1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt luận văn: Vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học nghề điện dân dụng

24 534 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột (BTNB) trong dạy học nghề điện dân dụng ở trung tâm KTTH HNDN, từ đó vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột để thiết kế hoạt động dạy học nghề điện dân dụng góp phần phát huy tính tích cực, khả năng tìm tòi kiến thức, hứng thú học tập của học sinh. 3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu 3.1 Khách thể nghiên cứu Hoạt động dạy và học nghề điện dân dụng của giáo viên và học sinh có sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột ở trung tâm KTTHHNDN. 3.2 Đối tượng nghiên cứu Phương pháp bàn tay nặn bột Chương trình nghề điện dân dụng 4. Giả thuyết khoa học Nếu trong quá trình dạy học môn điện ở trung tâm KTTHHNDN giáo viên vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột theo một quy trình hợp lý, phù hợp với điều kiện cụ thể thì sẽ phát huy được tính tích cực, độc lập sáng tạo của HS. Qua đó nâng cao chất lượng dạy học ở trung tâm KTTH HNDN

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Điều 24, Khoản 2 của Luật Giáo dục chỉ rõ: : “ Phương pháp giáo dục phổ thôngphải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặcđiểm của từng lớp học môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vậndụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú họctập cho học sinh.”

Những năm vừa qua, chất lượng giáo dục có tiến bộ, nhưng so với yêu cầu củasự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, so với mong muốn của thầy và trò, của phụhuynh, của Đảng, Nhà nước và xã hội thì chưa đáp ứng

Một phương pháp dạy học mới “Bàn tay nặn bột” (BTNB) đã được triển khai ápdụng ở Việt Nam Đây là phương pháp dạy học đã gặt hái được nhiều thành công ở cácnước có nền giáo dục tiên tiến như Pháp, Mỹ, Canada Phương pháp “Bàn tay nặn bột”là một phương pháp dạy học tích cực, khai thác được khả năng tự tìm tòi, sáng tạo củahọc sinh

Trong chương trình đào tạo nghề ở các trung tâm KTTH - HNDN thì đào tạonghề Điện dân dụng có nhiều ứng dụng gắn với thực tiễn nên khi giảng dạy đòi hỏingười dạy bên cạnh trang bị cho học sinh các kiến thức cơ bản cần hướng dẫn học sinhrèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo Việc này không chỉ giúp học sinh có những kiến thức lýthuyết gắn liền với thực tiễn, nâng cao khả năng sáng tạo và năng lực vận dụng tri thức

đã học để giải quyết các tình huống trong thực tiễn cuộc sống, sau khi tốt nghiệp ratrường học sinh có thể hoàn thành tốt công việc được giao tại nơi làm việc mà còn cóthể có những ý tưởng mới có thể đem lại hiệu quả cao hơn cho các công việc đó, đápứng được các yêu cầu ngày càng cao của xã hội

Từ những lý do trên, cùng với mong muốn được tìm hiểu và nâng cao tính ứngdụng của phương pháp BTNB trong dạy nghề điện dân dụng, chúng tôi đã chọn đề tài

“Vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học nghề điện dân dụng”.

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng phương pháp bàn taynặn bột (BTNB) trong dạy học nghề điện dân dụng ở trung tâm KTTH- HNDN, từ đóvận dụng phương pháp bàn tay nặn bột để thiết kế hoạt động dạy học nghề điện dândụng góp phần phát huy tính tích cực, khả năng tìm tòi kiến thức, hứng thú học tập củahọc sinh

3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động dạy và học nghề điện dân dụng của giáo viên và học sinh có sử dụngphương pháp bàn tay nặn bột ở trung tâm KTTH-HNDN

3.2 Đối tượng nghiên cứu

- Phương pháp bàn tay nặn bột

- Chương trình nghề điện dân dụng

4 Giả thuyết khoa học

Nếu trong quá trình dạy học môn điện ở trung tâm KTTH-HNDN giáo viên vậndụng phương pháp bàn tay nặn bột theo một quy trình hợp lý, phù hợp với điều kiện cụ

Trang 2

thể thì sẽ phát huy được tính tích cực, độc lập sáng tạo của HS Qua đó nâng cao chấtlượng dạy học ở trung tâm KTTH - HNDN

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến phương pháp dạy học

6 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phối hợp các phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích lý thuyết, tổng hợp lý thuyết: Nghiên cứu các tài liệuvề lý luận dạy học, phương pháp bàn tay nặn bột, về tính tích cực học tập Phân tíchtổng hợp, hồi cứu tư liệu, so sánh… để xác định mục đích nghiên cứu và các nhiệm vụcủa đề tài

- Phương pháp quan sát sư phạm, điều tra phỏng vấn: Điều tra khảo sát tình hìnhdạy học nghề điện dân dụng ở Trung tâm KTTH-HNDN hiện nay để tìm hiểu thựctrạng và kiểm nghiệm đánh giá các đề xuất của đề tài

- Phương pháp nghiên cứu hỗ trợ khác: Phương pháp chuyên gia, thực nghiệm

sư phạm, thống kê toán học… để thu thập và xử lí số liệu trong kiểm nghiệm đánh giácác đề xuất của đề tài

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phục lục, luận văn gồm 3chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc vận dụng phương pháp “bàn tay

nặn bột” trong dạy học nghề điện dân dụng

Chương 2: Vận dụng phương pháp “ bàn tay nặn bột” trong dạy học nghề điện

TRONG DẠY HỌC NGHỀ ĐIỆN DÂN DỤNG

1.1 KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.1.1 Tình hình nghiên cứu và vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột ở nước ngoài

Ngay từ khi mới ra đời, BTNB đã được tiếp nhận và truyền bá rộng rãi Nhiềuquốc gia trên thế giới đã hợp tác với Viện Hàn lâm khoa học Pháp trong việc phát triểnphương pháp này như Brazil, Afghanistan, Bỉ, Campuchia, Chili, Trung Quốc, TháiLan, Colombia, Hy Lạp, Malaysia, Marốc, Serbi, Thụy sỹ, Đức… trong đó có ViệtNam thông qua Hội Gặp gỡ Việt Nam Tính đến năm 2009, có khoảng hơn 30 nướctham gia trực tiếp vào chương trình BTNB

Trang 3

1.1.2 Tình hình nghiên cứu và vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột ở trong nước

Qua tìm hiểu nội dung, phạm vi của các công trình nghiên cứu cũng như các tàiliệu liên quan đến đề tài, tác giả nhận thấy phương pháp bàn tay nặn bột đã được ápdụng khá nhiều ở cấp tiểu học và THCS và đang áp dụng ở cấp THPT

1.2 CÁC KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN

1.2.1 Các khái niệm công cụ

1.2.1.1 Bàn tay nặn bột

“Bàn tay nặn bột” là mô hình giáo dục tương đối mới trên thế giới, có tên tiếngAnh là “Hands On”,tiếng Pháp là “La main à la pâte”, đều có nghĩa là “bắt tay vàohành động”; “bắt tay vào làm thí nghiệm”, “bắt tay vào tìm tòi nghiên cứu” [24]

“Bàn tay nặn bột” được hiểu là phương pháp tạo cho học sinh tích cực, chủ độngtrong học tập Học sinh phải tự làm các thực nghiệm để tiếp thu các kiến thức khoahọc Các em tiếp cận tri thức khoa học như một quá trình nghiên cứu của chính bảnthân [39]

1.2.1.2 Phương pháp bàn tay nặn bột

Phương pháp dạy học "Bàn tay nặn bột" (BTNB), tiếng Pháp là La main à lapâte - viết tắt là LAMAP; tiếng Anh là Hands-on, là phương pháp dạy học khoa họcdựa trên cơ sở của sự tìm tòi - nghiên cứu, áp dụng cho việc dạy học các môn khoa họctự nhiên Phương pháp này được khởi xướng bởi Giáo sư Georges Charpak (GiảiNobel Vật lý năm 1992) Theo phương pháp BTNB, dưới sự giúp đỡ của giáo viên,chính học sinh tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông quatiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành kiếnthức cho mình [7]

Triết lí căn bản của phương pháp “Bàn tay nặn bột” (BTNB) là dạy học dựa vàocác hoạt động tìm tòi, nghiên cứu, khám phá thực tiễn để chính học sinh tìm ra câu trảlời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống, từ đó rút ra các kiến thức và hình thành

kĩ năng theo yêu cầu dưới sự hướng dẫn của giáo viên Với triết lí đó, phương phápBTNB đề cao vai trò chủ thể tích cực, độc lập sáng tạo của học sinh, đặt học sinh vào

vị trí của một nhà khoa học Học sinh học tập nhờ hành động, cuốn hút mình tronghành động, học tập tiến bộ dần bằng cách tự nêu những thắc mắc, nghi vấn, trao đổivới bạn bè, trình bày quan điểm của mình, đối lập với các quan điểm của người khác,tranh luận tạo ra môi trường học tập tích cực

Khái niệm LAMAP: LAMAP là một phương pháp dạy học tích cực dựa trên thínghiệm nghiên cứu, áp dụng cho việc giảng dạy các môn khoa học tự nhiên LAMAPchú trọng đến việc hình thành kiến thức cho học sinh bằng các thí nghiệm tìm tòinghiên cứu để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộcsống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra… Vớimột vấn đề khoa học đặt ra, học sinh có thể đặt ra các câu hỏi, các giả thuyết từ nhữnghiểu biết ban đầu, tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu để kiểm chứng và đưa ra nhữngkết luận phù hợp thông qua thảo luận, so sánh, phân tích, tổng hợp kiến thức [33]

Phương pháp bàn tay nặn bột (PPBTNB) là phương pháp dạy học tích cực doGiáo sư Georger Charpak (người Pháp) sáng tạo ra và phát triển từ năm 1995 dựa trên

Trang 4

cơ sở khoa học của sự tìm tòi – nghiên cứu Đây là PPDH được tổng hợp của nhiềuPPDH tích cực khác nhau [23].

1.2.1.3 Nghề điện dân dụng

a) Nghề phổ thông

Trong từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Nghề là công việc chuyên làm theo phâncông lao động trong xã hội Nghề nghiệp là nghề để sinh sống và để phục vụ xã hội

Nghề phổ thông là một khái niệm đã được đề cập rất nhiều trong các văn bảnpháp luật thuộc lĩnh vực giáo dục Tuy nhiên cho đến nay chưa có từ điển nào đề cậpđến khái niệm nghề phổ thông

Trong luận án tiến sĩ của mình, Nguyễn Toàn có đưa ra khái niệm “ Nghề phổthông là nghề phổ biến trong xã hội đã được đưa vào kế hoạch giáo dục của trường phổthông, thuộc học vấn phổ thông nhằm dạy HS vận dụng kiến thức phổ thông vào mộtlĩnh vực nghề nghiệp và rèn luyện kỹ năng cơ bản của một nghề, tạo điều kiện làm tốtcông tác hướng nghiệp và rèn luyện kỹ năng cơ bản của một nghề, tạo điều kiện làm tốtcông tác hướng nghiệp cho HS phổ thông”

Trong điều 27, Luật Giáo dục quy định Mục tiêu của giáo dục phổ thông “ Giáodục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh….Có những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật vàhướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào đờisống lao động”, Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh… có những hiểubiết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân đểlựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đivào đời sống lao động”

Trong quá trình thực hiện giáo dục nghề phổ thông và giáo dục hướng nghiệp,

HS cần được tìm hiểu các lĩnh vực nghề nghiệp phổ biến trong xã hội để định hướngnghề nghiệp, qua đó cũng thấy rõ sự phù hợp của năng lực bản thân với yêu cầu củatừng nghề cụ thể Thông qua học nghề, HS vận dụng được kiến thức kỹ năng đã học ởmôn Công nghệ và các môn học khác vào thực tiễn đời sống Nghĩa là sau khi họcnghề, HS có thể tham gia lao động nghề nghiệp đơn giản tại địa phương hoặc học tiếpnghề tại các trường chuyên nghiệp Ở đây quan trọng là HS có thể hiểu về nghề đã học,hiểu năng lực của bản thân để có sự lựa chọn nghề thích hợp

b)Nghề điện dân dụng

Nghề điện dân dụng là một nghề phổ thông nên nó cũng có những đặc điểm, tínhchất của nghề phổ thông như:

- Là một nghề phổ biến trong xã hội, mang tính chất học vấn phổ thông, có nộidung, chương trình thuộc kế hoạch giáo dục phổ thông

- Mục tiêu của nghề điện dân dụng là cung cấp cho học sinh những tri thức vàhình thành những kỹ năng ban đầu của một số công việc về điện như: An toàn điện, vậtliệu và dụng cụ dùng trong nghề điện, mạng điện sinh hoạt và các đồ dùng điện tronggia đình

- Đặc điểm về đối tượng lao động của nghề điện dân dụng là: Nguồn điện mộtchiều, xoay chiều điện áp dưới 380 Mạch điện sinh hoạt trong các hộ tiêu thụ, các đồdùng điện, các thiết bị đo lường, bảo vệ và điều khiển điện

Trang 5

Từ những đặc điểm và tính chất trên ta có thể khái quát về nghề điện dân dụng

(phổ thông) như sau: Nghề điện dân dụng là một nghề phổ biến trong xã hội được đưa

vào kế hoạch giáo dục trong trường phổ thông, nhằm định hướng nghề nghiệp cho HS và cung cấp cho HS những kỹ năng kỹ xảo ban đầu về an toàn điện cũng như kỹ năng kỹ xảo khác về mạng điện sinh hoạt và các thiết bị điện khác trong mạng, làm cơ sở cho việc tham gia lao động hay tiếp tục học nghề điện ở mức độ cao hơn [5]

1.2.2 Đặc trưng của phương pháp bàn tay nặn bột [23]

Phương pháp bàn tay nặn bột có các đặc trưng sau:

- Nghiên cứu các đồ vật của thế giới thực tế, gần gũi với HS để HS có thể cảmnhận được dễ dàng

- Khoa học cũng như các hoạt động khám phá

- Chính HS là người thực hiện các thí nghiệm thực hành, chứ không phải các thínghiệm đã được làm sẵn hay thiết kế sẵn

- GV giúp HS xây dựng nên kiến thức của riêng các em

- Thực hiện trong khoảng thời gian dài liên tục

- HS có một cuốn vở nhật kí học tập của riêng mình với các từ ngữ của riêng

mình

- Chú trọng đến: Đặt câu hỏi, tự chủ, kinh nghiệm

- Cùng nhau xây dựng kiến thức

1.2.3 Nguyên tắc khi sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột [23]

10 nguyên tắc cơ bản của PPBTNB: chia làm 2 nhóm

a) 6 nguyên tắc về tiến trình sư phạm:

- Học sinh quan sát một sự vật hay một hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi vớiđời sống, dễ cảm nhận và các em sẽ thực hành trên những cái đó

- Trong quá trình tìm hiểu, học sinh lập luận, bảo vệ ý kiến của mình, đưa ra tập thểthảo luận những ý nghĩ và những kết luận cá nhân, từ đó có những hiểu biết mà nếu chỉ cónhững hoạt động, thao tác riêng lẻ không đủ tạo nên

- Những hoạt động do giáo viên đề xuất cho học sinh được tổ chức theo tiếntrình sư phạm nhằm nâng cao dần mức độ học tập Các hoạt động này làm cho cácchương trình học tập được nâng cao lên và dành cho học sinh một phần tự chủ khá lớn

- Cần một lượng tối thiểu là 2 giờ/tuần trong nhiều tuần liền cho một đề tài Sựliên tục của các hoạt động và những phương pháp giáo dục được đảm bảo trong suốtthời gian học tập

- Bắt buộc mỗi học sinh phải có một quyển vở thực hành do chính các em ghichép theo cách thức và ngôn ngữ của các em

- Mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần các khái niệm khoa học và kĩ thuậtđược thực hành, kèm theo là sự củng cố ngôn ngữ viết và nói của học sinh

b) 4 nguyên tắc về những đối tượng tham gia:

- Các gia đình và/ hoặc khu phố được khuyến khích thực hiện các công việc củalớp học

- Các cơ sở khoa học (Trường Đại học, Cao đẳng, Viện nghiên cứu…) giúp cáchoạt động của lớp theo khả năng của mình

- Các viện đào tạo giáo viên (Trường Cao đẳng Sư phạm, Đại học Sư phạm)giúp các giáo viên về kinh nghiệm và phương pháp dạy học

Trang 6

- Giáo viên có thể tìm thấy trên internet các website có nội dung về nhữngmôđun kiến thức (bài học) đã được thực hiện, những ý tưởng về các hoạt động, nhữnggiải pháp thắc mắc Giáo viên cũng có thể tham gia hoạt động tập thể bằng trao đổi vớicác đồng nghiệp, với các nhà sư phạm và với các nhà khoa học Giáo viên là ngườichịu trách nhiệm giáo dục và đề xuất những hoạt động của lớp mình phụ trách.

- Bài học không phải là những nội dung phải học thuộc lòng

1.2.4 Vai trò của giáo viên và học sinh trong việc sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột

1.2.4.1 Vai trò của giáo viên

1.2.4.2 Vai trò của học sinh

1.2.5 Tiến trình dạy học phương pháp bàn tay nặn bột

Tiến trình thực hiện của PPBTNB

Bước 1: Đưa ra tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề

Bước 2: Hình thành biểu tượng ban đầu của HS

Bước 3: Xây dựng giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm

Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu

Bước 5: Kết luận, hợp thức hòa kiến thức

Từ bước 2 đến bước 5 là hoàn toàn HS tự làm, GV chỉ giúp đỡ để HS tự xâydựng kiến thức của riêng mình

Như vậy, để đạt được mục tiêu của phương pháp BTNB ngoài đòi hỏi HS phảiluôn động não, sáng tạo, hoạt động, thảo luận tích cực để tìm ra kiến thức, thì việc xácđịnh kiến thức khoa học phù hợp với HS theo độ tuổi là một vấn đề quan trọng đối với

GV GV phải tự đặt ra các câu hỏi như: Có cần thiết giới thiệu kiến thức này không?Cần thiết giới thiệu kiến thức này vào thời điểm nào? Cần yêu cầu HS tìm hiểu kiếnthức này ở mức độ nào? Buộc người giáo viên phải năng động, sáng tạo, không theomột khuôn mẫu nhất định để xác định các kiến thức khoa học xây dựng tình huốngxuất phát cho HS, giáo viên có quyền biên soạn tiến trình dạy học cho riêng mình phùhợp với từng đối tượng HS và điều kiện nhà trường [23]

1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY

NẶN BỘT

1.3.1 Phương pháp bàn tay nặn bột chính là dạy học tìm tòi - khám phá

Khám phá (chỉ nói riêng trong lĩnh vực khoa học) được dùng để chỉ sự phát hiện

ra cái mới Các hoạt động học tìm kiếm kiến thức mới bằng giải quyết xong mộtnhiệm vụ học tập từ cá nhân HS do trí thông minh hay nghiên cứu các tài liệu từ thảoluận nhóm… những hoạt động đó của học sinh được gọi là khám phá

Trang 7

Phương pháp dạy học khám phá được hiểu là phương pháp mà dưới sự hướngdẫn của GV, thông qua các hoạt động, HS khám phá ra một tri thức nào đấy trongchương trình môn học.

Dạy học khoa học dựa trên tìm tòi nghiên cứu là một phương pháp dạy và họckhoa học xuất phát từ sự hiểu biết về cách thức học tập của học sinh, bản chất củanghiên cứu khoa học và sự xác định các kiến thức khoa học cũng như kĩ năng mà họcsinh cần nắm vững Phương pháp dạy học này cũng dựa trên sự tin tưởng rằng điềuquan trọng là phải đảm bảo rằng học sinh thực sự hiểu những gì được học mà khôngphải đơn giản chỉ là học để nhắc lại nội dung kiến thức và thông tin thu được Khôngphải là một quá trình học tập hời hợt với động cơ học tập dựa trên sự hài lòng từ việckhen thưởng, dạy học khoa học dựa trên tìm tòi nghiên cứu đi sâu với động cơ học tậpđược xuất phát từ sự hài lòng của học sinh khi đã học và hiểu được một điều gì đó.Dạy học khoa học dựa trên tìm tòi nghiên cứu không quan tâm đến lượng thông tinđược ghi nhớ trong một thời gian ngắn mà ngược lại là những ý tưởng hay khái niệmdẫn đến sự hiểu biết ngày càng sâu hơn cùng với sự lớn lên của học sinh

1.3.2 Phương pháp bàn tay nặn bột về mặt cơ sở khoa học dựa trên thuyết kiến tạo

Theo thuyết kiến tạo: Học tập là tự kiến tạo tri thức [4]

Tư tưởng nền tảng cơ bản của thuyết kiến tạo là đặt vai trò của chủ thể nhậnthức lên vị trí hàng đầu của quá trình nhận thức Khi học tập, mỗi người hình thành thếgiới quan riêng của mình Tất cả những gì mà mỗi người trải nghiệm sẽ được sắp xếpchúng vào trong “bức tranh toàn cảnh về thế giới” của người đó, tức là tự kiến tạoriêng cho mình một bức tranh thế giới Từ đó cho thấy cơ chế học tập theo thuyết kiếntạo trái ngược với cách học tập cơ học theo thuyết hành vi: thay cho việc HS tham giacác chương trình dạy học được lập trình sẵn, người ta để cho HS có cơ hội để tự tìmhiểu HS phải học tập từ lý trí riêng và có thể làm điều này càng tốt hơn nếu khôngphải tuân theo một chương trình giảng dạy cứng nhắc, mà có thể tự mình điều chỉnh rấtnhiều quá tình học tập của chính mình

1.3.3 Ý nghĩa của phương pháp bàn tay nặn bột [40]

a) Phát triển tri giác cho học sinh

b) Phát triển trí tưởng tượng

c) Rèn luyện kỹ năng, kỷ xảo thực hành và thói quen tự tìm tòi và phát triển ngôn ngữ khoa học cho học sinh

d) Phương pháp bàn tay nặn bột sẽ hình thành thế giới quan khoa học đúng đắn

1.4 THỰC TRẠNG DẠY HỌC NGHỀ ĐIỆN DÂN DỤNG DƯỚI GÓC ĐỘPHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT

Sau khi tiến hành khảo sát GV và HS tại một số trung tâm KTTH – HNDN, tácgiả nhận thấy:

Nhìn chung một số giáo viên đang có những biến chuyển theo hướng tích cực

Đã nhận thức được tầm quan trọng của việc vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột đểtạo hứng thú học tập cho học sinh học nghề Tuy nhiên, đó chỉ là một số ít trong thực tếhiện nay do nhận thức của cá nhân người giáo viên hoặc do cách quản lý của cơ sở,phòng ban chuyên môn địa phương công tác Thực tế cho thấy ở các bộ môn hướngnghiệp nghề giáo viên chưa chú trọng giảng dạy một cách đúng mức, trang thiết bị dạy

Trang 8

học còn thiếu Trình độ, năng lực đội ngũ giáo viên không đồng đều do đó chất lượngdạy cũng không đảm bảo Phần lớn các giáo viên chưa chú ý đến tính tích cực của họcsinh học nghề, ít chú ý đến việc hướng dẫn tự học,tự tìm ra kiến thức mà các giáo viênchỉ truyền thụ kiến thức một cách thụ động

Đối với học sinh, qua phiếu điều tra tác giả nhận thấy hầu hết các em đều nhậnthức được ý nghĩa của nghề điện dân dụng trong HĐGDNPT nhưng chưa có tính tíchcực học tập Việc tích cực và tự bản thân tìm ra tri thức của học sinh đa phần chỉ dừnglại ở việc học bài cũ, làm bài tập về nhà và thực hiện một số yêu cầu của giáo viên HScòn coi nhẹ việc học nghề, coi là môn học phụ Vì vậy, việc áp dụng các phương phápdạy học tăng tính tích cực học tập của học sinh tại các nghề học đặc biệt là việc vậndụng phương pháp “bàn tay nặn bột” vào HĐGDNPT là rất cần thiết

Phương pháp BTNB có nhiều ưu điểm như: HS làm chủ tri thức, phát triển kỹ nănglàm việc nhóm, phát triển năng lực quan sát, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo thực hành Vớiphương pháp BTNB HS bắt buộc phải có một quyển vở thực hành do các em ghi chép theocách thức và ngôn ngữ của chính các em

Đặc biệt, việc áp dụng phương pháp BTNB vào môn nghề điện dân dụng tạocho học sinh một môi trường học tập thân thiện, mà ở đó chính các em làm chủ tri thức,

GV đóng vai trò hỗ trợ khi cần thiết

Tuy nhiên, HS sẽ lúng túng trong việc tiếp cận với phương pháp dạy học mới vàđòi hỏi HS phải chủ động trong quá trình chiếm lĩnh tri thức.Việc đổi mới phương phápdạy học là cần thiết để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội

Chương 2: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT”

TRONG DẠY HỌC NGHỀ ĐIỆN DÂN DỤNG

2.1 NGHỀ ĐIỆN DÂN DỤNG

2.1.1.Vị trí, mục tiêu, chương trình nghề điện dân dụng

2.1.1.1 Vị trí nghề điện dân dụng

2.1.1.2 Mục tiêu nghề điện dân dụng

2.1.1.3 Chương trình nghề điện dân dụng

2.1.2 Đặc điểm nghề điện dân dụng

a) Đối tượng lao động

b) Công cụ lao động

c) Nội dung lao động

d) Điều kiện lao động và những chống chỉ định y học của nghề

Nắm vững đặc điểm môn học là cơ sở cho việc lựa chọn hợp lí các phương phápvà hình thức dạy học

Trang 9

2.2 QUY TRÌNH VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT TRONGDẠY HỌC NGHỀ ĐIỆN DÂN DỤNG.

Dựa theo quy trình chung của phương pháp bàn tay nặn bột, trên cơ sở của mụctiêu, chương trình và đặc điểm của nghề điện dân dụng sau đây tôi xin đưa ra quy trìnhcủa phương pháp bàn tay nặn bột áp dụng riêng trong hoạt động giáo dục nghề phổthông như sau:

Bước 1: Xác định tình huống có vấn đề và nêu câu hỏi

Bước 2: Bộc lộ biểu tượng ban đầu về vấn đề cần giải quyết

Bước 3: Đề xuất cách giải quyết vấn đề và tiến hành tìm tòi nghiên cứu

Bước 4: Kết luận, hợp thức hóa kiến thức

Bước 1: Xác định tình huống có vấn đề và nêu câu hỏi

Tình huống xuất phát hay tình huống nêu vấn đề là một tình huống do giáo viênchủ động đưa ra như là một cách dẫn nhập vào bài học Tình huống xuất phát phảingắn gọn, gần gũi dễ hiểu đối với học sinh Tình huống xuất phát nhằm lồng ghép câuhỏi nêu vấn đề Tình huống xuất phát càng rõ ràng thì việc dẫn nhập cho câu hỏi nêuvấn đề càng dễ Tuy nhiên có những trường hợp không nhất thiết phải có tình huốngxuất phát mới đề xuất được câu hỏi nêu vấn đề (tùy vào từng kiến thức và từng trườnghợp cụ thể)

Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học (hay môdun kiến thức mà học sinh sẽđược học) Câu hỏi nêu vấn đề cần đảm bảo yêu cầu phù hợp với trình độ, gây mâu thuẫnnhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của học sinh nhằm chuẩn bịtâm thế cho học sinh trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức Giáo viên phải dùng câu hỏimở, tuyệt đối không được dùng câu hỏi đóng (trả lời có hoặc không) đối với câu hỏi nêuvấn đề Câu hỏi nêu vấn đề càng đảm bảo các yêu cầu nêu ra ở trên thì ý đồ dạy học củagiáo viên càng dễ thực hiện thành công

Bước 2: Bộc lộ biểu tượng ban đầu cần giải quyết

Hình thành biểu tượng ban đầu là bước quan trọng, đặc trưng của phương phápBTNB Bước này khuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ, nhận thức ban đầu củamình trước khi được học kiến thức Hình thành biểu tượng ban đầu, giáo viên có thểyêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức cũ đã học có liên quan đến kiến thức mới của bàihọc Khi yêu cầu học sinh trình bày biểu tượng ban đầu, giáo viên có thể yêu cầu nhiềuhình thức biểu hiện của học sinh, có thể là bằng lời nói (thông qua phát biểu cá nhân),bằng cách viết hay vẽ để biểu hiện suy nghĩ

Bước 3: Đề xuất cách giải quyết vấn đề và tiến hành tìm tòi nghiên cứu

Từ việc xác định được biểu tượng ban đầu về vấn đề cần giải quyết GV gợi ý,

hướng dẫn HS đề xuất cách giải quyết vấn đề bằng cách giáo viên nêu câu hỏi cho học

Trang 10

sinh, đề nghị các em đề xuất thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu để tìm câu trả lời cho cáccâu hỏi đó Các câu hỏi có thể là: "Theo các em làm thế nào để chúng ta tìm câu trả lờicho các câu hỏi nói trên?"; "Bây giờ các em hãy suy nghĩ để tìm phương án giải quyếtcác câu hỏi mà lớp mình đặt ra!"…

- Tùy theo kiến thức hay vấn đề đặt ra trong câu hỏi mà học sinh có thể đề xuất

các phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu Các phương án thí nghiệm mà học sinhđề xuất có thể rất phức tạp và không thể thực hiện được nhưng giáo viên cũng khôngnên nhận xét tiêu cực để tránh làm học sinh ngại phát biểu Nếu ý kiến gây cười cho cảlớp, giáo viên cần điềm tĩnh giải thích cho cả lớp hiểu cần tôn trọng và lắng nghe ýkiến của người khác

- Nếu ý kiến của học sinh nêu lên có ý đúng nhưng ngôn từ chưa chuẩn xáchoặc diễn đạt chưa rõ thì giáo viên nên gợi ý và từng bước giúp học sinh hoàn thiệndiễn đạt Giáo viên cũng có thể yêu cầu các học sinh khác chỉnh sửa cho rõ ý Đây làmột vấn đề quan trọng trong việc rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh

- Trường hợp học sinh đưa ra ngay thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu đúng nhưngvẫn còn nhiều phương án khác khả thi thì giáo viên nên tiếp tục hỏi các học sinh khácđể làm phong phú phương án tìm câu trả lời Giáo viên có thể nhận xét trực tiếp nhưngyêu cầu các học sinh khác cho ý kiến về phương pháp mà học sinh đó nêu ra thì tốthơn Phương pháp BTNB khuyến khích học sinh tự đánh giá ý kiến của nhau hơn làcủa giáo viên nhận xét

- Sau khi học sinh đề xuất phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, giáo viênnêu nhận xét chung và quyết định tiến hành phương án thí nghiệm đã chuẩn bị sẵn.Trường hợp học sinh không đưa ra được phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứuthích hợp, giáo viên có thể gợi ý hoặc đề xuất cụ thể phương án nếu gợi ý mà học sinhchưa nghĩ ra

- Lưu ý rằng phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu ở đây được hiểu là cácphương án để tìm ra câu trả lời Có nhiều phương pháp như quan sát, thực hành - thínghiệm, nghiên cứu tài liệu… (xem thêm phần Các phương pháp thí nghiệm - tìm tòinghiên cứu)

Sau khi đề xuất được cách giải quyết vấn đề GV cho HS tiến hành phương án đãđưa ra Ưu tiên thực hiện thí nghiệm trực tiếp trên vật thật Một số trường hợp khôngthể tiến hành thí nghiệm trên vật thật có thể làm cho mô hình, hoặc cho học sinh quansát tranh vẽ Đối với phương pháp quan sát, giáo viên cho học sinh quan sát vật thậttrước, sau đó mới cho học sinh quan sát tranh vẽ khoa học hay mô hình để phóng tonhững đặc điểm không thể quan sát rõ trên vật thật (xem thêm phần Phương pháp quansát)

Khi tiến hành thực hiện thí nghiệm, giáo viên nêu rõ yêu cầu và mục đích thínghiệm hoặc yêu cầu học sinh cho biết mục đích thí nghiệm chuẩn bị tiến hành để làmgì? Lúc này giáo viên mới phát các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm tương ứng với hoạtđộng Sở dĩ như vậy là vì, nếu để các vật dụng thí nghiệm sẵn trên bàn học sinh sẽnghịch các đồ vật mà không chú ý đến các đồ vật trong lớp; hoặc học sinh tự ý thực hiệnthí nghiệm trước khi lệnh thực hiện của giáo viên ban ra; hoặc học sinh sẽ dựa vào đó đểđoán các thí nghiệm cần phải làm (trường hợp này mặc dù học sinh có thể đề xuất thínghiệm đúng như ý đồ dạy học của GV không đạt)

Trang 11

Tiến hành thí nghiệm tương ứng với môđun kiến thức Làm lần lượt các thínghiệm nếu có nhiều thí nghiệm Mỗi thí nghiệm thực hiện xong nên dừng lại để họcsinh rút ra kết luận (tìm thấy câu trả lời cho các vấn đề đặt ra tương ứng) Giáo viên lưu ý học sinh ghi chép vật liệu thí nghiệm, cách bố trí và thực hiện thínghiệm (mô tả bằng lời hay vẽ sơ đồ), ghi chú lại kết quả thực hiện thí nghiệm, kếtluận sau thí nghiệm vào vở thí nghiệm Phần ghi chép này giáo viên để học sinh ghichép tự do, không nên gò bó và có khuôn mẫu quy định, nhất là đối với những lớp mớilàm quen với phương pháp BTNB Đối với các thí nghiệm phức tạp và nếu có điềukiện, giáo viên nên thiết kế một mẫu sẵn để học sinh điền kết quả thí nghiệm, vật liệuthí nghiệm Ví dụ như các thí nghiệm phải ghi số liệu theo thời gian, lặp lại thí nghiệmở các điều kiện nhiệt độ khác nhau…

Khi học sinh làm thí nghiệm, giáo viên bao quát lớp, quan sát từng nhóm Nếuthấy nhóm hoặc học sinh nào làm sai theo yêu cầu thì giáo viên chỉ nhắc nhỏ trongnhóm đó hoặc với riêng học sinh đó, không nên thông báo lớn tiếng chung cho cả lớpvì làm như vậy sẽ phân tán tư tưởng và ảnh hưởng đến công việc của các nhóm họcsinh khác

Giáo viên chú ý yêu cầu học sinh thực hiện độc lập các thí nghiệm trong trườnghợp các thí nghiệm được thực hiện theo từng cá nhân Nếu thực hiện theo nhóm thìcũng yêu cầu tương tự như vậy Thực hiện độc lập theo cá nhân hay nhóm để tránhviệc học sinh nhìn và làm theo cách của nhau, thụ động trong suy nghĩ và cũng tiện lợicho giáo viên phát hiện các nhóm hay các cá nhân xuất sắc trong thực hiện thí nghiệmnghiên cứu, đặc biệt là các thí nghiệm được thực hiện với các dụng cụ, vật liệu thínghiệm giống nhau nhưng nếu bố trí thí nghiệm không hợp lý sẽ không thu được kếtquả thí nghiệm như ý

Bước 4: Kết luận, hợp thức hóa kiến thức

Sau khi thực hiện thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, các câu trả lời dần dần đượcgiải quyết, kiến thức được hình thành, tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống hoặc chưachuẩn xác một cách khoa học Giáo viên có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống lạiđể học sinh ghi vào vở coi như là kiến thức của bài học Trước khi kết luận chung,giáo viên nên yêu cầu một vài ý kiến của học sinh cho kết luận sau khi thực hiện thínghiệm (rút ra kiến thức của bài học) Giáo viên khắc sâu kiến thức cho học sinhbằng cách cho học sinh nhìn lại, đối chiếu lại với các ý kiến ban đầu (biểu tượng banđầu) trước khi học kiến thức Như vậy từ những quan niệm ban đầu sai lệch, sau quátrình thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, chính học sinh tự phát hiện ra mình sai hayđúng mà không phải do giáo viên nhận xét một cách áp đặt Chính học sinh tự pháthiện những sai lệch trong nhận thức và tự sửa chữa, thay đổi một cách chủ động.Những thay đổi này sẽ giúp học sinh ghi nhớ lâu hơn, khắc sâu kiến thức

2.3 MỘT SỐ BÀI SOẠN MINH HỌA

* Bài soạn 1

BÀI 7: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MÁY BIẾN ÁP

I MỤC TIÊU BÀI DẠY

1, Kiến thức:

- Biết được khái niệm chung về máy biến áp

- Nêu được công dụng, cấu tạo và nguyên lý làm việc của máy biến áp

Trang 12

2, Kỹ năng:

- Sử dụng các máy biến áp đúng cách, hợp lý

- Hiểu được công dụng cấu tạo, nguyên lý làm việc, phân loại và các số liệuđịnh mức của máy biến áp

- Có kỹ năng thảo luận nhóm, trình bày ý kiến bằng ngôn ngữ, sơ đồ hình vẽ…

3, Thái độ:

Có ý thức học tập nghiêm túc và chủ động

II CHUẨN BỊ

- Máy biến áp

- Một số hình ảnh về MBA, nhà máy phát điện, đường dây truyền tải, trạm tăngvà hạ áp, hộ tiêu thụ điện

- Các lá thép và dây quấn

- Nguồn điện xoay chiều, 2 cuộn dây, bóng đèn, ampe kế, vôn kế…

III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

1 Tổ chức và ổn định lớp

2 Kiểm tra bài cũ

GV kiểm tra bài cũ:

1) Hãy nêu các dụng cụ để đo điện áp, dòng điện, công suất của 1 mạch điện ?2) Dụng cụ đo phối hợp cả ba loại dụng cụ đo: Ôm kế, ampe kế và vôn kế là gì?

3 Các hoạt động dạy học

Hoạt động 1: Tìm hiểu khái niệm chung về máy biến áp

GV cho học sinh quan sát một số hình

ảnh:Về nhà máy phát điện, trạm biến áp

tăng áp, đường dây truyền tải, trạm biến

áp hạ áp, hộ tiêu thụ (?) Hãy cho biết

MBA có những công dụng nào?

? Yêu cầu HS quan sát hình 7.1 và cho

biết vai trò của MBA trong truyền tải và

phân phối điện năng

(?) GV nêu định nghĩa MBA

GV: Cho học sinh quan sát một số máy

biến áp thật

GV yêu cầu HS đọc SGK trả lời các câu

hỏi sau:

1) Em hãy cho biết ký hiệu, ý nghĩa, đơn

I Khái niệm chung về MBA:

1 Công dụng của MBA:

- Để biến đổi điện áp của dòng điệnxoay chiều từ điện áp cao xuốngđiện áp thấp hoặc ngược lại từ điệnáp thấp lên điện áp cao ta dùngMBA

- MBA là khâu không thể thiếutrong quá trình truyền tải và phânphối điện năng

2 Định nghĩa MBA:

- MBA là thiết bị điện từ tĩnh, làmviệc theo nguyên lý cảm ứng điệntừ, dùng để biến đổi điện áp củadòng điện xoay chiều nhưng vẫn giữnguyên tần số

- Kí hiệu: hình 7.2

3 Các số liệu định mức của MBA:

- Dung lượng hay công suất địnhmức Sđm

- Điện áp sơ cấp định mức

- Điện áp thứ cấp định mức

Ngày đăng: 11/04/2016, 22:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Đồ thị biểu diễn đường tích lũy  bài kiểm tra sau khi học xong bài - Tóm tắt luận văn: Vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học nghề điện dân dụng
Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn đường tích lũy bài kiểm tra sau khi học xong bài (Trang 19)
Hình 3.2: Đồ thị biểu diễn đường tích lũy bài kiểm tra sau khi học xong bài - Tóm tắt luận văn: Vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học nghề điện dân dụng
Hình 3.2 Đồ thị biểu diễn đường tích lũy bài kiểm tra sau khi học xong bài (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w