1. Lý do chọn đề tài Chúng ta đang sống trong những năm đầu thế kỉ XXI thời kì của sự bùng nổ công nghệ thông tin và tri thức. Trong xu thế ấy đòi hỏi con người có khả năng tự cập nhập tri thức, thông tin đa chiều, có năng lực hành động, khả năng tự lực, sáng tạo và trách nhiệm cũng như năng lực cộng tác làm việc, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.Với những lí do trên giáo dục nước ta và các nước trên thế giới không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ một chiều cho học sinh những kiến thức kĩ năng loài người đã tích lũy được mà còn bồi dưỡng năng lực tự học sáng tạo, tự tìm hiểu và chiếm lĩnh tri thức, có phương pháp khoa học và có năng lực hành động, năng lực giải quyết vấn đề trí tuệ, các kĩ năng cơ bản nhằm phát triển năng lực cá nhân chuẩn bị sẵn sàng cho việc học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia phục vụ đất nước. Quan điểm này đã được chỉ rõ tại hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam( Khóa VIII, năm 1997): “phải đổi mới phương pháp đào tạo, khắc phục lỗi truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng những phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh” [1]. Việc đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề rất được quan tâm và đã được thực hiện ở tất cả các bậc học, cơ sở đào tạo. Để đạt được các mục tiêu giáo dục trên thì ngoài giờ lên lớp học chính khóa cần phải rèn luyện cho học sinh khả năng tự hoc khi đó trình độ của người học sẽ ngày càng được nâng cao, hoàn thiện. Điều này càng được ghi rõ trong khoản 2 điều 28, năm 2005 của Luật Giáo Dục Việt Nam:“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm tâm lý của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [2]. Trong quá trình đổi mới phương pháp, chúng ta phải chú ý tới phương tiện dạy học nó có vai trò hết sức quan trọng, nhờ phương tiện dạy học giúp cho giáo viên dạy tốt hơn, học sinh có thể lĩnh hội kiến thức một cách tích cực hơn. Vì vậy áp dụng phương tiện hiện đại có ứng dụng công nghệ thông tin ngày càng được phổ biến rộng rãi và đã mang lại hiệu quả tích cực trong quá trình dạy học. Trên cơ sở đó, Chỉ thị 47/2008/CT- BGDĐT, nêu rõ: “ Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ đổi mới phương pháp dạy học”[2]. Ngày nay, công nghệ thông tin đặc biệt là Internet đã và đang thâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống con người. Trong quá trình đổi mới phương pháp thì việc áp dụng các phương tiện dạy học hiện đại có ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học ngày càng được phổ biến rộng rãi và đã mang lại hiệu quả tích cực cho quá trình dạy học . Tuy nhiên, các Website học tập hiện nay chưa có nhiều, đặc biệt là một số nội dung về phần “ Cảm ứng điện từ”- Sách giáo khoa vật lí 11, thì vẫn chưa có Website nào được nghiên cứu, xây dựng để tháo gỡ những khó khăn, sai lầm của học sinh khi ôn tập củng cố thông qua vận dụng trong thực tiễn một số kiến thức trong chương “Cảm ứng điện từ”, các kiến thức đã nêu ngoài giờ các em học ở trên lớp.Với những tính năng của công nghệ thông tin thì những vấn đề khó khăn của các tài liệu truyền thống sẽ được giải quyết, do đó rất phù hợp với việc hỗ trợ cho học sinh tự nghiên cứu kiến thức, hiểu sâu hơn, áp dụng nhiều hơn… Đặc biệt việc kết hợp môi trường dạy học trên lớp và ngoài lớp (liên quan đến đề tài là môi trường trên mạng) để học sinh học tập nhằm phát huy tính tích cực, tự chủ, sáng tạo, hợp tác cuả người học còn chưa được quan tâm nghiên cứu thích đáng. Vì vậy nhằm phát huy tính tích cực, tự chủ, sáng tạo, hợp tác cuả người học nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng kiến thức, tôi chọn đề tài nghiên cứu: Kết hợp môi trường dạy học trên lớp và ngoài lớp trong việc ôn tập củng cố nội dung kiến thức chương “Cảm ứng điện từ” – Vật lí 11 nâng cao.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
- -TRỊNH ĐÌNH TRỌNG
KẾT HỢP MÔI TRƯỜNG DẠY HỌC TRÊN LỚP VÀ NGOÀI LỚP TRONG VIỆC ÔN TẬP CỦNG CỐ NỘI DUNG KIẾN THỨC CHƯƠNG “CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ” -
VẬT LÍ 11 NÂNG CAO
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lí
Mã số : 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Phạm Xuân Quế
Hà Nội - 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được đề tài nghiên cứu khoa học này không chỉ có công sức của riêng tôi mà trong suốt quá trình thực hiện tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp
đỡ từ thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè, người thân.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban G i á m h i ệ u , p h ò n g s a u đ ạ i h ọ c , khoa Vật lí, , các thầy cô trong tổ chuyên môn của khoa trường Đại học Sư phạm
Hà Nội và các đồng nghiệp trường THPT Chí Linh Hải Dương đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và triển khai nghiên cứu luận văn.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Phạm Xuân Quế, người đã tận tình hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quí báu,Thầy luôn tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí trong nhóm thực nghiệm sư phạm NCS Ngô Trọng Tuệ, học viên Nguyễn Thị Thùy Linh về những tư vấn về chuyên
môn và cho phép tôi sử dụng các thiết bị thí nghiệm,Website http://Bvatli.edu.vn
trong quá trình nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm của ban giám hiệu, sự hỗ trợ của các thầy cô trong tổ Vật lí cùng các em HS lớp 11 Sinh trường THPT Chuyên- Tỉnh Bắc Ninh, nơi tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm.
Cuối cùng tác giả xin cảm ơn gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã động viên giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và triển khai nghiên cứu đề tài.
Hà Nội, tháng 9 năm 2014
Học viên
Trịnh Đình Trọng
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 4M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học của đề tài 3
6 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3
7 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 4
8 Đóng góp của đề tài 4
9 Cấu trúc của đề tài 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC PH & GQVĐ Ở PHA ÔN TẬP CỦNG CỐ KIẾN THỨC TRONG MÔI TRƯỜNG DẠY HỌC TRÊN LỚP VÀ MẠNG THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍCH CỰC, TỰ LỰC, SÁNG TẠO, HỢP TÁC CỦA HỌC SINH 6
1.1.Tính tích cực, năng lực tự học, sáng tạo và hợp tác của học sinh 6
1.1.1 Tính tích cực 6
1.1.2 Năng lực tự học 10
1.1.3 Năng lực sáng tạo 13
1.1.4 Năng lực hợp tác 17
1.2.Cơ sở lí luận của việc ôn tập củng cố 19
1.2.1 Ôn tập củng cố và mục đích của ôn tập củng cố 19
1.2.2.Vai trò và vị trí của ôn tập củng cố trong quá trình nhận thức 20
1.2.3.Nội dung cần ôn tập củng cố trong dạy học vật lí 21
1.2.4.Các hình thức ôn tập củng cố chủ yếu 23
1.2.5.Các phương pháp ôn tập củng cố ngoài giờ học chính khóa 24
1.2.6 Phương tiện hỗ trợ hoạt động ôn tập củng cố 26
1.3 Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học vật lí ở giai đoạn ôn tập củng cố vận dụng thực tiễn 28
1.3.1 Khái niệm dạy học giải quyết vấn đề 28
Trang 51.3.2 Tiến trình dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học vật lí ở giai đoạn ôn
tập củng cố và vận dụng thực tiễn 29
1.4 Môi trường dạy học trên lớp và trên mạng hỗ trợ dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề theo hướng phát huy tính tích cực, năng lực tự học, sáng tạo và hợp tác của học sinh trong giai đoạn ôn tập củng cố 34
1.4.1.Môi trường dạy học trên lớp và trên mạng 34
1.4.2.Xây dựng và sử dụng môi trường trên lớp và trên mạng đối với việc phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo, hợp tác, hợp tác hợp tác trong DH PH&GQVĐ ở giai đoạn ôn tập và vận dụng 38
1.4.3 Các tiêu chí đánh giá tính tích cực, năng lực tự học, sáng tạo, hợp tác của học sinh trong DH PH&GQVĐ ở môi trường trên lớp và trên mạng 43
1.5 Cơ sở thực tiễn của việc kết hợp môi trường dạy học trên lớp và trên mạng trong việc dạy học Vật lí ở trường phổ thông 49
1.5.1 Mục đích nghiên cứu 49
1.5.2 Nội dung nghiên cứu 49
1.5.3 Phương pháp nghiên cứu 50
1.5.4 Kết quả nghiên cứu 50
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 54
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC TRÊN LỚP VÀ TRÊN MẠNG MỘT SỐ KIẾN THỨC TRONG CHƯƠNG ‘‘CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ” - SGK VẬT LÍ 11 NÂNG CAO 56
2.1 Cấu trúc chương “Cảm ứng điện từ”- SGK Vật lí 11- nâng cao 56
2.2 Mục tiêu dạy học của chương “ Cảm ứng điện từ”- SGK vật lí 11- NC 57
2 2.1 Về kiến thức 57
2 2.2 Về kĩ năng 58
2.3.Một số khó khăn và sai lầm và khó khăn phổ biến của học sinh trong khi học chương “cảm ứng điện từ” 59
2.4 Xây dựng và đề xuất phương hướng sử dụng các môi trường học tập hỗ trợ ôn tập củng cố nội dung kiến thức chương “ Cảm ứng điện từ”- SGK vật lí 11 nâng cao trong từng giai đoạn của DH GQVĐ nhằm phát huy tính tích cực, năng lực tự học, sáng tạo và hợp tác của học sinh 60
2.4.1 Đề xuất về nội dung cần ôn tập củng cố 61
Trang 62.4.2 Đề xuất hình thức ôn tập củng cố và phương pháp ôn tập củng cố 63
2.4.3 Đề xuất việc phối hợp sử dụng môi trường trên lớp và trên mạng trong việc ôn tập củng cố chương “ Cảm ứng điện từ”- SGK vật lí 11 nâng cao 66
2.5 Xây dựng Website hỗ ôn tập củng cố và vận dụng thực tiễn của học sinh trong chương ‘‘cảm ứng điện từ’’ 67
2.6 Đề xuất tiến trình dạy học một số kiến thức chương “ Cảm ứng điện từ”- SGK vật lí 11 nâng cao trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề ở giai đoạn ôn tập củng cố 73
2.6.1 Đề xuất việc sử dụng phối hợp môi trường học tập trên lớp và trên mạng trong giai đoạn ôn tập củng cố 73
2.6.2 Đề xuất việc sử dụng phối hợp môi trường học tập trên lớp và trên mạng trong giai đoạn / nội dung vận dụng trong thực tế đời sống 78
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 89
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 90
3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 90
3.1.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 90
3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 90
3.2 Đối tượng, nội dung và tổ chức thực nghiệm sư phạm 91
3.2.1 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 91
3.2.2 Tổ chức thực nghiệm sư phạm 91
3.3 Những thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực nghiệm sư phạm và cách khắc phục 92 3.3.1 Thuận lợi trong quá trình thực nghiệm sư phạm 92
3.3.2 Khó khăn trong quá trình thực nghiệm sư phạm 92
3.4 Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 93
3.4.1 Các tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 93
3.4.2 Phân tích diễn biến thực nghiệm sư phạm 94
3.4.3 Phân tích định lượng 99
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 105
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong những năm đầu thế kỉ XXI thời kì của sự bùng nổcông nghệ thông tin và tri thức Trong xu thế ấy đòi hỏi con người có khả năng tựcập nhập tri thức, thông tin đa chiều, có năng lực hành động, khả năng tự lực, sángtạo và trách nhiệm cũng như năng lực cộng tác làm việc, năng lực giải quyết cácvấn đề phức hợp.Với những lí do trên giáo dục nước ta và các nước trên thế giớikhông chỉ dừng lại ở việc truyền thụ một chiều cho học sinh những kiến thức kĩnăng loài người đã tích lũy được mà còn bồi dưỡng năng lực tự học sáng tạo, tự tìmhiểu và chiếm lĩnh tri thức, có phương pháp khoa học và có năng lực hành động,năng lực giải quyết vấn đề trí tuệ, các kĩ năng cơ bản nhằm phát triển năng lực cánhân chuẩn bị sẵn sàng cho việc học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham giaphục vụ đất nước Quan điểm này đã được chỉ rõ tại hội nghị lần thứ II Ban chấp
hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam( Khóa VIII, năm 1997): “phải đổi mới phương pháp đào tạo, khắc phục lỗi truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng những phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh” [1].
Việc đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề rất được quan tâm và đã đượcthực hiện ở tất cả các bậc học, cơ sở đào tạo Để đạt được các mục tiêu giáo dục trênthì ngoài giờ lên lớp học chính khóa cần phải rèn luyện cho học sinh khả năng tựhoc khi đó trình độ của người học sẽ ngày càng được nâng cao, hoàn thiện Điềunày càng được ghi rõ trong khoản 2 điều 28, năm 2005 của Luật Giáo Dục Việt
Nam:“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm tâm lý của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [2].
Trong quá trình đổi mới phương pháp, chúng ta phải chú ý tới phương tiệndạy học nó có vai trò hết sức quan trọng, nhờ phương tiện dạy học giúp cho giáoviên dạy tốt hơn, học sinh có thể lĩnh hội kiến thức một cách tích cực hơn Vì vậy
Trang 8áp dụng phương tiện hiện đại có ứng dụng công nghệ thông tin ngày càng được phổbiến rộng rãi và đã mang lại hiệu quả tích cực trong quá trình dạy học Trên cơ sở
đó, Chỉ thị 47/2008/CT- BGDĐT, nêu rõ: “ Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ đổi mới phương pháp dạy học”[2]
Ngày nay, công nghệ thông tin đặc biệt là Internet đã và đang thâm nhập vàohầu hết các lĩnh vực của đời sống con người Trong quá trình đổi mới phương phápthì việc áp dụng các phương tiện dạy học hiện đại có ứng dụng công nghệ thông tinvào dạy học ngày càng được phổ biến rộng rãi và đã mang lại hiệu quả tích cực choquá trình dạy học
Tuy nhiên, các Website học tập hiện nay chưa có nhiều, đặc biệt là một sốnội dung về phần “ Cảm ứng điện từ”- Sách giáo khoa vật lí 11, thì vẫn chưa cóWebsite nào được nghiên cứu, xây dựng để tháo gỡ những khó khăn, sai lầm củahọc sinh khi ôn tập củng cố thông qua vận dụng trong thực tiễn một số kiến thứctrong chương “Cảm ứng điện từ”, các kiến thức đã nêu ngoài giờ các em học ở trênlớp.Với những tính năng của công nghệ thông tin thì những vấn đề khó khăn củacác tài liệu truyền thống sẽ được giải quyết, do đó rất phù hợp với việc hỗ trợ chohọc sinh tự nghiên cứu kiến thức, hiểu sâu hơn, áp dụng nhiều hơn… Đặc biệt việckết hợp môi trường dạy học trên lớp và ngoài lớp (liên quan đến đề tài là môitrường trên mạng) để học sinh học tập nhằm phát huy tính tích cực, tự chủ, sáng tạo,hợp tác cuả người học còn chưa được quan tâm nghiên cứu thích đáng Vì vậy nhằmphát huy tính tích cực, tự chủ, sáng tạo, hợp tác cuả người học nhằm nâng cao hơnnữa chất lượng kiến thức, tôi chọn đề tài nghiên cứu:
Kết hợp môi trường dạy học trên lớp và ngoài lớp trong việc ôn tập củng
cố nội dung kiến thức chương “Cảm ứng điện từ” – Vật lí 11 nâng cao
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Thiết kế, tổ chức hoạt động ôn tập, củng cố một số kiến thức trong chương
“Cảm ứng điện từ”- Vật lí 11 nâng cao trong môi trường dạy học trên lớp và ngoài
lớp theo hướng phát huy tính tích cực, năng lực tự học, sáng tạo, hợp tác và nâng
cao chất lượng kiến thức của học sinh
Trang 93 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình tổ chức hoạt động ôn tập củng cố một số kiến thức (trong chương
“Cảm ứng điện từ”- Vật lí 11 nâng cao) trong môi trường học tập trên lớp và ngoàilớp theo hướng phát huy tính tích cực, năng lực tự học, sáng tạo, hợp tác và nângcao chất lượng kiến thức của học sinh
4 Phạm vi nghiên cứu
Quá trình tổ chức hoạt động ôn tập, củng cố giới hạn trong một số kiến thứcchương “Cảm ứng điện từ”- Vật lí 11 nâng cao, tại trường THPT Chí Linh tỉnh HảiDương
Môi trường ngoài lớp được giới hạn trong phạm vi môi trường mạng
5 Giả thuyết khoa học của đề tài
Nếu vận dụng lí luận dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, xây dựng và sửdụng các phương tiện dạy học khác nhau cũng như các hình thức tổ chức dạy họckhác nhau trong môi trường dạy học trên lớp và trên mạng thì có thể thiết kế, tổchức hoạt động ôn tập, củng cố một số kiến thức trong chương “ Cảm ứng điện từ”góp phần phát huy tính tích cực, năng lực tự học, sáng tạo, hợp tác và nâng cao chấtlượng kiến thức của học sinh
6 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để đạt được mục đích nghiên cứu ở trên, chúng tôi đề ra các nhiệm vụnghiên cứu cụ thể như sau:
- Nghiên cứu lí luận về tâm lí học dạy học để làm cơ sở cho những tác động
sư phạm nhằm phát huy tính tích cực, năng lực tự học, sáng tạo và hợp tác của họcsinh
- Nghiên cứu lí luận dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, lí luận về sửdụng các phương tiện, hình thức dạy học hiện đại trong lớp và trên mạng nhằm pháthuy tính tích cực, năng lực tự học, sáng tạo và hợp tác của học sinh
- Nghiên cứu về nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức ôn tập vàcủng cố kiến thức và kĩ năng trong dạy học vật lí
Trang 10- Nghiên cứu nội dung kiến thức chương “Cảm ứng điện từ”- Sách giáo khoavật lí 11 và phân tích những khó khăn của học sinh khi học những nội dung kiếnthức này.
- Nghiên cứu thiết kế Website liên quan đến nội dung đề tài
- Thiết kế hoạt động ôn tập và củng cố một số kiến thức chương “ Cảm ứngđiện từ” - Sách giáo khoa vật lí 11, ở pha ôn tập và củng cố, trong môi trường trênlớp và mạng
- Thực nghiệm sư phạm đánh giá hiệu quả của bản thiết kế hoạt động ôn tập
và củng cố đã đề xuất
7 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện được các nhiệm vụ đã đề ra chúng tôi đã sử dụng cácphương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, chỉ thị của Bộ Giáo dục- Đào tạo
- Nghiên cứu các tài liệu về lí luận dạy học hiện đại, về xây dựng và sử dụngcác phương tiện, hình thức dạy học vật lí trong các môi trường học tập khác nhau
Phương pháp điều tra, quan sát thực tiễn:
- Nghiên cứu hoạt động thực tiễn việc ôn tập và củng cố của giáo viên và họcsinh ở trường phổ thông trong các môi trường học tập khác nhau
- Trao đổi với giáo viên về việc sử dụng các phương pháp, phương tiện vàhình thức ôn tập và củng cố ở trường phổ thông trong các môi trường học tập khácnhau
Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp thống kê toán học
để phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm
8 Đóng góp của đề tài
- Đề tài này góp phần chỉ ra hiệu quả của việc áp dụng phương pháp dạy họcphát hiện và giải quyết vấn đề, sử dụng các loại phương tiện, hình thức dạy họctrong môi trường dạy học trên lớp và mạng theo hướng phát huy tính tích cực, nănglực tự học, sáng tạo và hợp tác của học sinh
Trang 11- Sản phẩm của đề tài là tài liệu tham khảo tốt để giáo viên tham khảo trongquá trình dạy học vật lí ở trường phổ thông trong các môi trường trên lớp và mạng.
9 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lụcthì nội dung chính của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức hoạt động dạy học phát
hiện và giải quyết vấn đề ở pha ôn tập củng cố kiến thức trong chương “ Cảm ứngđiện từ”- SGK vật lí 11 nâng cao, trong môi trường dạy học trên lớp và mạng theohướng phát huy tích cực, tự lực, sáng tạo, hợp tác của học sinh
Chương 2: Thiết kế tiến trình tổ chức ôn tập củng cố trên lớp và trên mạng
một số kiến thức trong chương “ Cảm ứng điện từ”- SGK vật lí 11 nâng cao
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC PH & GQVĐ Ở PHA ÔN TẬP CỦNG
CỐ KIẾN THỨC TRONG MÔI TRƯỜNG DẠY HỌC TRÊN LỚP VÀ MẠNG THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍCH CỰC, TỰ LỰC, SÁNG TẠO,
HỢP TÁC CỦA HỌC SINH
1.1.Tính tích cực, năng lực tự học, sáng tạo và hợp tác của học sinh
1.1.1 Tính tích cực
1.1.1.1 Định nghĩa khái niệm
Tính tích cực là một phẩm chất của con người trong đời sống xã hội Hìnhthành và phát triển tính tích cực xã hội là một trong những nhiệm vụ chủ yếu củagiáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần pháttriển cộng đồng Tính tích cực là điều kiện, đồng thời là kết quả của sự phát triểnnhân cách trong quá trình đào tạo giáo dục Hơn nữa tính tích cực của con ngườibiểu hiện trong hoạt động, nhất là trong những hoạt động chủ động của chủ thể
Trong Giáo dục ta quan tâm đến tính “tích cực học tập”: đó là những gì diễn
ra bên trong người học Quá trình học tập tích cực nói đến những hoạt động chủđộng của chủ thể - về thực chất là tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểubiết, nỗ lực trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Học sinh( HS)
sẽ thông hiểu, ghi nhớ những gì đã nắm được qua hoạt động chủ động nỗ lực củachính mình, khi lên tới một trình độ nhất định thì sự học tập tích cực sẽ mang tính
tự giác
1.1.1.2 Các biểu hiện của tính tích cực
Tính tích cực của con người biểu hiện trong hoạt động, đặc biệt trong nhữnghoạt động của chủ thể Aristôva cho rằng tính tích cực học tập đươc thể hiện ở haidạng: Tích cực học tập bên trong và tích cực học tập bên ngoài
* Tích cực học tập bên trong được thể hiện ở sự căng thẳng về trí lực, những
hành động và thao tác nhận thức từ cảm giác, tri giác đến tư duy, tưởng tượng.Đồng thời còn thể hiện nhu cầu bền vững đối với đối tượng nhận thức, ở thái độ
Trang 13hứng thú say mê, độc lập đưa ra quyết định trong những tình huống có vấn đề, luôntìm kiếm con đường, phương tiện để giải quyết vấn đề.
- Mặt tự giác của tính tích cực là trạng thái tâm lí có mục đích và đối tượng
rõ rệt, do đó có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó Tính tích cực tự giác thể hiện
ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học,
* Tích cực học tập bên ngoài được thể hiện ở đặc điểm hành vi của người
học như: chú ý học tập, hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên( GV), bổ sung các
câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra; hay nêuthắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ; chủ động vận dụngkiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới; tập trung chú ý vào vấn đề đanghọc; kiên trì hoàn thành các bài tập nhiệm vụ được giao, có khả năng trình bày lạinội dung bài học theo ngôn ngữ riêng, không nản trước những tình huống khó khăn,
có sáng tạo trong quá trình học tập, biết vận dụng kiến thức đã học vào giải quyếtnhững vấn đề thực tiễn …
1.1.1.3 Các biện pháp phát huy tính tích cực
Để phát huy tính tích cực của HS thì ta nên áp dụng “phương pháp dạy vàhọc tích cực”: đây là phương pháp giáo dục - dạy học theo hướng phát huy tính tíchcực, chủ động sáng tạo của người học
Dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động củangười học nghĩa là GV trở thành người thiết kế, định hướng, tổ chức các hoạt động
và tạo ra môi trường thuận lợi để giúp HS tự khám phá trên cơ sở tự giác và được tự
do suy nghĩ, tranh luận, giải quyết các vấn đề Đặc biệt nhấn mạnh đến các hoạtđộng dạy vàc học nhằm tích cực hóa các hoạt động học tập và phát triển tính sángtạo của người học
Trang 14* Tăng cường hoạt động học tập của mỗi cá thể, phối hợp với học hợp tác.
Việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biệnpháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học Trong các phươngpháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được
phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi
dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, do vậy mặt hoạt động học diễn ra theo
chiều hướng từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học
ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự họctrước và cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên
Giáo viên cần quan tâm đến sự phân hóa về trình độ nhận thức, cường độ vàtiến độ hoàn thành các nhiệm vụ học tập của mỗi HS Trên cơ sở đó xây dựng cácnhiệm vụ, bài tập ở mức độ phù hợp với khả năng của mỗi ngừơi, GV quan sát đánhgiá HS học tập để tìm ra phong cách học tập của từng HS từ đó có sự hỗ trợ phùhợp nhằm phát huy khả năng tối đa của người học GV cần đặt họ vào môi trườnghọc tập hợp tác trong các mối quan hệ thầy – trò, trò – trò
Như vậy người GV cần hình thành cho HS thói quen học tập tự giác, tôntrọng giúp đỡ lẫn nhau, đồng thời giao nhiệm vụ phải rõ ràng, vừa sức Khi mỗithành viên trong nhóm đều được phân công xác định rõ nhiệm vụ học tập, tráchnhiệm của mình sẽ tránh thói quen ỷ lại
* Dạy và học chú trọng đến sự quan tâm và hứng thú của HS, nhu cầu và lợi ích của xã hội.
Dưới sự hướng dẫn của GV, HS chủ động lựa chọn vấn đề mà mình quantâm ưa thích, tự lực nghiên cứu giải quyết vấn đề và trình bày kết quả Đây chính làđặc trưng lấy HS làm trung tâm, và việc nghiên cứu có thể tiến hành theo cá nhânhoặc nhóm nhỏ, nội dung nghiên cứu do HS đề xuất hoặc GV định hướng nhưngnội dung cần gắn với nhu cầu, lợi ích của thực tiễn, xã hội
* Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.
Trong dạy học, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận định thựctrạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà đồng thời tạo điều kiện nhận định vàđiều chỉnh hoạt động dạy của thầy Khác biệt ở DH PH&GQVĐ là GV cần tạo điều
Trang 15kiện, hướng dẫn để HS tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau, sự kết hợp đánh giá của thầy
và đánh giá của trò
Đánh giá trong dạy và học tích cực còn là sự kết hợp của đánh giá về việchọc( đánh giá kết quả), đánh giá vì việc học( đánh giá quá trình) với tự đánh giá.Với sự giúp đỡ của các thiết bị kĩ thuật, việc kiểm tra đánh giá sẽ không còn là mộtcông việc nặng nhọc đối với GV Mục đích của việc đánh gía không chỉ dừng ở yêucầu ghi nhớ tái hiện kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải phát triển ở ngườihọc tư duy logic, tư duy phê phán, khả năng phân tích tổng hợp, đánh giá, giải quyếtcác vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đặt ra
1.1.1.4 Tiêu chí đánh giá chung về tính tích cực
Để đánh giá tính tích cực trong học tập ta đánh giá theo các cấp độ biểu hiện
từ thấp lên cao của người học như:
- Bắt chước: gắng sức làm theo mẫu hành động của thầy, của bạn, thực hành,làm thí nghiệm…
- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác nhau vềmột số vấn đề, so sánh, phân tích kiểm tra, giải thích, trình bày…
- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu, tính toán xây dựng,phá bỏ làm lại
Về mức độ tích cực học tập của HS trong quá trình học tập có thể khônggiống nhau, GV có thể dựa vào những dấu hiệu thể hiện tính tích cực trong học tậpcủa HS như:
+ Có chú ý học tập không? Có hăng hái tham gia vào mọi hình thức hoạtđộng học tập hay không?( Thể hiện ở việc hăng hái phát biểu ý kiến, ghichép )
+ Có hoàn thành những nhiệm vụ được giao, hiểu bài, có thể trình bày bàihọc theo ngôn ngữ riêng không?
+ Có hứng thú trong học tập; quyết tâm, kiên trì vượt khó khăn, sáng tạotrong học tập hay vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn không?
Trang 161.1.2 Năng lực tự học
1.1.2.1 Định nghĩa khái niệm
Con người khi mới sinh ra chưa có năng lực, chưa có nhân cách Chính trongquá trình sống, học tập, lao động, giao lưu con người đã hình thành và phát triểnnhân cách của mình Đặc biệt, trong học tập thì người học cần trang bị cho mìnhmột số năng lực cơ bản sau: năng lực tư duy, năng lực phát hiện và giải quyết vấn
đề và nhất là năng lực tự học
Năng lực tự học ở đây chính là cách học Vậy cách học là gì?
Cách học là cách tác động của người học đến đối tượng học Ta có thể nóicách học, phương pháp học chính là cách tự học Tự học là một hình thức hoạt độngnhận thức của mỗi cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chínhbản thân người học tiến hành trên lớp hoặc ngoài lớp
Năng lực tự học Vật lí của HS bao gồm các năng lực thành phần như:
+ Năng lực lập kế hoạch tự học giải quyết một vấn đề: Đòi hỏi người học xácđịnh rõ mục tiêu, biện pháp để thực hiện nhiệm vụ, thời gian hoàn thành trong mỗigiai đoạn và suốt quá trình
+ Năng lực thực hiện theo kế hoạch đã lập ra bao gồm:
- Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề: đòi hỏi HS biết quan sát,phân tích tổng hợp so sánh, suy luận, tổng quát hóa, khái quát hóa các kiếnthức Vật lí
- Năng lực giải quyết vấn đề: Là khả năng trình bày giả thuyết; xác địnhcách thức, đề xuất giải pháp và lập kế hoạch giải quyết vấn đề, kết luận vấn đề
- Năng lực tư duy, quyết định đúng: HS cần xác định được mục tiêu thíchhợp, từ quá trình giải quyết vấn đề, HS vạch ra nhiều phương án giải quyết thíchhợp Năng lực này bao gồm: khả năng khẳng định hay bác bỏ giả thuyết; khả nănglựa chọn, hình thành kết quả; khả năng đề xuất vấn đề mới hoặc áp dụng
- Năng lực biết điều chỉnh kế hoạch khi có những sự thay đổi không như dựkiến bao gồm: Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn, năng lực đánh giá và tựđánh giá
Trang 171.1.2.2 Các biểu hiện của năng lực tự học
Khi nói đến tự học thì ta quan tâm đến hai mức độ biểu hiện: cách học cóphần bị động và cách học chủ động
- Ở cách học bị động( thực chất là sự tự học có người hướng dẫn) người học
sẽ chịu tác động từ yếu tố bên ngoài thí dụ thầy cô, gia đình Người học lúc nàyvẫn tự lực chiếm lĩnh tri thức và hình thành kỹ năng tương ứng nhưng dưới sự tổchức của giáo viên thông qua tài liệu hướng dẫn tự học
- Với cách học chủ động, thì chính bản thân người học hình thành nên chomình các phản xạ có điều kiện (các phản xạ tác động) Người học tự biến đổi mình,
tự làm phong phú mình bằng cách thu lượm và xử lí thông tin từ môi trường xungquanh hay nói cách khác người học tự học hoàn toàn
1.1.2.3 Các biện pháp phát triển năng lực tự học
Vấn đề phát triển được năng lực tự học HS liên quan đến nhiều yếu tố nhưđộng cơ, hứng thú học tập, năng lực, ý chí cá nhân, môi trường dạy học Các yếu tốnày liên quan chặt chẽ với nhau và có ảnh hưởng tới việc tích cực hóa hoạt độngnhận thức cuả HS trong học tập Trong đó có nhiều yếu tố là kết quả của quá trìnhhình thành lâu dài và thường xuyên, cả một giai đoạn với sự phối hợp nhiều người,nhiều lĩnh vực và cả xã hội
Có thể đưa ra một số biện pháp phát huy năng lực tự học của HS như:
- Phát huy tối đa hoạt động tư duy tích cực của HS
- Tạo không khí thuận lợi cho lớp học để HS thích đến lớp, yêu môn học, chờđợi giờ học
- Tiến hành dạy học ở mức độ phù hợp với trình độ phát triển của HS
- Thúc đẩy HS tìm hiểu, ứng dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, tạo niềmtin khoa học, kích thích óc sáng tạo cho người học
Tuy nhiên để thực hiện các biện pháp trên cần ở HS một số điều kiện:
- Có kiến thức, kĩ năng cơ bản, biết cách khắc phục khó khăn và có niềm tinvào năng lực bản thân: HS biết tiến hành các thao tác tư duy cơ bản( phân tích, tổnghợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa) và các suy luận logic( qui nạp, diễndịch để rút ra kết luận); biết tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập từ đó tự điều chỉnhquá trình học tập cho phù hợp
Trang 18- HS phải ý thức được nhiệm vụ cũng như mục đích học tập của bản thân tạohứng thú trong học tập.
- Đáp ứng phương tiện vật chất, kĩ thuật tối thiểu cho học tập: Sách giáokhoa, sách tham khảo, máy tính
Như vậy năng lực tự học là điều kiện vật chất bên trong để người học thựchiện sự nghiên cứu khám phá, biến động cơ tự học thành kết quả cụ thể, từ đó giúp
HS biết ứng dụng sáng tạo để vận dụng kiến thức đã có vào giải quyết mâu thuẫncủa quá trình nhận thức
1.1.2.4 Tiêu chí đánh giá chung về năng lực tự học
Năng lực tự học là điều kiện vật chất bên trong để người học thực hiện sựnghiên cứu khám phá, biến động cơ tự học thành kết quả cụ thể, giúp HS biết ứngdụng sáng tạo để vận dụng kiến thức đã có vào giải quyết mâu thuẫn của quá trìnhnhận thức thông qua kĩ năng tự học
Kĩ năng tự học được biểu hiện ở mặt kĩ thuật của hành động tự học và nănglực tự học của mỗi cá nhân Để tự học có kết quả, người học phải có một số kĩ năng
tự học như:
- Kĩ năng đọc giáo trình
- Kĩ năng ghi chép, kĩ năng ôn tập và hệ thống hoá bài học
- Kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá, kĩ năng làm việc với nhóm, kĩ năng tìm tàiliệu, kĩ năng nghiên cứu, kĩ năng thực hành, kĩ năng lập kế hoạch và thực hiện kế
hoạch do vậy những kĩ năng tự học môn Vật lí cần hình thành cho HS gồm:
*Kĩ năng xây dựng kế hoạch tự học trong học tập: Để thực hiện tốt kĩ năng
này người học cần tuân thủ một số nguyên tắc sau:
+ Xen kẽ, luân phiên hợp lý giữa các hình thức tự học và nghỉ ngơi
+ Cần có kế hoạch thời gian học tập cụ thể, hợp lý cho môn Vật lí và những
bộ môn khác, xắp xếp thời gian ưu tiên theo tính cấp thiết và quan trọng của nhiệm
vụ học tập
+ Đảm bảo xen kẽ hợp lý giữa các hình thức tự học( đọc sách, nghiên cứu,bài học, thực hành…)
Trang 19* Kĩ năng thực hiện kế hoạch tự học
+ Kĩ năng tìm đọc sách, tài liệu tham khảo.
+ Kĩ năng thu thập thông tin từ phương tiện kĩ thuật hiện đại( thầy cô,bạn bè,
internet, tivi, đài…)
+ Kĩ năng xử lý và phân tích thông tin
+ Kĩ năng đưa ra quyết định, giải pháp
* Kĩ năng tự kiểm tra và điều chỉnh thực hiện kế hoạch học tập
+ HS tự trả lời những câu hỏi HS tự học bài, tự làm bài tập, thực hành Chủđộng tìm kiếm thông tin tài liệu, SGK, từ thầy cô, bạn bè…
+ HS tự suy nghĩ về phương pháp học tập của bản thân và điều chỉnh sao chophù hợp với từng nội dung, nhiệm vụ
+ HS tự nhận trách nhiệm về kết quả do quyết định của mình mang lại và tựđiều chỉnh sao cho kết quả học ngày càng tiến bộ
Tóm lại, việc tự học và chủ động tự giải quyết vấn đề được xem là năng lựcquan trọng của mỗi HS Trong quá trình giảng dạy GV cần quan tâm, chú ý đến rènluyện kĩ năng tự học môn Vật lí cho người học Năng lực này vốn tiềm ẩn sâu bên
trong ý thức mỗi người khi đó HS sẽ có đầy đủ những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo cần
thiết để nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả việc học tập.[22]
khoa toàn thư Liên xô Tập 42, trang 54) [12]
Năng lực sáng tạo là gì? Ta có thể hiểu năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra
những giá trị mới về vật chất và tinh thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới,vận dụng thành công những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới
Như vậy sản phẩm của sự sáng tạo không thể suy ra từ cái đã biết bằng cáchsuy luận logic hay bắt trước làm theo
Trang 20Năng lực sáng tạo gắn liền với kĩ năng, kĩ xảo và vốn hiểu biết của chủ thể.Trong bất cứ lĩnh vực hoạt động nào, càng thành thạo và có kiến thức sâu rộng thìcàng nhạy bén trong dự đoán, đề ra được nhiều phương án để lựa chọn, càng tạođiều kiện cho trực giác phát triển Bởi vậy, không thể rèn luyện năng lực sáng tạotách rời, độc lập với học tập
* Đặc điểm của sự sáng tạo:
+ Tư duy biện giải logic và tư duy trực giác: Tức là trong tư duy biện giảilogic, tri thức đạt đến bằng cách suy luận liên tục, tư duy trước làm tiền đề cho tưduy sau một cách logic Tri thức đạt được là cái hiển nhiên, chắc chắn Còn tư duytrực giác thì tri thức đạt được một cách nhảy vọt, trực tiếp, các giai đoạn của quátrình tư duy không thể hiện minh bạch và người suy nghĩ không thể giải thích ngaytại sao mình làm được như vậy
+ Đặc trưng tâm lí quan trọng của hoạt động sáng tạo đấy là tính chất hai mặtchủ quan và khách quan: chủ quan theo quan điểm của người nhận thức mà trongđầu đang diễn ra quá trình sáng tạo và khách quan theo quan điểm của người nghiêncứu cái quá trình sáng tạo đó xem như một quá trình diễn ra có qui luật, tác động
qua lại giữa ba thành tố tự nhiên, ý thức con người và sự phản ánh tự nhiên vào ý thức con người.
Đối với HS thì sáng tạo là tạo ra cái mới đối với bản thân mình và hoạt độngsáng tạo của HS mang ý nghĩa là hoạt động tập dượt sáng tạo, sáng tạo lại
1.1.3.2.Các biểu hiện của năng lực sáng tạo
Những hành động của HS trong học tập có mang tính sáng tạo được biểuhiện cụ thể như sau:
- Tự nêu được giả thuyết từ những kiến thức đã có, từ kinh nghiệm thực tế
- Khi kiểm tra giả thuyết đã nêu cần thiết kế được các phương án thínghiệm; xác định được dụng cụ thí nghiệm( tìm kiếm thiết bị có sẵn hay chế tạothiết bị mới với nhiều tính năng ) HS đưa ra được dự đoán về kết quả thí nghiệm,phương án nào là khả thi nhất, phương án nào mắc sai số và chỉ ra được nguyênnhân tại sao
Trang 21- Học sinh có ý thức quyết tâm vượt khó trong học tập, vận dụng kiến thức
đã học vào thực tiễn một cách linh hoạt: để làm bài tập, giải thích hiện tượng, thiết
kế, chế tạo thiết bị mới
1.1.3.3 Các biện pháp phát triển năng lực sáng tạo
Trí sáng tạo là thành phần cao nhất của trí tuệ, nó gắn liền hoạt động, khi HS
có nhu cầu giải pháp mới cho vấn đề sẽ tạo thành động cơ thúc đẩy bên trong ngườihọc điều này làm tăng các yếu tố nhận thức: tham gia vào quá trình sáng tạo Một
trong những nguyên nhân hạn chế sự sáng tạo của HS là sự rụt rè, tự ti xuất phát từ
việc cá nhân có sự không thành công, rủi ro trước đó mang lại Vì thế để HS sángtạo trong học tập GV nên tạo một môi trường cần có bầu không khí an toàn, tự do
về tâm lí, tạo cho HS có thể bộc lộ bản thân, các suy nghĩ một cách thoải mái
Trong dạy học Vật lí GV cần quan tâm đến một số biện pháp giúp hìnhthành và phát triển năng lực sáng tạo của HS như sau:
* Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liến với quá trình xây dựng kiến thức mới
- Kiến thức Vật lí trong trường phổ thông đều đã được loài người khẳngđịnh, tuy nhiên nó luôn mới mẻ đối với HS Việc xây dựng kiến thức mới sẽ thườngxuyên tạo ra sẽ đòi hỏi HS phải đưa ra những ý kiến mới, giải pháp mới đối vớichính bản thân họ
- Khi xây dựng kiến thức mới nếu tổ chức quá trình nhận thức Vật lí theo chutrình sáng tạo sẽ giúp HS khi hoạt động sáng tạo dễ nhận biết được: chỗ nào suynghĩ dựa trên những hiểu biết đã có, chỗ nào phải đưa ra kiến thức mới, giải phápmới Việc tập trung sức lực vào chỗ mới đó sẽ giúp cho hoạt động sáng tạo có hiệuquả, rèn cho tư duy trực giác, biện chứng nhạy bén, phong phú Trong nhiều trườnghợp giáo viên có thể giới thiệu với HS kinh nghiệm sáng tạo của các nhà bác học
* Luyện tập phỏng đoán, dự đoán, xây dựng giả thuyết mới
Dự đoán có vai trò rất quan trọng trên con đường sáng tạo khoa học Dựđoán chủ yếu dựa vào trực giác, kết hợp với kinh nghiệm phong phú và kiến thứcsâu sắc về mỗi lĩnh vực Dự đoán khoa học không phải là tùy tiện mà luôn luônphải có một cơ sở nào đó, tuy chưa thật là chắc chắn Trong dạy học có thể cónhững căn cứ để đưa ra dự đoán:
Trang 22- Dựa vào liên tưởng tới một kinh nghiệm đã có, dựa trên sự tương tự.
- Dựa trên sự xuất hiện đồng thời giữa hai hiện tượng mà dự đoán giữa chúng
có mối quan hệ nhân quả
* Luyện tập đề xuất phương án thí nghiệm kiểm tra dự đoán
Muốn kiểm tra xem dự đoán, giả thuyết có phù hợp với thực tế hay không, taphải xem xem điều dự đoán đó có biểu hiện thực tế thế nào, có những dấu hiệu nào
để quan sát đo lường được Điều đó có nghĩa là: từ một dự đoán, giả thuyết, ta phảisuy ra được một hệ quả có thể quan sát được trong thực tế, sau đó tiến hành thínghiệm để xem hệ quả rút ra bằng suy luận đó có phù hợp với dự đoán không Quátrình rút ra hệ quả thường áp dụng suy luận logic hoặc suy luận toán học Sự suyluận này không đòi hỏi một sự sáng tạo thật sự mà vấn đề ở đây là đề xuất ra đượcphương án thí nghiệm, bố trí một hay nhiều phương án thí nghiệm, đo lường các đạilượng đã dự đoán… để kiểm tra được hệ quả đã được rút ra Để làm được điều đóđòi hỏi sự hoạt động tích cực của HS dưới sự giúp đỡ cuả giáo viên
* Giải bài tập sáng tạo
Trong dạy học Vật lí, ngoài việc rèn luyện năng lực sáng tạo cho người họctrong quá trình xây dựng kiến thức mới, ta còn quan tâm xây dựng những loại bàitập riêng với mục đích bồi dưỡng năng lực sáng tạo và được gọi là bài tập sáng tạo
Có hai loại bài tập sáng tạo là bài tập thiết kế và bài tập nghiên cứu Theo
chương trình Vật lí phổ thông ta chú trọng rèn luyện cho HS khả năng dự đoán và
đề xuất phương án thí nghiệm kiểm tra dự đoán, nhằm hình thành và phát triển nănglực sáng tạo của HS
1.1.3.4 Tiêu chí đánh giá chung về năng lực sáng tạo
Đối với mỗi cá nhân để sáng tạo thì bản thân người đó có các năng lực( sựthành thạo, tinh thông về kiến thức chung, kiến thức chuyên môn, công nghệ; thànhthạo các thao tác tư duy) và các phẩm chất trí tuệ tạo điều kiện cho nảy sinh sự sángtạo như: tính nhạy cảm, độc đáo, lưu loát, tính linh hoạt, độc lập, phê phán; giàu khảnăng tưởng tượng sáng tạo Ngoài ra họ cần có tình cảm tích cực như: vui sướng,ham thích, say mê, tò mò thích khám phá, ưa mạo hiểm và có động cơ thúc đẩy bêntrong
Trang 23Để đánh giá năng lực sáng tạo của người học nhất là với môn Vật lí ta có thểđưa ra một số tiêu chí như sau:
- Khả năng phát hiện, đề xuất cái mới từ một vấn đề quen thuộc
- Khả năng vận dụng thành thục những kiến thức, kỹ năng đã biết vào hoàncảnh mới để dự đoán giả thuyết
- Đề xuất phương án thí nghiệm, bố trí ,tiến hành thí nghiệm, đo đạc xử líkết quả …có tính sáng tạo để kiểm tra được dự đoán
- Khả năng tìm được nhiều cách giải khác nhau, tìm được cách giải độc đáođối với bài tập đã cho
1.1.4 Năng lực hợp tác
1.1.4.1 Định nghĩa khái niệm
Trong cuộc sống xã hội, sự hợp tác có tính phổ biến, mang bản chất sinh học
tự nhiên và diễn ra trong suốt cuộc đời mỗi con người Sự hợp tác diễn ra trong mọigia đình, cộng đồng, trong mọi công việc Để hiểu rõ hơn về năng lực hợp tác thìtrước hết ta cần làm rõ một số khái niệm sau:
* Hợp tác
Hợp tác là một yếu tố không thể thiếu trong cuộc sống lao động của conngười; nó diễn ra thường xuyên trong gia đình, trong xã hội; do vậy “hợp tác mangbản chất sinh học tự nhiên của mỗi con người trong xã hội”
Theo từ điển tiếng Việt (1997): Hợp tác là cùng chung sức giúp nhau trongmột công việc, trong một lĩnh vực hoạt động nào đó nhằm đạt được mục đíchchung[23]
*Học tập hợp tác
Học tập hợp tác là một chiến lược giảng dạy trong đó người dạy sẽ tổ chứcngười học thành những nhóm nhỏ để thực hiện các hoạt động như thảo luận, đóngvai, giải quyết vấn đề… Mỗi thành viên trong nhóm không chỉ có trách nhiệm thựchiện các nhiệm vụ của nhóm giao cho mà còn phải có trách nhiệm hợp tác, giúp đỡcác thành viên khác trong nhóm hoàn thành các nhiệm vụ được giao
Kỹ năng học tập hợp tác là những hành động, kỹ thuật học tập được thựchiện một cách đúng đắn, linh hoạt, mềm dẻo, có hiệu quả trên cơ sở vận dụng
Trang 24những tri thức, kinh nghiệm học tập hợp tác với giáo viên và bạn học trong môitrường nhóm nhằm thực hiện mục tiêu học tập đề ra.
1.1.4.2 Các biểu hiện của năng lực hợp tác
Học hợp tác trong nhóm giúp HS rèn luyện kĩ năng làm việc, kĩ năng giaotiếp, tạo điều kiện cho HS học hỏi lẫn nhau, phát huy vai trò trách nhiệm, tính tíchcực xã hội trên cơ sở làm việc hợp tác Người có năng lực hợp tác thường có cácbiểu hiện như sau:
- Khả năng giao tiếp, tương tác HS với HS
- Khả năng tạo môi trường hợp tác là sự ảnh hưởng qua lại, sự gắn kết giữacác thành viên Khả năng tạo dựng niềm tin là kĩ năng tránh sự mặc cảm đối với cácđối tượng cá biệt
- Khả năng giải quyết mâu thuẫn: là kĩ năng giúp HS sử dụng ngôn ngữgiao tiếp hiệu quả tránh sự hiểu lầm lẫn nhau
1.1.4.3 Các biện pháp phát triển năng lực hợp tác
Nghiên cứu lý luận cho thấy kỹ năng học tập hợp tác là cách thức thực hiện
có hiệu quả các hành động học tập hợp tác của HS trong hoạt động nhóm hợp tác.Thông qua dạy học với mục tiêu hướng vào phát triển năng lực hợp tác cho HS,giáo viên sẽ thiết kế và sử dụng rất nhiều các cách thức dạy học với những quan hệ
đa dạng nhằm phát triển tối đa tài nguyên giao tiếp, quan hệ tương tác giữa HS
-HS, HS - GV … để HS được hoạt động hợp tác trong nhóm với các bước chươngtrình hoá chính xác và có điều khiển, hướng dẫn một cách thường xuyên
GV cần chọn những bài, những câu hỏi trong bài có độ khó tương đối, cóhướng mở, đòi hỏi có nhiều thời gian và nhiều người tham gia thảo luận, tranh luận
để tìm cách giải quyết vấn đề Sau đó GV quan sát lớp học đang diễn ra; quan sát sựtương tác của các thành viên với nhau và ghi chép những gì thấy được vào phiếuquan sát
Người học phát triển năng lực hợp tác thông qua các phương tiện truyềnthông, trao đổi chia sẻ qua các diễn đàn, website học tập…
Trang 251.1.4.4 Tiêu chí đánh giá chung về năng lực hợp tác
Để đánh giá về năng lực hợp tác của HS ta có thể dựa vào các tiêu chí
sau: sự tham gia, sự lắng nghe, sự đóng góp, chịu trách nhiệm, trân trọng quan điểm của người khác , hiệu quả công việc theo các mức độ từ thấp lên
cao
Ở tiêu chí tham gia ta có thể dựa vào sự nhiệt tình tham gia đầy đủ các hoạt
động, giờ học có trách nhiệm
Ở tiêu chí đóng góp ta có thể chia nhỏ theo các nội dung mà HS đóng góp
được như: sự nghiên cứu và thu thập thông tin, chia sẻ thông tin
Với tiêu chí chịu trách nhiệm ta có thể dựa vào sự hoàn thành nghĩa vụ công việc
của nhóm mà HS tham gia, sự chia sẻ bình đẳng về trách nhiệm với các thành viên khác
trong nhóm Hiệu quả công việc là cái đích mà việc hợp tác của nhóm hướng tới, đây là
thành quả lỗ lực của các thành viên trong nhóm
1.2 Cơ sở lí luận của việc ôn tập củng cố
1.2.1 Ôn tập củng cố và mục đích của ôn tập củng cố
Theo từ điển tiếng việt(2001) của viện khoa học Việt Nam, ôn tập có hainghĩa, nghĩa thứ nhất: ôn tập là học để nhớ, để nắm chắc; nghĩa thứ hai ôn tập là hệthống hóa lại kiến thức đã dạy để học sinh nắm chắc chương trình; củng cố có hainghĩa, nghĩa thứ nhất: củng cố làm trở lên bền vững, chắc chắn hơn lên, củng cố lànhớ lại để nắm vững và nhớ cho kĩ hơn.[23]
Như vậy, ôn tập củng cố theo từ điển tiếng việt có thể được hiểu là quá trình xem lại kiến thức đã học và luyện lại kĩ năng người học nắm chắc kiến thức, hiểu sâu vấn đề đã học
Theo các nhà giáo dục học ( Nguyễn Ngọc Bảo; Hà Thị Đức; Nguyễn BáKim;…): Ôn tập là giúp học sinh củng cố tri thức, kĩ năng, kĩ xảo; tạo khả năng chogiáo viên sửa chữa những sai lầm lệch lạc trong nhận thức của học sinh, rèn luyện
kĩ năng kĩ xảo, phát huy tính tích cực độc lập tư duy cũng như phát triển năng lựcnhận thức, chú ý cho học sinh [17]
Theo các nhà tâm lí học: Ôn tập không chỉ để nhớ lại mà còn là sự cấu trúclại những thông tin đã lĩnh hội, sắp xếp các thông tin đó theo một cấu trúc mới kết
Trang 26hợp với mẫu kiến trúc cũ để tạo ra sự hiểu biết mới Khi cần có thể tái hiện lạinhững thông tin và sử dụng những thông tin đó có hiệu quả cho nhiều hoạt độngkhác nhau Sự lưu giữ các thông tin được bắt đầu từ quá trình nhớ, quá trình ghi nhớ
có liên quan đến những thông tin được chuyển từ trí nhớ ngắn sang trí nhớ dài
Trí nhớ dài giống như một tủ hồ sơ chứa những thông tin đã được lập thànhtệp để phục vụ cho việc khai thác trong tương lai Tuy nhiên trí nhớ dài có khuynhhướng chỉ coi một dữ liệu hoặc một ý tưởng nào đó là “hữu ích” một cách lâu dàinếu nó thường gặp phải những dữ liệu hoặc những ý tưởng đó Do vậy, với nhữngthông tin cần được lưu giữ trong trí nhớ dài thì chúng cần phải được sử dụng và gợinhớ lại một cách thường xuyên Điều đó có nghĩa là khi thông tin đã được chuyển
từ trí nhớ ngắn sang trí nhớ dài, nếu không có sự sử dụng thường xuyên thì nhữngthông tin đó sẽ bị lãng quên Vì vậy để lưu giữ thông tin lâu dài, giáo viên cần phải
tổ chức cho học sinh sử dụng những thông tin đã được lĩnh hội một cách thườngxuyên bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó cách sử dụng tốt nhất là vận dụngnhững thông tin ấy vào việc giải quyết các nhiệm vụ nhận thức và thực hành
Từ những quan niệm của các tác giải trên, chúng tôi cho rằng ôn tập củng cố
là quá trình người học xác nhận lại những thông tin đã lĩnh hội, bổ sung, chỉnh lýthông tin và tổ chức lại thông tin theo một cấu trúc khoa học hơn giúp cho ngườihọc vận dụng dụng thông tin đã lĩnh hội một cách nhanh chóng, dễ dàng và hiệuquả Thông qua ôn tập củng cố tri thức của người học được hệ thống hóa, đào sâu
và mở rộng, trên cơ sở đó mà từng bước rèn luyện được các kĩ năng, kĩ xảo, pháttriển trí nhớ cũng như tư duy của người học
1.2.2.Vai trò và vị trí của ôn tập củng cố trong quá trình nhận thức
Ôn tập củng cố được tổ chức tốt chiếm một vị trí hết sức quan trọng trongqúa trình dạy học ở bất cứ môn học nào trong nhà trường Nó là biện pháp cần thiết
mà giáo viên phải sử dụng trong việc dạy học của mình và để giúp người học trongviệc hoàn thiện tri thức và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo
Ôn tập cần thiết cho việc củng cố tri thức, hiểu rõ tri thức và hoàn thiện trithức và sau đó là để làm mới lại chúng trong trí nhớ lúc này hoặc lúc khác.Ôn tậpcòn có ý nghĩa lớn trong việc rèn luyện kĩ năng đặc biệt là kĩ năng vận dụng kiến
Trang 27thức vào trong các tình huống cụ thể khi ôn tập vật lí Không có gì là tai hại hơn làkhi tiếp thu một lượng kiến thức rời rạc và thiếu ổn định, người thầy nếu cung cấpmột lượng kiến thức rời rạc và không ổn định như vậy cho học sinh gây khó khăncho việc tri giác kiến thức mới và củng cố kiến thức cũ.
Thông qua việc ôn tập củng cố giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức, có một
“bức tranh” tổng thể, hệ thống về những kiến thức, luyện tập và phát triển các kĩnăng đã được học, giúp học sinh đào sâu, mở rộng, khắc sâu các kiến thức, sửa vàtránh được các quan niệm sai lầm thường mắc phải trong và sau khi học lần đầu
Đặc biêt việc ôn tập củng cố học sinh giải thích, chế tạo các ứng dụng kĩthuật khắc sâu kiến thức tạo điều kiện cho học sinh kĩ năng vận dụng các kiến thức
đã học vào thực tiễn, kĩ năng tìm tòi các kiến thức, kĩ năng hợp tác, kĩ năng làmviệc nhóm, kĩ năng trình bày…, để công việc học tập không nhàm chán, tạo hứngthú tích cực trong học tập
1.2.3 Nội dung cần ôn tập củng cố trong dạy học vật lí
Ôn tập là một khâu trong các hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ thông,
vì thế ôn tập không tự đề ra nội dung, chương trình riêng cho nó mà trên cơ sở nộidung chương trình của môn học quy định cho từng khóa học mà lựa chọn nhữngvấn đề cơ bản cần ôn tập và sắp xếp có hệ thống những vấn đề đó Ôn tập cũngkhông tự đề ra phương pháp riêng cho mình mà dựa trên phương pháp dạy học của
bộ môn với nội dung cần ôn tập để lựa chọn phương pháp thích hợp nhất trongkhoảng thời gian cho phép được quy định của chương trình
Đối với môn Vật lí cái tạo thành nội dung chính của môn học là những kiếnthức vật lí cơ bản Thông qua việc hình thành những kiến thức cơ bản đó mà thựchiện các nhiệm vụ khác của dạy học vật lí, trước hết là phát triển năng lực nhậnthức, năng lực sáng tạo, hình thành thế giới quan khoa học Trong quá trình dạy họcvật lí cần chú ý đến những tác động sư phạm khác nhằm điều chỉnh quá trình dạyhọc từ đầu đến cuối, thí dụ như: gợi động cơ, gợi hứng thú, củng cố, ôn tập, điềuchỉnh, kiểm tra, đánh giá Trong học tập vật lí một mặt học sinh phải quan sát thực
tế để cảm nhận được sự tồn tại của thực tế khách quan và những đặc tính bên ngoàicủa nó nhờ các gíac quan, nhờ thế mà rút ra được chân lí mới Trình tự hợp lí của
Trang 28những hoạt động vật chất và tinh thần đảm bảo cho kết luận cuối cùng rút ra phảnánh đúng thực tế khách quan gọi là phương pháp nhận thức vật lí Các phươngpháp nhận thức vật lí đều do các nhà bác học đúc kết được thông qua hoạt độngthực tiễn, đã được thực tiễn khẳng định Muốn cho học sinh làm quen dần vớiphương pháp tìm chân lí mới trong quá trình học tập, nhất thiết phải dạy cho họ cácphương pháp nhận thức phổ biến.
Những kiến thức vật lí cơ bản cần hình thành trong quá trình học kiến thứcmới như trong quá trình ôn tập củng cố trong chương trình vật lí ở trường phổ thônggồm các loại sau:
- Những khái niệm vật lí, đặc biệt là những khái niệm về đại lượng vật lí
- Những định luật vật lí
- Những thuyết vật lí
- Những ứng dụng của vật lí trong kĩ thuật
- Những phương pháp nhận thức vật lí
Bên cạnh những kiến thức vật lí cơ bản cần hình thành ở trên thì học sinh cần
có một kĩ năng sau để nâng cao hiệu quả của việc tự ôn tập củng cố:
Kĩ năng thu thập thông tin: thông qua việc quan sát các hiện tượng trong tựnhiên hoặc việc tự làm thí nghiệm, các mô hình, biểu bảng hay đọc tài liệu sáchgiáo khoa…học sinh thu thập thông tin cần thiết cho việc giải quyết các vấn đề họctập của mình Để thu thập đúng và đủ các thông tin cần thiết, học sinh cần bám sátmục tiêu hoạt động học tập Mục tiêu này do học sinh tự xác định dưới sự hướngdẫn của giáo viên, trong một vài trường hợp có thể giáo viên nêu mục tiêu
- Kĩ năng xử lý thông tin: Đây là kĩ năng đòi hỏi tư duy cao Học sinh cầđược hướng dẫn lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch xử lý các thông tin thu thậpđược đê rút ra kết luận cần thiết Hoạt động này thường được tiến hành bởi các hìnhthức:
+ Thiết kế một phương án thí nghiệm để kiểm tra dự đoán
+ Sử dụng biểu bảng, đồ thị, công thức toán để xử lý các số liệu thu được từthí nghiệm
Trang 29+ Tiến hành các thao tác tư duy: Phân tích, tổng hợp, so sánh, quy nạp, suydiễn…các thông tin thu được để rút ra các kết luận.
- Kĩ năng truyền dạt thông tin: Khi tham gia vào ôn tập dưới sự hỗ trợ củaWebsite, mỗi học sinh sẽ thông báo những thông tin, kết quả xử lí thông tin cá nhânhay của nhóm, báo cáo kết quả hoạt động của nhóm, nhận xét đánh giá ý kiến cánhân…Hoạt động này không những góp phần phát triển ngôn ngữ, khả năng hoạttheo động theo nhóm ở học sinh mà còn giúp các em rèn luyện các phẩm chất cầnthiết để hòa nhập với cuộc sống cộng đồng
1.2.4 Các hình thức ôn tập củng cố chủ yếu
Hoạt động học tập ôn tập của học sinh chủ yếu thông qua hoạt động học tậptrên lớp và hoạt động ngoài lớp( trên mạng và hoạt động thực tiễn) Ôn tập của họcsinh ở nhà chính là tạo điều kiện để học tập trên lớp theo giờ giảng đạt hiệu quảhơn Ôn tập củng cố có thể thực hiện dưới nhiều hình thức nhưng chủ yếu là haihình thức: ôn tập củng cố ngay trong giờ học chính khóa trên lớp và ôn tập củng cốngoài giờ học chính khóa
1.2.4.1 Ôn tập củng cố ngay trong giờ học chính khóa
Ôn tập ngay trước và trong khi học sinh tìm hiểu, tiếp thu kiến thức mới dựatrên cơ sở của những kiến thức đã học trước đó Hình thức này thường được tiếnhành ngay trong mỗi bài học hàng ngày, thực hiện thông qua hệ thống câu hỏi đượcgiáo viên chuẩn bị sẵn, đó là các câu hỏi kiểm tra bài cũ đầu giờ, hoặc những câuhỏi đặt ra trong tiết học nhằm gợi lại kiến thức cũ mà nó là cơ sở để hình thành kiếnthức mới trong bài học
Ôn tập được thực hiện ngay sau khi học sinh vừa học bài mới, nhằm củng cốnhững kiến thức học sinh vừa mới lĩnh hội, chốt lại những kiến thức cơ bản, cốt lõicủa bài học Hình thức này có thể tiến hành bằng cách đưa ra các câu hỏi để họcsinh trả lời hoặc làm bài các bài tập có tính chất hệ thống hóa, tổng kết những kiếnthức cơ bản của bài học
Ôn tập sau khi kết thúc một chương hoặc một phần chương trình Hình thức
ôn tập này thường được thực hiện trong một (hoặc một vài) tiết học riêng biệt Mụcđích sư phạm của các tiết ôn tập như vậy là chỉnh lý lại, hệ thống lại, tìm ra mối liên
Trang 30hệ logic giữa các kiến thức mà học sinh đã được lĩnh hội trong một phần của tài liệuhọc, tạo cho học sinh có cái nhìn toàn diện về nội dung kiến thức trong phần đó.
1.2.4.2 Ôn tập củng cố ngoài giờ học chính khóa
Hình thức này diễn ra sau giờ học chính khóa và dưới sự hướng dẫn gián tiếpcủa giáo viên thông qua hệ thống câu hỏi và bài tập mang tính định hướng trong cácgiờ học tự chọn bổ trợ kiến thức Học sinh thực hiện việc ôn tập của mình bằngcách đọc lại bài học hoặc tái hiện lại nội dung bài học như cấu trúc các phần, cácmục, nội dung của các đề mục trong bài học Sau đó trả lời các câu hỏi của giáoviên hoặc câu hỏi trong sách giáo khoa, hoặc tự đặt ra câu hỏi để trả lời Đồng thờicần tìm đọc các tài liệu có liên quan để mở rộng và đào sâu những kiến thức đã học.Trong quá trình ôn tập học sinh có thể trao đổi với bạn bè về kết quả ôn tập củamình, sau đó ghi chép lại toàn bộ nội dung ôn tập bằng cách tóm tắt bài học, xâydựng dàn ý, sơ đồ, bảng biểu; bằng cách xây dựng đáp án trả lời câu hỏi hay bằngcách vận dụng kiến thức của chương vào thực tiễn để giải thích các ứng kĩ thuật
1.2.5 Các phương pháp ôn tập củng cố ngoài giờ học chính khóa
1.2.5.1 Đọc lại và hoàn thành những bài tập tự luận, trắc nghiệm ở nhà có tác dụng giúp học sinh tự ôn tập củng cố kiến thức
Đọc sách là một trong những dạng hoạt động nhận thức cơ bản của conngười, một loại hình tự học quan trọng và phổ biến
Học sinh học tập ở nhà là sự tiếp tục một cách có logic hình thức trên lớp Ởđây, học sinh phải tự lực đọc lại và hoàn thành các bài tập (dưới dạng tự luận và trắcnghiệm) do giáo viên đề ra sau các giờ lên lớp Ngoài những bài tập về nhà chungcho cả lớp, giáo viên có thể ra những bài tập riêng cho các học sinh kém và giỏi.Như vậy, học tập ở nhà có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượngcủa quá trình dạy học Trước hết, nó có tác dụng ôn tập củng cố, đào sâu, mở rộng,khái quát hóa và hệ thống hóa tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo
1.2.5.2 Hoạt động ngoại khóa góp phần tự ôn tập củng cố kiến thức
Hoạt động ngoại khóa vật lí là một trong những hoạt động ngoài giờ lên lớp,
có tổ chức, có kế hoạch, có phương hướng xác định, được học sinh tiến hành theonguyên tắc tự nguyện ở ngoài giờ nội khóa dưới sự hướng dẫn của các giáo viên vật
lí nhằm gây hứng thú, phát triển tư duy, rèn luyện một số kĩ năng, bổ sung và mở
Trang 31rộng kiến thức vật lí cho học sinh; nó có tác dụng lớn về mặt giáo dưỡng và giáodục kĩ thuật tổng hợp.
Hoạt động ngoại khóa vật lí có thể đem lại nhiều tác dụng to lớn mà mộttrong những tác dụng đó là góp phần củng cố, đào sâu, mở rộng, hệ thống hóa kiếnthức vật lí đã học trên lớp; bổ sung những kiến thức về mặt lí thuyết hoặc khắc phụcnhững sai lầm mà học sinh thường mắc phải khi học nội khóa
1.2.5.3 Tham gia xây dựng logic hình thành các kiến thức thông qua xây dựng các sơ đồ - Graph về từng phần hay toàn bộ hệ thống kiến thức cần ôn tập
1.2.5.3.1 Khái niệm về Graph
Graph trong lí thuyết Graph bắt nguồn từ “Graphic” có nghĩa là tạo ra mộthình ảnh rõ ràng, chi tiết sinh động trong tư duy Trong toán học, Graph được địnhnghĩa: Graph gồm một tập hợp điểm gọi là đỉnh của Graph cùng với một tập hợpđoạn thẳng (hoặc cong) gọi là các cạnh của Graph, mỗi cạnh nối hai đỉnh khác nhau
và hai đỉnh khác nhau được nối với nhau bằng nhiều nhất một cạnh
- Nếu với mỗi cạnh của Graph không phân biệt điểm gốc (đầu) với điểmngọn (cuối) thì đó là Graph vô hướng
- Nếu với mỗi cạnh của Graph, ta phân biệt hai đầu, một đầu là gốc và một đầu còn lại là ngọn thì đó là Graph có hướng
D
Trang 32Trong dạy học người ta quan tâm nhiều đến Graph có hướng vì Graph cóhướng cho biết cấu trúc của đối tượng nghiên cứu, đồng thời biểu thị được mốiquan hệ động, mối quan hệ trong sự phát triển của các yếu tố được đưa vào Graph,trong khi đó Graph vô hướng được sử dụng để biểu thị mối quan hệ tĩnh của các yếutố.
1.2.5.3.2 Những ứng dụng của lý thuyết Graph trong dạy học:
Dùng Graph để hệ thống hóa khái niệm trong một tổng thể, giúp mở rộngnhững hiểu biết về đối tượng nghiên cứu
Dùng Graph cấu trúc hóa nội dung tài liệu giáo khoa, tạo nên mối liên hệgiữa các đơn vị kiến thức trong một hệ thống nhất định (trong một chương trình,một chương hay một bài)
Dùng Graph hướng dẫn học sinh tự học, hoàn thiện tri thức: giáo viên có thể
để cho học sinh tự thiết kế các Graph hoặc hoàn thiện các Graph do giáo viên gợi ý
Hệ thống hóa kiến thức giúp học sinh có bức tranh tổng thể, hệ thống về những kiếnthức được học trong một lĩnh vực nhất định [6]
1.2.6 Phương tiện hỗ trợ hoạt động ôn tập củng cố
Phương tiện dạy học là các phương tiện sư phạm đối tượng – vật chất do giáoviên hoặc (và) học sinh sử dụng dưới sự chỉ đạo của giáo viên trong quá trình dạyhọc, tạo những điều kiện cần thiết nhằm đạt được mục đích dạy học Phương tiệndạy học có thể được sử dụng một cách đa dạng trong quá trình củng cố (ôn tập, đàosâu, mở rộng, hệ thống hóa) kiến thức, kĩ năng, vận dụng các kiến thức vào thựctiễn để giải thích chế tạo các ứng dụng kĩ thuật
Hiện nay, các phương tiện được dùng trong ôn tập củng cố thường là cácphương tiện sau:
1.2.6.1 Sách (giáo khoa, bài tập, các tư liệu khác…)
Sách là một công cụ để chứa đựng hệ thống tri thức Sách là hình thức vậtchất, còn nội dung của nó là tri thức, mà cốt lõi của tri thức là hệ thống khái niệm
Do đó, khi đọc sách con người dùng năng lực tư duy, năng lực ngôn ngữ và toàn bộkinh nghiệm xã hội vốn có của mình để tách khái niệm ra khỏi hệ thống từ ngữ màlĩnh hội chúng, đó là một con đường nhận thức, con đường tái tạo lại tri thức, mộtphương thức lĩnh hội khái niệm Khả năng lĩnh hội khái niệm qua con đường đọcsách phụ thuộc vào nhiều yếu tố
Trang 331.2.6.2 Các tư liệu, bài tập, bài kiểm tra (trắc nghiệm và tự luận) trên mạng (dưới dạng Web…)
- Các mô hình mô phỏng các hiện tượng vật lí, các đoạn video chưa được sửdụng khi nghiên cứu kiến thức mới có thể dùng trong giai đoạn vận dụng các kiếnthức đã học để xây dựng trang Web củng cố (ôn tập, đào sâu, mở rộng, hệ thốnghóa) kiến thức, kĩ năng của học sinh
- Các bài kiểm tra, bài trắc nghiệm, tự luận được xem như phương tiện đểkiểm tra kiến thức, kĩ năng trong dạy học Theo chúng tôi, việc soạn thảo công phucác câu hỏi trắc nghiệm, các bài trắc nghiệm có phản hồi những sai lầm của họcsinh và hướng dẫn học sinh tự đọc tư liệu dựa trên công nghệ thiết kế Web hợp lí thì
sẽ tạo ra được một công cụ, phương tiện hữu hiệu để định hướng hoạt động chiếmlĩnh kiến thức cần ôn tập, đánh giá mục tiêu và phương pháp dạy học, mà hiện naychưa có những bài trắc nghiệm trên mạng như vậy
Ưu thế của Web thể hiện ở các tính năng tạo lập và quản lý nội dung ôn tậpnhư: Quan sát một thí nghiệm, một hiện tượng vật lí được ghi lại bằng video; làmcác thí nghiệm ảo; trao đổi trực tuyến giữa giáo viên và học viên, giữa các bạn học
1.2.6.3 Phần mềm dạy học hỗ trợ ôn tập củng cố
Phần mềm dạy học(Phần mềm dạy học) là phương tiện hỗ trợ chứa chươngtrình đã được thiết lập sẵn để ra lệnh cho máy tính thực hiện các yêu cầu về nộidung và phương pháp dạy học theo các mục tiêu đã định
Khác với các phương tiện khác, phần mềm dạy học là một dạng vật chất đặcbiệt, là các câu lệnh chứa thông tin, dữ liệu để hướng dẫn máy vi tính thực hiện cácthao tác xử lý theo một thuật toán xác định từ trước Các phần mềm dạy học đượclưu trữ trong các thiết bị nhớ ngoài của máy vi tính trong các đĩa cứng, đĩa mềm, đĩa
CD Tùy thuộc vào hình thức sử dụng và chức năng sư phạm mà phần mềm đảmnhận có thể phân chia các phần mềm dạy học thành các loại khác nhau
Trong dạy học vật lí có thể phân chia các phần mềm dạy học thành các nhóm sau:-Phần mềm mô phỏng, minh họa: thường gọi là phần mềm mô phỏng
- Phần mềm xử lý các số liêu thực nghiệm dùng hỗ trợ các thí nghiệm vật lí:thường gọi là phần mềm hỗ trợ thí nghiệm vật lí.[15]
- Phần mềm ôn tập, tổng kết, hệ thống hóa kiến thức từng phần, từng chươngtrong sách giáo khoa
Trang 34- Phần mềm kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh.
Như vậy, bên cạnh rất nhiều chức năng thì phần mềm dạy học cũng có chứcnăng hỗ trợ học sinh tự ôn tập củng cố về một nội dung nào đó
1.3 Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học vật lí ở giai đoạn ôn tập củng cố vận dụng thực tiễn
1.3.1 Khái niệm dạy học giải quyết vấn đề
Dạy học giải quyết vấn đề (DH GQVĐ) là con đường quan trọng để pháthuy tính tích cực của HS, là một trong những vấn đề giáo viên chúng ta cầnphải làm để đổi mới phương pháp giảng dạy Mục tiêu cơ bản của DHGQVĐnhằm rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề, tất nhiên trong đó cần bao gồm khảnăng nhận biết, phát hiện vấn đề Vậy dạy học giải quyết vấn đề là gì?
Dạy học giải quyết vấn đề có thể hiểu theo nghĩa chung nhất là toàn bộ cáchành động như tổ chức các tình huống có vấn đề, biểu đạt vấn đề, giải quyết vấn đềrút ra kết luận
Trong DHGQVĐ thì khái niệm “vấn đề” dùng để chỉ một khó khăn, một
nhiệm vụ nhận thức mà người học không thể giải quyết được chỉ bằng kinh nghiệmsẵn có, theo một khuôn mẫu có sẵn tức là không thể dùng tư duy tái hiện đơn thuần
để giải quyết, mà phải tìm tòi sáng tạo để giải quyết, và khi giải quyết được thì
người học đã thu nhận được kiến thức, kĩ năng mới Như vậy “vấn đề” chứa đựng
câu hỏi, nhưng đó là câu hỏi về cái chưa biết, câu trả lời tương ứng sẽ là cái mới HStìm được thông qua tìm tòi, sáng tạo chứ không đơn giản là câu hỏi đơn thuần yêucầu nhớ lại những kiến thức đã có
“Tình huống vấn đề” là tình huống mà khi HS tham gia thì gặp một khó
khăn, HS ý thức được vấn đề, mong muốn giải quyết vấn đề đó và cảm thấy với khảnăng của mình thì hi vọng có thể giải quyết được, do đó HS có hứng thú và bắt tayvào giải quyết vấn đề Tức đây là tình huống kích hoạt nhận thức tích cực của HS:
đề xuất vấn đề và giải quyết vấn đề
Một tình huống được gọi là có vấn đề thì phải thỏa mãn ba điều kiện sau: Tồntại một vấn đề; gợi một nhu cầu nhận thức; gợi niềm tin vào khả năng của bản thân
Việc tổ chức được các tình huống vấn đề và định hướng hành động học khigiải quyết vấn đề đòi hỏi:
Thứ nhất, GV cần nhận định về câu hỏi đặt ra, các khó khăn HS phải vượt
qua khi giải đáp câu hỏi đó
Trang 35Thứ hai, GV phải xác định rõ kết quả giải quyết mong muốn đối với vấn đề
đặt ra là HS chiếm lĩnh được tri thức cụ thể gì
Thứ ba, GV soạn thảo được một nhiệm vụ có tiềm ẩn vấn đề để giao cho HS,
sao cho HS sẵn sàng đảm nhận nhiệm vụ đó trên cơ sở vấn đề cần giải quyết, kếtquả mong đợi, những quan niệm, khó khăn trở lực của HS trong điều kiện cụ thể,
GV đoán trước những đáp ứng có thể có của HS và dự định tiến trình định hướng,giúp đỡ HS một cách hợp lí, phù hợp với tiến trình khoa học giải quyết vấn đề.[20]
1.3.2 Tiến trình dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học vật lí ở giai đoạn
ôn tập củng cố và vận dụng thực tiễn
Để phát huy được sự tích cực, tự lực, sáng tạo đối với quá trình nhận thứccủa HS người GV nên tập cho HS làm quen với qui trình xây dựng và bảo vệ cáimới trong nghiên cứu khoa học Ta có thể thực hiện tiến trình dạy học theo các pha,phỏng theo tiến trình xây dựng và bảo vệ cái mới trong nghiên cứu khoa học ở trên
cụ thể như sau:[19]
Pha thø ba:
Tranh luận : Thể chế
hoá, vận dụng tri thức
nhiệm vụ diễn ra tiếp theo
Hinh 1.1: Sơ đồ các pha của tiến trình dạy học phỏng theo tiến trình xây
dựng, bảo vệ tri thức mới trong nghiên cứu khoa học.
Trang 36Pha thứ nhất: Chuyển giao nhiệm vụ, bất ổn hóa tri thức, phát biểu vấn
đề(tương ứng với (1) và(2) trong sơ đồ
Giáo viên giao nhiệm vụ cho HS có tiềm ẩn vấn đề, dưới sự hướng dẫn của GV,
HS quan tâm đến nhiệm vụ đặt ra, sẵn sàng nhận và tự nguyện thực hiện nhiệm vụ
Quan niệm và giải pháp ban đầu của HS được thử thách HS ý thức được khókhăn( vấn đề xuất hiện)
Dưới sự hướng dẫn của GV vấn đề được diễn đạt
Pha thứ hai: Học sinh hành động độc lập, tự chủ, trao đổi, tìm tòi giải quyết
vấn đề(tương ứng với (3) và(4) trong sơ đồ)
Học sinh độc lập xoay trở để vượt qua khó khăn, có sự định hướng của GVkhi cần
Học sinh diễn đạt, trao đổi với người khác trong nhóm về cách giải quyết vấn
đề và kết quả thu được, qua đó có thể chỉnh lí và hoàn thiện tiếp
Dưới sự hướng dẫn của GV, hành động của HS được định hướng phù hợp với tiếntrình nhận thức khoa học và thông qua các tình huống thứ cấp khi cần
Pha thứ ba: Tranh luận, thể chế hóa, vận dụng tri thức mới( tương ứng với
(5) và(6) trong sơ đồ)
Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, HS tranh luận, bảo vệ cái xây dựng được
Giáo viên chính xác hóa, bổ sung, thể chế hóa tri thức mới
Học sinh chính thức ghi nhận tri thức mới và vận dụng
Như vậy, việc tổ chức dạy học theo tiến trình trên, GV đã tạo điều kiện thuậnlợi để HS tự chủ hành động xây dựng kiến thức đồng thời cũng phát huy được vaitrò tương tác của tập thể HS đối với quá trình nhận thức của mỗi cá nhân
1.3.2 1 Dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học Vật lí
Vật lí phổ thông, là một môn khoa học thực nghiệm; hầu hết các khái niệm,các định luật Vật lí đều gắn với thực tế Trong chương trình Trung học phổthông( THPT), nhiều khái niệm và hầu hết các định luật Vật lí được hình thànhbằng con đường thực nghiệm Thông qua thí nghiệm, ta xây dựng được những biểutượng cụ thể về sự vật và hiện tượng mà không một lời lẽ nào có thể mô tả đầy đủđược
Trang 37Như vậy, thực nghiệm trongVật lí trong mối liên hệ biện chứng với lí thuyết
có vai trò quan trọng trong tiến trình xây dựng tri thức khoa học Việc dạy học theophương pháp thực nghiệm gồm các giai đoạn chính như sau:
Giai đoạn 1: Làm nảy sinh vấn đề từ một tình huống xuất phát thí dụ: mô tả
một hoàn cảnh thực tiễn, biểu diễn một thí nghiệm và yêu cầu HS giải thích nguyênnhân
Giai đoạn 2: Đề xuất vấn đề từ cái đã biết và nhiệm vụ cần giải quyết HS
diễn đạt nhu cầu đó thành câu hỏi
Giai đoạn 3: Giải quyết vấn đề
- Suy đoán giải pháp
Để giải quyết vấn đề đặt ra, suy đoán điểm xuất phát cho phép đi tìm lời giải.Chọn hoặc đề xuất mô hình có thể vận hành được để đi tới cái cần tìm; hoặc phỏngđoán các biến cố thực nghiệm có thể xảy ra mà nhờ đó có thể khảo sát thực nghiệm
để xây dựng cái cần tìm Trong dạy học vật lí, thường sử dụng giải pháp: suy luận lí thuyết hoặc khảo sát thực nghiệm
- Thực hiện giải pháp
Việc thực hiện giải pháp tương ứng với việc vận hành mô hình (kiến thức) đã
biết (giải bài toán) rút ra kết luận logic về cái cần tìm hoặc thiết kế các phương ánthực nghiệm, tiến hành thực nghiệm, thu lượm các dữ liệu cần thiết và xem xét, kháiquát hóa rút ra kết luận (tạm thời) và sau đó được kiểm chứng bằng thực nghiệm
Giai đoạn 4: Kết luận và vận dụng kiến thức
Phát biểu về nội dung các kết quả tìm được và sau đó vận dụng chúng để giảithích, tiên đoán các sự kiện và xem xét sự phù hợp của lí thuyết và thực nghiệm
Việc sử dụng thí nghiệm trong quá trình dạy học Vật lí ( trong giai đoạn 1 và3) thể hiện vai trò to lớn, đảm bảo mối liên hệ biện chứng giữa hành động lí thuyết
và hành động thí nghiệm, giữa suy diễn và qui nạp trong quá trình xây dựng tri thứckhoa học.[19]
1.3.2 2 Tiến trình khoa học xây dựng một kiến thức Vật lớ cụ thể
Trong dạy học, việc thiết lập được sơ đồ tiến trình khoa xây dựng kiến thức
sẽ là nền tảng cơ sở khoa học cần thiết cho việc suy nghĩ cách tổ chức, định hướnghoạt động dạy học kiến thức đó
Trang 38- Ôn tập củng cố thông qua vận dụng thực tiễn:
Nếu sau khi học xong các kiến thức về khái niệm, định luật vật lí mà ta vậndụng chúng để nghiên cứu các ứng dụng kĩ thuật của các kiến thức này thì cũng cóthể coi việc nghiên cứu các ứng dụng kĩ thuật này thuộc giai đoạn ôn tập củng cố vàvận dụng kiến thức
Một trong các nội dung quan trọng của việc ôn tập củng cố thông qua vậndụng thực tiễn là có thể yêu cầu HS giải thích nguyên tắc hoạt động của ứng dụng
kĩ thuật hay thiết kế, chế tạo mô hình vật chất – chức năng của ứng dụng kĩ thuật.Dưới đây trình bày tiến trình khoa học khi nghiên cứu ứng dụng kĩ thuật theo 2 conđường trên dưới góc độ của phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề
+ Con đường thứ nhất: Giải thích nguyên tắc hoạt động của một ứng dụng kĩ thuật
hoạt động của ưdkt
1.1 GV giới thiệu ứng dụng kĩ thuật và chức năng của nó (cho ứng dụng kĩ thuật hoạt động, xác định tác động đầu vào và kết quả thu được ở đầu ra)
1.2 Đặt vấn đề tìm hiểu cấu tạo và giải thích nguyên tắc hoạt động của ứng dụng kĩ thuật (để có được chức năng
2.2 Phát hiện ra những mối liên hệ có tính qui luậthay mối liên hệ có tính nhân quả đã biết chi phối hoạt độngcủa ứng dụng kĩ thuật làm cơ sở cho việc giải thích nguyêntắc hoạt động của ứng dụng kĩ thuật
2.3 Đưa ra mô hình của ứng dụng kĩ thuật (gồm hình
Trang 39vẽ về cấu tạo và những thuộc tính của những bộ phận củaứng dụng kĩ thuật), để dựa vào đó giải thích nguyên tắc hoạtđộng của ứng dụng kĩ thuật
2.4 Nếu có thể: Chế tạo và vận hành mô hình vậtchất - chức năng (để kiểm chứng tính đúng đắn của mô hình
đã đưa ra về nguyên tắc hoạt động của ứng dụng kĩ thuật)
3 Trình bày ứng
dụng kĩ thuật ở
dạng hoàn thiện
như trong thực tiễn
3.1 Trình bày thêm các chi tiết bổ sung để ứng dụng
kĩ thuật hoạt động hoàn thiện và hiệu quả hơn
3.2 Giới thiệu các dạng khác nhau của ứng dụng kĩthuật trong thực tiễn
+ Con đường thứ hai: Thiết kế chế tạo một ứng dụng kĩ thuật
2.2 Thảo luận lựa chọn các thiết kế khả dĩ (hợp lí) vàthiết kế tối ưu (theo tiêu chí đặt ra)
2.3 Chế tạo và vận hành mô hình vật chất - chứcnăng tương ứng với từng thiết kế để kiểm tra tính khả thi(hợp lí) và tối ưu của chúng, cũng như có thể tiếp tục điềuchỉnh, hoàn thiện các thiết kế
3.Trình bày ứng 3.1 Trình bày thêm các chi tiết bổ sung cơ bản mà
Trang 40dụng kĩ thuật ở dạng
hoàn thiện như
trong thực tiễn
ứng dụng kĩ thuật đã được thiết kế chế tạo trong thực tế để
nó hoạt động hoàn thiện và hiệu quả hơn
3.2 Giới thiệu các dạng khác nhau của ứng dụng kĩthuật trong thực tiễn
1.4 Môi trường dạy học trên lớp và trên mạng hỗ trợ dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề theo hướng phát huy tính tích cực, năng lực tự học, sáng tạo và hợp tác của học sinh trong giai đoạn ôn tập củng cố
1.4.1 Môi trường dạy học trên lớp và trên mạng
1.4.1.1 Khái niệm môi trường dạy học trên lớp và trên mạng
* Môi trường giáo dục là toàn bộ điều kiện vật chất, tinh thần và các quan hệ
xã hội trong đó con người sống, hoạt động, có tác động tích cực đến sự hình thành
và phát triển nhân cách theo định hướng giáo dục
Môi trường học tập để chỉ nơi mà các hoạt động học tập diễn ra Nghĩa làmôi trường học tập là cái bên ngoài, là điều kiện cho việc tiến hành các thao tác,hành động học tập diễn ra Như vậy môi trường học tập gắn liền với phương pháp
dạy học Entwhistle đã chỉ ra rằng: “Hiệu quả học tập phụ thuộc vào hoàn cảnh nơi việc học tập được diễn ra Và hoàn cảnh này thế nào là thuộc trách nhiệm của người giáo viên” Điều đó có nghĩa là môi trường học tập là một đối tượng của giáo viên
trong quá trình dạy học Trong quá trình tổ chức dạy học người GV phải trả lời câu
hỏi: HS thực hiện nhiệm vụ học tập này trong điều kiện như thế nào sẽ có hiệu quả?
Môi trường lớp học có hiệu quả là nơi tạo được cho HS cảm giác thoải mái,
an toàn và được tôn trọng bởi bạn bè, thầy cô và do đó mà các quá trình nhận thức
sẽ được kích thích hoạt động Như vậy, môi trường học tập của HS bao gồm cả môitrường vật chất và môi trường xã hội
*Môi trường vật chất bao gồm tổng thể những yếu tố vật chất về nơi hoạt
động dạy học diễn ra, như cấu trúc không gian, sự sắp xếp, bố trí các đồ dùng, trangthiết bị, phương tiện, tài liệu phục vụ việc dạy,học gọi chung là môi trường lớp học