975)[26], P.B.Tomlinson (1986)[32] cho rằngnhiệt độ là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phân bố rừngngập mặn Cây ngập mặn sinh trưởng tốt ở môi trường có nhiệt độ ấm, nhiệt
Trang 12độ của tháng lạnh nhất không dưới 20oC, biên độ nhiệt theo mùa không vượtquá 10oC Trong các nhân tố khí hậu thì lượng mưa là nhân tố quan trọng vớivai trò cung cấp nguồn nước ngọt cho cây ngập mặn tăng trưởng và phát triển,rừng ngập mặn sinh trưởng tốt nhất ở nơi có lượng mưa đầy đủ.
Trong các nhân tố sinh thái thì độ mặn là nhân tố quan trọng nhấtảnh hưởng đến tăng trưởng, tỉ lệ sống, phân bố các loài De Hann (1931)(Trích dẫn từ Aksornkoae, 1993)[25] cho rằng rừng ngập mặn tồn tại, pháttriển ở nơi có độ mặn từ 10 – 30 ‰ và các tác giả đã chia thực vật ngậpmặn thành hai nhóm: nhóm phát triển ở độ mặn từ 10 - 30‰ và nhóm pháttriển ở độ mặn từ 0 - 10‰ Hầu hết các cây ngập mặn đều sinh trưởng tốt ởmôi trường nước có độ mặn từ 25 – 50% độ mặn nước biển Khi độ mặncàng cao thì sinh trưởng của cây càng kém, sinh khối của rễ, thân và lá đềuthấp dần, lá sớm rụng (Saenger và cộng sự, 1983) (Trích dẫn từ NguyễnHoàng Trí,1999) [18]
Nhiều tác giả cho rằng đất là nhân tố chính giới hạn sự tăng trưởng vàphân bố cây ngập mặn (Gledhill, 1963; Gilioli và King, 1966; Clark vàHannonn, 1976; S.Aksornkoae và cộng sự, 1985) (Trích dẫn Aksornkoae,1993)[24] Đất rừng ngập mặn là đất phù sa bồi tụ có độ muối cao, thiếu O2,giàu H2S, rừng ngập mặn thấp và cằn cỗi trên các bãi lầy có ít phù sa, nghèochất dinh dưỡng A.Karim và cộng sự cho biết sự phát triển của thực vật ngậpmặn liên quan đến số lượng phù sa lắng đọng và cây đạt chiều cao cực đại ởnơi có lớp đất phù sa dày
+ Nghiên cứu về sinh trưởng cây ngập mặn
ở Phangnga (Thái lan) (J Kongsanchai, 1984) nghiên cứu sự tăngtrưởng của Đước đôi trồng tại vùng khai thác mỏ thiếc ở các giai đoạn 1, 2, 3,
4, 5, 6 năm tuổi và cây đạt chiều cao tương ứng là 0,71; 0,74; 1,23; 1,25; 1,27
và 1,93m
Trang 13S Soemodiharjo và cộng sự (1996) nghiên cứu về tăng trưởng chiềucao và đường kính thân của loài Đưng được trồng ở Inđonesia theo các tuổi
6, 11, 14, 18 và cho biết sự tăng trưởng hàng năm tương ứng là 0,7; 0,5;0,6; 0,6cm [31]
+ Nghiên cứu về trồng rừng:
Hiểu rõ vai trò to lớn của rừng ngập mặt đối với kinh tế cũng như khíhậu toàn cầu, vấn đề trồng và phục hồi rừng được chính phủ của nhiềunước quan tâm và ban hành các chính sách về rừng ngập mặn, khuyếnkhích trồng lại rừng
Ở Indonesia trồng 4 loài cây chính đó là Đước đôi (Rhizophora stylosa Griff), Đước vòi, Đưng và Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhizan(L.) Savigny) Vẹt
dù được trồng bằng cây con có bầu 3 – 4 tháng tuổi, có 3 – 4 lá và Đước đôi,Đước vòi, Đưng được trồng trực tiếp bằng trụ mầm (Soemodihardjo và cs,1996)[31]
Ở Malaysia, từ năm 1987 – 1992 đã trồng được 4.300ha, loài cây chínhđược trồng ở đây là Đước đôi và Đưng
Ở Thái Lan, Đước đôi và Đưng cũng được coi là đối tượng chính đểtrồng rừng ngập mặn vì cho than tốt, có nhiệt lượng cao Đước đôi được trồngbằng hai phương pháp: bằng trụ mầm và bằng cây con trong túi bầu đạt tỉ lệsống trên 80% (Aksornkoea, 1996) Còn Đưng trồng từ trụ mầm có tỷ lệ sốngtrên 94% (S Havannond, 1994)
Ấn Độ tập trung gồm 5 loài cây chính: Mấm lưỡi đồng (Avicennia officinalis L.), Mấm biển, Đước đôi, Đưng, Bần chua (Sonneratia caseolaris)
cũng bằng hai phương pháp trồng trực tiếp từ trụ mầm và cây con trong cáctúi bầu (có kích thước 4cm x 10cm) Các loài Đước đôi, Đưng và Mấm biểntrồng với mật độ 1,5m x 1,5m
Trang 14+ Nghiên cứu về phân bố
Các nghiên cứu cho thấy rằng rừng ngập mặn phân bố chủ yếu ở vùngcửa sông, ven biển, vùng nước lợ, nước mặn và ảnh hưởng bởi thuỷ triều.Châu Á là nơi có sự đa dạng nhất về số loài cây ngập mặn, với khoảng 70loài, tiếp đến là châu Phi khoảng 30 loài; châu Mỹ và vùng Caribe khoảng 11loài Các loài cây ngập mặn phổ biến ở hầu khắp các vùng sinh thái là các loài
thuộc chi Đước (Rhizophora), Vẹt (Bruguiera) và Trang (Kandelia).
Fran cois Blasco (1983), khi nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đếnphân bố và sinh trưởng của các loài cây ngập mặn, cho rằng:Ở vùng xích đạohoặc gần xích đạo, nơi có nhiệt độ không khí trung bình năm 26 – 270C,trong một năm không có tháng nào nhiệt độ của nước biển ven bờ <20oC, lànhững điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng của rừng ngập mặn Nếu trongnăm có nhiều tháng có nhiệt độ của nước biển < 16oC thì sẽ không xuấthiện rừng ngập mặn
Theo tổ chức UNESCO (1979) và FAO (1982) khi nghiên cứu về rừng
và đất rừng ngập mặn ở vùng Châu Á Thái Bình Dương cho rằng: Hệ sinhthái rừng ngập mặn trong khu vực này đã và đang bị đe doạ nghiêm trọng bởinhiều nguyên nhân khác nhau Trong đó nguyên nhân chính là do việc khaithác tài nguyên rừng và đất rừng ngập mặn không hợp lý gây ra các biến đổitiêu cực đối với môi trường đất và nước Các tổ chức này khuyến cáo cácquốc gia có rừng ngập mặn, cần phải có biện pháp hữu hiệu để khắc phục tìnhtrạng này bằng các giải pháp như: Xây dựng các hệ thống chính sách, văn bảnpháp luật về quản lý sử dụng đất, rừng ngập mặn; Nghiên cứu các biện pháp
kỹ thuật trồng, khoanh nuôi, chăm sóc và bảo vệ kết hợp xây dựng các môhình lâm ngư kết hợp
Trang 15+ Nghiên cứu liên quan đến sinh thái nhân văn
Rừng ngập mặn là một hệ sinh thái có năng suất sinh học rất cao Lácây ngập mặn, các loài tảo đã tạo cơ sở cho lưới thức ăn của các loài thuỷ sinhvật trong hệ sinh thái rừng ngập mặn Nghiên cứu ở một trong những đảo ven
bờ tại Malaysia, cho thấy có 90% sản phẩm thuỷ sản sinh ra hoặc có nguồngốc ở vùng rừng ngập mặn và hai thành phần thức ăn chính của quần thể cá làđộng vật đáy, mảnh vụn hữu cơ (N.A.Rao, 1987)
Vùng rừng ngập mặn là bãi ăn của nhiều loài tôm cá với nguồn thức ăn
từ mùn bã hữu cơ thực vật, sinh vật phù du và động vật không xương sốngnhỏ Vùng rừng ngập mặn cũng là bãi đẻ cho nhiều loài thuỷ sản có giá trịkinh tế cao như cá chẽm, tôm càng xanh, là nơi phóng trứng của sò huyết(B.F.Clouhg và cs, 1993[27]
Ngoài việc cung cấp thức ăn và bãi đẻ, rừng ngập mặn còn có nhiềuchức năng sinh thái khác đối với nghề thuỷ sản ven biển như cung cấp nguyênliệu làm dụng cụ đánh bắt, chống tác động của gió, bão Hình thức nuôi bằnglồng đã phát triển ở nhiều nơi với các đối tượng như cá bống mú, cá chẽm,cua Nuôi sò huyết được triển khai trên bãi bồi tiếp giáp với rừng ngập mặn.Các hình thức nuôi quảng canh và thâm canh được tiến hành trong các ao,đầm Hình thức nuôi thâm canh chủ yếu là nuôi tôm sú ở các đầm ao bêntrong hoặc vùng tiếp giáp với rừng ngập mặn Việc nuôi tôm sú hấp dẫn khánhiều người mặc dù phải đầu tư lớn nhưng cho lợi nhuận cao Tuy nhiên, việcrủi ro của nuôi tôm sú khá lớn, ví dụ như khi có dịch bệnh hay “hiện tượng nởhoa” đột ngột của một số loài tảo (B.F.Clough và cs, 1993)
Rừng ngập mặn có tác dụng làm giảm xói lở bờ biển, do hệ thống rễ pháttriển mạnh làm giảm tác động của gió, xoáy lốc, bão Mặc dù chưa có nhữngminh chứng về mặt định lượng, nhưng những chứng cớ gián tiếp có khuynhhướng hỗ trợ những kết luận này (L.S.Hamilton và S.C.Snedaker,1984);
Trang 16B.F.Clough và cs, 1993) Ngoài ra rừng ngập mặn còn là nơi bảo tồn đa dạngsinh học, giáo dục, giải trí (R.Kenchington, 1996); (C.P.Howe,1991) (Trích dẫn
từ Phan Thị Anh Đào, 1998)[5]
Thời gian gần đây, sự gia tăng dân số và xu thế phát triển kinh tế ở cácvùng ven biển đã gây hiện tượng khai thác quá mức, xuống cấp, mất rừngngập mặn ở nhiều nơi trên thế giới Những năm gần đây có nhiều nghiên cứutập trung vào sự tác động của các hoạt động của con người lên vùng rừngngập mặn Việc sử dụng rừng ngập mặn hiện nay thường mang tính đơn lẻ vàphá huỷ môi trường trong quá trình khai thác để có được thu hoạch ở mức độcao hơn so với khả năng tái sinh của thiên nhiên
Hình thức chuyển đổi mục đích sử dụng rừng ngập mặn phổ biến là làm
ao, đầm nuôi tôm, cá Phát triển đô thị, cảng, khai thác mỏ và công nghiệp đãgây mất rừng Việc chặt phá rừng ngập mặn bất hợp pháp cũng là nguyênnhân của sự xuống cấp rừng ngập mặn trong nhiều năm qua (B.F.Clough và
cs, 1993 [27]; S.Aksornkoae, 1989)
Ô nhiễm nước là một trong những ảnh hưởng trực tiếp đến rừng ngậpmặn do các hoạt động của con người Ô nhiễm xảy ra ở những vùng rừngngập mặn gần các đô thị quan trọng ở Philippine Tại Fiji, một vùng rừngngập mặn đã được sử dụng làm nơi xử lý nước thải ban đầu, dẫn đến hiệntượng tích bẩn tại đây và hiện tượng san hô chết ở vùng kế cận (Theo tríchdẫn của Phan Thị Anh Đào, 1998)[5]
Hệ sinh thái rừng ngập mặn có khả năng khôi phục cao khi bị thiệt hại
ở mức vẫn còn nguồn giống và sự cung cấp nước được đảm bảo Những kếtquả đã đạt được trong việc nghiên cứu phục hồi rừng ngập mặn trên thế giới
đã được nhiều nhà khoa học công bố vào năm 1988 (C.Field (esd.),1998).Người dân địa phương, các cộng đồng người dân ven biển tham gia tích cựcvào các dự án khôi phục rừng ngập mặn Tuy nhiên, hầu hết các dự án này
Trang 17đều nằm trong các chương trình do tổ chức phi chính phủ đảm nhiệm nên cómột số hạn chế nhất định về mặt hành chính, chính sách.
Ở mỗi nước có những quy định khác nhau về quản lý, khai thác đối vớitừng loại rừng Rừng Matang với diện tích 40.711 ha ở Malaysia được coi làvùng rừng ngập mặn được quản lý tốt nhất trên thế giới Về mặt hành chính,các cán bộ lâm nghiệp huyện ở đây trực tiếp quản lý rừng ngập mặn này.Rừng ngập mặn Matang được tỉa thưa 2 lần vào năm cây được 15 và 20 tuổi,chu kì khai thác là 30 năm
P.Kunstadter cho rằng nghiên cứu các vấn đề kinh tế xã hội trong vùngrừng ngập mặn rất khó khăn Giữa các hệ sinh thái và các hệ kinh tế xã hộikhông có ranh giới So với hệ sinh thái, các thông tin về hệ kinh tế xã hội íthơn và hầu hết liên quan đến lĩnh vực kinh tế Những công trình nghiên cứukinh tế xã hội vùng rừng ngập mặn hầu hết chỉ tập trung vào việc sử dụngrừng ngập mặn, nguyên nhân, hậu quả của việc mất rừng ngập mặn dưới tácđộng của các hoạt động kinh tế Riêng nghiên cứu của S.Aksornkoae và csnăm 1984[23] tại các làng Had Sai Khao, Ko Lao thuộc tỉnh Ranong, TháiLan đã đề cập đến hầu hết các khía cạnh khác nhau của tình hình kinh tế- xãhội như di dân, học vấn, lao động, các hình thức khai thác tài nguyên, kinh tế
hộ gia đình Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ mô tả và nêu ramột số vấn đề kinh tế - xã hội cần phải giải quyết, chứ chưa phân tích đượcnhững mối quan hệ qua lại giữa các khía cạnh kinh tế - xã hội, cũng như mốitương quan của chúng với các thành phần của hệ sinh thái
2.2.2 Tại Việt Nam
Việt Nam có bờ biển kéo dài 3.260km với khí hậu nhiệt đới gió mùa làđiều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây ngập mặn hầu hếtcác loài cây ngập mặn phân bố chủ yếu ở vùng ven biển và ở từng khu vực cónhững đặc trưng riêng về địa hình, địa mạo nên có sự sai khác về số lượng,
Trang 18thành phần loài cây ngập mặn Nghiên cứu của Phan Nguyên Hồng (1987)cho thấy ở vùng rừng ngập mặn ở Việt Nam chia thành 4 khu lớn bao gồm:
- Khu vực 1: ven biển Đông Bắc từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến ĐồSơn (Hải Phòng)
- Khu vực 2: ven biển đồng bằng Bắc Bộ từ Đồ Sơn đến Lạch Trường(Thanh Hoá)
- Khu vực 3: ven biển miền Trung kéo dài từ Lạch Trường tới Vũng Tàu
- Khu vực 4: ven biển Nam Bộ từ Vũng Tàu tới Hà Tiên
Và trong mỗi vùng chia ra các tiểu vùng (Phan Nguyên Hồng, 1999)[10]
+ Nghiên cứu về phân loại, phân bố
Vũ Văn Cương là người đầu tiên có công trình nghiên cứu một cách hệthống về rừng ngập mặn ở Việt Nam trong trong luận án tiến sĩ của mình(1964) về các quần xã thực vật ở rừng Sát thuộc vùng Sài Gòn – Vũng Tàu.Tác giả đã chia thực vật ở đây thành 2 nhóm: nhóm thực vật nước mặn vànhóm thực vật nước lợ
Phùng Trung Ngân và Châu Quang Hiền (1987) đã đề cập đến 7 kiểuthảm thực vật ngập mặn ở Việt Nam: Rừng Mấm hoặc Bần đơn thuần, rừngĐước đơn thuần, rừng Dừa đước, rừng hỗn hợp vùng triều trung bình, rừngVẹt – Giá vùng đất cao, rừng Chà là – ráng đại và trảng thoái hoá [12]
Nguyễn Hoàng Trí (1999)[18], Phan Nguyên Hồng và cộng sự (1999)[10] cho rằng Đưng không có ở miền Bắc Việt Nam, chỉ có ở ven biển miềnTrung và Nam Bộ Quần xã Đưng tiên phong ở phía tây bán đảo Cam Ranh,gặp ở phía trong quần xã Mấm trắng, Bần trắng trên đất ngập triều trung bình.Cóc trắng gặp ở cả ba miền, trên vùng đất cao ngập triều không thườngxuyên, nền đất tương đối chặt Vẹt đen không có ở miền Bắc, gặp ở vùngnước lợ ở miền Nam Trang phân bố từ Bắc vào Nam, chịu được biên độ nhiệtkhá khắc nghiệt, hiện trồng nhiều ở miền Bắc
Trang 19Ở Việt Nam khoảng 73% tổng diện tích đất ngập mặn ven biển tậptrung ở miền Nam Việt Nam (từ đèo Hải Vân tới mũi Cà Mau) với diện tíchrừng ngập mặn chiếm khoảng 70% diện tích rừng ngập mặn ở Việt Nam.
+ Nghiên cứu các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến phân bố, sinh
trưởng rừng ngập mặn:
Theo Thái Văn Trừng (1998)[21] có 3 nhóm nhân tố sinh thái phát sinhrừng ngập mặn: thứ nhất là tính chất lý hoá của đất, thứ hai là cường độ vàthời gian ngập của thuỷ triều, thứ ba là độ mặn của nước
Phan Nguyên Hồng đã đề cập đến vấn đề phân bố, sinh thái, sinh lýsinh khối… rừng ngập mặn trong luận án Tiến sỹ khoa học “sinh thái thảmthực vật rừng ngập mặn Việt Nam” (1991[8])
- Số loài cây ngập mặn ở miền Bắc Việt Nam ít hơn và có kích thướccây bé nhiều hơn ở miền Nam vì có nhiệt độ thấp trong mùa đông
- Vùng ít mưa, số lượng loài và kích thước cây giảm
- Khi điều kiện khí hậu và đất không có sự khác biệt lớn thì vùng cóchế độ bán nhật triều cây sinh trưởng tốt hơn vùng có chế độ nhật triều
- Độ mặn là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến
sự sinh trưởng, tỷ lệ sống của các loài và phân bố của thảm thực vật loại rừngnày phát triển tốt ở nơi có nồng độ muối trong nước từ 10 – 25 ‰
- Trong các nhân tố sinh thái thì khí hậu, thuỷ triều, độ mặn và đất đóngvai trò quyết định sự sinh trưởng và phân bố của thảm thực vật rừng ngậpmặn Các nhân tố khác góp phần tích cực trong việc phát triển hay hạn chếkiểu thảm thực vật này
Nguyễn Mỹ Hằng và Phan Nguyên Hồng (1995) đã tìm hiểu về ảnhhưởng nhiệt độ thấp đến sinh trưởng của Trang, Đâng, Đước đôi, Đưng ởmiền Bắc Việt Nam Kết quả thí nghiệm cho thấy Đưng và Đước đôi sinhtrưởng bình thường vào mùa hè và mùa thu, nhưng đến mùa đông (nhiệt độ
Trang 20< 11oC) thì loài này chết đi; trong khi đó Trang và Đâng vẫn vượt qua mùađông giá rét [6].
Thí nghiệm về quang hợp trên Đước đôi ở Cần Giờ ở thành phố Hồ ChíMinh, Phan Nguyên Hồng và cộng sự cho thấy khi nhiệt độ không khí lên đến
42oC thì quá trình quang hợp bị đình trệ
Mai Sỹ Tuấn (1995) đã nghiên cứu phản ứng sinh lý, sinh thái củaMấm biển con trồng thí nghiệm ở các độ mặn khác nhau trong nhà kính chothấy trong điều kiện thí nghiệm ở độ mặn nước biển 25‰ thì mấm biển cósinh trưởng về đường kính và chiều cao giảm dần khi độ mặn nước biển tănglên Cây mọc ở môi trường không có muối thì tỷ lệ sinh trưởng thấp nhất Quátrình quang hợp tỷ lệ nghịch với độ mặn của môi trường: độ mặn càng cao thìquang hợp càng giảm nhưng cây ngập mặn vẫn duy trì năng suất quang hợpdương ở các độ mặn thí nghiệm kể cả ở 150% độ mặn nước biển
+ Nghiên cứu về sinh khối năng suất lượng rơi:
Công trình nghiên cứu đầu tiên về sinh trưởng và sinh khối rừng ngậpmặn ở Việt Nam đó là luận án phó tiến sỹ của Nguyễn Hoàng Trí (1986)[17].Tác giả nghiên cứu về sinh khối và năng suất quần xã rừng Đước đôi: rừnggià, rừng tái sinh tự nhiên và rừng trồng 7 năm tuổi ở Cà Mau
Nguyễn Hoàng Trí (1986) là người đầu tiên nghiên cứu về năng suấtlượng rơi của rừng Đước đôi tại huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau Tác giả xácđịnh lượng rơi của rừng Đước đôi là khá cao 2,673g/m2/ha, trong đó lượngrơi của lá chiếm tỷ lệ cao nhất (79,71%) và lượng rơi vào mùa khô cao hơnmùa mưa [17]
+Nghiên cứu về đất rừng ngập mặn:
Theo Ngô Đình Quế (2003) và cộng sự cho rằng: chất hữu cơ là mộttrong những nhân tố quyết định đến sinh trưởng của rừng ngập mặn, nếu hàmlượng chất hữu cơ trong đất ngập mặn thấp hơn 1% thì sinh trưởng xấu,
Trang 21nhưng nếu quá cao, lớn hơn 15% thì cũng kìm hãm sinh trưởng của 5 cây vàcũng có thể làm cây trồng bị chết do môi trường đất bị ô nhiễm [13].
Theo kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học về đất ngập mặn ởViệt Nam thì nước ta gồm các loại đất ngập mặn chính là:
- Đất ngập mặn phần lớn dưới rừng ngập mặn (Gleyic – Salic –Fluvisols)
- Đất phèn tiềm tàng nông dưới rừng ngập mặn Fluvisols, Sulfidic material 0-50cm)
- Đất phèn tiềm tàng sâu dưới rừng ngập mặn (Salic-Proto-Thionic-Fluvisols, Sulfidic material >50cm)
(Salic-Proto-Thionic-+ Nghiên cứu liên quan đến sinh thái nhân văn:
Trước cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ 2 (1962 – 1971), ViệtNam có khoảng 400.000ha rừng ngập mặn Có nhiều nhà khoa Việt Nam
và thế giới đã tiến hành những nghiên cứu về hệ sinh thái rừng ngập mặn ởViệt Nam
Cây ngập mặn Việt Nam có nhiều công dụng Có khoảng 30 loài câycho gỗ, củi và 14 loài cây cho tannin Lá của 24 loài cây ngập mặn được dùnglàm phân xanh và khoảng 21 loài cây ngập mặn có tác dụng làm thuốc chữabệnh Nhiều loài cây ngập mặn cho mật hoa, người dân có thể tiến hành nuôiong trên quy mô nhỏ và vừa Dừa nước cung cấp cho người dân một lượng
Trang 22nhựa để nấu đường, cồn và một lượng lá đáng kể để lợp nhà, làm vách (PhanNguyên Hồng và cs, 1988 [7]; Trần Văn Ba (1996)[1].
Rừng ngập mặn cung cấp nơi ở, thức ăn cho một số loài chim di trú.Rừng ngập mặn còn là nơi bảo tồn nguồn gen của một số loài động vật trêncạn Ngoài ra, rừng ngập mặn có chức năng sinh thái giúp điều hào khí hậu,hạn chế xói lở, bảo vệ làng cá Đặc biệt đối với các làng xã ven biển Bắc Bộ
và Bắc Trung Bộ Việt Nam, hệ sinh thái rừng ngập mặn góp phần đáng kểvào việc bảo vệ đê biển (Phan Nguyên Hồng và cs, 1988[7], 1999[10])
Một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy rừng ngậpmặn là nơi nuôi dưỡng chính cho ấu trùng của một số loài thuỷ sản có giá trị(Phan Nguyên Hồng, 1997) Vũ Trung Tạng (1994)[15] đã đưa ra mô hìnhmối quan hệ dinh dưỡng của thuỷ sinh vật một cách cụ thể hơn trong rừngngập mặn trên cơ sở xích thức ăn phế liệu Phạm Đình Trọng (1996)[20] đãđưa ra mô hình biểu diễn sự tham gia của động vật đáy vào chuỗi thức ăn phếliệu với vai trò là vật tiêu thụ bậc một Lượng rơi từ cây ngập mặn tham giavào xích thức ăn phế liệu này đã được nhiều nhà khoa học Việt Nam nghiêncứu (Phan Nguyên Hồng, 1991[8]; Nguyễn Hoàng Trí, 1986[17]
Rừng ngập mặn Việt Nam đã bị suy thoái do nhiều nguyên nhân Trongcuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ 2 có khoảng 40% diện tích rừng ngậpmặn bị phá huỷ Đến những năm 80, rừng ngập mặn Việt Nam tiếp tục bị pháhuỷ do phong trào nuôi tôm phát triển mạnh Không chỉ có diện tích rừngngập mặn bị giảm mà trữ lượng tôm, cá ở các vùng rừng ngập mặn và vùngven bờ cũng bị suy giảm trong những năm gần đây
Các đề tài nghiên cứu về nuôi trồng thuỷ sản, ảnh hưởng của nó đếnmôi trường, xây dựng các mô hình lâm – ngư kết hợp, kĩ thuật nuôi thuỷ sảntrong vùng rừng ngập mặn được chú trọng Nhà nước, các tổ chức phi Chính
Trang 23phủ đã quan tâm hộ trợ vốn cho các hoạt động nghiên cứu cũng như sản xuất(Phan Nguyên Hồng và cs, 1995)[9].
Ngoài việc phá rừng làm đầm nuôi tôm, còn có những hoạt động gâysuy giảm, thoái hoá hệ sinh thái rừng ngập mặn như: Khai thác quá mức,chuyển đổi rừng ngập mặn thành đất sản xuất nông nghiệp, làm đồng muối,khai thác khoáng sản, đô thị hoá, mở rộng cảng, ô nhiễm môi trường
Công tác phục hồi rừng ngập mặn đã được chính quyền các cấp, cácnhà khoa học và các tổ chức phi chính phủ quan tâm và đầu tư có hiệu quả.Vai trò của các chính sách, sự đầu của Chính phủ và các tổ chức phi Chínhphủ cũng như sự tham gia của người dân địa phương trong công tác phục hồi
và bảo vệ rừng ngập mặn đóng vai trò then chốt (Nguyễn Đình Cương,1995[14]; Trịnh Thị Thu Hương, 1997; Lê Diên Dực, 1997, Phan NguyênHồng và cs, 1999; Phan Nguyên Hồng, Trần Văn Ba, 1995) Các vấn đề kỹthuật trong công tác trồng rừng cũng được chứ trọng nghiên cứu nhằm nângcao hiệu quả khôi phục rừng (Trần Văn Ba, Phan Nguyên Hồng, 1994; LêXuân Tuấn, 1999) Rừng ngập mặn được trồng lại nâng cao hiệu quả khảnăng phục hồi của hệ sinh thái đối với cảnh quan và sự đa dạng chức năng củavùng ven biển và như vậy nó nâng cao khả năng phục hồi về mặt xã hội(Nguyễn Hoàng Trí và cs, 1999)
Trong các đề tài nghiên cứu cơ bản, các dự án đầu tư, phát triển, thẩmđịnh dự án, một số khía cạnh kinh tế xã hội được các nhà khoa học đề cậpđến nhất là trong những năm gần đây Trong các công trình thì nghiên cứucủa Phan Nguyên Hồng về tình hình kinh tế xã hội tại vùng rừng ngập mặnthuộc huyện Ngọc Hiển, Cà Mau tương đối toàn diện (1997) Nghiên cứu này
đã đề cập đến hầu hết các khía cạnh liên quan đến tình hình kinh tế xã hội nhưnhân khẩu, hình thức di cư, nghề nghiệp, buôn bán, nông nghiệp, lao độngthời vụ, tình hình học vấn, chăm sóc sức khoẻ, tục lệ, quản lý hành chính,
Trang 24điều kiện kinh tế, sự giảm sút tài nguyên rừng ngập mặn và nguyên nhân của
nó Nghiên cứu cũng phân tích một số tiến bộ ban đầu của những phươngthức nuôi tôm dựa trên các mô hình lâm – ngư kết hợp Tuy nhiên, nghiên cứunày cũng chưa phân tích được các mối tương quan của các yếu tố sinh thái,cũng như xã hội
Phan Thị Anh Đào là người đầu tiên có công trình nghiên cứu sinh tháinhân văn tại một vùng rừng ngập mặn ở Việt Nam trong luận án tiến sỹ
“Nghiên cứu sinh thái nhân văn vùng rừng ngập mặn xã Tam Thôn Hiệp, huyện Cần giờ, thành phố Hồ Chí Minh” Trong công trình của mình, tác giả
đã phân tích các đặc điểm của hệ tự nhiên và hệ xã hội, nghiên cứu sự tươngtác giữa các thành phần của hệ sinh thái nhân văn khu vực xã Tam Thôn Hiệpthông qua các dòng năng lượng, vật chất và thông tin, phân tích động thái của
hệ sinh thái nhân văn trong giai đoạn 1978-1998
Từ các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới và ởViệt Nam, có thể nhận thấy rừng ngập mặn có vai trò rất to lớn đối với pháttriển kinh tế xã hội và phòng hộ ven biển quốc gia Trong những năm gầnđây, rừng ngập mặn bị suy giảm nghiêm trọng và hiện đang đứng trước những
áp lực lớn về phát triển kinh tế - gia tăng dân số Các nghiên cứu tổng thể vềcác vấn đề kinh tế - xã hội vùng rừng ngập mặn nói chung, cũng như việc kếtnối giữa hệ sinh thái và hệ xã hội trong các nghiên cứu về công tác quản lý
và sử dụng các hệ sinh thái còn rất hạn chế
Trên cơ sở phân tích các tài liệu, luận văn này quan tâm đến việcxem xét một cách tổng thể về hệ tự nhiên và hệ xã hội, mối quan hệ tácđộng qua lại giữa hệ tự nhiên và xã hội của vùng rừng ngập mặn xã KimHải huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình từ đó đưa ra các giải pháp trong côngtác quản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên để rừng ngặp mặn phát triểnxứng với tầm giá trị của nó
Trang 253 MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU,
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn đánh giá các điều kiện sinh thái, kinh tế - xã hội, phân tích tácđộng qua lại giữa các thành phần hệ tự nhiên và hệ xã hội vùng rừng ngậpmặn xã Kim Hải huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình làm cơ sở đề xuất giải pháp,giải quyết các vấn đề trong công tác quản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Vùng rừng ngập mặn ven biển huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình
- Xã Kim Hải huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình
3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Sự tác động qua lại giữa con người và vùng rừng ngập mặn
4 TÓM TẮT CÁC LUẬN ĐIỂM CƠ BẢN
Luận văn nghiên cứu các nội dung:
- Nghiên cứu một số đặc điểm của hệ tự nhiên vùng rừng ngập mặn venbiển huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình
- Nghiên cứu một số đặc điểm của hệ xã hội xã Kim Hải, huyện KimSơn, tỉnh Ninh Bình
- Nghiên cứu sự tác động qua lại giữa con người và vùng rừng ngập mặn
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển bền vững rừng ngập mặn
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Lý thuyết sinh thái nhân văn được sử dụng làm cơ sở phương pháp luậntrong luận văn này Các số liệu được thu thập và điều tra chủ yếu dựa trên cơ
sở của các phương pháp: đánh giá nhanh nông thôn (Rural rapid appraisal),đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân
5.1 Thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp
5.1.1 Thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp về hệ tự nhiên
Tiến hành thu thập các tài liệu có liên quan về:
Trang 26- Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn, địa hình, thổ nhưỡng
- Số liệu thống kê, tài liệu về diện tích, thành phần loài, tăng trưởng củarừng ngập mặn
- Các tài liệu nghiên cứu về thành phần loài và biến động số lượng củakhu hệ thuỷ sinh và khu hệ động vật cạn
5.1.2 Thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp về hệ xã hội
Tiến hành thu thập các tài liệu có liên quan về :
- Số liệu thống kê về tình hình kinh tế - xã hội của xã Kim Hải, huyệnKim Sơn
- Các tài liệu có liên quan đến tình hình hình kinh tế - xã hội, lịch sửhình thành và phát triển xã Kim Hải, huyện Kim Sơn
- Các số liệu, báo cáo có liên quan đến công tác phục hồi, bảo vệ vàquản lý rừng ngập mặn ven biển huyện Kim Sơn
- Các tài liệu, văn bản pháp luật, dưới luật có liên quan đến tình hình pháttriển kinh tế xã hội, khôi phục và quản lý tài nguyên vùng rừng ngập mặn ven biểnhuyện Kim Sơn
5.2 Điều tra khảo sát trên thực địa
5.2.1 Điều tra, khảo sát hệ tự nhiên
Chúng tôi đã tiến hành điều tra số loài cây ngập mặn, các quần xã rừngngập mặn thường gặp, các loài thường được đánh bắt tại xã Kim Hải với sựgiúp đỡ của các chuyên gia Đồng thời tiến hành điều tra về tài nguyên sinhvật thuỷ sinh, động vật trên cạn và thẩm định những tài liệu có liên quan
5.2.2 Điều tra hộ gia đình và các vấn đề cơ bản của hệ xã hội
Trên cơ sở phân tích sơ bộ các số liệu, tài liệu thứ cấp cơ bản đã thunhập được về tình hình kinh tế xã Kim Hải nói riêng và huyện Kim Sơn nóichung, chúng tôi tiến hành khảo sát có tính thăm dò phù hợp với từng mụcđích nghiên cứu vấn đề
Trang 28Hình 1 Bản đồ rừng ngập mặn ven biển Kim Sơn
Trang 29PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HỆ TỰ NHIÊN
1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
Xã Kim Hải nằm phía Tây Nam của huyện Kim Sơn, có vị trí địa lý:
- Phía Bắc giáp đê Bình Minh I
- Phía Nam giáp đê Bình Minh II
- Phía Đông giáp đường trục Bình Minh III
- Phía Tây giáp sông Càn
Bảng 1 Nhiệt độ các tháng Tháng
16,5 17,
6
19, 5
23, 2
27, 7
28, 8
20, 1
28, 3
27, 5
22,6
Max( o C) 31,2 30,
3
34, 6
32,5 33,
2
36, 4
37, 3
39, 4
39, 3
39, 4
35, 2
33, 4
17, 9
18, 9
21, 8
22, 1
16, 8 13,6
(Nguồn Trung tâm Khí tượng Thủy văn tỉnh Ninh Bình 2014)
Trang 301.2.2 Độ ẩm
Độ ẩm trung bình năm khoảng 85%, trong các tháng đều đạt trên 80%.Mặc dù vậy chênh lệch độ ẩm trung bình giữa các tháng trong năm không lớn(tháng cao nhất 92%, tháng thấp nhất 80%) Độ ẩm cao tác động đến môitrường của khu vực tương đối khắc nghiệt với sức khoẻ của con người và hệđộng vật trong vùng
(Nguồn Trung tâm Khí tượng Thủy văn tỉnh Ninh Bình năm 2014)
Độ ẩm không khí thường cao từ tháng 2 đến tháng 4 và một số thờiđiểm vào mùa mưa nên trong thời gian này tầm nhìn hạn chế, gây khó khăncho việc lưu thông trên biển và các hoạt động sản xuất, đánh bắt cá của ngưdân địa phương
1.2.3 Chế độ mưa
Nằm tại khu vực giáp ranh giữa Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ nên tỉnh NinhBình luôn chịu tác động của các cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào haikhu vực này, do vậy lượng mưa trên địa bàn tỉnh cao hơn các khu vực kháccủa cùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
Trang 31(mm) 5,3 1,2 0.3 0.9 6,0 25,9 25,3 59,0 70,7 34,8 103,4 92,6
(Nguồn Trung tâm Khí tượng Thủy văn tỉnh Ninh Bình năm 2014)
Lượng mưa thường phân bố không đồng đều giữa các tháng trong năm.Mùa mưa (từ tháng 5 ÷ 10) lượng mưa chiếm 75 ÷ 80% lượng mưa cả năm.Mưa lớn nhất trong năm thường xảy ra do ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệtđới, có những năm thời tiết bất thường gây mưa lớn kết hợp với thuỷ triều lêncao ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân trong khu vực Mùađông lượng mưa chiếm khoảng 10 ÷ 20% tổng lượng mưa cả năm, chủ yếu làdạng mưa nhỏ, mưa phùn
Mùa mưa bão thường bắt đầu từ tháng 5 và tháng 6, kết thúc vào tháng 10
và tháng 11 trong năm, ảnh hưởng đến cây trồng và vật nuôi, đời sống củanhân dân trong vùng
Bão gây sóng to, gió mạnh và mưa lớn trên diện rộng… Mỗi cơn bãogây ra mưa kéo dài trong vài ngày, với tổng lượng mưa lên đến 200 - 300mm.Tính trung bình lượng mưa bão chiếm khoảng 30% tổng lượng mưa toàn mùa mưa.
Bảng 4 Tốc độ gió và hướng gió
m/s 42 18 17 14 16 17 20 32 35 40 40 46Hướng TTB TB TB B B ĐB B TN T Đ ĐB B
Trang 32(Nguồn: Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn tỉnh Ninh Bình năm 2014)
1.3 CHẾ ĐỘ THUỶ VĂN
Phía tây xã Kim Hải giáp với sông Càn Sông bắt nguồn từ Bỉm SơnThanh Hoá, chảy qua Hà Trung Nga Sơn rùi trở thành ranh giới tự nhiêncủa Kim Sơn – Ninh Bình và Nga Sơn – Thanh Hoá từ xã Định Hoá qua xãVăn Hải, Kim Mỹ, Kim Hải rồi đổ ra biển Đoạn chảy qua vùng nghiên cứucủa sông Càn dài khoảng 9km Đây là con sông nhỏ, hẹp dòng chảy chậm.Lưu lượng về mùa mưa khoảng 2500m3/s và mùa khô khoảng 1200m3/s.Sông Càn chảy dọc vùng đồng bằng Hà Trung, Nga Sơn Thanh Hoá hướngtây – đông rồi mới đổ ra biển nên lượng phù sa hàng năm tải ra biển khôngnhiều Tuy nhiên cũng góp phần tăng lượng bồi tụ cho khu vực bãi bồi venbiển
Hoạt động thuỷ triều tại vùng nghiên cứu cũng mang đặc điểm chungcủa vùng ven biển đồng bằng Bắc Bộ thuộc chế độ nhật triều không đều Mỗitháng có 22 – 25 ngày nhật triều và từ 5 – 6 ngày bán nhật triều Những ngàytriều lớn trong tháng biên độ thuỷ triều dao động từ 2 – 4m, còn những ngàytriều thấp biên độ thuỷ triều dao động từ 1 – 2m
Độ mặn nước biển trong năm có sự thay đổi theo mùa Mùa hè – thu(mùa mưa), lượng nước đổ ra biển nhiều nên độ mặn dao động trong khoảng
từ 9 – 20‰ Mùa đông – xuân (mùa khô), lượng nước đổ ra biển ít nên độmặn dao động trong khoảng 18 – 28 ‰
1.4 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NGẬP MẶN VEN BIỂN
Đất rừng ngập mặn ven biển huyện Kim Sơn, nằm trên địa bàn hànhchính của 3 xã: Kim Đông, Kim Hải, Kim Trung
Tổng diện tích đất rừng ngập mặn huyện Kim Sơn là 1.208,03ha chiếm5,7% diện tích đất tự nhiên toàn huyện
Trang 33Diện tích đất rừng và rừng ngập mặn được giao cho ba đơn vị tổ chứcquản lý: Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Kim Sơn, Bộ chỉ huy quân sự tỉnhNinh Bình và Hội chữ thập đỏ tỉnh Ninh Bình.
(Nguồn: Dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển
Kim Sơn tỉnh Ninh Bình đến năm 2020)
Kết quả bảng cho thấy hội chữ thập đỏ được giao quản lý diện tích đấtrừng ngập mặn nhiều nhất là 477,03ha, sau đó là Ban quản lý rừng phòng hộhuyện Kim Sơn là 423,26ha, ít nhất là Ban chỉ huy quân sự tỉnh Ninh Bình là307,64ha
Diện tích đất có rừng 503,2 ha chiếm 41,65% diện tích đất lâm nghiệp.rừng ngập mặn ở đây được trồng chủ yếu từ năm 1998 đến nay và trồng bằngcác loài cây: bần chua, trang, sậy nên cơ cấu loài cây và cấu trúc rừng cònđơn giản Do vậy khả năng phòng hộ chắn sóng lấn biển còn nhiều hạn chế
Diện tích đất chưa có rừng là rất lớn (704,83ha) chiếm 58,35% Nhữngdiện tích này tuy là đất lâm nghiệp nhưng khả năng trồng rừng ngập rất nhiềukhó khăn, do độ ngập triều còn sâu và thời gian ngập triều dài dẫn đến độthành thục đất chưa ổn định Trong những năm gần đây được sự quan tâm củacác cấp các ngành, các tổ chức phi chính phủ đầu tư cho việc phát triển rừng,
Trang 34hàng năm Kim Sơn tiến hành trồng từ 100 – 200 ha rừng, nhưng diện tích đấtchưa có rừng vẫn chiếm tỉ lệ cao Vì trong quá trình phát triển rừng có nhiềunguyên nhân là cho rừng bị mất: bất lợi của thời tiết, sâu bệnh phá hoại (rừngsau khi trồng thường bị cua, còng và đặc biệt là con hà phá hại), người dânsống gần rừng tác động xấu lên rừng…
1.5 THẢM THỰC VẬT
Rừng ngập mặn Kim Sơn nói chung và rừng ngập mặn thuộc khu vực
xã Kim Hải nói riêng từ trước đến nay có sự xuất hiện của 2 loài cây ngậpmặn: cây bần chua, cây trang Do cơ cấu loài cây đơn giản nên tổ thành vàcấu trúc rừng phòng hộ cũng đơn giản Cây bần chua và cây trang được đánhgiá là cây trồng phù hợp với điều kiện lập địa vùng bãi bồi ven biển Kim Sơn
1.5.1 Cây bần chua (Sonneratia caseolaris)
Là cây gỗ cao 10 – 15m, loài cây tiên phong ở vùng kênh rạch ven sôngnước lợ Cây phân nhiều cành, tán rộng, rễ hô hấp hình chông phát triển, lanrộng quanh gốc theo hình phóng xạ
Lá hình bầu dục, lá non dài, cuống lá mầu đỏ nhạt Lá rụng vào mùađông lạnh
Cây ra hoa vào tháng 3 – 4, hoa mọc đơn độc ở đầu cành hay nách lá,
nụ có hình trứng màu lục nhạt Hoa lưỡng tính, đối xứng toả tròn, 6 lá đài hợplại ở gốc, màu lục ở ngoài, màu tím hồng ở mặt trong thuộc loại đài đồngtrưởng, nhị nhiều, đầu nhuỵ hơi tròn, vòi nhuỵ dài
Quả mọng, hình cầu dẹt, đường kính 4 – 5cm, vỏ nhẵn, đài đồngtrưởng, chia thuỳ trải dài trên gốc quả Quả có hình tròn ở phần đầu, vỏ quảdày, chứa nhiều hạt
Gỗ thường dung làm bột giấy, củi, hoa nuôi ong, quả dùng nấu canhchua, hệ rễ phát triển bám chắc vào bùn Vì vậy, cây được trồng ở những bãibồi mới hình thành để ổn định đất, chắn sóng, bảo vệ đê sông, đê biển
Trang 351.5.2 Cây trang (Kandelia obovata)
Là cây gỗ cao 4 – 8m, thích nghi với loại đất bùn xốp và bùn pha cát, mọcchủ yếu ở nơi thuỷ triều cao hoặc thuỷ triều trung bình, ưa độ mặn nước biển từ
20 - 34‰, chịu được thời tiết khắc nghiệt Gốc rộng hình thành bạnh gốc
Lá mọc đối hình thuôn dài, chóp lá có mũi nhọn, cụm hoa hình tán hoa
có đĩa mật Quả có hình quả lê nhỏ khi còn non, trơn màu nâu vàng
Cây ra hoa vào tháng 5- 6, là cây thuộc họ đước nên có hiện tượngsinh con trên cây mẹ, hạt của loài cây cây này nảy mầm ngay sau khi chín
và có thời gian nghỉ ngay trên cây mẹ, tạo ra cây con nối liền với quả, màphần phát triển ngoài quả gọi là trụ dưới lá trụ mầm (gọi tắt là trụ mầm).Trụ mầm có cấu tạo giải phẫu của một cây con, dạng thuôn, phần bụngphình to sau nhọn dần
Gỗ thường dùng làm củi, làm các dụng cụ sản xuất muối, hoa nuôi onglấy mật, hệ rễ phát triển bám chắc vào bùn
Trụ mầm và vỏ cây có thể khai thác tannin làm chất nhuộm côngnghiệp, lá cây làm thức ăn chăn nuôi gia súc, ủ phân xanh giầu đạm
Ngoài ra, còn có sự xuất hiện của các loài như sậy (Phragmites
australis), cỏ ngạn, rau muống biển (Ipomoea pes-caprae), cỏ sước, cói
(Cyperaceae)…
Thực vật nổi cũng rất đa dạng ở vùng cửa sông Càn Qua số liệu điềutra của trung tâm Sinh thái học và Tài nguyên sinh vật cho thấy có 44 giốngthuộc 4 ngành: Tảo Khuê (Bacilariophyta); tảo Giáp (Pyrrophyta); tảo Lam(Cyanophyta) và tảo Lục (Chlorophyta), đặc biệt những thực vật ưa mặn xuấthiện nhiều ở cửa sông Càn
1.6 HỆ ĐỘNG VẬT
Trang 36Trong rừng ngập mặn có 9 loài lưỡng cư và 21 loài bò sát, xuất hiện
một số loài cò, vạc (Nycticorax), cò thìa (Platalea), mòng két (Anas crecca)
…
Có một số loài động vật quý hiếm cần được bảo tồn như sâm cầm
(Fulica atra), diệc xám (Ardea cinerea rectirostris Gould), bìm bịp lớn (centropus sinensis intermedius).
Động vật thuỷ sinh ở khu vực này có nhóm Chân mái chèo (Copepoda),nhóm Râu ngành (Cladocera), nhóm Lưỡng túc (Ampipoda), Trùng bánh xe(Potatoria) Tôm bột và Cá bột Trong đó có 2 nhóm Copepoda và Cladoceraxuất hiện nhiều nhưng Copepoda là nhóm quan trọng nhất vì có số lượng cao
và có ưu thế về khả năng thích nghi theo điều kiện thời tiết
Tài nguyên thuỷ sản vùng bãi bồi Kim Sơn khá phong phú và đa dạng
Do ảnh hưởng của sông Đáy và sông Càn cũng như ảnh hưởng từ thuỷ triềubiển Đông đến độ mặn trong nước của vùng mà mức độ phân bố nguồn lợithuỷ sản trong vùng có khác nhau:
+ Tôm rảo (Metapenaeus ensis), tôm riu , cá quả (channa argus), cá diếc (Carassius auratus), lươn (Monopterus albus)… phân bố tự nhiên ở các rạch
có rong đuôi chó dày, tập trung chủ yếu ở khu vực phía Đông vùng bãi bồi phíatrong đê MB1, các loài thuỷ sản này có thể chịu được độ mặn tới 2‰
+ Tôm he phân bố chủ yếu ở phía tây xã Kim Trung, phía đông xã KimHải nhưng mật độ rất thấp Môi trường nước cần cho sự sống của tôm he phải
có độ mặn lớn hơn 3‰
+ Cua rèm: sống trong vùng nước có độ mặn từ 3,2‰ – 9,5‰ Điềukiện tốt nhất là trong vùng có độ mặn >5‰
+ Cá bớp (Rachycentron canadum): Sống chủ yếu ở vùng bãi bồi phù
sa, môi trường sống chủ yếu là hang trong bùn nhão
Trang 37Vùng nghiên cứu còn có các loại nhuyễn thể hai mảnh như ngao (thuộc
họ Veneridae), vọp(Geloina coaxans) có trữ lượng khá lớn.
Kiến trong rừng ngập mặn sống trên môi trường thích hợp là các thân
cây đổ, cành lá khô… một số loài như Oecophylla smaragdina trên các cây
trang, bần chua Vào mùa ra hoa kiến là loài động vật tham gia tích cựctrong quá trình thụ phấn cho cây Trong rừng ngập mặn có nhiều loài ongtrong đó có các loài ong lấy mật (Apis), việc nuôi ong lấy mật khá pháttriển trong vùng
Đặc điểm điều kiện tự nhiên của xã Kim Hải tạo điều kiện tương đốithuận lợi cho các loài sinh vật phát triển, tuy nhiên các loài cây rừng ngậpmặn còn đơn giản chỉ có trang, bần chua và sậy vì thế khả năng phòng hộ cònhạn chế Vùng rừng ngập mặn có nhiều loài thuỷ sinh vật như tôm, cua,ngao… có giá trị kinh tế, tạo điều kiện tiềm năng cho các hoạt động ngưnghiệp Có một số loài động vật quý hiếm cần được bảo vệ
Trang 38CHƯƠNG II MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HỆ XÃ HỘI
2.1 ĐẶC ĐIỂM LỊCH SỬ
Kim Hải là một trong 3 xã ven biển của huyện Kim Sơn, được thànhlập từ việc quai đê lấn biển Bình Minh II
Quá trình hình thành huyện Kim Sơn
Tháng 2 năm Kỷ Sửu (1829), Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ được
hỗ trợ của nhà nước phong kiến đã tiến hành công cuộc khẩn hoang vùng bãibiển trù phú này Chỉ trong một thời gian ngắn, ông đã chiêu tập được 1.260dân đinh hầu hết từ Nam Định sang, một phần Yên Mô, Yên Khánh xuống.Với công cụ lao động hết sức thô sơ, bằng mồ hôi và sức lực của con người làchủ yếu nhưng dưới sự lãnh đạo tài tình của Nguyễn Công Trứ đã thành lập ramột huyện mới (Kim Sơn) vào cuối năm 1829 gồm 7 tổng (Chất Thành, Hồi Thuần, Quy Hậu, Hướng Đạo, Tự Tân, Tuy Lộc, Lai Thành) với 14.600 mẫu ruộng.
Nối tiếp truyền thống chinh phục thiên nhiên, lấn biển, lập làng, từkhi thành lập đến nay huyện Kim Sơn đã qua 7 lần tổ chức quai đê lấnbiển, đã đưa diện tích tự nhiên lên gấp 4 lần so với lúc mới thành lập Hàngtrăm kilomet sông, đê được đào đắp có ý nghĩa to lớn trong việc cải tạoruộng đồng, mở đất lập làng, vừa tạo cảnh quan đẹp mắt hiếm có của mộthuyện ven biển
Các đơn vị hành chính của huyện cũng tăng dần cùng với mỗi lần quai
đê, lấn biển Cuối năm 1829, có 7 tổng 60 lý, ấp trại, đến năm 1912 thành lậpthêm 5 làng mới Năm 1948, huyện chia thành 4 tiểu khu với 25 xã Ngày27/4/1977, theo quyết định số 125/CP của Hội đồng Chính phủ, 9 xã phíaNam huyện Yên Khánh sáp nhập vào huyện Kim Sơn, đồng thời xã KhánhHồng (Yên Khánh) sáp nhập vào xã Yên Mật thành xã Kim Yên, xã ChấtBình sáp nhập với xã Hồi Ninh thành xã Kim Bình và xã Kiến Trung sáp
Trang 39nhập với xã Trì Chính thành xã Kim Chính Như vậy huyện Kim Sơn lúc nàygồm 29 xã và 1 thị trấn Năm 1986, thành lập xã Kim Hải, năm 1987 thànhlập thị trấn Bình Minh, năm 1993 thành lập xã Kim Trung Đến tháng 7/1994thực hiện nghị định số 59/CP của Chính phủ, 9 xã phía Nam huyện YênKhánh tách khỏi huyện Kim Sơn, đồng thời tách xã Kim Bình thành xã ChấtBình và xã Hồi Ninh, xã Yên Mật tách khỏi xã Kim Yên, lúc này huyện KimSơn có 24 xã và 2 thị trấn Đến năm 1998, thực hiện Nghị định số 88/NĐ-CPcủa Chính phủ, xã Kim Đông được thành lập Như vậy đến năm 2011, quanhiều lần biến đổi, huyện Kim Sơn gồm 25 xã và 2 thị trấn.
Quá trình hình thành xã Kim Hải
Vùng ven biển huyện Kim Sơn là cửa ngõ tiền tiêu, có vị trí chiến lượcquan trọng, vì vậy việc quai đê lấn biển không chỉ phục vụ việc mở mangdiện tích mà còn mở ra ở đây một vành đai an ninh biên giới lâu dài trong quátrình bảo vệ Tổ quốc Từ nhân thức trên, ngay trong những năm sau khángchiến chống Pháp thắng lợi, Tỉnh uỷ Ninh Bình, Uỷ ban hành chính tỉnh NinhBình, Bộ quốc phòng đã thống nhất quyết định giao cho Cục hậu cần quânkhu III làm chủ đầu tư tiến hành quai đê lấn biển
Năm 1959, đê Bình Minh I hoàn thành, tạo nên một vùng bãi bồi rộnglớn với diện tích 823ha, nằm giữa 2 con sông, sông Đáy ở phía đông và sôngCàn ở phía tây Để bảo vệ và tăng tốc độ bồi đắp của phù sa Năm 1960, dưới
sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân huyện, hàng vạn cây chắn sóng đã đượctrồng, sau nhiều năm một dải rừng phòng hộ trải dài từ sông Càn đến sôngĐáy dài trên 14km như một bức tường thành gồm sú, vẹt, bần, sậy, chỗ hẹpnhất 500m, chỗ rộng nhất 1500m
Với thuỷ triều vùng Bắc Bộ, ngày lên xuống một lần theo chu kì khôngthay đổi, cộng với nhiêt độ phù hợp khu vực bãi bồi chính là nơi trú ngụ đadạng thuỷ sản và thu hút nhiều người dân ở các nơi đến khai thác
Trang 40Để khai thác vùng đất rộng lớn đầy tiềm năng phía ngoài đê Bình Minh
I, năm 1980, nhà nước tiến hành quai đê Bình Minh II, lần này là do quân khu
3 tổng chỉ huy, có sự tham gia của quân đoàn I, Sư đoàn 68 Tư lệnh Côngbinh và Ban chỉ huy quân sự tỉnh Hà Nam Ninh
Ngày 18/12/1980, chiến dịch ra quân đắp đê Bình Minh II chính thứcđược thực hiện Với hình thức đắp 9 đường trục tiến ra biển và đắp 2 đầu lại,với tuyến đê dài 14,7km và cho đến năm 1986 mới khép kín được 2 đầu đê
Để khai thác vùng bãi bồi giàu có nguồn lợi thuỷ sản này, dưới sự chỉ đạo củaHuyện uỷ, sự chỉ đạo của uỷ ban nhân dân huyện, năm 1980, Ban kinh tế mớihuyện Kim Sơn tổ chức vận động xã viên các hợp tác xã nông nghiệp trongtoàn huyện ra trồng cói bãi, khai thác bãi bồi, điểm quy hoạch của ban là từcống C10 đến sông Càn
Hưởng ứng cuộc vận động của Uỷ ban nhân dân huyện Kim Sơn, cáchợp tác xã Tây Bắc, Đông Hải xã Văn Hải, hợp tác xã Nam Thành, BắcThành xã Lai Thành, hợp tác xã Tuy Định, Hoá Lộc xã Định Hoá, hợp tác xãKim Tân xã Kim Tân, hợp tác xã Đồng Phong, hợp tác xã Cồn Thoi xã CồnThoi, hợp tác xã Mỹ Hải, hợp tác xã Tân Khẩn xã Kim Mỹ đã cử một bộ phận
xã viên ra trồng cói Ban kinh tế mới làm trụ sở trên diên tích quai đê lấn biển(bưu điện văn hoá xã Kim Hải và nhà văn hoá xóm 2 ngày nay), xã viên cáchợp tác xã làm lều tạm trên mái đê Bình Minh I Với sự quan tâm sát sao vàkhuyến khích kịp thời của Ban kinh tế mới, cùng với các hợp tác xã đã làmtốt công tác tuyên truyền, động viên nên xã viên ra khai thác bãi bồi ngàycàng đông, lều lán ở tạm làm kín sườn trong và ngoài đê Bình Minh I
Khi công cuộc đưa nhân dân đi khai hoang trồng cấy cói tại khu vựcbãi bồi của huyện do Ban kinh tế mới huyện trực tiếp chỉ đạo đã thu đượcnhiều kết quả thắng lợi, bước đầu đã hình thành tổ, nhóm, đội trực tiếp bámtrụ để lao động sản xuất