2. Lịch sử nghiên cứu đề tài Việc dạy học nhằm nâng cao năng lực vận dụng tri thức để giải quyết vấn đề thực tiễn một cách linh hoạt và sáng tạo của học sinh được xem như là nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất giữa lí luận và thực tiễn trong dạy học.Trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết của nhiều tác giả nói về vấn đề này. Đại danh hào Gớt từng nói: “Lí thuyết chỉ là màu xám, còn cây đời mãi mãi xanh tươi”. Chủ nghĩa Mác- Lênin chỉ ra nguyên tắcphải thống nhất giữa lí luận và thực tiễn để chống lại bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều. Trong C.Mác-Ăngghen tuyển tập tập 2, Nhà xuất bản Sự thật trang 491, Mác viết “Vấn đề tìm hiểu tư duy của con người thể đạt tới chân lí khách quan hay không, không phải là một vấn đề lí luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lí”[10,491] Quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn trong nhận thức khoa học và hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Thống nhất giữa lí luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác-Lênin.Thực tiễn không có lí luận dẫn đường thì thành thực tiễn mù quáng.Lí luận mà không liên hệ với thực tiễn là lí luận suông.” [25,496] Từ các quan điểm nêu trên đặt ra yêu cầu: Việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn. Khi nghiên cứu lí luận phải liên hệ với thực tiễn; học phải đi đôi với hành; lí thuyết gắn với thực tiễn; nhà trường gắn liền với xã hội. Yêu cầu dạy học nhằm nâng cao năng lực thực hành cho học sinh chính là vấn đề quan trọng của lí luận dạy học ngày nay. Nhìn chung, các tài liệu giáo dục học trong và ngoài nước đề cập đến vấn đề thực hành của học sinh trong dạy học nói chung dưới nhiều góc độ khác nhau: T.A.Ilina - Nhà giáo dục học Xô viết trong cuốn “Giáo dục học” tập II, Nhà xuất bản giáo dục 1973 xem công tác thực hành của học sinh như một phương pháp dạy học. Ví dụ phương pháp làm việc với sách giáo khoa, phương pháp học tập ở phòng thí nghiệm, thực nghiệm, phương pháp luyện tập ôn tập… Geoffrey Petty nhà khoa học nước Anh tác giả cuốn “Dạy học ngày nay”, Nhà xuất bản Stanley Thones năm 1998 (lần 2) cho rằng: “Phần lớn kỹ năng và kĩ năng của chúng ta thể hiện ở chỗ hướng dẫn học sinh thực hành, vì thế đây là phương pháp giảng dạy bắt buộc. Nó tạo cơ hội cho học sinh tự hình thành kỹ năng, còn giáo viên lại có ngay thông tin phản hồi, qua đó phát hiện được là học sinh đã nắm được bài hay chưa, và tài liệu dạy và học có cần cải tiến gì không…Thực hành có hướng dẫn khiến cho học sinh làm việc tích cực hơn bất kì phương pháp nào khác…” [27,180] Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt -Viện khoa học giáo dục trong cuốn “Giáo dục học” tập I, nhà xuất bản giáo dục 1987 nhấn mạnh: Trong dạy học nhất định phải gắn tri thức học sinh đã học với thực tiễn bằng những hoạt động cụ thể, có như vậy mới đảm bảo nguyên tắc thống nhất giữa lí luận với thực tiễn, một trong những nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học. Theo các tác giả Đinh Văn Đức, Dương Thị Thúy Nga giảng viên trường ĐHSP Hà Nội trongcuốn “Phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông” cho rằng: Những tri thức của môn Giáo dục công dân rất gắn bó với đời sống con người xã hội. Vì thế, giáo viên cần giúp cho học sinh biết vận dụng lí luận để giải quyết những vấn đề thực tế liên quan đến cuộc sống của bản thân, của gia đình học sinh, của địa phương và của đất nước, con người Việt Nam. Như vậy lí luận về dạy học hướng tới năng lực thực hành cho học sinh đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước đề cập đến. Vấn đề này đặc biệt quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học ngày nay nói chung và dạy học môn GDCD nói riêng. Điều nàycàng trở nên đặc biệt quan trọng hơn khi môn GDCD ở trường THPTcó nhiều nội dung giáo dục cần được vận dụng vào thực tiễn nhất là phần “Công dân với pháp luật”. Bởi vì giáo dục pháp luật đã trở thành vấn đề cấp thiết ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Đây là vấn đề đã và đang được các nhà khoa học pháp lí quan tâm. Nhiều công trình đã được công bố như: “Một số vấn đề lí luận và thực tiễn giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới”, của Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lí, Bộ tư pháp, Hà Nội,1995; “ Giáo dục pháp luật qua hoạt động tư pháp - hình thức đặc thù của giáo dục pháp luật”, Luận án Tiến sĩ của Dương Thanh Mai, 1996; “Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật ở nước ta - Thực trạng và giải pháp”, Luận văn Thạc sĩ của Hồ Quốc Dũng, 1997; “ Một số vấn đề về giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay của Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp, nhà xuất bản Thanh Niên, 1997; “Giáo dục ý thức pháp luật cho học sinh trung học phổ thông ở tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Thu Thủy, 2008. Trong công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng nền dân chủ XHCN, các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, XI luôn nhấn mạnh phải tăng cường pháp chế XHCN, nâng cao ý thức pháp luật cho học sinh, sinh viên, thực hiện mục tiêu “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”.Cho đến nay một số công trình nghiên cứu đã cung cấp cho khoa học nhiều tư liệu quý về ý thức pháp luật. Nhìn chung các công trình nói trên đã nêu ra nhiều vấn đề cơ bản cả về lí luận và thức tiễn trong hoạt động giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, xét trong phạm vi các trường THPT và trung tâm giáo dục thường xuyên trên địa bàn huyện Vĩnh Bảo - thành phố Hải Phòng và trường THPT Tô Hiệu, việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng nâng cao năng lực thực hành pháp luật trong dạy học môn GDCD chưa một tác giả nào đề cập, nghiên cứu tới. Nếu có thì chỉ là những sáng kiến kinh nghiệm nhỏ lẻ còn nghiên cứu một cách tổng thể thì chưa có tác giả nào.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc với Đảng ủy, Ban chủ nhiệm khoa Lí luận chính trị - Giáo dục công dân, Phòng Sau Đại học -trường ĐHSP Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em được thực hiện đề tài này
Em xin trân trọng cảm ơn thầy giáo PGS -TS Phạm Văn Hùng đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo, các giảng viên, các nhà khoa học khoa Lí luận chính trị - Giáo dục công dân trường ĐHSP Hà Nội đã giáo dục, giảng dạy, cung cấp tri thức cho em trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại khoa
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, các bạn bè, đồng nghiệp, Ban giám hiệu nhà trường, các giáo viên bộ môn Giáo dục công dân và các thế hệ học sinh trường THPT Tô Hiệu - Thành phố Hải Phòng đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình công tác và thực hiện đề tài
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Sao
1
Trang 2PL : Pháp luậtSGK : Sách giáo khoa
ĐH : Đại học
GD : Giáo dục
Trang 3MỤC LỤC
3
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Trang 5DANH MỤC BIỂU ĐỒ
5
Trang 6MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đất nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Trong đó đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đặt ở nhiệm vụ chiến lược hàng đầu của chiến lược phát triển quốc gia Quan điểm “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu”,“đổi mới toàn diện nền giáo dục” liên tục được Đảng ta nhấn mạnh qua các kì đại hội từ sau Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII đến nay Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng ta khẳng
định: “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc
tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.” [19, 71]
Và tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XI Đảng ban hành nghị quyết (nghị
quyết số 29 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục) trong đó nêu rõ mục tiêu
cụ thể cho giáo dục nước ta: “Đối với giáo dục đào tạo tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng truyền thống, truyền thống đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn”
Không chỉ có vậy, tại điều 28.2 Luật giáo dục Việt Nam 2005 (được sửa
đổi bổ sung năm 2009) quy định: “Phương pháp dạy học phổ thông phải phát
Trang 7phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, niềm hứng thú cho học sinh.”
Như vậy, trước đòi hỏi của thực tiễn đất nước đang trên con đường hội nhập và phát triển thì giáo dục và đào tạo cần phải đổi mới toàn diện Trong
đó yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, bồi dưỡng năng lực thực hành cho học sinh là điều kiện tiên quyết
Để đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đó, đã có nhiều giáo viên đổi mới cách dạy, tích cực áp dụng nhiều phương pháp nhằm hướng đến năng lực thực hành cho học sinh song còn hạn chế và kết quả mang lại chưa được như mong muốn Qua thực tế cho thấy việc áp dụng các phương pháp dạy học nhằm nâng cao năng lực thực hành cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học môn Giáo dục công dân còn nhiều khó khăn và những hạn chế cần được khắc phục Trong khi đó qua tri thức phần “Công dân với pháp luật” môn Giáo dục công dân nhằm cung cấp cho học sinh những hiểu biết cơ bản
về pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Điều đó thực sự rất hữu ích cho thế hệ trẻ Việt Nam, giúp họ hiểu biết và vận dụng các tri thức pháp luật vào cuộc sống
Nhưng một thực tế đáng buồn là tình trạng vi phạm pháp luật ngày càng tăng cả về số lượng và mức độ nghiêm trọng Trong đó, một số lượng không nhỏ các vụ vi phạm pháp luật do học sinh, đặc biệt là ở cấp THPT gây
ra Chúng ta có thể thấy được tình trạng đạo đức, lối sống của một bộ phận học sinh THPT hiện nay có nhiều bất ổn, từ thái độ học tập, ý thức chấp hành nội quy, kỷ luật của nhà trường, chấp hành pháp luật đến những hành vi tiêu cực trong học tập, thi cử của học sinh và sự xâm nhập của các tệ nạn xã hội vào học đường
Tình hình vi phạm pháp luật của học sinh THPT ở thành phố Hải Phòng và trường THPT Tô Hiệu cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ, 7
Trang 8hơn nữa lại đang có chiều hướng gia tăng với mức độ và tính chất nguy hiểm Thực trạng trên đây đã và đang gây khó khăn cho hoạt động của nhà trường
và đặc biệt là tạo ra những dư luận rất bức xúc trong nhân dân, làm suy giảm lòng tin của nhân dân với hiệu lực quản lí của nhà trường Thực tế cho thấy, một trong những nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật của học sinh là trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật và năng lực thực hành pháp luật còn rất hạn chế trước những tình huống mà thực tiễn sinh động đang đặt ra
Do vậy, từ những vấn đề có tính cấp thiết nêu trên cùng với mong muốn đóng góp một phần sức lực nhỏ bé vào công tác giáo dục pháp luật cho
học sinh, tôi đã lựa chọn đề tài: “Nâng cao năng lực thực hành pháp luật cho học sinh THPT trong dạy học phần “Công dân với pháp luật” làm đề
tài luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục của mình
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Việc dạy học nhằm nâng cao năng lực vận dụng tri thức để giải quyết vấn đề thực tiễn một cách linh hoạt và sáng tạo của học sinh được xem như là nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất giữa lí luận và thực tiễn trong dạy học.Trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết của nhiều tác giả nói về vấn đề này
Đại danh hào Gớt từng nói: “Lí thuyết chỉ là màu xám, còn cây đời mãi mãi xanh tươi”
Chủ nghĩa Mác- Lênin chỉ ra nguyên tắc phải thống nhất giữa lí luận và
thực tiễn để chống lại bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều Trong C.Mác- Ăngghen tuyển tập tập 2, Nhà xuất bản Sự thật trang 491, Mác viết “Vấn đề tìm hiểu tư duy của con người thể đạt tới chân lí khách quan hay không, không phải là một vấn đề lí luận mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lí” [10, 491]
Trang 9Quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn trong nhận thức khoa học và hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Thống nhất giữa lí luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác-Lênin.Thực tiễn không có lí luận dẫn đường thì thành thực tiễn mù quáng Lí luận mà không liên hệ với thực tiễn là lí luận suông.” [25,496]
Từ các quan điểm nêu trên đặt ra yêu cầu: Việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn Khi nghiên cứu lí luận phải liên hệ với thực tiễn; học phải đi đôi với hành; lí thuyết gắn với thực tiễn; nhà trường gắn liền với xã hội Yêu cầu dạy học nhằm nâng cao năng lực thực hành cho học sinh chính là vấn đề quan trọng của lí luận dạy học ngày nay
Nhìn chung, các tài liệu giáo dục học trong và ngoài nước đề cập đến vấn đề thực hành của học sinh trong dạy học nói chung dưới nhiều góc độ khác nhau:
T.A.Ilina - Nhà giáo dục học Xô viết trong cuốn “Giáo dục học” tập II, Nhà xuất bản giáo dục 1973 xem công tác thực hành của học sinh như một phương pháp dạy học Ví dụ phương pháp làm việc với sách giáo khoa, phương pháp học tập ở phòng thí nghiệm, thực nghiệm, phương pháp luyện tập ôn tập…
Geoffrey Petty nhà khoa học nước Anh tác giả cuốn “Dạy học ngày nay”, Nhà xuất bản Stanley Thones năm 1998 (lần 2) cho rằng: “Phần lớn kỹ năng và kĩ năng của chúng ta thể hiện ở chỗ hướng dẫn học sinh thực hành, vì thế đây là phương pháp giảng dạy bắt buộc Nó tạo cơ hội cho học sinh tự hình thành kỹ năng, còn giáo viên lại có ngay thông tin phản hồi, qua đó phát hiện được là học sinh đã nắm được bài hay chưa, và tài liệu dạy và học có cần cải tiến gì không…Thực hành có hướng dẫn khiến cho học sinh làm việc tích cực hơn bất kì phương pháp nào khác…” [27,180]
9
Trang 10Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt -Viện khoa học giáo dục trong cuốn
“Giáo dục học” tập I, nhà xuất bản giáo dục 1987 nhấn mạnh: Trong dạy học nhất định phải gắn tri thức học sinh đã học với thực tiễn bằng những hoạt động cụ thể, có như vậy mới đảm bảo nguyên tắc thống nhất giữa lí luận với thực tiễn, một trong những nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học Theo các tác giả Đinh Văn Đức, Dương Thị Thúy Nga giảng viên trường ĐHSP Hà Nội trong cuốn “Phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông” cho rằng: Những tri thức của môn Giáo dục công dân rất gắn bó với đời sống con người xã hội Vì thế, giáo viên cần giúp cho học sinh biết vận dụng lí luận để giải quyết những vấn đề thực tế liên quan đến cuộc sống của bản thân, của gia đình học sinh, của địa phương và của đất nước, con người Việt Nam
Như vậy lí luận về dạy học hướng tới năng lực thực hành cho học sinh
đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước đề cập đến Vấn đề này đặc biệt quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học ngày nay nói chung và dạy học môn GDCD nói riêng Điều này càng trở nên đặc biệt quan trọng hơn khi môn GDCD ở trường THPT có nhiều nội dung giáo dục cần được vận dụng vào thực tiễn nhất là phần “Công dân với pháp luật” Bởi vì giáo dục pháp luật đã trở thành vấn đề cấp thiết ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Đây là vấn đề đã và đang được các nhà khoa học pháp lí quan tâm Nhiều công trình đã được công bố như: “Một số vấn đề lí luận và thực tiễn giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới”, của Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lí,
Bộ tư pháp, Hà Nội,1995; “ Giáo dục pháp luật qua hoạt động tư pháp - hình thức đặc thù của giáo dục pháp luật”, Luận án Tiến sĩ của Dương Thanh Mai, 1996; “Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật ở nước ta - Thực trạng và giải pháp”, Luận văn Thạc sĩ của Hồ Quốc Dũng, 1997; “ Một số vấn đề về giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay của Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp, nhà xuất bản Thanh Niên, 1997; “Giáo dục ý thức pháp luật
Trang 11cho học sinh trung học phổ thông ở tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Thu Thủy, 2008.
Trong công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng nền dân chủ XHCN, các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, XI luôn nhấn mạnh phải tăng cường pháp chế XHCN, nâng cao ý thức pháp luật cho học sinh, sinh viên, thực hiện mục tiêu “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” Cho đến nay một số công trình nghiên cứu đã cung cấp cho khoa học nhiều tư liệu quý về ý thức pháp luật Nhìn chung các công trình nói trên đã nêu ra nhiều vấn đề cơ bản cả về lí luận và thức tiễn trong hoạt động giáo dục pháp luật Tuy nhiên, xét trong phạm vi các trường THPT và trung tâm giáo dục thường xuyên trên địa bàn huyện Vĩnh Bảo - thành phố Hải Phòng và trường THPT Tô Hiệu, việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng nâng cao năng lực thực hành pháp luật trong dạy học môn GDCD chưa một tác giả nào đề cập, nghiên cứu tới Nếu có thì chỉ là những sáng kiến kinh nghiệm nhỏ lẻ còn nghiên cứu một cách tổng thể thì chưa có tác giả nào
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Nghiên cứu, ứng dụng một số biện pháp sư phạm và điều kiện nâng cao năng lực thực hành pháp luật nhằm bổ sung, hướng tới hoàn thiện việc dạy học pháp luật trong môn GDCD phần “Công dân với pháp luật” trên địa bàn huyện Vĩnh Bảo - thành phố Hải Phòng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu một số biện pháp sư phạm và điều kiện dạy học nhằm
nâng cao năng lực thực hành pháp luật của học sinh trong dạy học phần “Công dân với pháp luật” ở trường THPT Tô Hiệu - Thành phố Hải Phòng.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
11
Trang 12Trong khuôn khổ giới hạn của đề tài tác giả chỉ nghiên cứu một số biện pháp và điều kiện nhằm nâng cao năng lực thực hành cho học sinh trong phần
“Công dân với pháp luật” ở trường THPT Tô Hiệu -Thành phố Hải Phòng.
5 Những luận điểm cơ bản và những đóng góp mới của tác giả 5.1 Những luận điểm cơ bản
Đề tài làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc nâng cao năng lực thực hành pháp luật trong dạy học môn GDCD
Khẳng định vai trò của việc nâng cao năng lực thực hành pháp luật đối với việc phát huy khả năng vận dụng tri thức để giải quyết những vấn đề thực tiễn của học sinh THPT
Vạch ra quy trình vận dụng một số biện pháp sư phạm và điều kiện nâng cao năng lực thực hành pháp luật cho học sinh, thông qua đó góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của nhà trường
5.2 Những đóng góp mới của tác giả.
Đề tài góp phần nhấn mạnh đến việc tổng hợp các phương pháp và điều kiện dạy học môn GDCD đối với việc phát huy khả năng chủ động chiếm lĩnh kiến thức và vận dụng tri thức vào thực tiễn một cách linh hoạt và sáng tạo
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp phần vào việc vận dụng thành công nhiều phương pháp dạy học tích cực và phát huy các điều kiện phục vụ cho quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Qua đó tạo động lực khích lệ các giáo viên trên con đường đổi mới phương pháp dạy học thật hiệu quả
Ngoài ra, đề tài sẽ là một tài liệu nhằm bổ sung, đóng góp vào lí luận và phương pháp dạy học bộ môn GDCD nói chung cũng như dạy học phần
“Công dân với pháp luật” nói riêng cho các trường THPT.
6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác - Lênin, những chủ trương
Trang 13đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các công trình khoa học, đề tài nghiên cứu trong và ngoài nước.
Luận văn sử dụng nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: đọc tài liệu, phân tích tổng hợp hệ thống hóa, so sánh phân loại tài liệu, giáo trình, công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Luận văn sử dụng nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn quan sát, điều tra, phỏng vấn, trò chuyện, thống kê số liệu, thực nghiệm sư phạm và các phương pháp hỗ trợ khác
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,phụ lục luận văn gồm ba chương và 7 tiết
13
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC
THỰC HÀNH PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH THPT
TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI PHÁP LUẬT”
Ở TRƯỜNG THPT TÔ HIỆU - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
1.1 Cơ sở lí luận của việc nâng cao năng lực thực hành pháp luật cho học sinh THPT trong dạy học phần “Công dân với pháp luật”
1.1.1 Quan niệm về năng lực, năng lực thực hành, năng lực thực hành pháp luật và nâng cao năng lực thực hành pháp luật
* Quan niệm về năng lực
Năng lực hiểu theo nghĩa tiếng Anh (Ability) là những khả năng, năng
khiếu mà con người vốn có để có thể thực hiện tốt đẹp một công việc nào đó
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: Năng lực
“1.Là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó
2 Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao.” [28, 639]
Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu nhiều nghĩa khác nhau Năng lực được hiểu như sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc Khái niệm năng lực được dùng ở đây là đối tượng của tâm lý, giáo dục học Có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm
Khái niệm năng lực gắn liền với khả năng hành động Năng lực hành động là một loại năng lực, nhưng khi nói phát triển năng lực người ta cũng hiểu đồng thời là phát triển năng lực hành động Chính vì vậy trong lĩnh vực
sư phạm, năng lực còn được hiểu là: khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ
Trang 15sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động.
Các nhà tâm lí học cũng cho năng lực là những thuộc tính tâm lí riêng
lẻ của cá nhân Nhờ những thuộc tính này mà con người hoàn thành tốt đẹp một công việc nào đó, mặc dù phải bỏ ra ít sức lao động nhưng vẫn đạt kết quả cao Nghiên cứu sâu hơn vấn đề này, họ cũng khẳng định: Năng lực không phải là cái có sẵn, mang tính bẩm sinh mà chỉ có những tư chất của năng lực, vốn là một trong những đặc điểm giải phẫu sinh lí của não và hệ thần kinh mới có tính bẩm sinh Những tư chất này sẽ dần dần được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động Hoạt động chính là cơ sở, là điều kiện cần thiết cho sự hình thành và phát triển năng lực
Như vậy có thể hiểu: Năng lực là khả năng vốn có mà thông qua hoạt động con người có thể hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao.
Kết quả của hành động là thước đo sự phát triển của năng lực, biểu hiện
ở khối lượng kiến thức thu nhận được, khả năng hình thành các kĩ năng, kĩ sảo của chủ thể Quá trình nắm vững kĩ năng của học sinh thường được bắt đầu bằng việc chính học sinh phải tự thực hiện tất cả các công việc dưới sự hướng dẫn, kiểm tra của giáo viên Các thao tác của hành động được tiến hành từ sự bắt chước đến làm quen dần Nắm vững kĩ năng là cơ sở hình thành kĩ sảo cho phép hoạt động tiến dần tới sự tự động hóa, làm cho một số thao tác riêng lẻ bị mất đi, rút ngắn thời gian nhưng công việc tiến hành nhanh, đạt kết quả cao
Từ sự phân tích khái niệm năng lực ở trên chúng ta có thể thấy muốn nâng cao năng lực thực hành pháp luật cho học sinh cần phải cho các em được tham gia một cách tích cực vào hoạt động học tập pháp luật Từ việc nắm vững các tri thức về pháp luật các em mới có thể vận dụng các tri thức đó vào thực tiễn Vì vậy muốn học sinh có được năng lực thực hành pháp luật tốt
15
Trang 16giáo viên phải tìm ra các biện pháp sư phạm phù hợp với khả năng của học sinh trong quá trình dạy học phần “Công dân với pháp luật.”
* Quan niệm về năng lực thực hành
Theo từ điển tiếng Anh, thực hành (pratcise) là công việc thực hiện của những người có nghề mang tính chuyên nghiệp như luật sư, giáo viên… Ở đây (pratcise) tương đương với (hành nghề) trong tiếng Việt - ý muốn nhấn mạnh
kỹ năng, kỹ xảo của chủ thể trong những hành động nhất định
Theo từ điển tiếng Việt thì “thực hành” (nói khái quát): Làm để vận dụng lí thuyết vào thực tế [28, 940]
Mặc dù cách định nghĩa câu từ có khác nhau nhưng hầu hết các quan niệm đều cho “thực hành” là một động từ mà ở đó có hai điểm chính cần chú ý
- Một là: Thực hành gắn liền với những hành động, hoạt động của con người được biểu hiện thành những thao tác cụ thể, tác động lên đối tượng lao động nào đó làm biển đổi chúng theo những mục đích đã định (Hoạt động được hiểu ở nghĩa rộng hơn so với hành động, trong hoạt động gồm có nhiều hành động)
- Hai là: Thực hành là một biểu hiện của việc vận dụng lí thuyết vào thực tiễn Đây không phải là một hoạt động mang tính thuần túy của cơ bắp
mà nó đòi hỏi phải có sự tham gia của các hoạt động trí tuệ Hoạt động trong thực hành mang tính mục đích rõ rệt đó là kiểm nghiệm, nắm vững và vận dụng lí thuyết vào thực tiễn
Bên cạnh đó chúng ta thấy quá trình dạy học là quá trình mà dưới sự lãnh đạo tổ chức, điều khiển của người giáo viên, học sinh tự lực, chủ động tự
tổ chức, tự điều khiển hoạt động của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học Trong đó nhiệm vụ phát triển năng lực hoạt động trí tuệ và hoạt động thực hành đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh là hết sức cần thiết Năng lực thực hành cần hình thành cho học sinh ở chỗ phát hiện được vấn đề và biết vận dụng tri thức giải quyết tốt những nhiệm vụ của môn học
do thực tiễn đặt ra
Trang 17Như vậy dạy học là một khâu khép kín bao gồm hoạt động dạy của giáo viên và học của học sinh.
Mặc dù được hai chủ thể tiến hành, song hai hoạt động này có chung một mục đích là làm sao cho quá trình lĩnh hội kiến thức của học sinh thu được kết quả tốt nhất Hoạt động học của học sinh cũng giống như các loại hoạt động khác của con người ở tính mục đích và phương pháp tiến hành cụ thể, nhưng do đặc thù của quá trình dạy học, mà hoạt động học tập của học sinh có những đặc điểm riêng biệt
+ Trước hết, hoạt động học tập của học sinh bao gồm có những hoạt động mang tính thực hành diễn ra dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên nhằm thực hiện các nhiệm vụ giáo dục Giáo viên nắm vai trò tổ chức hướng dẫn hoạt động học của học sinh Họ được trang bị những kiến thức cơ bản nhất về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm Và bằng những hiểu biết về đặc điểm tâm, sinh lí học sinh, căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ của từng khóa trình, từng chương, từng bài mà giáo viên lựa chọn hình thức tác động thích hợp, kích thích sự ham muốn hăng say học tập Điều đó nói lên tính định hướng, tính sư phạm trong các hoạt động nhận thức, phải phát huy tối đa khả năng suy nghĩ độc lập, sáng tạo, lựa chọn những phương pháp học tập tối ưu nhất để chiếm lĩnh kiến thức
Bản chất của quá trình dạy học là quá trình làm cho chủ thể nhận thức nắm vững tri thức khoa học.Vì vậy muốn hiểu được bài, học sinh phải có sự
cố gắng, phấn đấu cao, huy động tối đa các thao tác của tư duy Các hoạt động học tập của các em gắn liền với sự nỗ lực của trí tuệ mà biểu hiện cao nhất của sự nỗ lực này là khả năng sáng tạo ra cái mới phù hợp với khả năng hiện
có của các em Đó là sự khám phá ra những điều mới đối với học sinh dù đó chỉ là sự khám phá lại những điều loài người đã biết
Lí luận và thực tiễn dạy học ở trường phổ thông cho thấy có nhiều hình thức tổ chức dạy học Các hình thức này thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau
17
Trang 18Nghiên cứu các hình thức tổ chức dạy học các nhà giáo dục học thấy hiện tượng dạy học được thể hiện ở 3 dạng sau:
- Dạng cá nhân - chuyên biệt hóa - một dạng hoạt động, trong đó mỗi học sinh phải độc lập hoàn thành nhiệm vụ học tập theo trình độ, khả năng riêng không có sự giúp đỡ của bạn bè
- Dạng nhóm - Hình thức dạy học gồm một số học sinh tập hợp lại thành nhóm nhỏ Các học sinh trong nhóm cùng giải quyết những nhiệm vụ thống nhất theo yêu cầu của giáo viên, của nhiệm vụ dạy học học đặt ra
- Dạng toàn lớp - trực diện - hệ thống dạy học cùng một lúc một nhóm học sinh (khoảng vài chục em) do một giáo viên đảm nhận Nhóm học sinh này có cấu tạo không đổi, gồm những học sinh cùng một lứa tuổi và mỗi em đều phải hoàn thành những nhiệm vụ nhận thức chung
Trong quá trình dạy học cả ba dạng trên đều bộc lộ những ưu, nhược điểm khác nhau Ở dạng cá nhân, tính độc lập chiếm ưu thế, khi học sinh phải
tự mình giải quyết, tháo gỡ các khó khăn mà không nhận được sự giúp đỡ của bạn bè Cứ như vậy, dần dần hình thành trong học sinh tính kiên nhẫn, tính tự lập Trong dạy học, rèn luyện việc độc lập học tập cho học sinh là con đường phát triển tối ưu của giáo dục ở các cấp
Ở dạng nhóm, những hoạt động học tập của học sinh thể hiện tính liên kết chặt chẽ giữa các hành động cụ thể của từng học sinh nhằm thực hiện một nhiệm vụ nhất định Hoạt động nhóm giúp học sinh được trao đổi, đàm thoại với nhau, giúp đỡ hỗ trợ nhau để hoàn thành những công việc được giao và là
cơ hội tốt để các em bộc lộ ý kiến, khả năng của mình Qua đó các em khác nghe, đánh giá nhận xét và tự điều chỉnh hành vi của mình
Dạng toàn lớp - trực diện - là dạng tổ chức dạy học chiếm vị trí chủ đạo của dạy học ngày nay Hình thức dạy học toàn lớp đã đáp ứng được những yêu cầu tốt nhất của giáo dục học và tâm lý học đặt ra Hình thức dạy học này tạo cơ hội thuận lợi cho dạy học một cách đồng bộ, đỡ tốn kém, bởi trong cùng một thời gian có thể đào tạo được một đội ngũ, nhân lực đông đảo phù hợp với yêu cầu xã hội đặt ra Một ưu điểm nữa là hình thức dạy học này tạo
Trang 19ra sự ganh đua giữa các học sinh trong cùng một lớp Chính sự ganh đua này
là cơ sở tạo ra động cơ học tập đúng đắn, kích thích hoạt động nhận thức của từng học sinh vì nó phù hợp với các yếu tố tâm lý để hình thành các hành động, hoạt động học tập
Tính đa dạng của các hình thức tổ chức dạy học đã chi phối đến tính phong phú của các hành động, hoạt động học tập Đặc trưng này rất có tác dụng trong việc gây hứng thú học tập, làm cho bài học trở nên hấp dẫn hơn, sinh động hơn
Trong cuộc sống, lao động là hình thức tồn tại của xã hội loài người Trong dạy học, hoạt động nhận thức là con đường duy nhất để nắm bắt tri thức Hoạt động này được duy trì bằng hàng loạt các hành động khác nhau, là biểu hiện của phương pháp dạy học - một trong bốn nhân tố cơ bản cấu thành nên quá trình dạy học (Thầy - trò - nội dung - phương pháp)
Trong lịch sử cũng như hiện tại những người làm chương trình giáo dục
và toàn xã hội rất quan tâm tới việc hình thành, rèn luyện các hành động, hoạt động học tập của học sinh
Nhà giáo dục học Xô Viết T.A.Ilina coi việc rèn luyện hành động học tập của học sinh là loại hoạt động thực tiễn Đó là một hoạt động bắt buộc ở mọi giai đoạn của quá trình học tập vì trong nhận thức, tính chân lý của các kiến thức phải được kiểm tra qua thực tiễn
Theo đó thì thực hành tồn tại song song với quá trình dạy học như một nhiệm vụ, một biện pháp để củng cố kiến thức, nâng cao nhận thức Đồng thời cũng là biện pháp để gắn lý thuyết vào thực tiễn, khẳng định chân lý của
lý thuyết, tạo niềm tin, hứng thú học tập cho học sinh
Từ việc phân tích khái niệm năng lực và khái niệm thực hành trên đây
Trang 20giáo viên học sinh phải tự thực hiện các công việc để nắm vững các kỹ năng cho mình vì đó là cơ sở để hình thành các kỹ xảo Càng lặp đi lặp lại các kỹ năng và củng cố các quan hệ đã được hình thành thì các yếu tố của hành động càng được mở rộng Qua đó giúp con người tiến hành các công việc nhanh và đạt hiệu quả cao.
Tóm lại, phát triển năng lực thực hành cho học sinh là sự tác động có
chủ đích của giáo dục căn cứ vào các yếu tố như mục đích, nhiệm vụ của dạy học, môi trường, điều kiện tâm lý học sinh cho phép để phát triển khả năng hành động, hoạt động học tập của các em
Từ đó tạo cơ hội cho các em đưa kiến thức đã học vào “mài dũa”,
“nhào lặn” trong thực tiễn để nắm vững tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ sảo bộ môn góp phần phát triển trí tuệ, giáo dục học sinh
Tuy nhiên, việc thực hành và phát triển năng lực thực hành chỉ có kết quả khi có sự phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên với học sinh, giữa nội dung và phương pháp nhằm phục vụ một mục đích đã định, khi kiến thức học sinh đã đạt đến một mức độ nhất định
*Quan niệm về thực hành pháp luật và nâng cao năng lực thực hành pháp luật
Từ những phân tích về năng lực thực hành, phát triển năng lực thực hành ở trên cho thấy rõ tầm quan trọng của việc dạy học giúp học sinh ngoài việc nắm vững kiến thức về lí thuyết thì phải biết vận dụng vào thực tiễn Trong khi đó những kiến thức của pháp luật có giá trị thực tiễn rất cao mà mọi công dân đều phải có nghĩa vụ tìm hiểu Do vậy trong quá trình dạy học môn GDCD phần “Công dân với pháp luật” cần giúp cho học sinh có được
năng lực thực hành pháp luật Từ đó có thể hiểu: Năng lực thực hành pháp luật là khả năng của con người sử dụng pháp luật vào thực tiễn cuộc sống.
Trong việc dạy học môn GDCD phần “Công dân với pháp luật” thì yêu cầu đó là hết sức cần thiết Bởi vì “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà
Trang 21nước.”[8, 5] Theo đó mỗi công dân đều có trách nhiệm hiểu biết và thực hiện pháp luật Do đó giáo viên cần giúp cho học sinh có được năng lực thực hành pháp luật cho tốt để các em trở thành công dân có ích cho xã hội Vì vậy có thể hiểu:
Nâng cao năng lực thực hành pháp luật là nâng cao khả năng của con người trong việc sử dụng tốt pháp luật vào thực tiễn cuộc sống.
Từ những phân tích ở trên cho thấy nâng cao năng lực thực hành pháp luật trong dạy học môn GDCD phần “Công dân với pháp luật” bao gồm: Tất
cả những công việc cần thiết mà giáo viên và học sinh phải làm để học sinh hiểu và vận dụng tốt kiến thức pháp luật vào cuộc sống
Ví dụ: Khi học bài số 1 “Pháp luật và đời sống” học sinh hiểu được đặc trưng thứ nhất của pháp luật là: Pháp luật có tính quy phạm phổ biến, bởi lẽ pháp luật là những quy tắc xử sự chung, là khuôn mẫu chung, được áp dụng nhiều lần, ở nhiều nơi, đối với tất cả mọi người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.Tính quy phạm phổ biến của pháp luật chính là ranh giới để phân biệt pháp luật với các quy phạm xã hội khác
Ở đặc trưng thứ nhất của pháp luật là tính quy phạm phổ biến học sinh cần phải hiểu được: Mỗi quy tắc xử sự thường được thể hiện thành một quy phạm pháp luật Tính quy phạm phổ biến này làm nên giá trị công bằng, bình đẳng của pháp luật, vì bất kì ai ở trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định cũng phải xử sự theo khuôn mẫu được pháp luật quy định
Sau khi hiểu được đặc trưng thứ nhất của pháp luật học sinh có thể vận dụng vào các tình huống cụ thể Ví dụ, khi tham gia giao thông các em luôn phải thực hiện theo những quy định của luật giao thông đường bộ như: Chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông hoặc chỉ dẫn của đèn tín hiệu, biển báo hiệu, vạch kẻ đường…Song không chỉ có vậy, học sinh phải biết vận dụng tốt quy định trên ở chỗ: Nếu khi tham gia giao thông mà tại nơi
có đèn tín hiệu nhưng lại có cả hiệu lệnh của người điều khiển giao thông thì các em biết phải tuân theo hiệu lệnh của người điều khiển giao thông Việc
21
Trang 22học sinh vận dụng được các kiến thức pháp luật đó chỉ có được khi các em được học, được nâng cao khả năng thực hành của mình
Nâng cao năng lực thực hành pháp luật thông qua việc tổ chức các hoạt động thực hành trong học tập môn GDCD là một hình thức đa dạng hóa các hoạt động nhận thức trong các điều kiện sư phạm khác nhau, gợi lên hứng thú say mê học tập ở học sinh Các hoạt động này có tác dụng làm nổi bật, mở rộng, đào sâu những kiến thức đã học trong giờ học nội khóa giúp học sinh nâng tầm hiểu biết lên mức độ cao hơn
Học sinh bằng việc hiểu biết một cách sâu sắc, toàn diện có hệ thống các tri thức dẫn đến vận dụng được những tri thức đó một cách linh hoạt, sáng tạo Đặc biệt đối với quá trình hình thành và nâng cao năng lực thực hành pháp luật thì điều đó càng cần thiết bởi đời sống xã hội luôn diễn ra phong phú đa dạng và phức tạp
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lí học cho thấy: Việc nắm vững tri thức gắn bó chặt chẽ với việc vận dụng tri thức đó vào thực tiễn Muốn vận dụng kiến thức một cách có hiệu quả thì học sinh phải hiểu kiến thức mà mức độ cao nhất là hiểu một cách sâu sắc, toàn diện, có hệ thống Khi học sinh tác động tích cực vào tài liệu học tập bằng các hoạt động thực tiễn làm cho tri thức lí luận và tri thức thực tiễn có mối liên hệ bên trong sâu sắc Cũng chính trong quá trình vận dụng tri thức thì những thao tác tư duy càng được trau dồi củng cố, một số kĩ năng, kĩ sảo trí tuệ và thực hành có ích được hình thành
Qua hoạt động thực tiễn, tính chân lí của những kiến thức đã lĩnh hội được khẳng định, tạo cơ sở cho một niềm tin vững chắc, góp phần hình thành một thế giới quan khoa học đúng đắn
Như vậy, thông qua quá trình phân tích ở trên chúng ta thấy sự gắn bó giữa lí thuyết và thực hành là một yêu cầu quan trọng của quá trình dạy học Do
đó thực hành pháp luật là một công việc rất cần thiết không thể thiếu được đối với học sinh trong học tập môn GDCD Trong tình hình xã hội hiện nay thì việc
Trang 23dạy học pháp luật không chỉ dừng lại ở việc giúp học sinh biết vận dụng mà phải vận dụng được tốt các kiến thức pháp luật vào cuộc sống Do vậy dạy học nhằm nâng cao năng lực thực hành pháp luật cho học sinh là sự tác động có chủ đích của giáo dục căn cứ vào các yếu tố như mục đích, nhiệm vụ của dạy học, môi trường, điều kiện tâm lý học sinh cho phép để phát triển khả năng hành động, hoạt động học tập pháp luật của các em
Nâng cao năng lực thực hành pháp luật nói một cách ngắn ngọn là biện pháp tích cực giúp đỡ học sinh dễ dàng trong những hành động học tập pháp luật và thực hành pháp luật cho tốt Thông qua việc thực hành đó mà giáo dục đạo đức, nhân cách, rèn luyện khả năng thực hành pháp luật cho học sinh trước yêu cầu mà xã hội đặt ra
1.1.2 Nâng cao năng lực thực hành pháp luật là đòi hỏi của dạy học phần “Công dân với pháp luật”
*Đặc điểm nội dung tri thức phần “Công dân với pháp luật”
Cùng với các môn khoa học cơ bản trong chương trình giáo dục trung học phổ thông ở nước ta hiện nay, môn GDCD có vai trò quan trọng trong việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực và con người Việt Nam Đây là một môn khoa học xã hội nhằm trang bị những kiến thức thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng, những chuẩn mực đạo đức, một số phạm trù quy luật kinh tế cơ bản Đặc biệt là những tri thức về pháp luật được trình bày trong 10 bài phần “Công dân với pháp luật” trong chương trình lớp 12 đã cung cấp những hiểu biết cơ bản về bản chất, vai trò và nội dung của pháp luật trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội Qua đó giúp học sinh có thể chủ động tự giác điều chỉnh hành vi của cá nhân và đánh giá được hành vi của người khác theo quyền và nghĩa vụ của công dân trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Thông qua nội dung đó từng bước trang bị cho học sinh những kiến thức về pháp luật nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam Học sinh biết trân trọng, tin tưởng ở lẽ phải và sự công bằng; có ý thức trách nhiệm với tư cách là công dân trong việc xây dựng 23
Trang 24xã hội, xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân Đồng thời giúp học sinh
tự giác sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật mà trước hết là tuân thủ các quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của học sinh trong nhà trường, trong các hoạt động xã hội Đồng thời giáo dục học sinh biết chủ động phòng, chống cái biểu hiện vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội
Nội dung cơ bản của 10 bài như sau:
Bài 1: Pháp luật và đời sống (3 tiết ) giúp học sinhhiểu được:
- Khái niệm về pháp luật
- Bản chất của pháp luật
- Mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế, chính trị, đạo đức
- Vai trò của pháp luật trong với đời sống xã hội
Bài 2: Thực hiện pháp luật (3 tiết) giúp học sinh hiểu được:
- Khái niệm, các hình thức và các giai đoạn thực hiện pháp luật
- Khái niệm vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí; các loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí
Bài 3: Công dân bình đẳng trước pháp luật (1 tiết)giúp học sinh hiểu được: Thế nào là bình đẳng trước pháp luật; thế nào là bình đẳng về quyền nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lí; trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật
Bài 4: Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội (3 tiết)
Giúp học sinh hiểu được khái niệm, nội dung quyền bình đẳng của công dân trong các lĩnh vực: hôn nhân và gia đình, lao động, kinh doanh; trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm cho công dân thực hiện quyền bình đẳng trong các lĩnh vực trên
Bài 5: Quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo (2 tiết)
Giúp học sinh hiểu được: Khái niệm, nội dung, ý nghĩa và chính sách của Nhà nước về quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo
Bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ bản (4 tiết) giúp học sinh
hiểu được:
- Khái niệm, ý nghĩa và nhận biết được nội dung cơ bản về: Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân; quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của công dân quyền bất khả xâm
Trang 25phạm về chỗ ở của công dân; quyền được bảo đảm an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín; Quyền tự do ngôn luận
-Trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo và thực hiện các quyền
tự do cơ bản của công dân
Bài 7: Công dân với các quyền dân chủ (3 tiết) giúp học sinh hiểu
được:
- Khái niệm, nội dung, ý nghĩa các cách thực hiện một số quyền dân chủ của công dân: Quyền bầu cử và ứng cử vào các cơ quan đại biểu của nhân dân; quyền tham gia quản lí Nhà nước và xã hội; quyền khiếu nại, tố cáo của công dân
- Trách nhiệm của Nhà nước và công dân trong việc thực hiện các quyền dân chủ của công dân
Bài 8: Pháp luật với sự phát triển của công dân (2 tiết) giúp học sinh
- Vai trò của pháp luật đối với sự phát triển bền vững của đất nước
- Nội dung cơ bản của pháp luật pháp luật đối với sự phát triển bền vững của đất nước trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường
Bài 10: Pháp luật với hòa bình và sự phát triển tiến bộ của nhân loại (2 tiết) giúp học sinh hiểu được:
- Vai trò của pháp luật đối với hòa bình và sự phát triển tiến bộ của nhân loại
- Điều ước quốc tế trong quan hệ giữa các quốc gia(khái niệm điều ước quốc tế; mối quan hệ giữa điều ước quốc tế với pháp luật quốc gia)
25
Trang 26-Việt Nam với các điều ước quốc tế về quyền con người, về hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia, về hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
Như vậy chúng ta có thể thấy những tri thức phần “Công dân với pháp luật” là rất cần thiết trong việc giáo dục pháp luật cho học sinh.Toàn bộ nội dung chương trình từ bài số 1 đến hết bài số 10 đã cung cấp rất nhiều kiến thức cơ bản về pháp luật Bắt đầu là khái niệm, bản chất, vai trò của pháp luật; vi phạm pháp luật, trách nhiệm pháp lí…cho đến các quyền bình đẳng, các quyền tự do, các quyền dân chủ, quyền học tập, sáng tạo và phát triển đã cung cấp cho học sinh những kiến thức thực sự bổ ích và thiết thực Từ đó các em biết mình có những quyền, nghĩa vụ gì, đồng thời thực hiện các quyền
đó và nghĩa vụ đó như thế nào cho đúng với quy định của pháp luật Và không chỉ có vậy, trong phần “Công dân với pháp luật” còn cung cấp cho học sinh những kiến thức về vai trò của pháp luật đối với quốc gia, quốc tế Qua
đó giúp các em hiểu biết sâu rộng hơn về pháp luât; thấy được quyền, nghĩa
vụ và trách nhiệm của mình đối với đất nước Đồng thời thấy được các quy định của pháp luật để có thể vận dụng vào thực tiễn cuộc sống nhằm đem lại hạnh phúc cho cá nhân, gia đình và xã hội
Bên cạnh đó chúng ta thấy rõ hiện nay tác động tiêu cực của nền kinh
tế thị trường, cơ chế “mở cửa” hội nhập và nhiều nguyên nhân khác nữa làm cho hành vi lệch chuẩn của thanh thiếu niên có xu hướng gia tăng.Vì thế giáo dục đạo đức, lối sống, pháp luật cho học sinh là điều vô cùng cần thiết trong
đó vai trò của môn GDCD là hết sức quan trọng.Vậy làm thế nào để các em thấy được việc học môn GDCD có ý nghĩa và hiệu quả thiết thực đối với thân các em, gia đình và toàn xã hội? Điều này phụ thuộc rất lớn vào phương pháp giảng dạy bộ môn trong đó có việc hướng tới nâng cao năng lực thực hành kiến thức cho các em Thông qua dạy học nâng cao năng lực thực hành pháp luật học sinh được hiểu biết và được thực hành kiến thức pháp luật trong môi
Trang 27trường “an toàn” trước khi các em vận dụng vào thực tiễn Trong môi trường
đó học sinh được trang bị và rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức pháp luật vào thực tiễn, giúp các em có sự tự tin vững bước vào cuộc sống thực sự và trở thành công dân có ích cho xã hội
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc nâng cao năng lực thực hành pháp luật cho học sinh trong dạy học phần “Công dân với pháp luật” ở trường THPT Tô Hiệu - Thành phố Hải Phòng
1.2.1 Vài nét về trường THPT Tô Hiệu - Thành phố Hải Phòng
Trường THPT Tô Hiệu - Thành phố Hải Phòng được thành lập tháng 9 năm 1978 và đặt dưới sự quản lí trực tiếp của Sở giáo dục và đào tạo thành phố Hải Phòng.Trường được xây dựng trên địa bàn xã Việt Tiến - Huyện Vĩnh Bảo - Thành phố Hải Phòng
Với 36 năm xây dựng và phát triển, trường THPT Tô Hiệu đã đóng góp nhiều thành tích cho giáo dục thành phố Hải Phòng Hàng năm tỉ lệ học sinh tốt nghiệp của trường từ 95% đến 98,9% và có nhiều em đạt giải cao trong các kì thi học sinh giỏi các cấp Phát huy truyền thống hiếu học của quê hương danh nhân văn hóa Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, ngày càng có nhiều học sinh của trường của thi đỗ vào các trường Đại học, cao đẳng Môn GDCD của trường liên tục từ năm học 1998-1999 đến nay đều có học sinh giỏi cấp huyện và thành phố.Trường được nhận nhiều bằng khen, giấy khen của Sở giáo dục và đào tạo thành phố Hải Phòng, Công đoàn ngành giáo dục thành phố Hải Phòng, Liên đoàn lao động thành phố Hải Phòng
Năm học 2013 -2014 trường THPT Tô Hiệu có 25 lớp với 1119 học sinh trong đó: khối 10 (8 lớp) là 355 em, khối 11(8 lớp) là 360 em, khối 12 (9 lớp) là 404 em Nhà trường có đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên là 96 người trong đó có 1 hiệu trưởng, 3 hiệu phó, 72 giáo viên; 100% đạt chuẩn và trên chuẩn, 9 đồng chí cán bộ, giáo viên là thạc sĩ và đang theo học cao học Môn GDCD của trường do 4 giáo viên đạt trình độ chuẩn đảm nhiệm, trong
27
Trang 28đó có 2 đồng chí đạt danh hiệu “Giáo viên giỏi cấp thành phố”, 1 đồng chí đang học cao học.
Hiện nay trường đã hoàn thiện cơ sở vật chất với nhiều phòng học và trang thiết bị dạy học hiện đại đáp ứng được yêu cầu dạy học theo hướng đổi mới Năm học 2013- 2014 trường THPT Tô Hiệu có 25 phòng học đạt chuẩn,
2 phòng thực hành tin học, 1 phòng thực hành thí nghiệm, mua mới một số phương tiện dạy học hiện đại, SGK, sách giáo viên và một số tư liệu tham khảo khác Trường có đội ngũ giáo viên luôn nhiệt tình, ham học hỏi, yêu nghề và hết lòng vì sự nghiệp giáo dục.Tập thể nhà trường luôn đoàn kết cùng nhau vượt qua những khó khăn để phát triển
1.2.2 Thực trạng việc nâng cao năng lực thực hành pháp luật cho học sinh trong dạy học phần “Công dân với pháp luật”ở trường THPT Tô Hiệu - Thành phố Hải Phòng
Trong hệ thống những môn học của chương trình đào tạo bậc THPT ở Việt Nam hiện nay, môn GDCD thường được các học sinh quan niệm là môn học phụ cho nên sự quan tâm, chú ý hứng thú và tích cực thực hành môn học là chưa nhiều Thực tế đó xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:
- Môn GDCD không nằm trong danh sách các môn dự thi vào đại học, chưa được lựa chọn là môn thi tốt nghiệp THPT
- Nội dung chương trình môn GDCD tương đối khô khan trừu tượng với quá nhiều nội dung và liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống
- Việc đổi mới phương pháp giảng dạy của giáo viên không thường xuyên (thường chỉ diễn ra ở các giờ có tham dự, đánh giá hoặc có các yếu tố khác chi phối) nên khó có điều kiện thực hiện
- Giáo viên dạy môn GDCD chưa được quan tâm đúng mức, điều này
đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng bài giảng, từ đó không thu hút được học sinh
- Việc hướng dẫn học sinh biết vận dụng các kiến thức đã học (nhất là phần “Công dân với pháp luật”) vào thực tiễn gặp nhiều khó khăn
Trang 29Qua những nguyên nhân trên, chúng tôi nhận thấy môn GDCD chưa thực sự được coi trọng Trên thực tế kết quả học tập môn này ở nhiều trường
là không thấp nhưng việc hiểu, nắm vững kiến thức và thực hành kiến thức của học sinh chưa được nâng cao Vậy điều này diễn ra ở trường THPT Tô Hiệu - Thành phố Hải Phòng như thế nào?
Thông qua việc phân tích kết quả của hệ thống câu hỏi trong phiếu điều tra, thăm dò, lấy ý kiến giáo viên và học sinh Tác giả luận văn đi vào đánh giá thực trạng dạy học môn GDCD ở những nội dung sau:
- Nội dung 1: Thực trạng dạy học môn GDCD
- Nội dung 2: Nhận thức của giáo viên và học sinh về nâng cao năng lực thực hành pháp luật trong dạy học môn GDCD phần “Công dân với pháp luật”
- Nội dung 3: Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học của giáo viên trong quá trình dạy học nhằm nâng cao năng lực thực hành pháp luật.
Phương pháp nghiên cứu: phỏng vấn giáo viên và học sinh trong trường; dự giờ, quan sát hoạt động dạy và học; phát phiếu điều tra để thu thập thông tin; thống kê toán học để đánh giá kết quả phiếu điều tra
Chúng tôi đã tiến hành gửi phiếu câu hỏi (Phụ lục 2) cho 158 học sinh lớp 12 và phiếu câu hỏi (Phụ lục 1) cho 4 giáo viên môn GDCD trong trường
*Kết quả điều tra
Nội dung 1: Thực trạng dạy học môn GDCD
-Ý kiến của học sinh.
29
Trang 30Bảng 1.1: Nhận thức của học sinh về môn GDCD; vị trí, vai trò của môn
học (Câu hỏi 1 và 2- Phụ lục 2)
STT Nhận thức về môn GDCD và vị trí, vai trò của môn học HS Số Tỉ lệ %
2 Môn học này trang bị hệ thống kiến thức, kĩ năng phổ thông, cơ bản, thiết thực cho người học. 106 67,13
Trang bị thế giới quan, phương pháp luận cho học sinh
để học tập các môn khác tốt hơn và có thái độ, hành vi
đúng đắn trong cuộc sống
134 84,8
4 Môn học này liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội 103 65,2
5 Nội dung kiến thức của môn học phong phú 56 35,4
6 Góp phần quyết định đến điểm trung bình học tập, đánh giá kết quả học tập sau mỗi kì, mỗi năm của học sinh. 78 49,4
7 Môn học nặng nề về lí luận, trừu tượng, khó hiểu, khó học, khó nhớ. 96 60,8
Kết quả trên cho thấy, phần lớn học sinh trường THPT Tô Hiệu có nhận thức đúng về môn học và vị trí, vai trò của môn GDCD Có đến 97,5% các em cho rằng đó là môn học cần thiết, thiết thực; 84,8% cho rằng môn GDCD trang bị thế giới quan, phương pháp luận và hành vi đúng đắn trong cuộc sống Số các em cho rằng môn học này trang bị hệ thống hệ thống kiến thức và kĩ năng thiết thực cho người học (67,1%) Tuy nhiên có đến 96 (chiếm 60,8%) em cho rằng đó là môn học nặng về lí luận, trừu tượng, khó hiểu, khó học, khó nhớ Do đó dẫn đến tình trạng, trong quá trình học tập môn GDCD học sinh có những biểu hiện về thái độ học tập:
Trang 31là bình thường (53,2%) Do có số các em khát khao học tập chỉ có 7,6%, kiên trì học tập là 11,4% và tập trung chú ý là 25,9% Chính vì có thái độ học tập với môn học chưa đúng nên HS chưa có phương pháp học tập và thời gian biểu dành cho môn học phù hợp Các em học chỉ mang tính chất đối phó và chủ yếu là học trong vở ghi, ít có các phương pháp học khác để có sự liên hệ, vận dụng kiến thức với thực tế Cụ thể:
31
Trang 32Bảng 1.3: Thực trạng học tập (thời gian và phương pháp học tập) môn
GDCD của học sinh (Câu hỏi số 5- Phụ lục 2) STT Thời gian và phương pháp học tập bộ môn Số HS Tỉ lệ %
3 Học vở ghi kết hợp với sách giáo khoa 94 59,5
5 Học bằng cách lập đề cương, dàn bài 20 12,7
6 Học có liên hệ , vận dụng vào thực tiễn 38 24,1
Từ bảng 1.3 cho thấy: Phần lớn là các em học theo vở ghi và sách giáo khoa (59,5%); các phương pháp học tích cực chỉ có ít các em áp dụng (lập đề cương, dàn bài có 12,7% và liên hệ với thực tế là 24,1%) Bên cạnh đó còn có những em không dành thời gian để học (3,8%)
Từ kết quả trên cho thấy: Mặc dù học sinh đã có nhận thức đúng về môn GDCD, thấy được vị trí và ý nghĩa của môn học song lại chưa có thái độ học tập đúng đắn và cá biệt còn có những em không dành thời gian để học
Bảng 1.4: Học sinh đánh giá về cách thức dạy học của giáo viên bộ môn (Câu
hỏi số 6 - Phụ lục 2)
STT Đánh giá về cách thức dạy học của giáo viên Số HS Tỷ lệ %
3 Giảng dạy chủ yếu lí thuyết, ít vận dụng thực tiễn 121 76,6
5 Giáo viên bộ môn chưa có hình thức, biện pháp khích lệ học sinh tích cực học tập và tham gia vào bài giảng 80 50,6
Kết quả điều tra cho thấy: Theo 79,7% học sinh thì giáo viên rất nhiệt tình giảng dạy, 52,5% học sinh cho rằng giáo viên có đổi mới phương pháp Song theo 76,6% học sinh cho rằng giáo viên vẫn không tránh khỏi một số hạn chế đó là chủ yếu dạy lí thuyết, 13,9% đánh giá đôi khi GV dạy còn khô
Trang 33khan, đơn điệu và có đến 50,6% cho rằng GV chưa có hình thức, biện pháp khích lệ học sinh tích cực học tập và tham gia vào bài giảng
-Ý kiến của giáo viên:
Bảng 1.5: Giáo viên đánh giá thái độ học tập môn GDCD của HS
số lượng học sinh tập trung chú ý, có thái độ đúng với môn học là không nhiều và cũng có một số ít học sinh hay nêu thắc mắc Số lượng các em thụ động trong việc tiếp thu kiến thức chiếm đến 75% Điều đó chứng tỏ mặc dù giáo viên đã có nhiều cố gắng trong giảng dạy bộ môn song vẫn chưa thật sự thu hút sự chú ý, tham gia học tập của học sinh.Vậy đâu là nguyên nhân của thực trạng nêu trên?
33
Trang 34Bảng 1.6: Giáo viên đánh giá về nguyên nhân của thực trạng thái độ học
tập của học sinh (Câu hỏi số 11- Phụ lục 1)
1 Học sinh chưa nhận thức đúng vai trò, ý nghĩa của môn GDCD 100% 0%
2 Học sinh không hứng thú học môn GDCD, xử lí tình huống còn chậm chạp 75% 25%
3 Bản thân học sinh chưa nỗ lực khắc phục khó khăn trong học tập 75% 25%
4 Học sinh thiếu phương pháp học tập 25% 75%
7 Do năng lực tổ chức, điều khiển của giáo
10 Không thường xuyên sử dụng PPDH hiện đại 100% 0%
11 Khâu kiểm tra, đánh giá KQHT chưa cải tiến 50% 50%
12 Số lượng học sinh trên 1 lớp quá đông 25% 75%
13 Thời gian dạy ít, nội dung kiến thức lại dài 100% 0%Qua bảng 1.6 cho thấy có 3 nhóm nguyên nhân dẫn đến thực trạng học tập môn GDCD ở trường THPT Tô Hiệu đó là:
Một là: HS chưa nhận thức đúng vai trò, ý nghĩa của môn học, ít hứng
thú học tập và xử lí tình huống còn chậm chạp
Hai là: Bản thân môn học có nội dung khó, trừu tượng, thời gian dạy
lại ít, nội dung kiến thức lại dài
- Nhận xét: Như vậy việc dạy học môn GDCD ở trường THPT Tô Hiệu
đã có nhiều cố gắng song còn một số vấn đề bất cập trong đó tập trung vào hai vấn đề chính sau đây:
Một là: Về phía học sinh tuy đã có nhận thức đúng về môn học song lại chưa có thái độ học tập đúng đắn
Về phía giáo viên: Nhận thức đúng về môn GDCD, có ý thức cao trong việc truyền thụ tri thức nhưng còn chậm đổi mới phương pháp giảng dạy
Trang 35Nội dung 2: Nhận thức của giáo viên và học sinh về nâng cao năng lực thực hành pháp luật trong dạy học môn GDCD phần “Công dân với pháp luật”
Để tiến hành điều tra về nhận thức của giáo viên với việc nâng cao năng lực thực hành pháp luật cho học sinh chúng tôi đã tiến hành gửi phiếu câu hỏi (phụ lục 1) cho 4 giáo viên dạy môn GDCD trong trường theo các nội dung sau:
Nội dung 1: Môn GDCD có thực hành không?
Nội dung 2: Giáo viên có thường xuyên cho HS thực hành không?
Nội dung 3: Những năng lực thực hành nào cần rèn luyện cho học sinh qua việc dạy học môn GDCD phần “Công dân với pháp luật”
Nội dung 4: Tác dụng của việc thực hành môn GDCD qua dạy học phần “Công dân với pháp luật”?
Kết quả thu được như sau:
35
Trang 36Bảng 1.7: Nhận thức của giáo viên với việc nâng cao năng lực thực hành pháp luật trong dạy học môn GDCD (Câu hỏi 2, 4, 5- Phụ lục 1)
Nội dung Phần trả lời Số giáo viên Tỉ lệ %
Tuyên truyền cùng thực hiện chính
Trang 37Chúng tôi đã tiến hành gửi phiếu điều tra đến học sinh theo các nội dung sau:
Nội dung 1: Môn GDCD có thực hành không?
Nội dung 2: Trong học tập môn GDCD phần “Công dân với pháp luật” học sinh đã được tham gia vào các hoạt động thực hành nào?
Nội dung 3: Học sinh có nhu cầu tham gia vào những hoạt động đó không?Kết quả thể hiện ở bảng 1.8(Phụ lục)
Bảng 1.8: Nhận thức và đánh giá của HS về thực hành pháp luật trong dạy học môn GDCD phần “Công dân với pháp luật”
(Câu hỏi 7, 8, 9- Phụ lục 1)
Nội
Số HS
luật Tuy nhiên phần lớn các em mới chỉ thực hành qua việc làm bài tập trong
SGK Trong khi các kĩ năng cần thiết còn ít được thực hành như: tập quan sát các tình huống pháp luật trong thực tiễn (31,6%), ứng xử qua đóng vai (22,2%), hướng dẫn xử lí tình huống pháp luật (12,7%)
Từ bảng 1.7 và 1.8 cho thấy: Phương pháp thực hành đã được áp dụng ở
trường THPT Tô Hiệu Các GV và HS đều nhận thức được tác dụng tốt của việc thực hành pháp luật Tuy nhiên việc thực hành chưa mang tính toàn diện, hầu như chỉ tập trung vào biện pháp tự đọc SGK rồi trả lời cuối mục, cuối bài 37
Trang 38Các biện pháp còn lại ít được áp dụng, trong khi chính biện pháp này có tác dụng cao hơn giúp học sinh dễ nhớ sự kiện, nắm vững, hiểu sâu bài học cũng như rèn luyện kĩ năng, kĩ sảo bộ môn và giáo dục tư tưởng, tình cảm cho các
em, gắn các em vào đời sống xã hội
Từ những phân tích ở trên cho thấy để đạt được mục tiêu dạy học
hướng tới năng lực thực hành pháp luật cho học sinh cần phải có nhiều yếu tố Trong đó yếu tố hàng đầu là vấn đề áp dụng các phương pháp dạy học nhằm đạt được mục tiêu kể trên Vậy thực tế việc áp dụng các phương pháp đó trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Tô Hiệu như thế nào? Chúng tôi
đã tiến hành điều tra mức độ sử dụng các PPDH với 4 GV toàn trường và 2
GV dạy khối 12 Kết quả thu được như sau:
- Nội dung 3: Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học của giáo viên trong quá trình dạy học nhằm nâng cao năng lực thực hành pháp luật.
Trang 39
Bảng 1.9: Mức độ sử dụng các PPDH (khác nhau) trong quá trình dạy
học môn GDCD trong toàn trường (Câu hỏi số 1- Phụ lục 1)
Các mức độ
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Chưa bao giờ
39
Trang 40Bảng 1.10: Mức độ sử dụng các PPDH trong dạy học phần “Công dân với
pháp luật” (Câu hỏi số 3)
Các mức độ
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Chưa bao giờ
Từ bảng 1.9 và 1.10 cho thấy trong việc dạy học môn GDCD ở trường THPT Tô Hiệu các giáo viên chủ yếu sử dụng các phương pháp truyền thống là: thuyết trình, đàm thoại.Các phương pháp khác và phương tiện dạy học hiện đại thường được áp dụng với giờ dạy có người dự, thao giảng hoặc thanh, kiểm tra Trong khi đó các giáo viên đều nhất trí cho rằng nếu biết kết hợp tất cả các phương pháp sẽ làm giảm bớt tính đơn điệu của PPDH truyền thống và phát huy được tính tích cực, chủ động vận dụng kiến thức vào thực
tế cho học sinh Muốn nâng cao chất lượng dạy học bộ môn thì việc quan trọng là phải xác định được mục đích, động cơ học tập đúng đắn cho học sinh
và có PPDH phù hợp cho giáo viên Trong đó việc tìm ra PP và biện pháp dạy